Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm về ma túy những năm vừa qua đạt được nhiều kết đáng mừng, tuy nhiên vẫn còn nhiều sai sótnhư áp dụng pháp luật sai; bỏ sót, lọt tội p
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu trong luận văn là trung thực và chính xác Những kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có sự gian dối, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRẦN MINH PHƯƠNG
Trang 2DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI VỀ MA TÚY 6 1.1
Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma
3 Chương 2: THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI VỀ MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH
HÓA 33 2.1 Tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa giai đoạn 2013 đến tháng
6/2017 33 2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự trong định tội danh và quyết định hình
phạt các tội phạm về ma
túy 35 2.3 Nhận xét, đánh giá
về việc áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn xét xử đối với các tội phạm về ma
túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 44 Chương 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY 57 3.1 Các yêu
cầu bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về
ma
túy 57 3.2 Các giải pháp đảm bảo chất lượng áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với các
túy 61 KẾT LUẬN 76
Trang 3KHẢO 79 PHẦN PHỤ LỤC 83
Trang 4Tòa án nhân dân Viện kiểm sát
Ủy ban nhân dânPháp luật
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phòng chống tội phạm các tội phạm về ma tuý luôn đượcĐảng, Nhà nước và các ngành Công an, Bộ đội Biên phòng và Hải quan quantâm chỉ đạo nhằm hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tác hại do các loại tộiphạm này gây ra cho xã hội Đây là một trong những loại tội phạm hình sựnguy hiểm xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước ta về các chất
ma tuý; xâm phạm trật tự an toàn xã hội; xâm phạm sức khoẻ và sự phát triểngiống nòi của dân tộc Những năm gần đây, tội phạm về ma tuý nói chung,tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý nói riêng đang có diễnbiến phức tạp, xu hướng gia tăng cả về số vụ, số lượng và đặc biệt làphương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội Đối tượng tham gia hoạt độngliều lĩnh, tinh vi xảo quyệt; đa số các vụ đều hình thành các đường dâyhoặc băng, ổ, nhóm; luôn thay đổi địa bàn hoạt động; khi bị phát hiện vàtruy bắt chúng luôn tìm cách che dấu hành vi phạm tội của bản thân và chođồng bọn, gây khó khăn cho quá trình điều tra làm rõ của các lực lượng chứcnăng
Thanh Hóa là một trong những tỉnh có tình hình ma túy diễn ra vô cùngphức tạp Sở dĩ hoạt động của tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh ThanhHóa ngày càng diễn biến phức tạp, bởi Thanh Hóa là tỉnh có 192 km đườngbiên giới giáp với Lào, hoạt động buôn bán, vận chuyển trái phép các chất matuý qua biên giới diễn biến phức tạp; tỉnh vừa là địa bàn tiêu thụ, vừa là địabàn trung chuyển ma tuý đi các tỉnh, thành phố khác Theo số liệu thống kêcủa Công an tỉnh Thanh Hóa, những năm gần đây, số vụ việc, vụ án phát hiệnngày càng tăng; lượng ma tuý thu được trong các chuyên án, vụ án ngàycàng nhiều; tính chất, thủ đoạn hoạt động của tội phạm ngày càng manhđộng, liều lĩnh; nhiều đường dây hoạt động liên huyện, liên tỉnh, xuyênquốc gia với tính chất đặc biệt nghiêm trọng Trong những năm qua mặc
dù Đảng bộ, chính quyền tỉnh đã luôn quan tâm, tích cực chỉ đạo thựchiện triển khai tuyên truyền giáo dục đấu tranh phòng, chống và truy quéttội phạm ma tuý trên địa bàn tỉnh song công tác phòng chống ma tuý vẫnchưa đạt được kết
Trang 61
Trang 7quả như mong muốn Số liệu thống kê về tình hình người nghiện ma tuý
và tội phạm liên quan đến ma tuý trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thờigian gần đây cho thấy không những không giảm mà còn có xu hướng giatăng theo chiều hướng ngày càng phức tạp
Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm về ma túy những năm vừa qua đạt được nhiều kết đáng mừng, tuy nhiên vẫn còn nhiều sai sótnhư áp dụng pháp luật sai; bỏ sót, lọt tội phạm; áp dụng các tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ chưa đúng; nhân thân của bị cáo chưa được xác định rõ ràng dẫn đến việc quyết định áp dụng hình phạt chưa đúng đắn
Từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa”, làm đề tài luận văn
Thạc sĩ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, đã rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về Áp dụng pháp luật Hình sự đối với các tội phạm về ma túy như:
- TS Trần Văn Luyện - PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm (2001), Phát hiện và điều tra các tội phạm về ma tuý”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
- “Áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố các vụ án ma tuý theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”(2007), Luận văn Thạc sĩ Luật họccủa Bùi Mạnh Cường, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Luận án tiến sĩ Phạm Minh Tuyên: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy trong luật Hình sự Việt Nam, năm 2006
- Luận văn thạc sĩ Bùi Mạnh Cường: “Áp dụng pháp luật trong giai đoạnđiều tra, truy tố các vụ án ma túy ở Việt Nam
- Luận án tiến sĩ của Chu Thị Trang Vân: "Hoạt động áp dụng pháp luậthình sự của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam", năm2009
Những công trình khoa học được công bố trên đây đề cập dưới góc
độ khác nhau về Áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật hình sựnói riêng đối với các tội phạm về ma túy Luận văn này tập trung nghiên cứucác
Trang 82
Trang 9hoạt động áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túy từ thực tiễn trên địa bàn Thanh Hóa, nơi học viên đang sinh sống và công tác
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở lý luận của Áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết các tội phạm về ma túy
Phân tích, đánh giá thực trạng Áp dụng pháp luật hình sự trong việc giảiquyết các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Từ đó luận văn đềxuất quan điểm và giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật hình sự trong hoạtđộng giải quyết án ma túy, khắc phục những hạn chế trong việc Áp dụng phápluật hình sự đối với các tội phạm về ma túy
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc ADPLHS trong hoạt động giải quyết
án ma túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
- Phân tích thực trạng ADPLHS đối với các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian từ năm 2013 đến nửa đầu năm 2017, làm
rõ các nguyên nhân dẫn đến việc các bản án, quyết định còn oan, sai, bị hủy, cải sửa lớn do lỗi chủ quan, không đúng pháp luật
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản bảo đảm chất lượng ADPLhình sự trong hoạt động giải quyết án ma túy, góp phần thực hiện có hiệu quả công cuộc cải cách tư pháp, nâng cao uy tín của nền tư pháp nước nhà trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn việc ADPLHS đối với các tội phạm ma túy từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Hoạt động ADPLHS trải dài và xuyên suốt toàn bộ các giaiđoạn tố tụng hình sự Do giới hạn điều kiện nghiên cứu luận văn thạc sỹ,trong phạm vi nghiên cứu đề tài thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng
Trang 103
Trang 11hình sự, luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễnhoạt động áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Tronggiai đoạn xét xử sơ thẩm lại có nhiều hoạt động gồm: định tội danh, quyếtđịnh khung hình phạt, áp dụng hình phạt bổ sung, áp dụng biện pháp tưpháp, Tuy nhiên do điều kiện luận văn có hạn nên tác giả chỉ tập trungnghiên cứu hai hoạt động ADPLHS nổi bật nhất và quan trọng nhất của giaiđoạn xét xử sơ thẩm là hoạt động định tội danh và hoạt động quyết định hình
phạt đối với một số tội phạm ma túy thường gặp (Tội mua bán trái phép chất ma túy, Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Tội vận chuyển trái phép chất ma túy)
- Về thời gian: luận văn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2013 – tháng 6/2017
- Về địa bàn: luận văn nghiên cứu trong địa bàn tỉnh Thanh Hóa và chủ yếu là hai cấp xét xử
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhànước ta đối với các tội phạm về ma túy
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nguyên lý của chủ nghĩaduy vật biện chứng và quan điểm của Đảng, Nhà nước Luận văn được
sử dụng phương pháp luận của Triết học Mác-Lênin và kết hợp các phươngpháp: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, quy nạp, khảo sát thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ thêm một số vấn đề về lý luận áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn xét xử các tội phạm về ma túy
Hình thành cơ sở lý luận về ADPLHS đối với các tội phạm về ma túy, đáp ứng đòi hỏi xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đây làđóng góp nhằm nâng cao nhận thức lý luận cho việc thực hiện chức năng xét
Trang 124
Trang 13xử nói chung, xét xử án hình sự trong đó có các vụ án về ma túy nói riêng của Tòa án nhân dân.
- Tổng kết thực tiễn rút ra những nhận định, đánh giá có ý nghĩa gópphần nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự về ma túy tại ngànhTòa án nhân dân ở tỉnh Thanh Hóa
- Luận văn đề xuất một số phương hướng, giải pháp cụ thể nhằmkhắc phục tình trạng án oan sai, nâng cao chất lượng áp dụng pháp luậthình sự trong xét xử các vụ án về ma túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, gópphần tích cực vào cải cách tổ chức và hoạt động của ngành Toà án theo yêucầu cải cách tư pháp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được bố cục thành 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng pháp luật hình
sự đối với các tội về ma túy;
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túytại tỉnh Thanh Hóa;
Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp đảm bảo chất lượng áp dụng đúngpháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy;
5
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI VỀ MA TÚY 1.1 Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự
Áp dụng pháp luật (ADPL) là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua cơ quan có thẩm quyền hoặc tổ chức cho các chủ thểpháp luật thực hiện trong những qui định pháp luật để ra, các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt một quan hệ pháp luật Trong khoa học pháp lý áp dụng pháp luật được sử dụng nhiều trong lý luận cũng nhưtrong thực tiễn Theo cách hiểu của một số người thì việc đồng nhất ADPLvới thực hiện pháp luật, trong một khía cạnh nào đó thì việc ADPL đã là một hoạt động tách ra khỏi hoạt động xây dựng pháp luật và gắn với việc giải quyết các yêu cầu thực tế.Tuy nhiên ADPL có những điểm khác nhau nhưngnhìn chung đều thống nhất cho rằng, ADPL là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, một hình thức để chuyển hóa trách nhiệm hình sự vào thực tiễn.Bất kỳ Nhà nước nào cũng phải ban hành và sử dụng pháp luật như làmột công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội; pháp luật tự thân nó không có được vai trò to lớn ấy nếu chúng chỉ được ban hành mà không được thực hiệnhoặc thực hiện không triệt để, thiếu tính thống nhất Trên bình diện chung nhất, pháp luật là phương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng được triễn khai thực hiện có hiệu quả Các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cần thực hiện trong cuộc sống thì chúng mới có ý nghĩa
Để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, ngoài các yếu tố như sự phùhợp của hệ thống quy phạm pháp luật với các điều kiện kinh tế, lịch sử, trình độ phát triển của xã hội, nhà nước còn phải quan tâm đến các hoạt động tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật một cách nghiêm minh Bởi
6
Trang 15lẽ, muốn quản lý đất nước bằng pháp luật đòi hỏi Nhà nước phải ban hànhpháp luật Nếu pháp luật ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống, hiệuquả điều chỉnh của pháp luật không cao chứng tỏ rằng quản lý nhà nướckém hiệu quả Vì vậy, xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật là đòi hỏikhách quan của việc quản lý Nhà nước, tăng cường pháp chế, xây dựngNhà nước pháp quyền Việt Nam Liên quan đến thực hiện pháp luật đã cónhiều công trình khoa học nghiên cứu sâu, làm rõ vấn đề này, trong đókhoa học pháp lý xác định những hình thức thực hiện pháp luật sau:
- Tuân thủ pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm Việc các chủ thể pháp luật tự kiềm chế là những xử sự thụ động, tự ghép mình vàp tập thể, vào xã hội, đặt lợi ích quốc gia, lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, lợi ích của bộ phận cục bộ Pháp luật quy định mọi tổ chức và công dân không được thực hiện những hành vi nguyhiểm cho xã hội, không được xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp củangười khác Đó là việc pháp luật cấm Đồng thời vì lợi ích chung, tuỳ theotình hình, hoàn cảnh cụ thể mà pháp luật bắt buộc mọi tổ chức và công dân phải làm một việc nào đó
- Chấp hành pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó
các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình với hành động tích cực Hoạt động chấp hành pháp luật là cơ sở pháp lý để đánh giá công trạng, thành tích
và danh dự, phẩm giá tốt đẹp của công dân, tổ chức cũng như của cán bộ côngchức nhà nước
- Sử dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó,
các chủ thể pháp luật sử dụng các quyền năng pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Song nếu các chủ thể không sử dụng quyền của mình thì pháp luật cũng không bắt buộc Nói cách khác, các quyền chủ thể được pháp luật cho phép thực hiện theo ý chí của chủ thể chứ không bị bắtbuộc phải thực hiện
7
Trang 16- Áp dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà
nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ công chức có thẩmquyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật hoặc
tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật ra các quyết định làmphát sinh, chấm dứt hay thay đổi những quan hệ pháp luật cụ thể Trongtruờng hợp này, các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật có
sự can thiệp của Nhà nước
Dựa vào bốn hình thức thực hiện pháp luật nêu trên thì áp dụng pháp luậtchỉ là một hình thức của thực hiện pháp luật nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì đây là hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước, được xem như để bảo đảm đặc thù của Nhà nước cho các quy phạm pháp luật được thực hiện một cách hiệu quả trong đời sống xã hội Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật lại luôn luôn phải
có sự tham gia của cơ quan Nhà nước thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách có thẩm quyền
Áp dụng pháp luật hình sự (ADPLHS) là một dạng của áp dụng pháp luật Là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt nên ADPLHS có những đặc điểm chung của bất cứ dạng ADPL nào, những đặc điểm đó là:
Thứ nhất: là sự tham gia của nhà nước với tư cách là một tổ chức quyềnlực công nên điều này làm cho hoạt động ADPLHS có đặc điểm là hoạt động mang tính tổ chức - quyền lực Khác với các hình thức thực hiện pháp luật khác có thể do các chủ thể pháp luật khác tiến hành, ADPLHS chỉ có thể do nhà nước thông qua những cơ quan có thẩm quyền tiến hành Pháp luật quyđịnh mỗi một loại cơ quan nhà nước nhất định (như Chính phủ, các Bộ, Việnkiểm sát hay Tòa án, v.v ) được tiến hành hoạt động ADPL trong những lĩnh vực nhất định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ADPLHS Những cơ quan này còn được biết đến là các
cơ quan tiến hành Tố tụng hình sự nếu như xem xét hoạt động ADPLHS làmột quá trình từ khi bắt đầu đến khi ra được văn bản áp dụng PLHS Xem xét
Trang 178
Trang 18mối tương quan giữa nhà nước - pháp luật - và ADPL sẽ thấy một mặt,pháp luật là công cụ, phương tiện để nhà nước thực hiện các chức năng củamình, mặt khác, nhà nước bằng việc ADPL để thực hiện những mục tiêu
mà pháp luật đặt ra Đặc điểm này còn được thể hiện ở chỗ về nguyên tắc,ADPLHS tiến hành theo ý chí đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩmquyền Việc ADPLHS chỉ diễn ra theo quy định của pháp luật, theo mộttrình tự, thủ tục pháp luật được quy định một cách chặt chẽ, không thể tự ýthay đổi hay chấm dứt theo ý chí của bất kỳ ai, trừ trường hợp pháp luật đãquy định trước một cách rõ ràng Chủ thể ADPL là chủ thể có thẩm quyền,
là đại diện cụ thể cho tính tối cao của quyền lực nhà nước Về nguyên tắc, cácchủ thể này thực hiện việc ADPL một cách đơn phương, không bị phụthuộc vào ý chí của đối tượng bị áp dụng Mặc dù là các chủ thể ADPL cóthẩm quyền nhưng không nhân danh ý chí chủ quan của mình mà nhân danh
ý chí của nhà nước đã được quy định trong pháp luật Trong mối quan hệnày, pháp luật mang tính khách quan ngay cả đối với những chủ thể có thẩmquyền áp dụng nó Đứng trước nghĩa vụ pháp lý khách quan đó, quyền củachủ thể ADPLHS bị giới hạn đến mức tối thiểu Họ chỉ có một quyền duynhất là phải chuyển hóa một cách chính xác các quy định của pháp luật hình
sự vào từng quan hệ xã hội cụ thể Các chủ thể cũng không được thay đổihay chấm dứt việc ADPL theo ý chí của mình hay của bất kỳ ai, ngoại trừcác trường hợp đã được quy định rõ trong pháp luật
Thứ hai, là hoạt động giải quyết trực tiếp với những vấn đề thực tế nênADPLHS là sự điều chỉnh cá biệt, cụ thể các quan hệ xã hội khi có sự kiệnphạm tội Nói đến ADPL là nói đến tính cụ thể ADPLHS cũng như vậy, chỉdiễn ra trong các trường hợp rất cụ thể, trong những quan hệ pháp luật rất cụthể Khi pháp luật hình sự được vật chất hóa vào đời sống xã hội thì nó luôn
có tính xác định về mặt chủ thể - áp dụng đối với ai, về mặt, khách thể - ápdụng cho quan hệ xã hội nào, về mặt không gian - áp dụng ở đâu, về mặt thời
9
Trang 19gian - áp dụng khi nào, và cả về mặt cơ sở pháp lý - áp dụng quy phạm nào của hệ thống pháp luật hình sự.
Thứ ba, ADPLHS là một hoạt động được tiến hành với những thủtục được quy định chặt chẽ bởi pháp luật TTHS Điều này có nghĩa làviệc ADPLHS không thể tiến hành một cách tùy tiện mà phải được diễn ratrên cơ sở, trong những điều kiện và theo những thủ tục nhất định do phápluật quy định, đó chính là thủ tục tố tụng hình sự
Thứ tư, trong khoa học pháp lý, bên cạnh những đặc điểm nêu trên,ADPL còn có đặc điểm là một hoạt động sáng tạo Vì vậy, ADPLHS cũng đòihỏi sự sáng tạo của các chủ thể trong quá trình áp dụng Khi mà pháp luậtHình sự mang tính khái quát cao còn thực tế thì phong phú và đa dạng nên khichuyển hóa những quy định pháp luật vào đời sống, bản thân các chủ thểADPL phải sáng tạo (trong khuôn khổ của pháp luật) vận dụng các quy phạmpháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh Nói cách khác, ở phạm
vi rộng, sáng tạo là thuộc tính chung của việc thực hiện pháp luật Bởi thựchiện pháp luật nói chung (ADPLHS nói riêng) là hoạt động tích cực của cácchủ thể pháp luật chuyển hóa pháp luật thành các xử sự cụ thể nên ở nhữngchủ thể khác nhau, việc chuyển hóa do vậy cũng khác nhau nhưng vẫn trongkhuôn khổ mà pháp luật cho phép
1.1.2 Chủ thể của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự
Là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt mang tính tổ chức vàquyền lực nhà nước, ADPL do các cơ quan nhà nước thực hiện để bảođảm cho pháp luật được thi hành mà không phụ thuộc vào tính tự giác, tự thựchiện của các chủ thể khác trong xã hội Khác với các hình thức thực hiệnpháp luật khác có thể do các chủ thể pháp luật khác tiến hành, ADPLHS chỉ
có thể do nhà nước thông qua những cơ quan có thẩm quyền tiến hành.Pháp luật quy định mỗi một loại cơ quan nhà nước nhất định (như Chínhphủ, các Bộ, VKS hay Tòa án, v.v ) được tiến hành hoạt động ADPL trongnhững lĩnh vực nhất định CQĐT, VKS và Tòa án là các cơ quan nhànước có thẩm quyền
Trang 2010
Trang 21ADPLHS và những cơ quan này còn được biết đến là các cơ quan tiến hành
tố tụng hình sự nếu như xem xét hoạt động ADPLHS là một quá trình từ khibắt đầu đến khi ra được văn bản ADPLHS
Chủ thể ADPL là chủ thể có thẩm quyền, là đại diện cụ thể cho tính tối cao của quyền lực nhà nước Về nguyên tắc, các chủ thể này thực hiện việc ADPL một cách đơn phương, không bị phụ thuộc vào ý chí của đối tượng bị
áp dụng Tuy nhiên, khi phát sinh quan hệ PLHS, việc ADPLHS không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của các chủ thể ADPL Mặc dù là các chủ thể
có thẩm quyền nhưng các chủ thể ADPL không nhân danh ý chí chủ quan của mình mà nhân danh ý chí của nhà nước đã được quy định trong pháp luật Trong mối quan hệ này, pháp luật mang tính khách quan ngay cảđốivới những chủ thể có thẩm quyền áp dụng nó Đứng trước nghĩa vụ pháplý khách quan đó, quyền của chủ thể áp dụng PLHS bị giới hạn đến mức
tốithiểu Họ chỉ có một quyền duy nhất - không được lựa chọn - là phải chuyển hóa một cách chính xác các quy định của PLHS vào từng quan hệ xãhội cụ thể Các chủ thể cũng không được thay đổi hay chấm dứt việc
ADPL theo ý chí của mình hay của bất kỳ ai, ngoại trừ các trường hợp đã được quy định rõ trong pháp luật
1.1.3 Nội dung của áp dụng pháp luật hình sự
Nội dung của ADPLHS phụ thuộc vào chính PLHS Cụ thể hơn,ADPLHS cá biệt hóa những quy định của PLHS trong những quan hệ xã hội
cụ thể và cho các chủ thể cụ thể Những thành tựu trong quá trình phát triểncủa lịch sử đã làm thay đổi nội dung, cấu trúc, phạm vi của những quan hệ xãhội được bảo vệ bằng PLHS Tuy nhiên, về bản chất vốn có, PLHS vẫn giữnguyên là quy định về hai vấn đề, đó là tội phạm và hình phạt Những nộidung khác nếu có được quy định trong PLHS thì cũng chỉ nằm trong quan hệvới tội phạm và hình phạt mà nếu thiếu chúng, PLHS chỉ thiếu đi tính chínhxác Như vậy, khi được chuyển hóa vào thực tế, việc áp dụng PLHScũng chính là việc chuyển hóa hai nội dung về tội phạm và hình phạtvào các
Trang 2211
Trang 23trường hợp cụ thể thành hai nội dung tương ứng là định tội danh và quyếtđịnh hình phạt.
- Định tội danh: là một trong những nội dung cơ bản của ADPLHS Định tội danh là việc chủ thể ADPLHS xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện có phù hợp với mô tả của một tội nào đó được quy định trongBLHS hay không Mặc dù việc xác định có tội hay không có tội được thể hiệnmột cách rõ nét nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án nhưng điều đó hoàntoàn không có nghĩa là việc định tội danh chỉ diễn ra trong giai đoạn xét xử Định tội danh là hoạt động được diễn ra trong tất cả các giai đoạn của TTHS.Trong khoa học pháp lý hình sự, khái niệm định tội danh có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng về cơ bản đều thống nhất đó là hoạt động ADPLHS.ADPLHS được quy định bởi chính BLHS Tội phạm bao giờ cũng được xem
là có trước hình phạt Hình phạt không phải là một đặc điểm nằm trong bảnthân tội phạm mà là hậu quả pháp lý của tội phạm Trên cơ sở lý luận ấy, PLHS được xây dựng theo tính có trước của tội phạm và tính phái sinh củahình phạt - tức là toàn bộ các quy định của PLHS đều là sự mô tả tội phạm trước khi mô tả hình phạt hoặc mô tả hình phạt như là hệ quả tất yếu của tộiphạm trong một mối quan hệ có tính nhân quả và biện chứng Logic này đượcchuyển hoá một cách trực tiếp vào hoạt động áp dụng PLHS Do vậy, định tội danh là bước thứ nhất của quá trình chuyển hóa những quy định của PLHSvào việc giải quyết những vụ án cụ thể
- Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt độngADPLHS thể hiện qua thực tiễn xét xử của Tòa án, là việc Tòa án lựa chọnloại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong BLHS tươngứng với một cấu thành tội phạm cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội thểhiện trong bản án Tiếp cận từ khía cạnh pháp lý hình sự, cách hiểu trênđược các nhà khoa học gọi là tiếp cận theo nghĩa hẹp Còn theo nghĩarộng thì việc quyết định hình phạt có nội dung là cả việc áp dụng các biểuhiện khác của trách nhiệm hình sự, chứ không đơn thuần chỉ là hình phạt Từkhía cạnh bản
Trang 2412
Trang 25chất là hoạt động ADPLHS thì quyết định hình phạt được hiểu ở nghĩa rộng
và có thể được gọi bằng một tên khác là ADPL Cơ sở pháp lý của hoạt độngnày là BLHS Chỉ có BLHS mới quy định về tội phạm và hình phạt Chính vìvậy, việc quyết định hình phạt là chuyển hóa khung hình phạt tương ứng vớimột tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS thành trách nhiệm hình sự cụthể đối với người đã thực hiện tội phạm đó Khi quyết định hình phạt đối vớingười phạm tội, Tòa án chỉ được tuyên một hình phạt chính và có thểtuyên kèm theo một hoặc nhiều hình phạt bổ sung Tòa án phải lựa chọnloại hình phạt và mức hình phạt tương ứng với tội phạm cụ thể để áp dụng
1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túy
1.2.1 Khái niệm về chất ma túy
Từ xa xưa, do trình độ nhận thức của con người còn thấp, trình độ yhọc chưa phát triển nên con người chỉ biết sử dụng những loại cây cỏ đểchữa bệnh Trong các loại cây đó bao gồm cả những loại cây như thuốcphiện, cần sa, coca, Tuy nhiên đi kèm với khả năng chữa bệnh, những loạicây này còn có tác dụng phụ cao hơn gây ra nhiều tác hại cho con người.Ngày nay, ngoài các sản phẩm của các loại cây tự nhiên cây như thuốcphiện, cần sa, coca, còn có các chất được tổng hợp trong phòng thí nghiệm.Theo Wikipedia, ma túy là tên gọi chung chỉ những chất kích thích khidùng một lần có thể gây n g h i ệ n có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo Nhữngchất này khi đưa vào cơ thể sống sẽ làm thay đổi trạng thái nhận thức và sinh
lý Theo khái niệm khoa học: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên(m orphin ); bán tổng hợp (h e r oi n được bán tổng hợp từ m or p hi n ) hay tổnghợp (a m p h e t a m i n e ) có tác dụng lên t hần k i n h t r ung ư ơ ng gây cảm giácnhư giảm đau, hư n g p h ấ n hay cảm thấy dễ chịu mà khi dùng nhiều lầnthì sẽ phải sử dụng lại nó nếu không sẽ rất khó chịu
13
Trang 26Theo định nghĩa của tổ chức Y tế Thế giới đã được Tổ chức Văn hoágiáo dục của liên hiệp quốc công nhận thì “Ma tuý là chất khi đưa vào cơ thể
sẽ làm thay đổi chức năng của cơ thể”
Luật phòng, chống ma tuý của Việt Nam năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2008) đã đưa ra một số định nghĩa về ma tuý hoặc có liên quan đến kháiniệm ma tuý tại Điều 2 như sau:
- Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy địnhtrong các danh mục do Chính phủ ban hành
- Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng
- Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác,nếu ử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng
- Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế,sản xuất chất ma tuý, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành.Theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013, Nghị định 126/2005/NĐ-CP ngày 09/12/2005 Cụ thể:
Danh mục I, có 45 chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đờisống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiêncứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩmquyền
Danh mục II, 136 chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểmnghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theoquy định của cơ quan có thẩm quyền
Danh mục III, có 69 chất hướng thần được dùng trong phân tích,kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y
tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền
Danh mục IV có 43 tiền chất Trên cơ sở danh mục này, Bộ Y tế, BộCông Thương, Bộ Công an theo chức năng nhiệm vụ được giao phân loạitiền chất theo cấp độ để có biện pháp quản lý, kiểm soát phù hợp
14
Trang 27- Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh đượcquy định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành
- Cây có chứa chất ma tuý bao gồm cây thuốc phiện (cây anh túc), cây cô
ca, cây cần sa hoặc cây khác có chứa chất ma tuý do Chính phủ quy định.Như vậy, dưới góc độ khoa học pháp lý thì ma túy có một số đặc
điểm sau: Ma túy là một chất gây nghiện, khi thâm nhập vào cơ thể người
là thay đổi
một số chức năng, hoạt động thần kinh, làm con người lệ thuộc vào chất này.Tại Luật phòng chống ma túy năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2008 xácđịnh chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trongcác danh mục do Chính phủ ban hành, khi sử dụng gây ra tình trạng kichthích hoặc ức chế thần kinh gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần sẽ gây ra tìnhtrạng nghiện đối với người sử dụng
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túy
Cũng như các tội phạm khác, tội phạm về ma tuý là: “những hành vinguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lựctrách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý…” (khoản 1, điều 8 BLHS1999) Tội phạm về ma tuý cũng là “hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi,trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt, xâm phạm chế độ quản lý củaNhà nước đối với các chất ma tuý
Các tội phạm về ma tuý được Nhà nước ta xác định là một loại tộiphạm nghiêm trọng Con người khi sử dụng một vài lần các chất ma túy sẽ
có nhu cầu được cung cấp thường xuyên với liều lượng ngày càng cao hơn.Chất ma túy vào cơ thể sẽ gây ra sự rối loạn về tâm sinh lý và tàn phá, hủyhoại sức khỏe; khi không đáp ứng được nhu cầu họ sẽ lên cơn vật vã, đauđớn về thể xác và có thể làm tất cả những gì kể cả tội ác để giải tỏa cơnnghiện Nạn nghiện ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe conngười mà còn làm kiệt quệ kinh tế gia đình và xã hội, là nguyên nhân tăngtrưởng tội phạm Vì vậy, Nhà nước phải độc quyền và thống nhất quản lýcác chất ma túy với
Trang 2815
Trang 29những quy định rất nghiêm ngặt Vi phạm các quy định về chế độ quản lý cácchất ma túy không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhànước mà còn tạo ra một lớp người nghiện, làm suy thoái giống nòi, phẩmgiá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đếntrật tự xã hội và an ninh quốc gia Do tác hại lâu dài và nhiều mặt củaviệc vi phạm các quy định về chế độ quản lý chất ma túy như vậy, nên mọihành vi vi phạm ở bất kỳ khâu nào của quá trình quản lý chất ma túy đều bịquy định là tội phạm Căn cứ vào các điều luật về tội phạm ma túy trongBLHS năm 1999, tội phạm ma túy được hiểu là "hành vi cố ý xâm phạmchế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước” BLHS năm 1999 quy định 10điều luật về tội phạm ma túy gồm:
Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 192);
Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 193);
Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194);
Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 195);
Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụdùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 196);
Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197);
Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198);
Tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 199) (Tội này đã được bãi bỏ từngày 01/01/2010 theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaBLHS ngày 19/6/2009); Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng tráiphép chất ma túy (Điều 200);
Tội vi phạm quy định về quản lý sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất
ma túy khác
16
Trang 30Trong BLHS năm 2015 có những điểm mới đối với các tội phạm về ma túy so với BLHS 1999, cụ thể: Quy định cụ thể, rõ ràng mức tối thiểu đến mức tối đa định lượng các chất ma túy trong từng điều luật; thay đổi đơn vịtính từ “trọng lượng” thành “khối lượng”; bỏ hình phạt tử hình B LH S20
1 5 đã tách Điều 194 B LH S 1 9 9 9 quy định về Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thành 4 tội riêng biệt đó là
tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249; tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 250; tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 251; và tội “Chiếm đoạt chất ma túy” được quy định tại Điều 252.
Việc thay đổi này được dựa trên thực tiễn cho thấy việc gộp chung cáctội danh trong cùng một điều luật gặp không ít khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, trong việc xác định tội danh và áp dụng hình phạt đối với ngườiphạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy Như vậy các tội phạm về ma túy quy định tại Chương XX của BLHS20
1 5 gồm 13 điều luật, so với BLHS 1 99 9 tăng thêm 3 điều luật (từ Điều 247
- Điều 259)
Về định lượng các chất ma túy, BLHS 2 015 đã pháp điển hóa quy định
cụ thể, rõ ràng mức tối thiểu đến mức tối đa định lượng các chất ma túy đểtruy cứu trách nhiệm hình sự trong từng điều luật, đó là các Điều 249, Điều
250, Điều 252; quy định cụ thể việc định lượng các tiền chất, các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy tại các Điều
253 và Điều 254
Đồng thời BLHS 2 0 1 5 đã quy định thêm một số chất ma túy nằm trongdanh mục các chất ma túy đã được Chính phủ quy định vào các Điều luật cụthể như chất ma túy Methamphetamine, Amphetamine, MDMA…
BLHS 2015 có sự thay đổi về đơn vị tính, các vụ án ma túy từ trước đếnnay khi thu giữ được vật chứng đều được xác định bằng gam, kilogam,… đâychính là đơn vị tính khối lượng chứ không phải trọng lượng Vì vậy, Bộ lu
ậ t
Trang 3117
Trang 32h ìn h s ự 2 0 15 đã thay đổi đơn vị tính từ “trọng lượng” thành “khối
lượng” trong các điều luật để đảm bảo tính chính xác của đơn vị tính
Nhằm thực hiện chủ trương, chính sách của đảng về giảm hình phạt
tử Bộ luật h ì nh s ự 20 1 5 đã bỏ hình phạt tử hình, quy định khung hình phạt nhẹ hơn so với B ộ l uật h ì nh s ự 1999 Theo đó, khung hình phạt cao nhất đối với tội phạm về ma túy là tù chung thân
Bên cạnh những đặc điểm chung của hoạt động ADPLHS, hoạt độngADPLHS đối với tội phạm về ma túy có những đặc điểm riêng dựa trênnhững đặc điểm đặc trưng của tội phạm ma túy là hoạt động ADPLHS đốivới tội phạm về ma túy phải dựa vào cấu thành tội phạm vật chất của tộiphạm được quy định trong Chương XVIII của BLHS
Xét từ thực tiễn tình hình tội phạm ma túy diễn ra hiện nay, áp dụngpháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy có vai trò đặc biệt quantrọng đối với nhiều phương diện:
Thứ nhất, vai trò của việc áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm
về ma túy đối với việc bảo vệ con người trước nguy cơ bị các tội phạm ma túyxâm hại, giáo dục và răn đe tội phạm
Ma túy có tác hại cực kỳ lớn đến sức khỏe con người Ma tuý làm huỷhoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh ngườinghiện bị tổn hại Dùng ma tuý quá liều có thể dẫn đến cái chết; Gây nghiện mạnh, sức khoẻ giảm sút Tiêm chích ma tuý dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi rut B, C, đặc biệt là HIV(dẫn đến cái chết) Tiêm chích ma tuý là một trong những con đường lây nhiễmHIV phổ biến nhất tại Việt Nam; Người nghiện ma tuý có thể mang vi rutHIV và lây truyền cho người khác; Ma túy làm thoái hoá nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật; Ma tuý còn gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống: các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmonsinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân
18
Trang 33bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống.
Nếu áp dụng pháp luật không hợp lý, đúng người đúng tội , hình phạt ápdụng không đủ mạnh để răn đe và giáo dục sẽ dẫn đến tình trạng tái phạmnhiều lần; lôi kéo, dụ dỗ thêm người khác sử dụng ma túy; vì lợi ích kinh tế
mà dù biết nhưng vẫn phạm tội ma túy khiến cho chất lượng đời sốngsức khỏe xã hội xuống cấp, đạo đức xã hội suy đồi và các thế hệ tương lai bịảnh hưởng nặng nề
Thời gian gần đây, các cơ quan có thẩm quyền đã triệt phá và đưa ra xét
xử nhiều đường dây buôn bán ma túy lớn nhỏ, đã tạo dựng được niềm tin của
xã hội đối với Nhà nước, đối với pháp luật Tuy nhiên những tội phạm ma túy vẫn còn tồn tại rất nhiều, vẫn chưa bị phát hiện Do vậy, những cá nhân, cơquan có thẩm quyền phải áp dụng pháp luật đối với các tội phạm ma túy hợp tình hợp lý, đúng người đúng tội để tăng cao tính giáo dục và răn đe
Thứ hai, áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy bảo
vệ lợi ích Nhà nước; bảo vệ an toàn, trật tự xã hội
Nhà nước là chủ thể kiểm soát các hoạt động vận chuyển, tàng trữ,
sử dụng, mua bán ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần trêntoàn lãnh thổ Việt Nam (Điều 15, 19 Luật phòng, chống ma túy năm 2000).Các tội phạm ma túy là các tội phạm vi phạm quyền kiểm soát ma túy của nhànước
Ma tuý còn là nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự Thực tế cho thấy ma tuý là bạn đồng hành của tội phạm, mối quan hệ giữa ma túy và tội phạm là mối quan hệ nhân quả
Ma tuý gắn liền với hành vi phạm tội, là nguồn bổ sung tội phạm Khi bị nghiện, những người nghiện sẵn sàng làm mọi việc miễn là có tiền, có ma tuý,thậm chí giết người, cướp của Khi đã bị nghiện, người nghiện luôn có xuhưởng tăng liều lượng dùng, chi phí về tiền ngày càng lớn, dẫn đến họ bị suykiệt về kinh tế Sử dụng ma túy làm cho người nghiện thay đổi trạng thái tâm
lý, sa sút về tinh thần Khi đã lệ thuộc vào ma túy thì nhu cầu cao nhất đối với
Trang 3419
Trang 35người nghiện là ma túy, họ dễ dàng bỏ qua những nhu cầu khác trongcuộc sống đời thường Hành vi, lối sống của họ bị sai lệch so với chuẩnmực đạo đức của xã hội và luật pháp.
Thứ ba, hoạt động áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túy có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng
Các quy phạm pháp luật hình sự về các tội phạm ma túy và các quyphạm pháp luật khác có liên quan đều được kiểm nghiệm thông qua việc ápdụng pháp luật trong thực tiễn cuộc sống về tính phù hợp hay chưa phù hợptrong đời sống xã hội; về tính đầy đủ, toàn diện hay chưa đầy đủ, còn có lỗhổng trong quy phạm pháp luật; phát hiện ra những quy phạm pháp luật cònchung chung, làm cho mỗi người có một cách hiểu khác nhau dẫn đến tìnhtrạng áp dụng pháp luật một cách tùy tiện, thiếu tính thống nhất của pháp luật
và vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; ngược lại có những hành vi
vi phạm pháp luật diễn ra có điểm khác với dự đoán của nhà làm luật làm chongười áp dụng pháp luật lúng túng; cũng có khi còn phát hiện ra những
vi phạm mới chưa được các quy phạm pháp luật hiện có điều chỉnh, nhữngquy phạm pháp luật đã lỗi thời, không còn phù hợp với tồn tại xã hội cầnđược thay thế bằng quy phạm pháp luật mới Như vậy, có thể nói áp dụngpháp luật chính là kiểm nghiệm các quy phạm pháp luật trong thực tiễn đểphát hiện những lỗ hổng của pháp luật và là nơi nảy sinh những tư duy pháp
lý mới góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ViệtNam
Thứ tư, vai trò của áp dụng pháp luật trong vụ án về ma túy là hình thứcphổ biến và tuyên truyền giáo dục pháp luật cho nhân dân, đặc biệt là thông qua các phiên tòa xét xử công khai, các chủ thể áp dụng pháp luật đã phân tích, giải thích pháp luật để nhân dân hiểu rõ những gì pháp luật cho phép làm
và những gì pháp luật cấm không được làm, các biện pháp trừng trị cũng như
sự khoan hồng của pháp luật đối với người vi phạm pháp luật Đây chính làmột trong những kênh chuyển tải kiến thức pháp luật đến với quần chúng
Trang 3620
Trang 37nhân dân đạt hiệu quả rất cao Thông qua việc tổ chức các phiên tòa lưu độngđến tận nơi xảy ra vụ án hoặc ở nơi vùng sâu, vùng xa hoặc nơi tình hình tộiphạm diễn biến phức tạp và nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là rấtcần thiết góp phần quan trọng trong việc nâng cao sự hiểu biết về pháp luật và
ý thức tôn trọng pháp luật trong nhân dân Bên cạnh đó thông qua áp dụngpháp luật trong xét xử các tội phạm về ma túy còn có vai trò trong việc trừngtrị nghiêm khắc những người có hành vi vi phạm pháp luật và bị truy cứutrách nhiệm hình sự bảo vệ công dân, bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tính mạngcủa con người theo quy định của pháp luật, giữ gìn trật tự trị an và an toàn xãhội, giữ gìn kỷ cương phép nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
1.3 Quy định của pháp luật về áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy
Do luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu giai đoạn xét xử sơ thẩmnhư phần phạm vi của luận văn đã nêu, do vậy ở phần này, tác giả chỉ phântích những quy định về ADPLHS trong giai đoạn xét xử
Áp dụng pháp hình sự trong giai đoạn xét xử là hoạt động thường xuyêncủa TAND trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình do Hiến pháp và pháp luật quy định ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của Toà án mang những đặc điểm chung của hoạt động ADPL, bên cạnh đó, nó còn có những đặc điểm riêng Quy trình ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của Toà án được thực hiện theo quy định của BLTTHS nhưng luật nộidung giải quyết vụ án hình sự phải là BLHS
Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2013
và Điều 2 Luật tổ chức TAND thì TAND là cơ quan xét xử của nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, xét xử các vụ ánhình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động,hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trongquá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có
21
Trang 38tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp
tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân Bản
án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơquan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phảinghiêm chỉnh chấp hành Điều 9 BLTTHS 2003 quy định “Không ai bị coi là
có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệulực pháp luật”
Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn thứ tư và cuối cùng Bản chất pháp lýcủa giai đoạn xét xử là một giai đoạn độc lập của hoạt động tố tụng hình sự, giai đoạn xét xử có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định Đây là giai đoạn quan trọng nhằm xác định một người là người có tội hay vôtội, là giai đoạn trung tâm và quan trọng nhất của hoạt động tố tụng hình sự,
mà trong đó cấp Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật
tố tụng hình sự tiến hành: 1) áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử; 2) Đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất
vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên (buộc tội và bào chữa) phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo (hoặc xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm - nếu bản án hay quyết định sơ thẩm đã được tuyên và chưa cóhiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị hoặc kiểm tra tính hợppháp và có căn cứ của bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm - nếu bản án hay quyết định đó bị kháng nghị) và cuối cùng, tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục (Phần thứ ba và Phần thứ 4 BLTTHS năm 2003)
Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ
vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản cáotrạng) do Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định)
có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Trang 3922
Trang 40Như vậy, xét xử là chức năng quan trọng nhất của Tòa án nói riêng và của toàn bộ quá trình tố tụng hình sự nói chung nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã thông qua trước khi chuyển vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm loại trừ các những hậu quả tiêu cực của các sơ xuất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong ba giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ
án ra xét xử, hoặc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án;
Bằng việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (nếu bản án hay quyết định chưa
có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị) thông qua quá trình điều tra trực tiếp tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của các bên, Tòa án với tính chất là cơ quan trọng tài kiểm tra lại và đánh giá một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết của vụ án hình sự để giải quyết về bản chất nó - phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo hoặc bằng việc kiểm tra tính hợp pháp và của bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm (nếu bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị), nhằm đạt mục đích trong toàn bộ các giai đoạn tố tụng hình sự là tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục tránh bỏ lọt tội phạm và kết án oan người