Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, gần trung tâm khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài hơn 4600 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Campuchia ở phía Tây; phía Đông, nam, tây nam giáp biển Đông. Trên bản đồ, phần đất liền Việt Nam giống hình chữ S, kéo dài từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến 8o34’ Bắc, từ bắc vào nam kéo dài khoảng 150 vĩ tuyến. Phần trên đất liền nằm trong khung hệ tọa độ địa lí sau: Điểm cực Bắc ở vĩ độ 23023’B tại xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, Điểm cực Nam ở vĩ độ 8034’B tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Điểm cực Tây ở kinh độ 102009’Đ tại xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Điểm cực Đông ở kinh độ 109024’Đ tại xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Ở ngoài khơi, các đảo kéo dài tới tận khoảng vĩ độ 6050’B, và từ khoảng kinh độ 1010Đ đến trên 117020’Đ tại Biển Đông. Lãnh thổ Việt Nam có bờ biển hình chữ S dài 3260 km trung bình cứ 100 km2 có 1km bờ biển, nơi xa biển nhất cũng không quá 600 km.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2HS: Học sinh
Trang 3Lời nói đầu
Trang 4MỤC LỤC Mục lục Trang
Phần thứ nhất 6
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÒNG, CHỐNG VÀ GIẢM NHẸ THIÊN TAI 6
CHƯƠNG I THIÊN TAI Ở VIỆT NAM 6
I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VIỆT NAM 6
1 Vị trí địa lí: 6
2 Đặc điểm tự nhiên: 6
2.1 Địa hình: 6
2.2 Khí hậu: 7
2.3 Sông ngòi: 8
2.4 Rừng 8
3 Đặc điểm về dân sinh, kinh tế, xã hội 10
II CÁC LOẠI HÌNH THIÊN TAI CHỦ YÊU Ở NƯỚC TA 11
1 Đặc điểm chung thiên tai ở Việt Nam 11
Tần suất xuất hiện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam 11
2 Một số loại hình thiên tai chủ yếu ở nước ta 11
2.1 Một số loại hình thiên tai chủ yếu ở nước ta: 12
2.2 Các loại hình thiên tai phân theo khu vực địa lí 25
CHƯƠNG II : GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG VÀ GIẢM NHẸ THIÊN TAI TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 26
1 Vai trò, nhiệm vụ của GDPT đối với giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai 27
1.1 Vai trò 27
1.2 Nhiệm vụ của GDPT 27
2 Mục tiêu của giáo dục ứng phó với BĐKH trong trường THPT 27
2.1 Mục tiêu chung 27
2.2 Mục tiêu cụ thể 28
3 Định hướng, yêu cầu của giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai trong trường THPT 28
4 Tích hợp giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai trong trường THPT 28
4.1 Quan niệm về DHTH 29
4.2 Lí do phải thực hiện DHTH 29
4.3 Phương thức, hình thức DHTH nội dung giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai trong các môn học cấp THPT 31 1
CHƯƠNG 3 HƯỚNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI TRONG NHÀ TRƯỜNG Phần thứ hai: TÍCH HỢP PHÒNG CHỐNG VÀ GIẢM NHẸ THIÊN TAI TRONG MÔN CÔNG NGHỆ CẤP THPT 35
I.Giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong dạy học ở trường trung học 35
II Giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong dạy học bộ môn Công nghệ ở trường THPT 36
1.Mục tiêu 36
2 Khả năng đưa giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong dạy học bộ môn Công nghệ ở trường THPT 37
3 Nguyên tắc tích hợp giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong dạy học bộ môn Công nghệ 40
Trang 54.Gợi ý về tổ chức dạy học tích hợp nội dung giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ
thiên tai trong dạy học bộ môn Công nghệ 41
5 Giới thiêu một số địa chỉ tích hợp 43
6.Phương thức, hình thức DTTH nội dung giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong dạy học bộ môn Công nghệ ở trường THPT 54
III.MỘT SỐ VÍ DỤ MINH HỌA 57
1.Ví dụ minh học tích hợp giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong dạy học bộ môn Công nghệ ở trường THPT 57
Bài 6: Ứng dụng nuôi cấy mô tế bào trong nhân giống cây trồng nông, lâm nghiệp58 Bài 40: Mục đích, ý nghĩa của công tác bảo quản , chế biến nông, lâm, thủy sản 62
Bài 8: Thiết kế và bản vẽ kĩ thuật 69
Bài 22: Hệ thống điện quốc gia 77
IV HƯỚNG DẪN KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ 82
1.Khái quát chung về kiểm tra đánh giá tích hợp giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong dạy học bộ môn Công nghệ 82
2.Hướng dẫn kiểm tra đánh giá tích hợp giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong dạy học bộ môn Công nghệ ở trường THPT 83
PHỤ LỤC 1 THUẬT NGỮ CƠ BẢN 91
PHỤ LỤC 2:HỆ THỐNG PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI TẠI VIỆT NAM 95
I.HỆ THÔNG PHÒNG CHÔNG THIÊN TAI TẠI VIỆT NAM 95
1.Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương, ban chỉ huy phòng, chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn các bộ ngành và địa phương 95
2 Ủy ban quốc gia TKCN 99
II HỢP TÁC TRONG PHÒNG CHÔNG THIÊN TAI 99
1.Trong nước 99
2 Khu vực và quốc tế 101
PHỤ LỤC 3: BIỆN PHÁP PHÒNG CHÔNG THIÊN TAI 105
I.NGUYÊN TẮC CƠ BẢN 105
1.Nguyên tắc cơ bản 105
2 Phương châm 4 tại chỗ trong phòng chống thiên tai: 105
II.GIẢI PHÁP CƠ BẢN TRONG PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI 107
1.Các giải pháp cơ bản chung 107
2.Chiến lược và giải pháp phòng chông thiên tai từng miền 108
Trang 6Phần thứ nhất NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÒNG,CHỐNG
VÀ GIẢM NHẸ THIÊN TAI
CHƯƠNG I THIÊN TAI Ở VIỆT NAM
I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VIỆT NAM
1 Vị trí địa lí:
Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, gần trung tâmkhu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương Việt Nam có đường biên giớitrên đất liền dài hơn 4600 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào vàCam-pu-chia ở phía Tây; phía Đông, nam, tây nam giáp biển Đông Trên bản
đồ, phần đất liền Việt Nam giống hình chữ S, kéo dài từ vĩ độ 23o23’ Bắc đến
8o34’ Bắc, từ bắc vào nam kéo dài khoảng 150 vĩ tuyến
Phần trên đất liền nằm trong khung hệ tọa độ địa lí sau:
- Điểm cực Bắc ở vĩ độ 23023’B tại xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang,
- Điểm cực Nam ở vĩ độ 8034’B tại xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau
- Điểm cực Tây ở kinh độ 102009’Đ tại xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé,tỉnh Điện Biên
- Điểm cực Đông ở kinh độ 109024’Đ tại xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh,tỉnh Khánh Hòa
- Ở ngoài khơi, các đảo kéo dài tới tận khoảng vĩ độ 6050’B, và từ khoảngkinh độ 1010Đ đến trên 117020’Đ tại Biển Đông
Lãnh thổ Việt Nam có bờ biển hình chữ S dài 3260 km trung bình cứ 100
km2 có 1km bờ biển, nơi xa biển nhất cũng không quá 600 km
2 Đặc điểm tự nhiên:
2.1 Địa hình:
Do nằm ở vị trí như trên nên lãnh thổ Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới
ẩm Bắc bán cầu và là vùng hoạt động mạnh của gió mùa, vùng bão và mưa lớncủa Đông Nam Á
Nước ta có địa hình đa dạng: đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa,phản ánh lịch sử phát triển địa chất, địa hình lâu dài trong môi trường gió mùa,
Trang 7nóng ẩm, phong hóa mạnh mẽ Địa hình thấp dần theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam, được thể hiện rõ qua hướng chảy của các dòng sông lớn.
Đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ nhưng chủ yếu là đồi núi thấp Địahình thấp dưới 1.000 m chiếm tới 85% lãnh thổ Núi cao trên 2.000 m chỉ chiếm1% Đồi núi Việt Nam tạo thành một cánh cung lớn hướng ra Biển Đông, chạydài 1400 km, từ Tây Bắc tới Đông Nam Bộ Những dãy núi đồ sộ nhất đều nằm
ở phía Tây và Tây Bắc với đỉnh Phan-xi-phăng cao nhất bán đảo Đông Dương(3.143m) Càng ra phía đông, các dãy núi thấp dần và thường kết thúc bằng mộtdải đất thấp ven biển Từ đèo Hải Vân vào Nam, địa hình đơn giản hơn Ở đâykhông có những dãy núi đá vôi dài mà có những khối đá hoa cương rộng lớn,thỉnh thoảng nhô lên thành đỉnh cao; còn lại là những cao nguyên liên tiếp hợpthành Tây Nguyên, rìa phía đông được nâng lên thành dãy Trường Sơn
Đồng bằng chỉ chiếm ¼ diện tích trên đất liền và bị đồi núi ngăn cách thànhnhiều khu vực Ở hai đầu đất nước có hai đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu là đồngbằng Bắc Bộ (lưu vực sông Hồng, rộng 15000 km2) và đồng bằng Nam Bộ (lưuvực sông Mê Công, rộng 40.000 km2) Nằm giữa hai châu thổ lớn đó là một chuỗiđồng bằng nhỏ hẹp, phân bố dọc theo duyên hải miền Trung, từ đồng bằng thuộclưu vực sông Mã (Thanh Hóa) đến Phan Thiết với tổng diện tích 15.000 km2.Việt Nam có ba mặt Đông, Nam và Tây Nam trông ra biển với bờ biển dài3.260 km, từ Móng Cái ở phía Bắc đến Hà Tiên ở phía Tây Nam Phần BiểnĐông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía đông và đông nam, có thềmlục địa, các đảo và quần đảo lớn nhỏ bao bọc Chỉ riêng Vịnh Bắc Bộ đã tậptrung một quần thể hơn 3.000 hòn đảo trong khu vực Vịnh Hạ Long, Bái TửLong, các đảo Cát Hải, Cát Bà, đảo Bạch Long Vĩ Xa hơn là quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa Phía Tây-Nam và Nam có các nhóm đảo Côn Sơn, Phú Quốc
và Thổ Chu
2.2 Khí hậu:
Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao và
độ ẩm lớn Phía Bắc chịu ảnh hưởng của lục địa Trung Hoa nên ít nhiều mangtính khí hậu lục địa Biển Đông ảnh hưởng sâu sắc đến tính chất nhiệt đới giómùa ẩm của đất liền Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm không thuần nhất trên toànlãnh thổ Việt Nam, hình thành nên các miền và vùng khí hậu khác nhau rõ rệt.Khí hậu Việt Nam thay đổi theo mùa và theo vùng từ thấp lên cao, từ bắc vàonam và từ đông sang tây Do chịu sự tác động mạnh của gió mùa đông bắc nênnhiệt độ trung bình ở Việt Nam thấp hơn nhiệt độ trung bình nhiều nước kháccùng vĩ độ ở Châu Á
Trang 8Việt Nam có thể được chia ra làm hai đới khí hậu lớn: (1) Miền Bắc (từ đèoHải Vân trở ra) là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt (xuân-hạ-thu-đông), chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc (từ lục địa châu Á tới) và gió mùađông Nam, có độ ẩm cao (2) Miền Nam (từ đèo Hải Vân trở vào) do ít chịu ảnhhưởng của gió mùa nên khí hậu nhiệt đới khá điều hòa, nóng quanh năm và chiathành hai mùa rõ rệt (mùa khô và mùa mưa).
Bên cạnh đó, do cấu tạo của địa hình, Việt Nam còn có những vùng tiểukhí hậu Có nơi có khí hậu ôn đới như tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai; Đà Lạt, tỉnh LâmĐồng; có nơi thuộc khí hậu lục địa như Lai Châu, Sơn La
Về nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình tại Việt Nam dao động từ 21oC đến 27oC
và tăng dần từ Bắc vào Nam Mùa hè, nhiệt độ trung bình trên cả nước là 25oC(Hà Nội 23oC, Huế 25oC, thành phố Hồ Chí Minh 26oC) Mùa đông ở miền Bắc,nhiệt độ xuống thấp nhất vào các tháng 12 và tháng 1 Ở vùng núi phía Bắc, như
Sa Pa, Hoàng Liên Sơn, thậm chí có những ngày nhiệt độ xuống tới 0oC và cótuyết rơi
Việt Nam có lượng bức xạ mặt trời rất lớn với số giờ nắng từ 1.400 - 3.000giờ/năm Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500 đến 2.000 mm Độ ẩmkhông khí trên dưới 80% Lượng mưa hàng năm lớn, phân bố không đều TrungTrung Bộ là nơi có lượng mưa bình quân/năm lớn nhất, thấp nhất là vùng NamTrung Bộ Do ảnh hưởng gió mùa và sự phức tạp về địa hình nên Việt Namthường gặp bất lợi về thời tiết như bão, lũ lụt, hạn hán
Lượng bốc hơi lớn, không đều giữa các vùng của Nam Bộ và đồng bằngsông Cửu Long là những khu vực có lượng bốc hơi cao nhất
Độ ẩm cao và có sự chênh lệch giữa các vùng, các mùa Vùng Nam Bộthường có độ ẩm thấp hơn so với các vùng khác trong cả nước
2.3 Sông ngòi:
Việt Nam có một mạng lưới sông ngòi dày đặc (2.360 con sông dài trên 10km), chảy theo hai hướng chính là Tây Bắc- Đông Nam và vòng cung Hai hệthống sông lớn nhất là hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Cửu Long tạo nênhai vùng đồng bằng rộng lớn và phì nhiêu Hệ thống các sông suối hàng nămđược bổ sung tới 310 tỷ m3 nước Chế độ nước của sông ngòi chia thành mùa lũ
và mùa cạn Mùa lũ chiếm tới 70-80% lượng nước cả năm và thường gây ra lũ lụt
2.4 Rừng
Rừng giữ không khí trong lành: Do chức năng quang hợp của cây xanh,rừng là một nhà máy sinh học tự nhiên thường xuyên thu nhận CO2 và cung cấp
Trang 9O2 Đặc biệt ngày nay khi hiện tượng nóng dần lên của trái đất do hiệu ứng nhàkính, vai trò của rừng trong việc giảm lượng khí CO2 là rất quan trọng
Rừng điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, xói mòn: Rừng có vai trò điều hòanguồn nước giảm dòng chảy bề mặt chuyển nó vào lượng nước ngấm xuống đất
và vào tầng nước ngầm Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắng đọng lòngsông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông, con suối (tăng lượngnước sông, nước suối vào mùa khô, giảm lượng nước sông suối vào mùa mưa) Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi dưỡng tiềm năng của đất: ở vùng có đủrừng thì dòng chảy bị chế ngự, ngăn chặn được nạn bào mòn, nhất là trên đồi núidốc tác dụng ấy có hiệu quả lớn, nên lớp đất mặt không bị mỏng, mọi đặc tính lýhóa và vi sinh vật học của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì.Rừng lại liên tục tạo chất hữu cơ Điều này thể hiện ở qui luật phổ biến: rừng tốttạo ra đất tốt, và đất tốt nuôi lại rừng tốt Ngoài những cây làm lương thực, thựcphẩm và những cây lấy gỗ ra, rừng Việt Nam còn có những cây được sử dụnglàm dược liệu gồm khoảng 1500 loài trong đó có khoảng 75% là cây hoang dạiCấu trúc rừng Việt Nam thường có 5 tầng: 3 tầng cây gỗ, một tầng cây bụithấp và một tầng cỏ và dương xỉ Việt Nam rất đa dạng về kiểu rừng Rừng lárộng Rừng rụng lá Rừng lá kim Rừng hỗn giao cây lá rộng và lá kim Rừngtrên núi đá vôi Rừng tre nứa Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa Rừng ngập mặn.Rừng trên đất chua phèn
Việt Nam có sự đa dạng loài rất phong phú Việt Nam là một trong 25 nước
có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới với dự tính có thể có tới 30.000 loài thực vật Việt Nam được xếp thứ 16 về mức độ đa dạng dinh học(chiếm 6.5% số loài trên thế giới) Đặc trưng của đa dạng loài ở Viêt Nam là sốlượng loài nhiều, sinh khối lớn, cấu trúc loài rất đa dạng, khả năng thích nghiloài cao
20.000-Phân bố rừng tự nhiên theo một số vùng1:
Bắc Bộ là vùng có cấu tạo địa chất phức tạp nhất so với các vùng khác
trong cả nước Đồi núi chiếm 80% diện tích Bắc Bộ Tỷ lệ rừng bao phủ ở khuvực này thấp nhất trong toàn quốc Riêng vùng núi và trung du Bắc Bộ hiện cònnhiều diện tích đất trống, đồi núi trọc Tính đến tháng 12/2012, diện tích có rừngchiếm 46%, trong đó rừng tự nhiên chiếm 73%
1 Số liệu theo tổng hợp diện tích và độ che phủ rừng, cây lâu năm của Bộ Nông nghiệp và PTNT tính đến
Trang 10Bắc Trung Bộ có diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ lớn, đồng bằng nhỏ hẹp, chỉ
có rất ít đất phù sa Tính đến tháng 12/2012, diện tích có rừng chiếm 56%, trong
đó rừng tự nhiên chiếm 42%
Nam Trung Bộ có cấu tạo địa chất phức tạp và đa dạng với nhiều loại đất.
Tính đến tháng 12/2012, diện tích có rừng chiếm 44%, trong đó rừng tự nhiênchiếm 32%
Tây Nguyên có cấu tạo địa chất gồm hai loại tầng phủ: tầng phủ mềm và
tầng phủ phong hoá Tính đến tháng 12/2012, diện tích có rừng chiếm 53%,trong đó rừng tự nhiên chiếm 47%
Đông Nam Bộ có cấu tạo địa chất tương tự như Tây Nguyên Tính đến tháng12/2012, diện tích có rừng chiếm gần 20%, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10%
Đồng bằng sông Cửu Long có cấu tạo địa chất tương đối thuần nhất Tính
đến tháng 12/2012, diện tích có rừng chiếm gần 06%, trong đó rừng tự nhiênchiếm gần 02%
3 Đặc điểm về dân sinh, kinh tế, xã hội
Sự gia tăng dân số và tốc độ đô thị hoá nhanh chóng đã gây sức ép nặng nề,làm suy thoái tài nguyên và môi trường Dân số cả nước hiện nay khoảng 90triệu người,tỉ lệ tăng dân số tự nhiên khoảng 1,06%, trong tương lai không xa,Việt Nam sẽ có 100 triệu dân (báo cáo tại APEC 2006) Sự gia tăng nhanh dân
số tại những vùng có tiềm năng phát triển sản xuất đã dẫn tới tình trạng thiếu đất
ở, đất canh tác; xuất hiện hiện tượng lấn chiếm dòng chảy, chiếm dụng các khuvực cửa sông, ven biển, ven suối; khai thác tài nguyên khoáng sản bừa bãi; chặtphá rừng, đốt rừng, gia tăng rác thải Đây chính là những tác nhân gây hạn chếdòng chảy, nghèo nàn đất, ô nhiễm môi trường, làm cho các hồ chứa bị bồi lấp,gây trượt lở đồi núi và lũ bùn đá tăng nguy cơ xuất hiện các loại hình thiên tai.Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 theo giá so sánh 1994 ướctính tăng 5,03% so với năm 2011, trong đó quý I tăng 4,64%; quý II tăng 4,80%;quý III tăng 5,05%; quý IV tăng 5,44% Trong 5,03% tăng trưởng chung củatoàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,72%, đóng góp0,44 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xâydựng tăng 4,52%, đóng góp 1,89 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,42%,đóng góp 2,70 điểm phần trăm
Sự tăng trưởng về kinh tế bình quân sẽ còn tiếp tục gia tăng nhanh hơn nữatrong 2 thập kỷ tiếp theo Trong quá trình phát triển, nếu không có sự lồng ghépvới chiến lược phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai thì có thể dẫn đến nguy cơ ô
Trang 11nhiễm môi trường, phá vỡ cân bằng sinh thái dẫn đến gia tăng các rủi ro thiên tai
và phát triển không bền vững
II CÁC LOẠI HÌNH THIÊN TAI CHỦ YÊU Ở NƯỚC TA
1 Đặc điểm chung thiên tai ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia chịu nhiều tác động của các hiểm họa tự nhiên, chủyếu là do hiện tượng khí tượng, thủy văn Là quốc gia nằm trong khu vực chịuảnh hưởng của chế độ nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á, nước ta đồng thời nằmtrong trung tâm bão của khu vực tây Thái Bình Dương, một trong 5 ổ bão lớntrên thế giới Sự tổ hợp của bão với gió mùa gây mưa lớn, và với địa hình phứctạp, các đồng bằng thấp, hẹp và dốc nối liền với núi cao, hàng năm, mưa do giómùa, mưa bão, lũ lụt, lũ quét, hạn hán và các thiên tai khác đã gây nên thiệt hại
về người, của cải, mùa màng, và cơ sở hạ tầng cho Việt Nam
Thống kê trung bình trong vòng 20 năm qua, mỗi năm thiên tai đã làmkhoảng 750 người chết và dẫn tới hàng năm thiệt hại về kinh tế tương đương với1,5% GDP Tuy nhiên, số liệu thiệt hại thường xuyên được báo cáo không đầy
đủ, dẫn tới tổng số thiệt hại thực tế lớn hơn nhiều Phần lớn dân số của ViệtNam hiện đang sinh sống tại các vùng đất thấp trên các lưu vực sông và vùngven biển, hơn 70% dân số được ước tính là đang hứng chịu các rủi ro do nhiềuloại hiểm họa thiên tai (theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới)
T n su t xu t hi n c a các hi m h a thiên nhiên Vi t Nam ần suất xuất hiện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ất xuất hiện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ất xuất hiện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ủa các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ọa thiên nhiên ở Việt Nam ở Việt Nam ện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam
Nguồn: Các báo cáo của Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương
2 Một số loại hình thiên tai chủ yếu ở nước ta
Trang 122.1 Một số loại hình thiên tai chủ yếu ở nước ta:
Theo Luật Phòng chống thiên tai, Việt Nam hiện có 19 loại hình thiên tai,gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất domưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâmnhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần
và các loại thiên tai khác
Trong khuôn khổ tài liệu này, sẽ trình bày chủ yếu về các khái niệm,nguyên nhân hình thành và đặc điểm của một số loại hình thiên tai chính:
2.1.1 Bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ)
a) Khái niệm
Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình thời tiết cựctrị Ở Việt Nam, thuật ngữ "bão" thường được hiểu là bão nhiệt đới, là hiệntượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm chỉ xuất hiện trên các vùng biển nhiệt đới.Bão là hiện tượng gió mạnh kèm theo mưa rất lớn do có sự xuất hiện và
hoạt động của các khu áp thấp (low pressure area) khơi sâu.
Bão có nhiều tên gọi khác nhau tuỳ vào khu vực phát sinh:
o Bão hình thành trên Đại Tây Dương: hurricanes
o Bão hình thành trên Thái Bình Dương: typhoons
o Bão hình thành trên Ấn Độ Dương: cyclones
Áp thấp nhiệt đới: là hiện tượng thời tiết phức hợp diễn ra trên diện rộng
trên biển hoặc đất liền khi có hiện tượng gió xoáy tập trung quanh một vùng ápthấp nhưng chưa đủ mạnh để gọi là bão nhiệt đới
Phân biệt bão và ATNĐ: Khi áp thấp nhiệt đới đủ mạnh vì liên tục phát
triển đủ năng lượng để thu hút gió và hơi nước mạnh lên sẽ hình thành bão nhiệtđới Bão nhiệt đới là danh từ được dịch từ tiếng Anh "tropical storm" Sự khácbiệt giữa áp thấp nhiệt đới và bão nhiệt đới được phân biệt theo cấp gió
Theo định nghĩa quốc tế, bão nhiệt đới phải có gió mạnh hơn 64 km/giờ(hay 35 knots), tức là hơn cấp 8 Nếu gió yếu hơn 63 km/giờ, gọi là áp thấp nhiệtđới Nếu gíó mạnh hơn 118 km/giờ (cấp 12, 64 knots), bão được gọi là bão lớnvới cuồng phong (typhoon) Ngoài ra còn có bão rất to hay siêu bão (supertyphoon, intense hurricane, super cyclonic storm, intense tropical cyclone) vớigió mạnh hơn 240 km/giờ (hay trên 130 knot, cấp 15 đến cấp 17(Thang bãoBeaufort) trở lên
b) Điều kiện hình thành bão
Điều kiện cơ bản để hình thành bão là nhiệt độ cao và những vùng có độ
ẩm không khí cao: khi nhiệt độ cao sẽ làm cho hơi nước bốc lên mạnh và bị đấy
Trang 13lên cao, tại khu vực đó 1 tâm áp thấp hình thành Do sự chênh lệch khí áp,
không khí ở khu vực lân cận sẽ tràn vào Tại tâm bão (mắt bão) không khí
chuyển từ trên xuống dưới, xung quanh tâm bão: không khí bốc mạnh lên caongưng tụ thành 1 bức tường mây dày đặc, tạo ra những cơn mưa cực lớn và gióxoáy rất mạnh Khi đi vào đất liền hoặc vùng biển lạnh ở các vĩ độ cao, bão mấtnguồn năng lượng bổ sung từ không khí nóng ẩm trên biển, cộng với đó là ảnhhưởng của lực ma sát với mặt đất nên suy yếu dần và tan đi
Cấu tạo của 1 cơn bão gồm các phần sau: mắt bão (the eye), thành mắt bão
(the eyewall), dải mây (rainbands) và lớp mây ti dày đặc phía trên (the Dense Cirrus Overcast).
c) Mùa bão ảnh hưởng đến Việt Nam theo các khu vực ven biển
Khu vực các tỉnh từ Quảng Ninh đến Thanh Hoá: Có mùa bão từ tháng 6
đến tháng 9, tháng 10 tần suất bão nhỏ Bão ảnh hưởng trực tiếp nhiều nhất làtháng 8 Đôi khi bão đến sớm vào tháng 5 và kết thúc muộn vào tháng 12
Khu vực các tỉnh từ Nghệ An đến Quảng Bình: Có mùa bão từ tháng 7 đến
tháng 10, chậm hơn khu vực 1 một tháng và kết thúc cũng muộn hơn 1 tháng.Tháng nhiều bão nhất là tháng 10 Đôi khi bão đến sớm vào tháng 6 và kết thúcmuộn vào tháng 11
Khu vực các tỉnh từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi: Đây là khu vực có mùa
bão phức tạp nhất và chia làm 2 thời kỳ: Từ tháng 4 đến tháng 6 đã có bão ảnhhưởng với số lượng tăng dần theo thời gian Tháng 7 là tháng gián đoạn hầu nhưkhông có bão ảnh hưởng, sau đó số lượng bão tăng nhanh, đạt cực đại vào tháng
9 và giảm dần đến tháng 11 Như vây mùa bão khu vực này bao gồm các tháng
6, 9 và 10
Khu vực các tỉnh từ Bình Định đến Ninh Thuận: Có mùa bão tháng 10, 11,
tháng nhiều bão ảnh hưởng nhất là tháng 10 sau đó đến tháng 11 với số lượng íthơn một ít Song lác đác ở các tháng đầu năm và tháng 12 cũng có bão ảnhhưởng nhưng với tần suất nhỏ
Khu vực các tỉnh từ Bình Thuận đến Cà Mau: Có tần suất bão ảnh hưởng
rất nhỏ so với các khu vực khác và chỉ xuất hiện vào 2 tháng cuối năm, nhiềunhất là tháng 11
d) Hậu quả của bão
Tác hại của bão và áp thấp nhiệt đới là tác hại do gió giật mạnh ở gần tâmbão, áp thấp kèm theo mưa lớn, tập trung gây lũ lụt cho những nơi mà bão và ápthấp đi qua Do tốc độ gió mạnh và mưa lớn nên tác hại của áp thấp nhiệt đới vàbão thường gây đổ nhà cửa, gây thiệt hại đến con người, tài sản và sản xuất: làmchìm đắm và phá hủy tàu thuyền, gây tốc mái nhà, làm vỡ, sạt lở đê, kè venbiển, tàn phá sản xuất nông nghiệp và các khu vực nuôi trồng thủy sản,
Trang 14đ) Cách phòng chống bão
- Thông báo chính xác kịp thời quá trình hình thành và đường đi của bão
- Trên biển: tàu thuyền khi có bão phải trú ẩn, hoặc nhanh chóng di chuyển
về đất liền, neo đậu và chằng buộc cẩn thận tránh sảy ra va đập
- Củng cố nhà cửa, buộc chặt cửa sổ, chằng buộc chống tốc mái nhà
- Củng cố công trình đê biển, sơ tán dân đến nơi an toàn
- Chống lũ đi đôi với chống ngập úng và lũ, xói mòn
- Biết cách bảo vệ bản thân và mọi người xung quanh khi có bão
2.1.2 Lũ lụt (lũ, lũ quét và ngập lụt)
a) Khái niệm
Lũ là hiện tượng mực nước sông, suối dâng cao và có vận tốc dòng chảy
lớn hơn mức bình thường trong một khoảng thời gian nhất định
Nếu mưa lớn, nước mưa lại bị tích luỹ bởi các trướng ngại vật như đất đá,cây cối cho đến khi lượng nước vượt quá sức chịu đựng của vật chắn, phá vỡ vậtchắn, ào xuống cấp tập (rất nhanh), cuốn theo đất đá, cây cối và quét đi mọi vật
có thể quét theo dòng chảy thì được gọi là lũ quét (hay lũ ống), thường diễn ra
rất nhanh, khoảng 3-6 giờ
Đồ thị diễn tả một quá trình lũ
Trang 15Lũ quét được hình thành bởi một lượng mưa có cường độ lớn, kéo dài trên
một khu vực nào đó Lượng mưa hình thành dòng chảy trên mặt đất và các dòngchảy được tập trung cùng nhau sinh ra một dòng chảy với lưu lượng và vận tốcrất lớn, chúng có thể cuốn tất cả nhưng gì có thể trên đường đi qua, đó chính làmối nguy hiểm tiềm tàng của lũ quét
Có rất nhiều nhân tố tác động và trực tiếp hình thành lũ quét: điều kiện khítượng, thuỷ văn (cường độ mưa, thời gian mưa, lưu lượng và mực nước trên cácsông, suối…) và điều kiện về địa hình (phân bố địa hình, đặc điểm thổ nhưỡng,
độ dốc lưu vực, độ dốc lòng sông, suối )
Ngập lụt là khi mực nước dâng cao vượt qua khỏi bờ, chảy tràn vào các
vùng trũng và gây ra ngập trên diện rộng trong một khoảng thời gian nhất định
b) Ảnh hưởng của lũ lụt
- Thiếu nước sạch, lương thực, nơi ở Nguy cơ bị dịch bệnh tăng cao
- Về kinh tế, có hàng chục ngàn ha lúa, màu và cây lương thực bị hư hại,hàng ngàn gia cầm, gia súc bị chết; hàng ngàn nhà cửa, kho tàng trường họcbệnh viện bị đổ trôi; hàng trăm ngàn m3 đất giao thông thuỷ lợi bị trôi, hàngchục công trình giao thông, thuỷ lợi nhỏ bị xuống cấp hoặc hư hỏng Thiệt hại
về kinh tế lên đến hàng trăm tỉ đồng Đây là những thiệt hại không nhỏ đối vớinền kinh tế xã hội, hơn nữa các thiệt hại đó lại tập trung chủ yếu ở những vùngcao, vùng sâu, nơi trình độ dân trí cũng như kinh tế còn thấp
- Đặc biệt là lũ quét đã gây ra những thiệt hại to lớn về người, của đối với một
bộ phận nhân dân cư trú ở vùng trung du và miền núi, vùng vùng sâu, xa mà đại bộphận là thuộc nhóm dân tộc thiểu số
Ví dụ: Vào tháng 8-2008, lũ quét đã xuất hiện tại các tỉnh phía Bắc, sốngười chết do mưa lũ đã lên tới 97 người, làm nhiều tuyến đường bị tê liệt, hưhỏng nặng; hơn 300 căn nhà tại các tỉnh bị sập đổ, cuốn trôi; 4.230 căn nhà bịngập, hư hại; 8.698 ha lúa, hoa màu bị thiệt hại…
c) Biện pháp khắc phục và phòng ngừa lũ lụt
- Biện pháp khắc phục
Di dời nhanh chóng người và của ra khỏi khu vực của lũ lụt Thành lập cácđơn vị xung kích cứu nạn để sẵn sàng làm nhiệm vụ giúp dân sơ tán, tìm kiếm,cứu trợ, cấp cứu người bảo vệ tài sản trong thời gian có lũ quét
Thực hiện khẩn trương công tác tìm kiếm, cứu nạn người dân và tài sản rakhỏi khu vực lũ lụt Đảm bảo người dân không bị đói, thiếu nước sạch, chỗ ở…Đảm bảo các dịch vụ về y tế phòng chống dịch bệnh lây lan sau lũ lụt
Trang 16Cộng đồng cùng chia sẻ, động viên và giúp đỡ nhân dân gặp khó khăn do
lũ lụt Làm thông thoáng các tuyến đường giao thông bị lũ phá hoại Tránh sự côlập vùng bị lũ lụt
- Biện pháp phòng ngừa
Tuyên truyền giáo dục về lũ lụt, mở các lớp tập huấn cho nhân dân về cáchthức phòng chống khi lũ lụt xảy ra Áp dụng mô hình dự báo để dự báo và cảnhbáo lũ lụt, ngoài ra các phương tiện thông tin đại chúng góp phần vào công táccảnh báo và hướng dẫn dân chúng cách tránh và thoát khỏi những vùng có lũ lụtmột cách rất hiệu quả Các yêu cầu cơ bản về thông tin cần trong hệ thống cảnhbáo lũ lụt là việc thu thập thông tin và truyền bá kịp thời các thông tin đó
Xây dựng củng cố hệ thống giao thông thuỷ lợi: cải tạo hệ thống kênh rạch,sông suối nhằm cải thiện dòng chảy, hạn chế các tác hại của lũ lụt Mở rộngkhẩu độ cầu cống, bố trí cầu và các công trình điều tiết phòng tránh lũ lụt; Làmđập kiểm soát trên các sông, suối thường xảy ra lũ lụt và lũ quét
Chủ động phòng tránh thiên tai và các sự cố môi trường gây ra do lũ lụt Cụthể: phải bảo vệ và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất,rừng, khoáng sản); phân vùng nhằm phòng tránh lũ lụt (phân vùng đất, cải tạocác dòng sông ), lồng ghép các nghiên cứu về kinh tế - xã hội và môi trườngtrong hoạch định biện pháp phòng tránh cũng như giảm nhẹ thiệt hại do lũ lụt,tăng cường hoạt động quản lý và dự báo lũ lụt (như: tăng cường nguồn nhân lực,kiện toàn bộ máy, bồi dưỡng nghiệp vụ năng lực kỹ thuật cho cán bộ làm côngtác phòng chống lũ lụt, dự báo KTTV), xây dựng các chính sách về lũ lụt, cácchương trình phòng chống lũ lụt ưu tiên
2.1.3 Hạn hán
a) Khái niệm
Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảmhàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng
Trang 17chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nướcdưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trườngsuy thoái gây đói nghèo dịch bệnh
b) Nguyên nhân
- Nguyên nhân khách quan:
Do khí hậu thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường xuyên ít ỏi hoặcnhất thời thiếu hụt
Mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể trong thời gian dài hầu như quanhnăm, đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khô hạn và bán khô hạn
Lượng mưa trong khoảng thời gian dài đáng kể thấp hơn rõ rệt mức trungbình nhiều năm cùng kỳ Tình trạng này có thể xảy ra trên hầu khắp các vùng,
kể cả vùng mưa nhiều
Mưa không ít lắm, nhưng trong một thời gian nhất định trước đó khôngmưa hoặc mưa chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của sản xuất và môi trường xungquanh Đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khí hậu gió mùa, có sự khác biệt
rõ rệt về mưa giữa mùa mưa và mùa khô
- Nguyên nhân chủ quan:
Do con người gây ra, trước hết là do tình trạng phá rừng bừa bãi làm mấtnguồn nước ngầm dẫn đến cạn kiệt nguồn nước
Việc trồng cây không phù hợp, vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước(như lúa) làm cho việc sử dụng nước quá nhiều, dẫn đến việc cạn kiệt nguồnnước Thêm vào đó công tác quy hoạch sử dụng nước, bố trí công trình khôngphù hợp, làm cho nhiều công trình không phát huy được tác dụng Chất lượngthiết kế, thi công công trình chưa được hiện đại hóa và không phù hợp Thêmnữa, hạn hán thiếu nước trong mùa khô (mùa kiệt) là do không đủ nguồn nước
và thiếu những biện pháp cần thiết để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng giatăng do sự phát triển kinh tế-xã hội ở các khu vực, các vùng chưa có quy hoạchhợp lý hoặc quy hoạch phát triển không phù hợp với mức độ phát triển nguồnnước, không hài hoà với tự nhiên, môi trường vốn vẫn tồn tại lâu nay
Mức độ nghiêm trọng của hạn hán thiếu nước càng tăng cao do nguồn nước
dễ bị tổn thương, suy thoái lại chịu tác động mạnh của con người
c) Những tác hại của hạn hán ảnh hưởng đến Việt Nam
Hạn hán có tác động to lớn đến môi trường, kinh tế, chính trị xã hội và sứckhoẻ con người Hạn hán là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật thậm chí
là chiến tranh do xung đột nguồn nước
Trang 18Hạn hán tác động đến môi trường như huỷ hoại các loài thực vật, các loàiđộng vật, quần cư hoang dã, làm giảm chất lượng không khí, nước, làm cháyrừng, xói lở đất Các tác động này có thể kéo dài và không khôi phục được.Hạn hán tác động đến kinh tế xã hội như giảm năng suất cây trồng, giảmdiện tích gieo trồng, giảm sản lượng cây trồng, chủ yếu là sản lượng cây lươngthực Tăng chi phí sản xuất nông nghiệp, giảm thu nhập của lao động nôngnghiệp Tăng giá thành và giá cả các lương thực Giảm tổng giá trị sản phẩmchăn nuôi.
Các nhà máy thuỷ điện gặp nhiều khó khăn trong quá trình vận hành
Ở Việt Nam, hạn hán xảy ra ở vùng này hay vùng khác với mức độ và thờigian khác nhau, gây ra những thiệt hại to lớn đối với kinh tế-xã hội, đặc biệt lànguồn nước Khi hạn hán xảy ra nước trong sông ngòi, ao, hồ, và nước dưới đấtcạn kiệt, không đủ cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và duytrì phát triển bền vững của môi trường sinh thái
d) Phòng chống hạn hán
- Theo dõi hạn: Nước ta có một mạng lưới gần 200 trạm khí tượng mặt đất
và gần 1000 trạm đo mưa, trong đó có một số trạm tự động Lượng mưa và yếu
tố khí tượng liên quan đến hạn hán đều được các trạm theo dõi, quan trắc, tínhtoán cập nhật và phát hiện những biến động bất thường
- Dự báo hạn: Khác với các thiên tai khác, hạn phát triển chậm và thườngchỉ được phát hiện khi con người đã ít nhiều bị ảnh hưởng bởi hạn các nhà khoahọc đã phác họa được một vài căn cứ khoa học quan trọng giúp ích cho dự báohạn hán
Người ta bắt đầu xây dựng và đưa vào thử nghiệm một số mô hình dự báothời tiết hạn dài, cảnh báo hạn hán dựa trên quá trình vận động của các trungtâm khí áp, trong đó có áp cao phó nhiệt đới Thái Bình Dương
- Phòng chống hạn
Trong sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp quy hoạch tưới tiêu hợp lý,xây dựng đồng ruộng có khả năng tăng cường giữ nước trong đất và tuyển lựađược các giống cây trồng có nhiều khả năng chịu hạn Chuyển đổi cơ cấu kinh tế
Trang 19cho phù hợp với khả năng nguồn nước ở mỗi vùng mỗi lưu vực sông, điều kiện
tự nhiên Xây dựng mới và nâng cấp các công trình tưới tiêu, giành thế chủ độngtưới tiêu trên phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp, vừa là giải pháp trướcmắt vừa là giải pháp lâu dài phòng, chống hạn hán Ngoài ra, một giải phápphòng chống hạn khác có hiệu quả là trồng rừng và bảo vệ rừng
Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất cho các vùng có nguy cơ hạn hánthiếu nước ở mức cao để khai thác nước dưới đất làm phương án dự phòng cấpnước trong thời kỳ hạn hán thiếu nước
2.1.4 Sạt lở đất
a) Khái niệm
Sạt lở đất là hiện tượng đất, bùn và đá chuyển động rất nhanh từ trên sườndốc, mái dốc xuống Sạt lở đất thường xuất hiện ở các khu vực đồi núi, có thểtrượt xa đến hàng km
b) Nguyên nhân hình thành
- Do những chấn động tự nhiên của trái đất (VD: động đất), do hiện tượngphong hóa, hoặc do sự thay đổi độ ẩm trong đất làm mất sự liên kết của đất và
đá trên sườn đồi, núi
- Xảy ra khi có mưa rất to hoặc lũ lụt lớn làm cho đất đá bão hòa nước,không còn sự kết dính và trôi xuống
- Do trọng tải lớn đặt trên sườn dốc (như các công trình xây dựng) hoặc domưa to trên vùng rừng bị chặt phá và cháy gây ra
- Do do các tác động của con người làm thay đổi hướng dòng chảy hoặc kếtcấu của sườn dốc
c) Các tác động có hại điển hình
- Thiệt hại về người (gây thương tích và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng) – trượt lở sườn dốc thường gây ra chết người Thiên tai do trượt lở, lũ bùn
đã từng giết chết hàng nghìn người ở nhiều nơi trên thế giới;
- Thiệt hại về vật chất – Bất kỳ thứ gì nằm trên đường trượt lở sẽ bị phá
hủy Đất đá có thể vùi lấp đường giao thông, cắt đứt đường dây thông tin, đườngthủy Các tác động không trực tiếp có thể bao gồm thiệt hại về năng suất nôngnghiệp, đất rừng và lũ lụt
d) Biện pháp phòng chống
Trang 20- Tích cực trồng rừng, đảm bảo lớp phủ thực vật, đặc biệt ở những nơi đấtdốc Trồng rừng đầu nguồn, rừng ven biển.
- Kè đê sông, biển, đây là giải pháp công nghệ dùng các loại vật liệu bềnvững làm lớp áo phủ phía ngoài, giữ cho đất bờ không bị xói trôi, bảo vệ trựctiếp mái lở Giải pháp này hiện được dùng phổ biến và rộng rãi ở hầu hết cáccông trình bảo vệ bờ nước ta
- Công trình giảm tốc ven bờ, chuyển hướng dòng chảy,
2.1.5 Lốc
a) Khái niệm
Lốc là một hiện tượng thời tiết cục bộ trong đó gió xoáy (là luồng khôngkhí chuyển động xoay xung quanh 1 trục theo phương thẳng đứng) được hìnhthành do sự mất ổn định và nhiễu động gây ra bởi sự biến thiên nhiệt và dòngkhông khí Lốc có thể xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới và vào bất kỳ thời giannào trong năm
b) Nguyên nhân hình th nh v ành và đặc điểm ành và đặc điểm đặc điểm đ ểm họa thiên nhiên ở Việt Nam c i m
Minh họa sự hình thành lốc
trên mặt đất
Minh họa sự hình thành vòi rồng
trên biển
- Do nhiễu động mạnh của không khí
- Hình thành từ rìa các cơn bão
- Khi mây đối lưu phát triển mạnh
Trang 21Trong những ngày hè nóng nực, mặt đất bị đốt nóng không đều nhau, mộtkhoảng nào đó hấp thụ nhiệt thuận lợi sẽ nóng hơn, tạo ra vùng khí áp giảm vàtạo ra dòng khí nóng bốc lên cao một cách mạnh mẽ Không khí lạnh hơn ởchung quanh tràn đến tạo hiện tượng gió xoáy, tương tự như trong cơn bão Tốc
độ gió của lốc xoáy tăng mạnh đột ngột trong một thời gian rõ rệt
Sự hình thành lốc và vòi rồng có cùng nguyên nhân, chỉ khác nhau lốc xuấthiện trên mặt đất còn vòi rồng thì xuất hiện ở biển hoặc ven biển.Lốc và vòirồng xuất hiện khi có sự chênh lệch quá lớn khí áp giữa đám mây dày hình đe vàmặt đất hoặc biển Không khí ở các vùng áp cao hơn vị cuốn đến vùng áp thấptheo hình xoáy cuộn với vận tốc rất lớn lên đến 200km/h và hạ thấp xuống mặtđất cuốn đi các vật chất trên đường di chuyển Vòi rồng và lốc thường xuất hiệnbất ngờ, rất khó dự báo trước
- Lốc xoáy lớn: một lốc xoáy lớn (như vòi rồng) được hình thành từ cáctrận dông lốc đặc biệt mạnh (được xếp là cấp dông lốc mạnh nhất) hoặc từ cáctrận bão mạnh khác Khi bão bắt đầu tạo chuyển động xoáy, nó tương tác vớicác luồng gió khác ở vĩ độ cao, tạo nên một phễu xoáy Trên phễu xoáy, có thểquan sát thấy một đám mây bằng mắt thường
- Lốc xoáy nhỏ: Khi gió cục bộ bắt đầu chuyển động xoáy trên mặt đất,phễu xoáy xuất hiện Phễu xoáy di chuyển trên mặt đất và được gió ban đầu hìnhthành ra nó đẩy đi Các phễu xoáy cuốn các vật thể như bụi, cát hay tuyết khi nó
di chuyển trên mặt đất và do đó có thể quan sát nó bằng mắt thường Lốc xoáyloại nhỏ được hình thành do sự chuyển động của khối không khí nóng khi khốikhông khí này thay thế bởi các khối không khí lạnh hơn và tạo thành cột gió cókích thước nhỏ chuyển động xoáy ở phần bên dưới của một “vùng nóng ”
c) Biện pháp phòng tránh
- Khi đang ở trên biển
+ Buộc chủ tàu thuyền khi ra biển phải có phao cứu sinh và toàn bộ thủythủ, thuyền viên phải mặc áo phao vào khi đang ở trên biển
+ Khi thấy ổ mây dông thì phải nhanh chóng trở vào bờ hoặc di chuyển tìmnơi tránh, trú an toàn
+ Tổ chức hợp lý đội hình khai thác trên biển theo tổ, trong đó đảm bảo cự
ly, khoảng cách hợp lý giữa các tàu thuyền để hỗ trợ nhau khi gặp nạn
- Khi ở trên đất liền
+ Xây dựng các công trình, nhà ở kiên cố, thường xuyên chằng chống nhàcửa để tăng độ vững chắc nhằm đề phòng lốc xoáy Ở các cửa biển, ven biển, nơitrống trải, nếu nhà ở lợp bằng lá, tôn tráng kẽm, fibro xi măng, ngói có thể dằnlên mái nhà các loại thanh nẹp bằng gỗ, sắt, dây kẽm cỡ lớn hoặc các bao chứa
Trang 22cát để hạn chế tốc mái khi có lốc xoáy (phương pháp chằng chống thực hiện
theo hướng dẫn đối với mục bão, áp thấp nhiệt đới)
+ Chặt tỉa cành, nhánh của các cây cao, dễ gãy đổ, mục rỗng, nằm gần nhà
ở, lưới điện…
+ Khi trời mưa lớn kèm theo giông cần sơ tán người già và trẻ em ra khỏinhững căn nhà tạm bợ, đến những nơi an toàn, vững chắc hơn Khi xảy ra lốcxoáy mọi người phải tìm những nơi trú ẩn an toàn như các nhà kiên cố, tránhnúp dưới bóng cây, nhà tạm bợ dễ bị ngã đổ gây tai nạn Tuyên truyền, vận độngđến các hộ dân có nhà kiên cố tiếp nhận những người dân trú ẩn khi xảy ra lốcxoáy với tinh thần tương thân, tương trợ lẫn nhau
2.1.6 Sóng th n ần suất xuất hiện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam
Sóng thần tại Nhật Bản tháng 3/2011 a) Khái niệm
Sóng thần là sóng biển có chu kỳ dài, lan truyền với tốc độ lớn Khi tới gần
bờ tùy độ sâu của biển và địa hình vùng bờ, sóng thần có thể đạt độ cao hàngchục mét, tràn sâu vào đất liền gây thảm họa lớn
b) Nguyên nhân sinh ra sóng thần
- Sóng thần sinh ra do hệ quả của động đất ở vùng đáy đại dương
- Sóng thần thường là kết quả của sự nâng hạ đột ngột của một phần vỏ tráiđất nằm dưới đại dương Nó gây nên sự dịch chuyển đột ngột của cả cột nướcbên trên, và sự nâng hoặc hạ của mực nước biển ở trên bề mặt Sự nâng, hạ mựcnước biển này là bước đầu tiên hình thành nên sóng thần
- Sóng thần cũng có thể được hình thành do sự dịch chuyển với thể tích lớncủa nước biển bắt nguồn từ hiện tượng sạt lở đất, phun trào của núi lửa ngầm dướiđáy biển
Trang 23- Khi được hình thành, sóng thần có thể di chuyển trên bề mặt đại dươngvới tốc độ lớn hơn 800 km/h Trận sóng thần ở Ấn Độ Dương năm 2004 chỉ mất
có 2,5 giờ để di chuyển từ nơi nó hình thành tại đường đứt gãy ở phía tây BandaAceh, Indonesia đến Sri Lanka Những sóng thần hình thành ở gần bờ có thể dichuyển đến bờ chỉ trong vòng vài phút, như trận sóng thần ở đông bắc Nhật Bảntrong năm 2011;
- Chuyển động của sóng thần trên đại dương hầu như rất khó nhận biết vìchiều cao của sóng thường nhỏ hơn 1m Khi sóng thần đổ bộ vào bờ, chiều caosóng có thể đạt tới 30 m hoặc cao hơn thế
c) Ứng phó với sóng thần
- Khi đang ở trên biển, ven biển
+ Khi đang ở trên tàu thuyền trên biển, ven biển mà nhận được tin cảnh báosóng thần thì không nên cho tàu thuyền trở về cảng, mà nên di chuyển tàuthuyền đến những vùng nước sâu ít nhất là trên 150m, vì sóng thần có thể gây ra
sự thay đổi nhanh chóng mực nước biển và tạo ra những dòng chảy nguy hiểm ởcảng và bến tàu
+ Khi tàu thuyền còn neo đậu trong bờ mà nhận được tin cảnh báo sóngthần thì chủ tàu thuyền có thể đưa tàu thuyền của mình ra biển nếu có đủ thờigian và được sự thông báo của chính quyền, cơ quan chức năng
+ Không được ở lại trên tàu thuyền neo đậu tại bến cảng vì sóng thần cómức phá hoại rất lớn
- Khi ở trên đất liền
+ Đang ở khu vực bãi biển: khi nhận được tin sóng thần phải ngay lập tứcchạy đến nơi an toàn ở các bãi đất cao hoặc xa bờ biển từ 500m trở lên
+ Đang ở nơi đông người: khi nhận được tin sóng thần phải ngay lập tứcbáo với những người khác cùng chạy đến nơi an toàn ở các bãi đất cao hoặc xa
bờ biển từ 500m trở lên, đặc biệt là giúp đỡ trẻ em, người già, phụ nữ có thai đi
sơ tán
+ Đang ở trong nhà trệt, nhà thấp tầng: trong phạm vi dưới 500m so với bờbiển phải sơ tán vào sâu trên đất liền, chỉ mang theo các vật dụng, tài sản, giấy
tờ quan trọng khi sơ tán
+ Đang ở trong nhà cao tầng: phải di chuyển lên các tầng cao, không ở lạitầng 1 cho đến tầng 3; mở trống các cửa ỏ các tầng thấp để hạn chế sự tác độngcủa sóng
+ Đang đi trên đường: không được đi ra hướng bờ biển
2.1.7 Mưa đá
Trang 24a Khái niệm
Mưa đá là hiện tượng mưa dưới dạng hạt hoặc cục băng có hình dáng vàkích thước khác nhau do đối lưu cực mạnh từ các đám mây dông gây ra Kíchthước có thể từ 5 mm đến hàng chục cm, thường cỡ khoảng một vài cm, có dạnghình cầu không cân đối Những hạt mưa đá thường rơi xuống cùng với mưa rào Mưa đá thường kết thúc rất nhanh trong vòng 5 -10 phút, lâu nhất cho cảmột vệt mưa cũng chỉ 20 - 30 phút
để đưa các hạt nước mưa và các tinh thể băng ngược lên, vào trong đám mây nơi
có nhiệt độ đóng băng thấp và các hạt mưa sẽ đóng băng thành tuyết, hoặc cáchạt băng nếu như sẵn có các hạt nhân ngưng kết Sau đó các hạt băng đượcchuyển động lên xuống trong đám mây, nơi có hàng triệu các hạt nước siêu lạnh,
va chạm với bề mặt băng và ngay lập tức bị đóng băng trên bề mặt đó, tạo thànhcác hạt băng lớn hơn Lúc này, khi các hạt băng hay các hạt mưa đá đã lên tớiđỉnh đám mây, nó bắt đầu rơi xuống trên rìa phía ngoài của đám mây nơi códòng thăng yếu hơn
Các hạt đá tiếp tục rơi xuống khu vực có dòng thăng mạnh hơn và quá trìnhnày lại lặp lại tạo thành những hạt đá có kích thước lớn hơn, cho đến khi dòngthăng không thể đẩy nó đi lên được nữa, nó rơi xuống khỏi đám mây và rơixuống mặt đất thành mưa đá
2.1.8 Sương muối
a Khái niệm
S ư ng mu i (còn g i l s ọa thiên nhiên ở Việt Nam ành và đặc điểm ư ng giá) l hi n t ành và đặc điểm ện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ượng hơi nước đóng băng thành các ng h i n ước đóng băng thành các đ c óng b ng th nh các ăng thành các ành và đặc điểm
h t nh v tr ng nh mu i ngay trên m t ành và đặc điểm ư ặc điểm đất xuất hiện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam t, b m t cây c ho c các v t th khác khi ề mặt cây cỏ hoặc các vật thể khác khi ặc điểm ặc điểm ật thể khác khi ểm họa thiên nhiên ở Việt Nam
Trang 25không khí trên ó m v l nh S đ ành và đặc điểm ư ng mu i ch có m u tr ng gi ng nh tinh th mu i ch ỉ có màu trắng giống như tinh thể muối chứ ành và đặc điểm ư ểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ứ
nó th t không có v m n ật thể khác khi ị mặn ặc điểm
Sương muối ở trung du và miền núi Bắc Bộ
b Nguyên nhân
Ở nước ta sau khi không khí lạnh về, vùng núi Bắc bộ nằm sâu trong khôngkhí lạnh, đêm trời quang mây, lặng gió, không khí ẩm đã lạnh lại bị bức xạ mấtnhiệt nên tiếp tục lạnh, nhiệt độ không khí giảm nhanh dẫn đến hình thành sươngmuối Sương muối thường hình thành khi nhiệt độ không khí <= 4 độ C (trong lềukhí tượng ở độ cao 2 m), khi ấy nhiệt độ bề mặt các vật thể hay cây cỏ ở mặt đất
đã có thể xấp xỉ 0 độ C, nhưng phải đủ ẩm mới hình thành được sương muối Cácvùng đồng bằng nước ta chỉ có sương giá (không phải sương muối), song nó cũngnguy hiểm đối với một số cây trồng nếu thời gian sương giá kéo dài
2.1.10 Xâm nhập mặn
a Khái niệm
Xâm nh p m n l hi n t ật thể khác khi ặc điểm ành và đặc điểm ện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ượng hơi nước đóng băng thành các ng n ước đóng băng thành các c m n (v i ặc điểm ớc đóng băng thành các độ mặn 4 phần nghìn) từ biển xâm ặc điểm m n 4 ph n nghìn) t bi n xâm ần suất xuất hiện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ừ biển xâm ểm họa thiên nhiên ở Việt Nam
nh p sâu v o trong n i ật thể khác khi ành và đặc điểm ộ mặn 4 phần nghìn) từ biển xâm đồng và ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển của các cây ng v nh h ành và đặc điểm ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển của các cây ưở Việt Nam ng t i s sinh tr ớc đóng băng thành các ự sinh trưởng, phát triển của các cây ưở Việt Nam ng, phát tri n c a các cây ểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ủa các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam
tr ng v v t nuôi n ồng và ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển của các cây ành và đặc điểm ật thể khác khi ước đóng băng thành các c ng t ọa thiên nhiên ở Việt Nam
Xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long
b Nguyên nhân
Nguyên nhân của xâm nhập mặn là do nước biển dâng, triều cường và sự
Cạn kiệt nước ngọt phía trong đất liền
2.2 Các loại hình thiên tai phân theo khu vực địa lí
Trang 26Vị trí địa lí của Việt Nam và điều kiện địa hình đã tạo nên những đặc điểmkhí hậu riêng biệt mà từ đó dẫn tới sự phân chia các dạng thiên tai, các thiên taiđiển hình theo mùa với những đặc điểm riêng của từng vùng.
Về nguyên tắc, có 05 vùng thiên tai ở Việt Nam Mỗi vùng có đặc điểm địa
lí và địa hình khác nhau và các dạng thiên tai khác nhau Các thiên tai ở cácvùng ven biển có đặc trưng riêng nhưng cũng đôi khi nó bao gồm cả lũ quét ởnhững vùng cao Có thể phân chia năm vùng thiên tai cho năm nhóm tỉnh thànhtrên toàn quốc
CHƯƠNG II GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG VÀ GIẢM NHẸ THIÊN TAI TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trang 271 Vai trò, nhiệm vụ của GDPT đối với giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai
1.1 Vai trò
- Số lượng học sinh đông, năm học 2012-2013 số HS của toàn bậc học phổthông là hơn 14,7 triệu (Trong đó: HS tiểu học: 7,2 triệu, THCS: 4,8 triệu,THPT: 2,6 triệu) Nếu tính riêng, số lượng HS trung học chiếm hơn 1/10 dân sốnước ta và có liên quan đến hàng triệu hộ gia đình
- Học sinh phổ thông là những động lực và nhân tố cơ bản để lan tỏa trong
xã hội, những hành động của các em đều có tính động viên, khích lệ lớn đối vớigia đình, xã hội và do đó, có tác động làm thay đổi hành vi, cách ứng xử của mọingười trong xã hội đối với việc phòng, chống và giảm nhẹ hậu quả của thiên tai
- Học sinh phổ thông là lực lượng chủ lực trong việc thực hiện và duy trìcác hoạt động tuyên truyền về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai trong và ngoàinhà trường Đồng thời, những kiến thức và kĩ năng về phòng chống và giảm nhẹthiên tai mà các em tiếp thu được từ nhà trường sẽ dần hình thành trong tư duy,hành động của các em để ứng phó với thiên tai trong tương lai Bởi vậy việc đầu
tư cho giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai trong hệ thống giáo dục phổthông nói riêng, hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, là một giải pháp lâu dài,nhưng hiệu quả kinh tế nhất và bền vững nhất
dụ như: việc phá rừng, làm giảm lớp phủ thực vật sẽ kéo theo một loạt các hậu quả
cả về môi trường môi sinh và đó cũng chính là những nguyên nhân xảy ra lũ quét ởvùng trung du và miền núi
Trong nhà trường việc giáo dục các kĩ năng sống cho HS có vai trò rất quantrọng, cùng với các kĩ năng sống về tâm lí học, các kĩ năng sống để đối phó với cáctình huống khẩn cấp như thiên tai, hỏa hoạn, rất cần thiết, đây cũng chính lànhiệm vụ của các nhà trường phổ thông
2 Mục tiêu của giáo dục ứng phó với BĐKH trong trường THPT
2.1 Mục tiêu chung
- Nâng cao nhận thức cho HS phổ thông cấp THPT về phòng, chống vàgiảm nhẹ thiên tai thông qua việc cung cấp những thông tin, kiến thức cơ bản,cần thiết nhất về thiên tai nói chung ở Việt Nam
Trang 28- Bồi dưỡng và phát triển cho HS những kỹ năng, năng lực cơ bản, cầnthiết, để phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, phù hợp với đặcđiểm vùng miền và điều kiện sống ở địa phương, nhằm nhanh chóng ổn địnhtình hình và phát triển kinh tế -xã hội nơi HS đang sinh sống.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Bổ sung cho HS cấp THPT kiến thức, kĩ năng, năng lực về phòng, chống
và giảm nhẹ thiên tai thông qua việc cung cấp những thông tin, kiến thức, kĩnăng cơ bản, cần thiết nhất về thiên tai nói chung ở Việt Nam
- Đưa các nội dung giáo dục về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai tích hợpvào các môn học Sinh học, Địa lí, Vật lí, Hóa học và Công nghệ cấp THPT
3 Định hướng, yêu cầu của giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai trong trường THPT
- Thông qua việc tích hợp kiến thức về phòng chống và giảm nhẹ thiên taivào nội dung môn học trong tiết học chính khóa hoặc ngoài giờ lên lớp, các hoạtđộng ngoại khóa để nâng cao nhận thức, hình thành thái độ, hành vi ứng xử, rènluyện kỹ năng và hành động cụ thể để ứng phó với thiên tai
- Nội dung của giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai phải đảm bảotính khoa học, tính hệ thống giữa các khối kiến thức, kĩ năng, đảm bảo tính liênthông giữa các cấp học Kiến thức và kĩ năng về phòng chống và giảm nhẹ thiêntai còn phải đảm bảo được tính phù hợp với các đối tượng HS ở các vùng miềnkhác nhau trên cả nước
- Giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai cần có sự hợp tác, liên kếtgiữa các trường học trên phạm vi quốc gia, quốc tế về thông tin, chia sẻ kinhnghiệm xử lý rủi ro trong những trường hợp cụ thể, cả về nhân lực và tài chính
- Giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai là giáo dục về nhận thức và
cả hành động để có thể tham gia giải quyết những vấn đề cụ thể do thiên tai gây
ra Do đó, mỗi HS được giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên không chỉ cóthêm nhận thức, hiểu biết cần thiết để ứng phó với thiên tai, mà còn phải biếtvận dụng các các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các vấn đề thực tiễn cụ thể,phải biết làm một việc gì đó cho trường mình, cho cộng đồng, nghĩa là giáo dụcphòng chống và giảm nhẹ thiên tai phải được tiến hành thông qua các hành độngthực tiễn
- Trong giáo dục về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, cần phát triển các
kĩ năng hợp tác: thày-trò; trò - trò; thầy trò - xã hội để nâng cao hiệu quả giáodục và góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực
4 Tích hợp giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai trong trường THPT
Trang 294.1 Quan niệm về DHTH
Khái niệm tích hợp đã được sử dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoahọc và kĩ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực kĩ thuật điện tử, công nghệ thông tin, Tích hợp có nghĩa là "gộp lại, sáp nhập lại thành một tổng thể" (tiếng Pháp làintégration, tiếng Anh là integration) Tư tưởng tích hợp đã được vận dụngtrong nhiều giải pháp công nghệ thuộc mọi lĩnh vực kinh tế-xã hội hiện nay,trong đó có giáo dục
Phương thức tích hợp các môn học trong quá trình dạy học, hay DHTH, đãđược vận dụng tương đối phổ biến ở nhiều quốc gia Ở Việt Nam đã có nhiềumôn học, cấp học quan tâm vận dụng tư tưởng tích hợp vào quá trình dạy học đểnâng cao chất lượng giáo dục (như tích hợp nội dung của các môn Sinh học, Địa
lí, Lịch sử, hoặc đưa các nội dung giáo dục tích hợp vào các môn học như:giáo dục bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, giáo dụcdân số, giáo dục giới tính vào các môn học)
Xavier Rogiers đã đưa ra một định nghĩa về khoa học sư phạm tích hợpnhư sau: "Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về một quá trình học tậptrong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những nănglực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho cácquá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập HS vào cuộc sống lao động" "Khoa sư phạm tích hợp" được trình bày như một lí thuyết giáo dục, mộtmặt nó đóng góp vào việc nghiên cứu xây dựng chương trình, sách giáo khoa,đồng thời góp phần định hướng các hoạt động dạy học trong nhà trường
Với ý nghĩa định hướng các hoạt động dạy học, trong nhiều tài liệu người
ta cũng thường sử dụng thuật ngữ "DHTH" Trong tài liệu này chúng tôi sẽ
dùng thuật ngữ "DHTH" để chỉ quá trình dạy học trong đó học sinh phải huy động
nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết cácnhiệm vụ học tập, thông qua đó lại hình thành và phát triển những kiến thức, kĩnăng mới, rèn luyện được những năng lực cần thiết Một quá trình dạy học nhưvậy cũng đòi hỏi GV phải nghiên cứu vận dụng phối hợp các phương pháp vàphương tiện dạy học
Trang 30mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sángtạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam, xây dựng tư cách và trách nhiệmcông dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" Việc có nhiều môn học đã được đưa vàonhà trường phổ thông hiện nay là thể hiện quá trình thực hiện mục tiêu giáo dụctoàn diện Các môn học đó phải liên kết với nhau để cùng thực hiện mục tiêugiáo dục nêu trên
+ Mặt khác, hiện nay các tri thức khoa học và kinh nghiệm xã hội của loàingười phát triển như vũ bão Trong khi, quỹ thời gian cũng như số năm học để HSngồi trên ghế nhà trường là có hạn, không thể đưa nhiều môn học hơn nữa vàonhà trường, cho dù những tri thức này là rất cần thiết Chẳng hạn, ngày nay người
ta nhận thấy cần thiết phải trang bị nhiều kĩ năng sống cho HS (các kiến thức và
kĩ năng về an toàn giao thông, bảo vệ môi trường sống, năng lượng và sử dụngnăng lượng, về định hướng nghề nghiệp, ) trong khi những tri thức này khôngthể tạo thành môn học mới để đưa vào nhà trường Vì vậy, DHTH là giải phápquan trọng
+ Chương trình GDPT và sách giáo khoa các môn học đã tích hợp nhiều trithức để thực hiện các mục tiêu nêu trên, song không thể đầy đủ và phù hợp vớitất cả đối tượng HS Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV phải nghiên cứu để tíchhợp các nội dung tri thức trên một cách cụ thể cho từng môn học và phù hợp vớitừng đối tượng HS ở các vùng miền khác nhau
- Do bản chất của mối liên hệ giữa các tri thức khoa học
Các nhà khoa học cho rằng khoa học ở thế kỷ XX đã chuyển từ phân tíchcấu trúc lên tổng hợp hệ thống làm xuất hiện các liên ngành (như sinh thái học,
tự động hóa, ) Vì vậy, xu thế dạy học trong nhà trường là phải làm sao cho trithức của HS xác thực và toàn diện Quá trình dạy học phải làm sao liên kết, tổnghợp hóa các tri thức, đồng thời thay thế "tư duy cơ giới cổ điển" bằng "tư duy hệthống" Theo Xavier Rogiers, nếu nhà trường chỉ quan tâm dạy cho HS các kháiniệm một cách rời rạc, thì nguy cơ sẽ hình thành ở HS các "suy luận theo kiểukhép kín", sẽ hình thành những con người "mù chức năng", nghĩa là nhữngngười đã lĩnh hội kiến thức nhưng không có khả năng sử dụng các kiến thức đóhàng ngày
- Góp phần giảm tải học tập cho học sinh
Giảm tải học tập không chỉ là giảm thiểu khối lượng kiến thức mônhọc, hoặc thêm thời lượng cho việc dạy học một nội dung kiến thức theo quiđịnh Phát triển hứng thú học tập cũng có thể được xem như một biện pháp giảm
Trang 31tải tâm lí học tập có hiệu quả và rất có ý nghĩa Làm cho HS thấu hiểu ý nghĩacủa các kiến thức cần tiếp thu, bằng cách tích hợp một cách hợp lí và có ý nghĩacác nội dung gần với cuộc sống hàng ngày vào môn học, từ đó tạo sự xúc cảmnhận thức, cũng sẽ làm cho HS nhẹ nhàng vượt qua các khó khăn về nhận thức
và việc học tập khi đó mới trở thành niềm vui và hứng thú của HS
4.3 Phương thức, hình thức DHTH nội dung giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai trong các môn học cấp THPT
- Các nội dung giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên, nội dung giáo dục
sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, cũng như nội dung giáo dục bảo vệmôi trường, có thể được tích hợp vào các môn học ở các mức độ khác nhau.Trong trường hợp cần tích hợp nhiều nội dung có liên quan với nhau vào cùngmột môn học, trước hết ta cần làm rõ mối quan hệ giữa các nội dung này và nênlựa chọn các nội dung thể hiện rõ nhất, có cơ sở khoa học và có ý nghĩa nhất đểtích hợp vào nội dung môn học Điều này giúp ta tránh được sự dàn trải, đưa quánhiều nội dung vào môn học làm quá tải quá trình học tập của HS
- Các phương thức tích hợp thường dùng hiện nay là:
+ Tích hợp toàn phần: được thực hiện khi hầu hết các kiến thức của mônhọc, hoặc nội dung của một bài học cụ thể, cũng chính là các kiến thức về giáodục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai
+ Tích hợp bộ phận: được thực hiện khi có một phần kiến thức của môn
học hoặc bài học có nội dung về giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai + Hình thức liên hệ: liên hệ là một hình thức tích hợp đơn giản nhất khi chỉ
có một số nội dung của môn học có liên quan tới nội dung về giáo dục phòngchống và giảm nhẹ thiên tai, song không nêu rõ trong nội dung của bài học.Trong trường hợp này GV phải khai thác kiến thức môn học và liên hệ chúngvới các nội dung về giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai Đây là trườnghợp thường xảy ra
b Các hình thức tổ chức DHTH:
Trang 32- Hình thức thứ nhất: Thông qua các bài học trên lớp Trong trường hợpnày GV thực hiện các phương thức tích hợp với các mức độ đã nêu ở trên Cáchoạt động của GV có thể bao gồm:
Hoạt động 1: Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa để xây dựng mục
tiêu dạy học, trong đó có các mục tiêu giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiêntai, mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường
Hoạt động 2: Xác định các nội dung giáo dục phòng chống và giảm nhẹ
thiên tai, giáo dục môi trường cụ thể cần tích hợp Căn cứ vào mối liên hệ giữakiến thức môn học và các nội dung giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai,giáo dục môi trường, GV lựa chọn tư liệu và phương án tích hợp Cụ thể phải trảlời các câu hỏi: tích hợp nội dung nào là hợp lí? Liên kết các kiến thức về giáodục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai và giáo dục bảo vệ môi trường như thếnào? Thời lượng là bao nhiêu?
Hoạt động 3: Lựa chọn các phương pháp dạy học và phương tiện phù hợp,
trước hết quan tâm sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, các phương tiệndạy học có hiệu quả cao để tăng cường tính trực quan và hứng thú học tập của
HS (như sử dụng các thí nghiệm, mô hình, tranh ảnh, video clip, )
Hoạt động 4: Xây dựng tiến trình dạy học cụ thể Ở đây GV cần nêu cụ thể
các hoạt động của HS, các hoạt động trợ giúp của GV
- Hình thức thứ hai: Giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai cũng cóthể được triển khai như một hoạt động độc lập song vẫn gắn liền với việc vậndụng kiến thức môn học Các hoạt động có thể như: tham quan, ngoại khóa, tổchức các nhóm ngoại khóa chuyên đề, các bài học dự án, nghiên cứu một đề tài(phù hợp với HS) Với các hoạt động này, mức độ tích hợp kiến thức, kĩ năngcác môn học với các nội dung giáo dục phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, giáodục môi trường sẽ đạt cao nhất Trong các hoạt động này, HS học cách vận dụngkiến thức môn học trong các tình huống gần gũi với cuộc sống hơn, huy độngkiến thức từ nhiều môn học hơn
Trang 33CHƯƠNG 3 HƯỚNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
TRONG NHÀ TRƯỜNG
Muốn giảm nhẹ thiên tai cần hiểu về bản chất của thiên tai, ảnh hưởng của
nó đối với bản thân và cộng đồng, quan điểm và cách tiến hành giảm nhẹ từngloại thiên tai Khi được cung cấp đủ các thông tin thì mỗi cá nhân trong cộngđồng có thể tự quyết định cách thích nghi phù hợp với hoàn cảnh của mình: nơi
cư trú, quy mô và cấu trúc nhà cửa, phương tiện phòng tránh và điều quan trọng
là mỗi người tự thấy trách nhiệm của mình đối với cộng đồng trong giảm nhẹ rủi
ro thiên tai và tổn thất do thiên tai gây ra cho bản thân cũng như cộng đồng và tựđòi hỏi phải xây dựng một cộng đồng an toàn hơn trước mọi thiên tai
Nâng cao nhận thức cho cộng đồng và học sinh về thiên tai thông qua các
tổ chức nhà trường, các đội cứu hộ hoặc các cơ quan quản lý công việc khẩn cấpnhằm làm cho mọi người chuẩn bị sẵn sàng phòng tránh hơn là để khi xảy rathiên tai mới tìm cách giảm nhẹ hay khắc phục
Cần chọn giải pháp nào chuyển được nhiều thông tin về thiên tai và mongmuốn một cộng đồng an toàn hơn, trong đó mọi người sống và làm việc theo sựlựa chọn của mình cả mức rủi ro và giải pháp phòng tránh
- Nội dung nâng cao nhận thức:
+ Bản chất các loạt thiên tai ở Việt Nam: Bão, lũ quét, nước biển dâng dobão, lũ, tố, lốc, sạt trượt đất, úng hạn, xâm nhập mặn
+ Những nguyên nhân gây ra các loại thiên tai: Nội sinh, ngaọi sinh vànhân sinh chú trọng nhấn mạnh nguyên nhân do con người tác động làm chothiên tai xảy ra ngày càng tăng cả về cường độ, phạm vi và chu kỳ tái diễn tuytác động chỉ là phụ như lũ, lũ quét, sạt trượt đất, suy kiệt dòng chảy, ô nhiễmmôi trường, làm cháy rừng
+ Tác hại của thiên tai lấy thí dụ những trận thiên tai gây tổn thất lớn: Trậnbão LINDA tháng 10/1997 ở Đồng bằng Sông Cửu Long; lũ 10/1996 ở Đồngbằng Sông Cửu Long, lũ 11/1999 ở Trung Trung Bộ lũ 1987, 1993, 1998 ở NamTrung Bộ, lũ 1978, 1996 ở Bắc Trung Bộ, lũ 1971 ở đồng bằng sông Hồng, lũquét 1992, 1996 ở Lai Châu 1993 ở Lào Cai, 8/1994 ở Sơn La 7/1999 ở HàmTân Bình Thuận; Nước dâng do bão gây ra 10/1985 ở Quảng Trị – Thừa ThiênHuế; Sạt lở đất ở sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long các năm 1997,1998,1999; Sạt lở bờ biển tháng 12/1999 ở Nam Trung Bộ; nổ khí Mêthan ởMạo Khê (1999); lũ bùn cát ở Sìn Hồ Lai Châu năm 2000 ở Trà Lĩnh Lạng Sơn1993
- Giáo dục:
+ Thông qua các trường học phổ thông trung học để truyền đạt những tổchức và thiên tai và kiến thức về phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai
Trang 34+ Đưa vào môn học địa lí các kiến thức về thiên tai và truyền thống phòngtránh và giảm nhẹ thiên tai của dân tộc Việt Nam.
+ Giáo dục cộng đồng bảo vệ môi trường thiên nhiên và hệ sinh thái, đặcbiệt là trồng và bảo vệ rừng, sử dụng đất hợp lý, không làm tắc nghẽn đườngthoát lũ, không lấn chiếm lòng và bãi sông, không làm ô nhiễm môi trường.Việc giảng dạy cho học sinh sẽ được thực hiện theo dạng tích hợp, lồngghép có chọn lọc những kiến thức về công tác phòng chống, giảm nhẹ thiên tai,ứng phó với biến đổi khí hậu vào các môn học trong chương trình, ví dụ bậcTHPT có thể tích hợp vào các môn: vật lý, hóa học, sinh vật, địa lí, công nghệ.Các nội dung về phòng chống thiên tai cũng có thể tích hợp vào các phongtrào của ngành giáo dục như: xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực;tuyên truyền phổ cập bơi trong các cơ sở giáo dục phổ thông; công tác xây dựngtrường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích; công tác tuyên truyền,giáo dục và phổ biến pháp luật
Trang 35Phần thứ hai TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG VÀ GIẢM NHẸ THIÊN TAI TRONG MÔN CÔNG NGHỆ CẤP THPT
Kiến thức về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai tương đối lớn Học sinhbiết càng nhiều càng tốt nhưng là học sinh phổ thông nên trang bị cho các emnhững kiến thức cơ bản nhất để hình thành trong tư duy của các em những hiểubiết ban đầu; những kĩ năng cần thiết để phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai; có
ý thức trong việc chung tay cùng cộng đồng phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai
Nội dung giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai cho học sinh phổthông:
- Khái niệm về thiên tai;
- Những dạng thiên tai xuất hiện chủ yếu ở Việt Nam;
- Nguyên nhân xuất hiện thiên tai;
- Ảnh hưởng của thiên tai đến đời sống, sản xuất;
- Biện pháp góp phần phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai;
- Những kĩ năng cần thiết của con người khi đối mặt với thiên tai
Biện pháp giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai cho học sinh phổthông:
- Giáo dục thông qua tuyên truyền: Đây là hình thức giáo dục dễ dànghướng tới số đông bằng băng rôn, khẩu hiệu, truyện tranh, truyền hình… Từviệc hiểu mang máng về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến việc coi nó làviệc cần thiết, nên làm đối với mỗi học sinh Để thực hiện được biện pháp giáo
Trang 36dục này cần nhiều kinh phí, thời gian để biến hoạt động phòng, chống thiên taitrở thành thói quen, phản xạ tự nhiên của mỗi học sinh.
- Giáo dục thông qua lớp tập huấn: Mỗi học kì nhà trường có thể mởnhững lớp tập huấn cho học sinh giúp các em hiểu được mức độ ảnh hưởng củathiên tai; học những kĩ năng cần thiết phòng, chống thiên tai Mỗi lớp tập huấnchỉ có thể hướng dẫn cho một số nhỏ học sinh và bị hạn chế bởi thời gian (họcvào thời gian nào là phù hợp với nhiều đối tượng học sinh trong một lớp) Tuynhiên, lớp tập huấn sẽ cung cấp kiến thức, hình thành kĩ năng đạt hiệu quả cao,những học sinh được trang bị kiến thức, kĩ năng thành thạo sẽ là những nhân tốtích cực trong việc hướng dẫn những học sinh khác
- Giáo dục thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp: Nhà trường phổthông hiện nay rất chú trọng đến giáo dục thông qua các hoạt động ngoài giờ lênlớp góp phần hình thành kĩ năng sống cho học sinh như tham quan học tập,thành lập các câu lạc bộ, giáo dục từ giờ sinh hoạt lớp, giáo dục toàn trường tạigiờ chào cờ, ngoại khóa toàn trường…hoạt đông ngoài giờ lên lớp thoải mái thờigian, dù bị bắt buộc hay không bắt buộc cũng sẽ thu hút được một số học sinhcùng đam mê để sinh hoạt chủ đề mà các thành viên cảm thấy cần thiết Tronghoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp các thành viên tham gia được tự khám phá,trải nghiệm nhiều hơn nên hình thành kĩ năng cũng nhanh hơn
- Giáo dục thông qua tích hợp nội dung phòng, chống và giảm nhẹ thiêntai trong dạy học bộ môn: Lựa chọn nội dung phòng, chống và giảm nhẹ thiêntai phù hợp với nội dung môn học để đưa vào dạy học là phù hợp do số lượngcác môn học ở trường phổ thông nhiều Nếu đưa nội dung phòng, chống và giảmnhẹ thiên tai là một môn học bắt buộc sẽ gây áp lực lớn đối với học sinh Tíchhợp nội dung phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai vào dạy học bộ môn học sinhkhông chỉ biết được kiến thức môn học mà còn được mở rộng kiến thức phòng,chống và giảm nhẹ thiên tai, nôi dung giảng dạy của giáo viên cũng trở nênphong phú hơn, sinh động hơn
Mỗi biện pháp giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai cho học sinhphổ thông đều có những ưu và nhược điểm riêng và được ứng dụng cho từng đốitượng, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể Trong phạm vi tài liệu này chỉ đề cập đếnbiện pháp tích hợp nội dung phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong dạy họcmôn Công nghệ ở trường phổ thông
II Giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong dạy học bộ môn Công nghệ ở trường THPT
1 Mục tiêu
1.1 Kiến thức
- Biết được mức độ ảnh hưởng của thiên tai đến đời sống, sản xuất côngnghiệp và nông, lâm, ngư nghiệp; một số nguyên nhân gây thiên tai và biện phápkhắc phục
Trang 37- Biết được phương pháp gia công hợp lí góp phần tiết kiệm nguyên liệu,bảo vệ môi trường.
- Biết được khái niệm, cơ sở khoa học và một số quy trình kỹ thuật trongsản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và bảo quản chế biến nông, lâm thủy sản gópphần phòng, chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai, bảo vệ môi trường
- Biết tìm kiếm, sử dụng nguồn năng lượng xanh, sạch, đảm bảo chấtlượng; nguồn vật liệu tái chế, vật liệu mới, năng lượng mới thân thiện với môitrường; Xây dựng không gian xanh
- Biết sử dụng hợp lí tài nguyên, năng lượng hiện có
1.2 Kĩ năng
- Nhận biết được một số loại thiên tai cơ bản
- Lựa chọn vật liệu, phương pháp gia công hợp lí góp phần tiết kiệm nhiênliệu, bảo vệ môi trường
- Có kỹ năng, phương pháp hành động phù hợp, kịp thời để chủ độngphòng, chống và giảm nhẹ thiên tai gây ra cho bản thân, gia đình và cộng đồngtrong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp nói riêng và các hoạt động khác nói chung
1.3 Thái độ
- Có ý thức chấp hành quy định về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai
- Tích cực tham gia bảo vệ môi trường sống, sử dụng tiết kiệm, hợp lí cácnguồn tài nguyên hiện có
- Có tinh thần, thái độ hợp tác, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm trong hoạtđộng phòng, chống và giảm nhẹ đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản
do thiên tai gây ra
2 Khả năng đưa giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai vào dạy học môn Công nghệ ở trường Trung học phổ thông
Môn Công nghệ ở trường THPT bao gồm các lĩnh vực: Nông nghiệp,công nghiệp và kinh doanh
Lĩnh vực nông nghiệp được trình bày trong môn Công nghệ 10 gồm các nội dung cơ bản, đại cương về nông, lâm, ngư nghiệp và nội dung cơ bản, đại cương về tạo lập doanh nghiệp Nội dung phần Nông, lâm, ngư nghiệp trình bày những kiến thức cơ bản, phổ thông, hiện đại, phù hợp với thực tiễn về những nguyên lý kỹ thuật trong trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản và bảo quản, chế biến nông lâm thủy sản; các quy trình công nghệ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và bảo quản chế biến nông, lâm, thủy sản Đồng thời, học sinh được thực hiện một số thao tác kỹ thuật cơ bản, cần thiết trong quy trình công nghệ sản xuất cây trồng, vật nuôi, thủy sản và bảo quản chế biến nông, lâm, thủy sản Nội dung phần Tạo lập doanh nghiệp trình bày những kiến thức, kỹ năng cơ bản
về kinh doanh và quản trị các hoạt động kinh doanh của hộ gia đình và doanh
Trang 38nghiệp nhỏ Những kiến thức, kỹ năng trên làm cơ sở giúp học sinh áp dụng vào học nghề nông, lâm, thủy sản và áp dụng trong cuộc sống, góp phần định hướng nghề nghiệp sau này Cấu trúc nội dung môn Công nghệ 10 được trình bày như sau:
Hình 1 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương trình môn Công nghệ 10
Thực tiễn cho thấy, hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp chịu ảnhhưởng rất lớn bởi tác động của thời tiết, khí hậu, đặc biệt là thiên tai Hoạt độngsản xuất nông, lâm, ngư nghiệp luôn gắn liền với hoạt động phòng, chống vàgiảm nhẹ rủi ro thiên tai, dịch bệnh Vì vậy, để có năng suất cao, phẩm chất tốtcho các giống cây trồng, vật nuôi, nâng cao hiệu quả sản xuất nông, lâm, ngưnghiệp cần phải quan tâm đến các yếu tố thời tiết khí hậu, đặc biệt là có biệnpháp phòng chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai kịp thời Nội dung chương trìnhmôn Công nghệ 10 có điều kiện thuận lợi để thực hiện tích hợp giáo dục phòng,chống và giảm nhẹ thiên tai Qua việc tích hợp đó, giúp học sinh vừa nâng caokiến thức, kỹ năng môn Công nghệ vừa học tập được các kiến thức, kỹ năng ứngphó, giảm nhẹ thiên tai; đồng thời có hành động kịp thời và thái độ quan tâm trợ
Trang 39giúp gia đình, cộng đồng ứng phó với các tình huống thiên tai xảy ra ở địaphương.
- Lĩnh vực công nghiệp được dạy ở lớp 11 và lớp 12 ở trường THPT vớinăm nội dung chính: Vẽ kĩ thuật, chế tạo cơ khí, động cơ đốt trong , kĩ thuậtđiện tử và kĩ thuật điện được giới hạn trong một số lĩnh vực:
- Một số khái niệm cơ bản về kĩ thuật nói chung, về bản vẽ kĩ thuật, dạngvật liệu chủ yếu trong chế tạo cơ khí, về nguồn động lực…
- Một số phương tiện kĩ thuật, sản phẩm kĩ thuật thông dụng như động cơđốt trong, thiết bị sử dụng động cơ làm nguồn động lực, thiết bị gia công cơ khí,thiết bị điện và thiết bị điện tử
- Một số quá trình công nghệ như sản xuất cơ khí, bảo dưỡng thiết bị sảnxuất, truyền tải và phân phối điện năng, lắp ráp thiết bị…
N i dung d y h c c th c a ch ộ mặn 4 phần nghìn) từ biển xâm ọa thiên nhiên ở Việt Nam ụ thể của chương trình môn Công nghệ 11, Công nghệ 12 được ểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ủa các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ư ng trình môn Công ngh 11, Công ngh 12 ện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam đượng hơi nước đóng băng thành các c
th hi n trên s ểm họa thiên nhiên ở Việt Nam ện của các hiểm họa thiên nhiên ở Việt Nam đồng và ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển của các cây hình 2 v hình 3 ành và đặc điểm
Hình 2: Sơ đồ nội dung chương trình môn Công nghệ 11
Trang 40Hình 3: Sơ đồ nội dung chương trình môn Công nghệ 12
Do có những nội dung tương đồng nên khi tích hợp phòng, chống và giảmnhẹ thiên tai vào dạy học Công nghệ 11, Công nghệ 12 sẽ làm nổi bật những nộidung sau:
- Nguy cơ cạn kiệt tài nguyên khi khai thác để làm ra các vật liệu cơ khí
- Sử dụng vật liệu mới, vật liệu có khả năng tái chế trong chế tạo sản phẩm
cơ khí, xây dựng công trình (đặc biệt nhà) góp phần bảo vệ môi trường và nguồntài nguyên khoáng sản
- Một số máy móc, thiết bị mới thân thiện với môi trường, hỗ trợ phòng,chống và giảm nhẹ thiên tai
- Xu hướng thiết kế nhà theo phong cách mở hòa hợp với thiên nhiên, tậndụng ánh sáng tự nhiên, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường và có khảnăng phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai
- Biện pháp gia cố nhà cửa khi có thiên tai
- Lựa chọn phương pháp gia công tối ưu trong việc giảm ô nhiễm môitrường góp phần phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai
- Vai trò của ứng dụng tự động hóa trong chế tạo cơ khí gópphần phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai
- Các biện pháp đảm bảo phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong sảnxuất cơ khí
- Động cơ sử dụng nguồn nhiên liệu xanh giảm ô nhiễm môi trường
- Cải tiến trên ô tô, xe máy, tàu thủy, máy nông nghiệp, máy phát điệngóp phần giảm thải ô nhiễm
- Vai trò của ngành kĩ thuật điện tử trong phòng, chống vàgiảm nhẹ thiên tai
- Triển vọng của kĩ thuật điện tử trong phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai
- Mức độ ảnh hưởng của thiên tai đối với hệ thống điện quốc gia, xu hướng
sử dụng năng lượng xanh hòa lưới điện quốc gia
- Ý thức bảo vệ lưới điện quốc gia, bảo vệ mạng điện sản xuất
- Chú trọng thiết kế và sử dụng mạng điện an toàn, vững chắc có khả năngchống lại thiên tai
3 Nguyên tắc tích hợp giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai trong môn Công nghệ
Đưa giáo dục phòng, chống và giảm nhẹ thiên tại trong dạy học môn Côngnghệ cần tuân theo những nguyên tắc sau: