1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU MÔN SINH HỌC CẤP THPT

110 215 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 674 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là những biến đổi trong môi trường vật lí hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lí hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người (Công ước chung của Liên hợp quốc về BĐKH tại Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường tại Rio de Janeiro Braxin năm 1992). Nói một cách khác BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài, thường là vài thập kỉ hoặc dài hơn.

Trang 1

NGÔ VĂN HƯNG ĐINH THỊ KIM NHUNG – HOÀNG THỊ KIM HUYỀN

TÀI LIỆU GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

MÔN SINH HỌC - CẤP THPT

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

NGÔ VĂN HƯNG ĐINH THỊ KIM NHUNG – HOÀNG THỊ KIM HUYỀN

TÀI LIỆU GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

MÔN SINH HỌC CẤP THPT

HÀ NỘI – 2012

Trang 3

Lời giới thiệu

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Phần I BĐKH VÀ GIÁO DỤC BĐKHTRONG TRƯỜNG THPT 5

II Giáo dục biến đổi khí hậu trong trường THPT 15

1 Vai trò, nhiệm vụ của giáo dục phổ thông đối với những thách

thức của biến đổi khí hậu

15

2 Mục tiêu của giáo dục ứng phó với BĐKH trong trường THPT 16

3 Định hướng, yêu cầu của giáo dục ứng phó với BĐKH trong

trường THPT

17

4 Tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH trong trường THPT 18

4.3 Hình thức tổ chức giáo dục tích hợp 29

Phần II TÍCH HỢP GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BĐKH 31

TRONG MÔN SINH HỌC CẤP THPT

1 Khả năng tích hợp GD ứng phó với BĐKH vào môn Sinh học 31

2 Giới thiệu địa chỉ tích hợp GD ứng phó với BĐKH vào môn

Sinh học

33

3 Gợi ý về tổ chức dạy học tích hợp nội dung giáo dục ứng phó

với BĐKH vào môn Sinh học

61

Phần III GIỚI THIỆU MỘT SỐ GIÁO ÁN VÀ CÂU HỎI BÀI TẬP

TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BĐKH

69

1 Giới thiệu một số giáo án dạy học tích hợp nội dung GD ứng phó với

BKH vào môn Sinh học

69

2 Giới thiệu một số câu hỏi và bài tập tích hợp nội dung GD ứng

phó với BĐKH vào môn Sinh học

105

Phụ lục

Trang 5

Phần I BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ GIÁO DỤC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.2 Đặc điểm của biến đổi khí hậu toàn cầu

- Diễn ra chậm, từ từ, khó phát hiện, khó đảo ngược;

- Diễn ra trên phạm vi toàn cầu, có ảnh hưởng tới tất cả các lĩnhvực có liên quan đến sự sống và hoạt động của con người;

- Cường độ ngày một tăng và hậu quả khó lường trước;

- Là nguy cơ lớn nhất của con người phải đối mặt với tự nhiêntrong lịch sử phát triển của mình

2 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu

2.1 Nguyên nhân của BĐKH trong thời kì địa chất

Những nguyên nhân cơ bản của BĐKH trong thời kì địa chất xảy racách đây hàng trăm triệu năm giả thuyết là do sự biến động của các nhân tốliên quan đến quỹ đạo chuyển động của trái đất, độ nghiêng của trục trái đấttrên mặt phẳng quỹ đạo trái đất quay xung quanh mặt trời (mặt phẳnghoàng đạo), dẫn đến sự thay đổi lượng bức xạ mặt trời đi tới trái đất Sựthay đổi cơ bản của hằng số mặt trời và hoạt động của mặt trời trong cácthời kì địa chất, sự thay đổi khối lượng vật chất trong quá trình trái đất

Trang 6

chuyển động trong vũ trụ giữa các vì sao do sự hấp thụ khác nhau nănglượng bức xạ mặt trời.

BĐKH trong thời kì địa chất còn liên quan đến các yếu tố địa chất vàkhí quyển trái đất Đó là sự thay đổi của bề mặt trái đất như sự phân bố biển

và lục địa cùng độ lớn của chúng, quá trình tạo sơn và sự nâng lên của cácmảng lục địa lớn, phân bố các dòng hải lưu và thay đổi độ mặn nước biểncủa các đại dương, hoạt động của núi lửa, hàm lượng khí CO2 tự nhiêntrong khí quyển và lượng mây, …

Tóm lại, BĐKH trong thời kì địa chất có liên quan đến các nhân tố tựnhiên ngoài trái đất và những nhân tố trong nội bộ trái đất (địa chất)

2.2 Nguyên nhân của BĐKH hiện tại

BĐKH có thể do hai nguyên nhân: do những quá trình tự nhiên và doảnh hưởng của con người

Trong khuôn khổ của tài liệu này, chúng ta không đi sâu phân tíchảnh hưởng của các quá trình tự nhiên, mà chủ yếu đề cập đến tác động củacon người đến biến đổi khí hậu

Cho đến nay các nhà khoa học đều khẳng định rằng hoạt động củacon người đã và đang làm BĐKH toàn cầu Nguyên nhân chủ yếu của sựbiến đổi đó là sự tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đếntăng hiệu ứng nhà kính Đặc biệt quan trọng là khí điôxit cacbon (CO2)được tạo thành do sử dụng năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch (như dầu mỏ,than đá, khí tự nhiên ), phá rừng và chuyển đổi sử dụng đất

Theo Báo cáo năm 2007 của Ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC International Panel on Climate Change), hàm lượng khí CO2 trong khíquyển năm 2005 đã vượt xa mức tự nhiên trong khoảng 650.000 năm qua(180 - 280ppm11) và đạt 379ppm (tăng ~ 35%) Lượng phát thải khí CO2 từ

-sử dụng nhiên liệu hóa thạch đã tăng trung bình từ 6,4 tỉ tấn cacbon (23,5 tỉtấn CO2) mỗi năm trong những năm 1990 đến 7,2 tỉ tấn cacbon (45,9 tỉ tấn

CO2) mỗi năm trong thời kì 2000 - 2005 Lượng phát thải khí CO2 từ việcthay đổi sử dụng đất ước tính bằng 1,6 tỉ tấn cacbon (5,9 tỉ tấn CO2) trongnhững năm 1990

Nhu cầu về năng lượng của nhân loại ngày càng nhiều, trong đó nănglượng hóa thạch chiếm phần lớn Mặc dù năng lượng hạt nhân hoặc một số

Trang 7

dạng năng lượng sạch khác có xu hướng tăng lên nhưng vẫn chỉ chiếm mộtphần nhỏ so với nhu cầu năng lượng nói chung Sử dụng nhiều năng lượnghóa thạch là nguyên nhân làm tăng đáng kể nồng độ khí CO2 trong khíquyển, trong đó các nước phát triển đóng góp phần lớn.

Trong việc đánh giá hiệu ứng của các khí nhà kính, có hai vấn đề rấtđáng lưu ý là:

- Các khí nhà kính tồn tại lâu trong khí quyển, từ vài tháng đếnvài trăm năm, được xáo trộn nhanh chóng và làm thay đổi thànhphần khí quyển toàn cầu nói chung

- Do sự xáo trộn như vậy, phát thải khí nhà kính từ bất kì nguồnnào, ở đâu cũng đều ảnh hưởng đến mọi nơi trên thế giới

Như vậy, phát thải khí nhà kính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đếnBĐKH hiện nay, một sự thay đổi môi trường lớn lao nhất mà con ngườiphải chịu đựng Đây cũng là lí do vì sao BĐKH là một vấn đề mang tínhtoàn cầu

Tăng nồng độ khí nhà kính dẫn đến tăng hiệu ứng nhà kính của khíquyển và kết quả là tăng nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất Trên phạm vikhu vực, sự phát ra những chất khí và những phần tử gây ô nhiễm khác dẫnđến những tác động lớn, mặc dù một số trong chúng có thể có tác độngngược lại Thí dụ, chất muội bồ hóng (sooty aerosols) có khuynh hướng làmkhí hậu khu vực ấm lên, trong khi chất sunfat làm lạnh đi bởi phản xạ ánhsáng mặt trời nhiều hơn Trong khi ta có cảm giác chịu tác động trực tiếp ởcác vùng công nghiệp, các chất sol khí này còn có thể tác động gián tiếp lênnhiệt độ trung bình toàn cầu

Hàm lượng khí mêtan (CH4) trong khí quyển đã tăng từ 715ppb2

trong thời kì tiền công nghiệp lên 1732ppb trong những năm đầu thập kỉ 90

và đạt 1774ppb năm 2005 (tăng ~148%) Hàm lượng khí ôxit nitơ (N2O)trong khí quyển đã tăng từ 270ppb trong thời kì tiền công nghiệp lên319ppb vào năm 2005 (tăng khoảng 18%) Các khí mêtan và ôxit nitơ tăngchủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, đốt nhiên liệu hóa thạch, chôn lấp rác thải,

Trang 8

chế tạo các thiết bị điện: tủ lạnh, hệ thống điều hòa nóng lạnh và các ứngdụng khác Lượng CO2 còn do hoạt động trong nông nghiệp và khai thácrừng (kể cả cháy rừng), khai hoang và công nghiệp.

Tóm lại, tiêu thụ năng lượng do đốt các nhiên liệu hóa thạch đónggóp khoảng một nửa (46%) vào tiềm năng nóng lên toàn cầu Phá rừngnhiệt đới đóng góp khoảng 18% và hoạt động nông nghiệp tạo ra khoảng9% tổng số các khí thải gây ra lượng bức xạ cưỡng bức làm nóng lên toàncầu Sản phẩm hoá học (CFC, Halon ): 24% và các nguồn khác như rácchôn dưới đất, nhà máy xi măng, : 3%

Lượng bức xạ tăng thêm (bức xạ cưỡng bức) do sự gia tăng của hàmlượng các khí nhà kính trong khí quyển do hoạt động của con người trongthời kì 1750 - 2000 được xác định là 2,43w/m2, trong đó từ khí CO2 là1,46w/m2, từ khí CH4 là 0,48w/m2, từ các khí Halocacbon là 0,34w/m2 và từkhí N2O là 0,15w/m2

Ngoài nguyên nhân do hoạt động của con người nói trên, BĐKH hiệnnay còn có các nguyên nhân tự nhiên, trong đó có hoạt động của núi lửaphun các tro bụi lên tới tầng bình lưu của khí quyển, hạn chế lượng bức xạmặt trời đi tới mặt đất, làm cho mặt đất lạnh đi (bức xạ cưỡng bức âm)thường kéo dài khoảng vài năm Ngoài ra, sự biến động của bức xạ mặt trờitrong thời kì 1750 đến nay được đánh giá là tạo ra lượng bức xạ cưỡng bứcdương với trị số là 0,30w/m2, chủ yếu xảy ra vào nửa đầu thế kỉ 20

Như vậy, BĐKH hiện nay có cả nguyên nhân tự nhiên và nguyênnhân con người, song sự nóng lên toàn cầu được khẳng định là do hoạtđộng của con người làm tăng hàm lượng các khí nhà kính trong khí quyểngây ra một lượng bức xạ cưỡng bức dương, trong khi hậu quả tổng hợp từcác nguyên nhân tự nhiên nói trên đã cho một lượng “bức xạ cưỡng bứcâm”, tức là làm trái đất lạnh đi

3 Những biểu hiện của biến đổi khí hậu

- Nhiệt độ không khí của Trái Đất đang có xu hướng nóng dần lên: từnăm 1850 đến nay nhiệt độ trung bình đã tăng 0,74oC, trong đó nhiệt độ tại

2 cực của Trái Đất tăng gấp 2 lần so với số liệu trung bình toàn cầu; và theo

dự báo nhiệt độ trung bình của Trái Đất có thể tăng lên 1,2 – 2,5oC tới năm

2100, đạt mức chưa từng có trong lịch sử 10.000 năm qua

Trang 9

Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm (1957 - 2007) nhiệt độ không khítrung bình tăng khoảng 0,5 - 0,7oC, sẽ tăng từ 1 – 2oC vào năm 2020 và từ1,5 – 2oC vào năm 2070.

- Có sự dâng cao của mực nước biển gây ngập úng và xâm nhập mặn

ở các vùng thấp ven biển và xóa sổ nhiều đảo trên biển và đại dương

Trong thế kỉ XX, trung bình mực nước biển ở Châu Á dâng cao2,44mm/năm, chỉ riêng thập kỉ vừa qua là 3,1mm/năm Dự báo trong thế kỉ

21, mực nước biển dâng cao từ 2,8 - 4,3mm/năm

Ở Việt Nam, tốc độ dâng lên của mực nước biển khoảng 3mm/năm(giai đoạn 1993 - 2008) tương đương với tốc độ dâng lên của đại dương thếgiới Dự báo đến giữa thế kỉ 21 mực nước biển có thể dâng thêm 30cm vàđến cuối thế kỉ 21 mực nước biển có thể dâng lên 75cm so với thời kì 1980

4 Hậu quả của biến đổi khí hậu

4.1 Phạm vi toàn cầu

Biến đổi khí hậu là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhânloại Biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống vàmôi trường trên phạm vi toàn thế giới Nhiệt độ tăng, mực nước biển dânggây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gâyrủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tươnglai Vấn đề biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắcquá trình phát triển và an ninh toàn cầu như năng lượng, nước, lương thực,

xã hội, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thương mại

Từ khoảng giữa thế kỉ XIX, nhờ đo đạc chính xác bằng các dụng cụ,chúng ta mới có được số liệu định lượng chi tiết về BĐKH trong hơn mộtthế kỉ qua Những số liệu có được cho thấy xu thế chung là từ cuối thế kỉXIX đến nay, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng lên đáng kể Kết quả đođạc và nghiên cứu hiện nay cho thấy nhiệt độ không khí trung bình toàn cầutrong thế kỉ XX đã tăng lên 0,74oC (± 0,2oC); trên đất liền, nhiệt độ tăng

Trang 10

nhiều hơn trên biển và thập kỉ 1990 là thập kỉ nóng nhất trong thiên niên kỉvừa qua (IPCC, 2007).

Nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất đã tăng lên rõ rệt trong thời kì

1920 - 1940, giảm dần trong khoảng giữa những năm 1960 và lại tăng lên

từ sau năm 1975 Bằng cách đo đạc các thớ cây, diện tích các vùng băng,người ta nhận thấy đây là thời kì nhiệt độ cao nhất trong vòng 600 năm trởlại đây

Các nhà khoa học đều nhất trí rằng, tình trạng nóng nhất xảy ra trong

50 năm cuối của thế kỉ XX là do hậu quả hoạt động của con người

Sang những năm đầu thế kỉ XXI, nhiệt độ trái đất tiếp tục tăng Cóthể lấy năm 2003 làm minh chứng: Nhiệt độ trung bình toàn cầu năm 2003tăng 0,46oC so với trung bình thời kì 1971 - 2000, là năm ấm thứ ba kể từnăm 1861 Trong đó, chuẩn sai nhiệt độ bán cầu Bắc là + 0,59oC và bán cầuNam: +0,32oC Năm ấm thứ hai là 2002 với chuẩn sai nhiệt độ là + 0,48oC

Kể từ năm 1850 đến 2006, trong số 12 năm nóng nhất, thì đã có 11 nămnằm trong 12 năm gần đây (1995 - 2006)

Hiện tượng thời tiết ấm lên ở Alaska trong những năm gần đây cũng

là một minh chứng rõ rệt Tại đây, nhiệt độ đã tăng 1,5oC so với trung bìnhnhiều năm, lớp băng vĩnh cửu giảm 40% và hàng năm lớp băng thường dày1,2m chỉ còn khoảng 0,3m (mỏng hơn 4 lần so với trung bình nhiều năm)

Hiện tượng mưa cũng có những biến động đáng kể, tăng 5 - 10%trong thế kỉ XX trên lục địa bán cầu Bắc và giảm ở một số nơi, tuy xu thếkhông rõ rệt như nhiệt độ Hiện tượng mưa lớn tăng lên ở các vĩ độ trungbình và cao của bán cầu Bắc Tương ứng với sự tăng của nhiệt độ toàn cầu,mực nước trung bình của đại dương cũng tăng lên 10 - 25cm (trung bình 1-2mm/năm trong thế kỉ XX) do băng tan và giãn nở nhiệt đại dương Xu thếtăng của mực nước như vậy là lớn, đặc biệt là trong vòng 15 năm cuốicùng Sự tan băng ở các vùng núi cao, giảm tuyết ở bán cầu Bắc và tăngnhiệt độ đã làm cho mực nước biển dâng cao Từ cuối những năm 1960,phạm vi lớp phủ tuyết giảm khoảng 10% Độ dày của lớp băng biển ở BắcCực trong thời kì từ cuối mùa hạ đến đầu mùa thu giảm xuống khoảng 40%trong vài thập kỉ gần đây Cùng với xu thế tăng nhiệt độ toàn cầu là sự phân

bố các dị thường của nhiệt độ Trên các đại lục ở bán cầu Bắc, trong những

Trang 11

năm gần đây, người ta đã phát hiện thấy mối quan hệ giữa các dị thường khíhậu với hiện tượng ENSO.

Thiên tai (bão, lũ, lụt, hạn hán, lốc, ) và các hiện tượng thời tiết cựcđoan (nắng nóng, rét đậm, rét hại, mưa lớn, ) gia tăng

Theo báo cáo của Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu, nhiệt

độ trung bình toàn cầu và mực nước biển tăng nhanh trong vòng 100 nămqua, đặc biệt trong khoảng 25 năm gần đây

Các nghiên cứu đã dự báo một số hậu quả xảy ra do biến đổi khí hậu:

- Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến lượng mưa, nhiệt độ vànước phục vụ cho nông nghiệp Đến năm 2080, thế giới có thêm

600 triệu người thiếu lương thực

- Đến năm 2080, sẽ có khoảng 1,8 tỉ người sống trong tình trạngkhan hiếm nước, đặc biệt là Bắc Trung Quốc, Trung Đông, Nam

Mỹ và phía Bắc Nam Á

- Khoảng 330 triệu người sẽ mất chỗ ở tạm thời hoặc vĩnh viễn

do lũ lụt nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm 3 - 4oC

- Sự suy giảm đa dạng sinh vật sẽ tăng lên nếu nhiệt độ ấm lênkhoảng 2oC

- Các căn bệnh chết người sẽ lan rộng, có thể có thêm 400 triệungười bị bệnh sốt rét

4.2 Khu vực Châu Á và Đông Nam Á

Dân số Châu Á chiếm trên 60% dân số thế giới, tài nguyên thiênnhiên đã chịu nhiều áp lực và khả năng thích ứng đối với biến đổi khí hậucủa phần lớn lĩnh vực ở Châu Á là thấp Nền kinh tế - xã hội ở nhiều nướcphụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên như nước, rừng, thảo nguyên, đồng cỏchăn thả và thủy sản Mức độ biến đổi của các yếu tố khí hậu sẽ khác nhaunhiều giữa các vùng và các quốc gia

Đông Nam Á là khu vực bao gồm các quốc đảo và nhiều quốc gianằm ở những vùng bờ biển thấp hoặc những vùng ngay cửa sông, là khuvực đặc biệt dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng

Sự tăng lên của mực nước biển là tiêu điểm chính trong nghiên cứucủa các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, nói chung và các nướcĐông Nam Á, nói riêng Tác động của mực nước biển dâng trung bình trên

Trang 12

toàn cầu đã được dự tính tại các nước Philippin, Việt Nam, Sri Lanka,Malayxia, Bănglađet và Ấn Độ, Chúng ta có thể đề cập đến một sốnước thuộc khu vực Đông Nam Á, như những thí dụ làm minh chứng chotác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt là mực nước biển dâng vào năm2070.

Tại Inđônêxia, vào năm 2070 mực nước biển sẽ dâng cao hơn 1 m

trên phần lớn lãnh thổ Jakarta và 3,3 triệu dân ở những vùng đất thấp củaInđônêxia sẽ phải dời chỗ ở do lũ và ngập lụt

Tại Philippin, khi nước biển dâng cao 90 cm, những hòn đảo nhỏ,

một số điểm thuộc hệ thống tàu điện ngầm Manila và Cebu, cũng như một

số quận, huyện ở Manila và vùng bờ biển vịnh Manila, sẽ bị nhấn chìmtrong nước biển

Tại Malayxia, các nghiên cứu đã khẳng định, thậm chí mực nước

biển chỉ dâng cao ở mức khiêm tốn cũng đã làm tồi tệ thêm tình trạng xói lởvốn đã trầm trọng, đang đe dọa những vùng duyên hải và các bãi biển Nếumực nước biển dâng cao 100 cm, có thể sẽ nhấn chìm phần lớn những rừngđước rất giầu có của đất nước này

Tại Việt Nam, mực nước biển dâng cao sẽ làm ngập phần lớn khu vực

đông dân cư thuộc các vùng cửa sông châu thổ sông Hồng và sông CửuLong vào năm 2070, đe dọa nghiêm trọng sản xuất lúa và an ninh lượngthực Nếu mực nước biển dâng cao 90 cm vào năm 2070, theo kịch bản củaCSIRO (Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghiệp liên bang - một cơquan khoa học quốc gia của Australia), thì khoảng 500.000 ha ở châu thổsông Hồng, 1.500.000 - 2.000.000 ha ở đồng bằng sông Cửu Long vàkhoảng 400.000 ha rừng đước và đầm lầy ở phía Nam bị ngập Nước mặnxâm nhập và tác động tới khoảng 2.200.000 - 2.500.000 ha, sẽ làm giảmkhả năng thoát nước, làm ngập lụt 400 km chiều dài dọc theo sông MêKông và 200 km chiều dài dọc theo sông Hồng Nhiều thành phố, thị xã,như cảng Hải Phòng, cảng Vũng Tầu và nhiều nơi thuộc tỉnh Bến Tre bịngập

Như vậy, trong những tác động tiềm tàng rất lớn của biến đổi khí hậu

ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, sự dâng cao mực nước biển liênquan đến ngập lụt, xói lở bờ biển, xâm nhập mặn sâu vào đất liền và tăng

Trang 13

Nhìn chung, khuynh hướng tăng mực nước biển toàn cầu có thể đượcnhìn nhận đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, với các mức độkhác nhau, có thể lớn hơn hoặc thấp hơn mức biến đổi trung bình toàn cầu

do các biến động tự nhiên hoặc hoạt động của con người, như khai thácnước ngầm, dầu và khí, sự biến đổi của dòng trầm tích tự nhiên

4.3 Việt Nam

Ở Việt Nam, trong vòng 50 năm qua nhiệt độ trung bình đã tăngkhoảng 0,5 - 0,70C, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm Hiện tượng ElNino, La Nina ngày càng tác động mạnh mẽ Biến đổi khí hậu thực sự đãlàm cho những thiên tai, đặc biệt là bão, lũ và hạn hán ngày càng khốc liệt

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởngnặng nề nhất của biến đổi khí hậu, trong đó đồng bằng sông Cửu Long làmột trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biểndâng, bên cạnh đồng bằng sông Nile (Ai Cập) và đồng bằng sông Ganges(Bangladesh) Theo các kịch bản biến đổi khí hậu, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt

độ trung bình năm ở nước ta tăng khoảng 2 - 30C, tổng lượng mưa năm vàlượng mưa mùa mưa tăng, trong khi đó lượng mưa mùa khô lại giảm, mựcnước biển có thể dâng khoảng từ 75 cm đến 1 m so với thời kỳ 1980 - 1999.Nếu mực nước biển dâng cao 1 m, sẽ có khoảng 40% diện tích đồng bằngsông Cửu Long, 11% diện tích đồng bằng sông Hồng và 3% diện tích củacác tỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập, trong đó, thành phố Hồ ChíMinh sẽ bị ngập trên 20% diện tích; khoảng 10 - 12% dân số nước ta bị ảnhhưởng trực tiếp và tổn thất khoảng 10% GDP Tác động của biến đổi khíhậu đối với nước ta là rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêuxóa đói giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sựphát triển bền vững của đất nước

Trong những năm qua, dưới tác động của biến đổi khí hậu, tần suất

và cường độ thiên tai ngày càng gia tăng, gây ra nhiều tổn thất to lớn vềngười, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội, tác động xấuđến môi trường Chỉ tính trong 10 năm gần đây (2001- 2010), các loại thiêntai như: Bão lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và cácthiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, đã làm chết vàmất tích hơn 9.500 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng1,5% GDP/năm

Trang 14

Biến đổi khí hậu đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực và pháttriển nông nghiệp: Thu hẹp diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt là một phầnđáng kể ở vùng đất thấp đồng bằng ven biển, đồng bằng sông Hồng, sôngCửu Long bị ngập mặn do nước biển dâng; tác động lớn đến sinh trưởngnăng suất cây trồng, thời vụ gieo trồng, làm tăng nguy cơ lây lan sâu bệnhhại cây trồng; thời gian thích nghi của cây trồng nhiệt đới mở rộng và củacây trồng á nhiệt đới thu hẹp lại; ảnh hưởng đến sinh sản, sinh trưởng, tăngkhả năng sinh bệnh, truyền dịch của gia súc, gia cầm.

Do tác động của biến đổi khí hậu, tài nguyên nước phải chịu thêmnguy cơ suy giảm do hạn hán ngày một tăng ở một số vùng, mùa, ảnhhưởng trực tiếp đến nông nghiệp, cung cấp nước ở nông thôn, thành thị vàsản xuất thủy điện Chế độ mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vàomùa mưa, và hạn hán vào mùa khô, tăng mâu thuẫn trong khai thác và sửdụng tài nguyên nước

Nhận thức rõ những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đến

sự phát triển bền vững của đất nước, Chính phủ Việt Nam đã sớm tham gia

và phê chuẩn Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu vàNghị định thư Kyoto, đồng thời chỉ đạo từng bước hoàn thiện các văn bảnpháp luật, tạo hành lang pháp lý cho công tác phòng chống và giảm nhẹthiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu Tháng 12 năm 2008, Chương trìnhmục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu đã được phê duyệt Đây làmột trong những nỗ lực quan trọng của Chính phủ cùng với sự hỗ trợ củacộng đồng các nhà tài trợ quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu ở ViệtNam Với sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, ứng phó với biến đổi khíhậu ở nước ta đã đạt được một số thành công bước đầu được quốc tế ghinhận Để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững đấtnước, một chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu với tầm nhìn thế kỷ, làm

cơ sở cho các chiến lược, kế hoạch, quy hoạch là rất cần thiết đối với nước

ta trong bối cảnh hiện nay

Ngày 5/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốcgia về BĐKH kèm theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05 tháng 12 năm

2011 của Thủ tướng Chính phủ Trong đó Mục tiêu Chiến lược là:

• Đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồnnước, xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, an sinh xã hội, sức khỏe

Trang 15

cộng đồng, nâng cao đời sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trongbối cảnh biến đổi khí hậu;

• Nền kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh trở thành xu hướng chủđạo trong phát triển bền vững; giảm nhẹ phát thải khí nhà kính vàtăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộctrong phát triển kinh tế - xã hội;

• Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực ứng phó với biến đổikhí hậu của các bên liên quan; phát triển tiềm lực khoa học và côngnghệ, chất lượng nguồn nhân lực; hoàn thiện thể chế, chính sách,phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính góp phần nâng caosức cạnh tranh của nền kinh tế và vị thế của Việt Nam; tận dụng các

cơ hội từ biến đổi khí hậu để phát triển kinh tế - xã hội; phát triển vànhân rộng lối sống, mẫu hình tiêu thụ thân thiện với hệ thống khí hậu;

• Góp phần tích cực với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với biến đổikhí hậu; tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế của Việt Nam đểứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu

Như vậy, BĐKH đang đe dọa ảnh hưởng xấu đến mục tiêu tăngtrưởng của đất nước và điều kiện sống của người dân Biến đổi khí hậu làkhông thể tránh khỏi và đòi hỏi Việt Nam có những hành động cụ thể vàứng phó với những hậu quả không tránh khỏi để đảm bảo phát triển bềnvững

II Giáo dục biến đổi khí hậu trong trường THPT

1 Vai trò, nhiệm vụ của giáo dục phổ thông đối với những thách thức của biến đổi khí hậu

BĐKH tác động ngày càng mạnh mẽ tới tự nhiên và đời sống xã hội

và đang gây ra những tổn thất rất nặng nề cho nhiều quốc gia trên thế giới.Trong những năm gần đây, Liên Hiệp Quốc (LHQ) đã liên tục có lời kêugọi và những hoạt động rất tích cực để liên kết cộng đồng quốc tế trongcuộc chiến chống lại BĐKH Chính phủ Việt Nam hiện nay đang triển khaithực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH một cáchtoàn diện trên phạm vi toàn quốc và sát cánh với cộng đồng quốc tế trongcuộc chiến này

Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng của Việt Nam đượcdùng làm cơ sở ban đầu để xây dựng các giải pháp ứng phó với BĐKH tại

Trang 16

Việt Nam Việc xây dựng kịch bản là nhằm đưa ra những thông tin cơ bản

về xu thế biến đổi khí hậu, nước biển dâng của Việt Nam trong tương lai.Theo Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu, kịch bản biến đổi khí hậu sẽđược sử dụng trong nghiên cứu những hậu quả của biến đổi khí hậu do conngười gây ra

Vai trò, nhiệm vụ của giáo dục phổ thông đối với những thách thứccủa biến đổi khí hậu là xây dựng kế hoạch hành động cho phù hợp, giáo dụctăng cường khả năng thích ứng của cộng đồng; ưu tiên thích ứng vớiBĐKH, nhưng cần tăng cường các nỗ lực làm giảm nhẹ tác nhân gâyBĐKH Các nội dung dạy học của THPT là giảm phát thải hiệu ứng nhàkính :

- Áp dụng công nghệ, sử dụng năng lượng hiệu quả, tiết kiệm

năng lượng;

- Tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo: điện mặt trời, điện gió;

- Trồng rừng và bảo vệ rừng;

- Cải tiến kỹ thuật tưới tiêu trong nông nghiệp

2 Mục tiêu của giáo dục ứng phó với BĐKH trong trường THPT

GD ứng phó với BĐKH ở trường học cho học sinh là quá trình hìnhthành và phát triển cho các em nhận thức và thói quen quan tâm đối với cácvấn đề BĐKH ở địa phương mình sinh sống, ở nước ta hiện nay cũng như ởcác nước trên khu vực và trên thế giới Thông qua đó, hình thành cho các

em thái độ, ý thức đúng đắn và các kĩ năng cần thiết để có thể có nhữnghành động hài hoà với môi trường trong đời sống, đồng thời cũng có thểhoạt động một cách độc lập hoặc phối hợp tìm ra giải pháp cho các vấn đềBĐKH hiện tại và ngăn chặn những vấn đề BĐKH có thể xảy ra trongtương lai

Giáo dục ứng phó với BĐKH được tích hợp vào nhiều môn học ởtrường THPT, trong đó có môn Sinh học Bộ môn Sinh học là một trongnhững bộ môn có khả năng đưa giáo dục biến đổi khí hậu vào một cáchthuận lợi nhất vì hầu hết các nội dung trong chương trình sinh học 10, 11,

12 đều có khả năng đề cập đến các nội dung biến đổi khí hậu (BĐKH) Cáckiến thức BĐKH trong môn Sinh học có thể phân biệt thành 2 nhóm:

Hình thành kiến thức về biến đổi khí hậu

Trang 17

- Khái niệm về BĐKH;

- Những biểu hiện của sự BĐKH;

- Nguyên nhân của biến đổi khí hậu;

- Tác động của BĐKH đối với tự nhiên và mọi mặt hoạt độngcủa con người;

- Chiến lược ứng phó với BĐKH nói chung và của các địaphương nói riêng

Hình thành thái độ, hành vi ứng phó biến đổi khí hậu:

- Có ý thức bảo vệ môi trường;

- Có ý thức sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên;

- Có tình cảm yêu quý quê hương, đất nước, yêu quí thiênnhiên và tôn trọng các di sản văn hóa;

- Có ý thức giảm nhẹ BĐKH và tích cực, chủ động đối phóvới những thách thức do BĐKH gây ra theo phương châm tạichỗ, dựa vào sức mình là chính

Tuy nhiên, khi soạn giáo án người giáo viên cần xem xét, nghiên cứu

và chọn lọc những nội dung giáo dục biến đổi khí hậu (GD BĐKH) phùhợp để đưa vào nội dung bài giảng dưới dạng lồng ghép toàn phần (nếutoàn bài có nội dung BĐKH), lồng ghép một phần (trong bài có một mục,một đoạn hay một vài câu có nội dung BĐKH), liên hệ (nếu kiến thức trongbài có một hoặc nhiều chỗ có khả năng liên hệ, bổ sung thêm kiến thứcBĐKH mà SGK chưa đề cập)

3 Định hướng, yêu cầu của giáo dục ứng phó với BĐKH trong trường THPT

Biến đổi khí hậu, nước biển dâng ngày càng trở nên rõ rệt và ViệtNam là một trong những nước chịu tác động mạnh nhất Vì vậy, khôngnhững khó đạt được các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỉ (MDG) vào năm

2015 mà các kết quả hiện tại cũng khó được duy trì và có khả năng bị phávỡ

Trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậucũng như trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 – 2015 đã

đề ra những định hướng phát triển lớn Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu để

Trang 18

đưa ra những giải pháp cụ thể đối phó với những trở ngại và thách thứctrong từng mục tiêu, lồng ghép những giải pháp đó trong các kế hoạch vàchương trình hành động.

Hình thành kiến thức môi trường

− Các nguyên lí sinh thái áp dụng cho môi trường: môi trường

và các nhân tố sinh thái, ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên cơthể sinh vật, quần thể và đặc trưng của quần thể, quần xã và đặctrưng của quần xã, hệ sinh thái và đặc trưng của các hệ sinh thái;

− Môi trường và con người;

− Tài nguyên và môi trường;

− Bảo vệ môi trường mà cốt lõi là bảo vệ cân bằng sinh thái

Hình thành thái độ, hành vi về môi trường

− Hình thành thái độ, hành vi bảo vệ môi trường;

− Hình thành thái độ, hành vi sử dụng hợp lí tài nguyên, môitrường;

− Hình thành thái độ, hành vi chống ô nhiễm môi trường

4 Tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH trong trường THPT

4.1 Quan niệm về giáo dục tích hợp

Quan điểm tiếp cận tích hợp cho phép xem xét các sự vật, hiện tượngtrong một cách nhìn tổng thể đang trở thành xu hướng tất yếu trong thời đạingày nay Trong giáo dục, có thể tiếp cận tích hợp theo nhiều kiểu khác

nhau, trong đó 2 kiểu tích hợp rất phổ biến là tích hợp kiến thức và tích hợp

dạy học Tích hợp kiến thức là sự liên kết, kết hợp, lồng ghép trí thức của

các khoa học khác nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất Tích hợpdạy học là quá trình dạy học trong đó có sự lồng ghép, liên hệ những trithức khoa học, những qui luật chung gần gũi với nhau, qua đó người họckhông chỉ lĩnh hội được tri thức khoa học của môn học chính mà cả tri thứccủa khoa học được tích hợp, từ đó mà hình thành cho người học cách nhìnkhái quát hơn đối với các khoa học có cùng đối tượng nghiên cứu, đồngthời có được phương pháp xem xét vấn đề một cách logic, biện chứng

Có hai dạng tích hợp các nội dung học tập như sau:

Trang 19

môn học (chẳng hạn các vấn đề năng lượng, bảo vệ môi trường, ).Dạng tích hợp này vẫn duy trì các môn học riêng rẽ, trong khi các ứngdụng chung được tích hợp vào các thời điểm thích hợp Đây là cáchtích hợp được vận dụng phổ biến hiện nay Các thời điểm thực hiện cóthể là: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ởcuối năm học hay cuối cấp học trong một bài học hoặc một bài tập tíchhợp; Phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau.

• Dạng tích hợp thứ hai : thường dẫn đến phải phối hợp quá trình

dạy học của các môn học Dạng tích hợp này nhằm hợp nhất hai haynhiều môn học thành một môn học duy nhất Điều này đòi hỏi phảinghiên cứu xây dựng chương trình và tài liệu học tập phù hợp, thườngphức tạp Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng

đề tài tích hợp Theo đó, người ta nhóm các nội dung có mục tiêu bổ

sung cho nhau thành đề tài tích hợp, trong khi các môn học vẫn giữnguyên những mục tiêu riêng; Phối hợp quá trình học tập những môn

học khác nhau bằng tình huống tích hợp, theo đó các môn học được

tích hợp xung quanh những mục tiêu chung Những mục tiêu chungnày gọi là mục tiêu tích hợp Dạng tích hợp này có nhiều ưu điểm là

nó dạy cho học sinh giải quyết những tình huống phức hợp bằng cáchvận dụng kiến thức từ nhiều môn học trong một tình huống gần vớicuộc sống

Phương thức tích hợp các môn học hay dạy học tích hợp (DHTH) đãđược vận dụng tương đối phổ biến ở nhiều nước Ở Việt Nam, đã có nhiềumôn học, cấp học quan tâm vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp vào quátrình dạy học để nâng cao chất lượng giáo dục HS (như các môn Sinh học,Địa lí, Ngữ văn, và đưa các nội dung giáo dục vào các môn học, …).DHTH được hiểu là một quá trình dạy học sao cho trong đó toàn bộ cáchoạt động học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dựtính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trìnhhọc tập tiếp theo và chuẩn bị cho HS bước vào cuộc sống lao động Mụctiêu cơ bản của tư tưởng sư phạm tích hợp là nâng cao chất lượng giáo dục

HS phù hợp với các mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường DHTHhướng tới việc tổ chức các hoạt động học tập, trong đó HS học cách sửdụng phối hợp các kiến thức và kĩ năng trong các tình huống có ý nghĩa vàgần với cuộc sống Trong quá trình học tập như vậy, các kiến thức của HS

Trang 20

từ các môn học khác nhau được huy động và phối hợp với nhau, tạo thànhmột nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ lí luận và thực tiễnđược đề cập trong các môn học đó DHTH có các đặc trưng chủ yếu sau:làm cho các quá trình học tập có ý nghĩa, bằng cách gắn quá trình học tậpvới cuộc sống hàng ngày, không làm tách biệt “thế giới nhà trường với thếgiới cuộc sống”; làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt; sửdụng kiến thức của nhiều môn học và vượt lên trên các nội dung môn học.Vận dụng DHTH là một yêu cầu tất yếu của nhiệm vụ dạy học, đó khôngphải là một thủ thuật sư phạm nhằm đưa một số nội dung giáo dục vào cácmôn học, mà là một tư tưởng và là một lí thuyết giáo dục hướng vào việcphát triển toàn diện HS theo các yêu cầu của mục tiêu giáo dục Như LuậtGiáo dục (2005) đã nêu: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp HS pháttriển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản,phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhâncách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và tráchnhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sốnglao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Nhiều môn học đã đượcđưa vào nhà trường phổ thông hiện nay là thể hiện quá trình thực hiện mụctiêu giáo dục toàn diện HS Các môn học đó phải liên kết với nhau Mặtkhác, xu thế các tri thức và kinh nghiệm xã hội của loài người phát triểnnhư vũ bão hiện nay, trong khi quỹ thời gian cũng như kinh phí để HS ngồitrên ghế nhà trường là có hạn, thì không thể đưa nhiều môn học hơn nữavào nhà trường cho dù những tri thức này là rất cần thiết Vì vậy, việc dạyhọc tích hợp các khoa học trong nhà trường là một giải pháp quan trọng Lí

do khác cần DHTH các khoa học trong nhà trường còn xuất phát từ chínhyêu cầu phát triển của các khoa học Các nhà khoa học cho rằng khoa học ởthế kỉ XX đã chuyển từ phân tích cấu trúc lên tổng hợp hệ thống làm xuấthiện các liên ngành Vì vậy, xu thế dạy học trong nhà trường là phải làm saocho tri thức của HS xác thực và toàn diện Quá trình dạy học phải làm saoliên kết, tổng hợp hóa các tri thức, đồng thời thay thế “tư duy cơ giới cổđiển” bằng “tư duy hệ thống” Theo Xavier Rogiers, nếu nhà trường chỉquan tâm dạy cho HS các khái niệm một cách rời rạc thì nguy cơ sẽ hìnhthành ở HS các suy luận khép kín, sẽ hình thành những con người “mùchức năng”, nghĩa là những người đã lĩnh hội kiến thức nhưng không có

Trang 21

Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhàtrường NXB Giáo dục, 1996) Từ góc độ giáo dục, DHTH giúp phát triểncác năng lực, đặc biệt là trí tưởng tượng khoa học và năng lực tư duy của

HS, vì nó luôn tạo ra các tình huống để HS vận dụng kiến thức trong cáctình huống gần với cuộc sống Nó cũng làm giảm sự trùng lặp các nội dungdạy học giữa các môn học, góp phần giảm tải nội dung học tập

Hiện nay, DHTH đã được vận dụng để đưa các nội dung giáo dục bảo

vệ môi trường, GD BĐKH vào các môn học ở trường phổ thông Do đặcđiểm cấu trúc chương trình và sách giáo khoa các môn học ở trường THPThiện nay hướng đến tính hệ thống chặt chẽ của nội dung, tính khoa học bộmôn tương đối sâu, nên việc đưa các nội dung giáo dục chống BĐKH vàocác môn học cũng phải thực hiện bằng con đường DHTH, tương tự nhưviệc đưa các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào các môn học Tuyvậy, khi thực hiện tích hợp các nội dung giáo dục chống BĐKH vào cácmôn học, GV cũng cần liệt kê các nội dung GD BĐKH trong mỗi môn học

và các GV cần phối hợp với nhau để các kiến thức về BĐKH liên kết đượcvới nhau, đạt hiệu quả cao hơn và tránh được sự trùng lặp, quá tải đối vớiHS

Sự tích hợp kiến thức GD BĐKH vào môn học có thể phân thành 2dạng :

a) Dạng lồng ghép

Ở dạng này các kiến thức GD BĐKH đã có trong chương trình vàsách giáo khoa (SGK) và trở thành một bộ phận kiến thức của môn học.Trong SGK THPT, kiến thức GD BĐKH được lồng ghép có thể :

- Chiếm một vài chương : các kiến thức về giáo dục chốngBĐKH nằm ở một số chương có quan hệ mật thiết với nhau Vì vậy,khi dạy GV cần làm rõ sự gắn kết, quan hệ giữa các kiến thức vềgiáo dục chống BĐKH ở các chương đó;

- Chiếm một hoặc một số bài trọn vẹn (lồng ghép toàn phần): hầuhết các kiến thức của bài học cũng chính là các kiến thức về giáodục chống BĐKH Khi đó mục tiêu của bài học cũng chính là mụctiêu giáo dục chống BĐKH Ở những bài này, GV tiến hành giảngdạy bình thường như những bài dạy khác chỉ cần sưu tầm thêmnhững tư liệu hỗ trợ để bài học thêm sinh động và tạo hứng thú cho

Trang 22

HS);

- Chiếm một mục, một đoạn hay một câu trong bài học (lồng

ghép một phần) : một phần kiến thức của bài học có nội dung vềgiáo dục chống BĐKH Ở những bài này, GV có thể tích hợp cácnội dung giáo dục chống BĐKH trong một số phần nội dung củabài học Tuy nhiên, GV cần phân phối thời gian sao cho hợp lí vớicấu trúc chung của bài học Tránh những trường hợp quá lạm dụnghay coi trọng nội dung giáo dục chống BĐKH mà không chú ý tớinhững nội dung khác của bài học

b) Dạng liên hệ

Ở dạng này, các kiến thức GD BĐKH không được đưa vào chươngtrình và SGK, nhưng một số nội dung của môn học có liên quan tới vấn đề

GD BĐKH (không nêu rõ trong nội dung của bài học)

Trong trường hợp này GV phải khai thác kiến thức môn học và liên

hệ chúng với các nội dung về ứng phó với BĐKH Dựa vào nội dung bàihọc, GV có thể bổ sung kiến thức GD BĐKH có liên quan với bài học quagiờ giảng lên lớp

Liên hệ là kiểu tích hợp phổ biến cho đa số các môn học, tuy nhiêntiếp cận theo kiểu này, giáo viên dạy bộ môn không những phải thành thạokiến thức môn chính cần phải thành thạo cả kiến thức GD BĐKH thì mới

có thể nhận ra mối liên quan giữa chúng, tiếp theo đó là phải lựa chọn biệnpháp dạy học cũng như nội dung GD BĐKH để liên hệ trong từng nội dungbài học một cách phù hợp Dạng liên hệ có ưu điểm là rất linh hoạt và giáoviên có thể cập nhật thường xuyên các kiến thức về môi trường khi đưa vàobài học

Tóm lại, tích hợp trong phạm vi GD BĐKH là một khái niệm chung,nói về một phương thức, một cách tiến hành dạy học về BĐKH cho họcsinh Cách này không đòi hỏi phải có một môn học riêng, bởi vì các kiếnthức GD BĐKH được đưa xen vào nội dung các môn học đã có ở trườngTHPT Tích hợp là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức GDBĐKH và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặtchẽ với nhau dựa trên những mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cậptrong bài học

Trang 23

Nội dung BĐKH được tích hợp trong nội dung của các môn học nêncác phương pháp GD BĐKH cũng được tích hợp vào các phương phápgiảng dạy bộ môn Tuy nhiên, muốn đạt được mục tiêu của GD BĐKH làkhông chỉ giúp cho người học có kiến thức mà phải hình thành cho họ sựquan tâm, hành vi đối với BĐKH thì không chỉ dừng lại ở phương pháptruyền thống mà nên kết hợp với việc sử dụng các phương pháp tích cực,việc sử dụng phương pháp này sẽ phát huy tính chủ động, sáng tạo củangười học Một số phương pháp dạy học có thể sử dụng là :

4.2.1 Phương pháp trần thuật

Phương pháp trần thuật là một phương pháp dạy học trong nhómphương pháp dùng lời Ở phương pháp này, GV dùng lời thuật lại tài liệuhọc tập một cách tuần tự với những diễn biến chi tiết (mô tả những hiệntượng, quá trình trong tự nhiên, kể lại lịch sử một phát minh khoa học, )

Ưu điểm của phương pháp này là cung cấp lượng thông tin lớn có hệ thốngtrong khoảng thời gian có hạn, tác động đến tình cảm của HS,

Ví dụ: có thể mô tả, thuật lại cho học sinh những biểu hiện, hậu quảcủa BĐKH, các hoạt động gây BĐKH, những biến đổi bất thường của thiênnhiên do các hoạt động sinh hoạt và hoạt động sản xuất của con người

4.2.2 Phương pháp giảng giải

Phương pháp giảng giải cũng là một phương pháp dạy học trong nhómphương pháp dùng lời Ở phương pháp này, GV dùng lời để giải thích cácthuật ngữ, phân tích cơ chế của quá trình, nguyên nhân của hiện tượng; nêu

ra những dẫn chứng, dẫn ra những cứ liệu để làm rõ vấn đề

Ví dụ: Khi nói về hiện tượng nóng lên toàn cầu thì nêu rõ nguyên nhândẫn đến hiện tượng nhiệt độ nóng lên, giải thích rõ vì sao khí CO2, CH4 tăngcao, vì sao tầng ôzôn đang bị mỏng dần,

2.2.3 Phương pháp vấn đáp (đàm thoại)

Phương pháp vấn đáp cũng là một phương pháp dạy học trong nhómphương pháp dùng lời Trong phương pháp này, giáo viên đưa ra câu hỏi,học sinh trả lời, hoặc học sinh hỏi, giáo viên trả lời hoặo trao đổi giữa họcsinh và học sinh Tùy thuộc vào nội dung kiến thức, vốn kiến thức của

HS, đặc điểm hoạt đọng nhận thức của HS, GV có thể sử dụng phươngpháp vấn đáp – tái hiện hay vấn đáp – giải thích, minh họa hay vấn đáp –tìm tòi bộ phận Sử dụng phương pháp vẫn đáp không chỉ rèn kĩ năng diễn

Trang 24

dạt cho HS mà còn thu được thông tin ngược nhanh nhất về nhận thức, kĩnăng, thái độ của cá nhân HS.

Ví dụ: “Vì sao nhiệt độ của trái đất ngày càng tăng ?”

“Điều gì sẽ xảy ra nếu nhiệt độ trái đất tiếp tục tăng ?”

“Sẽ ra sao nếu trên trái đất không có cây xanh ?”

“Từ những hiểu biết thực tế, hãy kể tên những hoạt độnggây BĐKH”

Việc sử dụng các câu hỏi này khuyến khích học sinh quan tâm đến cácvấn đề BĐKH và dự đoán các vấn đề BĐKH sẽ xảy ra trong tương lai

4.2.4 Phương pháp trực quan

Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học mà phương tiện trựcquan là nguồn thông tin chủ yếu dẫn tới những tri thức đồng thời là phươngtiện giao tiếp chủ yếu giữa GV và HS

Các phương tiện trực quan như: tranh ảnh, đồ thị, bảng biểu, bănghình video, là những phương tiện rất hữu ích cho việc dạy học tích hợp

GD BĐKH Việc sử dụng các phương tiện trực quan gây được chú ý, hứngthú học tập cho học sinh, đồng thời giúp HS lĩnh hội tri thức một cách dễdàng, hiểu sâu và nhớ lâu Đặc biệt băng hình video là một loại phương tiện

có nhiều ưu điểm

Giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh về những hậu quả của BĐKH để

GD BĐKH.: hậu quả của lũ lụt, hạn hán, ; hình ảnh những loài thú quíhiếm đang có nguy cơ bị mất nơi ở do tác động của BĐKH; những di tíchlịch sử, phong cảnh đẹp đang có nguy cơ bị tàn phá do ảnh hưởng xấu củaBĐKH; biểu đồ sự biến đối nhiệt độ trái đất,

Hệ thống phương tiện trực quan có thể do giáo viên tự sưu tầm hoặcgiao nhiệm vụ cho các em sưu tầm từ các nguồn: sách, báo, tạp chí, mạnginternet,

Khi lựa chọn và sử dụng phương tiện trực quan, GV cần chú ý :

- Nội dung tranh ảnh, băng hình phải phù hợp với nội dung bàihọc và có ý nghĩa trong việc GD BĐKH Ví dụ: các băng hình vềhạn hán, lũ lụt ở Việt Nam và các nước trên thế giới, khí thải CFCtác động làm mỏng tầng ôzôn, việc khai thác rừng bừa bãi, rác thải

Trang 25

- Tranh ảnh, băng hình đủ lớn, đủ rõ ;

- Số lượng loại phương tiện trực quan và thời gian sử dụng hợp lí ;

- Ph i h p s d ng các lo i phố ợ ử ụ ạ ương ti n tr c quan ; ệ ự

- Hướng dẫn HS quan sát trước khi chiếu phim và nêu rõ nhiệm

vụ sau khi xem phim hoặc quan sát tranh ảnh, đồ thị (hệ thống cáccâu hỏi để HS trả lời sau khi xem)

2.2.5 Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ

Lớp được chia thành các nhóm nhỏ (mỗi nhóm 4 – 6 người) đượcduy trì ổn định trong cả tiết học hay thay đổi tùy theo hoạt động Các nhómđược giao cùng nhiệm vụ hoặc các nhiệm vụ khác nhau

Các bước tiến hành

+ Làm việc chung cả lớp: GV nêu vấn đề, phân công nhiệm vụ

cho các nhóm, cung cấp nguồn tài liệu tham khảo

+ Làm việc theo nhóm: Từng cá nhân làm việc độc lập → Trao

đổi ý kiến trong nhóm (chú ý: mỗi nhóm bầu một nhóm trưởng vàthư kí ghi chép các ý kiến thảo luận) → Các nhóm báo cáo thảoluận dưới nhiều hình thức: nói, bài viết, kết hợp với hình ảnh Trongquá trình thảo luận giáo viên làm nhiệm vụ quan sát theo dõi vàkhông tham gia thảo luận

+ Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp: Các nhóm lần lượt báo

cáo kết quả → Thảo luận chung → Giáo viên tổng kết ý kiến củacác nhóm

Ví dụ: Chủ đề Ô nhiễm môi trường

+ Làm việc chung:

- GV nêu vấn đề: GV nêu 4 câu hỏi sau:

Ô nhiễm môi trường là gì?

Các tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường không khí?Khí CO2 tăng lên sẽ gây hậu quả gì?

Nêu các biện pháp làm giảm sự gia tăng khí CO2 trong khí quyển

- Chia nhóm: Mỗi nhóm 6 học sinh

+ Làm việc theo nhóm:

Trang 26

Các nhóm thảo luận và trình bày kết quả bằng bảng trong hoặcgiấy khổ lớn Cử đại diện trình bày.

+ Tổng kết: Giáo viên tổng kết 4 vấn đề nêu ra trên cơ sở kết quả

thảo luận của các nhóm

2.2.6 Phương pháp dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề

Theo giáo trình đại cương phương pháp dạy học Sinh học của tácgiả Trần Bá Hoành và Trịnh Nguyên Giao, cấu trúc của một bài học theodạy học đặt và giải quyết vấn đề thường như sau:

- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:

+ Tạo tình huống có vấn đề

+ Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh

+ Phát biểu vấn đề cần giải quyết

- Giải quyết vấn đề:

+ Đề xuất các giả thuyết

+ Lập kế hoạch giải quyết

+ Thực hiện kế hoạch giải quyết

- Tạo tình huống, nêu vấn đề:

Trước kia, nói đến Hà Nội là người ta đã hình dung tới phốphường tấp nập có các cô gái Hà thành với khuôn mặt thanh tú,xinh tươi Tuy nhiên, gần đây đi lại trên đường phố Hà Nội người takhông còn biết mặt con gái Hà thành như thế nào nữa vì không chỉ

họ mà hầu hết mọi người đều đeo khẩu trang bịt kín mặt

Học sinh có thể tự nêu vấn đề: Vì sao ở Hà Nội khi đi trên đườngphố mọi người đều đeo khẩu trang?

- Giải quyết vấn đề:

Trang 27

Học sinh nêu ra các nguyên nhân khiến mọi người đều dùngkhẩu trang khi đi lại trên đường phố Hà Nội: Có thể là do bụi; domùi xăng, khí thải và khói từ ô tô, xe máy; do nắng nóng,

GV hướng dẫn học sinh thảo luận để bảo vệ giả thuyết của mình,bác bỏ các giả thuyết khác

Tiếp theo GV cho học sinh xem một số hình ảnh về việc thải trựctiếp khí thải từ các phương tiện giao thông trên đường phố Hà Nộivào môi trường ở đây Đa số học sinh nhận ra nguyên nhân chínhdẫn đến việc hầu hết mọi người đều đeo khẩu trang khi đi trênđường là do môi trường không khí bị ô nhiễm do khí thải ra từ cácphương tiện giao thông và bụi trên đường

- Kết luận:

Nguyên nhân làm dẫn đến việc hầu hết mọi người đều đeo khẩutrang khi đi trên đường là do môi trường không khí bị ô nhiễm dokhí thải ra từ các phương tiện giao thông và bụi trên đường

→ Biện pháp: Sử dụng phương tiện giao thông công cộng, giảm

sử dụng phương tiện giao thông cá nhân; sử dụng các loại phươngtiện giao thông ít tốn nhiên liệu, ít khí thải; tăng cường đi bộ, hoặc

đi xe đạp vừa có lợi cho sức khoẻ, vừa góp phần bảo vệ môi trườngkhông khí, vừa giảm nhẹ sự gia tăng nhiệt độ trái đất

2.2.7 Phương pháp động não

Khái niệm : Động não là một kĩ thuật giúp cho người học trong

một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định vềvấn đề nào đó

Cách sử dụng: Giáo viên nêu vấn đề cần tìm hiểu trước lớp hoặc

Trang 28

+ Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận về các ýkiến vừa nêu ra.

+ Tổng hợp ý kiến của học sinh xem có thắc mắc hay thay đổi gìkhông

2.2.8 Phương pháp giao cho HS làm các bài tập thực hành ở nhà

Các bài tập giúp cho học sinh vận dụng các kiến thức đã học vàothực tiễn Vì vậy, nó hình thành cho học sinh kĩ năng học tập, kĩ nănggiảm nhẹ BĐKH

Ví dụ: Tìm hiểu về tình hình tác động của BĐKH ở địa phương

- Các khu vực bị ảnh hưởng của BĐKH ở địa phương

- Các tác nhân gây BĐKH

- Mức độ bị ảnh hưởng của BĐKH

- Hậu quả do bị ảnh hưởng của BĐKH gây ra

- Đề xuất biện pháp làm giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH

2.2.9 Phương pháp thí nghiệm

Phương pháp này nhằm minh họa cho những kiến thức đã học hoặctìm lời giải đáp cho một vấn đề nào đó đã đặt ra

Ví dụ: Nhờ quá trình quang hợp, hàm lượng khí ôxi và khí

cacbonnic trong không khí được ổn định Để chứng minh quá trìnhquang hợp thải ra khí ôxi, người ta tiến hành thí nghiệm như sau: Lấy

2 cốc thủy tinh A và B đựng đầy nước Đổ nước đầy vào 2 ốngnghiệm, rồi cho vào mỗi ống nghiệm một cành dong đuôi chó, saocho không cho không khí lọt vào Để cốc A vào chỗ tối hoặc bọcngoài bằng một túi giấy đen Đưa cốc B ra chỗ có nắng hoặc để dướiđèn sáng có chụp

Sau khoảng 6 giờ, quan sát cốc B ta thấy có những bọt khí thoát

ra và nổi lên, còn cành dong ở cốc A không có hiện tượng đó

Lấy ống nghiệm ra khỏi cốc B, lật lại ống và đưa nhanh que đómvừa tắt (chỉ còn tàn đỏ) vào miệng ống nghiệm, ta thấy que đóm lạibùng cháy

Kết luận: Chất khí tạo ra trong quá trình quang hợp là khí ôxi.

Trang 29

4.3 Hình thức tổ chức dạy học tích hợp GD BĐKH

4.3.1 Hình thức dạy học nội khóa

Hình thức dạy học nội khóa bao gồm hình thức dạy học trên lớp vàngoài lớp Hình thức dạy học trên lớp được sử dụng chủ yếu ở Việt Nam,song cần phải lựa chọn những bài thích hợp để đưa kiến thức giáo dục môitrường vào cho phù hợp Trong khí đó hình thức dạy học ngoài lớp cũng đãđược chú ý tới, đặc biệt là với môn Sinh học - môn học liên quan nhiều đếnthực tế thiên nhiên Trong chương trình Sinh học THPT có một số bài dạyngoài lớp: tham quan thiên nhiên Trong SGK SH 12: tìm hiểu môi trường

và ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái lên đời sống sinh vật, tìm hiểutình hình môi trường ở địa phương, vận dụng luật bảo vệ môi trường vàoviệc bảo vệ môi trường địa phương

Đối với những bài chỉ có một phần hay một số câu là kiến thức liênquan GD BĐKH thì giáo viên cố gắng phân tích rõ những khía cạnh môitrường, BĐKH liên quan đến bài học Đối với các bài học không có kiếnthức GD BĐKH được lồng ghép, thì tùy theo khả năng mà liên hệ các kiếnthức BĐKH vào bài học

4.3.2 Hình thức dạy học ngoại khóa

Ở nước ta, hình thức dạy học ngoại khóa từ trước đến nay chưa phổbiến Ở nhiều nước trên thế giới, việc GD BĐKH cho học sinh qua hìnhthức này rất được chú ý, vì đây là cơ hội để học sinh được tiếp cận với thiênnhiên, ứng dụng những kiến thức môi trường đã học vào thực tế môi trường

tự nhiên, phát triển khả năng độc lập của học sinh, giúp học tự tổ chức việctìm hiểu, nhận xét, thảo luận các vấn đề về BĐKH và các hoạt động giảmnhẹ BĐKH Chính những hoạt động này dễ dàng giúp học sinh có ý thứcbảo vệ môi trường, giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH Hoạt động ngoạikhóa có thể tiến hành với nhiều hình thức khác nhau:

- Tổ chức nói chuyện giao lưu về BĐKH;

- Tổ chức thi tìm hiểu BĐKH, đố vui về BĐKH;

- Tổ chức xem phim về BĐKH;

- Nghiên cứu biểu hiện BĐKH ở địa phương;

- Tổ chức tham quan về ảnh hưởng của BĐKH;

Trang 30

- Tổ chức hoạt động giảm nhẹ BĐKH trong trường học vàBĐKH ở địa phương theo chế độ thường xuyên hay định kì,

Để thực hiện được những hoạt động trên, cần có sự quan tâm củaBan giám hiệu nhà trường, sự nhiệt tình của các thầy, cô giáo Bởi vì mỗihoạt động cần tốn nhiều thời gian và công sức để: xây dựng kế hoạch, nộidung, hình thức, thời gian tổ chức, đối tượng tham gia,

4.4 Nguyên tắc tích hợp, lồng ghép GD BĐKH vào các bài học

Khi tích hợp kiến thức GD BĐKH cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

• Đảm bảo tính đặc trưng và tính hệ thống của bộ môn, tránhmọi sự gượng ép

• Tránh làm nặng nề thêm các kiến thức sẵn có Xem xét vàchọn lọc những nội dung có thể lồng ghép nội dung GD BĐKHmột cách thuận lợi nhất và đem lại hiệu quả cao nhất nhưng vẫn tựnhiên và nhẹ nhàng

• Phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức: Cần lấy những ví dụ gần gũivới đời sống của các em, của gia đình, làng xóm và ở thiên nhiênxung quanh; trình bày một cách đơn giản ở THCS học sinh đãđược GD BĐKH thông qua một số môn học như Sinh học, Hóahọc, Vật lí, Địa lí, Công nghệ Vì vậy, ở THPT khi GD BĐKH cầnlàm rõ hơn nguyên nhân BĐKH, cơ sở khoa học của các biện phápứng phó với BĐKH, đặc biệt là thông qua nội dung kiến thức ởphần Sinh thái học và một số bài về phần quang hợp, hô hấp, sựphát triển của sinh giới qua các đại địa chất,

Trang 31

Phần II TÍCH HỢP GIÁO DỤC ỨNG PHÓ VỚI BĐKH

TRONG MÔN SINH HỌC CẤP THPT

I Khả năng tích hợp giáo dục ứng phó với BĐKH vào môn Sinh học

Sinh học là một môn học có liên hệ mật thiết với Khoa học môitrường Đối tượng nghiên cứu của Sinh học là sinh vật ở các cấp độ tổ chứckhác nhau; trong khi đó, sinh vật là một trong các nhân tố cấu thành môitrường, đồng thời sinh vật và các yếu tố khác như đất, nước và không khí

là đối tượng nghiên cứu của khoa học Môi trường Các hoạt động của cácyếu tố tự nhiên trong môi trường dựa trên cơ sở các nguyên lí sinh thái củacủa Sinh thái học, đây là một phân môn của Sinh học Rõ ràng, trong nộidung Sinh học có chứa và có liên quan rất nhiều nội dung về BĐKH Vìvậy, tích hợp GD ứng phó với BĐKH trong dạy học Sinh học ở trường phổthông là rất thuận lợi

Kiến thức chống BĐKH mặc dù không có trong SGK Sinh học mộtcách rõ ràng như là một bài, một mục, , và nếu chỉ “nhìn bề ngoài” thìchưa thấy có liên quan gì giữa chống BĐKH và bài học Sinh học Nhưngthực tế, trong SGK Sinh học THPT có hàng loạt các bài học có khả năngliên hệ kiến thức GD BĐKH Tuy nhiên, giáo viên cần xác định các bài học

có khả năng lồng ghép, liên hệ, lựa chọn các kiến thức và vị trí hay nơi cóthể đưa kiến thức GD BĐKH vào bài học một cách hợp lí Muốn làm đượcđiều này có hiệu quả cao thì người GV Sinh học THPT luôn phải cập nhậtcác kiến thức về BĐKH

Đối với môn Sinh học có thể tích hợp kiến thức GD BĐKH vào mônhọc theo 2 dạng :

a) Dạng lồng ghép

Ở dạng này các kiến thức GD BĐKH đã có trong chương trình vàsách giáo khoa Sinh học THPT và trở thành một bộ phận kiến thức của mônhọc Kiến thức GD BĐKH được lồng ghép có thể :

- Chiếm một vài chương (trong SGK Sinh học 12, kiến thức ở ba

chương trong phần Sinh thái học nói về những kiến thức liên quanchặt chẽ với kiến thức GD BĐKH);

- Chiếm một hoặc một số bài trọn vẹn (lồng ghép toàn phần);

Trang 32

- Chiếm một mục, một đoạn hay một câu trong bài học (lồng

ghép một phần)

b) Dạng liên hệ

Ở dạng này, các kiến thức GD BĐKH không được đưa vào chươngtrình và SGK, nhưng dựa vào nội dung bài học, người giáo viên có thể bổsung kiến thức GDMT có liên quan với bài học qua giờ giảng lên lớp

Có thể tích hợp kiến thức GD BĐKH qua một số cách sau:

Ví dụ hoặc thông tin minh họa

Ví dụ: ở bài 39, mục II Các nhân tố bên ngoài, SH 11 (cơ bản),nói về các nhân tố môi trường có ảnh hưởng đến quá trình sinhtrưởng và phát triển của sinh vật, giáo viên có thể lấy ví dụ về môitrường bị ô nhiễm có chứa các hoá chất độc hại, khói bụi, gâyảnh hưởng đến phát triển của phôi, thai dẫn đến con sinh ra dị tật,thiếu cân

Câu hỏi liên hệ

Ví dụ: khi dạy mục II.5 Giới Động vật (Animalia), trong SGK có

ý: “Giới Động vật rất đa dạng và phong phú” và “Động vật có vaitrò quan trọng đối với tự nhiên”, giáo viên có thể đặt các câu hỏi:

Sự đa dạng của giới Động vật thể hiện như thế nào? Vì sao một sốloài động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng? Sự tuyệt chủng các loàiđộng vật quí hiếm có ảnh hưởng gì đến môi thế giới tự nhiên và đờisống con người?

Bài tập về nhà

Ví dụ: sau khi dạy xong mục II Nước và vai trò của nước trong

tế bào, Sinh học 10, giáo viên có thể giao bài tập cho học sinh về

nhà: Tìm hiểu về nguyên nhân và tác hại của hiện tượng mưa axit

Các bài đọc thêm

Ví dụ: sau khi dạy xong bài 17 Hô hấp ở động vật, Sinh học 11

(Cơ bản), giáo viên có thể sưu tầm bài đọc thêm về tình hình ônhiễm môi trường không khí ảnh hưởng đến đời sống con người vàcác loài động vật hiện nay

Câu hỏi đánh giá sự vận dụng, tư duy logic.

Trang 33

Ví dụ: Sau khi học xong bài 18.Quang hợp, SH 10 (cơ bản), hoặc bài 8.Quang hợp ở thực vật, SH 11 (cơ bản), giáo viên có thể

kiểm tra học sinh bằng câu hỏi: Vì sao chúng ta phải trồng nhiềucây xanh bảo vệ rừng? hoặc: Hãy nêu vai trò của cây xanh đối vớimôi trường và các sinh vật khác

Tích hợp theo kiểu liên hệ chính là tích hợp dạy học, bởi vì về mặtkiến thức thì nội dung GD BĐKH không có trong bài Sinh học, nhưngthông qua quá trình dạy học của giáo viên, bằng các biện pháp như hỏi đáp,đưa ra ví dụ minh họa hoặc sử dụng bài tập về nhà, bài đọc thêm kiếnthức GD BĐKH đã được đưa vào một cách hợp lí Đồng thời, qua đó mốiquan hệ giữa GD BĐKH và Sinh học cũng được làm rõ và học sinh đượchình thành những khái niệm mới, chung hơn cho cả GD BĐKH và Sinhhọc

2 Giới thiệu địa chỉ tích hợp GD ứng phó với BĐKH trong môn Sinh học

II Đặc điểmchung củacác cấp tổchức sống

- Đa dạng các cấp tổ chứcsống tạo nên sự đa dạng của thếgiới sinh vật/ đa dạng sinh học

- Bảo vệ các loài sinh vật vàmôi trường sống của chúng làbảo vệ đa dạng sinh học

- Môi trường và sinh vật cómối quan hệ thống nhất, giúpcho các tổ chức sống tồn tại và

tự điều chỉnh BĐKH dẫn đếntăng nhiệt độ, ảnh hưởng trựctiếp đến HST tự nhiên, giảm đadạng sinh học

- BĐKH làm cho một số loàidẫn tới sự tuyệt chủng, ảnh

LồngghépLiênhệ

Trang 34

hưởng tới quá trình tiến hóacủa sinh giới.

Ngăn chặn và giảm bớt cáchoạt động, hành vi gây BĐKH

- Các sinh vật trong giớiKhởi sinh, Nguyên sinh và giớiNấm góp phần hoàn thành chutrình tuần hoàn vật chất

- Thực vật có vai trò quantrọng trong việc điều hòa khíhậu đồng thời là mắt xích đầutiên trong chuỗi và lưới thứcăn

- Động vật là mắt xích trongchuỗi và lưới thức ăn, đảm bảo

sự tuần hoàn năng lượng và vậtchất, góp phần cân bằng hệsinh thái

- Hạn chế BĐKH tức là bảo

vệ môi trường sống an toàn,đảm bảo cho sự phát triểnthuận lợi của các giới sinh vật

=> đảm bảo đa dạng sinh học

- Có ý thức bảo vệ và thái độđúng đắn trong việc bảo vệrừng và khai thác rừng hợp lí

Duy trì hệ sinh thái đất, nước

để giới Khởi sinh, Nguyênsinh, Nấm phát triển cân bằng

LồngghépLiênhệ

Trang 35

chu trình tuần hoàn vật chất.

- Trồng nhiều cây xanh giúpđiều hòa khí hậu

cơ thể sinh vật và con người

- Nước là thành phần quantrọng trong môi trường, là mộtnhân tố sinh thái Nước có vaitrò rất quan trọng để duy trì sựsống của tất cả các sinh vật

- BĐKH làm tăng mực nướcbiển, hậu quả là tăng diện tíchđất ngập lụt, tăng độ nhiễmmặn của nguồn nước, thay đổi

hệ sinh thái tự nhiên, hệ sinhthái nông nghiệp

- Sự cần thiết phải hạn chếBĐKH Hình thành thói quen

sử dụng tiết kiệm tài nguyênnước, tái chế nước đã qua sửdụng, bảo vệ nguồn nước, giữnguồn nước trong sạch

- Liên hệ với hiện tượngmưa axit

Liênhệ

là nguồn thức ăn cho động vật

ăn thực vật và con người

- Việc trồng và bảo vệ câyxanh là vấn đề cấp thiết

Liênhệ

Trang 36

- Đa dạng sinh học đảm bảocho cuộc sống con người :cung cấp nguồn thực phẩm đadạng từ thực vật và động vật,cung cấp dược liệu cho dượcphẩm…

- Có ý thức bảo vệ động –thực vật, bảo vệ nguồn gen, đadạng sinh học bằng cách bảo

vệ môi trường sống của chúng

Liênhệ

Bài 6.

Axit

nucleic

I.Cấu trúc ADN - Sự đa dạng của ADN chính

là đa dạng di truyền (đa dạngnguồn gen) của sinh giới

- Sự đặc thù trong cấu trúcADN tạo cho mỗi loài sinh vật

có nét đặc trưng phân biệt vớicác loài khác, tạo nên sự đadạng cho thế giới sinh vật

- BĐKH dẫn đến thay đổimôi trường sống của nhiều loàisinh vật, đặc biệt là các sinhvật đất → suy giảm số lượng,tuyệt chủng

- Sự cần thiết phải bảo vệmôi trường sống cho các loàisinh vật

Liênhệ

để thấy được vai trò của thực

Liênhệ

Trang 37

theo) hậu và vai trò chuyển đổi năng

- Bảo vệ môi trường đất,nước để bảo vệ môi trườngsống trong lành cho các sinhvật,từ đó tế bào và cơ thể mớithực hiện được các hoạt độngsống và các chức năng sinh lí

- Phải có biện pháp xử línhững nơi xảy ra ô nhiễm môitrường, đảm bảo môi trườngsống an toàn cho các loài sinhvật và con người

Liênhệ

đó ảnh hưởng đến đời sống của

vi sinh vật

- Nhiều VSV có khả năngphân giải xác động, thực vậttrong đất là do chúng tiết racác enzim phân giải các chấthữu cơ thành các chất đơn giảnhơn, thực hiện quá trình

Liênhệ

Trang 38

chuyển hóa trong đất, vì vậy sửdụng phân bón vi sinh vừacung cấp phân bón cho cây,vừa làm giàu dinh dưỡng tựnhiên cho đất vừa có lợi vớimôi trường.

O2, có tác dụng điều hòa khôngkhí và góp phần ngăn chặnhiệu ứng nhà kính

- Khi nhiệt độ của trái đấtnóng lên, có thể làm tăng năngsuất của quang hợp, tăng quátrình trao đổi khí

- Chặt phá rừng, đô thị hóalàm hẹp đất nông nghiệp dẫntới hạn chế khả năng hấp thụkhí ở cây xanh Đồng thời làmcho các khí thải độc hại tích tụcàng nhiều, gây nên các hiệntượng hiệu ứng nhà kính, mưaaxit, …

- Cần có ý thức bảo vệ rừng,tích cực trồng cây xanh xungquanh nơi mình sinh sống,tuyên truyền cho người khác

về vai trò của việc trồng câyxanh với việc tạo ra bầu khíquyển trong lành

LồngghépLiênhệ

Liênhệ

Trang 39

nguyên

phân

cho các tia tử ngoại, tia phóng

xạ chiếu xuống trái đất, là mộttrong những nguyên nhân gâybệnh ung thư ở người

- Vi sinh vật phân giải xácđộng- thực vật, thực hiện cácquá trình chuyển hóa trong đất,làm cho đất giàu mùn - cungcấp chất dinh dưỡng nuôi cây,góp phần làm sạch môi trường

- Sự phân giải của VSV là

cơ sở chế biến rác thải hữu cơthành phân bón Vì vậy cầnphân loại rác thải ngay từ sớm

để tách riêng các loại rác thải:

rác thải hữu cơ, rác thải tái chế(giấy, nilon, thủy tinh…), vàcác rác thải kim loại

- Sử dụng các sản phẩm, bao

bì từ nguyên liệu dễ phân hủy,hạn chế sử dụng khó phân hủy,tồn tại lâu trong môi trườngnhư sản phẩm làm từ nhựaplastic, túi nilon

LồngghépLiênhệ

Trang 40

vật sinh học, nhằm giải quyết

những nhu cầu ngày càng tăngnhanh của con người và bảo vệ

sự bền vững của môi trườngsống

- Tốc độ sinh sản và tổnghợp vật chất cao, đa dạng trongtrao đổi chất ở VSV giúp phângiải các chất bền vững, cácchất độc hại trong môi trườnggóp phần lớn giảm ô nhiễm

- Vệ sinh nơi ở để mầmbệnh do VSV gây ra không cóđiều kiện phát triển

Liênhệ

- Bảo vệ sự bền vững củamôi trường bằng cách tạo điềukiện dinh dưỡng thuận lợi choVSV có lợi sinh trưởng theocấp số nhân để tăng năng suất,phục vụ nhu cầu ngày càng caocủa con người, từ đó giảm bớt

sự lệ thuộc vào khai thác tàinguyên thiên nhiên

- Một số chất hóa học có tácdụng hạn chế sự sinh trưởngcủa VSV có hại được sử dụnglàm trong sạch nguồn nước,thực phẩm Sử dụng nguyên lí

LồngghépLiênhệ

Ngày đăng: 10/11/2017, 21:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Jean – Marc Jancovici (Phạm Việt Hưng dịch năm 2011), BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU giải thích cho con, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 93 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: BIẾN ĐỔIKHÍ HẬU giải thích cho con
Nhà XB: Nxb Giáo dục
2. Nguyễn Phi Hạnh - Nguyễn Thị Thu Hằng (2004), Giáo dục môi trường qua môn Địa lí, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục môitrường qua môn Địa lí
Tác giả: Nguyễn Phi Hạnh - Nguyễn Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
3. Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao (2008), Giáo trình đại cương phương pháp dạy học Sinh học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình đại cươngphương pháp dạy học Sinh học
Tác giả: Trần Bá Hoành, Trịnh Nguyên Giao
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
4. Trương Quang Học - Nguyễn Đức Ngữ (2009), Một số điều cần biết về biến đổi khí hậu, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điều cần biết vềbiến đổi khí hậu
Tác giả: Trương Quang Học - Nguyễn Đức Ngữ
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2009
7. Hội thảo Á - Âu “Chia sẻ kinh nghiệm ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu và các bệnh mới nổi”. Hà Nội, 4.11.2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chia sẻ kinh nghiệm ứng phó với biến đổi khí hậutoàn cầu và các bệnh mới nổi
5. Trương Quang Học (2010), Đa dạng sinh học, Biến đổi khí hậu và Phát triển bền vững. Báo cáo tại Hội nghị Môi trường toàn quốc 2010, Hà Nội : 18tr Khác
6. Trương Quang Học và cộng sự (2011), Tài liệu đào tạo tập huấn viên về biến đổi khí hậu. NXB. Khoa học và Kỹ thuật: 320 tr Khác
8. Quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hâu, Số 158/2008/QĐ-TTg, ngày 02.12.2008 của Thủ tướng Chính phủ: 31tr Khác
9. UNDP (2007), Báo cáo Phát triển con người 2007/2008, Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách. UNDP, Hà Nội: 390 tr Khác
10. Royal Entomological Society, 2010. Climate Change & Insects. The Last Meeting, 27th October 2010 Khác
11. Sách giáo khoa Sinh học 10 cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006 Khác
12. Sách giáo khoa Sinh học 10 nâng cao, , Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006 Khác
13. Sách giáo khoa Sinh học 11 cơ bản, , Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007 Khác
14. Sách giáo khoa Sinh học 11 nâng cao, , Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w