Con người cần có các yếu tố môi trường trong lành, tài nguyên thiên nhiênthích hợp để sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất, cần có không khí trong lành để thở,cần có nước sạch để sinh hoạ
Trang 1Chuyên đề 1NHỮNG VÂN ĐỀ CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG
VÀ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TS Nguyễn Thị Kim Thành
Vấn đề môi trường trong những thập kỉ gần đây đó nổi lên như một mối quantâm hàng đầu của nhân loại Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, dưới tácđộng của khoa học – kĩ thuật và sự gia tăng dân số quá nhanh, tài nguyên thiên nhiên bịkhai thác cạn kiệt, môi trường bị tàn phá nặng nề Hậu quả là toàn cầu phải đối mặt vớihàng loạt nguy cơ hủy diệt gây ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc sống hiện tại và sự tồnvong của xã hội loài người trong tương lai Bảo vệ môi trường giữ lấy Trái Đất lànhiệm vụ của tất cả các quốc gia trên thế giới, là trách nhiệm của mọi tổ chức xã hội và
là nghĩa vụ của mọi thành viên các cộng đồng
Ở Việt Nam, vấn đề môi trường cùng đang đứng trước những thách thức nghiêmtrọng đòi hỏi cần có sự thống nhất của các tổ chức, cá nhân và của cả cộng đồng để bảo
vệ môi trường Do vậy, bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâmtrong chiến lược phát triển chung về kinh tế xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá vàhiện đại hoá đất nước
Giáo dục môi trường là một trong những biện pháp có hiệu quả nhất Việc giáodục môi trường trong nhà trường phổ thông chiếm một vị trí đặc biệt, nhà trường là nơiđào tạo thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước, những người làm nhiệm vụtuyên truyền giáo dục, khai thác sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên môi trường củađất nước
Thực tế ở trường phổ thông Việt Nam nói chung và trường phổ thông dân tộcnội trú (PT DTNT) nói riêng thì việc giảng dạy các môn học có khai thác kiến thức giáodục môi trường được thể hiện còn ít và sơ sài, vì vậy những hiểu biết về môi trường củahọc sinh (HS) còn bị hạn chế Chính vì vậy trách nhiệm của người giáo viên (GV) phảigiúp HS thấy được mối tác động qua lại giữa môi trường và con người để cùng nhaubảo vệ, gìn giữ và tạo môi trường sống thân thiện hướng tới một tương lai tươi sánghơn
I Môi trường, ô nhiễm môi trường và vấn đề biển đổi khí hậu
1 Môi trường
1.1 Khái niệm về môi trường
Trang 2“Môi trường của một vật thể hoặc một sự kiện là tổng hợp các điều kiện bên ngoài
có liên quan đến vật thể và sự kiện đó” Bất cứ một vật thể nào hay sự kiện nào cùng tồntại và diễn biển trong một môi trường nhất định, vì thế khi nói đến môi trường tức nóiđến một vật thể, một sự kiện nhất định
Theo điều 3 chương I (Luật BVMT năm 2005) thì: Môi trường bao gồm các yếu
tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sảnxuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật
Theo Tổ chức UNESCO (1981) thì môi trường bao gồm toàn bộ hệ thống tựnhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình và vụ hình (tập quán,niềm tin, văn hóa, ), trong đó con người sống và làm việc, họ khai thác các tài nguyênthiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn nhu cầu cho cuộc sống sinh hoạt của mình
Khi nghiên cứu về các cơ thể sống, người ta đưa ra định nghĩa về môi trườngsống của các cơ thể sống, đó là “Tổng hợp các điều kiện bên ngoài có liên quan đến sựsống và phát triển của các cơ thể sống đó”
Theo nghiã rộng môi trường sống của con người bao gồm tất cả các nhân tố tựnhiên và xã hội cần thiết cho quá trình sinh sống, sản xuất như tài nguyên thiên nhiên,không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, các mối quan hệ trong xã hội,… Còn theonghĩa hẹp, môi trường sống của con người chỉ bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hộitrực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người như nước sạch, chất lượngthực phẩm, diện tích nhà để ở, điều kiện sinh hoạt, giải trí,… Có thể khẳng định rằngmôi trường sống của con người là tất cả các nhân tố môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội xung quanh chúng ta Môi trường sống của con người được phân chia thành:
- Môi trường xã hội: là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con ngườiđược thể hiện thông qua các phong tục tập quán, luật lệ, văn hoá dân tộc, Môi trường
xã hội định hướng hoạt động của con người theo những khuôn khổ nhất định đảm bảocho cuộc sống tồn tại, phát triển và ngày càng văn minh
- Môi trường tự nhiên : là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học tồn tạingoài ý muốn của con người nhưng có ít nhiều chịu tác động của con người Môitrường tự nhiên bao gồm ánh sáng Mặt Trời, núi, sông, biển, không khí, đất, động vật,thực vật, … cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ cho sảnxuất và tiêu dùng
- Môi trường nhân tạo: là bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên hoặccải biển nó như: các phương tiện, công cụ, máy móc, thiết bị, nhà ở, công viên nhằmphục vụ cho nhu cầu cuộc sống và trong lao động sản xuất của mình
Trang 3Sự khác nhau căn bản giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo: Môitrường tự nhiên xuất hiện trên bề mặt Trái Đất không phụ thuộc vào con người Conngười tác động vào tự nhiên, làm cho nó bị thay đổi, nhưng các thành phần của tự nhiênvẫn phát triển theo quy luật riêng của nó Môi trường nhân tạo là kết quả lao động củacon người, nó tồn tại hoàn toàn phụ thuộc vào con người Nếu không có bàn tay chămsóc của con người, thì các thành phần của môi trường nhân tạo sẽ bị huỷ hoại.
Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước,không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác Cácthành phần của môi trường luôn chuyển hoá trong tự nhiên, có quan hệ tương tác phứctạp, có thể diễn ra theo chu trình như: Chu trình cacbon hay chu trình nitơ trong tựnhiên, và thông thường ở dạng cân bằng Khi các chu trình này không giữ trạng tháicân bằng thì các sự cố về môi trường xảy ra, tác động đến sự tồn tại của con người vàsinh vật ở khu vực hoặc quy mô toàn cầu
Môi trường có vai trò đặc biệt đối với sự sống và chất lượng cuộc sống đối vớicon người Con người cần có các yếu tố môi trường trong lành, tài nguyên thiên nhiênthích hợp để sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất, cần có không khí trong lành để thở,cần có nước sạch để sinh hoạt hàng ngày, cần có một môi trường văn hóa - xã hội lànhmạnh, văn minh để hình thành và phát triển nhân cách, nâng cao chất lượng cuộc sống
cả về vật chất lẫn tinh thần
Có thể khẳng định rằng môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự pháttriển bền vững của đất nước Trong quá trình phát triển, con người không chỉ khai thácthiên nhiên mà còn phải giữ gìn và bảo vệ môi trường tự nhiên, tạo lập môi trường nhântạo phù hợp với nhu cầu của cuộc sống và các hoạt động sản xuất, dịch vụ, xây dựngmôi trường xã hội với các mối quan hệ cộng đồng xã hội tốt đẹp, bảo đảm phát triểnbền vững và lợi ích lâu dài cho các thế hệ hôm nay và mai sau
1.2 Thành phần và chức năng cơ bản của môi trường tự nhiên
1.2.1 Thành phần của môi trường tự nhiên
Thạch quyển là toàn bộ lớp vỏ của Trái Đất với độ sâu 60-70km đến độ sâu
khoảng 100 km trên phần lục địa và 20-30km dưới đáy đại dương được cấu tạo bởi vậtchất ở trạng thái cứng
Do lớp bề mặt đang nguội đi trong hệ thống đối lưu của Trái Đất, độ dày củathạch quyển tăng dần lên theo thời gian Nó bị chia cắt ra thành các mảng tương đốilớn, được gọi là các mảng kiến tạo và chúng chuyển động tương đối độc lập vớinhau.Chuyển động này của các mảng thạch quyển được miêu tả như là kiến tạo địa
Trang 4tầng Có hai dạng của thạch quyển là thạch quyển lớp vỏ đại dương và thạch quyển lớp
vỏ lục địa
Các mảng thạch quyển
Lớp trên cùng của thạch quyển được bao phủ một tài nguyên vô cùng quý giá đó
là đất Thành phần chính của đất gồm : Khoáng chất: 40%, nước: 35%, không khí: 20%,mùn và các loại sinh vật (chất hữu cơ): 5% Đất là tư liệu sản xuất độc đáo, là đối tượnglao động đặc biệt, là nguồn tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người.Đất mang trên mình nó các hệ sinh thái và là giá đỡ để con người tác động vào các hệsinh thái tạo nên các nền văn minh, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại
Trong vỏ Trái Đất chứa đựng nhiều tài nguyên khoáng sản Khoáng sản được sửdụng trực tiếp hoặc gián tếp trong các ngành công nghiệp
Khí quyển
Mô hình bầu khí quyển của Trái Đất
Trang 5Là lớp không khí bao phủ bên ngoài vỏ Trái Đất Khí quyển được phân chiathành các tầng: tầng đối lưu, tầng bình lưu, tầng trung lưu, tầng nhiệt quyển (tầng ion)
và tầng ngoại quyển Phần lớn khối lượng của toàn bộ khí quyển tập trung ở các tầngthấp: tầng đối lưu và tầng bình lưu (khoảng 5.105 tấn)
Tầng đối lưu (Tropo-sphere): là tầng thấp nhất của khí quyển, chiếm khoảng70% khối lượng không khí của khí quyển, có nhiệt độ giảm dần từ + 400C ở lớp sát mặtđất tới - 500C ở trên cao Ranh giới trên của tầng đối lưu trong khoảng 7 - 8 km ở 2 cực
và 16-18 km ở vùng Xích Đạo Tầng này không khí chuyển động theo chiều thẳng đứng
và là nơi tập trung nhiều nhất hơi nước, bụi và là nơi xảy các hiện tượng thời tiết chínhnhư mây, mưa, bão, tuyết, …Ranh giới giữa tầng đối lưu và bình lưu là lớp đối lưu hạnvới chiều dày khoảng 1 km và có sự chuyển đổi từ xu hướng giảm nhiệt theo chiều caosang xu hướng tăng nhiệt độ không khí khi lên cao
Tầng bình lưu (Strato-sphere): nằm trên tầng đối lưu, ranh giới dao động trongkhoảng độ cao 50 km Nhiệt độ không khí ở tầng bình lưu từ - 560 C ở phía dưới lên - 20
C ở trên cao Không khí tầng bình lưu loãng hơn, ít chứa bụi và các hiện tượng thời tiết
Ở khoảng 25 km trong tầng bình lưu tồn tại một lớp không khí giàu khí ozon thườngđược gọi là tầng ozon chính nhờ việc ozone hấp thụ các tia cực tím mà ở tầng bình lưuthì nhiệt độ lại tăng lên theo độ cao Tầng ozon có chức năng như một lá chắn của khíquyển, bảo vệ cho Trái Đất khỏi những ảnh hưởng độc hại của tia tử ngoại từ Mặt Trờichiếu xuống Trong tầng bình lưu luôn tồn tại một quá trình hình thành và phân huỷ khíozon Hoạt động công nghiệp và sinh hoạt của con người thải ra nhiều loại khí có khảnăng phân huỷ tầng ozon làm cho có chỗ lớp ozon bị mỏng đến mức chiều dày chỉ cònvài cm, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người và các loài sinh vật khác
Tầng trung lưu (Meso-sphere):nằm ở bên trên tầng bình lưu cho đến độ cao
80km Nhiệt độ ở tầng này giảm dần theo độ cao, từ-20C ở phía dưới giảm xuống -920C
ở lớp trên Tầng này không chứa ozone và là tầng khí quyển lạnh nhất trong 5 tầng khíquyển của Trái Đất Giữa tầng trung lưu và tầng bình lưu được ngăn cách bằng lớpkhông khí mỏng có chiều dày khoảng 1km, lớp không khí này được gọi là bình lưu hạn
và có sự thay đổi nhiệt độ từ dương sang âm
Tầng nhiệt quyển (Thermo-sphere) : có độ cao từ 80km đến 500km, nhiệt độ có
xu hướng tăng dần theo độ cao từ - 920C đến 12000C Tầng nhiệt quyển chứa một lớpmỏng không khí và là tầng khí quyển nóng nhất vì tầng này không có ozone hấp thụnhiệt nữa, nhiệt độ ở đây có thể lên tới 17000C Tuy nhiên, nhiệt độ không khí thay đổitheo thời gian trong ngày (ban ngày thường rất cao, ban đêm nhiệt độ xuống thấp) Lớpchuyển tiếp giữa tầng nhiệt quyển và tầng trung lưu là trung quyển hạn
Trang 6Tầng ngoại quyển (Exo-sphere): là tầng ngoài cùng của bầu khí quyển Trái Đất,
nơi mà khí quyển của Trái Đất tiếp xúc với cả không gian vũ trụ bên ngoài Tầng khíquyển này ở độ cao từ 500km trở lên so với Trái Đất Do tác động của tia tử ngoại, cácphần tử không khí loãng trong tầng này bị phân huỷ thành các ion dẫn điện, các điện tử
tự do, đó là nơi xuất hiện cực quang và phản xạ sóng ngắn vô tuyến Nhiệt độ của tầngnày có xu hướng cao và thay đổi theo thời gian trong ngày
Thuỷ quyển : Khoảng 71% với 361 triệu km2 bề mặt Trái Đất được bao phủbởi mặt nước Nước rất cần cho tất cả các sinh vật sống trên Trái Đất và là môi trườngsống của nhiều loài sinh vật Nước tồn tại ở 3 thể: rắn (băng, tuyết), lỏng và khí (hơinước)
Theo tính toán, với tổng lượng nước là 1386.106 km3, bao phủ gần 3/4 diện tích
bề mặt Trái Đất, trong đó khối lượng các dạng không cân đối : Nước biển và đại dươngđóng vai trò chủ đạo 97,4% khối lượng nước; Nước băng hà, nước ngầm, nước sông hồ,
cơ thể sống và khí quyển chiếm 2,5% khối lượng nước Trong tổng lượng nước thìnước ngọt rất ít, hầu hết lại tồn tại ở thể (rắn-băng), tuyết (chiếm 2,24%), còn lượngnước ngọt mà con người có thể sử dụng được lại càng ít ỏi, chỉ chiếm 0,26%
Dân số tăng nhanh cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, thâm canhnông nghiệp và các thói quen tiêu thụ nước quá mức đang gây ra sự khủng hoảng nướctrên phạm vi toàn cầu Gần 20% dân số thế giới không được dùng nước sạch và 50%thiếu các hệ thống vệ sinh an toàn Sự suy giảm nước ngọt ngày càng lan rộng và gây ranhiều vấn đề nghiêm trọng, đó là nạn thiếu nước xảy ra ở khắp mọi nơi trên thế giới
Chu trình của nước trong tự nhiên
Trang 7 Sinh quyển là một phần của Trái Đất, bao gồm tầng trên của thạch quyển
(có thể sâu tới 11km), toàn bộ thủy quyển, tầng đối lưu, tầng bình lưu của khí quyển,nơi có các điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự sống phát triển Sinh quyển thường đượchiểu gắn liền với Trái Đất Sinh quyển của Trái Đất bao gồm các loài động vật, thựcvật, vi khuẩn, nấm, từ sinh vật đơn bào nguyên thủy đến đa bào tiến hóa cao Nhưvậy, sinh quyển là một hệ thống động, rất phức tạp Nó bao gồm hệ thống động, thựcvật, các hệ sinh thái Sự sống trên bề mặt Trái Đất được phát triển chính nhờ vào tổnghợp các mối quan hệ tương hỗ giữa các sinh vật với môi trường, tạo thành dòng liên tục
trong quá trình trao đổi vật chất và năng lượng, mà chúng ta thường gọi là các "chu trình sinh địa hoá" Nhờ hoạt động của các chu trình này mà vật chất sống được tồn tại trong một trạng thái cân bằng động, giúp cho các vật sống ổn định và phát triển
1.2.2 Các chức năng cơ bản của môi trường
Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật
Hằng ngày, mỗi người cần một khoảng không gian nhất định để phục vụ cho cáchoạt động như : không khí để thở, nước để uống, lương thực và thực phẩm, nhà ở, đất
để sản xuất, lâm nghiệp, thuỷ sản, nơi vui chơi giải trí Theo tính toán, trung bình mỗingười mỗi ngày cần 4m3 không khí sạch để hít thở, 2,5 lít nước để uống, một lượnglương thực, thực phẩm đủ để sản sinh ra khoảng 2000-2400 calo năng lượng nuôi sốngcon người Chức năng này đòi hỏi môi trường phải có khoảng không gian thích hợp chomỗi con người được tính bằng m2 hay hecta đất đai để ở, sinh hoạt và sản xuất
Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống vàsản xuất của con người
Các nguồn tài nguyên này bao gồm:
- Rừng tự nhiên: tạo độ phì nhiêu cho đất, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp gỗcủi, dược liệu và duy trì sự cân bằng sinh thái
- Các thuỷ vực cung cấp nước, thuỷ hải sản, năng lượng, giao thông đường thuỷ
và địa bàn vui chơi giải trí
- Động và thực vật: Cung cấp lương thực, thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm
- Không khí, nhiệt độ, ánh sáng Mặt Trời, gió, mưa
- Các loại quặng, dầu mỏ cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các hoạt độngsản xuất và đời sống
Các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin sau mỗi lần sử dụng được tuần hoànquay trở lại dạng ban đầu được gọi là tài nguyên tái tạo Ví dụ như nước ngọt, đất, sinhvật, v.v là loại tài nguyên mà sau một chu trình sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu
Trang 8Trái lại, các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin bị mất mát, biển đổi hoặc suythoái không trở lại dạng ban đầu thì được gọi là tài nguyên không tái tạo Ví dụ như tàinguyên khoáng sản, gien di truyền
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng tăng cường khaithác các dạng tài nguyên mới và gia tăng số lượng khai thác, tạo ra các dạng sản phẩmmới có tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi trường sống
Môi trường là nơi chứa đựng và đồng hoá các chất phế thải do con người tạo
ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất
Trong hoạt động sản xuất và sinh hoạt, con người đã thải ra các chất thải vàomôi trường Tại đây, các chất thải dưới tác động của các vi sinh vật và các yếu tố môitrường khác như nhiệt độ, độ ẩm, không khí sẽ bị phân huỷ, biển đổi từ phức tạpthành đơn giản, từ những thứ bỏ đi thành các chất dinh dưỡng nuôi sống cây trồng vànhiều sinh vật khác, làm cho các chất thải trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên.Tuy nhiên, do sự gia tăng dân số, do đô thị hoá, công nghiệp hoá, số lượng chất thảităng lên không ngừng dẫn đến ở nhiều nơi, nhiều chỗ trở nên quá tải, gây ô nhiễm môitrường
Môi trường Trái Đất là nơi lưu giữ và cung cấp thông tin
Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hoá của vật chất
và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người: Các hiện vật, di chỉđược con người phát hiện trong khảo cổ học, giúp chúng ta giải thích được nhiều bí ẩndiễn ra trong quá khứ Khi được khâu nối giữa những sự kiện của hiện tại với quá khứ,con người đã dự đoán được những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai
Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu và báođộng
sớm các hiểm hoạ đối với con người và các sinh vật sống trên Trái Đất Nhiều sinh vật
do phản ứng sinh lý của cơ thể với những biển đổi của điều kiện tự nhiên đã thông báosớm cho chúng ta những sự cố như bão gió, động đất, núi lửa
Môi trường còn lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen,các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quanthiên nhiên để hưởng ngoạn
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lươngthực và tái tạo môi trường Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyênthiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi
2 Ô nhiễm môi trường
Trang 9Hiện nay, thế giới đang đứng trước năm cuộc khủng hoảng lớn đó là : Khủnghoảng về dân số, về lương thực, về năng lượng, về tài nguyên và sinh thái Năm cuộckhủng hoảng này đều liên quan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất lượng cuộcsống của con người có nguy cơ suy giảm Nguyên nhân gây nên các cuộc khủng hoảng
là do sự bùng nổ dân số và các yếu tố phát sinh từ sự gia tăng dân số Biểu hiện củakhủng hoảng môi trường thường là:
- Ô nhiễm không khí (bụi, SO2, CO2 v.v ) vượt tiêu chuẩn cho phép tại các đôthị, khu công nghiệp
- Hiệu ứng nhà kính đang gia tăng làm biển đổi khí hậu toàn cầu Tầng ozon bịphá huỷ
- Sa mạc hoá đất đai do nhiều nguyên nhân như bạc màu, mặn hoá, phèn hoá,khô hạn, nguồn nước bị ô nhiễm
- Ô nhiễm biển xảy ra với mức độ ngày càng tăng
- Rừng đang suy giảm về số lượng và suy thoái về chất lượng Số chủng loàiđộng thực vật bị tiêu diệt đang gia tăng
- Rác thải, chất thải đang gia tăng về số lượng và mức độ độc hại
2.1 Khái niệm
- Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới: Sự ô nhiễm là việc chuyển các chấtthải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây tác hại xấu đến sứckhoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam (2005): “Ô nhiễm môi trường là sự biển đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”
Tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải),rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượngnhư nhiệt độ, bức xạ,…
Chất gây ô nhiễm môi trường là những chất do điều kiện nào đó (tự nhiên haynhân tạo) đưa vào môi trường một lượng lớn chất gây tác hại cho môi trường tự nhiên,cho sinh vật và con người như cháy rừng, bão, lụt, sự phun trào của núi lửa, các chấtphóng xạ Sự ô nhiễm tự nhiên có tính cục bộ từng vùng và qua một thời gian môitrường tự điều chỉnh được Sự ô nhiễm nhân tạo là do các hoạt động của con người gâynên như sản xuất công, nông nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt đô thị các chất gây ônhiễm thải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá giới hạn cho phép nên môitrường không tự làm sạch được, gây ô nhiễm
Trang 10- Chất gây ô nhiễm là những chất, những hỗn hợp chất hoặc những nguyên tốhoá học tác động vào môi trường làm cho môi trường từ trong sạch trở nên độc hại.Chúng được gọi là "chất ô nhiễm" như rác, phế thải rắn; các dung dịch hoá chất, chấtthải của ngành công nghiệp dệt nhuộm, chế biển thực phẩm; chất khí (SO2, CO2, NOx,CO); các kim loại nặng (Cu, Pb, Hg,…) Có thể, có lúc, có nơi có ít chất ô nhiễm,nhưng có lúc, có nơi nhiều chất ô nhiễm Ví dụ, môi trường đất phèn có thể do cáccation Al3+, Fe2+ và cả anion SO42-, Cl- cùng với các chất khí H2S Các chất này đồngthời tác động vào cây trồng, vào cá, tôm làm cho chúng chết Không khí đô thị thườngvừa bị bụi đất, bụi ximặng, khí SO2, NO2 trong khói xe, mùi hôi thối cống rãnh bốc lên,cộng với tiếng ồn, từ trường quá mức cho phép, gây tổn hại sức khoẻ con người, thậmchí gây chết người.
- “Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên"
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng
độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến conngười, sinh vật và vật liệu Để bảo đảm giữ gìn môi trường trong lành, một số tổ chứcquốc tế và nhiều quốc gia đó xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng môi trường
- Luật BVMT năm 2005 : “Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường” Trong đó, các quy chuẩn, các tiêu chuẩn về chất thải và
môi trường xung quanh cần đặc biệt chú ý :
+ Các quy chuẩn về chất lượng môi trường được áp dụng để đánh giá mức độ ônhiễm, kiểm soát ô nhiễm và thanh tra môi trường, đánh giá hiện trạng môi trườngthông qua các trị số quan trắc môi trường thực tế và đánh giá tác động môi trường đốivới các dự án đầu tư và phát triển
+ Các quy chuẩn chất thải được đặt ra nhằm khống chế các chất thải dạng rắn,lỏng, khí và các dạng khác được đưa vào môi trường xung quanh ở những giới hạn chophép tuỳ thuộc vào vị trí không gian và thời gian cụ thể khác nhau
+ Quy chuẩn bổ trợ cho quy chuẩn về phương pháp đo đạc, lấy mẫu, phân tích,thí nghiệm
2.2 Những vấn đề môi trường hiện nay của Việt Nam
- Nguy cơ mất rừng và cạn kiệt tài nguyên rừng đang đe doạ cả nước
Trang 11- Sự suy thoái nhanh chất lượng và diện tích đất canh tác theo đầu người, việc sửdụng lãng phí tài nguyên đất đang tiếp diễn
- Tài nguyên biển, đặc biệt là sinh vật biển ở ven bờ đã bị suy giảm đáng kể, môitrường biển bắt đầu bị ô nhiễm
- Tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, các hệ sinh thái v.v đang được sử dụng không hợp lý, dẫn đến cạn kiệt và làm nghèo tài nguyên thiên nhiên
- Ô nhiễm môi trường, trước hết là môi trường nước, không khí và đất đã xuất hiện
ở nhiều nơi, nhiều lúc đến mức trầm trọng, nhiều vấn đề về vệ sinh môi trường phức tạp
đã phát sinh ở các khu vực thành thị, nông thôn
- Tác hại của chiến tranh, đặc biệt là các hoá chất độc hại đã và đang gây ra nhữnghậu quả cực kỳ nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên và con người
- Việc gia tăng nhanh dân số, sự phân bố không đồng đều và không hợp lý lực lượnglao động giữa các vùng và các ngành khai thác tài nguyên là những vấn đề phức tạpnhất trong quan hệ dân số và môi trường
- Thiếu cơ sở vật chất- kỹ thuật, cán bộ, luật pháp để giải quyết các vấn đề môitrường, trong khi nhu cầu sử dụng hợp lý tài nguyên không ngừng tăng lên, yêu cầu vềcải thiện và chống ô nhiễm môi trường ngày một lớn và phức tạp
2.2.1 Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng
trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự toả mùi, cómùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa (do bụi) Có thể phân loại như sau :
+ Bão bụi gây nên do gió mạnh và bão, mưa bào mòn đất sa mạc, đất trồng và gióthổi tung lên thành bụi Nước biển bốc hơi và cùng với sóng biển tung bọt mang theobụi muối lan truyền vào không khí
+ Các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động, thực vật cũng phát thải nhiều chất khí,các phản ứng hoá học giữa những khí tự nhiên hình thành các khí sunfua, nitrit, các loạimuối v.v
Trang 12- Nguồn nhân tạo:
+ Quá trình đốt nhiên liệu thải ra rất nhiều khí độc đi qua các ống khói của các nhà
máy vào không khí
+ Do bốc hơi, rò rỉ, thất thoát trên dây chuyền sản xuất sản phẩm và trên các đườngống dẫn tải Nguồn thải của quá trình sản xuất này cũng có thể được hút và thổi ra ngoàibằng hệ thống thông gió
+ Các ngành công nghiệp chủ yếu: nhiệt điện; vật liệu xây dựng; hoá chất và phânbón; dệt và giấy; luyện kim; thực phẩm; Các xí nghiệp cơ khí; Các nhà máy thuộcngành công nghiệp nhẹ; Giao thông vận tải;
+ Bên cạnh đó phải kể đến sinh hoạt của con người
2.2.2 Ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môitrường đất bởi các chất ô nhiễm
Theo nguồn gốc phát sinh có: Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt, do chấtthải công nghiệp và do hoạt động nông nghiệp
Theo tác nhân gây ô nhiễm: Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học (phân bón, thuốctrừ sâu), chất thải công nghiệp và sinh hoạt; Do tác nhân sinh học (trực khuẩn lỵ,thương hàn), các loại ký sinh trùng (giun, sán v.v ); Do tác nhân vật lý: Nhiệt độ (ảnhhưởng ), chất phóng xạ (U ran, Thori, Sr 90, I131, Cs137)
Diện tích đất nông nghiệp trên đầu người ngày càng giảm, hiện còn 0,448ha/người, bằng khoảng 1/6 mức trung bình trên thế giới Hiện tượng hoang mạc hoáđang tăng cường kèm theo các quá trình tai biến trường điện như rửa trôi, xói mòn,mặn hoá, phèn hoá, ô nhiễm, bồi tụ không mong đợi, hạn hán, hoang hoá, úng lụt,thoái hoá hữu cơ, xói lở bờ sông, bờ biển
Thoái hoá đất đặc biệt nghiêm trọng ở vùng đồi núi Hiện nay, nhóm đất có vấn
đề của nước ta gồm 1,8 triệu ha đất phèn; 4,8 triệu ha đất bạc màu và xói mòn ở trung
du và miền núi; 0,5 triệu ha đất cát; 2,5 triệu ha đất xám bạc màu thoái hoá
Biểu hiện của suy thoái đất: Mặn hoá thứ sinh do bốc hơi, do tưới; Xói mòn donước và do gió ; Axit hoá thứ sinh : mưa axit hoạt động dinh dưỡng chọn lọc của vị câytrồng, phân khoáng, ôxy hoá pyrit (FeS2) ; Đá ong hoá, karst hoá; Rửa trôi, bạc màu ;Nhiễm mặn ; Cát lấp lũ quét ; Bùng phát cỏ dại
2.2.3 Ô nhiễm môi trường nước
Trang 13Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý, hoá học, sinhhọc của nước, với sự xuất lạ thể hiện ở các chất lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nênđộc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật Xét về tốc độ lantruyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.
Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước,làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp,nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vàomôi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết củachúng
Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếudưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vàomôi trường nước
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước:
ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, hoá chất, sinh học và ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý
Nước bị ô nhiễm xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng ven biển,vùng biển khép kín Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ quá dư thừalàm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hoá được, làm cho hàm lượngoxi trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoáithủy vực Ở các đại dương, nguyên nhân chính gây ô nhiễm là do sự cố tràn dầu
Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại chất thải và nước thải công nghiệpđược thải ra lưu vực các con sông mà chưa qua xử lí đúng mức; các loại phân bón hoáhọc và thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ; nước thải sinh hoạtđược thải ra từ các khu dân cư ven sông gây ô nhiễm trầm trọng, ảnh hưởng đến sứckhỏe của người dân trong khu vực
Môi trường ô nhiễm : Theo kết quả điều tra của Bộ Công thương, trong số 154khu công nghiệp đang hoạt động trên toàn quốc, chỉ có 39 khu công nghiệp có hệ thống
xử lý nước thải tập trung (chiếm 25,3%) Có nghĩa là khoảng 70% trong số hơn mộttriệu mét khối nước thải/ngày không qua xử lý từ các khu công nghiệp được xả thẳng racác nguồn tiếp nhận và gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước mặt
Với mô hình phát triển như hiện nay, thì mức độ gia tăng chất thải sẽ càng lớn,tổn thất phúc lợi xã hội sẽ ngày càng nhiều Chính vì vậy, phát triển kinh tế theo hướngbền vững là rất cần thiết Theo TS Hà Huy Thành, Viện Nghiên cứu môi trường và pháttriển bền vững, để đạt được điều này, chúng ta cần đổi mới tư duy phát triển, chuyển từ
tư duy lấy tăng trưởng, phát triển kinh tế làm trọng tâm sang phát triển hiện đại, an
Trang 14toàn, lâu dài và bền vững Nhà nước cần thiết lập chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tếtheo hướng hình thành và phát triển kinh tế xanh đồng thời ban hành các chính sáchthúc đẩy việc sử dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường Vàtất nhiên để công cuộc phát triển kinh tế bền vững thành công, sự nỗ lực của các cấpchính quyền và mọi người dân là không thể thiếu
2.3 Suy giảm tính đa dạng sinh học trên Trái Đất
Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và
hệ sinh thái trong tự nhiên Đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ:
- Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ
vi khuẩn đến các loài thực, động vật và các loài nấm
- Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài,khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữacác cá thể cùng chung sống trong một quần thể
- Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà ở đó cácloài sinh sống và các hệ sinh thái cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khácbiệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau
2.3.1 Suy giảm tính đa dạng sinh học trên Trái Đất
Trong thế kỷ 20, loài người đã tiêu diệt khoảng 700 loài động, thực vật Nhiềuloài bị tuyệt chủng khi còn chưa được con người biết đến
Từ năm 1600 trước công nguyên đến năm 1900 : trung bình 4 năm mất 1 loài
-Từ năm 1900 đến 1980 : 1 năm mất 1 loài
- Từ năm 1980 đến 2000 : 1 ngày mất 1 loài
- Từ năm 2001 đến 2010 : 1 giờ mất 1 loài
Cho đến cuối thế kỷ 20, loài người đã làm biến mất khoảng từ 20% đến 50% sốloài trên Trái Đất
Suy thoái đa dạng sinh học khiến cho loài người mất dần các nguồn tài nguyênquý giá (lương thực, thực phẩm, dược liệu, nguyên vật liệu, đen, tiện nghi môitrường ) đồng thời phải chống chịu với các tai biến sinh thái ngày càng gia tăng (dịchbệnh gia súc dịch hại cây trồng ) do mất cân bằng sinh thái
Suy thoái đa dạng sinh học trước hết, là do khai thác tài nguyên sinh học quámức Sau đó là do việc chuyển đổi các khu vực hoang dã sang vùng nông nghiệp, xâydựng cơ sở hạ tầng hoặc biến thành vùng trơ trụi Nguyên nhân chính là các vùng
Trang 15hoang dã tuy có giá trị đa dạng sinh học cao nhưng lại là vùng khó sinh lợi trước mắt chocon người
Đa dạng sinh học của các hệ thống nước ngọt và biển cũng đối mặt với sự suygiảm và thoái hoá nghiêm trọng Chịu nhiều ảnh hưởng nhất là các hệ sinh thái nướcngọt vì phải đối mặt với sự ô nhiễm lâu dài và với sự nhập nội nhiều loài ngoại lai Các
hệ sinh thái biển cũng đang phải chịu đựng sự suy giảm của nhiều quần thể loài đơnnhất và những biến đổi sinh thái học quan trọng
Sự suy giảm đa dạng sinh học có nhiều dạng nhưng trong đó phải kể đến sự tuyệtchủng của loài, đó là một quá trình tự nhiên mà không có sự can thiệp của con người.Tuy nhiên, sự tuyệt chủng trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra bởi con người đang xảy ra vớimột tốc độ vượt xa bất kỳ một ước tính nào về tốc độ tuyệt chủng tự nhiên, trong đó sựtuyệt chủng có liên quan đến sự xáo trộn nơi cư trú gia tăng
2.3.2 Nguyên nhân của suy giảm đa dạng sinh học
- Hoạt động của con người là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm loài, quầnthể và hệ sinh thái: trực tiếp (săn bắn, hái lượm, thuần hoá) và gián tiếp (phá huỷ vàbiến đổi nơi cư trú)
+ Khai thác quá mức (săn bắn quá mức, đánh cá quá mức, hoặc thu hoạch quámức) một loài hoặc một quần thể có thể dẫn tới sự suy giảm của loài hoặc quần thể đó
+ Sự phân chia sở hữu đất không hợp lý đã không khuyến khích người nông dânđầu tư vào việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên sinh vật có giá trị
+ Tốc độ gia tăng dân số của loài người: không gian sống, tiêu thụ ngày càngnhiều tài nguyên và tạo ra ngày càng nhiều chất thải.Ô nhiễm do con người gây ra cóthể ảnh hưởng đến mọi cấp độ của đa dạng sinh học
- Sự thay đổi trong thành phần hệ sinh thái như mất hoặc suy giảm của một loài
có thể dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học
Ví dụ, nỗ lực loại trừ chó sói châu Mỹ (nam California) dẫn đến việc giảm sútcác quần thể chim hót trong vùng Khi lượng chó sói giảm sút thì con mồi của chúng,gấu trúc Mỹ sẽ tăng lên Gấu trúc Mỹ ăn trứng chim, nên khi số lượng chó sói ít hơn thì
số lượng gấu trúc ăn trứng chim lại nhiều lên, kết quả là số lượng chim hót sẽ ít đi
- Sự nhập nội các loài ngoại lai có thể phá vỡ toàn bộ hệ sinh thái và ảnh hưởngđến các quần thể động vật hoặc thực vật bản địa Những kẻ xâm chiếm này có thể sửdụng các loài bản địa làm thức ăn hoặc làm nhiễm độc chúng, cạnh tranh với chúnghoặc giao phối với chúng
Trang 16- Biến đổi khí hậu toàn cầu có thể làm thay đổi các điều kiện môi trường Cácloài và các quần thể có thể bị suy giảm nều chúng không thể thích nghi được với nhữngđiều kiện mới hoặc sự di cư.
2.4 Sự suy thoái tài nguyên rừng
Theo TS Lê Hà Thanh, Trường ĐH Kinh tế quốc dân, năm 2010 Việt Nam chỉcòn hơn nửa triệu hécta rừng nguyên sinh phân bố rất rải rác với khả năng phục hồithấp Theo Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT), cuối năm 2010, diện tích rừng toàn quốcđạt khoảng 13.390.000ha với độ che phủ ước đạt 39,5%, thấp hơn nhiều so với mục tiêuđặt ra trong chiến lược bảo vệ và phát triển rừng
Quá trình phát triển kinh tế thực sự đang đe dọa sự tồn tại và phát triển của rừng.Những năm qua, diện tích rừng mất "một cách hợp lý" do khai thác chiếm 34% và diệntích đất rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng lên tới hơn 42% Việc chuyển đổi mụcđích sử dụng chủ yếu nhằm phát triển các loại cây công nghiệp có giá trị như cao su, càphê và đặc biệt là phục vụ ngành thủy điện Điều đáng lo ngại là tốc độ phát triển thủyđiện ngày một gia tăng, số nhà máy thủy điện vừa và nhỏ ngày một nhiều Nếu như năm
2006, cả nước mới có 12 nhà máy thủy điện vừa và nhỏ thì đến năm 2008, cả nước cóthêm 24 nhà máy, số nhà máy được tăng thêm vào năm 2010 là 19.
Quá trình phát triển kinh tế đang xâm lấn rừng
Sự tăng nhanh về dân số và việc khai thác quá mức tài nguyên nước cũng nhưtàinguyên đất và rừng đã làm suy kiệt nguồn nước Theo tính toán, lượng nước mặt bìnhquân đầu người hiện nay trong tổng nguồn nước các con sông của Việt Nam đang thiếunước trầm trọng chỉ khoảng 3.840 m3/người/năm nhỏ hơn 4.000 m3/người/năm theochỉ tiêu đánh giá của Hội Tài nguyên nước quốc tế Với tốc độ phát triển dân số nhưhiện nay, theo dự tính, đến năm 2025, lượng nước mặt bình quân đầu người của các consông Việt Nam chỉ còn khoảng 2.830 m3/người/năm
Trang 17Rừng thu hẹp, nước cạn kiệt, nên tốc độ suy giảm đa dạng sinh học đang gia tăngnhanh chóng dẫu Việt Nam từng được Trung tâm Giám sát bảo tồn thế giới đánh giá làmột trong 16 quốc gia có mức đa dạng sinh học cao nhất thế giới 70% dân số Việt Nam
có sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên đa dạng sinh học và trên thực tế, hoạt động khaithác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép diễn ra ngày càng mạnh mẽ và không thể kiểmsoát đối với tất cả loại rừng Bởi thế, không lạ là gần nghìn loại động, thực vật hoang dãtrong thiên nhiên của nước ta đang bị đe dọa và nhiều loài sinh vật quý hiếm khác đã,đang ngày một hiếm
Mỗi năm nước ta mất đi từ 120.000 - 150.000 ha rừng tự nhiên Rừng trồng mỗi năm đạt khoảng 200.000 ha Từ năm 1990 đến nay, chiều hướng suy thoái tài nguyên lừng vẫn chưa được đảo ngược Chủ trương "Đóng cửa rừng tự nhiên" và Chương trình
"Trồng 5 triệu ha rừng đến 2010" là chiến lược quyết tâm cao của Chính phủ nước tatrong việc phục hồi vốn rừng
Để ngăn chặn sự gia tăng suy thoái rừng cần thực hiện :
- Thành lập các khu vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên để bảo vệrừng và các loài động thực vật hoang dã
- Thực hiện chương trình phục hồi và phát triển rừng, phủ xanh đất trống đồitrọc Phát triển trồng cây xanh trong đô thị và dọc các tuyến giao thông
- Quản lí tài nguyên rừng hiện có và trồng rừng mới Nâng cao hiệu suất sửdụng củi đốt Thâm canh cây công nghiệp và tạo việc làm mới để phát triển nông thụn,giảm sức ép của sản xuất nông nghiệp đối với các đất rừng còn lại Việc bảo vệ rừngphải đi đôi giữa bảo tồn, phục hồi với trồng rừng và quản lí buôn bán gỗ nhằm pháttriển bền vững tài nguyên rừng
2.5 Một số biện pháp chống ô nhiễm môi trường
Các biện pháp phòng ngừa
- Quản lý chất thải
- Thay thế các chất ô nhiễm bằng các chất không gây hay ít gây ô nhiễm
- Tìm kiếm công nghệ không có chất thải
Biện pháp lí tưởng nhất trong việc chống ô nhiễm môi trường là thay thế cáccông nghệ hiện hành bằng các công nghệ mới không sản sinh ra chất thải
Xử lý các chất ô nhiễm
- Chống ô nhiễm không khí bởi bụi, các khí thải và động cơ đốt trong, các chấtCFC, các oxit của nitơ, các khí cacbonoxit, khí của lưu huỳnh
Trang 18- Chống ô nhiễm nguồn nước bởi các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, kim loạinặng, photphat, nitrat, xianua, các chất tẩy rửa, thuốc bảo vệ thực vật
Bản chất của việc xử lý chống ô nhiễm môi trường là xử lý các chất gây ô nhiễmngay từ nguồn phát sinh trưóc khi đưa chúng vào môi trường, bằng cách đó duy trì nồng
độ của các chất ô nhiễm ở mức cho phép
Các biện pháp xử lý các chất ô nhiễm môi trường: công nghệ xử lý khí thải, xử
lý nước bị ô nhiễm, xử lý chất thải rắn
3 Biển đổi khí hậu toàn cầu và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
3.1 Biển đổi khí hậu
3.1.1 Khái niệm
Biển đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷquyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tựnhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định từ tính bằng thập kỷ hay hàng triệunăm Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bố các sựkiện thời tiết quanh một mức trung bình Sự biển đổi khí hậu có thế giới hạn trong mộtvùng nhất định hay có thế xuất hiện trên toàn Địa Cầu
Những ảnh hưởng có hại của biển đổi khí hậu: đó là những biển đổi trong môitrường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khảnăng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên hoặc đến hoạt động của các
hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.(Theo công ướcchung của LHQ về biển đổi khí hậu)
Quá trình biến đổi khí hậu diễn ra từ từ, khó bị phát hiện, không thể đảo ngượcđược Quá trình này diễn ra trên phạm vi toàn cầu, tác động đến tất cả các châu lục, ảnhhưởng đến tât cả các lĩnh vực của sự sống (động vật thực vật, đa dạng sinh hoc, cảnhquan, môi trường sống… ) Cường độ biến đổi khí hậu ngày một tăng và hậu quả ngàycàng nặng nề khó lường trước Đây là nguy cơ lớn nhất mà loài người phải đối mặttrong lịch sử phát triển của mình
Biển đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí
nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối,rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Chính con người với các ứng dụngkhoa học kỹ thuật đã bổ sung thêm một khối lượng các khí nhà kính đã có và những khínhà kính hoàn toàn mới
Biến đổi khí hậu không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội: Đó là theo đuổi một
lộ trình tăng trưởng kinh tế cacbon thấp nhờ chuyển giao công nghệ, sử dụng các cơ chế
Trang 19tài chính sáng tạo như CDM (cơ chế phát triển sạch), bán quyền phát thải khí nhà kínhcho các nước công nghiệp phát triển, tìm kiếm tài trợ quốc tế cho các chương trình bảo
vệ và phát triển rừng…Biến đổi khí hậu còn là cơ hội cho kinh tế biển phát triển nếu cóquy hoạch đúng đắn (vận tải biển, dịch vụ hàng hải, du lịch biển…),…
3.1.2 Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu Trái Đất
- Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống củacon người và các sinh vật trên trái đất
- Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đấtthấp, các đảo nhỏ trên biển
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khácnhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe doạ sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái
và hoạt động của con người
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuầnhoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phầncủa thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển
3.1.3 Tác nhân dẫn đến biến đổi khí hậu
-.Quá trình tự nhiên do tương tác và vận động giữa Trái Đất và vũ trụ
- Những yếu tố không phải là khí hậu nhưng ảnh hưởng đến khí hậu: Tác độngcủa CO2 ; Bức xạ mặt trời; Động đất và núi lửa
- Các yếu tố khác
- Tác động của hoạt động con người: Sử dụng nhiên liệu hóa thạch(Fossil fuels)
Sử dụng phân bón, Các loại hóa chất phục vụ cho trồng trọt và sinh hoạt, thuốc trừ sâu;Khai thác sử dụng đất, rừng, chăn nuôi gia súc Khai thác và sử dụng tài nguyên nước.Chiến tranh…
3.2 Một số hiện tượng của sự biến đổi khí hậu
3.2.1 Sự suy giảm tầng ozon và các tác hại
Ở một số vùng của tầng ozon nồng độ ozon bị giảm, đặc biệt ở Nam cực và Bắccực Nồng độ ozon giảm sẽ gây tác hại to lớn cho sự sống trên Trái Đất Hiện tượng nàygọi là sự suy giảm tầng ozon Sự suy giảm tầng ozon đã trở thành một mối quan tâmtoàn cầu, dẫn đến việc công nhận Nghị định thư Montreal hạn chế và cuối cùng chấm
dứt hoàn toàn việc sử dụng và sản xuất các hợp chất cacbon của clo và flo (CFC
Trang 20-chlorofluorocacbon) cũng như các chất hóa học gây suy giảm tầng ozon khác như
tetraclorua cacbon, các hợp chất của brom và methylchloroform
Sự suy giảm ozon thay đổi tùy theo vùng địa lý và tùy theo mùa Sự suy giảmtầng ozon được gây ra bởi các khí thải CFC, sẽ tạo điều kiện cho các bức xạ cực tímđến mặt đất nhiều hơn
Và cường độ gia tăng của các bức xạ cực tím đang bị nghi ngờ là nguyên nhângây ra nhiều hậu quả trong sinh học như gia tăng các khối u ác tính, tiêu hủy các sinhvật phù du trong tầng có ánh sáng của biển
Sự nhiễm bệnh của cây trồng
Người ta ước tính trong thời gian vừa qua mức suy giảm tầng ozon trung bìnhtoàn cầu là 5% và số lượng suy giảm ngày càng tăng do phân hủy ozon vượt quá khảnăng tái tạo lại
Tầng ozon bị phá hủy sẽ làm cho một lượng lớn bức xạ tử ngoại có thể đixuống Trái Đất, làm tổn hại đến đời sống của con người và động thực vật Bức xạ tửngoại đi xuống Trái Đất sẽ xúc tác mạnh các quá trình quang hoá ở các tầng khí quyểnthấp hơn; làm tăng hiện tượng mưa axit, tạo thành khói quang hóa; tăng nhiều bệnh vềđường hô hấp…
Các nhà khoa học đó ghi nhận được là 40% lượng ozon của tầng ozon ở các cựccủa Trái Đất bị suy giảm là do con người đó sử dụng quá nhiều các chất CFC, CO, CH4,
NOx, Cl2, HCl
- Nghị định thư Montreal hạn chế và cuối cùng chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng
và sản xuất các hợp chất CFC và Halon vào năm 1996 và chất HCFC vào năm 2020 Đốivới các nước đang phát triển như nước ta sẽ được ưu đãi sử dụng các chất CFC và Halonđến năm 2010 và chất HCFC đến năm 2040
Trang 21- Giảm ô nhiễm không khí do xe cộ và các thiết bị khác khi hoạt động xả khí thảivào môi trường
- Tiết kiệm năng lượng, nước trong nhà và nơi làm việc
- Sử dụng ánh sáng tự nhiên trong nhà và nơi làm việc nếu có thể
- Tận dụng phương tiện giao thông công cộng hơn là dùng xe máy cá nhânhoặc taxi nếu có thể Thỉnh thoảng đi xe đạp hoặc đi bộ đến nơi làm việc
- Khi mua các sản phẩm gia dụng, nhất là các loại dùng trong bình xịt, tìm loạighi trên nhãn “không có CFC
- Sơn nhà, nên sơn bằng cách quét hoặc lăn, không dùng cách phun sơn
- Giảm dùng các bao bì bằng nhựa xốp Nếu có sẵn, nên tận dụng nhiều lần Trong thập kỷ 90, mỗi năm Việt Nam tiêu thụ khoảng 500 tấn CFC, 4 tấn holon vàgần 400 tấn metyl bromua - những chất gây suy giảm tầng ozonn Song nhờ những nỗ lựcgiảm thiểu cho đến thời điểm từ 1/1/2010 toàn bộ các chất nhóm CFC sẽ bị cấm nhậpkhẩu vào Việt Nam
Khả năng phục hồi của tầng ozon:
Theo Nghị định thư Montreal với sự tham gia của 191 quốc gia, các sản phẩmthải CFC đã bị loại bỏ vào năm 1996 trên toàn thế giới Quan sát trong vài năm vừa quacho thấy sự suy thoái tầng ozon đã bị ngăn chặn trên diện rộng có khả năng phục hồihoàn toàn Theo nghiên cứu mới, biến đổi khí hậu ở bán cầu Nam cũng sẽ có khả năngphục hồi
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) cho thấy tầng ozon sẽ có khả năng phục hồi nhờ những nỗ lực của con người nhằm hạn chế lượng khí phát thải gây suy giảm tầng ozon và nhờ gió khí quyển Theo các số liệu của NASA mặc dù lỗ thủng tầng ozon trên bầu trời Nam Cực vẫn không ngừng rộng ra và hiện đã tới 24 triệu km2, nhưng toàn bộ tầng ozon của Trái Đất
đã ngừng suy giảm trong suốt 9 năm qua, sớm hơn rất nhiều so với những tính toán khoa học dựa theo tiến độ giảm các loại khí CFC phá hoại tầng ozon trong 20 năm qua
Các nhà khoa học đã xác định sự phục hồi tầng ozon trên tầng thượng của tầng bình lưu của khí quyển có thể hoàn toàn nhờ vào việc giảm lượng khí CFC thải vào khí quyển
Nhưng ở tầng hạ của tầng bình lưu, sự phục hồi của tầng ozon phụ thuộc vào cácloại gió khí quyển lưu chuyển khí ozon, được tạo ra ở độ cao thấp trên khu vực xíchđạo nên các khu vực ở vĩ độ cao hơn, là nơi khí ozon bị phá hoại
Trang 22Các mô hình máy tính đã khẳng định quá trình này và dự báo tầng ozon của Trái đất sẽ được khôi phục lại mức như năm 1980 trong khoảng thời gian từ năm 2030 đến năm 2070 Vào thời điểm này, lỗ thủng tầng ozon ở Nam Cực cũng được lấp đầy
3.2.2 Hiệu ứng nhà kính (Green house effect)
Trái Đất là hành tinh có sự sống là do có khí quyển bao quanh Lớp không khínày đảm bảo sự cân bằng nhiệt giữa năng lượng Mặt Trời chiếu xuống Trái Đất và nănglượng bức xạ nhiệt của Trái Đất vào vũ trụ, làm cho nhiệt độ trung bình trên Trái Đấtkhoảng +15oC Hiện tượng này gọi là Hiệu ứng nhà kính tự nhiên Hiệu ứng nhàkính tự nhiên có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với Trái Đất, nó duy trì nhiệt độ thích hợpcho sự sống và cân bằng sinh thái; bảo đảm hoạt động cho các vùng tuần hoàn trong
tự nhiên
Hiệu ứng nhà kính
Bức xạ nhiệt của Mặt Trời là bức xạ sóng ngắn dễ dàng xuyên qua tầng ozon và
lớp CO2 trong khí quyển chiếu xuống Trái Đất Ngược lại, bức xạ nhiệt phát vào vũ trụ
là bức xạ sóng dài, không có khả năng xuyên qua lớp khí CO2 dày và bị hấp thụ lại làmcho nhiệt độ của khí quyển bao quanh Trái Đất tăng lên Lớp khí CO2 có tác dụng nhưmột lớp "kính giữ nhiệt" của Trái Đất ở quy mô toàn cầu Nếu CO2 sinh ra trên toàn cầucàng lớn thì lớp "kính giữ nhiệt" càng dày, nhiệt độ của Trái Đất tăng lên gây ảnhhưởng đến sinh thái
Mô phhỏng hiện tượng hiệu ứng nhà kính
Các tác nhân gây hiệu ứng nhà kính CO2, CH4, NO2, CO, CFC, trong đó CO2 cóvai trò chính
Ảnh hưởng của sự ô nhiễm môi trường lên hiệu ứng nhà kính
Bức xạ nhiệt phản xạ từ Trái Đất là dạng sóng dài, bị hấp thụ bởi một số thànhphần của khí quyển, gọi là khí nhà kính, đặc biệt là là CO2, hơi nước và một số khí khác
Trang 23như CH4, CFC, O3, N2O… Nếu lượng khí này tăng lên thì lượng nhiệt bị giữ lại trong khíquyển (giống như trong nhà kính) sẽ tăng lên, làm nhiệt độ của Trái Đất tăng lên
Trong thời gian qua, các hoạt động nhân tạo đã thải vào khí quyển một lượng rấtlớn các khí ô nhiễm, làm thay đổi thành phần của khí quyển, tăng hàm lượng các khínhà kính, dẫn đến sự gia tăng quá mức hiệu ứng nhà kính, trong khi năng lượng MặtTrời đến Trái Đất thì không đổi còn năng lượng phản xạ từ Trái Đất lại bị chuyển dịch, làmtăng nhiệt độ của Trái Đất trên quy mô toàn cầu
Người ta ước tính hằng năm con người đưa vào khí quyển khoảng 2,5.1013
tấn CO2, tuy nhiên khoảng một nửa số đó đó được thực vật và đại dương hấp thụ, phầncòn lại sẽ lưu tồn trong khí quyển, chủ yếu lưu ở tầng đối lưu Nhiều nghiên cứu chothấy tỉ lệ ảnh hưởng đến sự gia tăng hiệu ứng nhà kính của các khí nhà kính tự nhiên vànhân tạo như sau: CO2 50%; CFC 17%; CH4 13%; O3 7%, N2O 5% Trong đó CO2 và hơinước tập trung ở tầng đối lưu, các khí còn lại chủ yếu ở tầng bình lưu
Ảnh hưởng của sự gia tăng hiệu ứng nhà kính
- Nhiệt độ Trái Đất tăng lên sẽ là nguyên nhân làm tan lớp băng ở Bắc cực vàNam cực, làm cho mực nước biển dâng cao gây lũ lụt
Nhiệt độ nước ở các biển và đại dương ấm lên
là nhân tố tiếp thêm sức mạnh cho các cơn bão
- Nhiệt độ Trái Đất tăng đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc có nguy
cơ tuyệt chủng Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủngvào năm 2050 nếu nhiệt độ Trái Đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 độ C nữa
- Nhiệt độ Trái Đất tăng làm giảm khả năng hoà tan CO2 trong nước biển, lượng
CO2 trong khí quyển tăng làm mất cân bằng CO2 giữa khí quyển và đại dương
- Nhiệt độ tăng sẽ dẫn đến sự tăng tốc độ bốc hơi nước, dẫn đến những thay đổi
Trang 24trong tuần hoàn gió, ảnh hưởng đến lượng mưa trên toàn cầu, sẽ tác động đến hệ thựcvật, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, cùng chính là một trong các nguyên nhâncủa hiện tượng El Nino và La Nina.
- Nhiệt độ bề mặt Trái Đất tăng, làm tăng các quá trình chuyển hoá sinh học, gây nên sự mất cân bằng về lượng và chất trong cơ thể sống, tăng bệnh tật cho người
và động vật
- Nhiệt độ Trái Đất tăng làm chuyển dịch các vùng sinh thái trên Trái Đất
- Nhiệt độ tăng sẽ làm tăng tốc độ của nhiều quá trình hóa học, làm thay đổi cânbằng tự nhiên, giảm tuổi thọ của các công trình kiến trúc; xây dựng
Các biện pháp để giảm trừ hiệu ứng nhà kính
- Giảm lượng khí thải hoặc phải đạt tiêu chuẩn nhả khói của hệ thống phương tiệngiao thông dùng động cơ nổ
- Trồng nhiều cây xanh nhằm làm giảm lượng khí CO2 trong bầu khí quyển,
- Hãy tiết kiệm điện bằng cách sử dụng ánh sáng tự nhiên, dùng bóng đèn tiết kiệmđiện, tắt hết các thiết bị điện khi ra khái phòng
- Sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, đi học bằng xe đạp nhằm bảo
vệ môi trường
- Không sử dụng bếp than hay bếp dầu, sử dụng bếp gas tốt cho môi trường
- Hãy dùng Hàng Việt Nam chất lượng cao
- Hãy tiết kiệm giấy, tái chế bao nilông, vỏ chai nhựa sẽ giúp bảo vệ môi trường
và giảm khí CO2 trong quá trình sản xuất
3.2.3 Mưa axit
Mưa thường được coi là quá trình tự làm sạch phổ biển nhất của môi trường
không khí, nhờ mưa mà bụi và các chất gây ô nhiễm có thể được tự loại ra khái khí quyển.Nước mưa cũng hoà tan một phần khí CO2 của khí quyển nên có môi trường axit yếuvới pH khoảng 6 - 6,5, đây là hiện tượng mưa tự nhiên Khi trong nước mưa có độ pH <5,6 thì được gọi là mưa axit
Nguyên nhân
- Do trong không khí bị ô nhiễm bởi các oxit axit như NOx, SO2, HCl Các khínày tham gia các phản ứng quang hóa, phản ứng với các gốc tự do có trong khí quyểntạo thành các sản phẩm, những sản phẩm đó khi gặp nước trong khí quyển sinh ra cácaxit như HNO3, HNO2, H2SO3, H2SO4,HCl làm thành các giọt nước mang tính axit
Trang 25- Sự hoà tan khí SO2 vào nước mưa, khi rơi xuống ao hồ sông ngòi gây tác hạiđến sinh vật trong nước Khí SO2 có nguồn tự nhiên chỉ chiếm khoảng 1/10 so vớinguồn gốc nhân tạo (từ những hoạt động công nghiệp, giao thông )
- Sử dụng nhiên liệu hóa thạch để phát điện đã thải vào không khí một lượng lớn
NOx
- Do con người như chặt phá rừng bừa bãi, đốt rác, phun thuốc trừ sâu Khoảng80% oxit SO2 là do hoạt động của các thiết bị tạo năng lượng, 15% do hoạt động đốtcháy của các ngành công nghiệp khác nhau, và 5% từ các nguồn khác
Chu trình tạo mưa axit
Tác hại và lợi ích đáng kể của mưa axit
- Nguy hại đến môi trường sống, trong xây dựng, trong bảo tồn di tích lịch sử
- Ảnh hưởng xấu tới các thuỷ vực (ao, hồ), các sinh vật trong hồ, ao suy yếuhoặc chết hoàn toàn
- Làm tăng độ chua của đất, hoà tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho câynhư canxi (Ca), magie (Mg), làm suy thoái đất, cây cối kém phát triển, làm khả năngquang hợp của cây giảm, cho năng suất thấp
- Mưa chứa axit H2SO4 làm giảm phát thải khí metan từ những đầm lầy, nhờ đóhạn chế hiện tượng Trái Đất nóng lên
- Mưa axit làm cân bằng hệ sinh thái rừng: Sự thiếu vắng các trận mưa axit cũng
có thể gây ra nhiều vấn đề với môi trường.Vì lượng cacbon đioxit ngày càng tăng trongsông suối là loại khí gây ra quá trình axit hoá ở các nguồn nước tinh khiết
Trang 26- Nâng cao chất lượng nhiên liệu hóa thạch bằng cách loại bỏ triệt để lưu huỳnh
và nitơ có trong dầu mỏ và than đá trước khi sử dụng
- Đối với các phương tiện giao thông, tiến hành cải tiến các động cơ theo các tiêuchuẩn EURO để đốt hoàn toàn nhiên liệu, gắn hộp xúc tác để khử NOx và SO2 nhằmhạn chế đến mức thấp nhất lượng khí thải ra
- Tìm kiếm và thay thế dần các nhiên liệu hóa thạch bằng các nhiên liệu sạchnhư hiđro, sử dụng các loại năng lượng tái tạo thân thiện với môi trường
3.2.4 Cháy rừng
Nhiệt độ tăng cao, đất đai khô cằn và nhiều cánh rừng lớn biến thành tro bụi những hiện tượng bất thường này không còn bó hẹp ở một số quốc gia hay khu vực màđang xảy ra hầu khắp trên thế giới Từ vùng rừng Taiga ở Sibérie của Nga đến khu rừng Rockies rộng lớn ở Canada, miền Nam California (Mỹ), Australia và Việt Nam, cácnhà khoa học đã tìm thấy những bằng chứng rõ ràng cho thấy tình trạng cháy rừng trànlan hiện nay có nguồn gốc từ sự biến đổi khí hậu
- Tác động của biến đổi khí hậu đến cháy rừng
Khí hậu ấm lên, làm quá trình tan chảy băng diễn ra sớm hơn và hậu quả là mùa
hè trở nên khô hanh hơn, là yếu tố chính dẫn đến hàng loạt các vụ cháy rừng trên diện
rộng Tuyết bắt đầu tan sớm vào mùa xuân trong khi lượng mưa ngày một giảm Sựkết hợp này là điều kiện thuận lợi để cháy rừng xảy ra trên phạm vi rộng hơn
Ngoài những dữ liệu về nhiệt độ, lưu lượng dòng chảy và mức độ tan chảy băng,các nhà nghiên cứu cũng khảo sát sự thay đổi tập quán canh tác đất trồng và quản lýrừng nhưng nhận thấy đây là các yếu tố thứ yếu làm tăng đột biến các vụ cháy rừng.Các nhà chuyên môn thừa nhận cháy rừng vẫn là một hiện tượng phức tạp và ở nhiềukhu vực trên thế giới con người vẫn là tác nhân chính, chẳng hạn như nông dân đốtrừng làm nương rẫy hay những kẻ cố ý gây hỏa hoạn Trong khi đó, các yếu tố kháccũng có xu hướng làm tăng nguy cơ cháy rừng Thời tiết ấm lên ở phương Bắc cũngkích thích sự hình thành sấm sét, tác nhân quan trọng gây cháy
Theo Johann Goldammer - giám đốc Trung tâm theo dõi cháy rừng toàn cầu
Trang 27thuộc Đại học Freiburg (Đức), các khu rừng ở Bắc bán cầu có thể có mối quan hệ quyếtđịnh đến số phận của môi trường toàn cầu do rừng và đất rừng ở đây có chứa than bùnchiếm khoảng 1/3 lượng carbon tích trữ trong Trái Đất Các đám cháy rừng và than bùngiải phóng cacbon đioxit vào khí quyển, thúc đẩy quá trình ấm lên của khí hậu và khi đó
sẽ gia tăng các vụ cháy rừng Goldammer cảnh báo rừng ở phương Bắc đang đối mặtvới quả bom cacbon và quá trình kích hoạt bom nổ đã bắt đầu
Như vậy biến đổi khí hậu và cháy rừng tác động qua lại với nhau: các đám cháyrừng thải một lượng cacbon đioxit vào khí quyển làm Trái Đất nóng dần lên, khí hậu ấmdần lên lại tác động các đám cháy rừng diễn ra nhiều hơn
Việt Nam
Năm 2011, trên địa bàn toàn quốc đã xảy ra 237 vụ cháy rừng và tổng diện tíchrừng bị thiêu rụi là 1743,64 ha Sáu tháng đầu năm 2012, số vụ cháy có xu hướng tăngcao với 208 vụ, gây thiệt hại ngày càng nghiêm trọng cho môi trường và môi sinh
(Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn )
Cháy rừng ở Vườn quốc gia Hoàng Liên
Nguyên nhân:
- Do nhiệt độ cao kỷ lục và là lỗi của con người và trong điều kiện nóng bấtthường lửa lan với tốc độ nhanh chóng
Trang 28Ví dụ ngày 02/05/2012 nhiều khu vực đất rừng và nông nghiệp của Việt Nam đã
bị lửa bao chùm Lửa gây tổn thất cho:
+ 6 ha rừng tại xã Yên Lư (tỉnh Bắc Giang)
+ 12 ha rừng ở tỉnh Hà Giang, các đám cháy rừng xuất hiện ở Quảng Ngãi.Tình trạng cháy rừng xảy ra rất gay gắt ở khu vực Tây Bắc như Yên Bái, Sơn La,Lai Châu, Điện Biên
- Do hoạt động sản xuất của con người
- Diễn biến thời tiết khí hậu ngày càng phức tạp và khó lường ở Việt Nam đã vàđang là những nguy cơ tiềm ẩn về cháy rừng và cháy lớn ngày càng trở nên nghiêmtrọng hơn
Thống kê sơ bộ cho thấy, từ đầu năm đến nay đã xảy ra 164 vụ cháy rừng, gâythiệt hại 765 ha Tuy nhiên, số vụ rừng cháy sẽ còn tăng nhanh Tại Yên Bái, các vùngcháy liên tục, cứ chữa cháy chỗ này xong chỗ khác lại bùng phát, nhất là ở Trạm Tấu(Yên Bái), Sình Hồ (Lai Châu), các bản Mù, Công
Cháy rừng cùng với lũ quét, lũ ống xảy ra đã gây hậu quả thiệt hại ước tính hàngtrăm tỷ đồng mỗi năm Ngoài ra còn làm tổn hại đến tính mạng và tài sản của conngười, phá vỡ cảnh quan, tác động xấu đến an ninh quốc phòng và đặc biệt là làm giảmtính đa dạng sinh học Cũng theo số liệu báo cáo, hiện Việt Nam có khoảng trên 6 triệu
ha rừng dễ cháy, bao gồm rừng thông, rừng tràm, rừng tre nứa, rừng bạch đàn, rừngkhộp, rừng non khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và rừng đặc sản
Cách khắc phục:
Nhằm hạn chế những tác động chủ quan do con người gây ra và góp phần vàoviệc bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học, thời gian qua, bên cạnh công tác quản lý,quy hoạch rừng; thực hiện giao rừng cho cộng đồng dân cư, tập thể, cá nhân với nhữngquy chế, ký kết hợp đồng ràng buộc để quản lý và bảo vệ tốt tài nguyên rừng, các địaphương có rừng đã rất chú trọng tới công tác phòng chống cháy rừng như tiến hành đẩymạnh các biện pháp lâm sinh, xây dựng hồ chứa nước, xây dựng hệ thống chòi canhphát hiện cháy rừng, báo động khi xảy ra cháy rừng…Tuy nhiên, hiệu quả thu được từcác biện pháp này không cao, thể hiện ở số vụ cháy rừng vẫn đang ngày một tăng vàthiệt hại ngày càng nghiêm trọng
3.2.5 Lũ lụt - hạn hán
Bão
Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình thời tiết cực trị
Ở Việt Nam, thuật ngữ "bão" thường được hiểu là bão nhiệt đới, là hiện tượng
Trang 29thời tiết đặc biệt nguy hiểm chỉ xuất hiện trên các vùng biển nhiệt đới
Bão là hiện tượng gió mạnh kèm theo mưa rất lớn do có sự xuất hiện và hoạtđộng của các khu áp thấp (low pressure area) khơi sâu
Bão có nhiều tên gọi khác nhau tuỳ vào khu vực phát sinh:
o Bão hình thành trên Đại Tây Dương: hurricanes
o Bão hình thành trên Thái Bình Dương: typhoons
o Bão hình thành trên Ấn Độ Dương: cyclones
Lũ là hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định, sau đógiảm dần Là hiện tượng dòng nước do mưa lớn tích luỹ từ nơi cao tràn về dữ dội làmngập lụt một khu vực hoặc một vùng trũng, thấp hơn
Nếu mưa lớn, nước mưa lại bị tích luỹ bởi các trướng ngại vật như đất đá, cây cối cho đến khi lượng nước vượt quá sức chịu đựng của vật chắn, phá vỡ vật chắn, ào xuống cấp tập (rất nhanh), cuốn theo đất đá, cây cối và quét đi mọi vật có thể quét theo dòng chảy thì được gọi là lũ quét (hay lũ ống), thường diễn ra rất nhanh, khoảng 3-6 giờ
Lũ quét được hình thành bởi một lượng mưa có cường độ lớn, kéo dài trên một khu vực nào đó Lượng mưa hình thành dòng chảy trên mặt đất và các dòng chảy được tập trung cùng nhau sinh ra một dòng chảy với lưu lượng và vận tốc rất lớn, chúng có thể cuốn tất cả nhưng gì có thể trên đường đi qua, đó chính là mối nguy hiểm tiềm tàng của lũ quét
Các nhân tố tác động trực tiếp hình thành lũ quét: điều kiện khí tượng, thuỷ văn(cường độ mưa, thời gian mưa, lưu lượng và mực nước trên các sông, suối…) và điềukiện về địa hình (phân bố địa hình, đặc điểm thổ nhưỡng, độ dốc lưu vực, độ dốc lòngsông, suối )
Ảnh hưởng:
- Thiếu nước sạch, lương thực, nơi ở
- Nguy cơ bị dịch bệnh tăng cao
- Về kinh tế : phá huỷ hàng chục ngàn ha lúa, màu và cây lương thực bị hư hại,gia cầm, gia súc bị chết; hàng ngàn nhà cửa, kho tàng trường học bệnh viện bị đổ trôi; hàng trăm ngàn m3 đất giao thông thuỷ lợi bị trôi, hàng chục công trình giao thông, thuỷ lợi nhỏ bị xuống cấp hoặc hư hỏng Thiệt hại về kinh tế lên đến hàng trăm
tỉ đồng Đây là những thiệt hại không nhỏ đối với nền kinh tế xã hội, hơn nữa các thiệt hại đó lại tập trung chủ yếu ở những vùng cao, vùng sâu, nơi trình độ dân trí cũng như
Trang 30kinh tế còn thấp
- Thiệt hại to lớn về người, của đối với một bộ phận nhân dân thuộc vùng sâu, vùng
xa mà đại bộ phận là thuộc nhóm dân tộc thiểu số
Biện pháp khắc phục và phòng ngừa bão-lũ:
- Biện pháp khắc phục:
+ Di dời nhanh chóng người và của ra khỏi khu vực của bão-lũ Thành lập các đơn
vị xung kích cứu nạn để sẵn sàng làm nhiệm vụ giúp dân sơ tán, tìm kiếm, cứu trợ, cấp cứungười bảo vệ tài sản trong thời gian có lũ quét
+ Thực hiện khẩn trương công tác tìm kiếm , cứu nạn người dân và tài sản ra khỏikhu vực bão-lũ Đảm bảo không có người dân nào bị đói, thiếu nước sạch, chổ ở…
- Biện pháp phòng ngừa
Để góp phần phát triển bền vững, trong chiến lược phòng chống và giảm nhẹthiên tai lâu dài của Việt Nam, chiến lược phòng chống lũ quét phải nhằm thực hiện cácmục tiêu : Giảm tổn thất về người, sinh mạng ; Giảm thiệt hại của cải vật chất của xã hội;Giảm sự ngừng trệ về sản xuất, nhanh chóng phục hồi sản xuất, ổn định đời sống của nhândân; Giảm sự nguy cơ ngày càng gia tăng mức độ của lũ quét
+ Tuyên truyền giáo dục về lũ và lũ quét, mở các lớp tập huấn cho nhân dân vềcách thức phòng chống khi bão-lũ xảy ra
+ Xây dựng củng cố hệ thống giao thông thuỷ lợi: cải tạo hệ thống kênh rạch,sông suối nhằm cải thiện dòng chảy, hạn chế các tác hại của lũ Mở rộng khẩu độ cầucống, bố trí cầu và các công trình điều tiết phòng tránh lũ quét; Làm đập kiểm soát trên cácsông, suối thường xảy ra lũ quét
+ Nghiên cứu thực trạng lũ - lũ quét để làm cơ sở xác định nơi và thời điểm xuấthiện lũ quét để bước đầu xác định các khu vực trọng điểm cần ưu tiên nghiên cứu
+ Áp dụng mô hình dự báo để dự báo và cảnh báo lũ quét, ngoài ra các phươngtiện thông tin đại chúng cũng không nằm ngoài cuộc nhằm góp phần vào công tác cảnh báo
và hướng dẫn dân chúng cách tránh và thoát khỏi những vùng có lũ quét một cách rất hiệuquả
+ Khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo cânbằng sinh thái ở mức cao
+ Chủ động phòng tránh thiên tai và các sự cố môi trường gây ra do lũ quét Cụ thể: phải bảo vệ và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, rừng, khoáng sản); phân vùng nhằm phòng tránh lũ quét (phân vùng đất, cải tạo các dòng
Trang 31sông ), lồng ghép các nghiên cứu về kinh tế - xã hội và môi trường trong hoạch định biện pháp phòng tránh cũng như giảm nhẹ thiệt hại do lũ quét, tăng cường hoạt động quản lý và dự báo lũ quét (như: tăng cường nguồn nhân lực, kiện toàn bộ máy, bồi dưỡng nghiệp vụ năng lực kỹ thuật cho cán bộ làm công tác phòng chống lụt bão, dự báo KTTV), xây dựng các chính sách về lũ quét, các chương trình phòng chống lũ quét
Nguyên nhân:
- Nguyên nhân khách quan:
+ Do khí hậu thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường xuyên ít ỏi hoặcnhất thời thiếu hụt
+ Mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể trong thời gian dài hầu như quanh năm, đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khô hạn và bán khô hạn
+ Lượng mưa trong khoảng thời gian dài đáng kể thấp hơn rõ rệt mức trung bìnhnhiều năm cùng kỳ Tình trạng này có thể xảy ra trên hầu khắp các vùng, kể cả vùngmưa nhiều
+Mưa không ít lắm, nhưng trong một thời gian nhất định trước đó không mưa hoặc mưa chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của sản xuất và môi trường xung quanh Đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khí hậu gió mùa, có sự khác biệt rõ rệt về mưa giữa mùa mưa và mùa khô Bản chất và tác động của hạn hán gắn liền với định loại về hạn hán
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Do con người gây ra, trước hết là do tình trạng phá rừng bừa bãi làm mất nguồnnước ngầm dẫn đến cạn kiệt nguồn nước
+ Việc trồng cây không phù hợp, vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước(lúa) làm cho việc sử dụng nước quá nhiều, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước
Trang 32+ Công tác quy hoạch sử dụng nước, bố trí công trình không phù hợp, làm chonhiều công trình không phát huy được tác dụng, chưa được hiện đại hóa và không phù hợp
+ Do không đủ nguồn nước và thiếu những biện pháp cần thiết để đáp ứng nhucầu sử dụng ngày càng gia tăng
+ Do sự phát triển kinh tế-xã hội ở các khu vực, các vùng chưa có quy hoạch hợp
lý hoặc quy hoạch phát triển không phù hợp với mức độ phát triển nguồn nước, không hàihoà với tự nhiên, môi trường vốn vẫn tồn tại lâu nay
+ Mức độ nghiêm trọng của hạn hán thiếu nước càng tăng cao do nguồn nước dễ
bị tổn thương, suy thoái lại chịu tác động mạnh của con người
Những tác hại của hạn hán ảnh hưởng đến Việt Nam:
- Hạn hán có tác động to lớn đến môi trường, kinh tế, chính trị xã hội và sức khoẻcon người
- Hạn hán là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật thậm chí là chiến tranh doxung đột nguồn nước
- Hạn hán tác động đến môi trường như huỷ hoại các loài thực vật, các loài độngvật, quần cư hoang dã, làm giảm chất lượng không khí, nước, làm cháy rừng, xói lở đất.Các tác động này có thể kéo dài và không khôi phục được
- Hạn hán tác động đến kinh tế xã hội như giảm năng suất cây trồng, giảm diệntích gieo trồng, giảm sản lượng cây trồng, chủ yếu là sản lượng cây lương thực Tăng chiphí sản xuất nông nghiệp, giảm thu nhập của lao động nông nghiệp Tăng giá thành và giá
cả các lương thực Giảm tổng giá trị sản phẩm chăn nuôi
- Các nhà máy thuỷ điện gặp nhiều khó khăn trong quá trình vận hành
Ở Việt Nam, hạn hán xảy ra ở vùng này hay vùng khác với mức độ và thời giankhác nhau, gây ra những thiệt hại to lớn đối với kinh tế-xã hội, đặc biệt là nguồnnước.Khi hạn hán xảy ra nước trong sông ngòi, ao, hồ, và nước dưới đất cạn kiệt,không đủ cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và duy trì phát triểnbền vững của môi trường sinh thái
Trang 33có khả năng tăng cường giữ nước trong đất và tuyển lựa được các giống cây trồng cónhiều khả năng chịu hạn Chuyển đổi cơ cấu kinh tế cho phù hợp với khả năng nguồnnước ở mỗi vùng mỗi lưu vực sông, điều kiện tự nhiên Xây dựng mới và nâng cấp cáccông trình tưới tiêu, giành thế chủ động tưới tiêu trên phần lớn diện tích canh tác nôngnghiệp, vừa là giải pháp trước mắt vừa là giải pháp lâu dài phòng, chống hạn hán.Ngoài ra, một giải pháp phòng chống hạn khác có hiệu quả là trồng rừng và bảo vệ rừng
+ Điều tra, tìm kiếm nguồn nước dưới đất cho các vùng có nguy cơ hạn hán thiếunước ở mức cao để khai thác nước dưới đất làm phương án dự phòng cấp nước trongthời kỳ hạn hán thiếu nước
+ Thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước Đây là một công cụ hữu hiệu để quản lý tổng hợp nguồn nước vì lợi ích chung của toàn
xã hội;
+ Xây dựng cơ chế, bộ máy làm công tác quản lý hạn hán thiếu nước nói riêng vàquản lý thiên tai nói chung Dự báo, dự kiến diễn biến nguồn nước hàng năm khi xét cácyếu tố ảnh hưởng như phát triển kinh tế - xã hội; tình trạng khai thác, sử dụng; khả năngsuy thoái nguồn nước và tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu
3.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến Việt Nam
3.3.1 Tác động tới yếu tố tự nhiên và môi trường
Sự gia tăng nhiệt độ khí quyển làm cho khí hậu các vùng ở nước ta nóng lên, kếthợp với sự suy giảm lượng mưa làm cho nhiều khu vực khô hạn hơn Năm 2010, nhiệt
độ tăng khoảng 0,3 - 0,50C và mực nước biển tăng thêm 9cm đến năm 2100 có khảnăng tăng từ 1,1 - 1,80 C và 45cm Những khu vực có nhiệt độ tăng cao nhất là vùng núiTây Bắc, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1 - 0,30C/thập niên So với hiện nay, vào năm 2070, dòng chảy sông/năm biến đổi trong khoảng
từ +5,8 đến -19% đối với sông Hồng và từ +4,2 đến -14,5% đối với sông Mê Kông;dòng chảy kiệt biến đổi trong khoảng từ -10,3 đến -14,5% đối với sông Hồng và từ -2,0đến -24, 0% đối với sông Mê Kông; dòng chảy lũ biến đổi trong khoảng từ +12,0 đến0,5% đối với sông Hồng và từ +15,0 đến 7,0% đối với sông Mê Kông Xâm nhập mặnnước sông có thể lấn sâu nội địa tới 50 - 70km, tiêu diệt và phá huỷ nhiều loài sinh vậtnước ngọt, 36 khu bảo tồn; trong đó, có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽnằm trong diện tích bị ngập Hệ thống sinh thái cũng bị tác động tiêu cực; tại 2 vùngđồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long, các hệ sinh thái rừng và đất ven biển sẽ chịunhiều thiệt hại
3.3.2 Tác động tới phát triển kinh tế
Trang 34- Tần suất xuất hiện ngày càng nhiều các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt,mưa lũ tăng tạo nguy cơ ngập lụt đối với các vùng đất thấp, tình trạng nhiễm mặn,nhiễm phèn trên diện rộng làm thiệt hại đến mùa màng; hạn hán thường xảy ra vào mùakhô, nắng nóng, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nhiều lần đã làm cây trồng khô héonhanh chóng, có thể dẫn tới làm chết cây trồng hàng loạt
- Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy, trong mùa khô, độ ẩm của đất ở cácvùng không có cây che phủ chỉ bằng 1/3 so với độ ẩm của đất ở những nơi có rừng chephủ, nhiệt độ trên bề mặt đất có thể tăng cao tới 50-60oC vào buổi trưa hè Những đặcđiểm cơ lý của đất như độ tơi xốp, độ liên kết, độ thấm, hàm lượng các chất dinh dưỡng
và hàm lượng vi sinh bị giảm đi đáng kể, đất trở nên khô, cứng, bị nén chặt, khôngthích hợp với trồng trọt Hàng triệu héc ta đất trống, đồi trọc mất rừng lâu năm, đất mặn
bị biến đổi cấu tạo và lý hoá tính, trở nên dễ bị xói lở, rửa trôi mạnh, tích tụ sắt nhômgây nên hiện tượng kết vón và đá ong hoá, đất loại này hoàn toàn mất sức sản xuấtnông, lâm nghiệp
- Ranh giới rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ sinh có thể dịch chuyển, nguy
cơ diệt chủng của động vật và thực vật gia tăng, một số loài thực vật quan trọng nhưtrầm hương, hoàng đà, pơ mu, gỗ đỏ, lát hoa, gụ mật… có thể bị suy kiệt Nhiệt độ vàmức độ khô hạn gia tăng làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh…
- Qũy đất canh tác nông nghiệp nói chung, đất trồng lúa nói riêng bị thu hẹpđáng kể ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất lương thực; mất nơi sinh sống thích hợp củamột số loài thuỷ sinh nước ngọt
- Thay đổi nhiệt độ làm dịch bệnh xảy ra cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi, cùngvới môi trường nước xấu đi, là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài vi sinhvật gây hại
3.3.3 Tác động đối với đời sống - xã hội
Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là những nông dân nghèo, các dân tộc thiểu
số ở miền núi, người già, trẻ em và phụ nữ
- Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm Ở miền Bắc,mùa đông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người
- Nhiệt độ tăng làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người, dẫn đếngia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh
- Thiên tai như bão, ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và sạt lở đất v.v… gia tăng vềcường độ và tần số làm tăng số người bị thiệt mạng và ảnh hưởng gián tiếp đến sức khoẻ
- Biến đổi khí hậu làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốt
Trang 35xuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng,vật chủ mang bệnh, làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan
Các ngành và đối tượng chịu tác động của biến đổi khí hậu vùng núi và trung du
Các tác động của
biến đổi khí hậu
Ngành chịu tác động của biến đổi
- Gia tăng hiện
tượng thời tiết cực
- Giao thông vận tảii
- Xây dựng, hạ tầng, phát triển đôthị/nông thôn
- Môi trường/tài nguyên nước/đadạng sinh học
- Y tế, sức khỏe cộng đồng/các vấn
đề xã hội khác
- Dân cư miền núi,nhất là dân tộc thiểusố
- Người già, phụ nữ,trẻ em
Vùng núi và trung du Việt Nam có thể được chia làm các khu vực chủ yếu: Vùngnúi và trung du Bắc Bộ, vùng núi Trung Bộ và Tây Nguyên Các khu vực này thường chịuảnh hưởng của lũ, lũ quét và sạt lở đất; cháy rừng, hạn hán (đặc biệt là vùng núi Bắc Bộ và Trung Bộ).Các lĩnh vực: an ninh lương thực; Lâm nghiệp; Giao thông vận tải; Môi trường/tài nguyênnước/đa dạng sinh học; Y tế, sức khỏe cộng đồng/các vấn đề xã hội khác thuộc vùng núi và trung duViệt Nam có nguy cơ chịu tác động đáng kể của
3.4 Phương hướng-Chiến lược đối phó với biến đổi khí hậu
3.4.1 Phương hướng-Chiến lược
- Mang tính toàn cầu: đây là vấn đề chung của cộng đồng, không phải là riêng biệtcủa từng quốc gia, khu vực hay châu lục nào
- Được các quốc gia nhất trí: để ra các phương hướng và phân công nhiệm vụcông bàng hiệu quả giữa các quốc gia, khu vực hay châu lục
- Có quy mô: lớn, rộng khắp về mọi mặt và luôn dựa trên nguyên tác thống nhấtđồng bộ
- Thực hiện nhanh chóng: hành động sớm để đạt hiệu quả cao
3.4.2 Biện pháp thực hiện
- Tăng cường tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng: theo nguyên tắc “toàn diện,tích cực và hiệu quả”: lồng ghép các thông điệp chính và các thông tin phù hợp liên quan đến
Trang 36biến đổi khí hậu vào kế hoạch bài giảng phòng ngừa thảm hoạ dành cho cấp xã, đồng thờiqua đó giới thiệu hậu quả của BĐKH có tác động trực tiếp đến toàn bộ hành tinh của chúng
ta
- Thích nghi với biến đổi khí hậu:
- Tăng cường nỗ lực để giảm thiểu hiện tượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính bằngcách đưa ra chiến lược thiết thực giảm cacbon
- Phục hồi của các hệ sinh thái: Trồng rừng; Bảo tồn các hệ sinh thái động thực vật
- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật
- Phát triển kinh tế xã hội dựa trên các nguyên tắc bền vững
II Bảo vệ môi trường
1 Khái niệm
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp,
cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quảxấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác và sử dụng hợp lýnguồn tài nguyên thiên nhiên
Mục tiêu của công tác bảo vệ môi trường là:" Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường,phục hồi và cải thiện môi trường ở những nơi, những vùng đó bị suy thoái, bảo tồn đadạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị
và nông thôn, góp phần phát triển kinh tế- xã hội bền vững, nõng cao chất lượng cuộcsống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đấtnước
Gìn giữ và bảo vệ môi trường cần :
+ Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và bảo vệ sự cân bằng sinh thái
+ Cải tạo phục hồi các nguồn tài nguyên bị cạn kiệt
+ Chống ô nhiễm và suy thoái môi trường
+ Bảo vệ tính đa dạng sinh học và các vốn gien di truyền qúy hiếm
2 Định hướng bảo vệ môi trường đến năm 2020
Ngăn chặn cơ bản mức độ gia tăng ô nhiễm, phục hồi suy thoái và nâng caochất lượng môi trường, đảm bảo phát triển bền vững đất nước ; đảm bảo cho mọi ngườidân được sống trong môi trường có chất lượng tốt về không khí, đất, nước, cảnh quan
và các nhân tố môi trường tự nhiên khác đạt chuẩn mực do nhà nước quy định
Mục tiêu cụ thể như sau:
Trang 37- 80% cơ sở sản xuất, kinh doanh được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môitrường hoặc chứng chỉ ISO 14001
- 100% đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tậptrung đạt tiêu chuẩn môi trường
- 100% dân số đô thị và 95% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch
- Nâng cấp tỷ lệ đất có rừng che phủ đạt 48% tổng diện tích tự nhiên của cả nước
- 100% sản phẩm, hàng hoá xuất khẩu và 50% hàng hoá tiêu dùng trong nội địa được ghi nhãn môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14021
3 Các biện pháp bảo vệ môi trường
3.1 Xây dựng quy hoạch sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường
- Quản lí tài nguyên rừng hiện có và trồng rừng mới Nâng cao hiệu suất sử dụngcủi đốt Thâm canh cây công nghiệp và tạo việc làm mới để phát triển nông thôn, giảmsức ép của sản xuất nông nghiệp đối với các đất rừng còn lại Việc bảo vệ rừng phải điđôi giữa bảo tồn, phục hồi với trồng rừng và quản lí buôn bán gỗ nhằm phát triển bềnvững tài nguyên rừng
- Thành lập các khu Vườn quốc gia và các khu Bảo tồn thiên nhiên để bảo vệrừng và các loài động thực vật hoang dã
Đây là biện pháp quan trọng đầu tiên đối với mỗi quốc gia cùng như mỗi địaphương trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội Bởi vì, muốn sản xuất phát triển phảităng cường khai thác các tài nguyên Nhưng nếu khai thác và sử dụng các nguồn tàinguyên không theo một quy hoạch rõ ràng, không theo một biện pháp bảo vệ và cải tạothì nguồn tài nguyên sẽ bị cạn kiệt, môi trường sẽ bị suy thoái và sản xuất không thểphát triển lâu bền được
3.2 Nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
Ngày nay có khả năng ngăn chặn các hiện tượng gây ô nhiễm không khí, cácnguồn nước được thực hiện theo nhiều con đường khác nhau, như:
- Nghiên cứu và lắp đặt các máy móc lọc khí và lọc nước trong các xí nghiệp sảnxuất để lọc bụi, các chất hoà tan, khử các chất độc không cho chúng thải vào môitrường
- Nghiên cứu các công nghệ sản xuất không chất thải, công nghệ sử dụng nướctheo chu trình kín, công nghệ sử dụng ít nước và tiến tới chu trình sản xuất “khô” khôngcần có nước…
Trang 38- Nghiên cứu thay thế các động cơ đốt trong bằng các động cơ điện Nghiên cứu
sử dụng các nguồn năng lượng không gây ô nhiễm như năng lượng Mặt Trời, nănglượng nước, gió, địa nhiệt… Đặc biệt, đối với các phương tiện giao thông như ô tô, máybay tầu hoả rất cần các động cơ không gây ô nhiễm
3.3 Phát triển công nghệ sạch, đổi mới công nghệ, đầu tư thiết bị xử lí chất thải
- Với sản xuất :
+ Tiết kiệm nguyên, nhiên, vật liệu, sử dụng các công nghệ sạch, tìm kiếmnghiên cứu công nghệ vật liệu mới và năng lượng sạch, giảm bớt khí nhà kính và nhữngkhí suy giảm tầng ozon
+ Sử dụng nguồn năng lượng của nước để xây dựng những nhà máy thuỷ điện
cho các khu vực trên dòng sông
+ Đảm bảo tạo ra thực phẩm sạch và bảo vệ tài nguyên đất, nước và không khí
- Trong sinh hoạt :
+ Có ý thức tiết kiệm và bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp.Thay đổi cách tiêudùng có lợi cho môi trường như: Hạn chế dùng than tổ ong để đun nấu ; Dùng xăngkhông pha chì để chạy xe máy, ô tô ; Thực hiện tiết kiệm năng lượng, đặc biệt là nănglượng điện,…
+ Sử dụng năng lượng Mặt Trời: Xây dựng hệ thống pin Mặt Trời tại các địaphương để sử dụng trong sinh hoạt như bếp đun, bình nước nóng, ti vi, thắp sáng
+ Tạo hầm khí BIOGA đến các hộ gia đình ở địa phương:Tận dụng rác thảisinh hoạt, sản phẩm phụ của chăn nuôi, trồng trọt để làm khí đốt cho đun nấu hoặc phátđiện phục vụ cho mỗi hộ gia đình
+ Sử dụng nguồn năng lượng của gió, thuỷ triều, thăm dò khai thác các nguồnnước nóng
- Lập các dự án về quản lí giao thông đô thị, bảo vệ nguồn nước để bảo vệ môitrường, các dự án xử lí chất thải công nghiệp và các chất thải rắn do các hoạt động dulịch và chất thải sinh hoạt Có biện pháp tổng thể quy hoạch mạng lưới giao thông, cảitiến kĩ thuật
- Xử lí chất thải bệnh viện, nhà máy nhằm giảm lượng rác thải hoặc có thể tăngcường tái sử dụng hay tái sử dụng
3.4 Luật pháp
Trang 39- Quản lí môi trường bằng pháp luật Chú ý hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo
vệ môi trường Thực hiện nghiêm chỉnh luật bảo vệ môi trường, tăng cường thanh tra,kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ môi trường
- Kiểm soát nghiêm ngặt đối với các cơ sở phát thải các chất gây ô nhiễm khôngkhí Nâng cao hiệu quả sản xuất và sử dụng năng lượng Khuyến khích sử dụng cácnguồn năng lượng tái tạo
- Thực hiện Chương trình quốc gia của Việt Nam về “Biển đổi khí hậu”và “Bảo
vệ tầng ozon” góp phần cùng các quốc gia khác thực hiện Công ước khung của liên hợpquốc về biển đổi khí hậu và Công ước về Bảo vệ tầng ozon
3.5 Giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT)
3.5.1 Định nghĩa giáo dục bảo vệ môi trường
Theo dự án VIE/95/041 năm 1996 định nghĩa: “GDBVMT là một quá trìnhthường xuyên qua đó con người nhận thức được môi trường của họ và thu đượckiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giảiquyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của thế hệhiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai”
Theo kết quả đề tài nghiên cứu khoa học của TS Lê Xuân Hồng định nghĩa:
“GDBVMT là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và khôngchính quy nhằm giúp cho con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị, tạo điềukiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái”
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động bảo vệ môi trường
là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác độngxấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái,phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyênthiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”
3.5.2 Nhiệm vụ trong giáo dục bảo vệ môi trường
Theo tuyên ngôn của Tổ chức UNESCO-UNEP năm 1998 “Giáo dục bảo
vệ môi trường (GDBVMT) không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục như làmột bộ phận riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu, mà nó là một đường hướng hội nhậpvào chương trình đó Giáo dục bảo vệ môi trường là kết quả của một sự định hướng lại
và sắp xếp lại những bộ môn khác nhau và những kinh nghiệm giáo dục khác nhau(khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, văn học nghệ thuật, …), nó cung cấp một nhậnthức toàn diện về môi trường” GDBVMT là một phương pháp tiếp cận xuyên bộmôn giúp cho mọi người hiểu về môi trường với mục đích hàng đầu là chăm sóc pháttriển và có thái độ cam kết, thái độ này sẽ nuôi dưỡng niềm mong ước và năng lực
Trang 40hành động có trách nhiệm trong môi trường GDBVMT với không chỉ kiến thức mà còn
cả tình cảm, thái độ, kỹ năng và hành động xã hội
Như vậy, việc GDBVMT cần phải được tiến hành giáo dục sâu rộng ngay từ tuổi
ấu thơ tới tuổi trưởng thành, từ những người làm việc sinh hoạt thường ngày trongcộng đồng tới những người làm công tác chỉ đạo, quản lý, nhà chiến lược kinh tế xã hội
3.5.3 Những định hướng trong GDBVMT
Giáo dục về môi trường nhằm: Cung cấp những hiểu biết về hệ thống tự nhiên
và hoạt động của nó; những hiểu biết về tác động của con người tới môitrường; trên
cơ sở đó xây dựng việc nghiên cứu môi trường và những kỹ năng tư duy để quản
lý môi trường
Giáo dục về môi trường để: Tạo điều kiện cho việc học và hành trong thực tếmôi trường; xây dựng những kỹ năng đánh giá thu lượm dữ liệu và phân tích; nuôidưỡng những nhận thức và các quan niệm về môi trường; phát triển sự đánh giá thẩmmỹ
Giáo dục bảo môi trường nhằm: Xây dựng một nền giáo dục trong môi trường
và vì môi trường; phát triển trách nhiệm và xây dựng một nền đạo đức vìmôi trường;xây dựng động cơ và kỹ năng tham gia trong việc cải thiện môi trường
3.5.6 Giáo dục bảo vệ môi trường tại trường THPT
Giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông cần được thực hiện theonguyên tắc vì môi trường, về môi trường và trong môi trường GDBVMT sẽ cung cấpnhững kiến thức, hiểu biết về môi trường, các mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa conngười và giới tự nhiên trên cơ sở khai thác triệt để các tri thức về môi trường hiện có ở cácmôn học trong trường phổ thông Sử dụng môi trường như là một nguồn lực cho các hoạtđộng dạy học và hoạt động ngoại khóa ngoài nhà trường
Tuyên truyền cho mọi người dân về ý nghĩa của môi trường đối với cuộc sống :Tác động của con người, đặc biệt trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển đã ảnhhưởng tiêu cực đến môi trường sống trên Trái Đất Tài nguyên thiên nhiên ngày mộtcạn kiệt, ô nhiễm môi trường càng ngày càng trở nên trầm trọng đã làm cho sức khỏecủa con người bị đe doạ Khí hậu toàn cầu đang thay đổi, hạn hán, lũ lụtt, suy giảm tầngozon đang là những vấn đề có tính chất toàn cầu
Công tác GDBVMT cho mọi người không chỉ cho hôm nay mà cho cả tương lai.Công tác GDBVMT không phụ thuộc vào tôn giáo, dân tộc, chế độ chính trị của mỗiquốc gia, mỗi dân tộc mà phải được thực hiện đối với mỗi công dân tương lai ngay từkhi họ còn ngồi trên ghế nhà trường, ở tuổi trước khi đến trường, qua các phương tiệnthông tin đại chúng và các hình thức giáo dục khác nhau