Tài liệu này giúp cho giáo viên Công nghệ phổ thông hiểu được việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, trong học tập môn Công nghệ. Thực hiện được công việc soạn đề kiểm tra, theo phương pháp trắc nghiệm khách quan, để sử dụng trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Công nghệ phổ thông.
Trang 1§æi míi KiÓm Tra §¸nh Gi¸ kÕt qu¶ häc tËp cña häc sinh
Trang 2Mọi hoạt động giáo dục đều bắt đầu từ việc xác định mục tiêu và kết thúc bằng
đánh giá Đánh giá có liên quan chặt chẽ với kiểm tra, dựa vào kiểm tra và là kết quả của kiểm tra, do đó kiểm tra - đánh giá (KTĐG) thường đi liền với nhau theo nghĩa đó Ban đầu, phương pháp kiểm tra chủ yếu bằng vấn đáp và bài viết (tự luận) Từ thế
kỉ XIX, việc nghiên cứu lí thuyết phương pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ) đã được bắt đầu và đến đầu thế kỉ XX đã được triển khai rộng rãi ở các nước kinh tế phát triển như Anh, Pháp, Mĩ, Ngày nay, công nghệ trắc nghiệm ở một số nước đã trở nên phổ biến và đạt được thành tựu rất cao
ở Việt Nam, KTĐG đã hình thành từ rất lâu và chịu ảnh hưởng rất lớn về cách
đánh giá của Nho giáo Xuất phát từ mục đích giáo dục là lựa chọn người hiền tài để bổ nhiệm quan chức nên việc đánh giá người học được tiến hành theo qui định khá chặt chẽ thông qua các kì: thi hương, thi hội, thi đình với các yêu cầu chủ yếu chỉ đòi hỏi người học học thuộc lòng đoạn văn, câu thơ hay; có chữ viết đẹp; có lối hành văn, hành thơ trau chuốt nhiều ý tứ ẩn dụ sâu sắc v.v Việc KTĐG, xếp loại người học (không kể bậc học hay tuổi tác) chủ yếu dùng các loại lời phê bằng chữ chứ không dùng điểm số (chẳng hạn phê theo các bậc: ưu, bình, thứ, liệt)
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và nhất là sau năm 1954, giáo dục Việt Nam
có sự thay đổi lớn cả về mục đích, nội dung và phương pháp Do có sự khác nhau về chế
độ chính trị nên giáo dục ở hai miền Nam, Bắc cũng có sự khác nhau
ở miền Bắc, từ năm 1956, sự nghiệp giáo dục được cải cách theo kiểu Liên Xô (cũ), việc KTĐG kết quả học tập (KQHT) của học sinh trong các nhà trường được triển khai tích cực thông qua hệ thống KTĐG: kiểm tra hằng ngày, kiểm tra học kì, thi lên lớp, thi tốt nghiệp, Kết quả đánh giá được thể hiện bằng điểm số, dùng thang điểm 5 bậc, về sau dùng thang điểm 10 bậc Trong thời kì này, cách kiểm tra chủ yếu vẫn là vấn
đáp hoặc bài viết (tự luận), nghĩa là đánh giá vẫn mang nặng tính chủ quan Trong giáo dục chưa có công trình nào chuyên sâu nghiên cứu các phương pháp KTĐG bằng TNKQ
ở miền Nam, có sự tiếp xúc với TNKQ sớm hơn nên từ những năm 60 của thế kỉ
XX đã áp dụng phương pháp TNKQ ở bậc trung học Năm 1969, Dương Thiệu Tống đã
đưa môn "Trắc nghiệm và Thống kê giáo dục" vào giảng dạy tại lớp cao học và tiến sĩ giáo dục tại trường Đại học Sài Gòn Năm 1972 trắc nghiệm được các nhà giáo dục quan
Trang 3tâm nghiên cứu và bắt đầu vận dụng lí thuyết trắc nghiệm vào việc xây dựng, soạn thảo bài trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá các môn học phục vụ cho kì thi tú tài
Sau khi đất nước được thống nhất, công cuộc đổi mới sự nghiệp giáo dục được tiến hành mạnh mẽ, đã có một số công trình nghiên cứu về việc KTĐG, song vẫn chủ yếu bàn về cơ sở chung của việc đánh giá môn học (về ý nghĩa, dạng thức) phục vụ cho việc
đánh giá dạy học bằng phương pháp truyền thống kiểu vấn đáp và bài viết tự luận
Từ những năm 90 của thế kỉ XX trở lại đây, giáo dục Việt Nam bắt đầu có sự đổi mới rõ rệt Trong lĩnh vực lí luận dạy học đã có sự quan tâm nhiều đến việc tăng tính khách quan trong KTĐG; tiếp thu nhanh chóng các thông tin và thành tựu của công nghệ trắc nghiệm và đánh giá khách quan; dịch thuật và viết nhiều sách về trắc nghiệm
và đo lường KQHT; nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo, tập huấn về chủ đề này đã
được tổ chức và công nghệ KTĐG mới đã được áp dụng từng bước v.v
Công cuộc đổi mới, phát triển đất nước đòi hỏi giáo dục phải điều chỉnh mục tiêu
đào tạo Trong mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành tố của quá trình dạy học, nội dung (chương trình, sách giáo khoa), phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy học cũng có sự đổi mới tương ứng nhằm thực hiện việc đổi mới mục tiêu Tất nhiên, KTĐG cũng nằm trong mối quan hệ ấy và nó cũng cần được đổi mới một cách toàn diện Đó cũng chính là lí do để Bộ GD & ĐT thành lập Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
Có thể nói, thực tiễn đòi hỏi giáo dục phải có sự đổi mới toàn diện, trong đó khâu KTĐG cần được coi trọng vì nó thực hiện chức năng là công cụ của hệ thống điều khiển, giúp cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo trong trường học, nâng cao tinh thần chủ động sáng tạo của giáo viên, tính tích cực học tập, rèn luyện của học sinh
Trong dạy học Công nghệ phổ thông, KTĐG cũng có mục đích, hình thức, phương pháp như trong dạy học nói chung Tuy nhiên, do quá trình dạy học có những đặc điểm riêng biệt nên trong vấn đề KTĐG cũng có những mặt cần chú trọng hơn, đặc biệt là vấn
đề KTĐG trong dạy học thực hành kĩ thuật
KTĐG là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học nhưng dường như từ trước
đến nay nó lại chưa được quan tâm đúng mức Ngay cả trong chương trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm cũng đề cập rất ít về vấn đề này Thực tế cho thấy vẫn còn có
Trang 4giáo viên coi nhẹ công tác KTĐG, thậm chí chưa nắm vững và do đó chưa thực hiện
đúng được các phương pháp KTĐG Để khắc phục được những bất cập này, giáo viên không những phải nắm được các phương pháp mà còn phải có quan điểm tiên tiến, hiện
đại về công tác KTĐG Cụ thể là:
- Phải nắm được các phương pháp KTĐG truyền thống và hiện đại, có khả năng vận dụng một cách thích hợp đối với từng môn học, đối tượng học sinh, mục đích dạy học v.v
- Có quan điểm tích cực trong KTĐG, coi việc KTĐG không phải chỉ do người thầy độc quyền mà phải tạo cho học sinh biết cách tự đánh giá bản thân và đánh giá lẫn nhau Thật khó đạt được mục đích dạy học nếu chỉ hô hào tự học mà không trang bị cho người học tự đánh giá kết quả học tập của họ Phải chăng khi nghiên cứu giải pháp biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo thì cũng phải làm sao để biến quá trình giáo viên KTĐG thành quá trình cả người học cũng tự KTĐG
- Nắm được các phương pháp KTĐG có sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại để vừa đạt mục đích vừa giảm nhẹ công sức, chi phí
II - Hướng dẫn đánh giá và xếp loại giờ dạy ở bậc trung học
Theo Công văn hướng dẫn, số 10227 / THPT, ngày 11 tháng 9 năm 2001 của Bộ
GD & ĐT
2.1 Yêu cầu đánh giá giờ dạy
Giờ lên lớp là một khâu trong quá trình dạy học được kết thúc trọn vẹn trong khuôn khổ nhất định về thời gian theo qui định của kế hoạch dạy học Do đó, trong mỗi giờ lên lớp, hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học của học sinh đều thực hiện dưới sự tác động tương hỗ giữa các yếu tố cơ bản của quá trình dạy học, đó là mục
đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học
1 Đánh giá một giờ dạy, phải xem xét, phân tích giờ dạy đó đã giải quyết được mức
độ nào theo mục đích đặt ra trên cơ sở sử dụng phương pháp, phương tiện và cách tổ chức phù hợp với nội dung của giờ dạy đó Nghĩa là phải đánh giá giờ dạy của giáo viên một cách toàn diện theo các yếu tố của quá trình dạy học
2 Xem xét, phân tích giờ dạy có phù hợp với đặc điểm của bộ môn, của kiểu bài lên lớp thuộc môn đó
Trang 53 Đánh giá giờ dạy phải căn cứ và điều kiện cụ thể về đối tượng học sinh, về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của giờ lên lớp mà người giáo viên đã thực hiện
4 Phân tích, xem xét kết quả của giờ dạy thể hiện ở mức độ nhận thức của học sinh qua giờ đó thông qua vấn đáp trao đổi với học sinh hoặc kiểm tra trắc nghiệm từ 3 – 5 phút
2.2 Tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại giờ dạy ở bậc trung học
2 Bảo đảm tính hệ thống, đủ nội dung, làm rõ trọng tâm
3 Liên hệ với thực tế (nếu có): có tính giáo dục
Phương
pháp
4 Sử dụng phương pháp phù hợp với đặc trưng bộ môn, với nội
dung của kiểu bài lên lớp
5 Kết hợp tốt các phương pháp trong các hoạt động dạy và học
Phương
tiện
6 Sử dụng và kết hợp tốt các phương tiện, thiết bị dạy học phù hợp
với nội dung của kiểu bài lên lớp
7 Trình bày bảng hợp lí, chữ viết, hình vẽ, lời nói rõ ràng, chuẩn
mực; giáo án hợp lý
Tổ chức
8 Thực hiện linh hoạt các khâu lên lớp, phân phối thời gian hợp
lý ở các phần, các khâu
9 Tổ chức và điều khiển học sinh học tập tích cực, chủ động phù
hợp với nội dung của kiểu bài, với các đối tượng; học sinh hứng thú học
* Loại Giỏi: a) Điểm tổng cộng đạt từ 17 – 20
b) Các yêu cầu 1, 4, 6, 9 phải đạt 2 điểm
* Loại Khá: a) Điểm tổng cộng đạt từ 13 – 16,5
Trang 6b) Các yêu cầu 1, 4, 9 phải đạt 2 điểm
* Loại Trung bình: a) Điểm tổng cộng đạt từ 10 – 12,5
b) Yêu cầu 1, 4 phải đạt 2 điểm
* Loại Yếu kém: Điểm tổng cộng đạt từ 9 trở xuống
2.3 Những điểm cần chú ý trong đánh giá và xếp loại giờ dạy
2.3.1 Tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại có tính tổng quát
Các yêu cầu được trình bày một cách tổng quát ngắn gọn, các địa phương tuỳ theo tình hình cụ thể và yêu cầi chỉ đạo của mình trong từng giai đoạn mà cụ thể hoá cho từng kiểu bài lên lớp hoặc nhấn mạnh những vấn đề nhất định trong từng yêu cầu của các mặt đánh giá
2.3.2 Đánh giá, xếp loại giờ dạy đúng các yêu cầu trong tiêu chuẩn
Việc đánh giá, xếp loại giờ dạy dựa trên các yếu tố của quá trình dạy học; do đó phải đánh giá cả 5 mặt: nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức và kết quả của giờ dạy Trong số 10 yêu cầu, các yêu cầu 1, 4, 6, 9 được coi là trọng tâm Các yêu cầu này phải được cân nhắc kỹ lưỡng và thận trọng hơn khi đánh giá, đồng thời được sử dụng để
đảm bảo chất lượng khi xếp loại giờ dạy đối với hai loại giỏi và khá
2.3.3 Kết hợp sự đánh giá định tính với định lượng
Sau khi dự giờ hoặc kiểm tra giờ dạy, người đánh giá trước hết phải dựa và sự quan sát trên lớp và kết hợp với những biện pháp khác như: phỏng vấn thầy giáo và học sinh, xem xét giáo án, các tư liệu dạy học và kiểm tra trắc nghiệm ngắn đối với học sinh
để đánh giá từng yêu cầu theo 3 mức (tốt khá: trung bình hoặc yếu kém) và ứng với mỗi mức cho một mã số điểm (2 – 1 - 0), có thể cho điểm lẻ đến 0,5 Khi xem xét toàn bài
và xếp loại giờ dạy, người đánh giá phải kết hợp giữa những nhận định định tính của mình với điểm số của các yêu cầu và điểm số tổng cộng để xếp loại chính xác đối với giờ dạy
2.3.4 Đánh giá từng yêu cầu theo 3 mức độ
a) Tốt, khá (điểm 2; 1, 5): Các yêu cầu được thực hiện đầy đủ, linh hoạt thành thạo Có thể có 1 vài sơ suất hay thiếu sót nhỏ nhưng không nghiêm trọng
b) Trung bình (điểm 1): Thực hiện yêu cầu còn sai sót trong các bước lên lớp của bài dạy, đặc biệt ở các yêu cầu 4, 6, 9
Trang 7c) Yếu, kém (điểm 0; 0,5): Thực hiện yêu cầu ở các mặt, các bước lên lớp của bài dạy còn nhiều thiếu sót hoặc có thiếu sót trầm trọng Trong một yêu cầu nếu giáo viên
bỏ qua các cơ hội có điều kiện cho phép thực hiện mà không làm thì cũng được đánh giá yếu
III - Hướng dẫn đánh giá và xếp loại học lực của học sinh THPT
Theo Công văn hướng dẫn, 7714 /GDTrH, ngày 28 tháng 8 năm 2003 của Bộ GD
& ĐT
3.1 Nội dung đánh giá, xếp loại học lực
Đánh giá xếp loại học lực là đánh giá kết quả cụ thể đối với từng môn học của học sinh theo kế hoạch dạy học bằng tính điểm trung bình
3.2 Hình thức đánh giá, xếp loại
3.2.1 Hình thức đánh giá:
- Kiểm tra cho điểm và tính điểm trung bình:
+ Trung học phổ thông phân ban đối với các môn: Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Tin học, Công nghệ, Ngoại ngữ, Thể dục
+ Trung học phổ thông kỹ thuật: Ngoài các môn học như trung học phổ thông phân ban có thêm: Công nghệ và Kỹ thuật nghề
- Kiểm tra cho điểm đối với các chủ đề tự chọn
3.2.2 Xếp loại:
Kết qủa về học lực được xếp thành 5 loại theo từng học kỳ và cả năm: Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu, Kém
3.3 Cho điểm, các loại bài kiểm tra và số lần kiểm tra cho điểm
a) Cho điểm theo thang điểm 10
b) Hình thức kiểm tra và các loại bài kiểm tra như sau:
* Kiểm tra thường xuyên: - Kiểm tra miệng
- Kiểm tra viết dưới 1 tiết
- Kiểm tra thực hành dưới 1 tiết
* Kiểm tra định kỳ: Được quy định trong phân phối chương trình gồm:
(KTđk) - Kiểm tra từ 1 tiết trở lên
- Kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên
Trang 8* Hệ số điểm các bài kiểm tra:
- Bài kiểm tra thường xuyên : Hệ số 1
* Bài kiểm tra học kỳ được tính riêng và có hệ số 3
c) Hệ số môn học đối với trung học phổ thông phân ban:
* Ban khoa học tự nhiên:
e) Số lần kiểm tra cho điểm:
- Thực hiện đủ các bài kiểm tra định kỳ được quy định trong phân phối chương trình của từng môn học
- Ngoài số lần kiểm tra định kỳ, một học sinh trong một học kỳ phải có số lần kiểm tra miệng, kiểm tra viết dưới 45 phút, bài kiểm tra thực hành ngoài số bài kiểm tra thực hành ghi trong phân phối chương trình như sau:
+ Những môn học có từ 1 đến 1,5 tiết / 1 tuần : ít nhất 1 lần
+ Những môn học có từ 2 đến 3 tiết / 1 tuần : ít nhất 2 lần
+ Những môn học có từ 4 tiết / 1 tuần trở lên : ít nhất 3 lần
+ Điểm các bài kiểm thường xuyên, kiểm tra định kỳ là số nguyên
- Những học sinh không đủ số bài kiểm tra định kỳ sẽ được kiểm tra bù cho đủ số lần quy định (theo kế hoạch của nhà trường) Nếu học sinh cố tình không dự kiểm tra bù theo quy định sẽ cho điểm 0
3.4 Các chủ đề tự chọn theo môn học (TC)
Trang 9Các chủ đề tự chọn chỉ áp dụng cho các trường THPT phân ban, không áp dụng cho các trường THPT kỹ thuật
Trong một học kỳ, học sinh phải học ít nhất 3 chủ đề tự chọn để đảm bảo số tiết tự chọn theo quy định của kế hoạch dạy học
Chủ đề tự chọn chỉ kiểm tra cho điểm khi kết thúc chủ đề, tính điểm trung bình và
được coi như một môn học tham gia vào tính điểm trung bình các môn học kỳ
Cách tính điểm trung bình các chủ đề tự chọn ĐTBtc: Là trung bình cộng điểm các chủ đề tự chọn
Điểm chủ đề 1 + điểm chủ đề 2 + + điểm chủ đề n ĐTBtc= -
ĐTBmhkI + ĐTBmhkII ĐTBmcn = -
2 c) Điểm trung bình các môn học kỳ (ĐTBhk):
Là trung bình cộng của các ĐTBmhk (gồm cả ĐTBtc) sau khi đã tính hệ số môn học
d) Điểm trung bình các môn học cả năm (ĐTBcn):
Là trung bình cộng của điểm trung bình các môn học kỳ một với 2 lần điểm trung bình các môn học kỳ hai
ĐTBhkI + 2 ĐTbhkII ĐTBcn = -
3 e) Điểm trung bình môn chỉ có một chữ số thập phân, lấy đến chữ số thập phân thứ hai và làm tròn theo nguyên tắc dưới đây:
Trang 10d) Loại yếu (Y):
Điểm trung bình môn học kỳ (hoặc cả năm) đạt từ 3.5 trở lên, không có môn nào
bị điểm trung bình dưới 2.0
đ) Loại kém (K): Các trường hợp còn lại
Chú ý: Nêu do điểm trung bình môn học mà học sinh bị xếp loại thấp xuống hai bậc thì được điều chỉnh xếp thấp hơn một bậc, nếu thấp xuống ba bậc thì được điều chỉnh xếp thấp xuống hai bậc
VD: * Trường hợp thứ nhất:
+ Điểm trung bình các môn học kỳ (hoặc cả năm) từ 8.0 trở lên
+ Nhưng có một hoặc hai môn học có điểm trung bình trong khung từ 3.5 đến 4.9: các môn học khác đều từ 6.5 trở lên
Học sinh này từ loại giỏi bị xếp xuống loại trung bình, thì được điều chỉnh xếp loại khá
* Trường hợp thứ hai:
+ Điểm trung bình các môn học kỳ (hoặc cả năm) từ 8.0 trở lên
+ Nhưng một môn học có ĐTB dưới 3.5: các môn học khác đều từ 6.5 trở lên Học sinh này từ loại giỏi bị xếp xuống loại yếu, thì được điều chỉnh xếp loại trung bình
Trang 113.7 Sử dụng kết quả đánh giá, xếp loại
3.7.1 Xét cho lên lớp, thi lại các môn học
a) Cho lên lớp những học sinh có đủ các điều kiện dưới đây:
- Nghỉ học không quá 45 ngày (nghỉ liên tục hoặc nghỉ nhiều lần cộng lại)
- Có xếp loại hạnh kiểm và xếp loại học lực từ trung bình trở lên
b) Cho ở lại lớp những học sinh phạm vào một trong các tiêu chuẩn sau:
- Nghỉ học quá 45 ngày (nghỉ liên tục hoặc nghỉ nhiều lần cộng lại)
- Học lực cả năm xếp loại kém
- Học lực và hạnh kiểm cả năm đều xếp loại yếu
- Xếp loại học lực cả năm không đạt loại trung binh sau khi đã kiểm tra lại các môn học hoặc chủ đề tự chọn
- Không đạt yêu cầu rèn luyện thêm trong hè về hạnh kiểm
c) Cho kiểm tra lại các môn học:
Những học sinh có hạnh kiểm đạt từ loại trung bình trở lên nhưng xếp loại yếu về học lực được kiểm tra lại các môn học sau hè Điểm bài kiểm tra được thay thế cho
ĐTBmcn của môn học để tham gia vào ĐTBcn
Những học sinh thuộc diện này được chọn trong số các môn học có điểm trung bình dưới 5.0 để dự kiểm tra và tính lại ĐTBcn nếu đạt loại trung bình sẽ được xét cho lên lớp
d) Những học sinh xếp loại cả năm về học lực từ trung bình trở lên, nhưng hạnh kiểm cả năm xếp loại yếu, đều phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong hè theo yêu cầu
và công việc cụ thể do Hiệu trưởng nhà trường giao Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nhà trường chịu trách nhiệm phối hợp với tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã, phường tổ chức các hoạt động giáo dục và nhận xét kết quả rèn luyện của những học sinh này trong
hè Nếu được nhận xét tốt về hoàn thành các yêu cầu và công việc được giao, về tham gia các hoạt động xã hội ở địa phương sẽ được đề nghị xét xếp loại hạnh kiểm trung bình và được xét cho lên lớp
3.7.2 Khen thưởng và kỷ luật
a) Khen thưởng:
- Công nhận là học sinh giỏi những học sinh có hạnh kiểm xếp loại tốt, học lực xếp loại giỏi
Trang 12- Công nhận là học sinh tiên tiến những học sinh có hạnh kiểm hoặc phạm vào một trong những hành vi bị cấm, tuỳ theo mức độ sai phạm khác nhau sẽ bị sử lý kỷ luật theo các mức dưới đây:
- Phê bình trước lớp, trước trường
- Khiển trách có thông báo với gia đình
- Cảnh cáo ghi Học bạ
- Buộc thôi học có thời gian
IV Nội dung đổi mới khâu Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
4.1 Một số khái niệm cơ bản
4.1.1 Đánh giá
Có thể hiểu đánh giá là quá trình thu thập, xử lí thông tin để lượng định tình hình
và kết quả công việc giúp cho quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có kết quả Trong giáo dục, đánh giá - có thể được định nghĩa - là một quá trình được tiến hành
có hệ thống để xác định mức độ đạt được của học sinh về các mục tiêu đào tạo Nó có thể bao gồm những sự mô tả (liệt kê) về mặt định tính hay định lượng những hành vi (hoạt động) của người học cùng với những sự nhận xét, đánh giá những hành vi này đối chiếu với sự mong muốn đạt được về mặt hành vi đó
Đánh giá học sinh bao gồm các mặt: trình độ kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo (KQHT); nhân cách, quá trình phấn đấu, tu dưỡng, thái độ v.v
Đánh giá KQHT của người học là: xác định trình độ lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của người học trong sự tương ứng với các yêu cầu của chương trình
4.1.2 Kiểm tra
Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét hoặc kiểm tra là công việc nhằm cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá Như vậy có thể hiểu kiểm tra là phương tiện, công cụ để đánh giá
Trong cách dùng của tiếng Việt, kiểm tra và đánh giá thường được dùng trong cụm
từ ghép "kiểm tra đánh giá", nghĩa là khi đánh giá phải kiểm tra và kiểm tra để đánh giá
Đôi khi, nói đánh giá thì cũng đã bao hàm cả kiểm tra ở trong đó
4.1.3 Trắc nghiệm (TEST)
- Theo tiếng Anh: test có nghĩa là "thử", "phép thử" hay "bài kiểm tra" (nếu là danh từ) và là "kiểm tra" (nếu là động từ)
Trang 13- Theo tiếng Hán: "trắc nghiệm" là cụm từ ghép gồm "trắc" có nghĩa là đo lường,
nói, việc đánh giá học sinh nhằm mục đích nhận định thực trạng, định hướng điều chỉnh
hoạt động của cả giáo viên và học sinh
4.2.2 Yêu cầu:
- KTĐG phải đảm bảo tính khách quan
- KTĐG phải đảm bảo tính toàn diện
- KTĐG phải đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống
- KTĐG phải đảm bảo tính phát triển
4.3 Xác định mục tiêu trong đánh giá kết quả học tập
Mục tiêu là kết quả của sự phân chia và cụ thể hoá mức độ của mục đích
Có thể chia ra 3 lĩnh vực của mục tiêu: tri thức, kĩ năng và cảm xúc
4.3.1 Mục tiêu về mặt tri thức:
Trong lĩnh vực tri thức, các mục tiêu được phân cấp theo mức độ khác nhau Có nhiều quan điểm phân chia các mức độ này, trong đó cách phân chia của B.S Bloom
được sử dụng nhiều hơn cả Đó là 6 mức mục tiêu, xếp theo mức độ từ thấp đến cao: nhận biết, thông hiểu, ứng dụng, phân tích, tổng hợp và đánh giá Cụ thể:
Trang 14- Biến hoá: Thực hiện các thao tác một cách nhuần nhuyễn, thành thạo, có thể biến
đổi thao tác, qui trình cho phù hợp điều kiện
- Sáng tạo kĩ năng, kĩ xảo mới
4.3.3 Mục tiêu về mặt thái độ:
Thái độ là trạng thái tâm lý tương đối ổn định, sẵn sàng phản ứng đối với tác động của người khác hoặc tình huống v.v Thái độ được biểu hiện bên ngoài bằng hệ thống những hành vi (cách ứng xử, giao tiếp)
4.4 Các hình thức và phương pháp KTĐG
4.4.1 Các hình thức kiểm tra đánh giá
- Kiểm tra sơ bộ: Nhằm xác định trình độ (kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo) của học sinh
trước khi bắt đầu học môn học mới
- Kiểm tra thường xuyên (còn gọi là kiểm tra hàng ngày): Nhằm xác định mức độ
hình thành kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh; giúp cho học sinh thực hiện các bài tập đúng thời gian và có chất lượng cao; tập cho học sinh có thói quen làm việc độc lập
và tinh thần học tập chăm chỉ Đó là hình thức được sử dụng trong suốt quá trình dạy học môn học
- Kiểm tra định kì: Nhằm xác định mức độ chính xác của kết quả kiểm tra thường
xuyên và khẳng định chất lượng giảng dạy của giáo viên Đó là hình thức được sử dụng trong quá trình dạy học môn học, nhưng chỉ thực hiện sau khi kết thúc một bài (lớn), một chương hoặc một phần, thường là sau một học kì Số lần và qui mô kiểm tra thường
được qui định trong phân phối chương trình của môn học
- Kiểm tra tổng kết: Là hình thức được sử dụng sau khi môn học đã được thực hiện
hết một giai đoạn, học kì, năm học hoặc toàn bộ chương trình
- Kiểm tra chọn học sinh giỏi: Là hình thức kiểm tra đặc biệt nhằm chọn những
học sinh giỏi về môn học nào đó
4.5.2 Các phương pháp kiểm tra đánh giá
Sự phân chia các phương pháp KTĐG hoặc còn gọi phương pháp kiểm tra hay phương pháp đánh giá cho đến nay vẫn là một vấn đề khó và còn nhiều quan điểm khác nhau ở đây xin giới thiệu 1 kiểu phân chia như sau (sơ đồ 4.2):
Trang 15Sơ đồ 4.2 - Phương pháp KTĐG
4.5 Nội dung đổi mới khâu KTĐG kết quả học tập của học sinh
So với chương trình, nội dung, phương pháp dạy học Kĩ thuật công nghiệp hiện hành, chương trình Công nghệ phổ thông có chú trọng đến bài tập và bài thực hành Với khâu KTĐG, phương pháp TNKQ đã được đưa vào sử dụng ở mức độ nhất định
Với sự đổi mới về chương trình, nội dung và phương pháp dạy học như trên, người giáo viên phải chú trọng tới phương pháp kiểm tra bằng quan sát và TNKQ Để làm tốt
điều đó, giáo viên không chỉ phải hiểu được 2 phương pháp KTĐG này mà còn phải biết
sử dụng chúng một cách thành thạo, biết kết hợp chúng với phương pháp trắc nghiệm tự luận truyền thống Để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên, tài liệu xin giới thiệu khái quát 2 phương pháp này
4.5.1 Kiểm tra đánh giá bằng quan sát
a) Định nghĩa: Kiểm tra bằng quan sát là phương pháp KTĐG học sinh thông qua sự
quan sát (bao gồm cả 5 giác quan) hoạt động của học sinh để thu thập các thông tin và
xử lí thông tin theo những tiêu chí đã định trước
Các phương pháp kiểm tra đánh giá
Kiểm tra bằng
quan sát
Kiểm tra viết
Kiểm tra vấn đáp
Quan sát
sự trình diễn của học sinh
Quan sát
thường
xuyên
Trắc nghiệm
tự luận
Trắc nghiệm khách quan
Vấn
đáp thuần tuý
Vấn
đáp kết hợp
Tiểu luận Bài
viết Luận văn lựa chọn Nhiều Đúng - Sai Ghép đôi khuyết Điền
Trang 16Đây là phương pháp KTĐG thường được sử dụng trong dạy học ở các lớp cấp Tiểu học; trong đánh giá hạnh kiểm học sinh; trong dạy học thực hành, thí nghiệm, lao động sản xuất, hoặc nhằm kiểm tra năng khiếu (khả năng trình diễn) của học sinh về một lĩnh vực nào đó (nghệ thuật, thể thao, )
b) Phân loại: Theo tính chất và hình thức kiểm tra, có thể chia ra hai loại sau:
- Quan sát thường xuyên: Là phương pháp mà giáo viên thực hiện quan sát, theo dõi quá trình học tập, rèn luyện của học sinh trong suốt một giai đoạn nhất định Mọi thông tin được ghi vào nhật kí hoặc bảng kê để lấy tư liệu đánh giá cuối đợt Thông thường, học sinh có thể không biết bị giáo viên theo dõi nên các thông tin thu được thường có tính trung thực cao Tuy vậy, các thông tin này thường cũng chỉ có giá trị để tham khảo, hỗ trợ cho kết quả của phương pháp KTĐG khác
- Quan sát sự trình diễn của học sinh: Là phương pháp mà giáo viên nghe, nhìn học sinh trình diễn về một chủ đề nhất định trong một khoảng thời gian ngắn nhất định Các thông tin có thể được ghi vào bảng kê hoặc được giáo viên ghi nhớ và xử lí ngay trong quá trình quan sát Giá trị của các thông tin được qui về thang điểm đánh giá
Thực chất, đây chính là một buổi kiểm tra (hoặc thi), giáo viên đóng vai trò giám khảo (chứ không phải là giám thị) còn học sinh đóng vai trò thí sinh Phương pháp này thường được sử dụng trong chấm thi tay nghề, thi văn nghệ, thể thao v.v
4.5.2 Kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan
a) Định nghĩa: Kiểm tra viết là phương pháp KTĐG KQHT của học sinh thông qua
bài viết của học sinh theo yêu cầu và qui định của giáo viên
Kiểm tra viết còn được gọi là kiểm tra bằng trắc nghiệm Trắc nghiệm được chia ra
hai loại:
- Trắc nghiệm tự luận (TNTL): Có thể hiểu TNTL là loại bài kiểm tra viết, bao gồm các câu hỏi cho phép có sự tự do tương đối nào đó để trả lời một vấn đề được đặt ra, nhưng đồng thời lại đòi hỏi học sinh phải nhớ lại hơn là nhận biết thông tin và phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến một cách chính xác và sáng sủa
Theo cách dùng của chúng ta hiện nay, TNTL được chia ra 3 loại nhỏ là: bài viết, tiểu luận và luận văn
Ngoài ra, TNTL còn được chia ra 2 loại theo câu hỏi: câu mở và câu đóng
Trang 17- Câu mở (có sự trả lời mở rộng) là câu có phạm vi trả lời tương đối rộng và khái quát Học sinh được tự do diễn đạt tư tưởng và kiến thức nên có thể phát huy óc sáng kiến và suy luận Tuy nhiên loại câu này khó chấm điểm và độ tin cậy thấp
Ví dụ: Hãy đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ
- Câu đóng (có sự trả lời hạn chế, còn gọi là câu tự luận ngắn) là câu đề cập tới nội dung tương đối hẹp nên đỡ mơ hồ đối với người trả lời và người chấm Loại câu này có
ưu điểm là do câu trả lời ngắn nên cho phép tăng số lượng câu hỏi, chấm điểm dễ hơn,
độ tin cậy cao hơn
Ví dụ: Chiến thắng Điện biên phủ vào ngày nào ?
b) Trắc nghiệm khách quan: Có thể hiểu TNKQ cũng là loại bài kiểm tra viết, nhưng
việc cho điểm không phụ thuộc vào chủ quan người chấm mà hoàn toàn khách quan Thông thường, bài TNKQ có nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi được cung cấp nhiều câu trả lời, trong đó chỉ có một câu trả lời đúng hoặc tốt nhất Thí sinh chỉ việc chọn và đánh dấu vào câu trả lời bằng một kí hiệu đơn giản Cũng có loại câu TNKQ yêu cầu thí sinh phải
điền thêm một vài từ hoặc con số do thí sinh tự xác định TNKQ lại được chia ra nhiều loại nhỏ, trong đó có 4 loại thường dùng là: nhiều lựa chọn, đúng - sai, ghép đôi và điền khuyết
- Câu nhiều lựa chọn (còn gọi là câu đa phương án): Đây là loại câu thông dụng
nhất, gồm hai phần: phần câu dẫn và phần lựa chọn Phần câu dẫn là một câu hỏi hay
một câu bỏ lửng tạo cơ sở cho phần lựa chọn Phần lựa chọn gồm nhiều câu trả lời
(thường là 4 hoặc 5 câu, trong đó chỉ có một câu trả lời đúng hoặc tốt nhất - gọi là câu
chọn , các câu còn lại là câu nhiễu) Thí sinh sẽ phải tìm chọn câu trả lời đúng
Ví dụ: Sông dài nhất trên thế giới là:
A - sông Amazôn; B - sông Nin; C - sông Hoàng Hà; D - sông Đanuyp
- Câu đúng - sai là loại gồm một câu phát biểu và hai câu trả lời (một trả lời đúng, một sai), yêu cầu thí sinh phải chọn một trong hai câu trả lời đó
Ví dụ: Thép là kim loại
A - Đúng; B - Sai
- Câu điền khuyết là loại câu gồm một mệnh đề hoặc một đoạn gồm nhiều mệnh
đề hoặc một bản vẽ, mà trong đó có một số chỗ trống đòi hỏi học sinh phải điền vào