1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Vận dụng mô hình trường học mới VNEN vào thiết kế dạy học bài Nghĩa của câu (Ngữ văn 11)

59 243 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giải quyết vấn đề này, một hướng đi mới đã và đang được nghiên cứu, vận dụng là cách thức tổ chức hoạt động dạy học theo MH trường học mới VNEN.. Đối với chương trình Ngữ văn ở bậc TH

Trang 1

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn, các thầy cô

trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn đã quan tâm, giúp đỡ và kiện cho tôi trong quá trình làm khóa luận Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.Phạm Kiều Anh - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình chu đáo

để tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 22 tháng 04 năm 2016

Sinh viên

Vũ Thị Hải Yến

Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn1 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn1 of 56.

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗi lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn của các thầy cô trong khoa Ngữ văn và sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo – TS.Phạm Kiều Anh

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Kết quả nghiên cứu là trung thực và không trùng khớp với kết quả của các tác giả khác

Hà Nội, ngày 22 tháng 04 năm 2016

Tác giả

Vũ Thị Hải Yến

Trang 3

BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CH: Câu hỏi

GV : Giáo viên

HS : Học sinh MH: Mô hình NXB : Nhà xuất bản PPDH : Phương pháp dạy học SGK : Sách giáo khoa

SGV : Sách giáo viên THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn3 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn3 of 56.

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Bố cục khóa luận 8

NỘI DUNG 9

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC VNEN VÀO DẠY HỌC BÀI NGHĨA CỦA CÂU 9

1.1 Giới thiệu chung về Mô hình trường học VNEN 9

1.1.1 Khái niệm mô hình trường học VNEN 9

1.1.2 Nguyên tắc tổ chức các hoạt động trong mô hình trường học VNEN 9

1.1.3 Tổ chức và quản lí lớp học của mô hình trường học VNEN 12

1.1.4 Mục đích của việc sử dụng mô hình trường học VNEN trong giáo dục 16

1.2 Những vấn đề chung về “Nghĩa của câu” 17

1.2.1 Khái niệm nghĩa của câu 17

1.2.2 Các thành phần ý nghĩa trong câu 19

1.3 Cơ sở thực tiễn 21

1.3.1 Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học bài “Nghĩa của câu” ở trường THPT Tây Tiền Hải 21

1.3.2 Đánh giá chung 26

Trang 5

Chương 2 THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC BÀI “NGHĨA CỦA

CÂU” SỬ DỤNG MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC VNEN 27

2.1 Mục đích của việc dạy học bài “Nghĩa của câu” 27

2.2 Các nguyên tắc thiết kế hoạt động dạy học bài “Nghĩa của câu” theo mô hình trường học VNEN 27

2.2.1 Nguyên tắc phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS 27

2.2.2 Nguyên tắc dạy học gắn liền với thực tiễn 29

2.2.3 Nguyên tắc trực quan 31

2.3 Bài “Nghĩa của câu” trong SGK Ngữ văn 11 32

2.4 Những hoạt động dạy học bài “Nghĩa của câu” theo mô hình trường học VNEN 34

2.4.1 Hoạt động khởi động 34

2.4.2 Hoạt động hình thành kiến thức 35

2.4.3 Hoạt động luyện tập 38

2.4.4 Hoạt động vận dụng 39

2.4.5 Hoạt động mở rộng 39

Chương 3 THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 40

3.1 Mục đích và yêu cầu thử nghiệm 40

3.1.1 Mục đích 40

3.1.2 Yêu cầu thử nghiệm 40

3.2 Đối tượng thử nghiệm 40

3.3 Kế hoạch thử nghiệm 41

3.4 Nội dung thử nghiệm 41

KẾT LUẬN 48

CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn5 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn5 of 56.

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Với quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta, thời gian gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra, đánh giá và yêu cầu

GV tăng cường tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS, hướng dẫn phương pháp tự học cho các em Đổi mới PPDH luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong giáo dục Nhưng trên thực tế, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức GV tuy được tham dự các lớp tập huấn về phương pháp song khi áp dụng trong quá trình dạy học chỉ mang tính "hình thức", chưa đạt hiệu quả cao, do GV chưa nắm chắc lí thuyết và điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế

và thiếu thốn

Bên cạnh đó, mặc dù đã có nhiều cải tiến trong nhiều hoạt động của quá trình giáo dục nhưng nhìn chung PPDH của GV và đổi mới hình thức học của học sinh (HS) vẫn chưa có bước đột phá lớn, chủ yếu vẫn là những đổi mới nhỏ lẻ, mang tính thao tác Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là thiếu một mô hình (MH) dạy học mới, có thể hiện thực hóa một cách hiệu quả tư tưởng đổi mới DH Để giải quyết vấn đề này, một hướng đi mới

đã và đang được nghiên cứu, vận dụng là cách thức tổ chức hoạt động dạy học theo MH trường học mới VNEN

Việc đổi mới PPDH nói chung và PPDH môn Ngữ văn nói riêng là việc

vô cùng cần thiết Bởi lẽ Ngữ văn là một môn học có vị trí quan trọng Nó vừa

là môn học mang tính công cụ, vừa là môn học mang tính nghệ thuật, lại là môn học mang tính nhân văn cao.Tuy nhiên, một thực trạng đáng lưu ý ở đây,

Trang 7

2

đó là HS đang ngày càng quay lưng lại với môn Ngữ văn, không còn coi trọng

và hứng thú với môn học này Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong đó bao gồm cả những nguyên nhân khách quan về thực trạng của

xã hội và những nguyên nhân chủ quan nảy sinh trong thực tế dạy học môn học này ở nhà trường phổ thông Lối dạy học truyền thống; cách tạo không khí học tập và cả cách kiểm tra đánh giá theo lối áp đặt, không xác định HS là chủ thể của hoạt động dạy học nên nhiều giờ học trở nên nhàm chán, căng thẳng; không có ấn tượng với các em Bởi vậy, để HS học tốt môn Ngữ văn cần áp dụng những hình thức, biện pháp dạy học mới, hiện đại nhằm kích thích hứng thú học tập cho HS

"Nghĩa của câu" là một bài học tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn

THPT Đây là một nội dung kiến thức hoàn toàn mới so với các chương trình

trước đây Các nội dung kiến thức của bài "Nghĩa của câu" cũng chưa được trình bày ở lớp dưới Muốn đạt được hiệu quả cao trong việc bài "Nghĩa của câu" nói riêng và dạy học tiếng Việt nói chung cần có PPDH phù hợp kích

thích được hứng thú, sự say mê tìm tòi của HS

Nhận thấy MH trường học mới VNEN đã áp dụng thử nghiệm và đạt được thành công đáng ghi nhận ở cấp học Tiểu học và THCS ở nhiều môn học trong đó có Ngữ văn Hơn nữa, gần đây ở bậc THPT cũng đã có nhiều nghiên cứu đưa vào ứng dụng thử nghiệm mô hình trường học VNEN ở nhiều phân môn Với Ngữ văn, cũng đã có nhiều bài nghiên cứu thử nghiệm trong dạy đọc hiểu văn học, nhưng nghiên cứu về giờ dạy tiếng Việt ở chương trình THPT vẫn còn là hướng đi khá mới

Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: Vận dụng

mô hình trường học mới VNEN vào thiết kế dạy học bài “Nghĩa của câu” (Ngữ văn 11)

Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn7 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn7 of 56.

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Lịch sử nghiên cứu về Nghĩa của câu

Nghĩa của câu là một bình diện khá quan trọng của câu Tuy nhiên, nghĩa của câu không phải là đối tượng được chú trọng nghiên cứu ngay từ đầu, các công trình nghiên cứu về nó còn hạn chế và còn tồn tại nhiều ý kiền khác nhau

Trong ngữ pháp truyền thống, câu được coi là đơn vị cấu trúc lớn nhất trong tổ chức nội bộ của một ngôn ngữ Quan niệm này xuất pháp từ nhận thức câu là một đơn vị ngôn ngữ lớn, có nội dung thông báo và có cấu trúc cụ thể Việc nghiên cứu câu theo quan niệm này quan tâm nhiều đến cấu trúc mà xem nhẹ và chưa đi sâu vào mặt nghĩa và mặt sử dụng của câu Theo quan

niệm trên, các tác giả trong cuốn "Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt" tập

trung xem xét câu chủ yếu ở cấu trúc ngữ pháp Do đó, câu được phân loại dựa trên ba căn cứ: phân loại theo mục đích nói (câu tường thuật, câu nghi vấn, câu mệnh lệnh, câu cảm thán); căn cứ vào mối quan hệ với hiện thực (câu khẳng định, câu phủ định); phân loại câu theo cấu tạo (câu đơn, câu ghép) [11]

Ngày nay, cùng với sự phát triển của hàng loạt lí thuyết mới, câu được xem xét trên nhiều phương diện Chẳng hạn, một học giả người Nga cho rằng câu có ba phạm trù cú pháp hiện thực hóa bản chất ngữ pháp Đó là tính thông báo, tính tình thái và tính ngữ vị Trong đó, phạm trù tính thông báo truyền đạt ý đồ thông báo của người nói về một cái gì đó cho người khác biết để cho người đó có thể phản ứng lại Tiêu chí tình thái là phạm trù ngữ điệu, nhờ ngữ điệu này mà chúng ta biết được câu được cấu thành không và ý đồ thông báo của người nói có được thực hiện không Còn phạm trù tính vị ngữ truyền đạt mối liên hệ giữa vị ngữ với chủ ngữ của câu Như vậy, mỗi phạm trù này đều

Trang 9

Nghĩa học (Semantics): đó là lĩnh vực của các mối quan hệ giữa kí hiệu

với các sự vật ở bên ngoài hệ thống kí hiệu

Kết học (Syntatics): là lĩnh vực nghiên cứu kí hiệu các mối quan hệ kết

sự khác biệt lớn so với quan niệm ngữ pháp truyền thống vốn chỉ xem xét câu

ở bình diện cú pháp mà không coi trọng bình diện nghĩa và bình diện sử dụng

của câu

Theo tác giả Diệp Quang Ban trong sách "Ngữ pháp tiếng Việt"

[1, tr.105], ông cho rằng câu ngày nay người ta thường nêu ra các yếu tố sau đây:

Yếu tố hình thức: Câu có cấu tạo ngữ pháp bên trong và bên ngoài có

tính chất tự lập và có một ngữ điệu kết thúc

Yếu tố nội dung: Câu có nội dung là một sự tưởng tượng đối trọn vẹn và

có thể kèm thái độ của người nói hay nội dung làm thái độ, tình cảm của

người nói

Yếu tố chức năng: Câu có chức năng hình thành và biểu hiện truyền đạt

tư tưởng, tình cảm Nó là đơn vị thông báo nhỏ nhất

Lĩnh vực nghiên cứu: Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ

Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn9 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn9 of 56.

Trang 10

Như vậy, một định nghĩa về câu sẽ như sau: "Câu là đơn vị của nghiên cứu có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩ tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nó hoặc có kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ" [1, tr.106]

Định nghĩa trên tương đối đầy đủ Nó đề cập đến hai thành phần nghĩa

cơ bản của câu là sự việc và nghĩa tình thái Đây cũng là hai thành phần nghĩa

được giảng dạy trong bài "Nghĩa của câu" trong SGK Ngữ văn 11 (tập 2)

Trong khi đó, tác giả Cao Xuân Hạo khi bàn về nghĩa của câu lại cho

rằng: "Nghĩa của câu là cấu trúc nhiều tầng Các tầng nghĩa trong câu phối hợp với nhau tạo ra cái nghĩa hành chức ấy và được như vậy thì mới là hiểu nhau Nghĩa của câu nhiều khi ở trên bề mặt của nó nhưng nhiều khi chỉ thấy được trong bề sâu của nó." [6, tr.103]

“Nghĩa của câu” là một nội dung kiến thức quan trọng trong chương

trình Ngữ văn THPT Cho đến nay, việc dạy học nội dung này đã được nhiều nhà nghiên cứu và cả GV phổ thông quan tâm nhằm tìm ra những hình thức tổ chức hướng dẫn HS tiếp cận những tri thức này đạt kết quả cao Tuy nhiên, trong khóa luận này, chúng tôi tập trung vào tìm hiểu và bước đầu vận dụng

một hình thức tổ chức hướng dẫn HS tiếp cận với “Nghĩa của câu” trong

SGK Ngữ văn 11 - THPT Đó là sử dụng mô hình (MH) trường học VNEN hướng tới mục đích tạo ra hiệu quả cho việc tổ chức dạy học bài học và tạo hứng thú, và sự say mê học Tiếng Việt cho chủ thể học tập - HS

2.2 Lịch sử nghiên cứu về mô hình trường học mới VNEN

Ở Việt Nam, MH trường học mới VNEN đã và đang được chú trọng nghiên cứu cũng như đưa vào thử nghiệm tại một số cấp học ở nhiều trường trên phạm vi cả nước Có thể kể đến một số công trình bàn luận và đánh giá

Trang 11

6

về MH như:

1 Đặng Tự Ân - Mô hình trường học mới Việt Nam Hỏi - Đáp NXB Giáo dục Việt Nam, 2014

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo - Vụ Giáo dục Tiểu học - Dự án Mô hình

trường học mới Việt Nam, Hướng dẫn tổ chức sinh hoạt chuyên môn tại các trường thực hiện mô hình trường học mới Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, 2013

Từ năm 2011-2012, MH trường học mới VNEN được tiến hành thử nghiệm ở cấp Tiểu học Qua ba năm triển khai ở cấp Tiểu học đã khẳng định

mô hình trường học mới VNEN là mô hình trường học hiện đại, tiên tiến, phù hợp với mục tiêu đổi mới và đặc điểm của giáo dục của Việt Nam Do vậy,

mô hình tiếp tục được nhân rộng quy mô, năm 2014-2015 trên cả nước có

1447 trường Tiểu học có HS học hết lớp 5 theo MH trường học VNEN, Bộ cũng chỉ đạo 6 tỉnh triển khai thử nghiệm MH trường học mới này tại bậc THCS Đã có 46 lớp 6, trong 24 trường THCS triển khai và thực nghiệm thành công Tiếp đó, năm 2015-2016, trên cả nước đã có 3700 trường tiểu học

và 1600 trường THCS tham gia triển khai MH trường học mới

Từ những thành công và khả năng ứng dụng của MH này đem lại hiệu quả cao trong học tập của HS, nên hướng nghiên cứu về việc thiết kế và tổ chức dạy học theo MH VNEN ở bậc THPT đang hứa hẹn sẽ đem lại bước tiến toàn diện hơn cho PPDH ở nhà trường Việt Nam Đối với chương trình Ngữ văn ở bậc THPT, nghiên cứu áp dụng MH trường học mới VNEN vào dạy học giờ tiếng Việt còn là một hướng mới, hứa hẹn sẽ đem lại nhiều kì vọng đem vào ứng dụng trong thời gian gần nhất Nhận thấy rõ tính tích cực và khả năng có thể ứng dụng cao đó của MH trường học mới VNEN, cùng với nội

dung bài Nghĩa của câu có nhiều điểm thích hợp đưa vào ứng dụng thử

nghiệm MH trường học mới, chúng tôi tiến hành bài nghiên cứu với đề tài:

Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn11 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn11 of 56.

Trang 12

Vận dụng mô hình trường học mới VNEN vào thiết kế dạy học bài

“Nghĩa của câu” (Ngữ văn 11)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu đề tài nhằm tìm ra một phương hướng dạy học bài "Nghĩa của câu", tạo ra sự sáng tạo và kích thích nhu cầu học tập cho HS trong dạy

học tiếng Việt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng hợp các vấn đề lý thuyết về MH trường học mới VNEN và nghĩa của câu

- Đề xuất cách vận dụng MH trường học mới VNEN khi dạy học bài

"Nghĩa của câu" trong SGK Ngữ văn 11 (bộ chuẩn)

- Thử nghiệm nhằm bước đầu đánh giá kết quả đề xuất

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- MH trường học mới VNEN trong giáo dục

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Bài "Nghĩa của câu" trong SGK Ngữ văn 11 (bộ chuẩn)

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp chính sau:

5.1 Phương pháp phân tích ngôn ngữ

Phương pháp này sử dụng khi đi phân tích các ngữ liệu trong bài học và phần luyện tập

5.2 Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp này sử dụng khi tiến hành so sánh các ngữ liệu trong bài học nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu trong đề tài

Trang 13

8

5.3 Phương pháp quan sát

Phương pháp này sử dụng khi GV bao quát toàn bộ lớp học, bao quát hoạt động các nhóm, hoạt động cá nhân trong giờ học ứng dụng MH VNEN

để kịp thời giải quyết các thắc mắc của HS Đối với MH này, GV và HS đều

thực hiện quan sát mọi hoạt động lớp học

Khóa luận được triển khai làm 3 phần: mở đầu, nội dung, kết luận

Phần nội dung được bố cục thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng mô hình trường

học mới VNEN vào dạy học bài “Nghĩa của câu”

Chương 2: Thiết kế hoạt động dạy học bài "Nghĩa của câu" trong SGK

Ngữ văn 11 (bộ chuẩn) theo mô hình trường học mới VNEN

Chương 3: Thử nghiệm sư phạm

Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn13 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn13 of 56.

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG

MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC VNEN VÀO DẠY HỌC

BÀI NGHĨA CỦA CÂU

1.1 Giới thiệu chung về Mô hình trường học VNEN

1.1.1 Khái niệm mô hình trường học VNEN

MH trường học mới tại Việt Nam - VNEN (Việt Nam Escuela Nueva - VNEN) là một kiểu MH nhà trường hiện đại, tiên tiến, phù hợp với mục tiêu đổi mới và đặc điểm của giáo dục Việt Nam VNEN là cụm từ viết tắt của Việt Nam Escuela Nueva tức là MH trường học mới tại Việt Nam Đó là sự vận dụng MH nhà trường đã được thí điểm thành công ở Cô-lôm-bi-a và một

số nước Châu Mĩ la tinh (Escuela Nueva) MH này được đề xuất từ MH EN (đó là MH nhà trường kiểu mới được thực hiện tại nước Cộng hòa Côlômbia)

MH EN đã đưa ra được một giải pháp giáo dục cụ thể để thay đổi nhà trường, phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục hiện đại

Ở Việt Nam, theo báo cáo nhanh của Dự án MH trường học mới, tính

từ năm 2011, VNEN đã được triển khai thí điểm và nhân rộng ở bậc Tiểu học tại 63 tỉnh, thành phố, với gần 2000 trườngvà gần 70.000 HS tham gia Đây là

MH dạy học không những đổi mới về tổ chức lớp học, về trang trí lớp mà quá trình dạy học cũng được đổi mới từ dạy - học cả lớp sang dạy học theo nhóm

1.1.2 Nguyên tắc tổ chức các hoạt động trong mô hình trường học VNEN

Mô hình trường học mới VNEN được triển khai dựa trên nguyên tắc phối hợp các hoạt động học tập cá thể với sự tương tác của HS - HS và HS - GV; hướng HS đến sự phát triển toàn diện, không chỉ hoạt động lĩnh hội kiến thức mà còn rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế sinh động, năng lực tự học, kỹ năng sống, tự phục vụ bản thân, tự quản tập thể, bồi dưỡng hứng thú học tập để học tập suốt đời MH trường học mới chú trọng

Trang 15

10

phát huy năng lực riêng của từng HS, không ứng xử một cách đồng loạt bằng cách quan tâm đến từng học sinh ngay trong quá trình học tập, kịp thời động viên kết quả đạt được, phát hiện những điểm mạnh để khuyến khích, những khó khăn để hướng dẫn; đánh giá tiến bộ của HS theo yêu cầu giáo dục, không so sánh HS này với HS khác Để đạt được những mục tiêu giáo dục như trên, MH trường học mới xác định nguyên tắc hoạt động như sau:

Quan điểm chỉ đạo các hoạt động của MH trường học mới được xây dựng dựa

trên hai trụ cột lý thuyết giáo dục là Thuyết kiến tạo và Thuyết hoạt động, trong đó: Thuyết kiến tạo có vai trò là tiền đề xây dựng những định hướng cho

việc triển khai các nhiệm vụ giáo dục cụ thể Quan điểm chỉ đạo của thuyết

này là: Mỗi người học là một chủ thể kiến tạo tích cực, tự phản ánh, khám phá, cải tạo thế giới từ kinh nghiệm, hiểu biết riêng của mình Người ta không thể dạy một người nào đó, mà chỉ có thể giúp đỡ, hỗ trợ để người đó tự mình khám phá, phát triển Gắn với chủ trương trên, người ta xác định rõ mọi khâu, mọi hoạt động của quá trình giáo dục đều phải xuất phát từ chủ thể HS Và

chính chủ thể HS cũng là một nhân tố quan trọng của hoạt động giáo dục

Còn thuyết hoạt động nhấn mạnh: Con người tự sinh ra bản thân mình bằng hoạt động của chính mình Mỗi cá nhân bằng hoạt động của mình hình

thành nên nhân cách và tạo ra sự phát triển của bản thân Theo Vưgôtxki, yếu

tố quyết định sự hình thành và phát triển tâm lý, nhân cách con người “là hoạt động của chính con người” Với quan điểm chỉ đạo của thuyết này, MH

trường học mới xác định mọi khâu của quá trình giáo dục đều lấy hoạt động làm căn cứ Hoạt động ở đây là những hành động cụ thể của chủ thể học tập –

HS Và thông qua quá trình hoạt động của các em, người ta đánh giá chất lượng giáo dục Trên nền tảng của các lý thuyết nêu trên, VNEN xác định các nguyên tắc vận hành của mô hình dạy học theo bốn định hướng lớn:

- Định hướng về người học: HS là trung tâm của quá trình dạy học HS

Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn15 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn15 of 56.

Trang 16

được hướng dẫn để tự thực hiện quá trình học tập với một chương trình tự học theo từng bước HS được phát huy tính tích cực để tìm tòi, khám phá tri thức

và vận dụng kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống HS được giao quyền tự quản

và tăng cường hợp tác trong quá trình học tập

- Định hướng về người dạy: GV là người tổ chức, hướng dẫn HS học

theo từng bước dựa trên tài liệu học GV phải góp phần kiến tạo, duy trì và thúc đẩy một môi trường học tập tích cực, cởi mở, chú trọng tính hợp tác và cạnh tranh giữa các cá nhân HS

- Định hướng cho nhà trường: Nhà trường thiết lập mối liên hệ chặt chẽ

với cha mẹ HS và cộng đồng để cùng tham gia vào quá trình giáo dục và các

dự án giáo dục tại cộng đồng

- Định hướng về chương trình, nội dung và hoạt động dạy học:

Chương trình, nội dung và hoạt động dạy học phải gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống

Đi sâu vào việc tổ chức các họat động dạy học trong mỗi giờ học, VNEN xác định có 5 hoạt động:

Khởi động: Tổ chức HS huy động vốn kiến thức, kĩ năng của bản thân

để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức, kĩ năng mới, để giải quyết những vấn đề liên quan đến bài học, tạo hứng thú, động cơ học tập, từ đó bước đầu đánh giá khả năng, nhu cầu của HS

Hình thành kiến thức mới: HS tự chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kĩ

năng mới thông qua việc trực tiếp tiến hành hệ thống các bài tập/ nhiệm vụ dưới sự hướng dẫn của GV

Luyện tập: HS vận dụng kiến thức, kĩ năng vừa học để giải quyết nhiệm

vụ cụ thể, tương tự do sách giáo khoa hoặc GV đưa ra

Vận dụng: HS sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các vấn

đề, nhiệm vụ thực tiễn trong cuộc sống GV định hướng, gợi ý HS tự đặt ra

Trang 17

12

trên cơ sở bài học, đây là hoạt động ở nhà, cộng đồng, giúp HS gắn với gia đình, địa phương

Mở rộng (tìm tòi mở rộng): Khuyến khích HS tiếp tục tìm hiểu, mở

rộng kiến thức, kĩ năng từ các nguồn/kênh thông tin khác như sách, báo, mạng Internet…; tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh từ nội dung bài học, từ thực tiễn cuộc sống, vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết bằng những cách khác nhau Hoạt động này được chủ yếu giao cho HS thực hiện ở nhà nhằm mục đích hình thành thói quen tự học cho các em

1.1.3 Tổ chức và quản lí lớp học của mô hình trường học VNEN

1.1.3.1 Sắp xếp bàn ghế học tập

Thay vì bàn ghế được sắp xếp theo hàng ngang như trước đây, các lớp học của mô hình VNEN yêu cầu sắp xếp lại bàn ghế theo nhóm HS: nhóm 4 hoặc nhóm 6 Vị trí chỗ ngồi của HS có sự thay đổi về tâm thế học tập và quan hệ tương tác giữa các HS Với cách ngồi theo hàng ngang, HS không cần tương tác với nhau, chỉ có quan hệ tương tác: GV và HS trong lớp học

Do đó, nảy sinh tâm lí lấy GV làm trung tâm của quá trình học tập; hoạt động học tập chủ yếu từ nghe giảng - ghi nhớ - vận dụng và tái hiện Cách học này chỉ tạo nên những bộ óc biết ghi nhớ và tái hiện mà không tạo nên được con người có các năng lực mà xã hội đang cần - năng lực tự chủ, năng lực phối hợp nhóm, năng lực tư duy, năng lực sáng tạo, …

Với vị trí ngồi học theo nhóm, cùng với cách tổ chức dạy học mới của

GV, bên cạnh việc được tiếp nhận, mở rộng kiến thức các môn học, HS còn

có điều kiện hình thành nhiều năng lực cần thiết của con người phù hợp với

xã hội đang phát triển Nhờ quan hệ tương tác được mở rộng, đa chiều: tương tác giữa HS (với tư cách là chủ thể của quá trình học tập) với tài liệu (với tư cách là đối tượng của quá trình học tập, được viết lại chủ yếu dành cho người học với các hướng dẫn sư phạm) dưới sự điều hành của nhóm trưởng và vai Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn17 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn17 of 56.

Trang 18

trò cố vấn của GV; tương tác giữa HS với dụng cụ học tập (tranh ảnh, đồ dung, vật thật,…); tương tác giữa HS với HS (hai chủ thể với nhau) thông qua vai trò của nhóm trưởng, của GV; tương tác giữa HS và GV và ngược lại Trong các quan hệ tương tác trên, HS thực sự được sống với tư cách là chủ thể của quá trình học tập Với vị thế của mình trong quá trình học tập như vậy, các hoạt động tương có tác dụng kích thích các hoạt động của bộ não nhằm bồi dưỡng cho các em những năng lực cần thiết Không chỉ có vậy, các

em còn từng bước hình thành và phát triển tác phong tự tin, tự chủ và độc lập trước những thử thách của cuộc sống

Tuy nhiên, muốn làm được điều đó, GV phải tạo được bầu không khí thân thiện trong các hoạt động của mỗi giờ học Tránh rủi ro do không quán xuyến được các hoạt động của mỗi HS trong giờ học Muốn vậy, GV phải có khả năng quan sát, khả năng điều chỉnh hành vi tốt hơn là khả năng quan sát, khả năng thuyết trình tốt như các giờ dạy trước đây

1.1.3.2 Xây dựng hội đồng tự quản học sinh

Hội đồng tự quản HS là một biện pháp giáo dục nhằm thúc đẩy sự giáo dục về đạo đức, tình cảm xã hội của HS thông qua những kinh nghiệm hoạt động thực tế của các em trong nhà trường và mối quan hệ với những người xung quanh Hội đồng tự quản của HS được thành lập vì chủ thể học tập và bởi chính các em nhằm đảm bảo cho các em tham gia một cách toàn diện vào các hoạt động của nhà trường và phát triển lòng khoan dung, sự tôn trọng, bình đẳng, tinh thần hợp tác đoàn kết cho HS Hội đồng tự quản của HS phát triển kĩ năng ra quyết định, kĩ năng hợp tác và kĩ năng lãnh đạo Đồng thời cũng chuẩn bị cho các em ý thức trách nhiệm khi thực hiện những quyền và bổn phận của mình Với sự hướng dẫn của GV, HS sẽ tổ chức Hội đồng tự quản và thành lập các ban để lập kế hoạch và thực thi các hoạt động, các dự

án Nhà trường nên khuyến khích sự tham gia của phụ huynh HS và các hoạt

Trang 20

và bằng cả các kế hoạch dài hơi được xây dựng môt cách bài bản Như vậy, Hội đồng tự quản trong VNEN khi được tập huấn rèn luyện có khả năng tổ chức hoạt động tự học của lớp rất tốt và hiệu quả

1.1.3.3 Xây dựng góc học tập

Trong MH VNEN, mỗi lớp học đều có góc học tập Góc học tập do GV,

HS và cộng đồng cùng xây dựng Góc học tập chia theo các môn học và có các vật liệu phục vụ cuộc sống, các dụng cụ hỗ trợ học tập,… Góc học tập có

ý nghĩa rất lớn và không thể thiết trong quá trình học tập của HS, nhất là quá trình tự học Việc quan sát và sử dụng các đồ vật ở góc đồ vật ở góc học tập giúp các em tăng cường khả năng thực hành thao tác và phát triển kiến thức của chính bản thân mình HS có thể tự nghiên cứu và sử dụng thời gian rảnh rỗi của mình vào những chủ đề mà các em yêu thích ở góc học tập Chính điều này tạo nên khả năng tự tìm tòi, khám phá và nghiên cứu cho các em ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường Thông qua quan sát cách HS làm việc, quá trình HS làm việc ở góc học tập GV có thể phát hiện tính cách, thiên hướng nghề nghiệp cho mỗi em để giúp các em phát triển tốt hơn Góc học tập với nhiều đồ dùng, tài liệu học tập giúp các em có đủ phương tiện phục vụ cho việc giúp các em cập nhật, củng cố hoặc mở rộng hiểu biết cho bản thân

Từ đó, các em sẽ có hứng thú học tập hơn

1.1.3.4 Xây dựng góc thư viện

Thư viện là một công cụ quan trọng tạo cơ hội cho HS học tập một cách tích cực, chủ động, đồng thời cũng cấp các nguồn tài liệu khác nhau để HS học tập và nghiên cứu

Thư viện đóng vai trò là nguồn tài liệu phong phú cho một môn học, một chủ đề mà sách hướng dẫn không thể đáp ứng nổi Chính vì vậy, sách thư viện

là công cụ hữu ích giúp HS tự học Không những vậy, thư viện còn là nhân tố đóng góp vào công việc khơi dậy sự tò mò muốn tìm hiểu về thế giới xung

Trang 21

Từ những đặc điểm này, có thể thấy VNEN đã thể hiện được những tư tưởng giáo dục tiến tiến của thời đại

1.1.4 Mục đích của việc sử dụng mô hình trường học VNEN trong giáo dục

Mô hình trường học VNEN tạo ra sự tương tác giữa HS với HS, giữa HS với GV, tăng thêm nhu cầu và yêu cầu HS cần tự học, giúp các em chủ động, sáng tạo hơn trong quá trình học tập Mô hình VNEN thúc đẩy sự phối hợp, tạo ra sự gắn kết và tăng cường sự tham gia, tương tác giữa các đối tượng chính của nhà trường Do đó, góp phần làm thay đổi PPDH, tiến tới đổi mới giáo dục một cách toàn diện đáp ứng được nhu cầu của xã hội hiện nay Mục đích của mô hình trường học mới VNEN sẽ tác động tích cực tới các nhân tố tham gia trực tiếp quá trình dạy - học và các nhân tố khác chi phối quá trình dạy - học

Mục đích hướng tới của mô hình trường học mới VNEN là:

 Giúp cho HS:

- Tự tin, biết cách suy nghĩ;

- Biết cộng tác, hợp tác với mọi người;

- Có kĩ năng làm việc nhóm;

- Biết quan tâm, có trách nhiệm trong các hoạt động;

- Biết phấn đấu làm chủ quá trình học tập của mình;

- Có nhiều kĩ năng trong giao tiếp và kĩ năng sống;

Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn21 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn21 of 56.

Trang 22

- Hiểu biết nhiều hơn

 Giúp cho GV có cơ hội để:

- Nghiệp vụ sư phạm được nâng cao;

- Có kĩ năng điều hành các hoạt động dạy học;

- Biết cộng tác theo xu hướng tích cực trong giáo dục;

- Biết quan tâm và hỗ trợ cho đồng nghiệp;

- Có cơ hội lãnh đạo trong phạm vị nhà trường và cộng đồng

 Đối với cha mẹ HS và cộng đồng:

- Có trách nhiệm và tham gia với nhà trường nhiều hơn;

- Hỗ trợ các hoạt động cụ thể của nhà trường;

- Được tiếp nhận, bổ sung tri thức từ nhà trường thông qua HS;

- Có liên quan trực tiếp và tích cực tới các hoạt động của nhà trường Như vậy, nội dung dạy học tuy không thay đổi nhưng đưa vào MH dạy học mới VNEN thì hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học và đánh giá HS được thay đổi cơ bản để phù hợp với xu thế đổi mới sư phạm chung của nhiều quốc gia tiên tiến trên thế giới

1.2 Những vấn đề chung về “Nghĩa của câu”

1.2.1 Khái niệm nghĩa của câu

Trong thời gian gần đây, việc nghiên cứu nghĩa của câu được quan tâm thích đáng trong ngôn ngữ học hiện đại, đặc biệt là trong ngữ pháp học chức năng

Ngôn ngữ được xem là một dạng tín hiệu với hai mặt cái biểu hiện và cái được biểu hiện Cái biểu hiện là hình thức của tín hiệu, là hình thức của các biểu thức ngôn ngữ Cái được biểu hiện là nghĩa của hình thức tín hiệu,

nghĩa của các biểu thức ngôn ngữ.Trong ngôn ngữ, cái biểu hiện tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau và ứng với mỗi cấp độ đó ta có một dạng ngữ nghĩa Ngữ nghĩa của câu chính là lĩnh vực ngữ nghĩa nghiên cứu nghĩa ở cấp độ câu

Khi bàn về câu, trong ngữ pháp truyền thống, có hai cách hiểu khác

Trang 23

18

nhau về đơn vị ngôn ngữ này Cách hiểu thứ nhất cho rằng câu là loại đơn vị lớn nhất của ngôn ngữ và là giới hạn cuối cùng của đối tượng ngữ pháp Với cách hiểu này, câu thuộc bình diện ngôn ngữ, tách ra khỏi ngữ cảnh Khi nghiên cứu câu trong quan điểm này người ta chỉ chú ý đến cấu trúc của câu chưa chú ý tới nghĩa của câu

Còn cách hiểu thứ hai cho câu là đơn vị nhỏ nhất có chức năng mang nội dung thông báo Cách hiểu này gắn với chức năng, phù hợp với việc xem xét nghĩa Hiểu câu theo cách thứ hai, trong ngôn ngữ học truyền thống và hiện đại, có rất nhiều quan điểm về nghĩa khác nhau:

 Ngữ pháp học truyền thống chịu ảnh hưởng nhiều của logic cho rằng nghĩa của câu biểu thị 1 phán đoán (như từ biểu thị một khái niệm)

 Ngữ pháp phân đoạn thực tại cho nghĩa của câu là phần báo, phần thuyết (phân biệt với phần nêu, phần đề)

 Ngữ pháp tạo sinh - cải biến của trường phái N Chomsky cho nghĩa của câu là nội dung cấu trúc sâu, cấu trúc chìm của câu phân biệt với cấu trúc nổi, cấu trúc bề mặt của câu

 Ngữ pháp chức năng, M.A.K Halliday cho câu phân biệt với cú và cú thì có 3 nét nghĩa “cú như là 1 thông điệp”, “cú như là một sự trao đổi”, “cú như là sự thể hiện” Những kiểu loại nghĩa cụ thể này nằm trong khung hệ thống nghĩa bao trùm hơn mà Halliday gọi là các siêu chức năng, các nguồn lực tạo nghĩa của ngôn ngữ Đó là: (1) siêu chức năng tư tưởng hay biểu ý hay còn gọi là siêu chức năng phản ánh; (2) siêu chức năng liên nhân; (3) siêu chức năng ngôn bản Như vậy cũng có thể hiểu nghĩa của câu, nghĩa của cú (theo Halliday) bao hàm những phạm vi và kiểu loại vừa dẫn trên Đó cũng là cách hiểu nghĩa của câu nói chung, câu không phân biệt với lời

Nhưng nói đến nghĩa của câu thì không thể không nói đến các thành phần cấu tạo nghĩa cho câu Trong ngữ nghĩa học hiện đại, nghĩa của câu Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn23 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn23 of 56.

Trang 24

được quan niệm không chỉ được cấu tạo từ thành phần chức năng mà từ thành

tố nghĩa với các tên gọi: vị tố, chủ tố, tham tố, diễn tố Như vậy việc đi sâu vào thành tố nghĩa là 1 bước tiến Nó cụ thể hóa thêm một bước nội dung nghĩa của thành phần chức năng của câu

1.2.2 Các thành phần ý nghĩa trong câu

Nghĩa của câu thường được quan niệm gồm hai thành phần cơ bản là nghĩa sự việc và nghĩa tình thái

Bộ quần áo này vừa mới mua xong

Ví dụ trên thông báo cho người ta biết bộ quần áo này (sự vật trong đời sống khác quan) vừa mới mua xong (chứ không phải đã mặc lâu rồi hay là quần áo cũ)

Sự việc trong hiện thực là vô cùng phong phú và đa dạng Bởi vậy nghĩa

sự việc được biểu hiện trong câu cũng khá đa dạng và phong phú tùy thuộc vào mục đính phản ánh của người sử dụng Các yếu tố ngôn ngữ diễn đạt nghĩa biểu hiện trong câu kết hợp với nhau làm thành cấu trúc biểu hiện Cấu trúc ấy là vị tố - tham thế và tham thể - cảnh huống (tham thể mở rộng) Vị tố (VT) là cái lõi của mệnh đề, đóng vai trò trung tâm của vị ngữ Tham thể (TT)

là cái thực thể xung quanh vị tố Mỗi tham thể sẽ đảm nhiệm những vai nghĩa

Trang 25

20

nhất định Còn cảnh huống chính là yếu tố xuất hiện trong việc do tình huống, hoàn cảnh mách bảo chứ không phải do ý kiến của vị tố quy định Tuy vậy, cảnh huống cũng được ý nghĩa ở vị tố chấp nhận chứ không phải có thể ghép cảnh huống vào sự việc một cách tùy tiện.Ví dụ:

Ngoài vườn, chị và em hái rau (1 vị tố - 3 tham thể)

Cảnh huống TT1 TT2 VT TT3 Câu trên được phân tích theo cấu trúc vị tố - tham thể và cảnh huống

Cảnh huống ở đây chính là thời gian vào"ngoài vườn", vị tố trung tâm là động

từ "hái" Còn tham thể 1 "chị" và tham thể 2 "em" (chủ thể hành động), tham thể 3 "rau" (đối thể của hành động)

Như vậy, nghĩa sự việc là hiểu nghĩa cơ bản và thường gặp nhất trong câu giúp người đọc, người nghe nắm bắt được về các sự vật, hiện tượng, nội dung thông báo một cách rõ ràng, cụ thể nhất Bên cạnh nghĩa sự việc, chúng

ta còn bắt gặp cả sự đánh giá, nhận xét, thái độ của người nói, người viết đối với sự việc được nói đến trong câu và đối với đối tượng giao tiếp Đó chính là nghĩa tình thái trong câu - một trong hai thành phần cơ bản của câu

1.2.2.2 Nghĩa tình thái

Đây là một lĩnh vực khác phức tạp trong bình diện nghĩa của câu Nghĩa tình thái là thành phần nghĩa phản ánh thái độ của người nói vào trong câu Hay đó chính là thông tin đi kèm sự việc (sự tình), là sự áp đặt nhận thức của người nói lên các nhân tố của sự việc Nghĩa tình thái được biểu hiện chủ yếu

ở hai khía cạnh Đó là:

+ Sự nhìn nhận, đánh giá và thái độ của người đối với sự việc được đề cập đến trong câu.Ví dụ:

Hôm nay, chắc chắn trời sẽ nắng to

Câu trên đã thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu Đó là sự phán đoán ở mức độ tin cậy cao là hôm Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn25 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn25 of 56.

Trang 26

nay trời sẽ nắng to

+ Tình cảm, thái độ của người nói đối với người nghe Ví dụ:

Chị cho em đi chơi với

Ví dụ trên cho ta thấy thái độ thân mật của người em đang mong muốn,

đề nghị chị cho đi chơi cùng qua từ tình thái "với" ở cuối câu

Nghĩa tình thái có thể biểu đạt bằng từ tình thái ở cuối câu (à, ư, nhỉ, nhé ), động từ (cần, phải, nên, ), phó từ (cũng, vẫn, ), liên từ (vì, nên, ), kiểu câu (trần thuật, cầu khiến, cảm thán, )

VD: Cùng một nội dung sự việc là: Anh về quê Nếu thêm các phương tiện biểu đạt tình thái khác nhau thì nghĩa tình thái của câu sẽ thay đổi

1 Anh về quê (Thông báo sự việc anh về quê)

2 Có phải anh về quê không? (Sự hoài nghi, chưa chắc chắn về

việc anh có về quê hay không)

3 Anh về quê đi! (Thể hiện sự cầu khiến, thúc giục anh hãy về

quê)

4 Anh về quê đó à? (Đây có thể là một câu hỏi nhưng với mục đích

là lời chào thân mật theo thói quen sử dụng ngôn người Việt Nam)

Như vậy, qua nghĩa tình thái của câu, chúng ta thấy được bóng dáng của người nói với những đặc điểm tâm lí, tính cách, thái độ khác nhau được thể hiện qua thành phần nghĩa này

Hai thành phần nghĩa trên hòa quyện vào nhau khó tách bạch rạch ròi

Đây là hai thành phần nghĩa cơ bản sẽ được đề cập đến trong bài “Nghĩa của câu”

Trang 27

22

Để đánh giá đúng thực tế dạy học bài Nghĩa của câu, chúng tôi tiến

hành thăm dò, điều tra, dự giờ GV qua hoạt động giảng dạy Ngữ văn Cụ thể:

 Phát phiếu thăm dò ý kiến GV Trước hết, chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến của GV thông qua các phiếu thăm dò Phiếu điều tra gồm 15 phiếu, được phát cho GV tổ Văn, trường THPT Tây Tiền Hải – Tiền Hải – Thái Bình (Nội dung phiếu theo phụ lục) Sau khi tiếp nhận ý kiến của đội ngũ GV, chúng tôi nhận thấy:

Câu 1 Chúng tôi nhận được rất nhiều câu trả lời khác nhau về tầm quan

trọng của bài Nghĩa của câu nói riêng và dạy học tiếng Việt nói chung, bài

học giúp cho HS nhận biết về các thành phần ý nghĩa của câu, hiểu khi nói (viết) một câu ngoài cần đúng về ngữ pháp còn cần chú ý về mặt ý nghĩa của câu Từ đó, HS sẽ thiết lập được câu đúng trong yêu cầu sử dụng tiếng Việt về

cả hình thức và nội dung

Câu 2 Ở câu hỏi thứ 2, đa số các ý kiến đều cho rằng: Mặc dù GV nhận thức được tầm quan trọng về kiến thức của bài, song trong quá trình dạy học gặp không ít khó khăn bởi kiến thức bài học mới và có nhiều khía cạnh kiến thức khô khan do đó đại đa số các em đều tỏ ra không hứng thú với giờ

học tiếng Việt nói chung và khi học bài Nghĩa của câu nói riêng Không chỉ

thế, quá trình dạy học GV còn ngại đổi mới phương pháp dạy học do đã quen với cách dạy truyền thống, thay đổi làm họ cần phải chuẩn bị nhiều hơn Tuy vậy, một số GV đã chủ động thay đổi phương pháp dạy học trong một vài tiết dạy để giúp cho giờ dạy hấp dẫn và đạt hiệu quả cao hơn Nhưng trong quá trình dạy học ứng dụng một số phương pháp mới đó vẫn chưa đạt được hiệu quả cao nhất, chưa thu được hiệu quả hơn nhiều so với sử dụng phương pháp thông thường của mô hình trường học truyền thống Điều đó dẫn tới thực tế là sức hút trong giờ học với HS còn hạn chế, kết quả thu được chưa cao

Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn27 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn27 of 56.

Trang 28

Câu 3 Đa số GV đều nhận thấy VNEN là một mô hình trường học mới hiện đại và có nhiều điểm phù hợp, khả thi khi đưa vào áp dụng ở bậc THPT

mà cụ thể là trong môn Ngữ Văn Đối với giờ học tiếng Việt nói chung và cụ

thể là dạy bài Nghĩa của câu ,khi đưa vào thử nghiệm áp dụng dạy học theo

mô hình này các GV bày tỏ hy vọng và kì vọng lớn của họ là mô hình trường mới sẽ đem lại hứng thú cho HS trong giờ học và hiệu quả học tập tốt hơn Từ

đó, họ bày tỏ hy vọng trong tương lại sẽ có thể ứng dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực vào từng bài giảng để HS càng ngày càng yêu thích và học tập thật tốt bộ môn Ngữ văn Bên cạnh đó, các GV cũng đều đưa ra được

những thuận lợi và khó khăn khi soạn giáo án bài Nghĩa của câu theo mô hình

+ HS hứng thú với những hình thức học mới, nội dung đa dạng

+ HS nắm vai trò chủ động trong mọi hoạt động của giờ học Các em sẽ chủ động chuẩn bị bài ở nhà, chủ động và có trách nhiệm trước mọi yêu cầu trong giờ học, phát huy cao độ tính tích cực của HS, áp dụng bài học vào thực tiễn cuộc sống dễ dàng hơn

+ HS có kĩ năng thuyết trình, kĩ năng giao tiếp và kĩ năng sống tốt hơn + Ngoài ra, HS sẽ đủ tự tin và sẵn sàng kịp thời chỉ ra lỗi sai trong cách nói (viết) câu của cha mẹ HS và mọi người xung quanh, làm cho cha mẹ và cộng đồng cùng có trách nhiệm hơn trong hỗ trợ các hoạt động giáo dục trong nhà trường

Trang 29

này vào dạy học bài Nghĩa của câu nói riêng và dạy học Ngữ văn nói chung

1.3.1.2 Điều tra, khảo sát đối tượng HS

Bên cạnh việc thăm dò, khảo sát ý kiến của GV, chúng tôi cũng tiến hành thăm dò thái độ, ý kiến của HS - chủ thể trung tâm của quá trình dạy học Đối tượng được điều tra, khảo sát là HS lớp 11, trường THPT Tây Tiền Hải (Tiền Hải – Thái Bình) Chúng tôi tiến hành điều tra về thái độ, không khí

học tập, kết quả học tập trước và trong quá trình GV dạy bài Nghĩa của câu

để có cơ sở đối chiếu Phiếu điều tra gồm 45 phiếu, được phát cho HS trường THPT Tây Tiền Hải – Tiền Hải – Thái Bình (Nội dung phiếu ở phụ lục) Với các câu hỏi trong phiếu, chúng tôi nhận thấy:

Header Page - Phng pháp dy hc Ng vn29 of 56.

Footer Page -Phng pháp dy hc Ng vn29 of 56.

Ngày đăng: 10/11/2017, 17:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w