1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp: Ứng dụng mô hình Logistic xếp hạng tín dụng khách hàng doanh nghiệp

69 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh mục bảng 3 Lời mở đầu 4 CHƯƠNG 1: NHỮNG LÍ THUYẾT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM, RỦI RO, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO 7 1.1. LỊCH SỬ NGÂN HÀNG VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KÌ 7 1.2. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 10 1.2.1. Khái niệm 10 1.2.2 Các nghiệp vụ chính của ngân hàng thương mại 11 1.2.2.1 Huy động vốn 11 1.2.2.2 Sử dụng vốn 11 1.2.2.3 Cung cấp các dịch vụ tài chính 12 Nhận xét 12 1.3. LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO 13 1.3.1. Khái niệm rủi ro 13 1.3.2 Các loại rủi ro thường gặp trong hoạt động ngân hàng 13 1.3.3 Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng 14 1.3.3.1 Phân loại rủi ro tín dụng 14 1.3.3.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 15 1.3.3.3. Hậu quả của rủi ro tín dụng 18 1.3.4 Quản trị rủi ro tín dụng và sự cần thiết của việc quản trị rủi ro tín dụng 19 1.3.4.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 19 1.3.4.2. Sự cần thiết của việc quản trị rủi ro tín dụng 19 1.3.4.3 Ủy ban Basel và công tác quản trị rủi ro tín dụng 19 1.3.3.4 Phân loại và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 20 1.4. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XẾP HẠNG TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI 22 1.4.1. Mô hình chấm điểm tín dụng 22 1.4.2. Mô hình chỉ số Z 23 1.4.3. Phương pháp xếp hạng của SP và Moody’s 25 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU (ACB) 27 2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 27 2.1.1 Giới thiệu chung 27 2.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của ACB trong những năm gần đây 30 2.1.4. Tình hình quản trị rủi ro tín dụng tại ACB 34 2.1.4.1. Những thành tựu trong quản lí rủi ro tại ACB 34 2.1.4.2. Hạn chế trong quản trị rủi ro tại ACB 36 2.2. THỰC TRẠNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU 37 2.2.1. Phạm vi, mục đích chấm điểm tín dụng 37 2.2.2 Các căn cứ để chấm điểm tín dụng doanh nghiệp 37 CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LOGISTIC XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU 46 3.1. MÔ HÌNH LOGISTIC 46 3.2. NGUỒN SỐ LIỆU 49 3.3. CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH 49 3.4 ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH VÀ LỰA CHỌN BỎ BIẾN 52 3.5 SỬ DỤNG MÔ HÌNH LOGISTIC ĐỂ XẾP HẠNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 62 3.6 SO SÁNH MÔ HÌNH LOGISTIC VÀ MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DUNG 63 3.7 KIẾN NGHỊ 64 KẾT LUẬN 66

Trang 1

Khoa Toán kinh tế

Hà Nội- 2014

Trang 2

Danh mục bảng 3

Lời mở đầu 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÍ THUYẾT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM, RỦI RO, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO 7 1.1 LỊCH SỬ NGÂN HÀNG VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KÌ 7

1.2 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 10

1.2.1 Khái niệm 10

1.2.2 Các nghiệp vụ chính của ngân hàng thương mại 11

1.2.2.1 Huy động vốn 11

1.2.2.2 Sử dụng vốn 11

1.2.2.3 Cung cấp các dịch vụ tài chính 12

Nhận xét 12

1.3 LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO 13

1.3.1 Khái niệm rủi ro 13

1.3.2 Các loại rủi ro thường gặp trong hoạt động ngân hàng 13

1.3.3 Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng 14

1.3.3.1 Phân loại rủi ro tín dụng 14

1.3.3.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 15

1.3.3.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng 18

1.3.4 Quản trị rủi ro tín dụng và sự cần thiết của việc quản trị rủi ro tín dụng 19

1.3.4.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 19

1.3.4.2 Sự cần thiết của việc quản trị rủi ro tín dụng 19

1.3.4.3 Ủy ban Basel và công tác quản trị rủi ro tín dụng 19

1.3.3.4 Phân loại và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 20

1.4 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XẾP HẠNG TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI 22

1.4.1 Mô hình chấm điểm tín dụng 22

1.4.2 Mô hình chỉ số Z 23

1.4.3 Phương pháp xếp hạng của S&P và Moody’s 25

Trang 3

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU

(ACB) 27

2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 27

2.1.1 Giới thiệu chung 27

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của ACB trong những năm gần đây 30

2.1.4 Tình hình quản trị rủi ro tín dụng tại ACB 34

2.1.4.1 Những thành tựu trong quản lí rủi ro tại ACB 34

2.1.4.2 Hạn chế trong quản trị rủi ro tại ACB 36

2.2 THỰC TRẠNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU 37

2.2.1 Phạm vi, mục đích chấm điểm tín dụng 37

2.2.2 Các căn cứ để chấm điểm tín dụng doanh nghiệp 37

CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LOGISTIC XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU 46

3.1 MÔ HÌNH LOGISTIC 46

3.2 NGUỒN SỐ LIỆU 49

3.3 CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH 49

3.4 ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH VÀ LỰA CHỌN BỎ BIẾN 52

3.5 SỬ DỤNG MÔ HÌNH LOGISTIC ĐỂ XẾP HẠNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP 62

3.6 SO SÁNH MÔ HÌNH LOGISTIC VÀ MÔ HÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DUNG 63

3.7 KIẾN NGHỊ 64

KẾT LUẬN 66

Danh mục bảng Bảng 1.1 Các hạng tín nhiệm của Moody’s và S&P 26

Bảng 2.1: Xác định quy mô doanh nghiệp 37

Trang 4

Lời mở đầu

Trang 5

Ngày nay, ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự

phát triển kinh tế trong nước và toàn cầu Có thể ví ngân hàng như huyết

mạch giúp nền kinh tế vận hành suôn sẻ hơn, giúp dòng tiền chảy từ

những người thừa vốn sang những người thiếu vốn, giúp cho các nhà đầu

tư, những người có đam mê với kinh doanh có cơ hội lập nghiệp, mở

rộng kinh doanh Ngân hàng là kênh cung ứng vốn chính cho toàn bộ nền

kinh tế Bên cạnh việc cho các doanh nghiệp vay vốn, ngân hàng còn có

cả nghiệp vụ cho vay cá nhân giúp người dân có cơ hội tiêu dùng trước

và chi trả sau, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống

Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ và

nhu cầu ngày một cao của nền kinh tế trong nước và thế giới Ngân

hàng ngày nay đảm nhiệm thêm rất nhiều nghiệp vụ cũng như tham gia

vào nhiều lĩnh vực khác nhau để tìm kiếm lợi nhuận Song hoạt động

huy động vốn và sử dụng vốn cho vay vẫn là hoạt động chính yếu tạo

ra thu nhập cho ngân hàng Trong đó hoạt động tín dụng giữa ngân

hàng là người cho vay và người đi vay là hoạt động mang lại lợi nhuận

lớn nhất, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất

Từ sau đổi mới, ngân hàng việt nam đã thực hiện tái cấu trúc và thu

được nhiều thành công nhất định Nhưng bên cạnh đó, các ngân hàng

đã gặp phải nhiều vấn đề trong việc quản lí, tổ chức và những rủi ro từ

phía người đi vay gây ra không ít tổn thất Vấn đề nợ xấu là vấn đề

đáng chú ý trong thời gian qua.Vấn đề nợ xấu có thể dẫn đến tình trạng

phá sản ngân hàng từ đó hệ lụy ra cả nền kinh tế vì ngân hàng có mối

quan hệ về vốn với nhiều tổ chức, cá nhân và các ngân hàng khác Vì

vậy, việc quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng là một

nghiệp vụ cần thiết và rất quan trọng đang được các ngân hàng rất

quan tâm

Nhiều ngân hàng đã và đang xây dựng, hoàn thiện cho mình một

mô hình xếp hạng tín dụng riêng nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro,

giảm bớt tỉ lệ nợ xấu cũng như đáp ứng yêu cầu của ngân hàng nhà

nước

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi chọn cho mình

đề tài nghiên cứu: “Ứng dụng mô hình logistic xếp hạng tín dụng

doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Á Châu”

Kết cấu chuyên đề này gồm 3 chương

Trang 6

Chương 1: Những lí thuyết về Ngân hàng thương mại Việt Nam, rủi

ro, rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP

Á Châu (ACB)

Chương 3: Ứng dụng mô hình logistic trong xếp hạng tín dụng

khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP Á Châu

Mục tiêu nghiên cứu:

- Hệ thống kiến thức về ngân hàng, rủi ro, rủi ro tín dụng và quản

trị rủi ro tín dụng, nguyên nhân, hậu quả

- Xem xét các mô hình xếp hạng trên thế giới

- Tìm hiểu hoạt động kinh doanh, thực trạng quản trị rủi ro ở ngân

hàng TMCP Á Châu

- Ứng dụng mô hình Logistic xếp hạng tín dụng 300 doanh nghiệp

có quan hệ tín dụng với ngân hàng TMCP Á Châu

- Đưa ra một số kiến nghị để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

- Các mô hình xếp hạng tín dụng hiện nay

- Hoạt động và quy trình xếp hạng tín dụng tại ngân hàng TMCP Á

Châu

- Khách hàng doanh nghiệp có quan hệ với ngân hàng TMCP Á

Châu

Phương pháp nghiên cứu:

Thông qua những kiến thức đã được học cùng với sự tìm hiểu thêm qua

sách báo và các tài liệu có sẵn cũng như thời gian thực tập tại ngân hàng

TMCP Á Châu Tôi trình bày tổng quan các lý thuyết liên quan đến vấn

đề nghiên cứu và ứng dụng mô hình Logistic đã được học ở môn kinh tế

lượng để xếp hạng khách hàng doanh nghiệp bằng chương trình Eviews

Nguốn số liệu: lấy từ báo cáo tài chính của các khách hàng có quan hệ

tín dụng với ngân hàng TMCP Á Châu

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Toán kinh

tế, đặc biệt là thầy Cao Xuân Hòa đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ tôi

trong quá trình lựa chọn đề tài, hướng nghiên cứu, sửa chữa và hoàn

thiện chuyên đề

Trang 7

Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị, cán bộ nhân viên ở ngân

hàng TMCP Á Châu đã tạo điều kiện cho tôi thực tập và tìm hiểu sâu

thêm về các hoạt động và nghiệp vụ ngân hàng

CHƯƠNG 1: NHỮNG LÍ THUYẾT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM, RỦI RO, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ

RỦI RO

1.1 LỊCH SỬ NGÂN HÀNG VIỆT NAM QUA CÁC THỜI

-Sau cách mạng tháng 8/1945, tình hình tài chính tiền tệ của chính

quyền cách mạng nước ta rất khó khăn: Kho bạc chỉ còn 1,25 triệu

đồng Đông Dương nhưng hơn một nửa là tiền rách Ngân hàng Đông

Dương vẫn nằm trong tay thực dân Pháp và chúng đang âm mưu phá

hoại tài chính- tiền tệ nước ta Nguồn thu hạn hẹp trong khi nhu cầu chi

cho chính quyền quá lớn Trước tình hình đó, Chính phủ đã kêu gọi

nhân dân quyên góp tài chính dưới nhiều hình thức như: “Tuần lễ

vàng”, “Quỹ độc lập”, và nhanh chóng gấp rút phát hành tiền với mục

đích xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ về kinh tế cũng như mọi mặt,

nền tảng để xây dựng và bảo vệ tổ quốc

-Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh số 15/SL thành

lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, đánh dấu mốc lịch sử khai sinh ra

nghành kinh tế trọng yếu- ngành Ngân hàng ở nước ta , với tổng giám

đốc đầu tiên là cố phó chủ tịch Nguyễn Lương Bằng, trụ sở đầu tiên đặt

tai xã Đầm Hồng- huyện Tuyên Hóa- Tỉnh Tuyên Quang Ngân hàng

Quốc gia Việt Nam có những nhiệm vụ chủ yếu là: quản lí kho bạc nhà

nước, quản lí việc phát hành và tổ chức lưu thông tiền tệ, huy động

vốn, cho vay tín dụng để phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa,

quản lí hoạt động tín dụng bằng biện pháp hành chính, quản lí ngoại

hối và các khoản giao giao dịch bằng ngoại tệ, đấu tranh tiền tệ với

địch

-Ngày 20/7/1951, thủ tướng chính phủ kí nghị định số 107/TTg

thành lập kho bạc nhà nước đặt trong Ngân hàng Quốc gia Việt Nam

và thuộc sự quản lí của bộ tài chính

-Ngày 21/1/1960, ngân hàng Quốc gia Việt Nam đổi tên thành

Ngân hàng nhà nước Việt Nam Đến năm 1975, các chính sách, cơ chế

quản lí kinh tế cũng như hệ thống tiền tệ đã áp dụng thống nhất cả

Trang 8

nước Hệ thống ngân hàng nước ta trong giai đoạn này được tổ chức

theo hệ thống ngân hàng một cấp bao gồm Ngân hàng trung ương và hệ

thống chi nhánh từ trung ương đến địa phương được phân theo địa giới

hành chính Hệ thống ngân hàng này vừa đảm nhiệm chức năng quản lí

nhà nước về tiền tệ, tín dụng, thanh toán vừa đảm nhiệm chức năng

kinh doanh như một ngân hàng thương mại Hệ thống ngân hàng một

cấp đã bộc lộ nhiều yếu kém: trong nhiều năm liên tục cán cân thanh

toán bội chi rất lớn, kinh tế vĩ mô mất cân đối nghiêm trọng, lạm phát

phi mã tới 3 con số (774%), sản xuất trì trệ, Hệ thống này chỉ phù hợp

với cơ chế quản lí kế hoạch hóa tập trung bao cấp lúc bấy giời Khi nền

kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường thì hệ thống không còn phát huy

tác dụng

-Từ năm 1986, trước sức ép của của công cuộc đổi mới nền kinh tế,

hệ thống NH dần dần cải tổ sâu rộng theo từng giai đoạn:

Giai đoạn1 (1987- 1990): cấu trúc lại hệ thống ngân hàng theo

nghị định 53HĐBT ngày 26/03/1988 nhằm làm cho hệ thống NH

thích nghi với cơ chế quản lí mới: Cơ chế kinh doanh xã hội chủ

nghĩa- bắt đầu trao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp, xóa bỏ bao

cấp, thực hiện chế độ hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa

Trong quá trình đó, có 2 đặc điểm nổi bật:

+ Thứ nhất, tách bộ phận quản lí quỹ ngân sách nhà nước ra khỏi

NHNN thành kho bạc nhà nước, làm chức năng quản lí ngân sách cho

chính phủ

+ Thứ hai, hệ thống NH chuyển từ hệ thống ngân hàng một cấp

thành ngân hàng hai cấp: Ngân hàng nhà nước Việt Nam và các ngân

hàng chuyên doanh Ngân hàng nhà nước Việt Nam được tổ chức thành

hệ thống từ trung ương đến cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lí nhà

nước về tiền tê và hoạt động ngân hàng Các ngân hàng chuyên doanh

gồm: ngân hàng Phát triển nông nghiệp Việt Nam, ngân hàng Công

thương Việt Nam, ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, ngân hàng Đầu

tư xây dựng Việt Nam thực hiện chức năng kinh doanh theo các lĩnh

vực tương ứng tên gọi

Đây là một bước chuyển quan trọng vì bước đầu tách bạch được rõ

ràng 2 chức năng quản lí và kinh doanh của NHNN Nhưng hệ thống

NH theo nghị định 53 này vẫn còn một số nhược điểm như: chưa cho

phép các thành phần kinh tế khác tham gia hoạt động, trong khi chủ

trương chính phủ là nền kinh tế nhiều thành phần Hệ thống NH kiểu

này còn khác biệt với hệ thống NH của các nước có nền kinh tế thị

trường nên làm cản trở thu hút đầu tư nước ngoài và khả năng hội

nhập Mặt khác, hệ thống vẫn còn thiếu những cơ sở pháp lí làm nền

Trang 9

tảng cho hệ thống hoạt động trôi chảy nên khiến cho hệ thống ngân

hàng lâm vào tình trạng khó khăn năm 1990

Giai đoạn 2 (từ 1990 đến 2000): Với yêu cầu chuyển đổi từ cơ chế

quản lí kinh doanh xã hội chủ nghĩa sang cơ chế kinh tế thị trường

với sự điều tiết của nhà nước với chủ trương nền kinh tế đa thành

phần, ngành NH lại tiếp tục cải tổ Ngày 23/05/1990, hội đồng nhà

nước ban hành hai pháp lệnh về ngân hàng nhà nước và về các tổ

chức tín dụng Theo đó, hệ thống NH bao gồm:

+ Ngân hàng nhà nước có chức năng ngân hàng trung ương thực hiện

quản lí nhà nước về tiền tệ, và hoạt động của hệ thống ngân hàng

+ Các tổ chức tín dụng bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu

tư phát triển, công ty tài chính và hợp tác xã tín dụng đóng vai trò ngân

hàng trung gian

Sự thay đổi này đã tạo ra những bước chuyển biến tích cực Hệ

thống ngân hàng về cơ bản đã giống với hệ thống của các nước có nền

kinh tế thị trường, có sự góp mặt của các ngân hàng liên doanh, chi

nhánh của ngân hàng nước ngoài, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài,

học hỏi thêm kinh nghiệm quản lí cũng như truyền bá công nghệ hiện

đại vào Việt Nam,

Giai đoạn 3 (từ năm 2000 đến nay)

Đây là giai đoạn hoàn thiện và trưởng thành của các ngân hàng

cũng như hệ thống pháp luật liên quan

Kết luận: trải qua các thời kì khác nhau, hệ thống ngân hàng đã có

những bước tiến tích cực để phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế thị

trường và hội nhập nền kinh tế thế giới

1.2 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

1.2.1 Khái niệm

Trên thế giới, có rất nhiều khái niệm khác nhau về NHTM nhưng

nhìn chung thì: NHTM là một định chế tài chính chuyên cung cấp đa

dạng các dịch vụ tài chính, trong đó nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi,

cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngoài ra, NHTM cũng

cung cấp các dịch vụ tài chính khác như: tư vấn tài chính, nhận tiền kí

quỹ, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội

Ở Việt Nam:

Trang 10

- Theo pháp lệnh ngân hàng 1990: “NHTM là một tổ chức kinh

doanh tiền tệ và có hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí

gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng vốn đó để cho

vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh

toán”

- Sau đó 10 năm, tại nghị định số 49/2001- NĐCP ngày 12/9/2000

đã định nghĩa:

“NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng

và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận,

góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước”

=) Qua sự nhìn nhận về các hoạt động của NHTM Việt Nam trong

thời gian qua Mặc dù đã có sự thay đổi định nghĩa về NHTM, NHTM

giờ đây không chỉ là nơi huy động vốn, cho vay, chiết khấu và làm

phương tiên thanh toán như giai đoạn đầu nữa mà nó còn tham gia vào

rất nhiều các dịch vụ và hoạt động kinh doanh khác vì mục tiêu lợi

nhuận Tuy nhiên, nhìn chung nguồn thu nhập của các NHTM Việt

Nam dù ở giai đoạn nào vẫn phụ thuộc rất lớn vào hoạt động tín dụng

(cho vay) Vì vậy, việc quản trị rủi ro tín dụng là một nghiệp vụ rất

quan trọng

1.2.2 Các nghiệp vụ chính của ngân hàng thương mại

Nhìn chung ngân hàng có các nghiệp vụ cơ bản là: huy động vốn,

sử dụng vốn và các dịch vụ tài chính khác

1.2.2.1 Huy động vốn

Vốn huy động là khoản tiền nhàn rỗi mà ngân hàng huy động được

từ các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình nhằm mục

đích làm vốn để kinh doanh thu lợi nhuận Vốn huy động không phải là

tài sản thuộc sở hữu của ngân hàng nên ngân hàng phải có trách nhiệm

hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khách hàng có nhu cầu rút vốn

Các hình thức huy động vốn gồm:

- Tiền gửi không kì hạn, có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm của các cá

nhân, tổ chức, doanh nghiệp

- Vay vốn từ các NHTM khác, NHTW hoặc vay từ các tổ chức tín

dụng khác

- Các nguồn huy động khác như phát hành chứng chỉ tiền gửi và

trái phiếu Với hình thức này, ngân hàng phải trả lãi cao hơn so với tiền

gửi huy động nên chỉ được sử dụng khi ngân hàng thiếu vốn

Trang 11

1.2.2.2 Sử dụng vốn

Sau khi huy động được lượng vốn nhất định, NHTM sẽ sử dụng

nguồn vốn sao cho an toàn, hiệu quả và đem lại nhiều lợi nhuận Nhìn

chung, có các hình thức sử dụng vốn sau:

Hoạt động tín dụng: không những NHTM cho các tổ chức, doanh

nghiệp vay tiền để đầu tư kinh doanh, mở rộng sản xuất mà còn cho cá

nhân vay để tiêu dùng Đây là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận chủ yếu

cho ngân hàng thương mại Việt Nam nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro cao

nhất

Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại không giống như

những hoạt động kinh doanh khác trên thị trường

NHTM gửi tiền vào các ngân hàng hay tổ chức tín dụng khác

NHTM tham gia góp vốn cùng kinh doanh hoặc cho thuê tài sản

NHTM đầu tư mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán hoặc

mua tín phiếu kho bạc, trái phiếu của chính phủ trên thị trường tiền tệ

Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra lợinhuận, chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí dự trữ, chi phíkinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và chi phírủi ro đầu tư

1.2.2.3 Cung cấp các dịch vụ tài chính

Đây là một trong những hoạt động ngày càng đóng vai trò quan trọngtrong hoạt động ngân hàng thương mại không những đem lại lợi nhuậnthêm cho ngân hàng mà còn giúp các hoạt động khác vận hành trôi chảyhơn, đáp ứng nhiều hơn nhu cầu khách hàng Các ngân hàng đang phấn đấu

để có những dịch vụ tài chính ưu việt hơn, dần khẳng định đẳng cấp củangân hàng mình

Dịch vụ giữ hộ các chứng từ, vật quý giá

Dịch vụ tư vấn cho khách hàng các vấn đề tài chính

Nhận xét

Trang 12

Trong tất cả các nghiệp vụ của NHTM thì nghiệp vụ có tính chấtquyết định đối với thu nhập của NHTM là nghiệp vụ cho vay.NHTM không giống như các doanh nghiệp bình thường khác Và

hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại không giống như nhữnghoạt động kinh doanh khác trên thị trường Hầu hết các loại hàng hóakhác sau khi đến tay khách hàng, khách hàng chấp nhận thanh toán,giao dịch thành công thì người bán đã hầu như không còn trách nhiệm

gì nữa Hoạt động tín dụng không phải là hoạt động mua đứt bán đoạnnhư thế, không phải cứ cho vay thì có thể thu được lợi nhuận, thậm chíkhông cẩn thận còn có thể dẫn tới hiện tượng không thu hồi được vốn

do khách hàng không còn khả năng hoàn trả Ngân hàng sẽ chưa hếtnhiệm vụ cho đến khoản nợ về lại với ngân hàng Hoạt động sản xuấtkinh doanh, sử dụng vốn vay của khách hàng có tác động ngược trở lạiđối với lợi ích của ngân hàng Chính vì thế, không những quá trình xétduyệt cho vay phải hết sức cẩn trọng, chú trọng đến việc xem xét tài sảnđảm bảo và trích lập dự phòng rủi ro mà trong quá trình cho vay,NHTM cũng cần phải thường xuyên theo dõi, giám sát chặt chẽ hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để phát hiện và điều chỉnhkịp thời nếu có rủi ro xảy ra hoặc doanh nghiệp cố ý làm trái với mụcđích ban đầu đưa ra

1.3 LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO

1.3.1 Khái niệm rủi ro

Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất trong quá trình sản xuất, kinh doanh,đời sống, gây ra ảnh hưởng không tốt đến sự tồn tại và phát triển hoặcgây ra tổn thất về tài sản và giảm sút lợi nhuận

1.3.2 Các loại rủi ro thường gặp trong hoạt động ngân hàng

Nhìn chung, trong hoạt động ngân hàng có những loại rủi ro sau: rủi

ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi rochiến lược, rủi ro danh tiếng

Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến của ngân hàng

do khách hàng vay không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiệnnhững điều khoản trong hợp đồng tín dụng

Đây là rủi ro lớn nhất và thường xảy ra nhất Thường thì nguyên nhẫnlàm cho các NHTM rơi vào tình trạng khó khăn thường xuất phát từ hoạtđộng tín dụng của ngân hàng Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiếtkhấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, thanhtoán, bảo lãnh của ngân hàng Đây còn gọi là rủi ro mất khả năng chi trả vàrủi ro sai hẹn

Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không đủ vốn khả dụng( hay không đủ tiền) để đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả cho khách

Trang 13

hàng Tình trạng này có thể làm cho hoạt động kinh doanh bị trì trệ, làmmất lòng tin ở khách hàng Khi xảy ra rủi ro thanh khoản đòi hỏi ngân hàngphải chuyển các loại tài sản tài chính thành tiền mặt một cách nhanh chónghoặc đi vay các ngân hàng khác, để đáp ứng khả năng thanh toán, điều này

có thể làm giảm lợi nhuận do chi phí cao hơn bình thường Nếu ngân hàng

bị mất khả năng thanh toán có thể dẫn tới phá sản

Một số nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản:

+ NHTM sử dụng vốn để đầu tư, cho vay nhưng chưa đến hạn thu hồi,nhưng ngân hàng phải thanh toán các khoản nợ đến hạn hoặc khách hàngrút tiền đột ngột

+ Do các khoản vay kém chất lượng nên ngân hàng không thu hồi được

nợ dẫn đến ngân hàng thiếu hoặc mất khả năng thanh toán, không đủ tiềnthực hiện cam kết với khách hàng

+ Khách hàng rút tiền ồ ạt do các thông tin bất lợi cho ngân hàng

Rủi ro thị trường

Rủi ro thị trường là rủi ro do sự biến động bất lợi của lãi suât, tỷ giá, giá

cả hàng hóa hoặc giá cả chứng khoán gây tổn thất cho ngân hàng

+ Rủi ro lãi suất: có thể do sự không phù hợp về kì hạn của nguồn vốn vàtài sản, chế độ lãi suất cố định, Ví dụ: lãi suất thị trường lên làm cho lãisuất huy động của ngân hàng tăng để cạnh tranh nhưng các khoản ngânhàng cho vay lại để lãi suất cố định và chưa đến hạn thu hồi nên không thểtăng lãi suất cho vay, dẫn đến giảm lợi nhuận Trong điều kiện thay đổi lãisuất như hiện nay, hạn chế rủi ro lãi suất cũng là một nội dung quan trọngtrong quản trị rủi ro ngân hàng Để hạn chế rủi ro lãi suất cần duy trì cânđối các khoản vay nhạy cảm ở cả bên nợ và bên có Sử dụng chính sách lãisuất linh hoạt, với những khoản vay lớn, thời hạn dài cần thực hiện chế độlãi suất thả nổi hoặc tìm kiếm nguồn vốn tương xứng có thể bù đắp nếu rủi

ro lãi suất xảy ra Sử dụng các công cụ tài chính mới để hạn chế rủi ro như

sử dụng các nghiệp vụ kì hạn về lãi suất tiền vay, thực hiện hợp đồng tươnglai, thực hiện nghiệp vụ hoán đổi lãi suất, quyền lực chọn lãi suất

+ Rủi ro tỷ giá: là rủi ro do sự thay đổi bất lợi của tỷ giá khi NHTM cótrạng thái ngoại tệ

Rủi ro hoạt động là rủi ro do các quy trình hoạt động của nội

bộ sai lầm hoặc có sai sót, do con người, do hệ thống hoặc các yếu tố bênngoài tác động

Rủi ro chiến lược là rủi ro khi các ngân hàng không có các

chiến lược ứng phó kịp thời với sự thay đổi của môi trường kinh doanh

Rủi ro danh tiếng là rủi ro khi có các thông tin bất lợi cho

ngân hàng khiến các khách hàng, cổ đông, đối tác có phản ứng tiêu cực

về mức độ tín nhiệm của ngân hàng

1.3.3 Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng 1.3.3.1 Phân loại rủi ro tín dụng

Dựa trên nguyên nhân phát sinh, rủi ro tín dụng chia làm 2 loại:rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục

Trang 14

 Rủi ro giao dịch: nguyên nhân là từ những hạn chế trong quátrình giao dịch, xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi rogiao dịch bao gồm:

+ Rủi ro đảm bảo: phát sinh từ các tài sản đảm bảo trong hợp đồngtín dụng: mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo Rủi roxảy ra khi các tài sản giảm giá trị do sự biến động giá cả thị trường, do

bị thay cốt lõi hoặc bị mất trộm,

+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro trong quá trình đánh giá, phân tích tíndụng, phương án vay vốn để đưa ra quyết định có cho vay hay không.+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lí khoảnvay và hoạt động cho vay, bao gồm việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi

ro và kĩ thuật xử lí các khoản vay có vấn đề

 Rủi ro danh mục: là loại rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phátsinh từ việc hạn chế quản lí danh mục cho vay của ngân hàng

+ Rủi ro nội tại: là loại rủi ro xuất phát từ việc sử dụng vốn, đặcđiểm hoạt động của khách hàng vay vốn, ngành nghề kinh doanh.+ Rủi ro tập trung: là loại rủi ro do ngân hàng tập trung cho vayquá nhiều vào một vài khách hàng, ngành kinh tế, vùng địa lí nhấtđịnh hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao

Dựa trên khả năng trả nợ, rủi ro tín dụng gồm:

 Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: khi đã quá thời hạn ghi trênhợp đồng mà ngân hàng không đòi được nợ thì được xếp vào loại rủi

ro này

Rủi rogiao dịch

Rủi rodanh mục

Rủi ro lựa

chọn

Rủi rođảm bảo

Rủi ronghiệp vụ

Rủi ro nộitại

Rủi ro tậptrung

Rủi ro tín dụng

Trang 15

 Rủi ro do không có khả năng trả nợ: xảy ra khi khách hàngkhông có khả năng chi trả khoản nợ cho ngân hàng, buộc ngân hàngphải thanh lí tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.

 Rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay: gồm các hoạt độngkhác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết,chấp thuận tài trợ thương mại, tín dụng thuê mua, cho vay thị trườngliên ngân hàng,…

1.3.3.2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

Nguyên nhân khách quan

Một số nguyên nhân khách quan xuất phát từ môi trường xung quanhgây ra rủi ro tín dụng như: thị trường đang trong quá trình hoàn thành,chính sách kinh tế, chính sách pháp luật, biến động kinh tế trong nước,thế giới

Thị trường đang trong quá trình hoàn thiện: Ngân hàng chủ yếu dựa

vào các thông tin do doanh nghiệp cung cấp hoặc các thông tin trôi nổitrên thị trường để ra quyết định cho vay Nhưng thực tế, môi trường pháp

lí ở Việt Nam vẫn còn lỏng lẻo, nhiều chỗ bất cập, khả năng kiểm tragiám sát về chất lượng thông tin chưa cao, thị trường còn trong quá trìnhhoàn thiện Vì vậy, độ chính xác của thông tin chưa cao, thông tin côngkhai thường do các doanh nghiệp sắp đặt là chính, số liệu không đượccông khai minh bạch, rõ ràng mà thường chỉ đưa ra các kết quả đã qua xửlí

Ảnh hưởng do sự biến động kinh tế trong nước và những thay đổi chính sách kinh tế của nhà nước để ứng phó với những biến động của thị

trường trong nước và thế giới: Khi nền kinh tế ổn định, tăng trưởng lànhmạnh sẽ kích thích đầu tư, sản xuất thì hoạt động tín dụng cũng phát triểntheo Ngược lại, khi có những biến động bất lợi từ nền kinh tế như lạmphát tăng cao, chính sách tài chính tiền tệ thay đổi tác động đến tình hìnhsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp khôngthích nghi kịp thời, làm ăn thua lỗ Vì vậy khả năng trả nợ giảm xuống

Chẳng hạn như, chính sách tiền tệ năm 2011- 2012

Trước tình hình lạm phát tăng cao, ngày 24/2/2011, chính phủ ra nghịquyết 11/NQ-CP về các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ

mô, an sinh xã hội đã đưa ra chủ trương “chính sách tiền tệ thắt chặt”.Với mục đích hạn chế tăng trưởng tín dụng, xử lí tình trạng các ngânhàng đua nhau tăng lãi suất huy động để thu hút tiền gửi vào ngân hàng.Ngân hàng nhà nước đã thực hiện một lợt các biện pháp áp trần lãi suấthuy động Đồng thời, thực hiện biện pháp hướng dòng tiền đến khu vựcsản xuất, hạn chế tín dụng vào khu vực phi sản xuất, đồng thời lãi suấtcho vay cũng được điều chỉnh khác biệt rất lớn cho các đối tượng khácnhau Theo báo cáo của NHNN, năm 2011, lãi suất cho vay dư nợ VNĐbình quân là 18.3%/ năm và lãi suất đối với dư nợ ngoại tệ là 6.6%/ năm.Bên cạnh những kết quả tích cực của chính sách như chỉ số giá tiêu dùngCPI được kiềm chế, cán cân thanh toán thặng dư cao thì mặt trái của nó

Trang 16

chính là đưa nền kinh tế vào tình trạng khát vốn, đẩy các doanh nghiệpvào tình thế khó khăn Về lãi suất tín dụng, theo kết quả điều tra củaTổng cục thống kê, trong nửa đầu năm 2012phần lớn DN phải vay vốnvới lãi suất rất cao: 78,5% số doanh nghiệp phải trả lãi suất từ 16% trởlên, hơn một nửa số doanh nghiệp phải trả mức lãi suất từ 18% trở lên.Lãi vay phải trả đẩy chi phí vốn đầu vào của doanh nghiệp tăng cao.Trong khi, thị trường đầu ra của các doanh nghiệp bị thu hẹp, hàng tồnkho tăng nhanh, hiệu quả sử dụng vốn ở mức thấp Không những kinhdoanh thua lỗ, nhiều doanh nghiệp còn bị phá sản Chưa khi nào, con sốdoanh nghiệp bị đóng cửa cao như năm 2011, 2012 Năm 2011 khoảng

53000 doanh nghiệp, năm 2012 có khoảng 58000 doanh nghiệp Nguy cơcác doanh nghiệp bùng nợ tăng cao, đồng thời tỉ lệ nợ xấu cũng tăng vọt.Nhìn chung, việc cho doanh nghiệp vay vốn trong 2 năm 2011, 2012 làrất rủi ro Theo báo cáo tại hội nghị 2012, do báo Nhịp cầu đầu tư tổchức, tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở bình quân quý II/2012 của 647công ty phi tài chính niêm yết lên đến 1.53 lần, ngành xây dựng và bấtđộng sản, tổng nợ phải trả gấp hơn 2 lần vốn chủ sở hữu (207%) và thấpnhấp là ngành hàng tiêu dùng với 80%

Một nguyên nhân khác làm cho nợ xấu tăng cao là do những tập đoànkinh tế lớn trong nước được sự bảo lãnh của chính phủ nên đã vay nhữngkhoản tiền lớn từ ngân hàng thương mại nhưng làm ăn thua lỗ do sư dụngvốn không đúng mục đích, đầu tư tràn lan dẫn đến khả năng phá sản cao,không thể trả nợ cho ngân hàng

Do biến động kinh tế thế giới: nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế mở,

nên khi kinh tế thế giới có biến động thì cũng tác động không nhỏ đếntình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước

Các cú sốc từ bên ngoài có thể ảnh hưởng tới giá cả trong nước, chẳnghạn như việc giá dầu thô liên tục giảm trong thời gian gần đây và dự báokhông có dấu hiệu phục hồi trong năm 2015 có thể làm cho giá dầu thôxuất khẩu của Việt Nam giảm nhưng lại giúp cho chí phí sản xuất giảm vìdầu là nguyên liệu đầu vào của nhiều ngành công nghiệp, giúp các doanhnghiệp dễ thở hơn Ngược lại, khi giá cả đầu vào tăng làm tăng chi phísản xuất, gây khó khăn cho các doanh nghiệp Những doanh nghiệpkhông có biện pháp thích nghi kịp thời ắt sẽ kho tồn tại và phát triển Dẫnđến mất khả năng thanh toán, rủi ro về tín dụng tăng cao

Ảnh hưởng do chính sách pháp lí: Sự thiếu nhất quán, thay đổi liên tục

của các chính sách kinh tế pháp luật cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như hoạt động củangân hàng khi họ không cập nhật thông tin thường xuyên Sự chờ đợi,rườm rà trong thủ tục pháp lí nhiều lúc gây cản trở đến công việc làm ăncủa các doanh nghiệp, khiến cho sản xuất đình trệ Hay như việc xử lí tàisản đảm bảo của ngân hàng khi khách hàng không trả được nợ phải thôngqua tòa án, ngân hàng không có quyền trực tiếp cưỡng chế, việc chờ đợitòa án thụ lí hồ sơ là cả một quá trình nan giải và còn nhiều bất cập

Trang 17

Do những ảnh hưởng bất ngờ từ thiên nhiên: thiên tai, hạn hán, lũ

lụt, có thể làm cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, người dântrong một đêm bị mất trắng, gây thiệt hại nặng nề, dẫn đến tình trạng khókhăn và không trả được nợ cho ngân hàng

Nguyên nhân chủ quan

Từ phía ngân hàng

– Sự yếu kém của cán bộ tín dụng: một cán bộ mà yếu kém về trình độ,

thiếu kinh nghiệm thì sẽ dễ gặp phải sai sót khi thẩm định thông tin,không đánh giá chính xác khách hàng, lãi vay, thời hạn vay không phùhợp dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao Mặt khác, nếu cán

bộ có đạo đức kém, dễ bị cám dỗ, nhẹ dạ cả tin thì sẽ cho vay dựa trênmối quan hệ cá nhân mà không tuân thủ các thủ tục, điều kiện cầnthiết

– Sự giám sát lỏng lẻo của cấp trên: cán bộ tín dụng cần sự phê duyệt

cấp trên để giải ngân, sau khi giải ngân, cán bộ tín dụng tiếp tục theodõi khách hàng nhưng việc theo dõi chỉ mang tính hình thức Nếu cấptrên chỉ xem xét qua loa rồi phê duyệt thì rủi ro rất cao, hoạt động tíndụng kém hiệu quả

– Ngân hàng chưa đa dạng hoá các danh mục đầu tư: Quản trị danh mục

đầu tư là một công cụ quan trọng trong quản trị tín dụng ngân hàng ngàynay Quản trị danh mục giúp cân đối và kiềm chế rủi ro bằng cách nhậndạng, dự báo và kiểm soát mức độ rủi ro với từng thị trường, khách hàng,loại sản phẩm tín dụng và điều kiện hoạt động khác nhau Đa dạng hoádanh mục được các chuyên gia đánh giá là giải pháp phòng ngừa rủi ro tíndụng hữu hiệu nhất Mặc dù hiểu rõ tầm quan trọng của việc đa dạng hoádanh mục đầu tư, nhưng nhiều ngân hàng chỉ cho vay một hoặc hai ngànhhoặc chỉ cho vay một vài doanh nghiệp lớn, nhóm kinh doanh đơn lẻ Mộtdanh mục đầu tư phụ thuộc chủ yếu vào một ngành hay một loại mặt hàng

là rất nguy hiểm vì không ngành nào là không có rủi ro

– Định giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách hàng : Mức lãi

suất cho vay phải đảm bảo bù đắp được chi phí vốn đầu vào, chi phíquản lí, phần lợi nhuận mong muốn và bù đắp rủi ro của khoản vay.Khách hàng được đánh giá có rủi ro càng cao thì phần bù rủi ro cànglớn Nhưng vì lí do cạnh tranh, một số ngân hàng chấp nhận mức giácho vay thấp, không tính đến phần bù rủi ro Vì vậy mà làm tăng tínhrủi roc ho ngân hàng trong dài hạn

Từ phía khách hàng

- Với khách hàng cá nhân, có thể do các nguyên nhân sau:

+ Do công việc bị thay đổi hoặc mất việc làm

+ Do những phát sinh ngoài ý muốn như bị trộm cắp, bệnh tật,

+ Do cố tình không trả nợ

- Với khách hàng doanh nghiệp

+ Do doanh nghiệp làm ăn thua lỗ mất khả năng trả nợ: tình huống này

xảy ra do trình độ yếu kém của doanh nghiệp không dự báo được cácvấn đề kinh tế, không nghiên cứu kĩ thị trường, thất bại trong chiếnlược kinh doanh, sản phẩm kém cạnh tranh trên thị trường, sử dụng

Trang 18

vốn sai mục đích, hoặc do đầu tư mạo hiểm để kiếm những món hờilớn nhưng không có khả năng tính toán những bất trắc có thể xảy ra.

+ Do doanh nghiệp cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng : để vay được

vốn, nhiều doanh nghiệp đã cố tình mua chuộc hoặc cung cấp báo cáotài chính sai lệch Nếu ngân hàng không phát hiện, điều chỉnh kịp thờithì có thể sẽ cho vay với số lượng và thời hạn không hợp lí, dẫn đếnnhứng hậu quả khôn lường

1.3.3.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng

Đối với ngân hàng

- Làm giảm uy tín của ngân hàng: Không người nào muốn gửi tiền vào mộtngân hàng mà có tỉ lệ nợ quá hạn, nợ xấu cao, gây ra những vụ thua lỗlớn Thông tin về việc ngân hàng có tỉ lệ nợ xấu tăng cao thường được lantruyền rộng rãi khiến dân chúng mất niềm tin, khả năng huy động vốn củangân hàng giảm

- Làm mất khả năng thanh toán: mặc dù không thu hồi được nợ nhưng cáckhoản tiền gửi của khách hàng vẫn phải thanh toán đúng hạn, cộng vớiviệc mất uy tín có thể dẫn đến khách hàng rút tiền ồ ạt và ngân hàngkhông có khả năng thanh toán

- Làm giảm lợi nhuận ngân hàng

- Từ những hậu quả trên, có thể làm cho ngân hàng phá sản

Đối với nền kinh tế

Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút vàbơm tiền cho nền kinh tế Giả sử ngân hàng không thể thanh toán khoảntiền gửi cho khách hàng thì sẽ có một bộ phận dân chúng bị mất tài sản,gây rối loạn trong dân chúng, không những thế ngân hàng đó còn có cácmối quan hệ với ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trên thị trường liênngân hàng nên khi một ngân hàng phá sản sẽ kéo theo những hệ lụy khônlường khác

1.3.4 Quản trị rủi ro tín dụng và sự cần thiết của việc quản trị rủi ro tín dụng

1.3.4.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị rủi ro tín dụng là tổng hợp quá trình hoạch định, đo lường, đánh giá,giám sát hoạt động cấp tín dụng, phân loại, xếp hạng khách hàng đi vay cũng nhưquá trình quản lí khoản vay, trích lập dự phòng, đánh giá tài sản đảm bảo và giảiquyết hậu quả nếu có rủi ro tín dụng xảy ra

Tùy vào điều kiện và mục tiêu hoạt động của từng ngân hàng mà mỗi ngân hàngcần xây dựng cho mình một hệ thống quản trị rủi ro phù hợp

1.3.4.2 Sự cần thiết của việc quản trị rủi ro tín dụng

Tình hình nợ xấu diễn biến theo xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây.Theo số liệu của ngân hàng nhà nước, nợ xấu năm 2009 của Việt Nam vào

Trang 19

khoảng 45000 tỉ đồng, chiếm khoảng 2.5% tổng dư nợ, năm 2010 khoảng 38000

tỷ đồng, chiếm 2.1 %, năm 2011 khoảng 78000 tỷ chiếm 3.2%, đến cuối năm

2012 là 4.08%, cuối năm 2013 tỷ lệ nợ xấu là 3.61% Nhưng đến cuối tháng 7/

2014 tổng nợ xấu nội bảng là 162.2 nghìn tỉ đồng (khoảng 8 tỷ USD) chiếm4.11% tổng dư nợ

Nợ xấu làm ảnh hưởng đến thu nhập của các ngân hàng Trong khi nguồn thunhập chủ yếu của các ngân hàng thương mại việt nam hiện nay vẫn chủ yếu là từhoạt động tín dụng Đối với hầu hết ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm trênmột nửa tổng tài sản có và thu nhập từ tín dụng chiến khoảng 1/2 đến 2/3 tổngthu nhập của ngân hàng Chính vì vậy, mà việc quản trị rủi ro tại mỗi ngân hàng

là rất quan trọng

1.3.4.3 Ủy ban Basel và công tác quản trị rủi ro tín dụng

Sau một loạt vụ phá sản của các ngân hàng vào thập kỷ 80, năm 1987, một nhómcác ngân hàng trung ương và trung tâm giám sát của 10 nước phát triển (G10) đãtập hợp tại thành phố Basel, Thụy Sĩ để ngăn chặn xu hướng này Sau đó, đãquyết định thành lập ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee onBanking supervision)

Sau hơn 20 năm phát triển, từ chỗ là nơi trao đổi kinh nghiệm, hợp tác quốc tế vềthanh tra và giám sát ngân hàng Ngày nay, nó đã trở thành cơ quan xây dựng vàphát triển các chuẩn mực ngân hàng được công nhận bởi quốc tế Ủy ban Basel

đã ban hành 17 nguyên tắc về quản lí nợ xấu, lần lượt đưa ra hiệp ước Basel 1,Basel 2 và mới đây nhất là Basel 3 Thực chất là đưa ra các nguyên tắc về quảntrị rủi ro, đảm bảo tính hiệu quả, an toan trong hoạt động tín dụng ngân hàng.Nguyên tắc Basel có một số điểm cơ bản:

- Phân tách bộ máy cấp tín dụng theo các bộ phận khác nhau: tiếp

thị, phân tích tín dụng, phê duyệt tín dụng và trách nhiệm rạch ròigiữa các bộ phận nhằm tránh việc lạm dụng quyền hạn

- Nâng cao năng lực của cán bộ tín dụng

- Xây dựng hệ thống quản lí và cập nhật thông tin hiệu quả

Hiện nay, Các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng đang từng bước thực hiệnhiệp ước Basel2, nhưng còn gặp phải nhiều thách thức do thiếu hụt về nguồn lực

và còn là con đường dài dài cho các ngân hàng thương mại Việt Nam do thựchiện Basel 2 là chuyển đổi cơ bản cách thức hoạt động của ngân hàng chứ khôngđơn thuần chỉ là quản trị rủi ro ‘

Trang 20

Trong bài viết này xin phép không bàn luận sâu hơn về vấn đề này.

1.3.3.4 Phân loại và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Phân loại

Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của ngân hàng nhànước Việt Nam thì rủi ro tín dụng trong hoạt động thu hồi vốn và lãi được phânloại như sau:

Nhóm 1(Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồiđầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã

cơ cấu lại

- Các khoản nợ đã được gia hạn từ lần 2 trở đi

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo

thời hạn đã cơ cấu lại

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

- Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý

- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn

đã được cơ cấu lại

Lưu ý: Ngoài quy định nêu trên, các tổ chức tín dụng có quyền chủ động quyếtđịnh phân loại bất kì khoản nợ nào vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứngnếu thấy khả năng trả nợ suy giảm

Trích lập dự phòng

Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ 1, 2, 3, 4, và 5 lần lượt là0%, 5%, 20%, 50% và 100% Quyết Định 493 đưa ra cách tính số tiền dự phòngbằng công thức hoàn toàn mới khác với cách tính dự phòng quy định tại các quyđịnh trước đây Theo các quy định trước đây, số tiền dự phòng chỉ đơn giản bằng

Trang 21

tỷ lệ trích dự phòng nhân với tài sản có từng nhóm Trong khi đó, Quyết Định

493 đưa ra công thức tính số tiền dự phòng như sau:

Như vậy, số tiền dự phòng cụ thể không chỉ phụ thuộc vào giá trịkhoản nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng, mà còn phụ thuộc vào giá trị tài sản bảođảm Nếu giá trị tài sản bảo đảm sau khi được tính theo tỷ lệ phần trăm lớnhơn giá trị khoản nợ, thì số tiền dự phòng cũng bằng không có nghĩa là tổ chứctín dụng trên thực tế không phải lập dự phòng cho khoản nợ đó

1.4 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP XẾP HẠNG TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI

- Các tỷ số đòn bẩy tài chính như: Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu, Hệ số nợ

so với tổng tài sản, Hệ số tài trợ vốn chủ sở hữu, Hệ số nợ dài hạn, Phântích hệ số khả năng hoàn trả lãi vay, Hệ số khả năng trả nợ

- Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động như: Vòng quay hàng tồn kho, Kỳ thutiền bình quân, Vòng quay khoản phải thu, Vòng quay tổng tài sản,…

- Các chỉ tiêu

- khả năng sinh lời như: Hệ số thu nhập trên tổng tài sản, Khả năng sinh lời

so với doanh thu ROE, ROA,…

Các chỉ tiêu phi tài chính

Các chỉ tiêu phi tài chính bao gồm: lĩnh vực hoạt động kinh doanh, uy tíntrong quan hệ với các TCTD, khả năng trả nợ từ lưu chuyển tiền tệ, trình độquản lý của nhà lãnh đạo DN, môi trường kinh doanh của DN, khả năng ứng

Trang 22

phó của DN trên thương trường… Thông thường việc phân tích các chỉ tiêuphi tài chính được thông qua mô hình 6C gồm:

- Tư cách người vay (Character): nghĩa là tinh thần trách nhiệm, thiện chí trả

nợ của người vay, có mục đích vay rõ ràng

- Năng lực của người vay (Capacity): phải chắc chắn là người vay có đủ nănglực hành vi và năng lực pháp lí để kí hợp đồng Với người đại dienj chodoanh nghiệp, phải chắc chắn đó là người được doanh nghiệp ủy quyền hợppháp

- Thu nhập của người vay (Cash): ngân hàng cần phải trả lời câu hỏi “ngườivay có tạo ra được lượng tiền để trả nợ đúng hạn hay không?” bằng cáchxem xét doanh thu của doanh nghiệp hoặc thu nhập của cá nhân trong quákhứ và hiện tại, và thu nhập đó có khả năng duy trì trong tương lai

- Bảo đảm tiền vay (Collateral): khi vay tiền, khách hàng cần phải có tài sảnđảm bảo, cán bộ tín dụng cần xét xem giá trị của tài sản đó có tương xứngvới khoản vay, phải chú ý đến tuổi thọ, mức độ chuyên dụng, có bị hỏnghóc hay là có giấy tờ chứng minh rõ ràng là tài sản của người vay không

- Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng cần biết về tình hình ngành nghềkinh doanh của người vay và những ảnh hưởng đến khoản vay nếu điều kiệnkinh tế thay đổi

- Kiểm soát (Control):

Tổng kết

Mô hình có một số ưu điểm như:

- Việc phân tích không đòi hỏi công nghệ phức tạp, sử dụng hồ sơ sẵn có, tậndụng được kinh nghiệm và trình độ chuyên sâu của cán bộ tín dụng

- Đối với các khoản vay mang tính đặc thù, việc chỉ dựa trên các yếu tố đinhlượng để đánh giá sẽ không chính xác bằng kinh nghiệm của cán bộ tíndụng

Tuy nhiên, mô hình cũng còn tồn tại nhiều hạn chế:

- Phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng

- Các ngân hàng phải chịu chi phí cao do tốn nhiều thời gian và đòi hỏi đọingũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm và kĩ năng

Chỉ số Z bao gồm 5 chỉ số X1 đến X5:

 X1= Vốn lưu động ròng/ tổng tài sảnVốn lưu động ròng = tài sản ngắn hạn – nợ ngắn hạn

Những khoản thua lỗ trong hoạt động kinh doanh làm giảm vốn lưu động ròng sẽlàm giảm tỷ số X1

 X2= Lợi nhuận giữ lại/ tổng tài sản

Tỷ số này đo lường lợi nhuận giữ lại tích lũy qua thời gian

Trang 23

Các công ty mới thành lập thường có tỷ số này thấp vì chưa có thời gian để tíchlũy lợi nhuận Theo một nghiên cứu năm 1993 của Dun & Bradstreet, khoảngmột nửa công ty phá sản chỉ hoạt động dưới 5 năm.

 X3= Lợi nhuận trước thuế và lãi/ tổng tài sảnKhả năng trả nợ, tồn tại của một công ty sau cùng vẫn phỉa dựa trên khả năng trả

nợ và tạo ra lợi nhuận từ các tài sản của nó Vì vậy, theo Alman, tỷ số này thểhiện tốt hơn các thước đo tỷ suất sinh lời

 X4 = Giá thị trường của vốn cổ phần/ giá trị ghi sổ của nợdài hạn

- Nợ = nợ ngắn hạn + nợ dài hạn

- Vốn cổ phần = cổ phần thường + cổ phần ưu đãi

- Tỷ số này cho biết giá trị tài sản của công ty sụt giảm bao nhiêu lần trước khi nórơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Đây là một phiên bản đã được sửađổi của một trong các biến được Fisher sử dụng khi nghiên cứu tỷ suất lợinhuận của trái phiếu (1959) Khi tỷ số này thấp hơn 1/3 thì xác suất công typhá sản là rất cao

- Đối với các công ty chưa cổ phần hóa thì giá trị thị trường được thay bằng giá trị

sổ sách của vốn cổ phần

 X5 = Doanh thu/ tổng tài sản

Đo lường năng lực quản trị điều hành của công ty để tạo ra doanh thu trước sức

ép cạnh tranh và sự thay đổi của kinh tế thị trường

- Tỷ số này có mức ý nghĩa thấp nhất trong mô hình nhưng nó là một tỷ

số quan trọng vì giúp khả năng phân biệt của mô hình được nâng cao

- X5 thay đổi trên một khoảng rộng đối với các quốc gia khác nhau vàcác ngành khác nhau

Một số nghiên cứu thập niên 1960 chỉ ra rằng tỷ số dòng tiền trên nợ là

tỉ số rất tốt để dự báo nhưng do trong giai đoạn này, dữ liệu về dòngtiền và khấu hao của doanh nghiệp không nhất quán nên chỉ số z khôngbao gồm các chỉ số liên quan đến dòng tiền Hơn nữa chỉ số Z đã được

sử dụng hiệu quả ở Mỹ (dự báo chính xác tới 95% đối với mẫu dữ liệu)

và nhiều nước khác thì rất có khả năng cũng thực hiện tốt ở Việt Namtrong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm hay dự báo phá sản

Từ một chỉ số Z ban đầu, giáo sư Edward I Altman đã phát triển ra Z’ và Z’’ để

có thể áp dụng theo từng loại hình và ngành kinh tế khác nhau:

Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá, ngành sản suất:

Trang 24

 Nếu Z <1.8: doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao.

Đối với doanh nghiệp chưa cổ phần hoá, ngành sản suất:

Đối với các doanh nghiệp khác:

Chỉ số Z’’ dưới đây có thể được dùng cho hầu hết các ngành, các loại hình doanhnghiệp Vì sự khác nhau khá lớn của x5 giữa các ngành, nên x5 đã được đưa ra khỏi công thức Công thức tính chỉ số Z’’ được điều chỉnh như sau

Trang 25

chiến lược cụ thể để bán được nhiều hàng với giá cả phù hợp, vòng quay vốn nhanh, tăng thị giá cổ phiếu.

1.4.3 Phương pháp xếp hạng của S&P và Moody’s

S&P và Moody’s là 2 công ty xếp hạng tín dụng lớn, uy tín và lâu đời nhấtthế giới Sau đó có thêm Fitch

Công ty Moody’s được thành lập năm 1909 tại Mỹ, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nghiên cứu tài chính , phân tích hoạt động và xếp hạng tín dụng của các tổ chức thương mại và chính phủ Hiện nay, Moody’s đang nắm hơn 40% thị phần xếp hạng tín dụng doanh nghiệp trên thế giới

S&P thành lập năm 1916, sau Moody’s 7 năm, nhưng cũng nhanh chóng khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường về cung cấp cho những nhà đầu tư các phân tích độc lập về rủi ro tài chính Thậm chí, so với

Moody’s, phạm vi xếp hạng của công ty này còn rộng hơn, đặc biêt là các loại chứng khoán

Các công ty này chủ yếu sử dụng phương pháp chuyên gia để xếp hạng tínnhiệm., dựa trên kinh nghiệm của các chuyên gia, kết hợp phân tích định tính và định lượng, dựa trên các đánh giá toàn diện về nền kinh tế, ngành kinh doanh, lợi thế cũng như bất cập của công ty đó,

Dù sử dụng phương pháp nào đi chăng nữa thì mỗi hệ thống xếp hạng tín nhiệm đều không thể chính xác 100% Nếu như phương pháp định lượng không đo lường được những rủi ro định tính gây ra, thì phương pháp

chuyên gia cũng đã không chính xác hoàn toàn vì dựa trên những phán đoán chủ quan

Một quy trình xếp hạng tín nhiệm chuẩn của S&P gồm các bước:

- Nhận đề nghị xếp hạng từ các tổ chức, doanh nghiệp

- Đánh dấu ban đầu

- Họp với ban quản trị của tổ chức, doanh nghiệp đó

- Phân tích bằng phương pháp chuyên gia

- Đánh giá, bỏ phiếu của hội đồng chuyên gia

- Thông báo với tổ chức, doanh nghiệp

- Công bố kết quả xếp hạng ra công chúng

Bảng 1.1 Các hạng tín nhiệm của Moody’s và S&P

Chỉ số tín

nhiệm theo

Moody’s

Chỉ số tín nhiệm theo S&P

Ý nghĩaAaa AAA Chất lượng tín dụng cao nhất, tình hình tài chính ổn

định, công việc kinh doanh phát triển, rủi ro hầu như

Trang 26

các yếu tố đầu cơ

Ba BB Chất lượng dưới trung bình, có nguy cơ không thanh

toán đúng hạn, mang tính đầu cơ cao, rủi ro đáng kể

Caa CCC Chất lượng xấu, chịu rủi ro tín dụng cao

Ca CC Chất lượng xấu, rủi ro rất cao, có khả năng phá sản

nếu tình hình không khả quan

C C Chất lượng tồi tệ, khó có khả năng trả nợ, bên bờ phá

2.1.1 Giới thiệu chung

Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, gọi tắt là ngân hàng Á Châu Tên tiếng anh là Asia Commercial Joint Stock Bank (ACB) ACB được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 4/6/1993

So với vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng, tổng tài sản năm 1994 là 312 tỷ đồng Thì tính đến thời điểm 31/12/2013, vốn điều lệ của ACB đã tăng lên đến

9.376.965.060.000 đồng và tổng tài sản là 167000 tỷ đồng

Hiện nay, ACB có 346 chi nhánh và phòng giao dịch đang hoạt động trên 47 tỉnh thành trong cả nước Nếu xét về số phòng giao dịch, chi nhánh và tỉ trọng đóng góp của từng khu vực vào lợi nhuận chung ngân hàng thì thị trường trọng yếu của ACB là TP Hồ Chí Minh, miền đông Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng sông Hồng

Tính đến 31/12/2013, tổng số nhân viên của ACB là 8.791 người

Hoạt động chính của ngân hàng Á Châu và các công ty con là huy động vốn ngắnhạn, trung hạn và dài hạn dưới các hình thức tiền gửi có kì hạn, không kì hạn, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước, vay vốn

Trang 27

của các tổ chức tín dụng khác, cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá, hùn vốn và liên doanh theo luật định, làm dịch vụ thanh toán giữa các ngân hàng, thực hiện kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế, huy động các loại vốn từ nước ngoài và các dịch vụ ngân hàng khác trong quan hệ với nước ngoài khi được ngân hàng nhà nước cho phép; hoạt động bao thanh toán; đại lí bảo hiểm; mua bán vàng, trang sức mỹ nghệ, cung cấp dịch vụ cho thuê tài chính; kinh doanh chứng khoán, tư vấn và môi giới đầu tư chứng khoán; lưu kí; tư vấn tài chính doanh nghiệp và bảo lãnh phát hành; các dịch vụ về quản lí quỹ đầu tư và khai thác tài sản và các dịch vụ ngân hàng khác.

- Các công ty con của tập đoàn ACB: công ty chứng khoán ACB (ACBS),

Công ty Quản lí nợ và khai thác tài sản ACB (ACBA), công ty cho thuê tài chính ACB (ACBL), công ty quản lí quỹ ACB (ACBC)

Ngân hàng bao gồm các đơn vị hội sở và các kênh phân phối Các đơn vị hội sở gồm 8 khối và 12 phòng ban trực thuộc Tổng giám đốc Ngoài ra, còn có một số đơn vị có chức năng chuyên biệt như: trung tâm thẻ, trung tâm chuyển tiền nhanhACB-Western Union, trung tâm Telesales và trung tâm dịch vụ khách hàng 247 (Call center 247)

-Tầm nhìn, đối tượng khách hàng: ngay từ khi mới thành lập, ACB đã

định hướng trở thành “NHTMCP bán lẻ hàng đầu Việt Nam, với khách hàng mục tiêu là cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ” Đây là một thách thức cũng là một định hướng rất mới đối với các ngân hàng tron bối cảnh kinh tế xã hội ViệtNam lúc bấy giờ

-Các giá trị cốt lõi của ACB đã được xác định là Chính trực, Cẩn trọng,

Cách tân, Hài hòa và Hiệu quả , là nền tảng cho các nguyên tắc hành động cũngnhư chính sách đối với các đối tượng liên quan bao gồm cổ đông, nhân viên, khách hàng, cơ quan quản lý và cộng đồng

2.1.2 Một số cột mốc và thành tích đáng ghi nhận

- 27/04/1996: ACB là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên ở Việt Nam phát hành thẻ tín dụng quốc tế ACB- MasterCard

- 15/10/1997: ACB phát hành thẻ tín dụng quốc tế ACB- visa

- Năm 1997: tiếp cận nghiệp vụ ngân hàng hiện đại thông qua một chươngtrình đào tạo toàn diện kéo dài 2 năm để ACB có thể nắm bắt được một cách có

hệ thống các nguyên tắc vận hành của một ngân hàng hiện đại, các chuẩn mực trong quản lí rủi ro, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ và ngiên cứu điều chỉnh trong điều kiện Việt Nam để áp dụng trong thực tiễn hoạt động ngân hàng

Trang 28

- Thành lập hội đồng ALCO: ACB là ngân hàng đầu tiên thành lập Hội đồng quản lí tài sản Nơ- có (ALCO) Nó đóng vai trò trong việc đảm bảo hoạt động an toàn và hiệu quả của ACB.

- Mở siêu thị địa ốc: ACB là ngân hàng tiên phong trong việc cung cấp các dịch vụ địa ốc cho các ngân hàng ở Việt Nam Hoạt động này đã góp phần giúp thị trường địa ốc ngày càng minh bạch và được khách hàng ủng hộ ACB trở thành ngân hàng cho vay mua nhà mạnh nhất Việt Nam

- Năm 1999: ACB bắt đầu triển khai chương trình hiện đại hóa công nghệ thông tin ngân hàng nhằm trực tuyến và tin học hóa hoạt động của ACB

-Năm 2000: tái cấu trúc: Với những bước chuẩn bị từ năm 1997, năm

2000 ACB chính thức tiến hành tái cấu trúc (2000- 2004) như là một bộ phận của chiến lược phát triển trong nửa đầu thập niên 2000 Cơ cấu tổ chức được thay đổi theo định hướng kinh doanh và hỗ trợ Các khối kinh doanh gồm có khối khách hàng cá nhân, khối khách hàng doanh nghiệp, khối ngân quỹ Các đơn vị hỗ trợ gồm có khối công nghệ thông tin, khối giám sát điều hành, khối phát triển kinh doanh, khối quản trị nhân lực và một số phòng ban Hoạt động kinh doanh của hội sở được chuyển giao cho sở giao dịch Tổng giám đốc trực tiếp chỉ đạo Ban chiến lược, Ban kiểm tra- kiểm soát nội bộ, ban chính sách và quản lí rủi ro tín dụng, ban đảm bảo chất lượng, phòng quan hệ quốc tế và phòng thẩm định tài sản Cơ cấu tổ chức sau khi tái cấu trúc nhằm đảm bảo tínhxuyên suốt của toàn hệ thống Phát triển kinh doanh và quản lí rủi ro được quantâm đúng mức sản phẩm thiết kế phù hợp với từng phân đoạn khách hàng, xác định khách hàng mục tiêu

- 29/06/2000- tham gia thị trường vốn: Thành lập ACBS: Với sự ra đời của công ty chứng khoán, ACB có thêm công cụ đầu tư hiệu quả trên thị trườngvốn tuy mới phát triển nhưng được đánh giá là đầy tiềm năng Rủi ro của hoạt động đầu tư được tách khỏi rủi ro của ngân hàng thương mại

-06/01/3003- chất lượng quản lí: đạt tiêu chuẩn ISO 9001-2000 trong các lĩnh vực huy động vốn; cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; thanh toán quốc tế; cung ứng nguồn lực tại hội sở

- 14/11/2003- thẻ ghi nợ: ACB là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên

ở Việt Nam phát hành thẻ ghi nợ quốc tế ACB- Visa Electron

- Cũng trong năm 2003, các sản phẩm ngân hàng thương mại điện tử như phone banking, mobie banking, home banking, internet banking được đưa vào hoạt đông trên cơ sở tiện ích của TCBS

- 10/12/2004- công nghệ sản phẩm cao: Đưa ra sản phẩm quyền chọn vàng, quyền chọn mua bán ngoại tệ ACB trở thành một trong các ngân hàng đầu tiên được cung cấp sản phẩm phái sinh cho khách hàng

Trang 29

- 17/06/2005- Đối tác chiến lược: ngân hàng Standard Charterd (SCB) và ACB kí kết thỏa thuận hỗ trợ kĩ thuật Cũng từ thời điểm này, SCB trở thành cổđông chiến lược của ACB ACB triển khai giai đoạn hai của chương trình hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, bao gồm các cấu phần (i) nâng cấp máy chủ, (ii) thay thế phần mềm xử lý giao dịch thẻ ngân hàng bằng một phần mềm mới có khả năng tích hợp với nền công nghệ lõi hiện có, và (iii) lắp đặt hệ thống máy ATM

- Giai đoạn 2006 - 2010: ACB niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội vào tháng 10/2006 Trong năm 2007, ACB tiếp tục chiến lược đadạng hóa hoạt động, thành lập Công ty Cho thuê tài chính ACB (ACBL); cũng như tăng cường hợp tác với các đối tác như Công ty Open Solutions (OSI), Microsoft, Ngân hàng Standard Chartered; và trong năm 2008, với Tổ chức American Express và Tổ chức JCB Năm 2009, ACB hoàn thành cơ bản

chương trình tái cấu trúc nguồn nhân lực Năm 2010, ACB xây dựng Trung tâm

dữ liệu dự phòng đạt chuẩn đặt ở tỉnh Đồng Nai Trong giai đoạn này, ACB đẩynhanh việc mở rộng mạng lưới hoạt động, đã thành lập mới và đưa vào hoạt động 223 chi nhánh và phòng giao dịch; và ACB được Nhà nước Việt Nam tặng hai huân chương lao động và được nhiều tạp chí tài chính có uy tín trong khu vực và trên thế giới bình chọn là ngân hàng tốt nhất Việt Nam

- Năm 2011, “Định hướng Chiến lược phát triển của ACB giai đoạn

2011-2015 và tầm nhìn 2020” được ban hành vào đầu năm Trong đó nhấn mạnh đến chương trình chuyển đổi hệ thống quản trị điều hành phù hợp với các quy định pháp luật Việt Nam và hướng đến áp dụng các thông lệ quốc tế tốt nhất Cuối năm, ACB đã khánh thành Trung tâm Dữ liệu dạng mô-đun (enterprise module data center) tại Tp Hồ Chí Minh Trong năm, ACB đưa vào hoạt động thêm 45 chi nhánh và phòng giao dịch

- Năm 2012, sự cố tháng 8/2012 đã tác động đáng kể đến nhiều mặt hoạt động của ACB, đặc biệt là huy động và kinh doanh vàng Tuy nhiên ACB

đã ứng phó tốt sự cố; và nhanh chóng khôi phục toàn bộ số dư huy động tiết kiệm VND chỉ trong thời gian 2 tháng sau đó ACB đã lành mạnh hóa cơ cấu bảng tổng kết tài sản thông qua việc xử lý các tồn đọng liên quan đến hoạt độngkinh doanh vàng theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước ACB cũng thực thi quyết liệt việc cắt giảm chi phí trong 6 tháng cuối năm; bước đầu hoàn chỉnh khuôn khổ quản lý rủi ro về mặt quy trình chính sách; và thành lập mới 16 chi nhánh và phòng giao dịch

- Năm 2013, tuy kết quả hoạt động không như kỳ vọng nhưng ACB vẫn

có mức độ tăng trưởng khả quan về huy động và cho vay VND Nợ xấu được kiểm soát ở mức 3% sau những biện pháp mạnh về thu hồi nợ, xử lý rủi ro tín dụng và bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) ACB cũng kéo giảm hệ số chi phí/thu nhập xuống còn khoảng 66%, giảm 7% so với năm 2012 Về nhân sự, quy mô được tinh giản, và việc thay thế

và bổ sung cấp quản lý được thực hiện thường xuyên Mạng lưới kênh phân

Trang 30

phối cũng được sắp xếp lại theo quy định mới của Ngân hàng Nhà nước Tình hình hoạt động ba năm từ 2011 đến 2013 cũng được đánh giá lại và Chiến lược phát triển ACB cũng được điều chỉnh cho giai đoạn 2014 – 2018.

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của ACB trong những năm gần đây

Tổng tài sản

Đồ thị 1: Giá trị tổng tài sản của ACB qua các năm từ 2009- 2013

Trong năm 2010 và 2011, tổng tài sản của ACB có xu hướng tăng lên, năm 2010 tăng 22,3% so với 2009 và năm 2011 tăng 37,01% so với năm 2010 Tốc độ tăng trưởng đỉnh cao này giúp ACB dẫn đầu trong khối ngân hàng thương mại cổ phần và cũng là thành viên duy nhất “phả hơi nóng” đối trọng vềquy mô với khối ngân hàng nhà nước Quy mô tài sản đạt 281,019 tỷ đồng.Nhưng chỉ một năm sau đó, năm 2012, quy mô tổng tài sản của ACB giảmrất mạnh xuống còn 176,308 tỷ đồng ( giảm 37,26%) và xuống 166,599 tỷ đồngtrong năm 2013 Nguyên nhân sâu xa không thể không nhắc tới là do dính dángđến 2 vụ án Bầu Kiên và Huỳnh Thị Huyền Như khiến cho uy tín ngân hàng giảm sút cộng với việc trích lập dự phòng rủi ro và bóc tách vốn vàng ra khỏi bảng cân đối

 Tình hình huy động vốn

Đồ thị 2.2: Tổng giá trị huy động vốn qua các năm từ 2009- 2012

của ACB

Trang 31

Tương tự như tổng tài sản, tình hình huy động vốn của ACB tăng lên trong năm 2010 và 2011 Sau đó giảm mạnh trong năm 2012 và tiếp tục giảm nhẹ trong năm 2013

Trong năm 2013, hoạt động huy động vốn của ACB được điều hành theo hướng ưu tiên cho an toàn thanh khoản và tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn, chủđộng điều chỉnh tốc độ tăng trưởng huy động cho phù hợp với khả năng sử dụng vốn và tăng tỉ trọng nguồn huy động không kì hạn để giảm chi phí vốn Đến 31/12/2013, tổng quy mô tiền gửi đạt 138 ngàn tỉ đồng, giảm 1,9% so với đầu năm Nguyên nhân giảm chủ yếu do tất toán toàn bộ các khoản huy động vàng theo đúng lộ trình vủa Ngân hàng nhà nước Nếu loại trừ yếu tố tiền gửi bằng vàng thì huy động tiền gửi khách hàng của ACB tăng gần 13.000 tỷ đồng (từ 125.234 tỷ đồng lên 138.111 tỷ đồng), tương ứng tăng gần 10,3% Một nguyên nhân sâu xa khác là do ảnh hưởng tai tiếng từ vụ án Bầu Kiên nên uy tín của ngân hàng giảm sút, gây trở ngại cho việc huy động vốn

Tình hình dư nợ cho vay

Đồ thị 2.3: Tổng dư nợ cho vay qua các năm từ 2009- 2013 của ACB

Trang 32

Tổng dư nợ khách hàng của ACB cũng chững lại trong 2 năm 2012 và

2013 Trong tình hình khó khăn của cả hệ thống ngân hàng do tổng cầu sụt giảm, nhu cầu và khả năng vay vốn của doanh nghiệp, cá nhân bị hạn chế như hiện nay nên ACB cũng khó có khả năng bứt phá

Trong năm 2013, hoạt động tín dụng của ACB có cải thiện so với năm

2012 và tăng trưởng khả quan so với mức bình quân toàn nghành Cơ cấu tín dụng chuyển dịch theo hướng tích cực, các quy định của ngân hàng nhà

nướctrong lĩnh vực quản lí tín dụng được tuân thủ Dư nợ tín dụng của ACB tính đến 31/12/2013 đạt 107.200 tỷ đồng, tăng 4,3% so với đầu năm (nếu khôngtính đến khoản tất toán dư nợ vàng theo lộ trình của Ngân hàng nhà nước thì tăng trưởng tín dụng năm 2013 đạt 14% (từ 93.357 tỷ đồng năm2012 lên

106.361 tỷ đồng cuối 2013), trong đó cho vay lĩnh vực không khuyến khích (phi sản xuất) là 6,85%

Tổng lợi nhuận trước thuế

Đồ thị 2.4: Tổng lợi nhuận trước thuế từ 2009- 2013

Tổng lợi nhuận trước thuế năm 2011 tăng 35,5% so với năm 2010 và giảm75,2% vào năm 2012, tiếp tục giảm nhẹ 0.77% trong năm 2013 Sở dĩ tổng lợi

Trang 33

nhuận trước thuế của ACB giảm mạnh được lí giải do: trích lập dự phòng rủi rotăng cao, bóc tách vốn vàng ra khỏi bảng cân đối cộng với tăng trưởng tín dụng thấp Nhưng về khía cạnh rủi ro, sự thay đổi trong trích lập dự phòng và bóc tách vốn vàng lại hạn chế được rất nhiều Hiện nay, ACB tập trung vào các hoạtđộng chính, thị trường chính là phục vụ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp

Sự sụt giảm này cũng cho thấy ACB đang cố gắng cân bằng lại, tập trung gia tăng nguồn vốn cho các mảng bán lẻ, tín dụng tiêu dùng mở rộng

Tỷ lệ nợ xấu

Đồ thị 2.5: Tỷ lệ nợ xấu qua các năm 2009- 2013

Tỷ lệ nợ xấu phản ánh tình hình chất lượng tài sản có của ACB Tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ trong năm 2010 và tăng lên trong những năm tiếp theo, đặc biệt tăng cao trong năm 2012 Tuy nhiên tỷ lệ nợ xấu vẫn nằm trong mức chấp nhậnđược

2.1.4 Tình hình quản trị rủi ro tín dụng tại ACB

Để duy trì mức rủi ro tín dụng thấp nhất, nhiều năm qua ACB đã thực hiệnchính sách tín dụng thận trọng

Để thực hiện việc xét duyệt và quyết định cấp các khoản tín dụng, bảo lãnh, ACB tổ chức thành 3 cấp: Ban tín dụng tại các chi nhánh, ban tín dụng hội sở, ban tín dụng phía bắc và cấp cao nhất là hội đồng tín dụng Hội đồng tíndụng ACB bao gồm 11 thành viên, trong đó có 2 thành viên hội đồng quản trị

và 9 thành viên của ban điều hành Bên cạnh việc quyết định cấp tín dụng hoặc bảo lãnh, Hội đồng tín dụng còn quyết định về các vấn đề về chính sách tín dụng, quản lí rủi ro tín dụng, hạn mức phán quyết của các ban tín dụng Nguyêntắc cấp tín dụng là sự nhất trí 100% của các thành viên xét duyệt Các khách hàng cá nhân và doanh nghiệp đều được xếp hạng trong quá trình thẩm định Sau khi thẩm định, phân tích và định lượng rủi ro, các hạn mức tín dụng hoặc các khoản vay độc lập sẽ được cấp cho từng khách hàng Ngoài ra, ACB luôn nghiêm túc thực hiện việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo đúng quy định

Trang 34

của ngân hàng nhà nước với mức trích lập đủ các khoản nợ quá hạn theo quyết định của hội đồng tín dụng Việc thành lập Ban chính sách và quản lí tín dụng

là nhằm chuyên nghiệp hóa công tác quản lí rủi ro tín dụng

2.1.4.1 Những thành tựu trong quản lí rủi ro tại ACB

- Tuân thủ các quy định của ngân hàng nhà nước về việc tách bạch

giữa khâu thẩm định và khâu quyết định cho vay, các khoản tín dụng phải qua 3khâu: thẩm định đề xuất, kiểm soát và phê duyệt tín dụng

- ACB đã từng bước ứng dụng hiệp ước Basel II trong công tác quản

+ Tỷ lệ nợ xấu luôn duy trì ở mức thấp Luôn thấp nhất so với các

NHTMCP trong nước và thấp hơn so với quy định ngân hàng nhà nước là 3%.+ ACB luôn tuân theo các quy định tín dụng: Tổng dư nợ đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có, và tổng dư nợ cho vay đối với một nhóm khách hàng liên quan không vượt quá 50% vốn tự có; tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạng để cho vay trung và dài hạn không vượt quá 30%

- ACB đã ban hành một số quy định về quản trị rủi ro như: quy định về hoạt động phòng ngừa rủi ro trên tất cả các lĩnh vực nghiệp vụ; quy trình thẩm định và giải quyết hồ sơ vay vốn của khách hàng và dự án; hướng dẫn kiểm tra giám sát tín dụng;…

- Tổ chức quản lí rủi ro của ACB được bố trí từ hội sở đến các chi nhánh

và phòng giao dịch trên toàn hệ thống: Các phòng ban phối hợp hiệu quả và nhịp nhàng với nhau trong việc quản trị rủi ro Hội đồng tín dụng là cơ quan có nhiều kinh nghiệm và cẩn trọng trong việc quyết định phê duyệt khoản vay Phòng quản trị rủi ro ở hội sở có chức năng tổng hợp, phân tích tình hình hoạt động hàng ngày cả ACB, hỗ trợ ban điều hành Trung tâm tín dụng doanh nghiệp và trung tâm tín dụng cá nhân thực hiện thẩm định tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng để hỗ trợ hội đồng tín dụng, ban tín dụng trong việc ra quyết định cho vay Bên cạnh đó, ACB thành lập khối vận hành độc lập

Ngày đăng: 10/11/2017, 13:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w