Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm về ma túy những năm vừa qua đạt được nhiều kết đáng mừng, tuy nhiên vẫn còn nhiều sai sót như áp dụng pháp luật sai; bỏ sót, lọt tội
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu, số liệu trong luận văn là trung thực và chính xác Những kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có sự gian dối, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
TRẦN MINH PHƯƠNG
Trang 3DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI VỀ MA TÚY 6
1.1 Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy 6
1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túy 13
1.3 Quy định của pháp luật về áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy 21
1.4 Các yếu tố tác động đến áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy 23
Chương 2: THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI VỀ MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA 33
2.1 Tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 đến tháng 6/2017 33
2.2 Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự trong định tội danh và quyết định hình phạt các tội phạm về ma túy 35
2.3 Nhận xét, đánh giá về việc áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn xét xử đối với các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 44
Chương 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY 57
3.1 Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy 57
3.2 Các giải pháp đảm bảo chất lượng áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy 61
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHẦN PHỤ LỤC 83
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phòng chống tội phạm các tội phạm về ma tuý luôn được Đảng, Nhà nước và các ngành Công an, Bộ đội Biên phòng và Hải quan quan tâm chỉ đạo nhằm hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tác hại do các loại tội phạm này gây ra cho xã hội Đây là một trong những loại tội phạm hình sự nguy hiểm xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước ta về các chất
ma tuý; xâm phạm trật tự an toàn xã hội; xâm phạm sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc Những năm gần đây, tội phạm về ma tuý nói chung, tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý nói riêng đang có diễn biến phức tạp, xu hướng gia tăng cả về số vụ, số lượng và đặc biệt là phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội Đối tượng tham gia hoạt động liều lĩnh, tinh vi xảo quyệt; đa số các vụ đều hình thành các đường dây hoặc băng, ổ, nhóm; luôn thay đổi địa bàn hoạt động; khi bị phát hiện và truy bắt chúng luôn tìm cách che dấu hành vi phạm tội của bản thân và cho đồng bọn, gây khó khăn cho quá trình điều tra làm rõ của các lực lượng chức năng
Thanh Hóa là một trong những tỉnh có tình hình ma túy diễn ra vô cùng phức tạp Sở dĩ hoạt động của tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ngày càng diễn biến phức tạp, bởi Thanh Hóa là tỉnh có 192 km đường biên giới giáp với Lào, hoạt động buôn bán, vận chuyển trái phép các chất ma tuý qua biên giới diễn biến phức tạp; tỉnh vừa là địa bàn tiêu thụ, vừa là địa bàn trung chuyển ma tuý đi các tỉnh, thành phố khác Theo số liệu thống kê của Công an tỉnh Thanh Hóa, những năm gần đây, số vụ việc, vụ án phát hiện ngày càng tăng; lượng ma tuý thu được trong các chuyên án, vụ án ngày càng nhiều; tính chất, thủ đoạn hoạt động của tội phạm ngày càng manh động, liều lĩnh; nhiều đường dây hoạt động liên huyện, liên tỉnh, xuyên quốc gia với tính chất đặc biệt nghiêm trọng Trong những năm qua mặc dù Đảng bộ, chính quyền tỉnh đã luôn quan tâm, tích cực chỉ đạo thực hiện triển khai tuyên truyền giáo dục đấu tranh phòng, chống và truy quét tội phạm ma tuý trên địa bàn tỉnh song công tác phòng chống ma tuý vẫn chưa đạt được kết
Trang 6quả như mong muốn Số liệu thống kê về tình hình người nghiện ma tuý và tội phạm liên quan đến ma tuý trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian gần đây cho thấy không những không giảm mà còn có xu hướng gia tăng theo chiều hướng ngày càng phức tạp
Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm về ma túy những năm vừa qua đạt được nhiều kết đáng mừng, tuy nhiên vẫn còn nhiều sai sót như áp dụng pháp luật sai; bỏ sót, lọt tội phạm; áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ chưa đúng; nhân thân của bị cáo chưa được xác định rõ ràng dẫn đến việc quyết định áp dụng hình phạt chưa đúng đắn
Từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật hình sự đối với
các tội phạm về ma túy từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa”, làm đề tài luận văn
Thạc sĩ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, đã rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về Áp dụng pháp luật Hình sự đối với các tội phạm về ma túy như:
- TS Trần Văn Luyện - PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm (2001), Phát hiện và điều tra các tội phạm về ma tuý”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
- “Áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố các vụ án ma tuý theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay”(2007), Luận văn Thạc sĩ Luật học của Bùi Mạnh Cường, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Luận án tiến sĩ Phạm Minh Tuyên: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy trong luật Hình sự Việt Nam, năm 2006
- Luận văn thạc sĩ Bùi Mạnh Cường: “Áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra, truy tố các vụ án ma túy ở Việt Nam
- Luận án tiến sĩ của Chu Thị Trang Vân: "Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Việt Nam", năm
2009
Những công trình khoa học được công bố trên đây đề cập dưới góc độ khác nhau về Áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật hình sự nói riêng đối với các tội phạm về ma túy Luận văn này tập trung nghiên cứu các
Trang 7hoạt động áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túy từ thực tiễn trên địa bàn Thanh Hóa, nơi học viên đang sinh sống và công tác
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu góp phần làm rõ cơ sở lý luận của Áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết các tội phạm về ma túy
Phân tích, đánh giá thực trạng Áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Từ đó luận văn đề xuất quan điểm và giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật hình sự trong hoạt động giải quyết án ma túy, khắc phục những hạn chế trong việc Áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc ADPLHS trong hoạt động giải quyết
án ma túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
- Phân tích thực trạng ADPLHS đối với các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian từ năm 2013 đến nửa đầu năm 2017, làm
rõ các nguyên nhân dẫn đến việc các bản án, quyết định còn oan, sai, bị hủy, cải sửa lớn do lỗi chủ quan, không đúng pháp luật
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản bảo đảm chất lượng ADPL hình sự trong hoạt động giải quyết án ma túy, góp phần thực hiện có hiệu quả công cuộc cải cách tư pháp, nâng cao uy tín của nền tư pháp nước nhà trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận pháp lý và thực tiễn việc ADPLHS đối với các tội phạm ma túy từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Hoạt động ADPLHS trải dài và xuyên suốt toàn bộ các giai đoạn tố tụng hình sự Do giới hạn điều kiện nghiên cứu luận văn thạc sỹ, trong phạm vi nghiên cứu đề tài thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng
Trang 8hình sự, luận văn tập trung vào nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm lại có nhiều hoạt động gồm: định tội danh, quyết định khung hình phạt, áp dụng hình phạt bổ sung, áp dụng biện pháp tư pháp, Tuy nhiên do điều kiện luận văn có hạn nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hai hoạt động ADPLHS nổi bật nhất và quan trọng nhất của giai đoạn xét xử sơ thẩm là hoạt động định tội danh và hoạt động quyết định hình phạt đối với một
số tội phạm ma túy thường gặp (Tội mua bán trái phép chất ma túy, Tội tàng
trữ trái phép chất ma túy, Tội vận chuyển trái phép chất ma túy)
- Về thời gian: luận văn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2013 – tháng 6/2017
- Về địa bàn: luận văn nghiên cứu trong địa bàn tỉnh Thanh Hóa và chủ yếu là hai cấp xét xử
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với các tội phạm về ma túy
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và quan điểm của Đảng, Nhà nước Luận văn được sử dụng phương pháp luận của Triết học Mác-Lênin và kết hợp các phương pháp: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, quy nạp, khảo sát thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ thêm một số vấn đề về lý luận áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn xét xử các tội phạm về ma túy
Hình thành cơ sở lý luận về ADPLHS đối với các tội phạm về ma túy, đáp ứng đòi hỏi xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đây là đóng góp nhằm nâng cao nhận thức lý luận cho việc thực hiện chức năng xét
Trang 9xử nói chung, xét xử án hình sự trong đó có các vụ án về ma túy nói riêng của Tòa án nhân dân
- Tổng kết thực tiễn rút ra những nhận định, đánh giá có ý nghĩa góp phần nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự về ma túy tại ngành Tòa
án nhân dân ở tỉnh Thanh Hóa
- Luận văn đề xuất một số phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm khắc phục tình trạng án oan sai, nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật hình sự trong xét xử các vụ án về ma túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, góp phần tích cực vào cải cách tổ chức và hoạt động của ngành Toà án theo yêu cầu cải cách
tư pháp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; luận văn được bố cục thành 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng pháp luật hình
sự đối với các tội về ma túy;
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túy tại tỉnh Thanh Hóa;
Chương 3: Yêu cầu và các giải pháp đảm bảo chất lượng áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy;
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI VỀ MA TÚY
1.1 Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của áp dụng pháp luật hình sự
Áp dụng pháp luật (ADPL) là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua cơ quan có thẩm quyền hoặc tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện trong những qui định pháp luật để ra, các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt một quan hệ pháp luật Trong khoa học pháp lý áp dụng pháp luật được sử dụng nhiều trong lý luận cũng như trong thực tiễn Theo cách hiểu của một số người thì việc đồng nhất ADPL với thực hiện pháp luật, trong một khía cạnh nào đó thì việc ADPL đã là một hoạt động tách ra khỏi hoạt động xây dựng pháp luật và gắn với việc giải quyết các yêu cầu thực tế.Tuy nhiên ADPL có những điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều thống nhất cho rằng, ADPL là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt, một hình thức để chuyển hóa trách nhiệm hình sự vào thực tiễn Bất kỳ Nhà nước nào cũng phải ban hành và sử dụng pháp luật như là một công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội; pháp luật tự thân nó không có được vai trò to lớn ấy nếu chúng chỉ được ban hành mà không được thực hiện hoặc thực hiện không triệt để, thiếu tính thống nhất Trên bình diện chung nhất, pháp luật là phương tiện để thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng được triễn khai thực hiện có hiệu quả Các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành cần thực hiện trong cuộc sống thì chúng mới có ý nghĩa
Để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, ngoài các yếu tố như sự phù hợp của hệ thống quy phạm pháp luật với các điều kiện kinh tế, lịch sử, trình độ phát triển của xã hội, nhà nước còn phải quan tâm đến các hoạt động tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật một cách nghiêm minh Bởi
Trang 11lẽ, muốn quản lý đất nước bằng pháp luật đòi hỏi Nhà nước phải ban hành pháp luật Nếu pháp luật ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống, hiệu quả điều chỉnh của pháp luật không cao chứng tỏ rằng quản lý nhà nước kém hiệu quả Vì vậy, xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật là đòi hỏi khách quan của việc quản lý Nhà nước, tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Liên quan đến thực hiện pháp luật đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu sâu, làm rõ vấn đề này, trong đó khoa học pháp lý xác định những hình thức thực hiện pháp luật sau:
- Tuân thủ pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các
chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm Việc các chủ thể pháp luật tự kiềm chế là những xử sự thụ động, tự ghép mình vàp tập thể, vào xã hội, đặt lợi ích quốc gia, lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, lợi ích của bộ phận cục bộ Pháp luật quy định mọi tổ chức và công dân không được thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, không được xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người khác Đó là việc pháp luật cấm Đồng thời vì lợi ích chung, tuỳ theo tình hình, hoàn cảnh cụ thể mà pháp luật bắt buộc mọi tổ chức và công dân phải làm một việc nào đó
- Chấp hành pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó
các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình với hành động tích cực Hoạt động chấp hành pháp luật là cơ sở pháp lý để đánh giá công trạng, thành tích
và danh dự, phẩm giá tốt đẹp của công dân, tổ chức cũng như của cán bộ công chức nhà nước
- Sử dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó,
các chủ thể pháp luật sử dụng các quyền năng pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Song nếu các chủ thể không sử dụng quyền của mình thì pháp luật cũng không bắt buộc Nói cách khác, các quyền chủ thể được pháp luật cho phép thực hiện theo ý chí của chủ thể chứ không bị bắt buộc phải thực hiện
Trang 12- Áp dụng pháp luật: là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà
nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ công chức có thẩm quyền
tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hay thay đổi những quan hệ pháp luật cụ thể Trong truờng hợp này, các chủ thể pháp luật thực hiện các quy định của pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước
Dựa vào bốn hình thức thực hiện pháp luật nêu trên thì áp dụng pháp luật chỉ là một hình thức của thực hiện pháp luật nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì đây là hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước, được xem như để bảo đảm đặc thù của Nhà nước cho các quy phạm pháp luật được thực hiện một cách hiệu quả trong đời sống xã hội Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật lại luôn luôn phải có sự tham gia của
cơ quan Nhà nước thông qua các cơ quan hoặc nhà chức trách có thẩm quyền
Áp dụng pháp luật hình sự (ADPLHS) là một dạng của áp dụng pháp luật Là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt nên ADPLHS có những đặc điểm chung của bất cứ dạng ADPL nào, những đặc điểm đó là:
Thứ nhất: là sự tham gia của nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực công nên điều này làm cho hoạt động ADPLHS có đặc điểm là hoạt động mang tính tổ chức - quyền lực Khác với các hình thức thực hiện pháp luật khác có thể do các chủ thể pháp luật khác tiến hành, ADPLHS chỉ có thể do nhà nước thông qua những cơ quan có thẩm quyền tiến hành Pháp luật quy định mỗi một loại cơ quan nhà nước nhất định (như Chính phủ, các Bộ, Viện kiểm sát hay Tòa án, v.v ) được tiến hành hoạt động ADPL trong những lĩnh vực nhất định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ADPLHS Những cơ quan này còn được biết đến là các
cơ quan tiến hành Tố tụng hình sự nếu như xem xét hoạt động ADPLHS là một quá trình từ khi bắt đầu đến khi ra được văn bản áp dụng PLHS Xem xét
Trang 13mối tương quan giữa nhà nước - pháp luật - và ADPL sẽ thấy một mặt, pháp luật là công cụ, phương tiện để nhà nước thực hiện các chức năng của mình, mặt khác, nhà nước bằng việc ADPL để thực hiện những mục tiêu mà pháp luật đặt ra Đặc điểm này còn được thể hiện ở chỗ về nguyên tắc, ADPLHS tiến hành theo ý chí đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc ADPLHS chỉ diễn ra theo quy định của pháp luật, theo một trình tự, thủ tục pháp luật được quy định một cách chặt chẽ, không thể tự ý thay đổi hay chấm dứt theo ý chí của bất kỳ ai, trừ trường hợp pháp luật đã quy định trước một cách rõ ràng Chủ thể ADPL là chủ thể có thẩm quyền, là đại diện cụ thể cho tính tối cao của quyền lực nhà nước Về nguyên tắc, các chủ thể này thực hiện việc ADPL một cách đơn phương, không bị phụ thuộc vào ý chí của đối tượng bị áp dụng Mặc dù là các chủ thể ADPL có thẩm quyền nhưng không nhân danh ý chí chủ quan của mình mà nhân danh ý chí của nhà nước đã được quy định trong pháp luật Trong mối quan hệ này, pháp luật mang tính khách quan ngay cả đối với những chủ thể có thẩm quyền áp dụng nó Đứng trước nghĩa vụ pháp lý khách quan đó, quyền của chủ thể ADPLHS bị giới hạn đến mức tối thiểu Họ chỉ có một quyền duy nhất là phải chuyển hóa một cách chính xác các quy định của pháp luật hình sự vào từng quan hệ xã hội cụ thể Các chủ thể cũng không được thay đổi hay chấm dứt việc ADPL theo ý chí của mình hay của bất kỳ ai, ngoại trừ các trường hợp đã được quy định rõ trong pháp luật
Thứ hai, là hoạt động giải quyết trực tiếp với những vấn đề thực tế nên ADPLHS là sự điều chỉnh cá biệt, cụ thể các quan hệ xã hội khi có sự kiện phạm tội Nói đến ADPL là nói đến tính cụ thể ADPLHS cũng như vậy, chỉ diễn ra trong các trường hợp rất cụ thể, trong những quan hệ pháp luật rất cụ thể Khi pháp luật hình sự được vật chất hóa vào đời sống xã hội thì nó luôn
có tính xác định về mặt chủ thể - áp dụng đối với ai, về mặt, khách thể - áp dụng cho quan hệ xã hội nào, về mặt không gian - áp dụng ở đâu, về mặt thời
Trang 14gian - áp dụng khi nào, và cả về mặt cơ sở pháp lý - áp dụng quy phạm nào của hệ thống pháp luật hình sự
Thứ ba, ADPLHS là một hoạt động được tiến hành với những thủ tục được quy định chặt chẽ bởi pháp luật TTHS Điều này có nghĩa là việc ADPLHS không thể tiến hành một cách tùy tiện mà phải được diễn ra trên cơ
sở, trong những điều kiện và theo những thủ tục nhất định do pháp luật quy định, đó chính là thủ tục tố tụng hình sự
Thứ tư, trong khoa học pháp lý, bên cạnh những đặc điểm nêu trên, ADPL còn có đặc điểm là một hoạt động sáng tạo Vì vậy, ADPLHS cũng đòi hỏi sự sáng tạo của các chủ thể trong quá trình áp dụng Khi mà pháp luật Hình sự mang tính khái quát cao còn thực tế thì phong phú và đa dạng nên khi chuyển hóa những quy định pháp luật vào đời sống, bản thân các chủ thể ADPL phải sáng tạo (trong khuôn khổ của pháp luật) vận dụng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh Nói cách khác, ở phạm
vi rộng, sáng tạo là thuộc tính chung của việc thực hiện pháp luật Bởi thực hiện pháp luật nói chung (ADPLHS nói riêng) là hoạt động tích cực của các chủ thể pháp luật chuyển hóa pháp luật thành các xử sự cụ thể nên ở những chủ thể khác nhau, việc chuyển hóa do vậy cũng khác nhau nhưng vẫn trong khuôn khổ mà pháp luật cho phép
1.1.2 Chủ thể của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự
Là một hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt mang tính tổ chức và quyền lực nhà nước, ADPL do các cơ quan nhà nước thực hiện để bảo đảm cho pháp luật được thi hành mà không phụ thuộc vào tính tự giác, tự thực hiện của các chủ thể khác trong xã hội Khác với các hình thức thực hiện pháp luật khác có thể do các chủ thể pháp luật khác tiến hành, ADPLHS chỉ có thể do nhà nước thông qua những cơ quan có thẩm quyền tiến hành Pháp luật quy định mỗi một loại cơ quan nhà nước nhất định (như Chính phủ, các Bộ, VKS hay Tòa án, v.v ) được tiến hành hoạt động ADPL trong những lĩnh vực nhất định CQĐT, VKS và Tòa án là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 15ADPLHS và những cơ quan này còn được biết đến là các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự nếu như xem xét hoạt động ADPLHS là một quá trình từ khi bắt đầu đến khi ra được văn bản ADPLHS
Chủ thể ADPL là chủ thể có thẩm quyền, là đại diện cụ thể cho tính tối cao của quyền lực nhà nước Về nguyên tắc, các chủ thể này thực hiện việc ADPL một cách đơn phương, không bị phụ thuộc vào ý chí của đối tượng bị
áp dụng Tuy nhiên, khi phát sinh quan hệ PLHS, việc ADPLHS không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của các chủ thể ADPL Mặc dù là các chủ thể có thẩm quyền nhưng các chủ thể ADPL không nhân danh ý chí chủ quan của mình mà nhân danh ý chí của nhà nước đã được quy định trong pháp luật Trong mối quan hệ này, pháp luật mang tính khách quan ngay cảđối với những chủ thể có thẩm quyền áp dụng nó Đứng trước nghĩa vụ pháplý khách quan đó, quyền của chủ thể áp dụng PLHS bị giới hạn đến mức tốithiểu Họ chỉ có một quyền duy nhất - không được lựa chọn - là phải chuyển hóa một cách chính xác các quy định của PLHS vào từng quan hệ xã hội cụ thể Các chủ thể cũng không được thay đổi hay chấm dứt việc ADPL theo ý chí của mình hay của bất kỳ ai, ngoại trừ các trường hợp đã được quy định rõ trong pháp luật
1.1.3 Nội dung của áp dụng pháp luật hình sự
Nội dung của ADPLHS phụ thuộc vào chính PLHS Cụ thể hơn, ADPLHS cá biệt hóa những quy định của PLHS trong những quan hệ xã hội
cụ thể và cho các chủ thể cụ thể Những thành tựu trong quá trình phát triển của lịch sử đã làm thay đổi nội dung, cấu trúc, phạm vi của những quan hệ xã hội được bảo vệ bằng PLHS Tuy nhiên, về bản chất vốn có, PLHS vẫn giữ nguyên là quy định về hai vấn đề, đó là tội phạm và hình phạt Những nội dung khác nếu có được quy định trong PLHS thì cũng chỉ nằm trong quan hệ với tội phạm và hình phạt mà nếu thiếu chúng, PLHS chỉ thiếu đi tính chính xác Như vậy, khi được chuyển hóa vào thực tế, việc áp dụng PLHS cũng chính là việc chuyển hóa hai nội dung về tội phạm và hình phạt vào các
Trang 16trường hợp cụ thể thành hai nội dung tương ứng là định tội danh và quyết định hình phạt
- Định tội danh: là một trong những nội dung cơ bản của ADPLHS Định tội danh là việc chủ thể ADPLHS xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện có phù hợp với mô tả của một tội nào đó được quy định trong BLHS hay không Mặc dù việc xác định có tội hay không có tội được thể hiện một cách rõ nét nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa là việc định tội danh chỉ diễn ra trong giai đoạn xét xử Định tội danh là hoạt động được diễn ra trong tất cả các giai đoạn của TTHS Trong khoa học pháp lý hình sự, khái niệm định tội danh có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng về cơ bản đều thống nhất đó là hoạt động ADPLHS ADPLHS được quy định bởi chính BLHS Tội phạm bao giờ cũng được xem
là có trước hình phạt Hình phạt không phải là một đặc điểm nằm trong bản thân tội phạm mà là hậu quả pháp lý của tội phạm Trên cơ sở lý luận ấy, PLHS được xây dựng theo tính có trước của tội phạm và tính phái sinh của hình phạt - tức là toàn bộ các quy định của PLHS đều là sự mô tả tội phạm trước khi mô tả hình phạt hoặc mô tả hình phạt như là hệ quả tất yếu của tội phạm trong một mối quan hệ có tính nhân quả và biện chứng Logic này được chuyển hoá một cách trực tiếp vào hoạt động áp dụng PLHS Do vậy, định tội danh là bước thứ nhất của quá trình chuyển hóa những quy định của PLHS vào việc giải quyết những vụ án cụ thể
- Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động ADPLHS thể hiện qua thực tiễn xét xử của Tòa án, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong BLHS tương ứng với một cấu thành tội phạm cụ thể để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án Tiếp cận từ khía cạnh pháp lý hình sự, cách hiểu trên được các nhà khoa học gọi là tiếp cận theo nghĩa hẹp Còn theo nghĩa rộng thì việc quyết định hình phạt có nội dung là cả việc áp dụng các biểu hiện khác của trách nhiệm hình sự, chứ không đơn thuần chỉ là hình phạt Từ khía cạnh bản
Trang 17chất là hoạt động ADPLHS thì quyết định hình phạt được hiểu ở nghĩa rộng
và có thể được gọi bằng một tên khác là ADPL Cơ sở pháp lý của hoạt động này là BLHS Chỉ có BLHS mới quy định về tội phạm và hình phạt Chính vì vậy, việc quyết định hình phạt là chuyển hóa khung hình phạt tương ứng với một tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS thành trách nhiệm hình sự cụ thể đối với người đã thực hiện tội phạm đó Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, Tòa án chỉ được tuyên một hình phạt chính và có thể tuyên kèm theo một hoặc nhiều hình phạt bổ sung Tòa án phải lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt tương ứng với tội phạm cụ thể để áp dụng
1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túy
1.2.1 Khái niệm về chất ma túy
Từ xa xưa, do trình độ nhận thức của con người còn thấp, trình độ y học chưa phát triển nên con người chỉ biết sử dụng những loại cây cỏ để chữa bệnh Trong các loại cây đó bao gồm cả những loại cây như thuốc phiện, cần
sa, coca, Tuy nhiên đi kèm với khả năng chữa bệnh, những loại cây này còn
có tác dụng phụ cao hơn gây ra nhiều tác hại cho con người Ngày nay, ngoài các sản phẩm của các loại cây tự nhiên cây như thuốc phiện, cần sa, coca, còn có các chất được tổng hợp trong phòng thí nghiệm
Theo Wikipedia, ma túy là tên gọi chung chỉ những chất kích thích khi dùng một lần có thể gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên hay nhân tạo Những chất này khi đưa vào cơ thể sống sẽ làm thay đổi trạng thái nhận thức và sinh
lý Theo khái niệm khoa học: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên (morphin ); bán tổng hợp (heroin được bán tổng hợp từ morphin) hay tổng hợp (amphetamine) có tác dụng lên thần kinh trung ương gây cảm giác như giảm đau, hưng phấn hay cảm thấy dễ chịu mà khi dùng nhiều lần thì sẽ phải sử dụng lại nó nếu không sẽ rất khó chịu
Trang 18Theo định nghĩa của tổ chức Y tế Thế giới đã được Tổ chức Văn hoá giáo dục của liên hiệp quốc công nhận thì “Ma tuý là chất khi đưa vào cơ thể
sẽ làm thay đổi chức năng của cơ thể”
Luật phòng, chống ma tuý của Việt Nam năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2008) đã đưa ra một số định nghĩa về ma tuý hoặc có liên quan đến khái niệm ma tuý tại Điều 2 như sau:
- Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành
- Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng
- Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu ử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng
- Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma tuý, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành Theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013, Nghị định 126/2005/NĐ-CP ngày 09/12/2005 Cụ thể:
Danh mục I, có 45 chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền
Danh mục II, 136 chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền
Danh mục III, có 69 chất hướng thần được dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền
Danh mục IV có 43 tiền chất Trên cơ sở danh mục này, Bộ Y tế, Bộ Công Thương, Bộ Công an theo chức năng nhiệm vụ được giao phân loại tiền chất theo cấp độ để có biện pháp quản lý, kiểm soát phù hợp
Trang 19- Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành
- Cây có chứa chất ma tuý bao gồm cây thuốc phiện (cây anh túc), cây cô
ca, cây cần sa hoặc cây khác có chứa chất ma tuý do Chính phủ quy định Như vậy, dưới góc độ khoa học pháp lý thì ma túy có một số đặc điểm sau:
Ma túy là một chất gây nghiện, khi thâm nhập vào cơ thể người là thay đổi một số chức năng, hoạt động thần kinh, làm con người lệ thuộc vào chất này Tại Luật phòng chống ma túy năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2008 xác định chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành, khi sử dụng gây ra tình trạng kich thích hoặc ức chế thần kinh gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần sẽ gây ra tình trạng nghiện đối với người sử dụng
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túy
Cũng như các tội phạm khác, tội phạm về ma tuý là: “những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý…” (khoản 1, điều 8 BLHS 1999) Tội phạm về ma tuý cũng là “hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý
Các tội phạm về ma tuý được Nhà nước ta xác định là một loại tội phạm nghiêm trọng Con người khi sử dụng một vài lần các chất ma túy sẽ có nhu cầu được cung cấp thường xuyên với liều lượng ngày càng cao hơn Chất ma túy vào cơ thể sẽ gây ra sự rối loạn về tâm sinh lý và tàn phá, hủy hoại sức khỏe; khi không đáp ứng được nhu cầu họ sẽ lên cơn vật vã, đau đớn về thể xác và có thể làm tất cả những gì kể cả tội ác để giải tỏa cơn nghiện Nạn nghiện ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người mà còn làm kiệt quệ kinh tế gia đình và xã hội, là nguyên nhân tăng trưởng tội phạm
Vì vậy, Nhà nước phải độc quyền và thống nhất quản lý các chất ma túy với
Trang 20những quy định rất nghiêm ngặt Vi phạm các quy định về chế độ quản lý các chất ma túy không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước mà còn tạo ra một lớp người nghiện, làm suy thoái giống nòi, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật
tự xã hội và an ninh quốc gia Do tác hại lâu dài và nhiều mặt của việc vi phạm các quy định về chế độ quản lý chất ma túy như vậy, nên mọi hành vi vi phạm ở bất kỳ khâu nào của quá trình quản lý chất ma túy đều bị quy định là tội phạm Căn cứ vào các điều luật về tội phạm ma túy trong BLHS năm
1999, tội phạm ma túy được hiểu là "hành vi cố ý xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước” BLHS năm 1999 quy định 10 điều luật về tội phạm ma túy gồm:
Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 192);
Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 193);
Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194);
Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 195);
Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 196);
Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197);
Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198);
Tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 199) (Tội này đã được bãi bỏ từ ngày 01/01/2010 theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS ngày 19/6/2009); Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200);
Tội vi phạm quy định về quản lý sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất
ma túy khác
Trang 21Trong BLHS năm 2015 có những điểm mới đối với các tội phạm về ma túy so với BLHS 1999, cụ thể: Quy định cụ thể, rõ ràng mức tối thiểu đến mức tối đa định lượng các chất ma túy trong từng điều luật; thay đổi đơn vị tính từ “trọng lượng” thành “khối lượng”; bỏ hình phạt tử hình BLHS
2015 đã tách Điều 194 BLHS 1999 quy định về Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thành 4 tội riêng biệt đó là
tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249; tội “Vận
chuyển trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 250; tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 251; và tội “Chiếm đoạt chất ma túy” được quy định tại Điều 252
Việc thay đổi này được dựa trên thực tiễn cho thấy việc gộp chung các tội danh trong cùng một điều luật gặp không ít khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, trong việc xác định tội danh và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy Như vậy các tội phạm về ma túy quy định tại Chương XX của BLHS
2015 gồm 13 điều luật, so với BLHS 1999 tăng thêm 3 điều luật (từ Điều 247
- Điều 259)
Về định lượng các chất ma túy, BLHS 2015 đã pháp điển hóa quy định
cụ thể, rõ ràng mức tối thiểu đến mức tối đa định lượng các chất ma túy để truy cứu trách nhiệm hình sự trong từng điều luật, đó là các Điều 249, Điều
250, Điều 252; quy định cụ thể việc định lượng các tiền chất, các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy tại các Điều 253 và Điều 254
Đồng thời BLHS 2015 đã quy định thêm một số chất ma túy nằm trong danh mục các chất ma túy đã được Chính phủ quy định vào các Điều luật cụ thể như chất ma túy Methamphetamine, Amphetamine, MDMA…
BLHS 2015 có sự thay đổi về đơn vị tính, các vụ án ma túy từ trước đến nay khi thu giữ được vật chứng đều được xác định bằng gam, kilogam,… đây chính là đơn vị tính khối lượng chứ không phải trọng lượng Vì vậy, Bộ luật
Trang 22hình sự 2015 đã thay đổi đơn vị tính từ “trọng lượng” thành “khối lượng” trong các điều luật để đảm bảo tính chính xác của đơn vị tính
Nhằm thực hiện chủ trương, chính sách của đảng về giảm hình phạt
tử Bộ luật hình sự 2015 đã bỏ hình phạt tử hình, quy định khung hình phạt nhẹ hơn so với Bộ luật hình sự 1999 Theo đó, khung hình phạt cao nhất đối với tội phạm về ma túy là tù chung thân
Bên cạnh những đặc điểm chung của hoạt động ADPLHS, hoạt động ADPLHS đối với tội phạm về ma túy có những đặc điểm riêng dựa trên những đặc điểm đặc trưng của tội phạm ma túy là hoạt động ADPLHS đối với tội phạm về ma túy phải dựa vào cấu thành tội phạm vật chất của tội phạm được quy định trong Chương XVIII của BLHS
Xét từ thực tiễn tình hình tội phạm ma túy diễn ra hiện nay, áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nhiều phương diện:
Thứ nhất, vai trò của việc áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm
về ma túy đối với việc bảo vệ con người trước nguy cơ bị các tội phạm ma túy xâm hại, giáo dục và răn đe tội phạm
Ma túy có tác hại cực kỳ lớn đến sức khỏe con người Ma tuý làm huỷ hoại sức khoẻ, làm mất khả năng lao động, học tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại Dùng ma tuý quá liều có thể dẫn đến cái chết; Gây nghiện mạnh, sức khoẻ giảm sút Tiêm chích ma tuý dùng chung bơm kim tiêm không tiệt trùng dẫn đến lây nhiễm viêm gan vi rut B, C, đặc biệt là HIV(dẫn đến cái chết) Tiêm chích ma tuý là một trong những con đường lây nhiễm HIV phổ biến nhất tại Việt Nam; Người nghiện ma tuý có thể mang vi rut HIV và lây truyền cho người khác; Ma túy làm thoái hoá nhân cách, rối loạn hành vi, lối sống buông thả, dễ vi phạm pháp luật; Ma tuý còn gây tác hại lâu dài cho con cái, nòi giống: các chất ma tuý ảnh hưởng đến hệ thống hoocmon sinh sản, làm giảm khả năng sinh hoạt tình dục, ảnh hưởng đến quá trình phân
Trang 23bào hình thành các giao tử, tạo cơ hội cho các gien độc có điều kiện hoạt hoá, dẫn tới suy yếu nòi giống
Nếu áp dụng pháp luật không hợp lý, đúng người đúng tội , hình phạt áp dụng không đủ mạnh để răn đe và giáo dục sẽ dẫn đến tình trạng tái phạm nhiều lần; lôi kéo, dụ dỗ thêm người khác sử dụng ma túy; vì lợi ích kinh tế
mà dù biết nhưng vẫn phạm tội ma túy khiến cho chất lượng đời sống sức khỏe xã hội xuống cấp, đạo đức xã hội suy đồi và các thế hệ tương lai bị ảnh hưởng nặng nề
Thời gian gần đây, các cơ quan có thẩm quyền đã triệt phá và đưa ra xét
xử nhiều đường dây buôn bán ma túy lớn nhỏ, đã tạo dựng được niềm tin của
xã hội đối với Nhà nước, đối với pháp luật Tuy nhiên những tội phạm ma túy vẫn còn tồn tại rất nhiều, vẫn chưa bị phát hiện Do vậy, những cá nhân, cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng pháp luật đối với các tội phạm ma túy hợp tình hợp lý, đúng người đúng tội để tăng cao tính giáo dục và răn đe
Thứ hai, áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy bảo
vệ lợi ích Nhà nước; bảo vệ an toàn, trật tự xã hội
Nhà nước là chủ thể kiểm soát các hoạt động vận chuyển, tàng trữ, sử dụng, mua bán ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần trên toàn lãnh thổ Việt Nam (Điều 15, 19 Luật phòng, chống ma túy năm 2000) Các tội phạm ma túy là các tội phạm vi phạm quyền kiểm soát ma túy của nhà nước
Ma tuý còn là nguyên nhân gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm hình sự Thực tế cho thấy ma tuý là bạn đồng hành của tội phạm, mối quan hệ giữa ma túy và tội phạm là mối quan hệ nhân quả
Ma tuý gắn liền với hành vi phạm tội, là nguồn bổ sung tội phạm Khi bị nghiện, những người nghiện sẵn sàng làm mọi việc miễn là có tiền, có ma tuý, thậm chí giết người, cướp của Khi đã bị nghiện, người nghiện luôn có xu hưởng tăng liều lượng dùng, chi phí về tiền ngày càng lớn, dẫn đến họ bị suy kiệt về kinh tế Sử dụng ma túy làm cho người nghiện thay đổi trạng thái tâm
lý, sa sút về tinh thần Khi đã lệ thuộc vào ma túy thì nhu cầu cao nhất đối với
Trang 24người nghiện là ma túy, họ dễ dàng bỏ qua những nhu cầu khác trong cuộc sống đời thường Hành vi, lối sống của họ bị sai lệch so với chuẩn mực đạo đức của xã hội và luật pháp
Thứ ba, hoạt động áp dụng pháp luật đối với các tội phạm về ma túy có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng
Các quy phạm pháp luật hình sự về các tội phạm ma túy và các quy phạm pháp luật khác có liên quan đều được kiểm nghiệm thông qua việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn cuộc sống về tính phù hợp hay chưa phù hợp trong đời sống xã hội; về tính đầy đủ, toàn diện hay chưa đầy đủ, còn có lỗ hổng trong quy phạm pháp luật; phát hiện ra những quy phạm pháp luật còn chung chung, làm cho mỗi người có một cách hiểu khác nhau dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật một cách tùy tiện, thiếu tính thống nhất của pháp luật
và vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; ngược lại có những hành vi
vi phạm pháp luật diễn ra có điểm khác với dự đoán của nhà làm luật làm cho người áp dụng pháp luật lúng túng; cũng có khi còn phát hiện ra những vi phạm mới chưa được các quy phạm pháp luật hiện có điều chỉnh, những quy phạm pháp luật đã lỗi thời, không còn phù hợp với tồn tại xã hội cần được thay thế bằng quy phạm pháp luật mới Như vậy, có thể nói áp dụng pháp luật chính là kiểm nghiệm các quy phạm pháp luật trong thực tiễn để phát hiện những lỗ hổng của pháp luật và là nơi nảy sinh những tư duy pháp lý mới góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
Thứ tư, vai trò của áp dụng pháp luật trong vụ án về ma túy là hình thức phổ biến và tuyên truyền giáo dục pháp luật cho nhân dân, đặc biệt là thông qua các phiên tòa xét xử công khai, các chủ thể áp dụng pháp luật đã phân tích, giải thích pháp luật để nhân dân hiểu rõ những gì pháp luật cho phép làm
và những gì pháp luật cấm không được làm, các biện pháp trừng trị cũng như
sự khoan hồng của pháp luật đối với người vi phạm pháp luật Đây chính là một trong những kênh chuyển tải kiến thức pháp luật đến với quần chúng
Trang 25nhân dân đạt hiệu quả rất cao Thông qua việc tổ chức các phiên tòa lưu động đến tận nơi xảy ra vụ án hoặc ở nơi vùng sâu, vùng xa hoặc nơi tình hình tội phạm diễn biến phức tạp và nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa là rất cần thiết góp phần quan trọng trong việc nâng cao sự hiểu biết về pháp luật và
ý thức tôn trọng pháp luật trong nhân dân Bên cạnh đó thông qua áp dụng pháp luật trong xét xử các tội phạm về ma túy còn có vai trò trong việc trừng trị nghiêm khắc những người có hành vi vi phạm pháp luật và bị truy cứu trách nhiệm hình sự bảo vệ công dân, bảo vệ danh dự, nhân phẩm, tính mạng của con người theo quy định của pháp luật, giữ gìn trật tự trị an và an toàn xã hội, giữ gìn kỷ cương phép nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
1.3 Quy định của pháp luật về áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy
Do luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu giai đoạn xét xử sơ thẩm như phần phạm vi của luận văn đã nêu, do vậy ở phần này, tác giả chỉ phân tích những quy định về ADPLHS trong giai đoạn xét xử
Áp dụng pháp hình sự trong giai đoạn xét xử là hoạt động thường xuyên của TAND trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình do Hiến pháp và pháp luật quy định ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của Toà án mang những đặc điểm chung của hoạt động ADPL, bên cạnh đó, nó còn có những đặc điểm riêng Quy trình ADPL trong hoạt động giải quyết án hình sự của Toà án được thực hiện theo quy định của BLTTHS nhưng luật nội dung giải quyết vụ án hình sự phải là BLHS
Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2013
và Điều 2 Luật tổ chức TAND thì TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có
Trang 26tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành Điều 9 BLTTHS 2003 quy định “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” Xét xử vụ án hình sự là giai đoạn thứ tư và cuối cùng Bản chất pháp lý của giai đoạn xét xử là một giai đoạn độc lập của hoạt động tố tụng hình sự, giai đoạn xét xử có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định Đây là giai đoạn quan trọng nhằm xác định một người là người có tội hay vô tội, là giai đoạn trung tâm và quan trọng nhất của hoạt động tố tụng hình sự,
mà trong đó cấp Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật
tố tụng hình sự tiến hành: 1) áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét xử; 2) Đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất
vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên (buộc tội và bào chữa) phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo (hoặc xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm - nếu bản án hay quyết định sơ thẩm đã được tuyên và chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị hoặc kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm - nếu bản án hay quyết định đó bị kháng nghị) và cuối cùng, tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhằm giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục (Phần thứ ba và Phần thứ 4 BLTTHS năm 2003)
Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ
vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản cáo trạng) do Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định)
có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Trang 27Như vậy, xét xử là chức năng quan trọng nhất của Tòa án nói riêng và của toàn bộ quá trình tố tụng hình sự nói chung nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã thông qua trước khi chuyển
vụ án hình sự sang Tòa án, nhằm loại trừ các những hậu quả tiêu cực của các sơ xuất, sai lầm hoặc sự lạm dụng đã bị bỏ lọt trong ba giai đoạn tố tụng hình sự trước đó (khởi tố, điều tra và truy tố), chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, hoặc trả lại
hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ (hay tạm đình chỉ) vụ án;
Bằng việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (nếu bản án hay quyết định chưa
có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị) thông qua quá trình điều tra trực tiếp tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của các bên, Tòa án với tính chất là cơ quan trọng tài kiểm tra lại và đánh giá một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết của vụ án hình sự để giải quyết về bản chất nó - phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo hoặc bằng việc kiểm tra tính hợp pháp và của bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm (nếu bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị), nhằm đạt mục đích trong toàn bộ các giai đoạn tố tụng hình sự là tuyên một bản án (quyết định) có hiệu lực pháp luật một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục tránh bỏ lọt tội phạm và kết án oan người
1.4.1 Yếu tố pháp luật
Cơ sở quan trọng hàng đầu để ADPL hình sự đối với các tội phạm về ma túy đó là pháp luật Nhà nước phải ban hành cho được một hệ thống pháp luật
Trang 28"cần" và "đủ" để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động xét xử các tội phạm về ma túy của Tòa án nhân dân:
Một là, các văn bản quy phạm pháp luật, từ Hiến pháp, các đạo luật, Pháp lệnh cho đến các nghị định, thông tư đều phải được các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ban hành đồng bộ Tất cả các quan hệ phát sinh trong hoạt động ADPL của Tòa án, Nhà nước phải kiểm soát được, qua đó có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của công dân; các quyền tự
do của công dân được bảo đảm thực hiện; công bằng xã hội được thực thi, đồng thời không làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và yêu cầu quản lý xã hội của Nhà nước
Hai là, trong rất nhiều quan hệ phát sinh từ ADPLHS đối với các tội phạm về ma túy của Tòa án nhân dân, Nhà nước phải xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng để xác định những quan hệ nào phải được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật của Nhà nước và điều chỉnh ở loại văn bản quy phạm nào (Luật hay Pháp lệnh, Nghị định ) Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nói chung
và pháp luật hình sự nói riêng, bao gồm cả các Điều ước quốc tế mà Nhà nước Việt Nam đã tham Hệ thống pháp luật được hoàn thiện, thống nhất sẽ là điều kiện thuận lợi cho Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết vụ án đựợc nhanh chóng và chính xác hơn Ngược lại, nếu hệ thống pháp luật không
rõ ràng, thống nhất sẽ rất khó khăn trong việc lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng và dẫn đến có những cách hiểu khác nhau về các quy định của pháp luật làm cho việc áp dụng pháp luật thiếu chính xác
Pháp luật ở đây không chỉ là pháp luật về hình sự mà còn cả pháp luật quy định về ma túy Pháp luật hình sự hoàn chỉnh nhưng pháp luật về ma túy không hoàn chỉnh sẽ khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật
Ba là, công tác tổng kết thực tiễn, hướng dẫn đường lối xét xử của TANDTC phải được thực hiện thường xuyên, có hiệu quả Thực tiễn cho thấy, hoạt động áp dụng pháp luật khá phong phú đa dạng, phức tạp Không thể có tình trạng trong một quốc gia (nhất là trong điều kiện xây dựng nhà
Trang 29nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa) lại có việc cùng một hành vi xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy mà ở địa phương này thì
áp dụng hình phạt này, còn địa phương khác lại áp dụng hình phạt khác Do
đó, muốn việc áp dụng pháp luật được đồng bộ, thống nhất trong phạm vi toàn quốc thì hoạt động giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật và công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động xét xử Nếu thực hiện tốt công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử và việc giải thích hướng dẫn áp dụng pháp luật cụ thể, chi tiết thì các Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân không chỉ có thêm những bài học bổ ích mà còn có kho
tư liệu quý giá phục vụ cho công tác xét xử ngày càng đạt chất lượng hiệu quả cao hơn
Bốn là, bảo đảm tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử
Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật như: tại điều 103 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2013 và được khẳng định bổ sung tại điều 16 BLTTHS 2003 Sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được thể hiện dưới hai khía cạnh:
Độc lập với yếu tố bên ngoài, có nghĩa: khi xét xử, Hội đồng xét xử không phụ thuộc vào kết luận điều tra của cơ quan Công an hay cáo trạng của Viện kiểm sát…Hội đồng xét xử phải xem xét toàn bộ chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố và chứng cứ mới thu thập được tại phiên toà Bảo đảm không một cơ quan hay cá nhân, tổ chức nào được tác động bằng cách này hay cách khác tới hoạt động xét xử của Toà án Hội đồng xét
xử cũng độc lập với các yêu cầu của những người tham gia tố tụng; Toà án cấp trên không được can thiệp vào hoạt động xét xử của Toà án cấp dưới mà chỉ có thể hướng dẫn Toà án cấp dưới áp dụng thống nhất pháp luật, chỉ đạo
về đường lối xét xử trong từng giai đoạn hoặc những loại tội nhất định chứ không được chỉ đạo Toà án cấp dưới xét xử trong từng vụ án cụ thể Bản án,
Trang 30quyết định của Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào các chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên toà và theo quy định của pháp luật
Độc lập với yếu tố bên trong, có nghĩa: các thành viên của Hội đồng xét
xử cũng phải độc lập với nhau trong việc xem xét, kiểm tra, đánh giá chứng
cứ Thẩm phán và Hội thẩm ngang quyền khi xét xử, khi nghị án, cả Thẩm phán và Hội thẩm đều có quyền trình bày ý kiến của mình và biểu quyết theo
đa số; Hội thẩm là người biểu quyết trước, Thẩm phán là người biểu quyết sau cùng; người có ý kiến khác có quyền bảo lưu ý kiến của mình bằng văn bản lưu vào hồ sơ vụ án
Bảo đảm tính độc lập trong hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, đòi hỏi người Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có đạo đức, trung thực, liêm khiết, khách quan vô
tư Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải có niềm tin vào phán quyết của mình, có ý thức trách nhiệm cao trước mọi công việc được giao, vượt qua mọi cám dỗ, tác động từ bên ngoài, biết vượt lên cái riêng để đưa ra bản án, quyết định đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhà nước và mọi công dân Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật khi xem xét, đánh giá chứng cứ để ra các bản án, quyết định; Hội đồng xét xử phải tuân theo các quy định của pháp luật chứ không bị phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào
Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không có nghĩa: việc xét xử tách rời đường lối, chính sách của Đảng và không có sự kiểm sát và giám sát mà phải luôn có sự giám sát của Viện kiểm sát và Toà án cấp trên theo quy định của pháp luật, có như vậy chất lượng áp dụng pháp luật của Toà án nhân dân sẽ ngày càng được nâng cao
1.4.2 Chất lượng của cán bộ áp dụng pháp luật hình sự
Con người luôn là trung tâm, là chủ thể của mọi hoạt động Vì vậy, trong hoạt động ADPLHS đối với các tội phạm về ma túy thì yếu tố về con người
Trang 31luôn là một trong những yếu tố quan trọng nhất Chất lượng của cán bộ ADPLHS đối với các tội phạm về ma túy nói chung và cán bộ ADPLHS trong giai đoạn xét xử nói riêng có tác động rất lớn đến việc đảm bảo áp dụng đúng pháp luật hình sự
Theo quy định của pháp luật thì Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân là những chủ thể áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân
Họ là nhân tố chính để quyết định hiệu quả xét xử của ngành Tòa án nói chung và là nhân tố quyết định nhất đối với việc ADPLHS đối với các tội về
ma túy Do đó, cần rà soát, sắp xếp tổ chức cán bộ, bố trí cho những Thẩm phán có năng lực thực sự vào khâu xét xử những vụ án khó, án phức tạp; thường xuyên đào tạo, tập huấn chuyên sâu cho các Thẩm phán về nghiệp vụ xét xử nói chung và nghiệp vụ xét xử hình sự đối với các tội phạm về ma túy nói riêng để họ không ngừng được nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ xét xử Cập nhật kịp thời những sửa đổi bổ sung của pháp luật; tiếp thu kinh nghiệm xét xử của các nước tiên tiến; sử dụng thành thạo công nghệ tin học
để phục vụ chuyên môn Lựa chọn những người có trình độ pháp luật và hiểu biết về xã hội, nhiệt tình công tác và phẩm chất đạo đức tốt để bầu chọn làm Hội thẩm nhân dân Nếu Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có năng lực thực
sự về chuyên môn nghiệp vụ, về kiến thức xã hội, có phẩm chất đạo đức tốt,
có bản lĩnh chính trị vững vàng và tính chịu trách nhiệm cao trước mọi công việc được giao; thực sự chủ động tích cực trong việc nghiên cứu hồ sơ, thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, cùng với các chủ thể tiến hành tố tụng khác làm sáng tỏ mọi tình tiết của vụ án sẽ không để xảy ra tình trạng bỏ lọt tội phạm, khắc phục được tình trạng oan, sai
Bên cạnh Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thì Thư ký Tòa án cũng đóng vai trò quan trọng đối với quá trình áp dụng pháp luật Với chức trách nhiệm
vụ của mình Thư ký Tòa án là người chuẩn bị hồ sơ, thủ tục, ghi chép biên bản… Nếu Thư ký thực hiện không tốt vai trò của mình sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình nhận định, đánh giá của Hội đồng xét xử
Trang 321.4.3 Sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan
Tòa án là trung tâm của hoạt động tư pháp Tuy nhiên, Tòa án không thể thực hiện hiệu quả nhiệm vụ của mình nếu không có sự phối hợp của các cơ quan hữu quan Bảo đảm sự phân công, phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong ADPLHS đối với các tội phạm về ma túy của Tòa án nhân dân Liên quan đến vấn đề này, Văn kiện đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam chỉ rõ: "Nhà nước ta là Nhà nước
pháp quyền XHCN Cần xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp" Công an, Viện kiểm sát, chính quyền địa phương, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức, cá nhân trong việc phát giác, tố cáo người phạm tội và hành vi vi phạm pháp luật để việc giải quyết các
vụ án được nhanh chóng, đúng pháp luật góp phần cải tạo giáo dục người phạm tội và tuyên truyền pháp luật tới mọi người dân Do đó, việc phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, ban ngành hữu quan sẽ góp phần làm rõ hơn sự thật liên quan đến việc xác định đúng người, đúng tội, đúng bản chất sự việc
1.4.4 Vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc, cơ quan thông tin đại chúng trong việc bảo đảm áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy
Đặc trưng của hệ thống chính trị ở nước ta là một đảng duy nhất cầm quyền, trong khi đó bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án là một trong những nội dung cơ bản của quá trình cải cách tư pháp ở nước ta Vì vậy, không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng Theo GS Đoàn Trọng Truyến thì:
Cần hiểu rằng pháp luật chính là đường lối của Đảng được Nhà nước thể chế hóa, giữa pháp luật Nhà nước và đường lối của Đảng không có mâu thuẫn Nên nhắc của Mác (Tuyên ngôn đảng Cộng sản): pháp quyền chỉ là ý chí của giai cấp (nói rộng ra là nhân dân) cầm quyền được đề lên thành luật,
Trang 33mà ý chí đó là do những điều kiện vật chất quyết định…Dưới sự lãnh đạo của Đảng, pháp luật đó thể hiện ý chí của nhân dân Do đó không có mâu thuẫn giữa khái niệm Nhà nước pháp quyền và khái niệm Đảng lãnh đạo
Thực tiễn trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, công tác xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật trong ADPLHS đối với các tội phạm về ma túy nói riêng ngày càng thu được những thành quả quan trọng, góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả công tác xét xử các tội phạm về ma túy Tuy nhiên, vai trò của Đảng
là quan trọng nhưng cần xác định sự lãnh đạo của Đảng cần tránh cả hai khuynh hướng đó là buông lỏng, không quan tâm tới công tác xét xử hoặc ngược lại, can thiệp quá sâu làm ảnh hưởng đến tính độc lập trong hoạt động xét xử của Tòa án, việc áp dụng pháp luật trong từng trường hợp cụ thể của Hội đồng xét xử
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi,
bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh
Công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thanh Hóa trong lĩnh vực hoạt động ADPLHS được thực hiện tương đối đa dạng Các tổ chức thành
Trang 34viên của Mặt trận đã tích cực tham gia và có nhiều đóng góp vào các hoạt động như tuyển chọn thẩm phán, kiểm sát viên; giới thiệu hội thẩm nhân dân; tham gia công tác đặc xá, giáo dục, cảm hóa người phạm tội; giúp đỡ người
đã chấp hành xong hình phạt tù tái hòa nhập cộng đồng; tiếp nhận và đề nghị giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan đến hoạt động tư pháp, bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân Theo số liệu thống kê, từ năm 2013 đến năm 2016, Ủy ban Mặt trận các cấp đã phối hợp giám sát đối với cơ quan tiến hành tố tụng 14.178 lượt; giám sát đối với người tiến hành tố tụng 469 lượt; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo 40.982 lượt
Các cơ quan thông tin đại chúng cũng đóng góp vai trò to lớn trong việc bảo đảm áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy Thông qua các cơ quan thông tin đại chúng, việc phổ biến, giáo dục pháp luật được thực hiện trên phạm vi rộng lớn Các văn bản quy phạm pháp luật đã được phổ biến bằng nhiều hình thức phong phú, phù hợp với từng đối tượng và địa bàn; nội dung tuyên truyền, phổ biến ngày càng đa dạng, được chọn lọc thông qua việc khảo sát, nắm bắt nhu cầu tìm hiểu pháp luật của từng nhóm đối tượng và đặc điểm cụ thể của địa phương, cơ sở, từ đó hướng tập trung ưu tiên tuyên truyền, giới thiệu các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành, các quy định của pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sống dân sự, hình sự, kinh tế, kinh doanh, việc làm của các tổ chức, cá nhân, nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ và nhân dân; nhận thức, hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân từng bước được nâng lên, góp phần ngăn chặn và hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội, kịp thời giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp tại cộng đồng dân cư, giảm bớt tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, tiết kiệm thời gian
và chi phí của các cơ quan nhà nước và công dân; giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; thúc đẩy nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu lực của pháp luật và hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật của các cấp chính quyền
Trang 35Kết luận Chương 1
Từ kết quả nghiên cứu rút ra từ Chương 1, tác giả rút ra những kết luận sau:
- ADPL là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể
- Tội phạm về ma túy là hành vi cố ý xâm phạm chế độ quản lí các chất
ma túy của Nhà nước Hành vi khách quan của các tội phạm về ma túy khác nhau về hình thức thể hiện cụ thể, về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội nhưng giống nhau ở chỗ đều là những hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy Đó có thể là những hành vi thực hiện những điều mà Nhà nước cấm các cá nhân làm (như hành vi khách quan của các tội quy định từ Điều 192 đến BLHS 1999; từ Điều 247 đến Điều 258 BLHS 2015) hoặc có thể là những hành vi của những người có trách nhiệm được Nhà nước giao đã không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc làm những việc ngoài phạm vi những quy định về quản lí, sử dụng chất ma túy (như hành vi khách quan của tội được quy định tại Điều 201 BLHS 1999; Điều 259 BLHS 2015)Hầu hết các tội phạm về ma túy đều được quy định là những tội có cấu thành hình thức Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm của những tội phạm này Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan
- ADPL hình sự có vai trò quan trọng đặc biệt, vừa có những đặc điểm chung như các dạng ADPL khác, vừa có những đặc điểm riêng của mình ADPLHS là hình thức duy nhất để thực hiện PLHS trong khi quan hệ PLHS được phát sinh, được diễn ra theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do luật tố tụng hình sự quy định Các chủ thể ADPL hình sự đưa ra các phán quyết dựa trên căn cứ pháp lý được luật nội dung (BLHS) và luật hình thức (BLTTHS) quy định Việc đánh giá các căn cứ để xác định có ADPLHS hay không đều được tiến hành cùng với việc không được tiến hành và không được ADPLHS khi
Trang 36đủ căn cứ Trong thực tế việc ADPLHS vô cùng đa dạng và phong phú, dẫn đến những hậu quả pháp lý cho người phạm tội và cá chủ thể có liên quan Chủ thể ADPL trong lĩnh vực hình sự là một hoạt động được các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện một cách thường xuyên mỗi khi có hành vi phạm tội xảy ra Đó là hoạt động xét xử, định tội và định hình phạt cho người phạm tội, phải xử lý một cách có trách nhiệm đối với những hậu quả bất lợi do lỗi của chính mình gây ra (như áp dụng sai về luật nội dung cũng như về trình tự thủ tục ) Từ thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hình sự ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, hoạt động này vẫn còn không ít hạn chế, sai sót, vướng mắc cần khắc phục Nguyên nhân của những hạn chế, sai sót, vướng mắc này bao gồm cả khách quan và chủ quan, là cơ sở lý luận để pháp luật thực định hiện hành quy định về vấn đề bồi thường oan, sai do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra và nêu lên phương hướng khắc phục
CQĐT, VKS và Tòa án là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ADPLHS và những cơ quan này là các cơ qua tiến hành tố tụng hình sự ADPLHS là cá biệt hóa những quy định của PLHS trong những quan hệ xã hội cụ thể và cho các chủ thể cụ thể Việc ADPLHS cũng chính là chuyển hóa hai nội dung về tội phạm và hình phạt vào các trường hợp cụ thể thành hai nội dung tương ứng là định tội danh và quyết định hình phạt
- Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng áp dụng pháp luật hình sự với các tội phạm về ma túy ảnh trong giai đoạn xét xử rất nhiều và đa dạng Trong đó cần đảm bảo và hoàn thiện nhất là các yếu tố: hoàn thiện và đồng bộ hệ thống các văn bản pháp luật; nâng cao trình độ chuyên môn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; tăng cường mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền khác; Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan thông tin đại chúng trong việc bảo đảm áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội phạm về
ma túy
Trang 37Chương 2 THỰC TIẾN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI VỀ MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA 2.1 Tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 đến tháng 6/2017
2.1.1 Các đặc điểm tự nhiên, kinh tế , xã hội của tỉnh Thanh Hóa có ảnh hưởng đến tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh
Thanh Hoá là một tỉnh lớn và dân số đông của nước ta Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 11.131,94 km2 (theo Niên giám thống kê Thanh Hóa năm 2010), chiếm 3,37% diện tích toàn quốc, đứng thứ 5 trong số 63 tỉnh, thành phố của cả nước và thứ 2 trong số các tỉnh ở vùng Bắc Trung Bộ , có đường biên giới dài 192km Thanh hoá nằm ở vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam nước ta
Những điều kiện về tự nhiên và chuyển biến về kinh tế, chính trị, xã hội của tỉnh Thanh Hóa cũng có những ảnh hưởng lớn đến việc ADPLHS đối với các tội phạm về ma túy:
Thanh Hóa có nhiều tuyến đường quốc lộ và tỉnh lộ nối tất cả các huyện trên địa bản tỉnh với nhau Hệ thống thông tin liên lạc, mạng viễn thông, mạng internet đã được triển khai ở tất cả các huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý và hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng
Tuy nhiên với địa hình phức tạp, nhiều các huyện miền núi giáp biên giới, trình độ dân trí còn thấp tiềm ẩn nhiều nguy cơ phát sinh, phát triển tệ nan xã hội dẫn đến vi phạm pháp luật, đặc biệt là những tội phạm về ma túy Tốc độ phát triển kinh tế cao, sự hình thành các khu đô thị và các khu công nghiệp tập trung nhanh chóng làm cho đất đai sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, đẩy một bộ phận lớn người lao động nông thôn vào cảnh không có việc làm Công việc nhàn rỗi khiến cho tư tưởng hưởng thụ, tiêu xài lãng phí xuất hiện trong một bộ phận không nhỏ người dân, đặc biệt là tầng lớp thanh, thiếu
Trang 38niên Đây là những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn
ma túy Vì vậy, sự đánh giá chứng cứ và xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội của các bị cáo gặp những khó khăn nhất định, việc quyết định trách nhiệm hình sự và nghĩa vụ pháp lý đối với các bị cáo phải được cân nhắc ký càng để đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa chung
Sự phát triển về kinh tế - xã hội của địa phương đã tăng cường về cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các hoạt động giải quyết vụ án hình sự nói chung và các
vụ án hình sự về ma túy nói riêng
Các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác điều tra, truy tố đã được cung cấp, đảm bảo các chứng cứ có độ chính xác cao, tạo điều kiện cho việc ADPL của Tòa án được chính xác Các cơ quan bổ trợ tư pháp như giám định
tư pháp, Đoàn Luật sư, Trung tâm trợ giúp pháp lý cũng được quan tâm và hoạt động có hiệu quả Các cơ quan này ngày càng phát huy được vai trò phản biện trong phiên tòa tranh tụng và hỗ trợ cho các hoạt động tư pháp, đảm bảo cho việc ADPLHS được chính xác và đạt hiệu quả cao
2.1.2 Tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Theo số liệu thống kê, đến tháng 6/2017, trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá có gần 7 nghìn người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý Trong đó có 2.493 người nghiện đang được điều trị thay thế bằng Methadone tại 21 cơ sở điều trị và 3 điểm cấp phát thuốc Đáng chú ý, trong tổng số người nghiện ma túy ở Thanh Hóa phần lớn là nông dân (53,2%) còn lại là học sinh, sinh viên (0,15%), công nhân (4,4%), lao động tự do (20,8%), không nghề nghiệp (21%) Lứa tuổi nghiện: từ 16- 18 tuổi là 1,6%; từ 18- 30 tuổi là 41,8%, trên 30 tuổi là 56,6% Hiện nay, 27/27 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh đều có người nghiện ma túy
Qua đấu tranh các vụ án về ma túy cho thấy: nguồn ma túy từ Lào và các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Điện Biên, Nghệ An vào Thanh Hóa hoặc đi các tỉnh khai tiêu thụ có chiều hướng gia tăng Các đối tượng buôn bán, vận chuyển
ma túy liên tỉnh với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt và manh động,
Trang 39liều lĩnh, sẵn sàng chống lại lực lượng truy bắt Đáng báo động hơn, đó là tình trạng mua bán, tổ chức sử dụng ma túy tổng hợp, ma túy tổng hợp dạng đá đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp Đặc biệt, với đường biên giới giáp nước bạn Lào dài 192km, địa hình rừng núi hiểm trở, bọn tội phạm thường lợi dụng, hình thành các ổ nhóm buôn bán, vận chuyển ma tuý xuyên quốc gia
Theo số liệu thống kê của Công an tỉnh Thanh Hóa, những năm gần đây,
số vụ việc, vụ án phát hiện ngày càng tăng; lượng ma tuý thu được trong các chuyên án, vụ án ngày càng nhiều; tính chất, thủ đoạn hoạt động của tội phạm ngày càng manh động, liều lĩnh; nhiều đường dây hoạt động liên huyện, liên tỉnh, xuyên quốc gia với tính chất đặc biệt nghiêm trọng
Cụ thể, trong năm 2013, các lực lượng chức năng đã phát hiện 824 vụ, bắt 1.096 đối tượng; năm 2014 phát hiện 972 vụ, bắt 1.287 đối tượng; năm
2015 phát hiện 998 vụ, bắt 1.340 đối tượng
Trong năm 2016, lực lượng phòng chống ma túy tỉnh Thanh Hóa đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 589 vụ, liên quan đến 786 đối tượng mua bán, vận chuyện, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý; đấu tranh triệt, xóa 7 tụ điểm, 48 điểm
về ma túy
Sở di hoạt động của tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ngày càng diễn biến phức tạp, bởi tỉnh vừa là địa bàn tiêu thụ, vừa là địa bàn trung chuyển ma tuý đi các tỉnh, thành phố khác Trong những năm qua lực lượng phòng, chống ma tuý toàn tỉnh đã triệt phá nhiều đường dây mua bán,
Trang 40việc xem xét sự đồng nhất hay không đồng nhất giữa hành vi đã xảy ra trên thực tế với một mô hình tội phạm cụ thể nào đó được quy định trong BLHS Xuất phát từ đặc điểm của tội phạm là "được quy định trong Bộ luật hình sự" hay còn gọi là "tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự" nên BLHS là cơ sở pháp lý đầu tiên và quan trọng nhất của việc định tội danh Định tội danh là việc chuyển hóa nội dung quy định về tội phạm của luật hình sự vào đời sống
xã hội thông qua việc giải quyết những vụ án hình sự, từ khi khởi tố (mở) vụ
án cho đến khi ra được bản án (có hiệu lực phápluật) Đây là hoạt động được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của TTHS Trong đó, định tội danh ở giai đoạn xét xử của Tòa án giữ vị trí trung tâm, có tính chất quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan Điều dễ nhận thấy là việc định tội danh trong những giai đoạn tố tụng trước khi xét xử mặc dù có thể dẫn tới việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhất định như hạn chế một số quyền hoặc quy định một số nghĩa vụ cho các chủ thể pháp luật có liên quan (ví dụ như các CQĐT, VKS áp dụng các biện pháp ngăn chặn của TTHS) nhưng những thay đổi về quyền và nghĩa vụ pháp lý này chỉ có tính chất tạm thời và chỉ nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án hình sự Việc định tội danh trong hoạt động xét xử của Toà án mang ý nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý to lớn Một người được Tòa án xác định là vô tội có nghĩa là họ được khôi phục toàn bộ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình, kể cả nhữngquyền đã bị hạn chế trong quá trình xét xử và tiền xét xử Ngược lại, một người bị Tòa án xác định
là có tội có nghĩa là họ sẽ phải chịu TNHS về tội phạm mà họ đã thực hiện Quyết định hình phạt là việc chuyển hóa nội dung quy định của PLHS về hình phạt vào việc xét xử những vụ án cụ thể nên cơ sở pháp lý của hoạt động này là BLHS Chỉ có BLHS mới quy định về tội phạm và hình phạt Trong thực tế, có những văn bản hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến vấn đề quyết định hình phạt đối với những tội phạm cụ thể cũng như liên quan đến định tội danh Tuy nhiên, những văn bản này không có thẩm