1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

QHSD đất tỉnh Khánh Hoà đến năm 2020 và KHSD đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015

183 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC ĐÍCH LẬP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TOÀN TỈNH Quy hoạch sử dụng đất là biện pháp để thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, tỉnh, các huyện, thành phố,.... - Là

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khánh Hoà là trung tâm kinh tế của vùng Duyên hải Nam Trung bộ có thế mạnh về phát triển du lịch, dịch vụ với thành phố Nha Trang là trung tâm du lịch lớn của khu vực và cả nước Khánh Hoà là một trong năm tỉnh trong cả nước có

2 thành phố thuộc tỉnh (TP Nha Trang và TP Cam Ranh); ngoài ra còn có 1 thị

xã và 6 huyện; toàn tỉnh có 140 xã, phường, thị trấn Tổng diện tích tự nhiên (DTTN) toàn tỉnh có 521.765,48 ha, chiếm 1,58% DTTN toàn quốc Dân số năm

2010 có 1.167.744 người, chiếm 1,34% dân số toàn quốc, mật độ dân số 223 người/km2 Khánh Hoà có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tổng hợp: Dịch vụ, du lịch - Công nghiệp, xây dựng - Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

Theo kết quả thống kê đất đai ngày 01/01/2011 diện tích các loại đất đã sử dụng như sau :

- Đất nông nghiệp : 314.445,94 ha, chiếm 60,27% tổng DTTN

- Đất phi nông nghiệp : 98.185,03 ha, chiếm 18,82% tổng DTTN

- Đất chưa sử dụng còn: 109.134,50 ha, chiếm 20,91% tổng DTTN

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh Điều 18, Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất cho các

tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài"

Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định: quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất là 1 trong 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai; việc cho thuê đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt Điều 25 quy định nhiệm vụ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thực hiện ở cả 4 cấp: cả nước, tỉnh, huyện và xã Lập quy hoạch tiến hành theo trình tự từ trên xuống và sau đó lại được bổ sung hoàn chỉnh từ dưới lên Đây là quan hệ có mối liên hệ ngược trực tiếp và chặt chẽ giữa tổng thể và cụ thể, giữa vĩ mô và vi mô, giữa trung ương và địa phương trong một hệ thống nhất

Trong hệ thống 4 cấp lập quy hoạch sử dụng đất, thì cấp tỉnh có vị trí trung tâm và là khung sườn trung gian giữa vĩ mô và vi mô, giữa tổng thể và cụ thể, giữa Trung ương và địa phương Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh tác động trực tiếp đến việc sử dụng đất của các Bộ, Ngành, các vùng trọng điểm, các huyện và một số dự án lớn Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh vừa cụ thể hoá thêm, vừa bổ sung hoàn thiện quy hoạch sử dụng đất cả nước để tăng thêm sự ổn định của hệ thống quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh còn có vai trò định hướng sử dụng đất cho cấp huyện và cấp xã Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh mang tính chất tổng thể vĩ mô Do đó căn cứ vào QHSD đất của tỉnh được Chính phủ phê duyệt sẽ cụ thể hoá thêm trên địa bàn cấp huyện và cấp xã

Trang 2

Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Khánh Hòa thời kỳ 2001-2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1635/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 Điều chỉnh QHSD đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-2010) của tỉnh Khánh Hoà đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 46/2007/NQ-CP của Chính phủ ngày 15/8/2007

Phương án quy hoạch và điều chỉnh QHSD đất toàn tỉnh đến năm 2010 thực hiện được 10 năm và đã hết hiệu lực Việc đánh giá một cách chính xác kết quả thực hiện phương án quy hoạch và điều chỉnh QHSD đất đến năm 2010; đánh giá những kết quả đã đạt được và những tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch; từ đó lập QHSD đất đến năm 2020 và KHSD đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) trình Chính phủ phê duyệt để làm cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đúng theo quy hoạch và pháp luật, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, phát triển các ngành kinh tế - xã hội toàn tỉnh đến năm 2020 là rất cần thiết

Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về QHSD đất; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hoà đến năm 2020; thực hiện chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại Công văn số 2778/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 04/8/2009 và nhiệm vụ UBND tỉnh giao, Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Phân viện QH & TK Nông nghiệp Miền trung lập Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Khánh Hoà đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) để đảm bảo sự thống nhất việc quản lý Nhà nước đối với đất đai từ trung ương đến địa phương và ngược lại

I NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ VÀ TÀI LIỆU LÀM CƠ SỞ LẬP QHSD ĐẤT TOÀN TỈNH

1.1 Các căn cứ pháp lý

- Căn cứ mục 2 Luật Đất đai năm 2003 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

- Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24/02/2010 của Chính phủ Quy định

về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ

- Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ về quản lý,

- Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh

xã hội hoá các hoạt động Giáo dục, Y tế, Văn hoá và Thể dục - thể thao

- Nghị quyết số 46/2007/NQ-CP ngày 15/8/2007 của Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh QHSD đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006-

Trang 3

2010) của tỉnh Khánh Hoà

- Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ về đảm bảo

an ninh lương thực quốc gia

- Nghị quyết số 17/2011/QH13 của Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 2 về Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) cấp quốc gia

- Quyết định số 1635/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Khánh Hòa, thời kỳ 2001 - 2010

- Quyết định số 51/QĐ-TTg ngày 11/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch Khu kinh tế vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hoà đến năm 2020

- Quyết định số 18/QĐ-TTg ngày 03/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động của Khu kinh tế Vân Phong, tỉnh Khánh Hoà

- Quyết định số 10/QĐ-TTg ngày 11/01/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

- Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020

- Quyết định số 251/QĐ-TTg ngày 31/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ

phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020

- Quyết định số 61/QĐ-TTg ngày 09/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển Miền trung Việt Nam đến năm 2020

- Quyết định số 152/QĐ-TTg ngày 28/11/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam đến năm 2020

- Quyết định số 445/QĐ-TTg ngày 07/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và định hướng đến năm 2050

- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ

về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

- Quyết định số 105/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế quản lý cụm công nghiệp

- Quyết định số 2152/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế Vân Phong tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030

- Quyết định số 1734/QĐ-TTg ngày 01/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch phát mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020

- Quyết định số 1327/QĐ-TTg ngày 24/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm

Trang 4

2020 và định hướng đến năm 2030

- Quyết định số 1436/QĐ-TTg ngày 10/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển ngành giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

- Quyết định số 1601/QĐ-TTg ngày 15/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

- Quyết định 1006/QĐ-TTg ngày 06/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

- Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 26/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ

về việc Phê duyệt Quy hoạch sân golf Việt Nam đến năm 2020

- Quyết định số 2149/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050

- Quyết định số 2190/QĐ-TTg ngày 24/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm

2020, định hướng đến năm 2030

- Quyết định số 129/QĐ-TTg ngày 18/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết đường bộ ven biển Việt Nam

- Quyết định số 140/QĐ-TTg ngày 21/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết đường bộ cao tốc Bắc Nam phía Đông

- Quyết định số 1690/QĐ-TTg ngày 16/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thuỷ sản Việt Nam đến năm 2020

- Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 01/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ

về việc ban hành Danh mục lưu vực sông liên tỉnh

- Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất Nông nghiệp cả nước đến năm

- Quyết định số 1764/QĐ-BGTVT ngày 03/8/2011 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải phê duyệt quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển Nam Trung Bộ (Nhóm 4) đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

- Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 02/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh công tác quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp

- Quyết định số 3983/QĐ-BCA-H41 ngày 23/9/2011 của Bộ trưởng Bộ Công an Ban hành Quy định về định mức sử dụng đất của các đơn vị trong lực lượng Công an nhân dân

Trang 5

- Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất

- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường Quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT ngày 15/3/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về định mức kinh tế-kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất

- Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT ngày 15/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất

- Chỉ thị số 01/CT-BTNMT ngày 17/3/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Về việc tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Công văn số 5763/BTNMT-ĐKTKĐĐ ngày 25/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn định mức sử dụng đất áp dụng trong công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Công văn số 2778/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 04/8/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc triển khai lập QHSD đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015)

- Công văn số 429/TCQLĐĐ-CQHĐĐ ngày 16/4/2012 của Tổng cục quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường) về việc hướng dẫn về quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất

- Quyết định số 532/QĐ-UBND ngày 28/02/2008 của UBND tỉnh Khánh Hoà về việc phê duyệt Quy hoạch chi tiết giao thông thủy nội địa tỉnh Khánh Hòa giai đoạn đến năm 2020

- Quyết định số 2460/QĐ-UBND ngày 07/10/2008 của UBND tỉnh Khánh Hoà về việc phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản tỉnh Khánh Hòa đến năm 2015 và định hướng sau năm 2015

- Quyết định số 2293/QĐ-UBND ngày 06/9/2010 của UBND tỉnh Khánh Hoà về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Thủy sản tỉnh Khánh Hòa đến năm 2015 có tính đến năm 2020

- Quyết định số 3005/QĐ-UBND ngày 19/11/2010 của UBND tỉnh Khánh Hoà về việc phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng khu vực vịnh Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà đến năm 2025

- Quyết định số 286/QĐ-UBND ngày 25/01/2011 của UBND tỉnh Khánh Hoà về việc phê duyệt số liệu diện tích rừng và đất Lâm nghiệp tỉnh Khánh Hòa năm 2010

- Quyết định số 3606/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 của UBND tỉnh Khánh Hoà về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2011-2020, định hướng đến năm 2025

- Quyết định số 1149/QĐ-UBND ngày 10/5/2012 của UBND tỉnh Khánh Hoà về việc phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020

Trang 6

tỉnh Khánh Hòa

- Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà nhiệm kỳ 2011-2015

- Quyết định phê duyệt các dự án: Quy hoạch chung xây dựng các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh; đề án phát triển các khu, cụm công nghiệp, QH ngành giao thông vận tải, giáo dục, y tế,

- Thông báo số 106/TB-BTNMT ngày 14/6/2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường kết quả thẩm định QHSD đất đến năm 2020 và KHSD đất 5 năm (2011-2015) của tỉnh Khánh Hòa

- Công văn số 1363/TCQLĐĐ-CQHĐĐ ngày 07/11/2012 của Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc một số chỉ tiêu quy hoạch

sử dụng đất đến năm 2020 của tỉnh Khánh Hoà

- Nghị quyết số 04/NQ-HĐND ngày 29/6/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hòa khóa V kỳ họp thứ 4 về thông qua QHSD đất đến năm 2020 và KHSD đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của tỉnh Khánh Hòa

- Và các văn bản liên quan khác

1.2 Các tài liệu chuyên môn

- Quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2020 và KHSD đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015)

- Báo cáo quy hoạch chi tiết đường ô tô cao tốc Bắc Nam (Bộ Giao thông vận tải – Cục đường bộ Việt Nam, tháng 7/2009)

- Báo cáo quy hoạch chi tiết đường bộ ven biển Việt Nam (Bộ Giao thông vận tải – tháng 12/2009)

- Báo cáo đầu tư xây dựng công trình đường sắt cao tốc Hà Nội – TP Hồ Chí Minh (Bộ Giao thông vận tải – Tổng cục đường sắt Việt Nam, tháng 3/2010)

- Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội các huyện, thành phố đến năm 2020

- Điều chỉnh Quy hoạch ngành Nông-Lâm-Thuỷ lợi tỉnh Khánh Hoà đến năm 2015

- Quy hoạch ngành Nông nghiệp tỉnh Khánh Hoà đến năm 2020

- Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2011-2020

- Quy hoạch đất trồng lúa đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

- Tài liệu khảo sát và quy hoạch vùng khai thác khoáng sản

- Quy hoạch mạng lưới giao thông toàn tỉnh đến năm 2010 và định hướng

Trang 7

- Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Khánh Hòa đến năm 2010 và KHSD đất 5 năm (2006-2010)

- Điều chỉnh QHSD đất đến năm 2010 và KHSD đất 5 năm (2006-2010) của TP Nha Trang, Tx Cam Ranh, huyện Ninh Hoà và Cam Lâm

- Tài liệu điều tra bổ sung xây dựng bản đồ đất tỉnh Khánh Hòa (2004)

- Dự án lập bản đồ ngập lụt khu vực sông Dinh Ninh Hòa và sông Cái Nha Trang (Đài Khí tượng thủy văn Nam trung bộ năm 2011)

- Kết quả kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm

2005 toàn tỉnh và các huyện, thị, thành phố

- Kết quả kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ Hiện trạng sử dụng đất năm

2010 toàn tỉnh và các huyện, thị, thành phố

- Kết quả thống kê đất đai tỉnh Khánh Hoà từ năm 2001 đến năm 2011

- Quy hoạch phát triển hệ thống đô thị tỉnh Khánh Hòa GĐ 2011-2015

- Tài liệu điều chỉnh quy hoạch các thị trấn Diên Khánh, Tô Hạp, Khánh Vĩnh, Vạn Giã, Ninh Hoà và các thị tứ trên địa bàn tỉnh

- Tài liệu Quy hoạch chung xây dựng khu vực vịnh Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà đến năm 2025

- Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đến năm 2025

- Quy hoạch xây dựng vùng Nam Phú Yên-Bắc Khánh Hòa đến năm 2025

- Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng khu kinh tế Vân Phong đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

- Đồ án Quy hoạch đô thị phía Tây TP Nha Trang, TL 1/2.000

- Tài liệu quy hoạch chi tiết xây dựng khu trung tâm huyện Cam Lâm

- Niên giám thống kê tỉnh Khánh Hoà các năm 2000 đến 2010

- Danh mục các dự án, công trình cấp bách năm 2011 về nhu cầu sử dụng đất

- Nhu cầu sử dụng đất của các ngành: Văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục-thể thao, du lịch & dịch vụ, đến năm 2020

- Quy hoạch của các ngành khác trên địa bàn tỉnh đến năm 2020

II MỤC ĐÍCH LẬP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TOÀN TỈNH

Quy hoạch sử dụng đất là biện pháp để thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, tỉnh, các huyện, thành phố, trên cơ sở tuân thủ chính sách pháp luật về đất đai và các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, của Tỉnh Mặt khác theo quy định của Luật Đất đai, Nhà nước quản

lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật Do đó mục đích lập quy hoạch sử dụng đất được thể hiện ở các nội dung:

- Cụ thể hoá các chỉ tiêu Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) cấp Quốc gia phân bổ trên địa bàn tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố

- Đề xuất với Chính phủ việc phân bổ lại quỹ đất đai, đảm bảo hài hòa giữa các mục tiêu ngắn hạn, dài hạn của các cấp, các ngành phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của vùng và cả nước

Trang 8

- Bảo vệ đất trồng lúa nước để giải quyết nhu cầu lương thực tại địa phương và góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia

- Góp phần quản lý chặt chẽ tài nguyên đất đai theo quy hoạch, kế hoạch

và pháp luật; đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, đảm bảo phát triển bền vững

- Làm căn cứ pháp lý để thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật

- Làm định hướng cho QHSD đất các huyện, thị xã, thành phố; quy hoạch phát triển sản xuất các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, các dự án đầu tư phát triển các loại cây trồng, vật nuôi; quy hoạch xây dựng phát triển các khu đô thị mới và quy hoạch xây dựng nông thôn mới

- Tạo sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành của Trung ương và địa phương trong quá trình quản lý, sử dụng đất phù hợp với quy hoạch đề ra; đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương lai của các ngành trên địa bàn tỉnh có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuẩn bị cơ sở hạ tầng, thu hút vốn đầu tư, phát triển các khu, cụm công nghiệp; hình thành các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá Chỉnh trang và mở rộng các khu dân

cư nông thôn, đô thị; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo đảm quốc phòng, an ninh

III CÁC PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN DỰ ÁN

Áp dụng một số phương pháp sau trong việc thực hiện dự án

3.1 Nhóm phương pháp thu thập số liệu : gồm các phương pháp sau :

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa : Đây là phương pháp được

dùng để điều tra, thu thập số liệu, tài liệu, bản đồ, thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất; thu thập tình hình thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất theo phương

án quy hoạch và điều chỉnh QHSD đất của tỉnh đã được Chính phủ phê duyệt

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn những người sử dụng đất bị thu

hồi, chuyển mục đích sử dụng đất nằm trong phương án QH và điều chỉnh QHSD đất, những người có trách nhiệm về tổ chức thực hiện, quản lý quy hoạch, giám sát thực hiện quy hoạch của địa phương Qua đó tìm hiểu những mặt được và chưa được cũng như nguyên nhân, giải pháp khắc phục các tồn tại trong công tác triển khai thực hiện quy hoạch

- Phương pháp kế thừa, chọn lọc tài liệu đã có : Trên cơ sở các tài liệu,

số liệu, bản đồ đã thu thập được tiến hành phân loại, chọn lọc, kế thừa các tài liệu đã được xây dựng phù hợp với nội dung quy hoạch cho thời kỳ 2011-2020

3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Chọn một số dự án lớn nằm

trong phương án QH và điều chỉnh QHSD đất đã được phê duyệt để điều tra chi tiết về kết quả thực hiện thế nào, hoặc tại sao chưa được thực hiện để rút ra các nguyên nhân làm tốt hoặc làm chậm tiến độ thực hiện quy hoạch và giải pháp khắc phục

Trang 9

3.3 Phương pháp xử lý số liệu, bản đồ : Các số liệu thu thập được phân

tích, xử lý bằng phần mềm Excel Các số liệu được tính toán, phân tích theo các bảng, biểu kết hợp với phần thuyết minh Bản đồ được xây dựng bằng sử dụng phần mềm như Microstation, MapInfor,…

3.4 Phương pháp thống kê, so sánh và phân tích

Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, tiến hành phân nhóm, thống

kê diện tích các công trình, dự án đã thực hiện theo quy hoạch hoặc chưa thực hiện theo quy hoạch; tổng hợp, so sánh và phân tích các yếu tố tác động đến việc thực hiện phương án QH và điều chỉnh QHSD đất So sánh các chỉ tiêu thực hiện so với mục tiêu đề ra trong phương án QHSD đất

3.6 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến của các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực lập quy hoạch, quản lý quy hoạch và giám sát quy hoạch để trao đổi về cách nhìn nhận, đánh giá và các gợi ý về giải pháp thực hiện

3.7 Phương pháp minh hoạ trên bản đồ

Đây là phương pháp đặc thù của công tác quy hoạch sử dụng đất Các loại đất theo mục đích sử dụng được thể hiện trên bản đồ hiện trạng sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất tỷ lệ 1/100.000, thể hiện cụ thể các yếu tố về vị trí phân

bố, … Phương pháp minh họa bằng bản đồ có sử dụng các phần mềm chuyên dụng làm bản đồ (như Microstation, MapInfor,…)

IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN

- Chủ quản dự án : UBND tỉnh Khánh Hoà

- Chủ dự án: Sở Tài nguyên và Môi trường

- Cơ quan tư vấn thực hiện: Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp

miền Trung - Viện Quy hoạch & Thiết kế Nông nghiệp (Bộ NN & PTNT)

- Cơ quan phối hợp: các Sở, Ban ngành của tỉnh, UBND các huyện, thị

xã, thành phố

V CÁC SẢN PHẨM QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

5.1 Sản phẩm quy hoạch sử dụng đất toàn tỉnh

- Báo cáo thuyết minh tổng hợp Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và

kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) kèm theo hệ thống bảng biểu tính toán, biểu đồ, bản đồ thu nhỏ

- Bản đồ Hiện trạng sử dụng đất năm 2010, tỷ lệ 1/100.000

- Bản đồ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, tỷ lệ 1/100.000

- Đĩa CD copy báo cáo thuyết minh, bản đồ màu các loại đã số hoá

5.2 Nội dung chính của báo cáo gồm:

Trang 10

- Đặt vấn đề

- Phần 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Phần 2: Tình hình quản lý, sử dụng đất đai

- Phần 3: Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng dài hạn sử dụng đất

- Phần 4: Phương án quy hoạch sử dụng đất

- Kết luận và kiến nghị

Phần I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Khánh Hoà là tỉnh ven biển có điểm cực Đông vươn ra biển xa nhất của đất nước, thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Khánh Hoà có phạm vi lãnh thổ từ 11041'53'' đến 12052'35'' vĩ độ Bắc và từ 108040' đến 109023'24" kinh độ Đông Khánh Hoà giáp với tỉnh Phú Yên ở phía Bắc, Ninh Thuận ở phía Nam, Đăk Lăk và Lâm Đồng ở phía Tây Phía Đông của Khánh Hoà là biển Đông với đường bờ biển dài trên 200 km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.217,65 km2 với dân số 1.170.840 người, chiếm 1,58% về diện tích và 1,35% về dân số của cả nước; đứng hàng thứ 27 về diện tích và thứ 30 về dân số trong 63 tỉnh, thành phố của nước ta

Cùng với phần đất liền, Khánh Hoà có thềm lục địa và vùng lãnh hải rộng lớn với trên 200 đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên biển, trong đó có quần đảo Trường

Sa với vị trí rất quan trọng về an ninh, quốc phòng và kinh tế của cả nước Là tỉnh duy nhất có 03 vịnh biển đẹp là vịnh Nha Trang, Vân Phong và vịnh Cam Ranh, là điều kiện lý tưởng để phát triển du lịch cũng như kinh tế biển của tỉnh, đặc biệt là phát triển cảng biển và khai thác, nuôi trồng thủy hải sản

Nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước, QL1A và đường sắt Thống nhất chạy qua tỉnh, nối liền Khánh Hoà với các tỉnh, thành trong cả nước Quốc lộ 26 nối Khánh Hoà với Đăk Lăk, QL27B đi Ninh Thuận và tuyến tỉnh lộ

2 nối Nha Trang với Đà Lạt đã tạo cho Khánh Hoà nhiều lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh có các cảng biển Nha Trang, Cam Ranh, Ba Ngòi, Hòn Khói và cảng trung chuyển container quốc tế Vân Phong đang xây dựng; sân bay Cam Ranh đã nâng cấp thành sân bay quốc tế, có thể đón các máy bay Boeing và Airbus tải trọng lớn cất và hạ cánh,

Khánh Hoà nằm ở giữa hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và

Đà Nẵng, là trung tâm hai vùng kinh tế trọng điểm của nước ta Nha Trang cách thành phố Hồ Chí Minh 400 km; cách Đà Nẵng 500 km Yếu tố này vừa là lợi thế trong giao lưu kinh tế, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và thu hút vốn đầu tư, song nó cũng là một thách thức lớn đối với Khánh Hoà trong điều kiện cạnh tranh thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút chất xám, chiếm lĩnh thị trường trong vùng

Vị trí địa lý như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Khánh Hoà phát triển

Trang 11

sản xuất hàng hoá và mở rộng giao lưu kinh tế - xã hội với các tỉnh trong cả nước và quốc tế

1.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình tỉnh Khánh Hoà khá phức tạp, phía Tây là sườn Đông của dãy Trường Sơn Nam và phía Đông là biển Đông Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông với đa dạng địa hình như núi, đồi, đồng bằng, vùng ven biển Hơn 67% diện tích của tỉnh là đồi núi, trong đó có đến 25 đỉnh núi cao trên 1.000 m tạo thành các vòng cung chắn gió từ phía Bắc đến phía Tây bao quanh các vùng đồng bằng nhỏ, hẹp ven biển tại các huyện Vạn Ninh, Ninh Hoà, Diên Khánh, Cam Ranh Do địa hình dốc, bị chia cắt nhiều nên gây nhiều khó khăn cho việc hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung với quy mô lớn

Địa hình tỉnh khánh Hoà chia làm các dạng sau:

- Địa hình núi cao, có độ cao trên 1.000 m: Bao gồm những dãy núi cao

độ dốc lớn bao bọc toàn bộ phía Tây của tỉnh Độ dốc phổ biến từ cấp IV đến cấp VIII Vùng địa hình này có diện tích khoảng 196.140 ha, chiếm 37,59% tổng DTTN toàn tỉnh Do địa hình cao, dốc, mức độ chia cắt mạnh nên quá trình khoanh nuôi và trồng mới rừng trên vùng địa hình này gặp rất nhiều khó khăn

- Địa hình núi trung bình, có độ cao 500 - 1.000 m: Phân bố kế tiếp địa hình núi cao Tập trung nhiều ở huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, Vạn Ninh Vùng địa hình này có diện tích khoảng 78.722 ha, chiếm 15,09% tổng DTTN toàn tỉnh Vùng địa hình này tuy có độ dốc trung bình nhưng công tác trồng mới

và khoanh nuôi tái sinh rừng cũng gặp rất nhiều khó khăn do điều kiện thổ nhưỡng chủ yếu là đá lẫn và đá lộ đầu

- Địa hình núi thấp, có độ cao 100 - 500 m: Dạng địa hình này có độ che phủ thấp do đa số diện tích là đất trống đồi núi trọc quá trình xói mòn rửa trôi diễn ra mạnh, đất có đá lẫn và đá lộ đầu nhiều, tầng trung bình và mỏng Ở dạng địa hình này nhiều nơi là những dải núi đá tập trung khai thác làm vật liệu xây dựng (mỏ đá Tân Dân, Ninh Ích, , ) Vùng địa hình này có diện tích 99.726,48

ha, chiếm 19,12% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh

- Địa hình đồi thoải, có độ cao từ 50 đến 100 m: Đây là dạng địa hình chuyển tiếp giữa đồng bằng và núi cao Địa hình chia cắt nhẹ, gồm các đồi gò lượn sóng Vùng địa hình này có diện tích 69.048 ha, chiếm 13,26% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh

- Địa hình đồng bằng: Địa hình bằng phẳng xen kẽ có các gò, đồi rải rác

Độ dốc nhỏ, hướng dốc từ Tây sang Đông Đất đai chủ yếu là các loại đất phù sa chưa biến đổi hoặc biến đổi mạnh, độ phì nhiêu khá Đây là vùng đất trù phú và thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiệp và đời sống Vùng địa hình này có diện tích 78.129 ha, chiếm 14,97% tổng DTTN toàn tỉnh

Nhìn chung địa hình Khánh Hoà khá thuận lợi cho việc phát triển kinh tế tổng hợp Nông - Lâm - Ngư nghiệp - Du lịch song cũng gây không ít khó khăn trong việc khai thác sử dụng đất vào sản xuất nông - lâm nghiệp Địa hình cũng

là yếu tố quan trọng phân chia toàn tỉnh thành các vùng sinh thái mang những nét đặc trưng khác biệt có tác động trực tiếp đến việc sử dụng đất cho phát triển

kinh tế - xã hội của từng vùng

Trang 12

1.1.3 Khí hậu

a Đặc điểm các yếu tố khí hậu

Khí hậu Khánh Hòa vừa chịu sự chi phối của khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang tính chất của khí hậu đại dương nên tương đối ôn hòa Nhiệt độ trung bình năm là 26 0C Tổng nhiệt độ khoảng 9.500 - 9.800 0C , ánh sáng dồi dào, số giờ nắng trung bình năm từ 2.600 - 2.700 giờ Độ ẩm không khí trung bình năm đạt từ 76-79 % và chênh lệch giữa các tháng trong năm thấp Mùa hè không bị

oi bức, mùa đông không quá lạnh Do có những vùng núi cao trên 1.000m như Hòn Bà, nên có các đặc trưng của khí hậu nhiệt đới vùng núi cao, ôn hòa mát mẻ quanh năm, không có các hiện tượng thời tiết đặc biệt như gió nóng, sương muối Ở những tiểu vùng khí hậu này, sương mù thường xuất hiện vào lúc sáng sớm và chiều tối cuối tháng 7 và 8, mức độ không dày đặc, tan nhanh đã tăng thêm vẻ huyền ảo của tự nhiên, thuận lợi cho việc phát triển du lịch nghỉ dưỡng, du lịch leo núi và trồng các loại cây có nguồn gốc ôn đới

Lượng mưa trung bình năm trên dưới 2.000 mm, trong đó vùng đồng bằng ven biển phổ biến là 1.000-1.200 mm, còn khu vực huyện Khánh Sơn lại lên tới 2.400 mm Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và tập trung đến 70- 80% lượng mưa cả năm Ở khu vực Nha Trang mùa mưa chỉ kéo dài trong 2 tháng, các tháng còn lại nắng ấm, rất thuận lợi để kéo dài mùa du lịch

Những đặc điểm khí hậu, thời tiết Khánh Hòa rất thuận lợi cho tham quan

du lịch biển, nhất là từ tháng 1 đến tháng 8; ánh sáng nhiều là điều kiện tốt cho cây cối sinh trưởng nói riêng và phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung Song cũng cần chú ý đến các hiện tượng bất lợi như lũ lụt về mùa mưa, khô hạn về mùa khô, gió Tây nóng và gió Tu Bông ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, đặc biệt vào mùa trổ bông, ra hoa của cây trồng

b Phân vùng khí hậu

Theo tài liệu đặc điểm khí hậu, thuỷ văn tỉnh Khánh Hoà (Sở KH & CN 2004), toàn tỉnh Khánh Hoà được phân thành 3 vùng khí hậu thuỷ văn chính như sau :

Vùng I : Vùng khí hậu ven biển Vùng này bao gồm các đảo, bán đảo mà đại diện tiêu biểu về các đặc trưng khí hậu của vùng này là quần đảo Trường Sa

- Vùng II : Khí hậu vùng đồng bằng và ven biển xen kẽ đồi, núi thấp Đây là vùng địa hình cao dưới 200 m, tương đối bằng phẳng, xen kẽ gò đồi và núi Lớp phủ thực vật chủ yếu là lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, rừng trồng và cây phân tán

Dọc theo phương vĩ tuyến, do vị trí địa lý và địa hình, các đặc trưng khí hậu thuỷ văn có khác biệt tương đối nên vùng này được chia ra thành 3 tiểu vùng khí hậu chính

+ Tiểu vùng khí hậu Vạn Ninh - Ninh Hoà

+ Tiểu vùng khí hậu Diên Khánh - Nha Trang

+ Tiểu vùng khí hậu Cam Ranh

- Vùng III : Khí hậu vùng núi

Trang 13

Đây là vùng núi cao trên 200 m, độ dốc lớn, lớp phủ thực vật chủ yếu là rừng và đồi trọc Do điều kiện phía Bắc và phía Nam có sự khác biệt, vùng này cũng được chia thành 02 tiểu vùng khí hậu chính

+ Tiểu vùng vòng cung núi phía Bắc: Là giới hạn phía Bắc của tỉnh, phân

định bởi đường đỉnh của dãy núi Vọng Phu - Đèo Cả, mà cũng chính là nơi phát sinh gió Tu Bông

+ Tiểu vùng vòng cung núi phía Tây Nam: Đặc trưng cơ bản vùng này có

thể xem như ranh giới giữa vùng có mùa mưa chính vào thời kỳ gió mùa mùa

Hè và mùa mưa chính vào thời kỳ đầu gió mùa mùa Đông

Là tỉnh có nền khí hậu tương đối ôn hòa nên có điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch, nhất là du lịch biển Đặc điểm này cũng đồng nghĩa với việc

mở rộng và phát triển các khu du lịch, khu vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng tại Khánh Hòa là rất cần thiết Có thể nói yếu tố khí hậu có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình sử dụng đất sản xuất kinh doanh hiện tại cũng như định hướng sử dụng đất của tỉnh trong tương lai

c Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tác động đến việc sử dụng đất

Trong những năm qua ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sản xuất của nhân dân Khí hậu trái đất nóng lên đã làm cho thời tiết, khí hậu không còn diễn biến theo quy luật có thể dự báo trước mà luôn diễn ra bất thường không thể lường trước để đối phó được với các hiện tượng khí hậu cực đoan như: bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn gây lũ lụt, nắng nóng gây hạn hán, rét đậm, nước biển đang dâng cao dần lên

Theo dự báo của các nhà khoa học trên thế giới thì các thành quả đã và đang đạt được trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên không thể bù đắp được những tổn thất do tác động của biến đổi khí hậu nếu chúng ta không có các hành động hợp tác tích cực và hiệu quả ngay từ bây giờ giữa các nước trên thế giới Về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu thì Việt Nam là 1 trong 5 nước trên thế giới (cùng với Pakistan, Inđônêxia, Ốtxtrâylia,

Hà Lan) sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất khi nước biển dâng cao 0,5-2 m so với hiện nay do biến đổi khí hậu làm trái đất nóng lên (làm tăng cường độ xuất hiện các cơn bão nhiệt đới; gây lụt lội, nước biển dâng cao làm ngập đất canh tác, khu dân cư vùng ven biển và ở 2 đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long; gây nhiễm mặn do nước biển xâm lấn,…) Các cánh rừng tự nhiên cũng như rừng trồng được nhận định đóng vai trò quan trọng trong các biện pháp thích ứng và giảm thiểu thiệt hại từ biến đổi khí hậu

Theo các nhà khoa học dự báo, với nền nhiệt độ cao hơn 2,50 C thì khả năng nước biển sẽ dâng lên tới 2 m trong vòng 100 năm tới

Theo cảnh báo của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), đến năm 2050 sẽ

có khoảng 8,4 triệu người Việt Nam thiếu nước ngọt do biến đổi khí hậu; bởi vì Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, đồng thời hàng triệu ha đất bị ngập với hàng chục triệu dân mất nhà cửa do nước biển dâng cao, trong khi số dân sống ở nông thôn chiếm tới 73% dân số của cả nước, nên tình trạng đói nghèo có thể tăng 21-35%

Trang 14

Những tác động của biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến thuỷ lợi, cấp thoát nước ở thành thị và nông thôn, biểu hiện khá rõ là trong những năm gần đây vào những tháng mùa mưa dòng chảy của sông Mêkông tăng 41% ở đầu nguồn, nhưng đến mùa khô giảm tới 24% và trên 70% diện tích của đồng bằng sông Cửu Long bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4 g/lit Còn dòng chảy mùa kiệt ở sông Hồng giảm 19%, mực nước lũ có thể đạt cao trình + 13,24 m, xấp xỉ cao trình đê hiện nay là + 13,40 m Có nghĩa là khả năng

lũ trong mùa mưa và cạn kiệt trong mùa khô đều trở lên khắc nghiệt hơn

Nước biển dâng lên 1 m sẽ làm ngập 0,3-0,5 triệu ha đất tại đồng bằng sông Hồng, khoảng 0,4 triệu ha ở Duyên Hải miền Trung và 1,5-2 triệu ha ở ĐBSCL, đồng thời đe doạ sự an toàn của hệ thống đê sông, đê biển

Vì vậy Việt Nam cần phải tiến hành đồng bộ các chương trình: chương trình giảm nhẹ được triển khai dài hạn cùng với các chương trình ứng phó, thích ứng cấp bách, phân chia theo các giai đoạn và đề ra các nhiệm vụ trọng tâm Trong đó, cấp bách nhất là phải sớm có đánh giá mới về các kịch bản biến đổi khí hậu, làm tiền đề xem xét, điều chỉnh các quy hoạch xây dựng, các dự án giao thông, di dân., đê biển, xây dựng công nghiệp, đặc biệt là hai dự án lớn về cải tạo, nâng cấp hệ thống thuỷ lợi ĐBSH và ĐBSCL – hai vựa lúa chính của đất nước

Đối với tỉnh Khánh Hoà thì biến đổi khí hậu đã gây ra hạn hán năm 2005

và lũ lụt năm 2009 và lớn nhất là mùa mưa năm 2010 Từ ngày 29/10 đến 04/11/2010 (7 ngày): Từ Bình Định đến Ninh Thuận đã có mưa lớn trên 150-200 mm/ngày đã gây ra lụt lội nghiêm trọng tại tỉnh Khánh Hoà Đường tàu hoả và QL1A bị ngập làm giao thông bị gián đoạn: Ngập 2 km trên QL1A tại xã Cam Thành Bắc (Cam Lâm), Cam Tân, TT Cam Đức, Cam Thịnh Đông; ngập đoạn đường sắt vào TP Nha Trang Lũ lụt đã gây sạt lở đất làm ách tắc tuyến giao thông Nha Trang đi sân bay Cam Ranh và tỉnh lộ 2 Khánh Hoà đi Đà Lạt , Phần lớn TP Nha Trang, Diên Khánh, Cam Lâm, Ninh Hoà, Vạn Ninh bị ngập sâu 1-2 m, đặc biệt các xã Vĩnh Trung, Vĩnh Thái, Phước Đồng, khu vực phía Tây phường Phước Hải, nhà dân bị ngập sâu khoảng 1,0 - 1,2 m, đồng ruộng bị ngập sâu 1,5 - 2,5 m; đường giao thông nông thôn ngập sâu từ 0,8 - 1,0 m,…; gây hư hỏng đường giao thông, các công trình thuỷ lợi; gây thiệt hại lớn về sản xuất nông nghiệp, tài sản và đời sống của nhân dân

Cuối tháng 3/2011 mưa trái mùa và thời tiết lạnh đã diễn ra trên diện rộng dải ven biển tỉnh Khánh Hoà, điều mà trước đây hầu như không có đã làm ảnh hưởng đến năng suất lúa vụ đông xuân

Hiện nay các vùng đất trồng lúa nước vùng đồng bằng ven biển của tỉnh

có độ cao dưới 1,0 m so với mặt nước biển như các xã: Ninh Giang, Ninh Hòa (TX Ninh Hòa) Các vùng đất nuôi trồng thuỷ sản ven biển có độ cao 1,0-1,5 m

so với mặt nước biển Một số khu dân cư ven biển, ven cửa sông Cái Nha Trang

có độ cao 1,5-2,0 m so với mặt nước biển Còn đại bộ phận diện tích đất trồng lúa nước vùng đồng bằng và khu dân cư đều có độ cao trên 2 m so với mặt biển

Biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất và cường độ thiên tai như bão, lũ, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng và có thể trở thành thảm họa, gây rủi ro lớn cho

Trang 15

phát triển kinh tế, xã hội hoặc xóa đi những thành quả nhiều năm của sự phát triển Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai, cả về tần số, cường độ và độ bất thường do BĐKH là mối đe dọa thường xuyên, trước mắt và lâu dài đối với tất cả các lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng Bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng, gió lốc là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống

Biến đổi khí hậu có thể dẫn đến 5 nguy cơ lớn: Giảm năng suất nông nghiệp; gia tăng tình trạng thiếu nước; thời tiết cực đoan gia tăng; các hệ sinh thái tan vỡ và bệnh tật gia tăng

Các kịch bản nước biển dâng cho Việt Nam được tính toán theo kịch bản phát thải thấp nhất (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2) và kịch bản phát thải cao nhất (A1FI)

Kết quả tính toán theo các kịch bản phát thải thấp, trung bình và cao cho thấy vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm 28 đến 33 cm và đến cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng thêm từ 65 đến 100 cm so với thời kỳ 1980 – 1999

Biểu 1 Dự báo mực nước biển dâng (cm) so với thời kỳ 1980-1999

Kịch bản Các mốc thời gian của thế kỷ 21

2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100

Nguồn: Phân viện Khí thượng thủy văn và Môi trường phía Nam

Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng lớn đến việc nuôi trồng thủy sản của tỉnh theo hướng hẹp dần do nước bị nhiễm mặn khi nước biển dâng và điều kiện sống thích nghi bị thay đổi Môi trường sống thay đổi trong đó nhiệt độ, độ mặn gia tăng sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống thủy sinh theo hướng thu hẹp, giảm sản lượng làm cho hoạt động đánh bắt thủy hải sản khó khăn, nguồn sống của người dân nghèo bị suy giảm Ngoài ra, biến đổi khí hậu và gia tăng nhiệt độ tạo điều kiện cho mực nước biển nâng dần lên, đẩy quá trình xâm nhập mặn sâu vào nội địa Việc xâm nhập mặn đã làm biến đổi hệ sinh thái vùng vốn ổn định nhiều năm trước đây và kết quả là ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư

Như vậy trong 10-20 năm tới nếu nước biển dâng cao thêm khoảng 0,17 m thì mức độ ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà cũng không bị ảnh hưởng lớn Tuy nhiên, từ dự báo mực nước biển dâng như vậy, để việc sự dụng đất có hiệu quả, bền vững, không bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu sau này thì chúng ta phải có chiến lược đầu tư thích hợp ngay từ hôm nay Cụ thể:

0,12 Khi thi công xây dựng các khu dân cư mới và các công trình công cộng trên địa bàn tỉnh phải đổ đất san nền ở mức +3,0 m so với mặt biển để tránh ngập sau này

Trang 16

- Các khu vực có thể bị ngập sâu thì có phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù hợp (vùng trồng lúa có địa hình thấp trũng thì chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản), vùng đang nuôi trồng thuỷ sản thì xây dựng đê, kè ven biển, nâng cao bờ ao nuôi tôm,

- Bảo vệ tài nguyên rừng hiện có và đẩy mạnh công tác trồng mới và khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên để tăng độ che phủ, cải tạo khí hậu, điều tiết dòng chảy mùa mưa để hạn chế ngập lụt; nhất là trồng phục hồi lại rừng ngập mặn ven biển Ninh Hoà, Vạn Ninh

- Xây dựng hệ thống thoát nước các đô thị mới và cải tạo các đô thị cũ để hạn chế ngập lụt trong mùa mưa lũ

- Xây dựng các hồ chứa nước và xây dựng kế hoạch xả lũ cho sát với tình hình thực tế của từng năm

Điều đó cho thấy sự biến đổi khí hậu đã có ảnh hưởng lớn đến đất nước

ta, đến vùng Duyên hải Nam trung Bộ, trong đó có tỉnh Khánh Hoà Vì vậy để hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu thì mọi quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện các biện pháp để hạn chế sự nóng lên của trái đất Đối với Việt Nam nói chung và tỉnh Khánh Hoà nói riêng thì vấn đề bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng vẫn là biện pháp quan trọng hàng đầu để hạn chế ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất và đời sống Tỉnh Khánh Hoà đã có kế hoạch chi 11

tỷ đồng cho kế hoạch 2011-2015 để điều tra, nghiên cứu, đánh giá tác động của

biến đổi khí hậu đối với sản xuất và đời sống trên toàn tỉnh, nhất là vùng ven biển

1.1.4 Thuỷ văn, thuỷ triều

a Hệ thống sông ngòi

Dãy Trường Sơn thuộc địa phận Khánh Hòa chạy gần sát biển Do vậy các sông suối chảy qua tỉnh đều ngắn và dốc Mặt khác ở vùng núi cao có lượng mưa lớn nên đã tạo ra một mạng lưới sông khá phong phú Khánh Hòa có 3 hệ thống sông lớn, đó là: sông Cái Nha Trang, sông Cái Ninh Hoà, sông Tô Hạp và hàng chục sông suối nhỏ độc lập Nhìn chung mạng lưới sông ngòi tương đối dày đặc nhưng phân bố không đều, vùng núi cao có mật độ lưới sông dày khoảng 1 km/km2, vùng thấp và đồng bằng ven biển có mật độ lưới sông mỏng hơn khoảng 0,6 km/km2 Do đặc điểm địa hình nên sông, suối ở đây nhìn chung ngắn, lòng sông hẹp và dốc với độ dốc trung bình khoảng 50/oo và thường cạn kiệt vào mùa khô

Các hệ thống sông lớn trong tỉnh:

+ Sông Cái Nha Trang: bắt nguồn từ đỉnh ChưTgô cao 1.475 m giáp tỉnh

Đắc Lắc, chảy qua huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh, TP Nha Trang và đổ ra cửa

Hà Ra - Nha Trang Lượng mưa bình quân trong lưu vực 1.700 mm/năm Sông

có lưu lượng bình quân 55,7m3/giây, lưu lượng mùa kiệt là 7,32m3/giây Đây là con sông lớn nhất và lượng nước dồi dào nhất của tỉnh Gắn liền sông Cái Nha Trang là đồng bằng Diên Khánh- Nha Trang Hiện nay trên sông này và các phụ lưu đã xây dựng trạm bơm Cầu Đôi, một số trạm bơm nhỏ và hồ chứa Suối Dầu,

hồ Láng Nhớt, hồ Am Chúa; xây dựng nhà máy thuỷ điện trên sông Giang (Khánh Vĩnh) và sẽ xây dựng thuỷ điện trên sông Chò, hồ sông Chò 1 (Khánh

Trang 17

Vĩnh) cung cấp điện cho sinh hoạt, công nghiệp và nước tưới cho cây trồng, cho sinh hoạt

Sông có tổng diện tích lưu vực: 1.732 km2, chiều dài 84 km Sông Cái Nha Trang có những phụ lưu chính sau:

- Sông Khế nhập lưu bờ phải có diện tích lưu vực: 75,4 km2

- Sông Giang nhập lưu bờ trái có Flv = 186 km2

- Sông Cầu nhập lưu bờ phải có Flv = 190 km2

- Sông Chò dài 74 km, nhập lưu bờ trái có Flv = 555 km2

- Suối Dầu nhập lưu bờ phải có Flv = 272 km2 , đã xây dựng hồ suối Dầu với diện tích tưới thiết kế 3.700 ha và cấp nước công nghiệp cho khu công nghiệp Suối Dầu, Suối Hiệp với lượng nước cấp 9,5.106 m3

+ Sông Cái Ninh Hoà: bắt nguồn từ đỉnh Chư Hu, cao 1300 m phía Tây

bắc tỉnh giáp với tỉnh Đắc Lắc và đổ ra đầm Nha Phu Lượng mưa bình quân trong lưu vực 1.700 mm/năm Lưu lượng bình quân 23,9 m3/giây, lưu lượng mùa kiệt là 0,6 m3/giây Gắn liền với sông Cái Ninh Hoà là đồng bằng Ninh Hoà Sông Cái Ninh Hoà có tiềm năng lớn về thuỷ điện và hiện nay đã xây dựng nhà máy thuỷ điện Ea KrôngRu Ở thượng lưu đã xây dựng hồ chứa nước Đá Bàn, hồ Suối Trầu và một số đập dâng nước tưới cho cánh đồng lúa Ninh Hoà (lớn nhất tỉnh) và cung cấp nước cho sản xuất công nghiệp và sinh hoạt

Sông Cái Ninh Hoà hay còn gọi là sông Dinh, tổng diện tích lưu vực 916

km2 với chiều dài 53 km Sông Cái Ninh Hoà có các phụ lưu sau:

- Sông Đá Bàn là phụ lưu bên trái của sông cái Ninh Hoà, có chiều dài sông là 37 km với Flv = 358 km2

- Sông Bông nhập lưu bờ phải có Flv = 61,6 km2

- Sông Trầu nhập lưu bờ phải có Flv = 65 km2

- Sông Lốt nhập lưu bờ trái có Flv = 358 km2

+ Sông Tô Hạp: Sông Tô Hạp bắt nguồn từ vùng núi cao của huyện

Khánh Sơn chảy sang tỉnh Ninh Thuận, phần thượng nguồn sông nằm trong địa bàn tỉnh Khánh Hoà có chiều dài 23 km với diện tích lưu vực là 300 km2

Ngoài các sông chính trên, còn những sông ngắn độc lập như sau:

- Sông Cạn (Vạn Ninh) có diện tích lưu vực là 86 km2, chiều rộng bình quân lưu vực là 6,1 km đổ ra biển Hải Triều, với chiều dài 14 km sông có nước quanh năm

- Sông Đồng Điền (Vạn Ninh) có diện tích lưu vực 113 km2 dài 18 km, chiều rộng bình quân lưu vực là 6,3 km đổ ra biển tại xã Vạn Thắng

- Sông Hiền Lương (Vạn Ninh) có diện tích lưu vực là 154 km2, chiều rộng bình quân lưu vực là 8,6 km, dài 18 km, sông có nước quanh năm

- Suối Thượng (Cam Lâm) có chiều dài 22 km với Flv = 142 km2 , đã xây dựng hồ Cam Ranh với năng lực tưới thiết kế 2.300 ha, trong đó tưới 700 ha phía Bắc, tưới 1.600 ha phía Nam và cấp nước sinh hoạt cho 70.000 dân

Trang 18

- Suối Hành (Cam Ranh) có Flv = 185 km2 , đã xây dựng hồ suối Hành có năng lực tưới thiết kế 950 ha, trong đó tự chảy 700 ha

- Sông Cạn dài 20 km (Cam Ranh) có Flv = 88 km2, bắt nguồn từ huyện Bác Ái tỉnh Ninh Thuận đổ ra vịnh Cam Ranh

- Suối Tà Rục (Cam Lâm, Cam Ranh) có chiều dài 23 km với Flv = 173

km2 , đã khởi công xây dựng hồ chứa nước Tà Rục (ngày 6/8/2010) với với năng lực tưới thiết kế 1.750 ha và cấp nước cho khu công nghiệp Nam Cam Ranh, cấp nước sinh hoạt cho nhân dân

Biểu 2 Đặc trưng hình thái các sông lớn T

Độ rộng bình quân lưu vực (km)

Mật độ lưới sông (km/km 2 )

Hệ số uốn khúc

1 Sông Cái Ninh Hoà 916 53 342 19.7 0,61 1,4

2 Sông Cái Nha Trang 1.732 84 548 22.8 0,82 1,38

Nguồn:- QH Thuỷ lợi tỉnh Khánh Hoà đến năm 2015

- Quyết định số 1989/QĐ-TTg ngày 01/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ

b Đặc điểm thủy văn

Dòng chảy năm của các sông suối trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà có sự biến động theo không gian và thời gian Theo không gian, dòng chảy năm có sự phân

bố không đều giữa các vùng trong tỉnh Môđun dòng chảy ở vùng núi và sườn đón gió có giá trị lớn hơn ở vùng đồng bằng ven biển từ 3 đến 4 lần

Về thời gian, dòng chảy cũng có sự phân bố không đều theo năm Mùa lũ bắt đầu từ tháng IX đến tháng XII có lượng dòng chảy chiếm từ 70÷75% lượng dòng chảy trong cả năm Đối với năm nhiều nước, tỉ lệ này tăng lên khoảng 80÷85%, còn năm ít nước chỉ còn 40% ÷ 45% Mùa cạn kéo dài 9 tháng từ tháng

I đến tháng IX, lượng dòng chảy chỉ chiếm 25 ÷ 30% lượng dòng chảy năm Tại trạm thuỷ văn Đồng Trăng, năm 1996 là năm có lượng dòng chảy năm lớn nhất trong tài liệu từ 1983÷1998 lớn gấp ba lần năm 1987 là năm có lượng dòng chảy năm nhỏ nhất Điều đó chứng tỏ sự phân bố lượng mưa giữa các mùa trong năm, cũng như giữa năm này với năm khác có sự biến động tương đối lớn Căn cứ vào tài liệu thực đo tại Đồng Trăng cho thấy lượng dòng chảy khá phong phú với môđuyn dòng chảy bình quân nhiều năm đạt 50-55 l/s/km2 Dòng chảy năm trung bình nhiều năm trên sông Cái Nha Trang tại Đồng Trăng với diện tích lưu vực F= 1244 km2 đạt 64,6 m3/s tương ứng với mô số dòng chảy là 51,9 l/s/km2 và tổng lượng dòng chảy 2,04 tỷ m3 nước

Nếu tính cho toàn lưu vực sông Cái Nha Trang với diện tích lưu vực 1.732

km2, lưu lượng dòng chảy là 79 m3/s tương ứng với mô số là 41,6 l/s/km2 và tổng lượng dòng chảy năm là 2,5 tỷ m3

Trang 19

Lưu vực sông Cái Ninh Hoà với diện tích lưu vực 916 km2, có lưu lượng dòng chảy năm là 30,4 m3/s, tương ứng với mô số là 35,7 l/s/km2 và tổng lượng dòng chảy năm là 0,96 tỷ m3

c Thuỷ triều

Thuỷ triều ở biển tỉnh Khánh Hoà mang tính chất nhật triều không đều Biển Khánh Hoà có thuỷ triều thấp, biên độ dao động từ 2-2,50 m Dọc theo bờ biển, vịnh Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh chủ yếu là đất cát trắng, cồn cát vàng, đồi thấp nên ít bị ảnh hưởng của sóng và thuỷ triều Một số vùng đất ven biển đã được khai thác làm hồ nuôi tôm, sản xuất muối; khả năng xâm nhập mặn không lớn nên ít ảnh hưởng đến đất sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên về mùa khô do dòng chảy kiệt thấp nên có năm khả năng xâm nhập mặn vào sâu 7-10

km trên sông Cái Nha Trang

Vào mùa mưa lớn hàng năm hoặc những năm có bão, tỉnh Khánh Hoà thường chịu ảnh hưởng nặng của lũ lụt trên ba hệ thống sông lớn, gây ngập lụt nghiêm trọng ở hầu hết các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh như năm 2009 và

2010 Trong những năm tới việc đầu tư xây dựng hồ chứa nước Tà Rục, hồ sông Cạn, Sông Chò 1, Đồng Điền, thì vấn đề ngập lụt sẽ được kiểm soát tốt hơn

1.2 Các nguồn tài nguyên

1.2.1 Tài nguyên đất

Trên cơ sở tài liệu điều tra, phân loại đất toàn tỉnh trước đây và điều tra,

bổ sung phân loại đất năm 2004 tỉnh Khánh Hoà do Phân viện QH & TKNN miền Trung thực hiện và kết quả thống kê đất đai năm 2010 cho thấy :

Tổng DTTN toàn tỉnh là 521.765,48 ha (kể cả quần đảo Trường Sa 49.630 ha) Phần diện tích đất liền thuộc 8 huyện, thị và TP Nha Trang với diện tích 472.135,48 ha Trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 được chia thành 9 nhóm với 20 đơn vị đất

Chi tiết các nhóm, đơn vị đất và diện tích các nhóm đất như sau:

Biểu 2b Các nhóm đất và loại đất tỉnh Khánh Hoà

ST

hiệu

Diện tích (ha)

Tỷ lệ (%)

Trang 20

98,08

Tổng diện tích điều tra

472.135 ,48

100,0

0

Diện tích không điều tra (huyện đảo Trường

Sa)

49.630 Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh 521.765

,48 521472.

- Diện tích: 18.350 ha, chiếm 3,89% tổng diện tích điều tra của tỉnh

- Phân bố: ở các huyện, thành phố ven biển từ Vạn Ninh đến Cam Ranh;

địa hình khá bằng phẳng, tập trung thành các khu vực lớn tại các huyện Vạn Ninh 5.871 ha (bán đảo Vân Phong) và huyện Cam Lâm 425 (xã Cam Hải Đông), TP Cam Ranh 9.265 ha (bán đảo Cam Ranh), TX Ninh Hòa 1.366 ha, TP Nha Trang 1.423 ha Một số cồn cát trắng, vàng có hàm lượng Silic cao thuận lợi cho sản xuất thuỷ tinh cao cấp, phân bố dọc ven biển và đang khai thác xuất khẩu tại Đầm Môn - xã Vạn Thạnh (Vạn Ninh), Cam Hải Đông (Cam Lâm)

- Hướng sử dụng: sử dụng chủ yếu cho xây dựng khu dân cư, trồng dừa,

nuôi trồng thuỷ sản, làm muối, trồng rừng phi lao; trồng các loại cây hoa màu như đậu đỗ các loại, khoai lang, nhưng phải chú ý bón nhiều phân hữu cơ, các loại phân khoáng

Một số cồn cát trắng có hàm lượng Silic cao thuận lợi cho sản xuất thuỷ

tinh cao cấp

b Nhóm đất mặn

- Diện tích: tổng diện tích 8.239 ha, chiếm 1,35% diện tích điều tra toàn

tỉnh Nhóm đất này gồm 3 loại đất (đất mặn sú vẹt đước 1.549 ha tập trung chủ

Trang 21

yếu ở Ninh Hoà, đất mặn nhiều 674 ha tập trung chủ yếu ở Cam Ranh, Ninh Hoà, đất mặn ít và trung bình 6.016 ha tập trung ở Ninh Hoà, Nha Trang, Cam Ranh và Vạn Ninh)

- Phân bố: vùng ven biển huyện Vạn Ninh 777 ha, TX Ninh Hòa 3.875

ha, TP Nha Trang 1.678 ha, TP Cam Ranh 1.622 ha,

- Hướng sử dụng : Đất có thể sử dụng để trồng cói, lúa nước (có tưới)

hoặc nuôi trồng thủy sản, làm muối Tuy nhiên biện pháp thủy lợi và phân bón phải được coi trọng

c Nhóm đất phèn

- Diện tích: 920 ha, chiếm 0,19% diện tích điều tra toàn tỉnh

- Phân bố: ở vùng ven biển thuộc TX Ninh Hòa 342 ha, TP Nha Trang 578 ha

- Hướng sử dụng: Đất có thể sử dụng để trồng rừng ngập mặn ven biển

hoặc nuôi trồng thủy sản, làm muối Tuy nhiên biện pháp thủy lợi và cải tạo đất phải được coi trọng

d Nhóm đất phù sa

- Diện tích: 33.056 ha, chiếm 7,00% diện tích điều tra toàn tỉnh

- Phân bố: Phân bố tập trung ở các vùng đồng bằng huyện Vạn Ninh,

Ninh Hoà, Diên Khánh, Nha Trang của các cửa sông lớn (sông Cái Nha Trang, Ninh Hoà, ) Trong đó: tại huyện Vạn Ninh 5.217 ha, TX Ninh Hòa 10.125 ha, Diên Khánh 9.272 ha, TP Nha Trang 1.416 ha, TP Cam Ranh 1.144 ha, huyện Cam Lâm 3.195 ha, Khánh Vĩnh 1.075 ha, …

- Hướng sử dụng: Đây là nhóm đất tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp,

thích hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau như các loại rau, đậu đỗ, lúa nước, ngô, khoai lang và các loại cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và cây ăn quả Điều kiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng rất thuận lợi trên nhóm đất này vì phần lớn diện tích được tưới nước chủ động Hiện nay nhóm đất này đã được khai thác triệt để vào sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa nước, rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả

e Nhóm đất xám và bạc màu

- Diện tích: có 25.332 ha, chiếm 5,37% diện tích điều tra của tỉnh

Trang 22

- Phân bố: Đất xám được phân bố ở tất cả các huyện trên nhiều dạng địa

hình khác nhau từ đồng bằng ven biển, các thềm phù sa cổ bằng phẳng lượn sóng Trong đó phân bố chủ yếu ở TP Cam Ranh và phía Tây TX Ninh Hoà trên địa hình bằng hoặc lượn sóng, độ dốc nhỏ

Nhóm đất này có 2 loại đất: Đất xám trên phù sa cổ có 3.838 ha (tập trung

ở Cam Lâm 1.972 ha, Cam Ranh 942 ha, ) Đất xám trên đá macma axít và đá cát có 21.494 ha (tập trung ở Ninh Hoà 8.249 ha, Cam Ranh 3.066 ha, Cam Lâm 3.682 ha, Diên Khánh 2.430 ha, )

- Hướng sử dụng : Nhóm đất này thích hợp trồng màu, cây công nghiệp

ngắn ngày và dài ngày Hiện nay hầu hết loại đất xám trên đá granít được sử dụng trồng mía; một ít đất được trồng hoa màu khác như sắn, khoai lang Nói chung nhóm đất này có tiềm năng không lớn nhưng nhờ địa hình thuận lợi cho việc canh tác, khả năng cung cấp nước và có độ dày tầng đất khá nên được khai thác khá triệt để vào sản xuất nông nghiệp

f Nhóm đất đỏ vàng

- Diện tích: có 300.850 ha, chiếm 63,72% diện tích điều tra của tỉnh

- Phân bố: Đất đỏ vàng được phân bố ở tất cả các địa phương trong tỉnh,

tập trung nhiều ở Khánh Vĩnh 80.668 ha, Ninh Hoà 80.165 ha, Cam Lâm 36.864

ha, Vạn Ninh 34.419 ha Phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi, độ dốc trên 8 độ Những vùng đất có độ dốc < 15 độ, tầng dày > 50 cm chiếm tỷ lệ rất ít (chiếm 16,62%) trong nhóm này Hiện nay những vùng đất khá bằng gần các khu dân

cư đã được khai thác trồng mía, đào lộn hột, cây ăn quả, hoa màu, Những vùng đất có độ cao 100 - 400 m trồng rừng; trên 600 m chủ yếu là rừng tự nhiên

Đất vàng nhạt trên đá cát có 1.833 ha (tập trung chủ yếu ở Diên Khánh (1.117 ha), Ninh Hoà (668 ha),

Đất nâu vàng trên phù sa cổ có 5.395 ha (tập trung chủ yếu ở Ninh Hoà (5.386 ha),

Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước có 3.842 ha (tập trung chủ yếu ở Ninh Hoà (3.273 ha),

- Hướng sử dụng: So với các loại đất đỏ vàng khác, đất đỏ vàng trên đá

sét và biến chất, đất nâu vàng trên phù sa cổ có độ phì khá hơn, nhất là tỷ lệ chất hữu cơ; đá lẫn ít hơn; đa số loại đất này được phân bố ở vùng gò đồi nên việc sử dụng có nhiều thuận lợi Đất đỏ vàng trên đá macma axít (Fa) thường phân bố ở địa hình cao, độ dốc lớn nên khả năng sử dụng vào mục đích nông nghiệp rất hạn chế Ở những vùng đất đã sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp có độ dốc cấp IV nên chuyển đổi sang trồng rừng Đất phân bố ở những địa hình thấp

Trang 23

và ít dốc hơn có thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng điều hay cây

ăn quả các loại Sử dụng đất này vấn đề đặt lên hàng đầu là chống xói mòn; loại đất này chủ yếu dùng cho mục đích lâm nghiệp

g Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi

- Diện tích: có 57.743 ha chiếm 12,23% tổng diện tích điều tra của tỉnh

- Phân bố: ở các vùng núi cao thuộc Khánh Vĩnh (36.653 ha), Ninh hòa

(11.470 ha); Vạn ninh (4.805 ha); Khánh sơn (6.100 ha); Vạn Ninh (4.838 ha)

- Hướng sử dụng: Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi phân bố ở độ cao trên

900 m nên chỉ dùng cho mục đích lâm nghiệp là chính

h Nhóm đất thung lũng

- Diện tích: có 2.881 ha, chiếm 0,61% tổng diện tích điều tra của tỉnh

- Phân bố: Tập trung chủ yếu ở Ninh hòa (1.131ha); Khánh Vĩnh (659 ha),

- Hướng sử dụng: Nhìn chung đất có độ phì tương đối khá, đất chua, nằm

ở địa hình thấp trũng khó thoát nước Chủ yếu được sử dụng trồng cây hàng năm như lúa màu, cây lương thực

i Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá

- Diện tích: có 15.683,48 ha, chiếm 3,32 % tổng diện tích điều tra của tỉnh; phần lớn là các núi đá Granit, phân bố gần đường QL1A thuộc Nha Trang, Ninh Hoà, Vạn Ninh, Cam Ranh, Cam Lâm, Diên Khánh, dễ khai thác sản xuất vật liệu xây dựng

k Các loại đất khác (sông suối & MNCD, .) : 9.081 ha, chiếm 1,92%

tổng diện tích điều tra của tỉnh

1.2.2 Tài nguyên nước

a Nước mặt : Do các hệ thống suối, hồ chứa và kênh tưới thuộc hệ thống

các hồ, đập dâng cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt

Khánh Hòa có mạng lưới sông khá dày (0,6 -1 km/km2), nhưng sông ngắn, dốc, lại nằm trong vùng mưa vừa, trong khi đó tổn thất do bốc hơi lớn, lượng mưa lại tập trung chủ yếu vào 4 tháng mùa mưa (chiếm tới 70- 80% lượng mưa cả năm) và có ít hồ chứa nên mùa khô thường bị thiếu nước tưới cho cây trồng, nhất là các huyện Vạn Ninh, Cam Ranh, Khánh Vĩnh Ngoài ra do diện tích rừng đầu nguồn bị khai thác nhiều nên mùa khô mực nước các sông thấp, khó khai thác phục vụ sản xuất và cấp nước sinh hoạt, công nghiệp Do vậy, khi khai thác nguồn nước mặt phải chú ý điều hoà giữa các vùng và sử dụng một cách tiết kiệm Trong xây dựng và quản lý khai thác, chú ý liên kết các loại công trình hồ chứa, đập dâng, trạm bơm để tận dụng tối đa nguồn nước tự nhiên Phải

xử lý nước thải công nghiệp để sử dụng cho sản xuất nông nghiệp Hệ thống sông suối ở Khánh Hoà đa số thường bị nhiễm mặn vào mùa khô, đặc biệt là hệ thống sông Cái Nha Trang Có năm nước mặn xâm nhập qua cửa sông tới 7-10

km gây khó khăn rất lớn tới sản xuất và đời sống của nhân dân, đặc biệt là nước sinh hoạt của nhân dân TP Nha Trang

Trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà có một số lưu vực sông, suối có thể xây dựng các hồ chứa nước để mở rộng diện tích cây trồng được tưới và cung cấp

Trang 24

nước cho công nghiệp và sinh hoạt Theo dự án điều chỉnh quy hoạch thuỷ lợi toàn tỉnh, trong những năm tới trên địa bàn tỉnh sẽ xây dựng thêm các hồ chứa lớn như : hồ sông Chò 1 (Khánh Vĩnh), hồ Đồng Điền (Vạn Ninh), hồ sông Cạn (Cam Ranh), để khai thác nguồn nước mặt phát triển sản xuất nông nghiệp phục vụ thâm canh & tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng; cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân,; cấp nước cho các khu công nghiệp, du lịch và cải tạo môi trường,

b Nước ngầm: Theo kết quả điều tra của Liên đoàn Quy hoạch và Điều

tra tài nguyên nước miền Trung, tổng lượng khai thác nước ngầm khoảng 489.571 m3/ngày Theo kết quả quan trắc và khảo sát của Sở Thuỷ lợi Phú Khánh cũ, các vùng đồng bằng ven biển của Khánh Hoà phần lớn có mực nước ngầm xuất hiện ở độ sâu > 4 m chiếm 44%; từ 0,5-1 m chiếm 10,2%; 1-2 m chiếm 24,9% và từ 2-4 m chiếm khoảng 20,9% diện tích khảo sát

Nhìn chung trữ lượng nước ngầm Khánh Hoà không lớn, tuy nhiên vẫn có thể khai thác cung cấp một phần nhu cầu cho sinh hoạt và sản xuất Một số nơi ở Ninh Hoà, Diên Khánh, Cam Ranh đã khai thác nước ngầm phục vụ sản xuất nông nghiệp

1.2.3 Tài nguyên rừng

Theo kết quả thống kê đất đai ngày 01/01/2011, tỉnh Khánh Hoà có 214.966,72 ha đất lâm nghiệp chiếm 41,20% DTTN toàn tỉnh (nếu tính phần đất liền thì chiếm 45,53%), trong đó 46,17% là rừng sản xuất, 46,28% rừng phòng

hộ và 7,55% rừng đặc dụng Trữ lượng gỗ gần 20 triệu m3 (trong đó rừng trồng

có gần 1 triệu m3), trữ lượng tre, nứa, lồ ô trên 40 triệu cây Trong đất lâm nghiệp có rừng thì diện tích rừng tự nhiên có 157.820,59 ha, đất rừng trồng có 41.397,63 ha, đất rừng có độ che phủ chiếm 38,18%; còn lại là đất trồng mới rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên Rừng sản xuất chủ yếu là rừng trung bình và rừng nghèo Rừng phòng hộ còn nhiều diện tích rừng giàu ở khu vực núi cao, đầu nguồn sông lớn tại các huyện Khánh Vĩnh, Khánh Sơn và TX Ninh Hoà Đất lâm nghiệp toàn tỉnh chiếm 45,53% DTTN toàn tỉnh, lớn nhất là Khánh Vĩnh (74,71%), Khánh Sơn (57,54%), Cam Lâm (50%) các huyện còn lại đều dưới mức bình quân của tỉnh; thấp nhất là Cam Ranh (5,82%), Nha Trang (10,96%)

Rừng là một thế mạnh của tỉnh Khánh Hòa, song việc khai thác gỗ những năm qua đã làm tài nguyên rừng ngày càng giảm đi Tổng khối lượng gỗ tròn khai thác 5 năm 2006-2010 gần 200.000 m3 (bình quân gần 39.000 m3/năm) Cùng với việc mất rừng là sự suy giảm các cây lâm đặc sản qúy như Pơ mu, cây gió, nhựa thông, song mây, lá buông Việc suy giảm diện tích rừng đã dẫn đến

sự suy giảm cân bằng sinh thái, gây xói mòn đất, nguồn nước các con sông của tỉnh bị cạn kiệt đến mức báo động về mùa khô; nguồn nước sinh hoạt của dân cư

ở Vạn Ninh, Ninh Hòa, Cam Ranh trong mấy năm gần đây bị thiếu hụt nghiêm trọng

Do đó, những năm tới phải khai thác rừng hợp lý, đẩy mạnh tu bổ cải tạo rừng tự nhiên, tăng cường trồng rừng, tăng độ che phủ, bảo vệ môi trường sinh thái

1.2.4 Tài nguyên biển

Trang 25

Các tài nguyên biển có khả năng khai thác trong thời gian tới là tiềm năng kinh tế cảng biển, du lịch, khai thác hải sản và nuôi trồng thủy sản ven biển

Bờ biển Khánh Hòa dài trên 200 km, có nhiều điều kiện thuận lợi hình thành các cảng hàng hoá, thương mại và quốc phòng Ngoài các cảng Cam Ranh, Ba Ngòi, Nha Trang, Hòn Khói, hiện nay đang xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong Sự phát triển kinh tế cảng biển sẽ kéo theo một loạt các ngành dịch vụ khác phát triển

Tỉnh Khánh Hoà có 3 vịnh là Vân Phong, Nha Trang và Cam Ranh; trong

đó vịnh Nha Trang đã được thế giới xếp hạng là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới Dọc bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp; các đảo lớn, nhỏ có nhiều cảnh quan thiên nhiên còn mang tính hoang dã, có khả năng xây dựng thành các khu du lịch, vui chơi, giải trí để phát triển ngành du lịch

Dọc bờ biển Khánh Hòa có rất nhiều bãi tắm như bãi biển Nha Trang nằm ngay trung tâm thành phố, có chiều dài gần 10 km; bãi Tiên nằm về phía Bắc thành phố; Dốc Lết thuộc Ninh Hòa có chiều dài 4 km; Đại Lãnh (Vạn Ninh) chiều dài 2 km, bãi Dài (Cam Lâm và Cam Ranh) có chiều dài trên 10 km Ngoài ra dọc bờ biển còn tập trung nhiều đảo lớn, nhỏ có khả năng tổ chức du lịch, săn bắn dưới nước, vui chơi giải trí trên các đảo Đặc biệt đảo hòn Tre là đảo lớn đã xây dựng khu du lịch nổi tiếng Vinpearl Land, quanh đảo có nhiều bãi tắm đẹp như bãi Trũ - đầm Già, bãi Tre, Bích Đầm Với cảnh quan thiên nhiên ưu đãi, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, khí hậu lý tưởng cho mùa du lịch kéo dài gắn với nhiều di tích lịch sử và công trình văn hoá như: Tháp Bà, thành Diên Khánh, biệt thự Bảo Đại, chùa Long Sơn, mộ Yersin, đền Trần Quý Cáp, Khánh Hòa đã trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước, rất hấp dẫn, lôi cuốn khách du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt là với hình thức

du lịch biển

Trữ lượng hải sản thuộc vùng biển Khánh Hòa ước khoảng 150 nghìn tấn, trong đó chủ yếu là cá nổi (70%) Khả năng khai thác cho phép hàng năm khoảng 65-80 nghìn tấn Nguồn lợi biển phân bố không đều, tập trung phần lớn

ở ngư trường ngoài khơi và ngư trường ngoài tỉnh từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến vịnh Thái Lan Việc khai thác xa bờ chủ yếu phải bằng phương tiện tầu lớn, có phương tiện bảo quản và sản xuất dài ngày Đặc biệt, cần khai thác ngư trường quanh quần đảo Trường Sa, vừa nhằm mục đích phát triển kinh tế, vừa góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng

Ngoài các hải sản như cá, mực và các loại ốc, biển Khánh Hòa còn là nơi trú ngụ các loài chim yến tại các đảo trên biển, hàng năm cho phép khai thác khoảng 2.000 kg yến sào Đây là một đặc sản quý mà không phải tỉnh nào trong nước cũng có thể có được Nó không chỉ góp phần cho xuất khẩu, mà còn là nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến dược liệu bổ dưỡng cao cấp

Biển của Khánh Hòa còn có ý nghĩa với việc sản xuất muối Nước biển có nồng độ mặn tương đối cao, thuận lợi cho việc sản xuất muối tập trung và các sản phẩm muối, nhất là muối công nghiệp

1.2.5 Tài nguyên khoáng sản

Trang 26

Khánh Hoà là một trong những tỉnh giàu tài nguyên khoáng sản, tuy không phong phú về chủng loại nhưng rất tập trung theo từng nhóm Các mỏ, điểm khoáng sản tỉnh Khánh Hoà đã được tổng hợp và sắp xếp như sau: Nhóm nguyên liệu cháy: 2 mỏ, điểm; nhóm kim loại: 14 mỏ, điểm; nhóm không kim loại: 3 điểm; đá quý: 1 điểm; nhóm vật liệu xây dựng: 156 mỏ; nước khoáng nóng và bùn khoáng: gồm 22 mỏ, điểm nước khoáng nóng và 10 mỏ bùn khoáng

Nhóm mỏ khoáng sản nhiên liệu, kim loại, không kim loại, đá quý có quy

mô nhỏ, triển vọng không lớn, hầu hết mới gặp các điểm khoáng sản và biểu hiện khoáng sản Nhóm mỏ khoáng sản vật liệu xây dựng tự nhiên và nguyên liệu để sản xuất vật liệu xây dựng, nước khoáng, nước nóng và bùn khoáng có tiềm năng rất lớn

Trong các loại khoáng sản đó, đáng chú ý nhất là cát thuỷ tinh Cam Lâm

có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu sản xuất thuỷ tinh quang học, pha lê trữ lượng 52,2 triệu m3; cát ở bán đảo Hòn Gốm (Vạn Ninh) khoảng 555 triệu m3;

inmenhít 26 vạn tấn; đá granit 2 tỷ tấn (chưa tính đến các đảo)

Nước khoáng với tổng lưu lượng khoảng 40 l/s, khả năng khai thác 3.400 -3.500 m3/ngày Một số nơi đã đưa vào khai thác công nghiệp như nước khoáng

Đảnh Thạnh (57 triệu lít/năm), Tu Bông (25 triệu lít/năm), Trường Xuân (30

triệu lít/năm); khai thác bùn khoáng để phát triển du lịch như khu tắm bùn

khoáng nóng Tháp Bà

Tài nguyên khoáng sản Khánh Hoà là một trong những loại tài nguyên có thể tiếp tục khai thác trong tương lai để phát triển các sản phẩm tham gia cạnh tranh thị trường

1.2.6 Tài nguyên nhân văn

Là tỉnh có nhiều dân tộc cư trú, trong đó người Kinh chiếm trên 95%; Raglai trên 3%; còn lại là các dân tộc khác : Hoa, Giẻ-Triêng; Ê đê Đồng bào dân tộc thiểu số sống chủ yếu ở các xã miền núi; tỷ lệ dân tộc Kinh thấp nhất là

ở huyện Khánh Sơn (trên 18%) và Khánh Vĩnh (trên 30%) Các dân tộc có nhiều

lễ hội trong đó có lễ hội Tháp Bà Ponagar (ngày 21-23/3 âm lịch hàng năm) của dân tộc Chăm đã được công nhận là lễ hội cấp quốc gia

Trên địa bàn tỉnh có nhiều di tích văn hoá, lịch sử cần được bảo vệ và trùng tu, tôn tạo như khu Tháp Bà Ponaga, đền Trần Quý Cáp, đình Phú Cang, khu di tích Yesin, thành Diên Khánh, đền Trịnh Phong,

Vịnh Nha Trang được xếp hạng là 1 trong 29 vịnh biển đẹp nhất thế giới, khu bảo tồn biển hòn Mun tại Nha Trang là lợi thế để phát triển du lịch biển

Việc khai thác, tôn tạo, giữ gìn các di tích văn hoá và danh lam thắng cảnh hiện có là cơ sở để phát triển ngành du lịch, thu hút khách tới tham quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu về kiến trúc, sinh hoạt, tập quán, lễ nghi

1.3 Thực trạng môi trường

Khánh Hoà là tỉnh nằm dọc theo biển Đông, có nhiều đầm, vịnh và phần lớn dân cư sinh sống gần biển, trên hạ lưu các con sông Như vậy tất yếu các hoạt động sản xuất - kinh doanh, du lịch, sinh hoạt của cư dân đã và sẽ làm ô

Trang 27

nhiễm các vùng cửa sông, nước biển ven bờ, đất sản xuất, nước sinh hoạt Tỉnh

có nền kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất Công nghiệp-xây dựng và dịch vụ-du lịch; nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất muối công nghiệp; có tốc độ phát triển kinh

tế cao so với các tỉnh khác Những năm qua vấn đề ô nhiễm môi trường đã xảy

ra dù chưa ở mức độ nghiêm trọng như một số tỉnh trong cả nước Chất lượng nước và không khí ở Khánh Hoà tương đối tốt so với một số địa phương trong nước có nền công nghiệp phát triển Tuy vậy, trong quá trình đô thị hoá, phát triển công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất muối và du lịch; Khánh Hoà cũng đang phải đương đầu với một loạt vấn đề môi trường như sự gia tăng dân số làm ô nhiễm về rác thải sinh hoạt, sự suy giảm tài nguyên rừng, tài nguyên sinh vật vùng biển, ô nhiễm nước, vấn đề xâm nhập mặn ở sông Cái Nha Trang vào mùa khô, suy thoái tài nguyên đất, không khí

- Về môi trường nước: Tài nguyên nước ngày càng quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Chất lượng nguồn nước mặt tại các lưu vực chưa biến động nhiều, còn nằm trong giới hạn cho phép của mục đích sử dụng Tuy nhiên vùng cửa sông Cái Nha Trang nguồn nước bị ô nhiễm nặng

do khu dân cư ổ chuột đóng cọc làm nhà dọc theo hai bên bờ sông và xả chất thải sinh hoạt xuống sông gây ô nhiễm ngồn nước và không khí khu vực dân

cư của sông, gần bãi tắm Nha Trang làm ảnh hưởng đến phát triển du lịch Vấn đề này cần sớm xử lý giả toả toàn bộ các khu nhà ổ chuột cho vào khu

tái định cư để xây kè sông Cái và cải tạo môi trường

- Về môi trường đất: Về tác động đến môi trường đất trong quá trình sử dụng đất ở Khánh Hoà những năm gần đây diễn biến theo chiều hướng tích cực, diện tích đất trống, đồi núi trọc dần được thu hẹp, diện tích đất có rừng mới trồng và khoanh nuôi, phục hồi được thực hiện trên diện rộng; trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng phù hợp với

điều kiện đất dốc (tăng diện tích cây lâu năm, giảm diện tích đất nương rẫy

trồng cây hàng năm khác) diễn ra ngày càng rộng rãi; việc quản lý sử dụng đất

trong các lĩnh vực phi nông nghiệp ngày càng chặt chẽ hơn theo góc độ hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường

Những năm qua chủ yếu xảy ra vấn đề nhiễm mặn vùng cửa sông Cái Nha Trang vào mùa khô nước mặn có năm xâm nhập sâu vào đất liền 7-10 km, ảnh hưởng đến đất sản xuất nông nghiệp ven sông thuộc xã Vĩnh Ngọc, Nhiễm mặn

đã xảy ra ở nhiều vùng ven biển mặc dù chưa ở mức độ nghiêm trọng Với đặc điểm địa hình dốc, chia cắt mạnh, cùng với quá trình khai thác tài nguyên rừng chưa hợp lý dẫn đến xói mòn, rửa trôi làm giảm độ phì nhiêu của đất

Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm, trong sản xuất nông nghiệp đã sử dụng một lượng lớn hoá chất bảo vệ thực vật, phân bón hoá học cộng với trình độ ý thức của người dân trong việc sử dụng và bảo quản hoá chất bảo vệ thực vật còn thấp cũng gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ của con người

Hàng năm lũ lụt, hạn hán vẫn thường xẩy ra, ảnh hưởng đến một số địa bàn với quy mô không nhỏ gây thiệt hại về kinh tế, tác động xấu đến cảnh quan môi trường cũng như sức khoẻ con người

Trang 28

Việc nuôi tôm phát triển ồ ạt những năm gần đây để lại những hậu quả cho môi trường, tác động xấu đến môi trường đất, môi trường trường nước, làm giảm hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm

Nguy cơ chất thải công nghiệp từ các nhà máy, xí nghiệp; các khu, cụm

công nghiệp (đặc biệt là khói bụi và nước thải) ngày càng gia tăng đã ảnh hưởng

đến sức khoẻ của người dân cũng như môi trường tự nhiên

- Về môi trường không khí: Tuy mức độ ô nhiễm không khí do hoạt động công nghiệp chưa đáng kể, nhưng các hoạt động về giao thông, làng nghề cũng đã nảy sinh các vấn đề về ô nhiễm không khí do khói bụi, khí thải của các phương tiện giao thông, các cơ sở sản xuất gạch ngói, gốm sứ… Hiện nay chưa có làng nghề nào được quy hoạch hợp lý và lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường

- Về môi trường vùng ven biển và môi trường biển: Trong quá trình công nghiệp hoá, biển đang chịu sức ép lớn về môi trường, biển trở thành nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải không qua xử lý từ vùng núi đến đồng bằng theo các sông, suối đổ ra như: chất thải của sản xuất công nghiệp chưa qua xử lý, nông nghiệp, khai khoáng, xây dựng, giao thông, nông lâm nghiệp, sinh hoạt, các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, du lịch và việc nuôi cá lồng, bè trong vịnh Vân Phong, đầm Nha Phu, Vịnh Cam Ranh đã làm cho nồng độ các chất ô nhiễm trong nước biển như kim loại nặng, chất hữu cơ, hoá chất độc hại tăng cao, gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích biển vùng ven bờ đã gây ô nhiễm làm chết tôm hùm ở Vạn Ninh, đầm Nha Phu (Ninh Hoà) và nghêu, cá mú nuôi bị chết ở đầm Thuỷ Triều thuộc vịnh Cam Ranh một số năm qua; làm suy thoái các

hệ sinh thái san hô, rong biển, suy giảm trữ lượng các loài sinh vật biển và giảm tính đa dạng sinh vật biển

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy cùng với việc tăng cường khai thác các nguồn lợi một cách tối đa nhằm phát triển kinh tế - xã hội thì việc đầu tư tái tạo, bảo vệ cảnh quan môi trường tương xứng với mức độ đầu tư khai thác và yêu cầu đảm bảo cho phát triển bền vững là điều hết sức cần thiết

II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

2.1.1 Tăng trưởng kinh tế

Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2001-2010 đạt 10,73%/năm,

cao hơn mức bình quân cả nước (cả nước là trên 7%/năm); trong đó: ngành

công nghiệp - xây dựng tăng 12,24%; nông, lâm, thuỷ sản tăng 3,03%; dịch

vụ-du lịch tăng 11,51% Cụ thể chia theo từng giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 2001-2005: tổng sản phẩm nội tỉnh (GDP) tăng bình quân 10,81%; trong đó: ngành công nghiệp, xây dựng tăng 13,47%; nông, lâm, thuỷ sản tăng 2,79%; dịch vụ tăng 10,92% So với giai đoạn 1996-2000, nền kinh tế của tỉnh phát triển với tốc độ nhanh hơn, một số ngành kinh tế quan trọng của tỉnh như dịch vụ, du lịch và công nghiệp, xây dựng có tốc độ tăng trưởng cao hơn

Trang 29

- Giai đoạn 2006-2010: tổng GDP nội tỉnh tăng bình quân 10,64%/năm, cao hơn mức tăng bình quân của cả nước Trong đó: ngành công nghiệp, xây dựng tăng 11,03%; nông, lâm, thuỷ sản tăng 3,27%; dịch vụ tăng 12,11% So với giai đoạn 2001-2005, một số ngành kinh tế quan trọng của tỉnh như dịch vụ,

du lịch và nông, lâm, thủy sản có tốc độ phát triển cao hơn Tốc độ phát triển kinh tế trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (2006-2010), trừ năm 2006 đạt 9,70%, còn lại các năm khác đều đạt trên 10%

Năm 2010: Tổng sản phẩm trên địa bàn (theo giá 1994) đạt 12.319 tỷ

đồng, tăng 10,99% so với năm 2009; trong đó giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng 8,93%; giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản tăng 1,52%; giá trị dịch

vụ tăng 16,40% GDP bình quân đầu người đạt 1.500 USD Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 9.009,2 tỷ đồng, tăng 23,23% so với năm 2009 Vốn đầu

tư phát triển xã hội đạt 15.524,4 tỷ đồng, tăng 3 lần so với năm 2005 Cơ cấu kinh tế năm 2010: dịch vụ 38,12%, thuế nhập khẩu dầu 7,16%, công nghiệp-xây dựng 40,90%, nông-lâm-thuỷ sản 13,82%

Biểu 3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh theo từng giai đoạn

1 - Công nghiệp, xây dựng 1.537 2.891 4.878 13,47 11,03 12,24

2 - Nông, lâm, thuỷ sản 1.267 1.454 1.708 2,79 3,27 3,03

3 - Khu vực dịch vụ-du lịch 1.643 2.758 4.885 10,92 12,11 11,51

4 - Thuế nhập khẩu dầu trung

Nguồn: NGTK tỉnh Khánh Hoà năm 2000, 2005, 2010

2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong những năm qua, trong tổng GDP thì cơ cấu giá trị ngành nông, lâm, thuỷ sản giảm dần từ 26,87% năm 2000 xuống còn 17,92% năm 2005 và 13,82% năm 2010; tuy nhiên nông, lâm, thuỷ sản vẫn là ngành sản xuất quan trọng cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho phát triển công nghiệp

và dịch vụ; đồng thời đảm bảo tính ổn định của vùng nông thôn (chiếm 55,50% dân số toàn tỉnh) Ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 35,31% năm 2000 lên 41,58% năm 2005 và 40,90% năm 2010; còn ngành dịch vụ - du lịch khá ổn định từ 37,82% năm 2000 giảm còn 36,22% năm 2005 và tăng lên 38,12% năm

2010 Cụ thể xem biểu sau:

Biểu 4 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế qua các năm (theo giá hiện hành)

Chỉ tiêu 2000 2005 2007 2008 2009 2010

1 Giá trị (tỷ đg) 6.328 13.397 18.687 23.408 28.100 33.749

- Nông, LN và TS 1.701 2.400 3.270 3.912 4.244 4.664

- CN & XD 2.234 5.571 7.772 9.740 11.642 13.804

Trang 30

2.2.1 Khu vực kinh tế Nông nghiệp (nông - lâm - thuỷ sản)

Giá trị tổng sản phẩm ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2010 (giá hiện hành) đạt 4.664 tỷ đồng; chiếm 13,82% tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn

a Về sản xuất nông nghiệp

Giá trị sản xuất nông nghiệp (giá 1994) tăng đều từ năm 2000 đến năm

2010 Năm 2000 đạt 810,662 tỷ đồng và năm 2005 đạt 896,790 tỷ đồng (tăng 1,11 lần năm 2000); giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 2,03%/năm (trồng trọt giảm 0,16%/năm, chăn nuôi tăng 7,00%/năm, dịch vụ tăng 23,19%/năm) Năm 2010 đạt 1.327,312 tỷ đồng (tăng 1,47 lần năm 2005); giai đoạn 2006-2010 tăng bình quân 8,16%/năm (trồng trọt tăng trên 9,67%/năm, chăn nuôi tăng 4,21%/năm, dịch vụ tăng 2,05%/năm) Trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tỷ trọng ngành trồng trọt ổn định (chiếm 74,04% năm 2000 và 74,44% năm 2010); ngành chăn nuôi từ 20,54% năm 2000 tăng lên 21,16% năm 2010

Mặc dù sản xuất nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao ở giai đoạn

2006-2010 nhưng với mục tiêu tăng cơ cấu ngành chăn nuôi trong sản xuất nông nghiệp chưa thực hiện được là do ảnh hưởng của dịch bệnh gia súc, gia cầm nên việc đầu tư phát triển chăn nuôi cũng như vấn đề tiêu thụ sản phẩm cho nông dân gặp nhiều khó khăn đã làm giảm tốc độ phát triển ngành chăn nuôi của tỉnh

Sản lượng lương thực năm 2010 đạt 240,119 ngàn tấn, trong đó sản lượng lúa đạt 227,746 ngàn tấn; diện tích trồng lúa đạt 44,232 ngàn ha gieo trồng/năm, chiếm 53,84% diện tích gieo trồng cây hàng năm Năm 2010, sản lượng lương thực tăng gấp 1,62 lần năm 2005; trong đó sản lượng lúa tăng 1,62 lần; năng suất lúa đạt 51,46 tạ/ha/năm, tăng gấp 1,28 lần năm 2005 Lương thực bình quân đầu người năm 2010 đạt 205 kg/năm

Giá trị sản xuất (hiện hành) bình quân trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp năm 2000 là 12,776 triệu đồng và tăng lên 16,260 triệu đồng năm 2005 (riêng ngành trồng trọt chỉ đạt 11,40 triệu đồng/ha) Đến năm 2010, giá trị sản xuất nông nghiệp trên 01 ha đất sản xuất nông nghiệp đạt 44,990 triệu đồng (tăng 2,77 lần năm 2005), riêng ngành trồng trọt đạt 33,492 triệu đồng (tăng 2,94 lần năm 2005) Sản xuất nông nghiệp đang sử dụng 92.716,05 ha, chiếm 17,77% DTTN toàn tỉnh

Trang 31

Trong những năm gần đây mặc dù thời tiết, khí hậu có nhiều bất lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng do được trung ương, tỉnh và các ngành đầu tư cơ sở

hạ tầng cho ngành nông nghiệp như nâng cấp, sửa chữa các hồ chứa nước, các trạm bơm, kiên cố hoá kênh mương nên diện tích cây trồng được tưới chủ động tăng lên, công tác khuyến nông, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật như đưa các giống mới vào sản xuất, đầu tư thâm canh được chú trọng nên năng suất và sản lượng cây trồng đều tăng đã làm tăng hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp

Năm 2010, tổng đàn trâu có 5.053 con (giảm 464 con so với năm 2005), đàn bò có 76.082 con (tăng 6.962 con so với năm 2005), đàn heo có 95.637 con (giảm 42.891 con so với năm 2005), tổng đàn gia cầm có 2.252.000 con (tăng 987.990 con so với năm 2005) Sản lượng thịt hơi năm 2009 đạt 24.151 tấn (tăng 7.053 tấn so với năm 2005)

Biểu 5 Hiện trạng một số chỉ tiêu phát triển nông nghiệp tỉnh Khánh Hoà

Trang 32

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Khánh Hoà các năm 2000, 2005, 2010

b Sản xuất lâm nghiệp

Tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh có 214.966,72 ha (trong đó diện tích có rừng che phủ 199.218,22 ha), với tổng trữ lượng gỗ ước tính gần 20 triệu

m3 (trong đó rừng trồng gần 1 triệu m3); trữ lượng tre, nứa, lồ ô trên 40 triệu cây Trữ lượng gỗ, tre, lồ ô tập trung chủ yếu ở huyện Khánh Vĩnh (chiếm trên 50% trữ lượng toàn tỉnh)

Giai đoạn 2001-2005, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp tăng 0,06 %/năm Tổng sản lượng gỗ tròn khai thác là 175.846 m3; củi khai thác 386.144 ster; tre, nứa 5,959 triệu cây; nhựa thông khai thác được 55 tấn; trồng rừng tập trung được 13.102 ha; trồng cây phân tán được 925 ha; rừng được chăm sóc 43.455

ha

Giai đoạn 2006-2010, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp giảm 6,09%/năm Tổng sản lượng gỗ tròn khai thác là 189.734 m3; củi khai thác 270.730 ster; tre, nứa 1,793 triệu cây; nhựa thông khai thác được 32 tấn; trồng rừng tập trung được 5.910 ha; trồng cây phân tán được 2,337 triệu cây; rừng được chăm sóc 32.193 ha

Trên địa bàn tỉnh đã thành lập khu bảo tồn Hòn Bà (thuộc 4 huyện Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn và Cam Lâm) với 16.000 ha Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 41,20% tổng DTTN toàn tỉnh, tăng 4,83% so với năm 2000

c Sản xuất thuỷ sản

Giá trị sản xuất thủy sản (giá 1994) giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân là 3,31%/năm; giai đoạn 2006-2010 tăng bình quân là 3,32%/năm Trong đó: giai đoạn 2006-2010 chủ yếu là tăng giá trị khai thác tăng 6,42%/năm, nuôi trồng tăng chậm 0,42%/năm, còn giá trị dịch vụ giảm 1,59%/năm Cơ cấu (theo giá hiện hành) nuôi trồng thủy sản giảm từ 43,02% năm 2005 xuống còn 22,74% năm 2010; trong khi giá trị khai thác tăng từ 54,17% năm 2005 lên 75,80% năm

2010 Mặc dù có những khó khăn do dịch bệnh, giá nhiên liệu tăng cao nhưng vị trí ngành thủy sản trong cơ cấu chung của ngành nông, lâm, thuỷ sản toàn tỉnh vẫn ổn định chiếm tỷ lệ 57,96% GTSX toàn ngành năm 2000; chiếm 57,92% GTSX toàn ngành năm 2005 và chiếm 53,13% GTSX toàn ngành năm 2010 Ngành đã hoàn thành xây dựng một số dự án hạ tầng về cảng cá (Vạn Giã, Vĩnh Lương, hòn Rớ, Cam Ranh và xây dựng 2 cảng cá lớn tại đảo Đá Tây và đảo Trường Sa) làm cơ sở hạ tầng cho các tàu thuyền của ngư dân phục vụ chương

Trang 33

trình đánh bắt xa bờ, bảo vệ môi trường gắn với giữ vững an ninh quốc phòng, phát triển du lịch và dân sinh vùng biển

Khai thác hải sản: Tổng sản lượng khai thác bình quân mỗi năm giai đoạn

2001-2005 đạt 60.434 tấn/năm; bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 70.112 tấn/năm, tăng 16,01% so với bình quân năm giai đoạn 2001-2005 Cơ cấu sản phẩm chuyển dịch theo hướng tăng các sản phẩm có giá trị cao như tôm, mực, cá ngừ đại dương Sản lượng đánh bắt chủ yếu là xa bờ chiếm trên 70% sản lượng Mặc dù giá nhiên liệu tăng cao nhưng giá hải sản cũng tăng cao và chính sách hỗ trợ nhiên liệu đã mang lại hiệu qủa nên năng lực tàu cá tăng mạnh hơn giai đoạn 2001-2005 Đến cuối năm 2010 toàn tỉnh có 9.261 chiếc tàu với tổng công suất 269.723 CV, tăng 3.840 chiếc và 144.785 CV so với năm 2005 Cơ cấu tàu cá chuyển dịch mạnh theo hướng tăng mạnh loại tàu từ 90CV trở lên để mở rộng vùng đánh bắt xa bờ

Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thuỷ sản hiện có 5.437,87 ha

trong đất liền, chủ yếu là nuôi tôm nước lợ (3.538 ha), nuôi tôm giống (đạt 2,298

tỷ con P15 năm 2010) nuôi cá chẽm, cá mú,…; ngoài ra phát triển mạnh nghề nuôi ngọc trai, rong sụn, nuôi cá lồng, nuôi tôm hùm lồng,… Sản lượng nuôi trồng bình quân mỗi năm giai đoạn 2006-2010 đạt 14.155 tấn/năm (trong đó tôm đạt 6.910 tấn), tăng trên 42% so với bình quân năm giai đoạn 2001-2005

2.2.2 Khu vực kinh tế Công nghiệp (công nghiệp-xây dựng)

- Giai đoạn 2001-2005: Tổng sản phẩm ngành công nghiệp-xây dựng tăng 11,03%/năm Giá trị sản xuất Công nghiệp tăng bình quân 22,50%/năm

- Giai đoạn 2006-2010: Tổng sản phẩm ngành công nghiệp-xây dựng tăng 12,24%/năm Giá trị sản xuất Công nghiệp tăng bình quân 11,97%/năm

- Năm 2010: Giá trị sản xuất công nghiệp (giá 1994) đạt 15.400,8 tỷ đồng, tăng 10,02% so với năm 2009; bao gồm: công nghiệp Trung ương đạt 344,2 tỷ đồng, công nghiệp nhà nước địa phương đạt 3.929,2 tỷ đồng, công nghiệp ngoài nhà nước đạt 6.881,1 tỷ đồng, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 4.246,3

tỷ đồng Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có giá trị sản xuất tăng

so với năm trước: Công ty Yến Sào, Tổng Công ty Khánh Việt, Công ty cổ phần chế biến nông sản xuất khẩu, Công ty cổ phần nước khoáng,… Một số sản phẩm chủ yếu như sau: thuốc lá điếu 839 triệu bao, thủy sản đông lạnh 55,6 nghìn tấn, nước mắm 23,1 triệu lít, bia các loại 19,9 triệu lít, nước khoáng 44,8 triệu lít, xi măng 66 nghìn tấn, gạch nung 254,7 triệu viên, cát sỏi 984 nghìn m3,…Trên địa bàn tỉnh đã hình thành và phát triển các khu, cụm công nghiệp như: khu CN Suối Dầu, Ninh Thủy; Vạn Thắng, cụm công nghiệp Diên Phú, Đắc Lộc, …

- Các ngành công nghiệp của tỉnh gồm: Công nghiệp chế biến và công nghiệp khai thác (khai thác đá và mỏ khác) được đầu tư phát triển mạnh Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính nên tốc độ tăng trưởng bình quân năm ngành công nghiệp giai đoạn 2006-2010 đạt 11,97%/năm, thấp hơn giai đoạn 2001-

2005 (đạt 22,50%/năm) Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp có sự chuyển biến theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến từ 94,62% năm 2000 lên 97,07% năm 2005 và 95,96% năm 2010 Các lĩnh vực sản xuất chính của ngành công nghiệp chế biến là: sản xuất thực phẩm và đồ uống, sản xuất thuốc lá, sản phẩm

Trang 34

dệt, sản xuất trang phục, sản xuất sản phẩm bằng da và giả da, sản xuất sản phẩm gỗ và lâm sản, chế biến thuỷ sản, chế biến hạt điều, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến đường, sản xuất nước đá,…

- Tiểu thủ công nghiệp từng bước khôi phục và phát triển đa dạng các sản phẩm truyền thống như dệt chiếu, thêu ren, mành trúc; các ngành nghề chế biến thuỷ sản, cá cơm khô, nước mắm mang lại hiệu quả cao, góp phần giải quyết việc làm, phát triển kinh tế địa phương

- Nhiều doanh nghiệp đã năng động trong sản xuất kinh doanh, nắm bắt thị trường, tổ chức kinh doanh nhiều ngành, nghề hỗ trợ cho nhau Công nghiệp chế biến nông - lâm sản được đầu tư mở rộng sản xuất Công nghiệp trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển mạnh nhờ các dự án đầu tư từ những năm trước như: Hyundai-Vinashin, bia Sanmiguel, bắt đầu phát huy tác dụng Công nghiệp trong các thành phần kinh tế khác cũng tăng đáng kể do các chính sách thu hút đầu tư của tỉnh đã phát huy hiệu quả

Trên địa bàn tỉnh đã quy hoạch 5 khu công nghiệp lớn bao gồm: Khu công nghiệp Suối Dầu (Cam Lâm), KCN Vạn Thắng (Vạn Ninh), KCN Ninh Thủy (Ninh Hòa), KCN Bắc và KCN Nam Cam Ranh Đến nay, KCN Suối Dầu đã cơ bản hoàn thiện cơ sở hạ tầng, diện tích đất sử dụng đã đạt trên 70% Tính đến tháng 12/2011, KCN này thu hút 44 dự án đầu tư (trong đó có 18 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, 26 dự án có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư

156 triệu USD; đến nay đã có 33 dự án đi vào hoạt động; giải quyết việc làm cho hơn 10.000 lao động Các khu công nghiệp Ninh Thuỷ, Vạn Vinh, Bắc Cam Ranh đang trong giai đoạn xây dựng cơ sở hạ tầng và thu hút các dự án đầu tư Ngành công nghiệp đã đóng góp to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết thêm nhiều việc làm cho người lao động, tạo động lực thúc đẩy kinh tế-xã hội tỉnh phát triển Riêng KCN Nam Cam Ranh chưa thu hồi đất

Tổng diện tích đất các khu, cụm công nghiệp đang sử dụng 463,63 ha, tăng 385,46 ha so với năm 2000

2.2.3 Khu vực kinh tế dịch vụ (thương mại-dịch vụ-du lịch, xuất nhập

khẩu)

a Thương mại, dịch vụ-du lịch

- Các ngành dịch vụ phát triển và tiếp tục có tốc độ tăng trưởng cao Tổng

sản phẩm dịch vụ (không kể thuế nhập khẩu dầu trung chuyển) năm 2010 (giá

CĐ 1994) đạt 4.885 tỷ đồng, tăng 16,40% so với năm 2009 Trong tổng GDP,

khu vực dịch vụ chiếm 37,82% năm 2000 và chiếm 38,12% năm 2010 Các ngành dịch vụ và du lịch có thêm nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh, tích cực cải tiến, nâng cao chất lượng phục vụ, vì vậy tốc độ tăng dịch vụ-du lịch đạt 12,11%/năm (giai đoạn 2006-2010) Dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông tăng trưởng nhanh; các dịch vụ tài chính, ngân hàng bảo hiểm tiếp tục phát triển, đáp ứng nhu phát triển kinh tế và đời sống nhân dân Các cơ quan địa phương và doanh nghiệp hưởng ứng tích cực chủ trương của Bộ chính trị và Tỉnh uỷ "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" với nhiều hoạt động thiết thực Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đạt 29.048 tỷ đồng, tăng 24,19% so năm 2009, mức tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 25,51%/năm, cao

Trang 35

hơn giai đoạn 2001-2005 (bình quân 16,18%/năm); các hoạt động thương mại dịch vụ đa dạng hơn; nâng cấp mở rộng và đầu tư xây dựng mới các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại tại Nha Trang, Cam Ranh và các huyện, thị xã đã góp phần tăng trưởng kinh tế và lưu thông hàng hoá; mở rộng mạng lưới kinh doanh dịch vụ đáp ứng nhu cầu hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm, chất lượng dịch

vụ ngày càng tăng; đầu tư xây nâng cấp và xây dựng mới các chợ, siêu thị tại

TP Nha Trang và các huyện, thị

- Doanh thu ngành vận tải giai đoạn 2006-2010 tăng bình quân 23,76/năm, khối lượng hàng hoá vận chuyển tăng bình quân 18,94%/năm, khối lượng hành khách vận chuyển tăng 7,79%/năm; hình thành nhiều dịch vụ mới vận chuyển hàng hoá và hành khách đáp ứng nhu cầu đa dạng về vận chuyển Doanh thu ngành hàng không năm 2010 đạt 150 tỷ đồng, tăng 4,3 lần năm 2006 với 802.000 lượt người lên xuống máy bay

- Trong những năm qua đã có nhiều dự án đầu tư phát triển du lịch như

mở rộng khu du lịch Vinpearl Land; khu du lịch sông Lô; khu du lịch suối Hoa Lan; mở rộng, nâng cấp các khu du lịch khác trên địa bàn tỉnh; xây dựng khu du lịch hòn Tằm, khu du lịch bãi Rồng, khu du lịch bãi Dài; xây dựng mới các khách sạn cao cấp, cao tầng (20-trên 30 tầng) tại TP Nha Trang, Toàn tỉnh hiện có 455 khách sạn với 11.730 phòng Số lượt khách đến năm 2010 đạt 1,840 triệu người, tăng gần 2 lần so với năm 2005; trong đó khách quốc tế có xu hướng tăng mạnh, từ 249 nghìn lượt năm 2005 lên 385 nghìn lượt năm 2010 Doanh thu du lịch năm 2010 đạt 1.877,25 tỷ đồng, tăng gần 3 lần năm 2005, mức tăng bình quân 23,93%/năm (giai đoạn 2006-2010)

b Về xuất, nhập khẩu

- Tổng kim ngạch xuất khẩu của địa phương năm 2010 đạt 674,485 triệu USD, tăng 1,62 lần năm 2005 Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là yến sào, nông sản, hải sản, mây và sản phẩm mây, cát, sửa chữa tàu biển, … Các sản

phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp trong tỉnh đã xuất khẩu đến trên 100

nước và khu vực; trong đó các thị trường xuất khẩu lớn nhất là Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc

- Tổng kim ngạch nhập khẩu của địa phương năm 2010 đạt 398,515 triệu USD, tăng 2,11 lần năm 2005 Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là nguyên liệu sản xuất (chiếm 68,50%), máy móc thiết bị (chiếm khoảng 30%), hàng tiêu dùng (chiếm 1,50%)

2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

2.3.1 Dân số

- Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2010 có 1.167.744 người, trong đó nữ 590.451 người (chiếm 50,56% dân số), dân số tăng 48.767 người so với năm 2005; mật độ dân số bình quân 223 người/km2 Trong đó dân số thành thị có 519.646 người (chiếm 44,50%), dân số nông thôn có 648.098 người (chiếm 55,50%) Dân số phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở thành phố Nha Trang (1.562 người/km2), các huyện, thị xã có trục giao thông QL1A chạy qua như Cam Ranh (376 người/km2), Cam Lâm (185 người/km2), Diên Khánh (394

Trang 36

người/km2), Vạn Ninh (231 người/km2), Ninh Hoà (195 người/km2) Hai huyện miền núi của tỉnh là Khánh Sơn, Khánh Vĩnh, mật độ dân cư dưới 65 người/km2

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 1,10% Tỷ lệ tăng dân số chung toàn tỉnh đã giảm từ 1,39% năm 2000 xuống còn 1,19% năm 2005 và 1,10%

năm 2010 Tỷ lệ tăng cơ học của dân số chỉ khoảng 2-2,5%o

- Trong 5 năm 2006-2010: đã giải quyết việc làm bình quân hàng năm cho khoảng 25.000 người

- Lao động qua đào tạo nghề: đạt 35%

2.3.3 Thu nhập và mức sống

Thu nhập bình quân trên đầu người của tỉnh luôn cao hơn mức bình quân chung của cả nước Khánh Hoà được đánh giá là khá thành công trong công tác xoá đói giảm nghèo GDP bình quân/người năm 2000 là 385 USD, đến năm

2005 đạt trên 768 USD, tăng 1,99 lần năm 2000; năm 2010 đạt 1.500 USD tăng gần 2 lần năm 2005

Năm 2000 tỷ lệ hộ nghèo của toàn tỉnh là 11,14% Đến cuối năm 2009, tỷ

lệ hộ nghèo theo chuẩn mới quốc gia giảm xuống còn 2,38%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn của tỉnh còn 16,18% Đến cuối năm 2010 toàn tỉnh còn 3.210 hộ nghèo, chiếm 1,46% trên tổng số hộ toàn tỉnh (theo chuẩn quốc gia), theo chuẩn của tỉnh còn 11,12% Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện

rõ nét, thu nhập ngày một cao hơn, các nhu cầu thiết yếu được đáp ứng tốt hơn

Chương trình xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế-xã hội miền núi đã mang lại nhiều kết quả thiết thực (50% số xã cơ bản đạt tiêu chí xã nông thôn mới)

2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn

2.4.1 Thực trạng phát triển đô thị

a Hệ thống đô thị trên địa bàn tỉnh

Hiện nay tỉnh Khánh Hoà có: 02 thành phố (Nha Trang và Cam Ranh), 01 thị xã (Ninh Hoà), 06 huyện với các đô thị trung tâm là:

- Thành phố Nha Trang là trung tâm tỉnh lỵ, đồng thời có vai trò là trung tâm tiểu vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên

- Thành phố Cam Ranh là trung tâm vùng phía Nam của tỉnh (mới được công nhận là thành phố cuối năm 2010)

- Thị xã Ninh Hoà là trung tâm vùng phía Bắc của tỉnh (mới được công nhận là thị xã cuối năm 2010)

Trang 37

- Các thị trấn Vạn Giã, Diên Khánh, Khánh Vĩnh, Tô Hạp, Trường Sa là các thị trấn huyện lỵ

Tổng diện tích đất đô thị toàn tỉnh có 54.590,47 ha, chiếm 10,46% DTTN toàn tỉnh, trong đó đất ở đô thị có 2.778,87 ha, chiếm 5,09% diện tích đất đô thị

và chiếm 42,15% diện tích đất ở toàn tỉnh Dân số đô thị năm 2010 có 519.646 người, chiếm 44,50% dân số toàn tỉnh Diện tích đất ở bình quân 53,48 m2/người

b Thực trạng phát triển các đô thị

b.1 Thành phố Nha Trang

- Tổng DTTN toàn thành phố có 25.259,60 ha Thành phố có 19 phường

và 8 xã với tổng diện tích đất đô thị là 7.971,07 ha, chiếm 31,56% DTTN toàn thành phố; dân số toàn thành phố năm 2010 có 394.455 người (chiếm 33,78% dân số toàn tỉnh), mật độ dân số là 1.562 người/km2 (khu vực nội thị gần 3.700 người/km2) Những năm gần đây tốc độ đô thị hoá diễn ra tương đối nhanh gồm

mở rộng các khu dân cư, xây dựng các công trình công cộng, văn hoá, cơ quan Nhà nước, công viên cây xanh, xây dựng các khu du lịch ven biển,

- Tính chất đô thị: Thành phố Nha Trang được Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định công nhận là đô thị loại I thuộc tỉnh Khánh Hoà từ ngày 22/4/2010 Thành phố là một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước, là đô thị trung tâm tiểu vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên; là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của tỉnh TP Nha Trang được coi là thành phố của các sự kiện, là nơi tổ chức các sự kiện lớn của đất nước và quốc tế như các hội nghị quốc tế của tổ chức ASEAN, tổ chức các cuộc thi hoa hậu quốc tế

và trong nước; nơi tổ chức hội nghị, hội thảo của các Bộ, ngành trung ương

b.2 Thành phố Cam Ranh

- Tổng DTTN thành phố có 32.502,90 ha Thành phố có 9 phường/15 đơn

vị hành chính với tổng diện tích đất đô thị là 14.743,37 ha, chiếm 45,36% DTTN toàn thành phố; dân số toàn thành phố năm 2010 có 122.261 người (chiếm 10,47% dân số toàn tỉnh), mật độ dân số là 376 ngường/km2 (khu vực nội thị trên 600 người/km2) Những năm gần đây tốc độ đô thị hoá diễn ra tương đối nhanh gồm mở rộng khu dân cư, xây dựng nâng cấp hệ thống giao thông, thoát nước, công viên cây xanh, xây dựng khu du lịch ven biển, các cơ sở sản xuất kinh doanh,

- Tính chất đô thị: được Bộ Xây dựng ra Quyết định số 717/QĐ-BXD ngày 30/6/2010 công nhận thị xã Cam Ranh là đô thị loại III và Chính phủ có Nghị quyết số 65/NQ-CP ngày 23/12/2010 về việc thành lập TP Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hoà Thành phố là đầu mối giao thông quan trọng và là khu vực có vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng của đất nước Bên cạnh đó Cam Ranh còn là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của vùng phía Nam tỉnh Khánh Hoà Cam Ranh còn có hệ thống giao thông rất thuận lợi: Quốc lộ 1A đi ngang qua dài 29 km, tỉnh lộ 9, tỉnh lộ 3, tuyến đường sắt Bắc - Nam, ga

xe lửa, cảng biển Ba Ngòi (cảng loại I), sân bay quốc tế Cam Ranh Trong tương lai không xa vịnh Cam Ranh sẽ hình thành nên những khu trung tâm du lịch sinh

Trang 38

thái và thể thao có tầm cỡ quốc gia; cảng Cam Ranh sẽ xây dựng thành cảng dịch vụ tổng hợp của khu vực

b.3 Thị xã Ninh Hoà

- Diện tích tự nhiên có 119.777,36 ha, dân số năm 2010 có 232.804 người, mật độ dân số là 195 người/km2 Những năm qua khu trung tâm huyện Ninh Hoà đã được đầu tư xây dựng mở rộng khu dân cư và các công trình công cộng, văn hoá xã hội,… về phía Đông và Nam để trở thành đô thị phía Bắc tỉnh Toàn huyện Ninh Hoà đã được đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, khu dân cư, các cơ sở sản xuất kinh doanh, phát triển công nghiệp, du lịch,… và được Chính phủ ra Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 25/10/2010 về việc thành lập thị xã Ninh Hoà và thành lập các phường thuộc thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà Thị xã có

07 phường và 20 xã; tổng diện tích đất đô thị là 8.762,76 ha, chiếm 7,32% DTTN toàn thị xã; dân số đô thị có 76.005 người, chiếm 32,65% dân số toàn thị

xã, mật độ dân số đô thị 867 người/km2

- Tính chất đô thị: Là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục khu vực phía Bắc tỉnh Khánh Hoà

b.4 Thị trấn Vạn Giã

- Diện tích tự nhiên có 285,47 ha, chiếm 0,52% DTTN toàn huyện Dân

số năm 2010 có 19.133 người, mật độ dân số là 6.713 người/km2 Hiện nay thị trấn đã được công nhận là đô thị loại IV

- Tính chất đô thị: Là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục của huyện Vạn Ninh

b.5 Thị trấn Diên Khánh

- Diện tích tự nhiên là 395,53 ha, chiếm 1,17% DTTN toàn huyện Dân số năm 2010 có 20.827 người, mật độ dân số là 5.273 người/km2 Hiện nay thị trấn

đã được công nhận là đô thị loại IV

- Tính chất đô thị: Là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục của huyện Diên Khánh

b.6 Thị trấn Khánh Vĩnh

- Diện tích tự nhiên là 936,28 ha, chiếm 0,80% DTTN toàn huyện Dân số năm 2010 có 4.031 người, mật độ dân số 431 người/km2 Hiện nay thị trấn đang được đầu tư xây dựng mở rộng khu dân cư và khu hành chính về phía Đông (phía Bắc đường TL2)

- Tính chất đô thị: Là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục của huyện Khánh Vĩnh

b.7 Thị trấn Tô Hạp

- Diện tích tự nhiên là 1.625,17 ha, chiếm 4,81% DTTN toàn huyện Dân

số năm 2010 có 4.147 người, mật độ dân số là 255 người/km2 Hiện nay thị trấn đang được đầu tư xây dựng mở rộng khu dân cư và khu hành chính về phía Đông và phía Bắc

- Tính chất đô thị: Là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục của huyện Khánh Sơn

Trang 39

2.4.2 Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn

Tỉnh Khánh Hoà có 99 xã/140 xã, phường, thị trấn với tổng DTTN đất nông thôn là 467.175,01 ha, chiếm 89,54% DTTN toàn tỉnh Trong đó diện tích đất khu dân cư nông thôn có 25.126,40 ha, chiếm 5,38% DTTN đất nông thôn

toàn tỉnh (đất ở tại nông thôn có 3.813,47 ha, chiếm 57,85% diện tích đất ở toàn

tỉnh) Dân số nông thôn năm 2010 có 648.146 người (chiếm 55,36% dân số toàn

tỉnh), mật độ dân số nông thôn 139 người/km2 Bình quân đất ở nông thôn hiện nay đạt 58,8 m2/người (tiêu chuẩn vùng đồng bằng ven biển 55-70 m2/người) là đạt yêu cầu

Hầu hết các khu dân cư nông thôn trên địa bàn tỉnh được hình thành từ lâu đời, chưa có quy hoạch nên đa số phát triển theo hướng tự phát, phân bố ven các tuyến đường giao thông, ven các sông lớn, tập trung ở vùng đồng bằng và ven biển Do thiếu quy hoạch chi tiết nên nhiều khu dân cư gặp rất nhiều khó khăn trong khâu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống cấp,

thoát nước, đường điện (đặc biệt đối với các xã miền núi thuộc huyện Ninh Hoà,

Khánh Sơn, Khánh Vĩnh) hoặc hay bị ngập lụt, ô nhiễm (các xã đồng bằng huyện Ninh Hoà và ngoại thành TP Nha Trang)

Tuy nhiên, cũng có một số khu dân cư mới được xây dựng theo các chương trình di dãn dân, chương trình tái định canh - định cư đều được xây dựng theo quy hoạch nên đã hình thành các khu dân cư theo hướng xây dựng nông thôn mới: có kiến trúc đẹp, đảm bảo vệ sinh môi trường, thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng

2.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

2.5.1 Giao thông

Mạng lưới giao thông trong tỉnh Khánh Hoà có cả 4 loại hình giao thông: đường hàng không, đường sắt, đường thuỷ, đường bộ Đó là lợi thế để Khánh Hoà có thể phát triển một nền kinh tế toàn diện, giao lưu trong nước và quốc tế

về các lĩnh vực thương mại, du lịch, sản xuất kinh doanh và trao đổi hàng hoá

Với diện tích đất 750 ha, đường bay dài hơn 3.000 m và cơ sở hạ tầng khá đồng bộ, Cam Ranh là sân bay rộng thứ hai (sau Tân Sơn Nhất, TP.HCM) và được xếp thứ tư trong số 24 sân bay dân sự đang hoạt động của nước ta Vốn là sân bay quân sự do người Mỹ xây dựng để sử dụng làm căn cứ không quân

Trang 40

trong cuộc chiến tranh Việt Nam, gần 30 năm sau ngày giải phóng miền Nam, Cam Ranh vẫn là khu quân sự đặc biệt trước biển Thái Bình Dương Ngày 19/5/2004, đánh dấu thời điểm quan trọng khi Cam Ranh đón chuyến bay dân sự đầu tiên từ Hà Nội Năm 2004, lưu lượng khách qua sân bay bắt đầu tăng rất nhanh, từ hơn 274.000 lượt tăng vọt lên hơn 500.000 vào cuối năm 2007 Trên

cơ sở này Bộ Giao thông Vận Tải đã nhanh chóng phê duyệt quy hoạch tổng thể cảng hàng không Cam Ranh là cảng hàng không nội địa có hoạt động bay quốc tế

Ngày 16/8/2007, Chính phủ ra quyết định nâng cấp cảng hàng không Cam Ranh trở thành cảng hàng không Quốc tế (cùng với sân bay Phú Bài - Huế) Tháng 6/2008, sân bay Cam Ranh chính thức phục vụ các chuyến bay đêm Đến cuối năm 2008, Cam Ranh đã phục vụ 683.000 lượt khách, vượt qua sân bay Phú Bài, trở thành sân bay lớn thứ tư của Việt Nam (xếp theo số lượng khách thông qua) Tỷ lệ tăng của số lượt khách thông qua vào năm 2007 là 36,8%, của năm 2008 là 36,3% so với năm trước, là sân bay có tốc độ tăng trưởng lượng hành khách cao nhất tại Việt Nam Với diện tích đất 750 ha, Sân bay quốc tế Cam Ranh có diện tích rộng hơn Sân bay quốc tế Nội Bài

Sân bay quốc tế Cam Ranh là sân bay dân sự chính phục vụ cho tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh Cực Nam Trung Bộ Trong hệ thống du lịch quốc tế IATA, sân bay Cam Ranh mang mã số CXR

Tháng 7-2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1006/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Theo đó nhu cầu vốn đầu tư cho toàn bộ quy hoạch là 10.523 tỷ đồng Nhà ga mới đã được xây dựng, tháng 12/2009 công trình đã hoàn thành và có thể phục vụ 800 hành khách trong giờ cao điểm Theo quy hoạch, cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, sân bay Cam Ranh được khai thác cho cả hai mục đích quân sự (cấp I) và dân dụng (cấp 4E), với đường băng có thể tiếp nhận các loại máy bay cỡ lớn như A-321, A300-600, B-767, B-777

Ngoài ra trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà còn có sân bay Dục Mỹ, hiện không hoạt động

b Đường sắt

Tuyến đường sắt thống nhất Bắc Nam chạy dọc tỉnh Khánh Hoà, dài khoảng 149,2 km, qua thành phố Nha Trang và hầu hết các huyện, thị, thành phố đồng bằng trong tỉnh Trên địa bàn tỉnh có 12 ga đường sắt, các ga dọc tuyến là

ga hỗn hợp, chỉ có ga Nha Trang là ga chính, có quy mô lớn, làm nhiệm vụ trung chuyển hành khách và hàng hoá từ Nha Trang tới các tỉnh phía Bắc và phía Nam Tuyến đường sắt và ga đi vào nội thành TP Nha Trang gây ảnh hưởng đến giao thông giữa hai khu vực Tây và Đông của thành phố

c Đường biển

Khánh Hoà có trên 200 km bờ biển với nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các cảng biển Hệ thống cảng biển trên địa bàn tỉnh như sau

- Cảng Vân Phong: là cảng tổng hợp quốc gia, trung chuyển container

quốc tế (loại IA) của Việt Nam nằm trong vịnh Vân Phong, khu kinh tế Vân Phong huyện Vạn Ninh; được khởi công xây dựng từ tháng 10/2009 Điều đặc

Ngày đăng: 10/11/2017, 11:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w