1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của Hội đồng nhân dân trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự (trên cơ sở các số liệu địa bàn tỉnh Cà Mau)

83 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 429 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu những vấn đề về vai trò của Hội đồng nhân dân (HĐND) trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, luận văn đã xây dựng khái niệm cơ bản và chỉ ra những tồn tại, bất cập trong thực tiễn hoạt động giám sát. Trên cơ sở nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ sở lý luận và thực tiễn. Luận văn làm sáng tỏ hơn các quy định của pháp luật hiện hành về giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng trong thực tế; đề xuất hoàn thiện pháp luật về giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Kết quả luận văn đề xuất sửa đổi, bổ sung các điều luật như sau: Điều 122,135 và 140 Hiến pháp năm 1992. Vì trên cơ sở quy định tại các điều này cho thấy, Hiến pháp chỉ mới quy định về quyền chất vấn của Đại biểu HĐND, trách nhiệm báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân với HĐND, chỉ mới gián tiếp ghi nhận về vai trò giám sát đối với các cơ quan tiến hành tố tung hình sự mà thôi. Từ lý luận nêu trên, đề nghị khi sửa đổi Hiến pháp cần quy định rõ hơn về vai trò giám sát của HĐND và tính ràng buộc chịu sự giám sát đối với các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; Điều 1 và chương III Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003. Vì với những quy định như vậy vẫn còn chung chung. Mặt khác, kiến nghị trong Luật cần bổ sung “chế tài” cho công tác giám sát của HĐND, góp phần phát huy tính thực quyền và là cơ quan quyền lực Nhà nước ở đại phương; 12. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn: Từ những đề xuất, kiến nghị trong luận văn, tạo cơ sở để các nhà lập pháp có thể nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, nhằm tạo sự đồng bộ thống nhất giữa các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÝ MINH VỮNG

VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG

CỦA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ

(Trên cơ sở các số liệu địa bàn tỉnh Cà Mau)

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN CẢNH HỢP

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lý Minh Vững

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

LỜI CAM ĐOAN 1

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội 1

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn 1

Tôi xin chân thành cảm ơn! 1

NGƯỜI CAM ĐOAN 1

Lý Minh Vững 1

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐND: Hội đồng nhân dân

UBND: Ủy ban nhân dân

VKSND: Viện kiểm sát nhân dânTAND: Tòa án nhân dân

TTHS: Tố tụng hình sự

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đã gần bảy mươi năm kể từ khi ra đời, vai trò của HĐND các cấp ởnước ta ngày càng được khẳng định và củng cố Trong bộ máy Nhà nước,HĐND vừa là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, vừa là cơ quan đạidiện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương Vìvậy, xây dựng HĐND các cấp có thực quyền để đảm đương đầy đủ vai trò,trách nhiệm của mình là một yêu cầu bức xúc hiện nay

Giám sát là một trong hai chức năng quan trọng của HĐND, trong đó

có việc giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS Thông qua hoạtđộng giám sát, chúng ta có thể kiểm chứng lại tính đúng đắn, sự phù hợp vềcác quy định của pháp luật đã, đang được áp dụng trong cuộc sống và nhữngchủ trương biện pháp mà HĐND đã quyết nghị; giúp chúng ta phát hiện ranhững khó khăn, vướng mắc mà kịp thời có những giải pháp tháo gỡ, đểthực hiện nhiệm vụ một cách chủ động; cũng qua hoạt động giám sát còn là

cơ sở cho việc thực hiện công tác thẩm tra và đi đến quyết định vấn đề mộtcách chính xác, đảm bảo các Nghị quyết ban hành có chiều sâu, sát thựctiễn, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của cử tri và phù hợp quy định vớiquy định của pháp luật

Song trong thực tế, hoạt động giám sát nói chung, việc giám sát hoạtđộng của các cơ quan tiến hành TTHS nói riêng trong thời gian qua tuy cóchuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn nhiều lúng túng, bất cập, chưa mang lạihiệu quả cao, thường bộc lộ một số hạn chế chủ yếu sau: Công tác giám sátchưa đều, chủ yếu do Thường trực và các Ban HĐND tiến hành; việc thamgia hoạt động giám sát của các Đại biểu còn hạn chế, chủ yếu mới giám sát tại

kỳ họp Giám sát của HĐND đôi khi còn mang tính hình thức: nội dung giámsát có lúc chưa sâu, chưa tập trung vào các vấn đề mang tính bức xúc ở địa

Trang 6

phương, những vấn đề mà nhiều cử tri quan tâm Kết luận của Đoàn giám sátđôi lúc chưa sâu, chưa chỉ đúng căn nguyên, đúng trọng tâm vấn đề đề cập…Cũng có trường hợp kết luận của đoàn giám sát chưa được coi trọng, sự tiếpthu, khắc phục còn hạn chế Ngoài ra, trong thực hiện giám sát vẫn còn có sự

né tránh, nể nang, ngại va chạm… nên hiệu lực và hiệu quả giám sát củaHĐND chưa cao

Nguyên nhân của những hạn chế trên là: 1) có sự hạn chế trong nhậnthức (chưa nhận thức đúng, đầy đủ về vị trí, chức năng, vai trò, trách nhiệmcủa HĐND); 2) thiếu sự tự tin và chưa quyết liệt của một bộ phận Đại biểu(còn nể nang, ngại va chạm v.v…); 3) chưa có quy định ràng buộc tráchnhiệm pháp lý nếu không thực hiện đúng kết luận giám sát; 4) thêm nữa, tínhhình thức trong hoạt động của HĐND, cơ chế cho hoạt động giám sát chưa rõràng (làm cho một số Đại biểu HĐND thiếu tự tin vào hoạt động); 5) sự hạnchế về năng lực, trình độ; 6) thiếu thông tin lẫn thời gian thỏa đáng dành chohoạt động thực hiện nhiệm vụ Đại biểu…

Đây chính là một vấn đề bức xúc cần được nghiên cứu, hoàn thiện;trên cơ sở đó, tìm ra những giải pháp phù hợp góp phần khắc phục nhữngvướng mắc, bất cập trong hoạt động giám sát của HĐND như đã nói ở trên,

để hoạt động này ngày càng hiệu quả Đó là lý do tác giả chọn đề tài: Vaitrò của HĐND trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hànhTTHS (trên cơ sở các số liệu thực tiễn của địa bàn tỉnh Cà Mau) làm đề tàiluận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Thời gian qua đã có một số bài viết nghiên cứu về hoạt động giám sátcủa HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS trên các tạpchí, sách chuyên khảo nhưng vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyênsâu về vấn đề này, quan điểm của các tác giả vẫn còn nhiều nội dung chưa đạtđến sự đồng thuận, vì vậy vấn đề này cần phải được tiếp tục nghiên cứu

Trang 7

Tuy nhiên, ở các khía cạnh khác của hoạt động giám sát của HĐNDcũng có một số công trình nghiên cứu, bài viết quan trọng như:

- Sách chuyên khảo: ‘‘Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiệnquyền lực Nhà nước” Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996 do GS.TSKH ĐàoTrí Úc và PGS.TS Võ Khánh Vinh đồng chủ biên; ‘‘Một số vấn đề cơ bản vềhoàn thiện bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” NxbChính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 do GS.TS Nguyễn Duy Gia làm chủ biên;

‘‘HĐND trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước” Nxb Pháp lý, 1998, doPTS Nguyễn Đăng Dung chủ biên; ‘‘HĐND và UBND theo Hiến pháp 1992”

và ‘‘Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994” Nxb Chính trị quốc gia, HàNội 1996, của Phùng Văn Tửu

- Luận án tiến sĩ có liên quan: ‘‘Nâng cao hiệu lực hoạt động giám sátcủa HĐND cấp tỉnh trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay” Học việnchính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1998 của Vũ Mạnh Thông

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng nghiên cứu đề tài: 3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu, làm sáng

tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về giám sát hoạt động của các cơ quan tiếnhành TTHS, luận văn đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả giámsát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

3.2 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của Hiến

pháp 1992, Luật tổ chức HĐND năm 2003, Bộ luật TTHS năm 2003 có liênquan đến hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quantiến hành TTHS

3.3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các qui định của pháp luật liên

quan đến giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hànhTTHS Số liệu thống kê phục vụ cho việc nghiên cứu, so sánh, đối chiếu trong

đề tài được viện dẫn từ các báo cáo giám sát, báo cáo năm của Hội đồng nhândân tỉnh Cà Mau, của Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND tỉnh và cáchuyện, thành phố trong tỉnh

Trang 8

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhànước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về cải cách tưpháp; đồng thời, dựa trên cơ sở các bài viết, các đề tài khoa học của các nhànghiên cứu lý luận về vai trò, nhiệm vụ, hình thức hoạt động giám sát củaHĐND, các hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

Các phương pháp nghiên cứu được tác giả vận dụng gồm: phân tích,tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê hình sự

5 Điểm mới của luận văn

Điểm mới của luận văn gồm:

- Làm sáng tỏ hơn các quy định của pháp luật hiện hành về giám sátcủa HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS, chỉ ra nhữngvướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát của HĐND đối vớihoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND đối vớihoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận - pháp lý về vai trò của HĐND trong việc

giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt

động của các cơ quan tiến hành TTHS tại tỉnh Cà Mau

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt

động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC

CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Cơ sở lý luận về vai trò giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

1.1.1 Khái niệm giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

1.1.1.1 Khái niệm giám sát nói chung

Có nhiều định nghĩa giám sát khác nhau được đưa ra tùy theo phạm virộng, hẹp của nội dung nghiên cứu Theo Từ điển Tiếng Việt, cách hiểu chung

nhất, giám sát là “theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ” Mai Hữu Khuê,

Bùi Văn Nhơn trong Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính lại coi giám sát

là “sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên

tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh [15].

Còn TS Đặng Đình Tân cho rằng giám sát là “sự theo dõi, quan sát

hoạt động của một chủ thể quyền lực mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoạt động của các tổ chức quyền lực chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, đúng quy chế nhằm giới hạn quyền lực, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm minh” [30] Quan điểm này gần giống với quan điểm của

Mai Hữu Khuê, Bùi Văn Nhơn, có chăng chỉ bổ sung thêm một số điểm vềchủ thể có quyền lực

Trang 10

Ban Công tác lập pháp thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (hiện Ban

này đã được giải thể) có đưa ra khái niệm “giám sát dưới góc độ ngôn ngữ

thông thường được hiểu là: việc theo dõi, xem xét, kiểm tra của chủ thể có quyền đối với chủ thể khác để qua đó có được nhận định về hoạt động của chủ thể này” [1].

Cả bốn quan điểm trên đều thống nhất về cách thức tiến hành hoạt độnggiám sát, đó là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra Đây cũng là cách hiểu mangtính cơ bản trong quan điểm thứ nhất

Riêng quan điểm của TS Đặng Đình Tân và Ban Công tác lập pháp

bổ sung thêm “chủ thể có quyền lực” Đây là yếu tố rất quan trọng bởi giám

sát thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể giám sát với đối tượng giám sát Mốiquan hệ giữa chúng phải được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ quyền lực,chủ thể giám sát phải có quyền với đối tượng giám sát Quyền ở đây phải làquyền quyết định, quyền tác động đến đối tượng bị giám sát, ví dụ: quyềnbãi nhiệm, miễn nhiệm, quyền hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật, phêbình, kỷ luật… Nói cách khác, đối tượng bị giám sát phải biết “sợ” chủ thểgiám sát Đây chính là tiền đề dẫn đến việc chủ thể giám sát sẵn sàng tácđộng bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượngchịu giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế Các biện pháp tác động tới đốitượng giám sát như việc Quốc hội, HĐND bãi bỏ một phần hay toàn bộ vănbản quy phạm pháp luật; hoặc định hướng hoạt động của đối tượng giám sátnhư việc Quốc hội, HĐND ban hành nghị quyết về chất vấn, trả lời chất vấn,các kiến nghị từ hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốchội, Ban của Quốc hội hay Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… Các kiếnnghị này không có giá trị bắt buộc thi hành nhưng sẽ tác động tới hành vicủa đối tượng bị giám sát

Việc xác định chủ thể tiến hành giám sát và đối tượng bị giám sát là cần

Trang 11

thiết nhằm làm rõ hoạt động giám sát với hoạt động có tính chất gần tương tự

là kiểm tra, xem xét, theo dõi Theo đó, giám sát là hoạt động được thực hiệnbởi chủ thể nằm bên ngoài tổ chức, hệ thống Tức là cá nhân, tổ chức, cơ quannày giám sát cá nhân, tổ chức, cơ quan khác trong việc thực hiện nhiệm vụcủa nó Khi phân biệt hoạt động giám sát với thanh tra, TS Đặng Đình Tân và

nhóm tác giả cũng đưa ra quan điểm tương tự “Giám sát là một hoạt động

kiểm soát quyền lực nhưng là sự kiểm soát từ bên ngoài đối với các nhánh quyền lực Nhà nước” Theo đó, hoạt động theo dõi, kiểm tra chỉ có thể coi là

hoạt động giám sát nếu chủ thể và đối tượng giám sát nằm trong hai hệ thốngđộc lập (một cách tương đối) với nhau

Như vậy, giám sát là sự theo dõi, quan sát, kiểm tra hoạt động của chủ

thể có quyền đối với chủ thể khác để biết được đối tượng bị giám sát có thực thi đúng, đủ theo quy định hay không và quy định về hành vi đối tượng giám sát phải và được làm có phù hợp với điều kiện thực tiễn hay không và làm rõ được nguyên nhân của sự vi phạm, sự không phù hợp này.

Theo khái niệm này thì một trong những căn cứ quan trọng để xác địnhđối tượng giám sát của HĐND là có mối quan hệ mang tính quyền lực giữaHĐND và đối tượng bị giám sát Đối tượng bị giám sát phải chịu trách nhiệmtrước HĐND, HĐND có quyền tác động trực tiếp tới đối tượng bị giám sát

Theo Từ điển luật học thì giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tínhchủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháptích cực, để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúngquỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được thực hiện từtrước, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh

Giám sát có những hình thức mang tính kỹ thuật, là sự quan sát, theodõi quy trình, quy phạm trong quá trình sản xuất hay trong đầu tư xây dựng,quản lý môi trường… theo những tiêu chuẩn và quy phạm kỹ thuật nghiêm

Trang 12

ngặt Nhưng cũng có hình thức giám sát mang tính chất kinh tế - chính trị - xãhội - pháp luật, là sự quan sát, theo dõi về việc thực hiện các chế độ chínhsách, pháp luật của Nhà nước Các hình thức giám sát trên có quan hệ mậtthiết với nhau nhằm phục vụ cho các mục tiêu phát triển.

1.1.1.2 Khái niệm giám sát của HĐND

HĐND nước ta là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, có nhiệm

vụ ban hành các nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnhHiến pháp và pháp luật ở địa phương; quyết định những vấn đề quan trọng ởđịa phương như kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, về ngân sách, quốcphòng, an ninh ở địa phương và các biện pháp nhằm ổ định và nâng cao đờisống của người dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao, làm tròn nghĩa

vụ với Nhà nước; thực hiện quyền giám sát đối với các cơ quan Nhà nước ởđịa phương.Giám sát là một trong những nhiệm vụ hiến định của HĐND

Giám sát của HĐND là thực hiện sự ủy quyền của nhân dân để giám sáthoạt động của bộ máy Nhà nước, là một hình thức thực hiện quyền giám sátcủa nhân dân được thực hiện bằng pháp luật, thông qua cơ quan quyền lựcNhà nước là HĐND các cấp

Từ các khái niệm chung về giám sát trên, căn cứ đối tượng giám sát củaHĐND, có thể hiểu khái niệm giám sát của HĐND như sau:

Giám sát của HĐND là hoạt động có mục đích, thường xuyên, liên tục của HĐND nhằm quan sát, theo dõi, kiểm tra, phát hiện, uốn nắn việc tuân theo pháp luật, chấp hành Nghị quyết HĐND đối với Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp, của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân địa phương theo quy định của pháp luật.

Như vậy, giám sát của HĐND thực chất là hoạt động nhằm kiểm soátthực thi quyền lực Nhà nước Giám sát chứa đựng những yếu tố thuộc tính

Trang 13

của công tác kiểm tra, kiểm soát và thanh tra Trong quá trình giám sát, chủthể giám sát có quyền tiếp cận mọi đối tượng, mọi văn bản, hồ sơ theo yêucầu giám sát.

1.1.1.3 Khái niệm giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

Căn cứ vào khái niệm giám sát nói chung và các quy định của Hiếnpháp, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và các văn bản pháp luậtkhác, giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

có thể được hiểu như sau: giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ

quan tiến hành TTHS là tổng thể các hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND và Đại biểu HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS trong việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, từ đó đưa ra các kết luận và kiến nghị về các giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế, phát huy những mặt ưu điểm trong quá trình hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS.

1.1.2 Vai trò giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

Giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hànhTTHS được thực hiện thông qua nhiều phương thức hoạt động của HĐNDnhư xem xét báo cáo công tác, xem xét việc trả lời chất vấn, xem xét văn bảnquy phạm pháp luật, thành lập Đoàn giám sát trong đó xem xét báo cáocông tác thường được coi là phương thức phổ biến và có hiệu quả nhất củahoạt động giám sát

Luật Tổ chức và Quy chế hoạt động của HĐND đã quy định khá cụthể về quyền hạn của các chủ thể tiến hành giám sát và nghĩa vụ của các cơquan, đơn vị có liên quan trong việc đáp ứng các yêu cầu giám sát củaHĐND; về chương trình giám sát và phân công, điều hòa phối hợp hoạt

Trang 14

động giám sát; về trình tự thủ tục các bước công việc cần tiến hành, nhữngyêu cầu đối với hoạt động giám sát, trách nhiệm theo dõi kết quả thực hiệnkiến nghị sau giám sát…

Hoạt động giám sát có liên quan chặt chẽ đến việc thực hiện chức năngquyết định của HĐND, không những cung cấp thêm thông tin để HĐND cânnhắc khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, mà còn là mộtbiện pháp để thúc đẩy việc thực hiện nghị quyết của HĐND và đánh giá tínhphù hợp, khả thi của nghị quyết trong thực tế

Qua giám sát công tác giám sát giúp cho HĐND có thể phát hiện kịpthời những hành vi vi phạm pháp luật của những người tiến hành tố tụng tạicác cơ quan tiến hành TTHS Từ đó, HĐND có kết luận về những mặt làmđược, chưa được và đề ra biện pháp chấn chỉnh kịp thời

Mặt khác, từ kết quả giám sát cũng nhằm kịp thời biểu dương nhữngviệc làm tốt; đảm bảo cho pháp luật của Nhà nước được thực hiện đúng đắn

và thống nhất; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, màtrước tiên là hoạt động tiến hành tố tụng của các cơ quan tiến hành TTHS

Chính vì vậy, giám sát có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hoạt độngcủa HĐND, tác động tích cực đến chất lượng hoạt động của HĐND và tìnhhình phát triển của địa phương

1.1.3 Nội dung, đối tượng, hình thức, căn cứ và các nguyên tắc cơ bản

về giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS.

1.1.3.1 Nội dung, đối tượng giám sát

1) Giám sát hoạt động khởi tố, điều tra của cơ quan điều tra thuộc lực lượng cảnh sát nhân dân

Điều tra là giai đoạn TTHS, trong đó cơ quan có thẩm quyền áp dungmọi biện pháp do Bộ luật TTHS quy định để xác định tội phạm và người thựchiện hành vi phạm tội làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án

Trang 15

Hoạt động điều tra là cần thiết đối với tất cả các vụ án hình sự Thiếuhoạt động điều tra, Tòa án không có cơ sở để giải quyết vụ án Tòa án muốn xét

xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì trước đó, giai đoạn điều tra phảithu thập được những chứng cứ cơ bản, bao gồm cả chứng cứ buộc tội và chứng

cứ gỡ tội, chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự của bị can, cũng như xác định các tình tiết khác của vụ án

Việc giám sát của HĐND đối với hoạt động khởi tố - Điều tra vụ ánhình sự của Cơ quan điều tra thể hiện qua các nội dung cơ bản như:

- Giám sát để xác định việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự có đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật hay không; có để lọt tội phạm và người phạmtội cũng như có làm oan cho người vô tội hay không

- Giám sát hoạt động bắt, giam, giữ có đúng pháp luật không; có trườnghợp oan, sai trong bắt, giữ người không

- Giám sát công tác thi hành các bản án hình sự có hiệu luật pháp luậtcủa Tòa án

- Giám sát để từ đó đánh giá thực tiễn hoạt động khởi tố, điều tra đãđáp ứng được yêu cầu góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệpháp chế xã hội chủ nghĩa hay không

2) Giám sát việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát.

Hiện nay, công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, trong đó có cải cách tưpháp đã và đang đặt ra hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn cần tiếp tục đượcnghiên cứu và giải quyết Viện kiểm sát nhân dân, một thiết chế trong hệthống quyền lực nhà nước cần được đổi mới theo yêu cầu của cải cách tưpháp Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiếnlược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã xác định rõ: “Trước mắt, Viện kiểmsát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố

Trang 16

và kiểm sát hoạt động tư pháp, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạtđộng điều tra”.

Ở Việt Nam, cụm từ “thực hành quyền công tố” lần đầu tiên xuất hiệntrong các văn bản pháp lý là Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến chức năngcủa VKSND tại Điều 138, và được nhắc lại ở các Điều 1 và 3 Luật tổ chứcVKSND năm 1981 Kể từ đó, đã có nhiều tài liệu, bài viết bàn về quyền công

tố và thực hành quyền công tố, nhất là từ khi nước ta tiến hành công cuộc cảicách tư pháp

Khái niệm “thực hành quyền công tố” cũng như nội dung, phạm vi của

nó còn ít được đề cập và chưa rõ ràng Các công trình nghiên cứu trong vàngoài ngành Kiểm sát nhân dân thời gian qua cho thấy, khi đề cập đến thựchành quyền công tố thì hoặc mới chỉ đưa ra được một số biện pháp pháp lý đểnâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hình sự như: kiểm sát điềutra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát thi hành án…; hoặc gắn việc thực hànhquyền công tố với việc thực hiện những nhiệm vụ khác của Công tố viêntrong TTHS; hoặc lại mở rộng phạm vi quyền công tố được thực hiện trongmọi giai đoạn TTHS bao gồm cả điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Hoặcchỉ nêu ra một số biện pháp pháp lý như: lập cáo trạng và luận tội trước phiêntoà sơ thẩm hình sự và coi đó là thực hành quyền công tố, thậm chí còn chorằng, thực hành quyền công tố chỉ là sự buộc tội trước phiên toà sơ thẩm

Xuất phát từ quan niệm quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nướcthực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, nênthực hành quyền công tố chính là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theoquy định của pháp luật TTHS để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạmtội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó Tuyvậy, xuất phát từ những quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố

đã được pháp luật quy định, việc sử dụng những quyền năng này để thực

Trang 17

hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với kẻ phạm tội chính là thực

hành quyền công tố Do vậy, thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng

hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.

Với mục tiêu mọi tội phạm xảy ra đều phải được phát hiện và xử lýtheo pháp luật của TTHS, nên về mặt nguyên tắc, cứ có tội phạm xảy ra là đòihỏi quyền công tố phải được phát động Khi quyền công tố được phát động thìđồng nghĩa với hoạt động thực hành quyền công tố được triển khai và khiquyền công tố không còn thì hoạt động thực hành quyền công tố cũng đượckết thúc Vì vậy, phạm vi thực hành quyền công tố được bắt đầu từ khi khởi tố

vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị khángnghị, hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS

Để buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, pháp luật đãquy định hàng loạt các hoạt động tố tụng, như: khởi tố vụ án, khởi tố bị can,tiến hành điều tra thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người

đã thực hiện hành vi phạm tội, buộc tội đối với bị can, bị cáo và bảo vệ quanđiểm truy tố Việc sử dụng các quyền năng pháp lý để thực hiện các hoạt động

tố tụng này chính là nội dung của thực hành quyền công tố

Nội dung giám sát của HĐND đối với hoạt động của VKS biểu hiệntrên các phương diện sau đây:

a) Giám sát các hoạt động thuộc về quyền công tố:

- Trong giai đoạn khởi tố - điều tra: HĐND cần kiểm tra xem xét đểlàm rõ: Viện kiểm sát có chủ động tham gia phối hợp với Cơ quan điều tratrong nắm bắt, xử lý tin báo, tố giác tội phạm hay không; việc áp dụng phápluật trong giai đoạn này của Viện kiểm sát có đúng pháp luật hay không.Việcđánh giá các tài liệu vụ án do Cơ quan điều tra chuyển đến có khách quan,

Trang 18

toàn diện không; việc trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra điều tra bổ sung có đúngquy định không; việc truy tố bị can ra xét xử tại Tòa án có đảm bảo các căn cứtheo quy định của pháp luật không, có đúng người, đúng tội không; có để lọttội phạm và người phạm tội không.

- Trong giai đoạn xét xử: Việc đọc cáo trạng, thực hiện luận tội bị cáotại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm có thể hiện đúng chức năng, vaitrò không; việc phát biểu quan điểm giải quyết vụ án tại các phiên tòa phúcthẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm như thế nào; kháng nghị các quyết định, bản

án của Tòa án có đúng quy trình hay không

b) Giám sát việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp:

- Kiểm sát hoạt động khởi tố - điều tra vụ án hình sự: Việc thực hiện vaitrò của Viện kiểm sát như thế nào khi phát hiện quyết định khởi tố vụ án của

Cơ quan điều tra không có căn cứ; việc kiểm sát hoạt động khởi tố - điều tracủa Cơ quan điều tra có đúng thực chất hay chỉ chung chung; khi đưa ra cácyêu cầu đối với Cơ quan điều tra có phù hợp thực tế và các quy định của phápluật không

- Kiểm sát hoạt động xét xử của TAND: Việc kiểm sát tuân theo phápluật trong hoạt động xét xử của TAND, trong tham gia tố tụng của nhữngngười tham gia tố tụng thực hiện như thế nào; việc kháng nghị đối với bản áncủa Tòa án có đảm bảo đúng trình tự, nội dung không, có phản ánh đúng thựcchất vấn đề không

Qua công tác giám sát nhằm đánh giá những mặt làm được và chưađược đối với hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát, từ đó đềxuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động trong thời gian tới

3) Giám sát hoạt động xét xử của cơ quan Tòa án

Trong hệ thống các cơ quan tư pháp Việt Nam, Toà án được xác định làkhâu trung tâm và việc nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án được

Trang 19

coi là khâu đột phá của quá trình cải cách tư pháp Trong thời gian qua, cácToà án đã có nhiều cố gắng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mìnhtheo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 "Về một số nhiệm

vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" (gọi tắt là Nghị quyết số08-NQ/TW) là: Khi xét xử phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳngtrước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm nhândân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Toà án phải căn

cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ,toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo,

để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trongthời hạn pháp luật quy định Chất lượng hoạt động tư pháp nói chung và hoạtđộng xét xử nói riêng đã “được nâng lên một bước, góp phần giữ vững anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triểnkinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Nội dung giám sát hoạt động xét xử vụ án hình sự của TAND nhằm tậptrung làm rõ những vấn đề cơ bản như:

- Công tác chuẩn bị các điều kiện để đưa vụ án ra xét xử có được cơquan Tòa án quan tâm như thế nào

- Tại phiên tòa, việc tranh tụng có được thực hiện đúng theo quy địnhcủa pháp luật không, có đúng với tinh thần cải cách tư pháp hay không

- Việc áp dụng các quy định của pháp luật để đưa ra các bản án có đảmbảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật không

- Về tiến độ cũng như chất lượng giải quyết án qua các năm như thế nào

Trang 20

Theo quy định của pháp luật hiện hành, ít nhất mỗi năm hai lần vào kỳhọp giữa năm và cuối năm, thủ trưởng các cơ quan như TAND, VKSND phảibáo cáo công tác trước HĐND Các báo cáo của hai cơ quan này được gửitrước cho Thường trực, các Ban HĐND và Đại biểu HĐND trước khi khaimạc kỳ họp HĐND để nghiên cứu, xem xét Trên cơ sở nội dung các báo cáo

và quá trình nghiên cứu, các Đại biểu HĐND có thể nêu ý kiến và đề nghịTAND và VKSND báo cáo, giải trình thêm HĐND cũng có quyền yêu cầuChánh án TAND và Viện trưởng VKSND báo cáo về những vấn đề khác khixét thấy cần thiết (điều 52 Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005)

Xem xét báo cáo công tác của Chánh án TAND và Viện trưởngVKSND theo quy định của pháp luật là hình thức giám sát rất quan trọng củaHĐND Vì thực hiện hình thức giám sát này, HĐND xem xét, đánh giá nộidung báo cáo công tác của các cơ quan nói trên, thông qua đó khẳng địnhnhững ưu điểm, phân tích các khuyết điểm, yếu kém, những vi phạm phápluật (nếu có), xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan của những yếukém, trì trệ, những vi phạm pháp luật trong hoạt động và trong trường hợp cầnthiết HĐND áp dụng các biện pháp pháp lý thuộc phạm vi thẩm quyền củaHĐND theo quy định của pháp luật

Theo quy định của Điều 60 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003

thì các báo cáo công tác của Toà án nhân dân, VKSND phải được các Ban của

HĐND thẩm tra theo sự phân công của Thường trực HĐND

Luật cũng quy định trình tự xem xét các báo cáo của các cơ quan nóitrên tại kỳ họp HĐND như sau:

- Người đứng đầu cơ quan nói trên trình bày báo cáo;

- Trưởng Ban của HĐND trình bày báo cáo thẩm tra;

- HĐND thảo luận;

- Người đứng đầu cơ quan trình báo cáo có thể trình bày thêm nhữngvấn đề có liên quan mà HĐND quan tâm;

Trang 21

- HĐND ra nghị quyết về báo cáo công tác của những cơ quan này khi

xét thấy cần thiết (điều 60 của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003)

b) Giám sát thông qua hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn.

Đây là hình thức giám sát đặc biệt quan trọng của HĐND các cấp Vìchất vấn của Đại biểu HĐND là yêu cầu của Đại biểu với tư cách là người đạidiện có thẩm quyền của nhân dân đối với cơ quan hoặc người bị chất vấn theoquy định của pháp luật, buộc họ phải giải thích trước cơ quan quyền lực Nhànước về những khuyết điểm trong hoạt động, công tác của cơ quan mà mìnhlãnh đạo hay người đứng đầu phải trả lời rõ nguyên nhân và biện pháp khắcphục các khuyết điểm đó

Pháp luật hiện hành quy định tương đối cụ thể về đối tượng thuộcquyền chất vấn của Đại biểu HĐND, về thủ tục chất vấn và trả lời chất vấncủa Đại biểu HĐND

Về đối tượng thuộc quyền chất vấn của đại biểu HĐND:

Theo quy định của Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001) và Luật tổ chứcHĐND và UBND năm 2003, Đại biểu HĐND có quyền chất vấn Chánh án Toà

án nhân dân, Viện trưởng VKSND (điều 122 Hiến pháp 1992, điều 41 Luật tổchức HĐND và UBND năm 2003) Đây là những người đứng đầu các cơ quan

tư pháp trên địa bàn

2) Thành lập Đoàn giám sát trực tiếp theo chuyên đề, theo bản án, vụ việc

cụ thể

Theo quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và Quychế hoạt động của HĐND năm 2005, căn cứ vào chương trình giám sát củaHĐND hoặc khi xét thấy cần thiết, Thường trực HĐND tự mình hoặc theo đềnghị của các Ban HĐND hoặc của Đại biểu HĐND trình HĐND quyết địnhthành lập Đoàn giám sát của HĐND đối với các cơ quan tiến hành TTHS theophân cấp thẩm quyền

Trang 22

Những vấn đề qua giám sát, kiểm tra được các cơ quan này giải trình

rõ, sẽ là yếu tố quan trọng giúp cho việc thẩm tra, thuyết trình, thảo luận vàquyết định các vấn đề tại kỳ họp có chất lượng; đồng thời giúp cho chính cácngành này chỉ đạo thực hiện và tổ chức tốt hơn các vấn đề thuộc thẩm quyền

Đoàn giám sát có quyền mời đại diện Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận

tổ quốc Việt Nam cùng cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận và yêu cầuđại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan, các chuyên gia về lĩnhvực được giám sát tham gia Đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết

3) Giám sát thông qua hoạt động của Đại biểu HĐND, Tổ Đại biểu HĐND.

Đại biểu HĐND tham gia trực tiếp vào hoạt động giám sát của HĐNDtại các kỳ họp của HĐND hoặc hoạt động giám sát của Thường trực và cácBan HĐND Trong các hình thức giám sát chung của HĐND như đã trình bày,thì Đại biểu HĐND chú trọng các hoạt động giám sát độc lập thông qua việctiếp xúc cử tri, theo dõi việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và giám sátthông qua các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương và qua các kênhthông tin khác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Đại biểu đối với các cơquan tiến hành tố tung hình sự

1.1.3.3 Căn cứ giám sát

1) Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003

Theo quy định của Hiến pháp và tại Điều 1 Luật tổ chức HĐND vàUBND năm 2003 thì “HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương,đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dânđịa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quanNhà nước cấp trên” Quy định này xác định rõ vị trí pháp lý và địa vị pháp lýcủa HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đồng thời là cơ quanđại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương

Trang 23

Với tư cách là cơ quan quyền lực Nhà nước và cơ quan đại diện củanhân dân ở địa phương, HĐND thay mặt cho nhân dân địa phương, cho cử tri

đã bầu ra mình để quyết định các vấn đề quan trong của địa phương và giámsát việc thi hành những quyết định đó Điều đó cũng có nghĩa là hoạt độnggiám sát của HĐND là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước vàquyền lực của HĐND trong lĩnh vực giám sát là quyền lực của nhân dân địaphương trao cho những Đại biểu của mình, thay mặt cho nhân dân địa phươngthực hiện quyền dân chủ theo quy định của pháp luật

Từ sự phân tích trên, có thể xác định quyền giám sát của HĐND là một

bộ phận cấu thành không thể tách rời của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địaphương, là quyền lực mà nhân dân địa phương trao cho cơ quan đại diện củamình theo một trình tự, thủ tục được pháp luật quy định, thực hiện để chăm lo

và bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của nhân dân địa phương Đóchính là bản chất quyền giám sát của HĐND

Giám sát của HĐND là quyền của HĐND thực hiện việc theo dõi, xemxét và đánh giá hoạt động của thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSNDcùng cấp; các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũtrang nhân dân và công dân địa phương trong việc thực hiện các nghị quyếtcủa HĐND và việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật

2) Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005.

Tại các điều từ điều 51 đến điều 66, chương 6, Quy chế hoạt động củaHĐND được ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11,ngày 02 tháng 5 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa XI, theo đó

là các quy định về nhiệm vụ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hànhchương trình giám sát hàng năm của HĐND, của Thường trực HĐND và cácBan HĐND; thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành giám sát của Thường trựcHĐND, các Ban HĐND và các Đại biểu HĐND đối với UBND, TAND,

Trang 24

VKSND cùng cấp; các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội,đơn vị vũ trang nhân dân và công dân địa phương trong việc thực hiện cácnghị quyết của HĐND và việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật.

3) Nghị quyết về chương trình giám sát hàng năm của HĐND

Theo quy định tại điều 51, Quy chế hoạt động của HĐND thì HĐNDquyết định chương trình giám sát hàng năm của HĐND Chậm nhất là haimươi lăm ngày trước ngày khai mạc kỳ họp cuối năm của HĐND, Thườngtrực HĐND tập hợp đề nghị của các Ban HĐND, Đại biểu HĐND, BanThường trực Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cùng cấp và kiến nghị của cửtri ở địa phương về nội dung giám sát của HĐND

Thường trực HĐND tự mình hoặc trên cơ sở đề nghị của các tổ chức cánhân nêu trên lập dự kiến nội dung, chương trình giám sát của HĐND nămsau trình HĐND xem xét, quyết định tại kỳ họp cuối năm

Sau khi nghe đại diện Thường trực HĐND thông qua tờ trình về dựkiến nội dung, chương trình giám sát và ý kiến phát biểu của các Ban, HĐNDthảo luận và biểu quyết thông qua chương trình giám sát của HĐND

Trên cơ sở chương trình này, Thường trực HĐND, các Ban HĐND xâydựng chương trình giám sát hàng quí và triển khai công tác giám sát đến đốitượng có liên quan

4) Các yêu cầu, khiếu nại của tổ chức, cá nhân

Ngoài nội dung, chương trình giám sát hàng năm, hàng quí, trong quátrình thực tiễn công tác xét thấy cần thiết hoặc khi có đơn yêu cầu khiếu nạibức xúc của các tổ chức, cá nhân thì Thường trực HĐND, các Ban HĐND cóthể thành lập đoàn khảo sát hoặc giám sát Qua để nắm bắt thông tin trungthực, khách quan về quá trình chỉ đạo, điều hành của các cơ quan Nhà nước ởđịa phương để đối chiếu là cơ sở đưa ra các kết luận và kiến nghị giải quyếtđúng quy định của pháp luật

Trang 25

1.1.3.4 Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động giám sát của HĐND 1) Giám sát phải được tiến hành thường xuyên, liên tục

Hoạt động của các cơ quan, tổ chức là đối tượng chịu sự giám sát củaHĐND diễn ra hàng ngày, hàng giờ, do đó HĐND phải thực hiện việc theodõi, xem xét, đánh giá thường xuyên đối với hoạt động của những cơ quan, tổchức thuộc phạm vi giám sát của mình Tuy nhiên việc giám sát dứt khoátkhông được cản trở hoạt động bình thường của các đối tượng chịu sự giámsát,đảm bảo cho các cơ quan này vẫn giữ được tính độc lập và chủ động trongquá trình thực hiện nhiệm vụ của mình

Để bảo đảm được hai yêu cầu trên, HĐND phải có chương trình, kếhoạch giám sát hàng năm có tính khả thi và hợp lý Kế hoạch này phải đượcthông báo cho các cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát biết trước và cố gắnglắng nghe ý kiến của họ để sắp xếp chương trình sao cho hợp lý, không trùnghoặc chồng chéo với hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan,

tổ chức khác

Ngoài ra HĐND còn phải áp dụng chế độ báo cáo với những hình thứcthích hợp để cập nhật thông tin cần thiết về hoạt động của các cơ quan, tổchức chịu sự giám sát nhưng không làm mất nhiều thời gian và gây phiền hà,cản trở công việc bình thường của đối tượng giám sát

2) Giám sát phải được thực hiện theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật

Tuân thủ pháp luật trong hoạt động giám sát phải cả về thẩm quyềngiám sát, hình thức giám sát, nội dung giám sát và trình tự thực hiện quyềngiám sát Phải phản ảnh đúng và chân thực thực tiễn khách quan hoạt độngcủa các cơ quan chịu sự giám sát và chịu trách nhiệm pháp lý về kết quả giámsát trước Nhà nước và nhân dân

Những kết luận của hoạt động giám sát có tác động trực tiếp, mạnh mẽ

Trang 26

và sâu sắc tới từng cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát, nên những kếtluận của hoạt động giám sát phải có tính chính xác và có đầy đủ các căn cứvững chắc Chính vì vậy mà hoạt động giám sát phải được quy định chặt chẽ

để đảm bảo được tính khách quan trong suốt quá trình thực hiện những hoạtđộng giám sát, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của những cơ quanchịu sự giám sát

Để đảm bảo những yêu cầu trên, về phía HĐND phải tuân thủ đúng vàđầy đủ những quy định của pháp luật trong suốt quá trình thực hiện hoạt độnggiám sát kể cả nội dung cũng như trình tự, cách thức thực hiện Những kếtluận của HĐND về tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm phápluật hoặc những hoạt động cụ thể của những cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu

sự giám sát của HĐND phải có đầy đủ các căn cứ pháp lý, căn cứ thực tiễn vàphải được thông báo đầy đủ cho các đối tượng chịu sự giám sát biết Trongtrường hợp các đối tượng chịu sự giám sát không nhất trí với những kết luậngiám sát cần có những hình thức phù hợp để các đối tượng có cơ hội trình bàylại những ý kiến của họ, tự bảo vệ những ý kiến trước HĐND một cách côngkhai, dân chủ Tuy nhiên ý kiến kết luận của HĐND vẫn là ý kiến cuối cùng

và HĐND phải chịu trách nhiệm về những kết luận của mình

3) Hoạt động giám sát phải đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng chịu sự giám sát phải được phát hiện chính xác và kịp thời

Đây là yêu cầu quan trọng của hoạt động giám sát Nhiệm vụ chính của

cơ quan thực hiện hoạt động giám sát là phát hiện ra một cách kịp thời và đầy

đủ căn cứ pháp lý những văn bản và hoạt động cụ thể của các cá nhân, cơquan, tổ chức chịu sự giám sát có vi phạm pháp luật, đưa ra những kiến nghị

có sức thuyết phục để các cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát sửachữa Cơ quan thực hiện hoạt động giám sát không làm thay công việc củanhững cơ quan chức năng Nhà nước

Trang 27

4) Hoạt động giám sát phải được tiến hành công khai

Để đảm bảo tính dân chủ, khách quan trong quá trình thực hiện hoạtđộng giám sát, thì hoạt động giám sát phải được tiến hành công khai theo mộtchương trình, kế hoạch đã được thông báo trước, trừ những trường hợp cónhững nhiệm vụ chính trị đột xuất hoặc vì lý do phải bảo vệ bí mật quốc giatheo quy định của pháp luật

Mặt khác, hoạt động giám sát của HĐND cần có sự giám sát của cử tri.Đây là cơ sở chính trị quan trọng, là hậu thuẫn, hỗ trợ cho hoạt động giám sátcủa HĐND nhưng đồng thời cũng là giám sát của xã hội, mang quyền lực xãhội, quyền lực của công luận đối với hoạt động giám sát của HĐND

5) Hoạt động giám sát phải đảm bảo tính hiệu quả

Hoạt động giám sát không chỉ dừng ở việc xác định ưu điểm,hạn chếtrong hoạt động của đối tượng bị giám sát mà quan trọng hơn phải đặt ra cácyêu cầu và kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu, bảo đảm kết luận của mìnhphải có giá trị và hiệu lực Nguyên tắc hiệu quả cũng đòi hỏi có sự phối hợphợp lý với hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm sát, giám sát của các cơ quanNhà nước và của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội khác nhằmtránh sự mâu thuẫn, chồng chéo hoạt động giữa các cơ quan này với nhau gâycản trở cho hoạt động bình thường của cơ quan chịu sự giám sát, đảm bảo vớichi phí nhỏ nhất nhưng đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động giám sát

1.2 Hậu quả của hoạt động giám sát

1.2.1 Kết luận giám sát và kiến nghị đến cơ quan được giám sát về việc thi hành kết luận giám sát

Báo cáo kết quả giám sát là sản phẩm chủ yếu của hoạt động giám sát,trong đó thể hiện những nhận định, đánh giá của Đoàn giám sát về việc chấphành pháp luật, thực hiện Nghị quyết của HĐND, những vấn đề bức xúc của

cử tri và HĐND quan tâm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát,

Trang 28

việc làm được, việc chưa làm được, hạn chế, khó khăn, vi phạm pháp luật

và quan trọng nhất là các kiến nghị thông qua hoạt động giám sát Có thể nóihiệu quả của toàn bộ hoạt động giám sát phụ thuộc vào nội dung và việc tiếpthu, thực hiện các kiến nghị của các đối tượng được giám sát

1.2.2 Kiến nghị đến cơ quan cấp trên của cơ quan được giám sát về một số vấn đề có liên quan

Trong quá trình giám sát, HĐND phát hiện những vấn đề hạn chế bấtcập mà với vai trò của HĐND không thể đề nghị đơn vị được giám sát tự khắcphục, sửa chữa được, cụ thể như các vấn đề có sai sót lớn cần phải xử lý vềmặt tổ chức, cán bộ; việc áp dụng các chủ trương của trên không xác hợp vớitình hình thực tế ở địa phương, cần phải kiến nghị sửa đổi, bổ sung

Chính vì vậy, giải pháp tối ưu là HĐND kiến nghị đến cấp trên của cơquan đang được giám sát, để từ đó cơ quan cấp trên đưa ra các biện pháp giảiquyết, xử lý đúng thẩm quyền và mang lại hiệu quả cao nhất

Tuy nhiên, việc kiến nghị này lại không có cơ sở pháp lý ràng buộc là

cơ quan cấp trên của cơ quan được giám sát phải trả lời Do vậy hiệu quả củacuộc giám sát sẽ không đạt nếu như không nhận được sự hợp tác tốt từ cơquan cấp trên của cơ quan được giám sát

1.3 Hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS qua các thời kỳ lịch sử ở Việt Nam

1.3.1 Theo quy định của Hiến pháp năm 1959

Theo quy định của Hiến pháp 1959 không ghi nhận trực tiếp quyềngiám sát của HĐND đối với cơ quan Tòa án nhưng với nội hàm quy định tại

một số điều luật như: “đồng nhân dân bầu ra Uỷ ban hành chính và có quyền

bãi miễn các thành viên của Uỷ ban hành chính HĐND bầu và bãi miễn Chánh án Toà án nhân dân cấp mình” (Điều 84); “Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc

Trang 29

hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường

vụ Quốc hội Các Toà án nhân dân địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND địa phương” (Điều 104).

Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 1959, Luật tổ chức HĐND và

Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 đã ghi nhận: “HĐND các cấp bầu ra

Uỷ ban hành chính và Toà án nhân dân cấp mình và có quyền bãi miễn những thành viên của các cơ quan ấy” (Điều 14).

Thông qua các hoạt động như bầu và bãi miễn Chánh án Tòa án vàđồng thời Chánh án Tòa án chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trướcHĐND, đây là một trong các hình thức giám sát rất quan trọng của HĐND đốivới hoạt động của cơ quan Tòa án đã dược hiến định

Đối với VKSND các cấp thì Hiến pháp 1959 cũng như Luật tổ chứcHĐND và Ủy ban hành chính các cấp năm 1962 chưa ghi nhận quyền giám

sát của HĐND Theo quy định thì “chỉ chịu sự lãnh đạo của VKSND cấp trên

và sự lãnh đạo thống nhất của VKSND tối cao” (Điều 107, Hiến pháp 1959).

1.3.2 Theo quy định của Hiến pháp 1980

Theo quy định tại khoản 9, Điều 115 và Điều 136 của Hiến pháp 1980thì quyền giám sát của HĐND đối với TAND không có gì thay đổi so với quyđịnh tại Hiến pháp 1959

Ngoài ra, tại khoản 1, Điều 15 của Luật tổ chức HĐND và UBND năm

1983 vẫn ghi nhận việc bầu và bãi miễn các thành viên của Toà án nhân dâncùng cấp, theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, tại khoản 3, Điều 16 có xác

định: “Giám sát công tác của UBND, sửa đổi hoặc bãi bỏ những quyết định

không thích đáng của UBND cùng cấp Giám sát công tác của Toà án nhân dân cùng cấp” Đây là lần đầu tiên trong luật Tổ chức HĐND và UBND

chính thức ghi nhận vai trò giám sát của HĐND đối với cơ quan TAND

Đối với Viện kiểm sát vẫn chưa được pháp luật ghi nhận là phải chịu sựgiám sát của Hội đồng nhân các cấp

Trang 30

1.4 Pháp luật hiện hành về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

1.4.1 Quy định của Hiến pháp về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

Tại điều 119, Hiến pháp 1992 quy định “HĐND là cơ quan quyền lực

Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên” Từ sơ sở này cho thấy bản

chất về quyền lực của HĐND cũng như trách nhiệm trước nhân dân địaphương về việc thực hiện quyền đó Mặt khác, Đại biểu HĐND có quyền chấtvấn Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và các thành viên khác của UBND, Chánh ánToà án nhân dân, Viện trưởng VKSND và thủ trưởng các cơ quan thuộcUBND Người bị chất vấn phải trả lời trước HĐND trong thời hạn do luậtđịnh (điều 122, Hiếp pháp 1992)

Ngoài ra, tại các điều 135 và 140 của Hiến pháp 1992 còn quy địnhChánh án Toà án nhân dân và Viện trưởng VKSND địa phương chịu tráchnhiệm và báo cáo công tác trước HĐND

Từ các quy định nêu trên của Hiến pháp 1992, là cơ sở pháp lý cao nhất

về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND trong việc giám sát hoạt động của các cơquan tiến hành TTHS

1.4.2 Quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 quy định: “HĐND thực hiện

quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Toà án nhân dân, VKSND cùng cấp; giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương (điều 1 Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003).

Trang 31

Ngoài ra, tại Chương III, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003

đã quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi giám sát của HĐND Quy định này đã đáp ứng về cơ bản các yêu cầu về công tác giám sát của HĐND.

Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đề cao vai trò của Thườngtrực HĐND các cấp là cần thiết, đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn Là cơ sởpháp lý quan trọng để thông qua Thường trực, HĐND thực hiện quyền giámsát thường xuyên của mình đối với Toà án nhân dân và VKSND cùng cấpđảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghịquyết của HĐND được thực hiện một cách nghiêm túc và có hiệu quả

Theo quy định tại điều 58, HĐND giám sát hoạt động của các cơ quantiến hành TTHS thông qua các hoạt động như xem xét báo cáo công tác củaToà án nhân dân, VKSND cùng cấp; xem xét việc trả lời chất vấn của Việntrưởng VKSND, Chánh án Toà án nhân dân cùng cấp; thành lập Đoàn giámsát khi xét thấy cần thiết

1.4.3 Quy định của Luật TTHS về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

Theo quy định tại điều 32, Bộ luật TTHS năm 2003 thì: “Cơ quan Nhà

nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành

tố tụng, người tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Nếu phát hiện những hành vi trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thì cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử có quyền yêu cầu, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quy định của Bộ luật này Cơ quan tiến hành

Trang 32

tố tụng có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu

đó theo quy định của pháp luật”.

1.4.4 Các quy định khác về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

Giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hànhTTHS cũng được quy định tại các điều từ Điều 51 đến Điều 66, chương VI,Quy chế hoạt động của HĐND được ban hành kèm theo Nghị quyết số753/2005/NQ-UBTVQH11, ngày 02 tháng 5 năm 2005 của Ủy ban Thường

vụ Quốc Hội khóa XI Các điều khoản này quy định về nhiệm vụ, quyền hạn,trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành chương trình giám sát hàng năm, hàngquí của HĐND, của Thường trực HĐND và các Ban HĐND; thẩm quyền,trình tự, thủ tục tiến hành giám sát của Thường trực HĐND, các Ban HĐND

và các Đại biểu HĐND đối với UBND, TAND và VKSND cùng cấp; các cơquan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân vàcông dân địa phương trong việc thực hiện các nghị quyết của HĐND và việctuân theo Hiến pháp và pháp luật

Như vậy, giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiếnhành tố tụng đã được Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác quy định mộtcách hệ thống về quy trình, thủ tục, nhiệm vụ, hình thức, đối tượng và nộidung giám sát

Cơ quan tiến hành tố tụng là đối tượng giám sát gồm cơ quan điều tra,VKSND, TAND

Hoạt động TTHS bị giám sát bao gồm hoạt động điều tra, truy tố, xét

xử các vụ án hình sự, công tác thi hành án hình sự

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG

NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN

TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ TẠI TỈNH CÀ MAU

2.1 Tình hình chung về thực tiễn giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS ở tỉnh Cà Mau

2.1.1 Giám sát của HĐND tỉnh đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

2.1.1.1 Khái quát về vị trí địa lý và tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Cà Mau

Vị trí địa lý: Cà Mau là tỉnh tận cùng phía Nam của nước Việt Nam,nằm ở 8030’ đến 9033’ vĩ độ Bắc và 104043’ đến 105024 kinh độ Đông Hìnhdạng Cà Mau giống chữ V, có 3 mặt tiếp giáp với biển Phía Bắc giáp tỉnhKiên Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phía Đông và Đông Nam giápvới biển Đông, phía Tây gi áp với vịnh Thái Lan Bờ biển dài 254 km

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.201,5 km2 Ngoài vùng đất liền, CàMau còn có các đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Bương và hòn Đá Bạc, diệntích các đảo xấp xỉ 5 km2

Dân số Cà Mau năm 2011 là 1.216 nghìn người, mật độ 230người/km2 Có 20 dân tộc khác nhau sinh sống trên địa bàn, trong đó ngườiKinh chiếm 97,16%, người Kh’mer chiếm 1,86%, còn lại là người Hoa vàcác dân tộc ít người khác

Địa hình toàn tỉnh thuần nhất là đồng bằng, có nhiều sông rạch Độ caobình quân 0,5m so với mặt nước biển Hàng năm ở vùng mũi Cà mau bồi rabiển trên 50m; bờ biển phía đông từ cửa sông Gành Hào đến vùng cửa sôngRạch Gốc bị xói lở, có nơi mỗi năm trên 20m

Đơn vị hành chính tỉnh Cà Mau gồm 8 huyện và 1 thành phố trực thuộc

Trang 34

tỉnh Thành phố Cà Mau là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh, cáchthành phố Hồ Chí Minh 370 km về hướng Tây Nam.

Khí hậu ở Cà Mau mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cậnxích đạo, chia hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 5đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình26,5 độ C Thời gian nắng trung bình 2.200 giờ/năm Lượng mưa trung bìnhkhoảng 2.360mm Chế độ gió thịnh hành theo mùa Mùa mưa gió thịnh hànhtheo hướng Tây – Nam hoặc Tây Mùa khô gió thịnh hành theo hướng ĐôngBắc và Đông Cà Mau nằm ngoài vùng ảnh hưởng của lũ lụt ở hệ thống sôngCửu Long, đồng thời ít bị ảnh hưởng của bão

2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của HĐND tỉnh Cà Mau

HĐND tỉnh Cà Mau khóa VIII, nhiệm kỳ 2011 – 2016 có tổng số 54Đại biểu Về cơ cấu, HĐND tỉnh gồm đại biểu của các thành phần xã hội,nhưng đa số là cán bộ lãnh đạo từ tỉnh đến huyện

Cơ cấu tổ chức của HĐND tỉnh như sau:

Thường trực HĐND tỉnh có Chủ tịch (do Phó Bí thư thường trực Tỉnh

ủy kiêm nhiệm), Phó Chủ tịch và Ủy viên thường trực HĐND

Các ban của HĐND gồm Ban Kinh tế ngân sách, Ban Văn hóa xã hội, BanPháp chế, Ban Dân tộc Thành phần các Ban có Trưởng ban, hai Phó Trưởng ban

và các thành viên, nhưng chỉ có Trưởng ban là hoạt động chuyên trách

Ngoài ra là bộ phận giúp việc cho Thường trực và các Ban HĐND tỉnh

Từ cơ cấu trên mà việc phân bổ lực lượng đại biểu chuyên trách rất ít,chỉ có sáu đại biểu Chính điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chấtlượng, hiệu quả hoạt động của HĐND nói chung, công tác giám sát nói riêng

2.1.1.3 Vị trí, vai trò, chức năng của HĐND cấp tỉnh

Theo quy định tại Điều 119 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sungnăm 2001) và Điều 1 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì vị trí

Trang 35

và tính chất pháp lý của HĐND được quy định như sau: "HĐND là cơ

quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng

và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên"

Như vậy, HĐND nói chung và HĐND cấp tỉnh nói riêng có 2 tính chất

pháp lý cơ bản: "là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương" và "là cơ

quan đại biểu của nhân dân ở địa phương".

Là cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương, HĐND cấp tỉnh cóchức năng, thẩm quyền và trách nhiệm trong việc quyết định các chủ trương,biện pháp quan trọng nhằm xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở địaphương, trong đó có các biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ởđịa phương; củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vậtchất, tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phươngđối với cả nước

Tính quyền lực Nhà nước còn thể hiện trong phạm vi thẩm quyền đượcgiao, HĐND tỉnh có quyền đơn phương quyết định và quyết định đó có tínhbắt buộc thực hiện đối với mọi cơ quan, tổ chức có liên quan trên địabàn tỉnh Các nghị quyết của HĐND tỉnh ban hành có tính bắt buộc thực hiệnđối với tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh

Cũng do tính quyền lực Nhà nước của HĐND đã được Hiến pháp vàcác văn bản luật xác định nên HĐND tỉnh còn thực hiện chức năng giám sátviệc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và các nghị quyết của HĐND tỉnh đối vớicác cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhândân và mọi cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật,cũng như giám sát hoạt động công tác của Thường trực HĐND, UBND, Toà

án nhân dân, VKSND cùng cấp (điều 120 Hiến pháp 1992, Điều 1 Luật tổchức HĐND và UBND năm 2003)

Trang 36

Là cơ quan đại biểu của nhân dân địa phương, HĐND tỉnh được cử tritrên địa bàn tỉnh bầu ra, trực tiếp đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyềnlàm chủ của nhân dân theo quy định của Hiến pháp 1992 (tại Điều 121) Do

đó, mỗi Đại biểu HĐND tỉnh phải phát huy hiệu quả vai trò, chức năng,nhiệm vụ của mình trong việc đại diện cho tiếng nói của cử tri tham gia vàocác hoạt động quản lý của Nhà nước trên địa bản tỉnh, phải liên hệ chặt chẽvới cử tri, chịu sự giám sát của cử tri và phải có trách nhiệm vận động cử trinơi ứng cử cũng như nhân dân chấp hành và thực hiện tốt các chủ trương,đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của HĐND

2.1.1.4 Thực trạng giám sát của HĐND tỉnh đối với hoạt động của các

cơ quan tiến hành TTHS trong thời gian qua

1) Hoạt động giám sát thông qua các kỳ họp

Kỳ họp HĐND có một vị trí đặc biệt quan trọng Bởi vì, thứ nhất, kỳ họpHĐND là nơi tập trung đầy đủ nhất các Đại biểu đại diện cho cử tri Thứ hai, tại

kỳ họp HĐND thảo luận và ra nghị quyết về các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyềnhạn của mình Thứ ba, căn cứ vào các hình thức thực hiện chức năng giám sát,HĐND chủ yếu thực hiện quyền giám sát của mình tại kỳ họp (quy định tại điều

48, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003) Hiện nay, theo Điều 58 Luật tổchức HĐND và UBND năm 2003 và Điều 15 Quy chế hoạt động của HĐNDnăm 2005, tại kỳ họp, HĐND có những hình thức giám sát sau:

a) Xem xét các báo cáo trình kỳ họp của Viện trưởng VKSND, Chánh

án TAND.

Theo quy định, ít nhất mỗi năm hai lần vào kỳ họp giữa năm và cuốinăm, thủ trưởng các cơ quan như VKSND, TAND phải báo cáo công tác trướcHĐND Trước khi khai mạc kỳ họp bốn mươi ngày, Thường trực HĐND chủtrì cuộc họp chuẩn bị cho kỳ họp chính thức, trong đó có giao nhiệm vụ chuẩn

bị báo cáo đối với VKSND và TAND trình kỳ họp HĐND

Trang 37

Tại mỗi kỳ họp, HĐND xem xét báo cáo của VKSND và TAND vàthường tập trung đánh giá các vấn đề như:

Đối với báo cáo của VKSND:

HĐND tập trung cho ý kiến về đánh giá của VKSND về tình hình tộiphạm, trong đó có nhận xét về mức độ phù hợp thực tế trong số liệu thống

kê của VKS về từng loại tội phạm; đối chiếu với cùng kỳ trước đó cũngnhư ý kiến của Viện kiểm sát về nguyên nhân phát sinh, tăng, giảm đối vớitừng loại tội phạm

HĐND xem xét ý kiến của Viện kiểm sát trong báo cáo về hai lĩnh vựccông tác chính của ngành đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạtđộng tư pháp Ở hai lĩnh vực này, trong 05 năm, từ năm 2008 đến năm 2012,VKSND hai cấp đã thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử 3.110 vụ ántheo thủ tục sơ thẩm, 850 vụ án theo thủ tục phúc thẩm và 75 vụ án theo thủtục giám đốc thẩm

Theo các báo cáo thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND tỉnh qua các kỳhọp thứ 13, 16, 18 (khóa VII, nhiệm kỳ 2004 – 2011) và các kỳ họp thứ 02, 04(khóa VIII, nhiệm kỳ 2011 - 2016) có một số đánh giá chung về việc thựchiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát tỉnh Cà Mau như sau:

Từ thực trạng giám sát thông qua báo cáo, HĐND tỉnh đã đánh giáVKSND hai hai cấp của tỉnh Cà Mau đã có nhiều cố gắng trong việc triểnkhai và thực hiện kế hoạch công tác đã đề ra, đạt được những kết quả cao Sốliệu thực tế qua các năm cho thấy về công tác thực hành quyền công tố, năm

có kết quả thấp nhất là truy tố đạt 92% về số vụ, 89,6% về số bị can; năm cókết quả cao nhất, đã truy tố đạt 99,7% về số vụ, 99,1% về số bị can

Mặt khác đã thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của ngành, phục vụ yêucầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, đáp ứng được yêu cầu cải cách tưpháp trong giai đoạn hiện nay VKSND hai cấp đã nắm được tình hình tội

Trang 38

phạm xảy ra, phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra trong việc xử lý kịp thờitin báo, tố giác tội phạm Việc khởi tố, điều tra, truy tố đều đảm bảo đúngngười, đúng tội, đúng theo quy định của pháp luật; công tác thực hành quyềncông tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa đã có nhiều chuyển biến tích cực, cácKiểm sát viên đã chủ động trong xét hỏi và tranh luận theo tinh thần Nghịquyết 08, 49/NQ – TW của Bộ chính trị.

Việc trả điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đã đượchạn chế, công tác kháng nghị có nhiều chuyển biến tích cực, số lượng khángnghị được chấp nhận chiếm tỷ lệ cao Các vi phạm trong hoạt động điều tra,xét xử, tạm giữ, tạm giam, thi hành án và trong việc giải quyết các vụ việcdân sự đã được Viện kiểm sát phát hiện kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu sửachữa kịp thời Một số vụ án trọng điểm, phức tạp, được dư luận quan tâm đãđược khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử nhanh góp phần tích cực vàoviệc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong tình hình mới

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác của Viện kiểm sát hai cấpcũng còn hạn chế, tồn tại là có trường hợp Viện kiểm sát truy tố nhưng Tòa ánxét xử không phạm tội; công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo còn chậm, tỷ

lệ giải quyết đơn chưa cao; các báo cáo chưa nêu đầy đủ tình hình chấp hànhpháp luật và vi phạm pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chứctrong các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, kể cả các cơ quan bảo vệ phápluật cũng như nguyên nhân một số khó khăn, vướng mắc; những tồn tại, hạnchế mà Ban pháp chế nêu ra trong các lần giám sát việc chấp hành pháp luậtđối với ngành và các báo cáo hàng năm của Ban Pháp chế chậm được Việnkiểm sát tỉnh khắc phục

Những hạn chế này, VKSND tỉnh nhìn nhận và kiểm điểm rút kinhnghiệm, đề ra biện pháp khắc phục trong thời gian tới

Đối với báo cáo của TAND

Trang 39

HĐND cũng thường tập trung đánh giá tình hình xét xử nói chung vàxét xử các vụ án hình sự nói riêng Qua việc đánh giá nhận thấy lãnh đạongành Tòa án tỉnh Cà Mau cũng thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trong việc

tự đánh giá về mức độ hoàn thành nhiệm vụ của lực lượng cán bộ, thẩm phánnhư việc nâng cao chất lượng xét xử án, chất lượng các cuộc tranh tụng tạicác phiên tòa, tỷ lệ án bị hủy, bị sửa

Trong 5 năm, Tòa án hai cấp thụ lý 5.731 vụ án hình sự với 9.794 đốitượng, đã đưa ra giải quyết các hình thức 5.154 vụ án với 8.486 bị cáo, tổngqua 5 năm đạt 89,93%

Qua công tác thẩm tra các báo cáo của Tòa án trình tại các kỳ họp và ýkiến thảo luận của các Đại biểu HĐND tại diễn đàn các kỳ họp, Hội đồngnhân tỉnh đã đánh giá về hoạt động của Tòa án tỉnh Cà Mau

Trong công tác xét xử các vụ án hình sự, ngành Toà án luôn bám sát cácyêu cầu nhiệm vụ chính trị, quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối củaĐảng, áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật để giải quyết; luôn chútrọng đến việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà, đảm bảo chonhững người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền vànghĩa vụ của họ Do vậy, trong 5 năm về cơ bản chất lượng giải quyết, xét xửđược đảm bảo, hạn chế tình trạng xét xử oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm

Tuy nhiên, hoạt động của ngành Tòa án qua các năm vẫn còn bộc lộnhững hạn chế, yếu kém như: Tình trạng vi phạm các quy định về thời hạngiải quyết án; trong công tác xét xử các vụ án của Toà án hai cấp có tỷ lệ vụ

án bị huỷ, chiếm gần 1,5%; vụ án bị sửa, chiếm gần 2%; chậm ban hành quyếtđịnh thi hành các bản án có hiệu luật pháp luật; chậm khắc phục những hạnchế, thiếu sót đã được Ban Pháp chế và Đại biểu HĐND đặt ra

Đây là những mặt hạn chế, thiếu sót đã tồn tại từ nhiều năm qua.Những tồn tại và hạn chế nêu trên, Ủy ban Thẩm phán và Chánh án TAND

Trang 40

tỉnh cần phải rút kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo để đạt kếtquả cao hơn.

Hoạt động giám sát của HĐND đã thực hiện theo cách thức, trình tựđược Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005 quy định Cụ thể là: các báocáo của Viện kiểm sát và TAND được gửi trước ngày khai mạc kỳ họp ít nhấtmười ngày cho Thường trực và các Ban HĐND để tiến hành thẩm tra theoquy định Việc thẩm tra được tiến hành công khai, khách quan với sự có mặtcủa các cơ quan có văn bản báo cáo trình kỳ họp Qua đó, tại hội nghị thẩmtra, Thường trực HĐND và các thành viên của các Ban HĐND đặt ra các vấnvấn đề mà báo cáo diễn đạt chưa rõ hoặc các vấn đề có tính bức xúc tại địaphương mà trong báo cáo của VKSND và TAND chưa đề cập Người đứngđầu hai cơ quan này có trách nhiệm giải trình các nội dung được đặt ra tại hộinghị thẩm tra Đồng thời các nội dung quan trọng rút ra từ các báo cáo của hai

cơ quan này được các Ban HĐND tổng hợp đưa vào báo cáo trình ra kỳ họpchính thức của HĐND

Các Đại biểu HĐND, trước khi khai mạc kỳ họp HĐND ít nhất là nămngày được gửi các báo cáo trình kỳ họp, trong đó có báo cáo của VKSND vàTAND để nghiên cứu, xem xét Trên cơ sở nội dung các báo cáo và quá trìnhnghiên cứu, các Đại biểu HĐND có thể nêu ý kiến và đề nghị Chánh ánTAND và Viện trưởng VKSND báo cáo, giải trình thêm HĐND, Đại biểuHĐND cũng có quyền yêu cầu Chánh án TAND và Viện trưởng VKSND báocáo về những vấn đề khác thuộc chức năng, thẩm quyền của mình khi xét thấycần thiết (Điều 52 Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005)

Tại kỳ họp, dưới sự chủ tọa của Thường trực HĐND, người đứng đầu

cơ quan nói trên trình bày báo cáo của ngành mình Sau đó Trưởng Ban củaHĐND trình bày báo cáo thẩm tra đối với các báo cáo đó Sau khi nghe cácbáo cáo, Chủ tọa kỳ họp dành thời gian thỏa đáng để các Đại biểu HĐNDthảo luận và cho ý kiến, trên tinh thần phát huy dân chủ tối đa

Ngày đăng: 10/11/2017, 10:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Phạm Tấn Beo (2009), Luật hình sự Việt Nam, quyển 1 (phần chung), Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự Việt Nam, quyển 1 (phần chung)
Tác giả: Phạm Tấn Beo
Năm: 2009
6. Lê Cảm (2006), Các nguyên tắc cơ bản của cải cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, tạp chí TAND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc cơ bản của cải cách tư pháp trong giaiđoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2006
7. Lê Văn Cảm (2005), sách chuyên khảo sau đại học, những vấn đề cơ bản trong luật hình sự, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: những vấn đề cơbản trong luật hình sự
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
8. Lê Văn Cảm (2009), hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (sách chuyên khảo), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựngNhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
9. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên) (1998), HĐND trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước, Nxb Pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: HĐND trong hệ thống cơ quanquyền lực Nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1998
10. Trần Phương Đạt (chủ biên) và Nguyễn Đức Phúc (2010), hợp tác quốc tế trong TTHS Việt Nam (sách chuyên khảo), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hợp tác quốc tếtrong TTHS Việt Nam
Tác giả: Trần Phương Đạt (chủ biên) và Nguyễn Đức Phúc
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2010
20. Nguyễn Đình Đặng Lục (2006), Cải cách tư pháp và một số kinh nghiệm của nước ngoài về thi hành án phạt tù, tạp chí nghiên cứu lập pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp và một số kinhnghiệm của nước ngoài về thi hành án phạt tù
Tác giả: Nguyễn Đình Đặng Lục
Năm: 2006
23. Đinh Văn Quế (2000), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 - phần chung, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 -phần chung
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
30. Đặng Đình Tân (chủ biên) 2006, Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân dân giám sát các cơ quan dân cửở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
31. Vũ Mạnh Thông Luận (1998), Nâng cao hiệu lực hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu lực hoạt động giám sátcủa HĐND cấp tỉnh trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Vũ Mạnh Thông Luận
Năm: 1998
33. Trường Đại học luật Hà Nội (2005), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
34. Nguyễn Anh Tuấn (2010), nguồn của luật hình sự Việt Nam (sách chuyên khảo), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nguồn của luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
35. Phùng Văn Tửu (1996), HĐND và UBND theo Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1994, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: HĐND và UBND theo Hiến pháp 1992 và Luậttổ chức HĐND và UBND năm 1994
Tác giả: Phùng Văn Tửu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
36. Đào Trí ÚC và Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên) (1996), sách chuyên khảo, giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước
Tác giả: Đào Trí ÚC và Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
37. Đào Trí Úc (2000), Luật hình sự Việt Nam, quyển I - Những vấn đề chung, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự Việt Nam, quyển I - Những vấn đềchung
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
44. Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, Nxb Bách khoa - Nxb Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Tác giả: Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Báchkhoa - Nxb Tư pháp
Năm: 2006
45. Viện ngôn ngữ (2007), Từ điển tiếng Việt, Nxb từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện ngôn ngữ
Nhà XB: Nxb từ điển Bách khoa
Năm: 2007
46. Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1994), những vấn đề lý luận của việc đổi mới pháp luật hình sự trong giai đoạn hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: những vấn đề lý luậncủa việc đổi mới pháp luật hình sự trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật
Nhà XB: Nxb Côngan nhân dân
Năm: 1994
47. Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1995), những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: những vấn đề lý luận cơbản về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
2. Bộ luật Hình sự năm 1985 3. Bộ luật Hình sự năm 1999 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w