Hiến pháp của nước ta có quy định về quyền con người, quyền công dân và một trong các quyền được Hiến pháp bảo vệ là Quyền bào chữa. Để bảo vệ quyền con người, những người bị buộc tội được quyền chứng minh là mình vô tội hay trách nhiệm hình sự nhẹ hơn khi bị buộc tội bằng các chứng cứ, các tình tiết có trong vụ án. Từ đó Tòa án sẽ vận dụng các tình tiết giãm nhẹ được quy định trong pháp luật hình sự để đưa ra quyết định đúng đắn nhất về hình phạt cho bị cáo. Qua đó, trình bày các vấn đề về Quyền bào chữa, bị can, bị cáo tự mình bào chữa hoặc yêu cầu người khác bào chữa cho mình là Luật sư. Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành cải cách tư pháp, hướng tới mục tiêu củng cố và hoàn thiện hoạt động tư pháp. Hoạt động của Luật sư không phải là hoạt động tư pháp, nhưng lại có mối liên hệ chặt chẻ với hoạt động tư pháp, hổ trợ cho hoạt động tư pháp (bổ trợ tư pháp).
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ côngtrình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảotính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các mônhọc và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định củaKhoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Thị Minh Nguyệt
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1
(Trên cơ sở số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí Minh) 1
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn 1
Tôi xin chân thành cảm ơn! 1
NGƯỜI CAM ĐOAN 1
Trần Thị Minh Nguyệt 1
Trang 4LTGPL Luật trợ giúp pháp lý
TAND Tòa án nhân dân
TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
TTTGPL Trung tâm trợ giúp pháp lý
UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với quá trình tố tụng giải quyết bất kỳ vụ án hình sự nào thì hoạt độngxét xử đóng vai trò trọng tâm vì ở đây thể hiện đầy đủ bản chất tư pháp Nhà nước,hoạt động xét xử dựa trên kết quả điều tra, truy tố và xét xử Đây là giai đoạn quyếtđịnh tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, góp phần bảo vệ lợi íchchính đáng của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức Đểnhững điều này đạt được thì sự đòi hỏi về tính dân chủ tại phiên tòa là điều cầnthiết, cũng như các quy định của pháp luật TTHS phải phù hợp thực tiễn
Trong hoạt động xét xử vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân danh Nhà nướcthực hành quyền công tố đóng vai trò là bên buộc tội trong khi đó Người bị tạm giữ,
Bị can, Bị cáo có Quyền bào chữa cho việc buộc tội của Viện kiểm sát Việc thựchiện Quyền bào chữa sẽ được thực hiện dưới hai hình thức là bản thân Người bị tạmgiữ, Bị can, Bị cáo sẽ thực hiện việc tự bào chữa hoặc thông qua Người bào chữađóng vai trò là bên gỡ tội Trong hoạt động xét xử, Tòa án đóng vai trò chính là đưa
ra quyết định dựa trên chứng cứ của vụ án cũng như kết quả từ việc xét hỏi và tranhluận tại tòa Do bản án, quyết định của Tòa án có tác động đến một số quyền chínhyếu của bản thân Bị cáo nên việc thực hiện hoạt động bào chữa tại phiên tòa xét xử
là vô cùng quan trọng
Ở Việt Nam, mục đích của TTHS được xác định tại Điều 1 của Bộ luật
TTHS là "Nhằm phát hiện chính xác nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi
hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội" Để bảo vệ
Quyền con người, những người bị buộc tội phải được quyền chứng minh là mình vôtội hay trách nhiệm hình sự nhẹ hơn bằng các chứng cứ và các tình tiết giảm nhẹ cụthể trong pháp luật hình sự Trong TTHS, sự buộc tội của các Cơ quan tiến hành tốtụng đối với người bị buộc tội có thể tước đi hay hạn chế một số quyền tự do thân
thể hay các quyền khác của họ Do vậy, bản chất của mô hình "Tòa án – Công tố
-Bào chữa" là nhằm đảm bảo công lý, quyền lực Nhà nước trong phạm vi công tố sẽ
Trang 6trở nên lạm quyền nếu như không có người đối trọng, Tòa án từ việc đối trọng nàysẽ đưa ra quyết định đúng đắn nhất dựa trên việc quyết định hình phạt cho Bị cáo.Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện nay thì Người bào chữa có thể là Luật sư,Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo hoặc Bào chữa viênnhân dân (Điều 56 BLTTHS năm 2003) Trong số đó, hoạt động của Người bàochữa là Luật sư mang tính chuyên nghiệp hơn cả, tuy không phải là hoạt động tưpháp, nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động tư pháp, hỗ trợ cho hoạt động
tư pháp (bổ trợ tư pháp)
Ở nước ta, hoạt động của Luật sư đã được thể chế hóa bằng pháp luật từ rấtsớm Trong tất cả các Hiến pháp từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp 1959, Hiếnpháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung đều có các quy định
về sự tham gia của Luật sư trong các phiên tòa xét xử để bào chữa cho Bị cáo Cùngvới các quy định về sự tham gia của Luật sư nêu trong các bản Hiến pháp, Việt Namcòn ban hành các văn bản quy định về tổ chức và hoạt động của Luật sư làm cơ sởpháp lý cho sự tham gia của Luật sư trong TTHS thực hiện nhiệm vụ bào chữa củamình Sự ra đời của Pháp lệnh Luật sư năm 1987, 2001, Luật Luật sư 2006 và sửađổi bổ sung năm 2012 đã khẳng định sự hình thành và phát triển của chế định Luật
sư bào chữa trong pháp luật của nước ta Từ góc độ quy định của pháp luật, Điều 19
BLTTHS 2003 của Việt Nam cũng đưa ra nguyên tắc: “Đảm bảo quyền bình đẳng
trước Tòa án”, theo đó người Luật sư với vai trò là Người bảo vệ quyền lợi của
đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa
ra yêu cầu và tranh luật dân chủ trước Tòa án và Tòa án có trách nhiệm tạo điềukiện cho họ thực hiện các quyền trên nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án.Tuy đã trở thành một nguyên tắc rõ ràng nhưng trong thực tiễn việc áp dụng các quyđịnh của pháp luật TTHS vào hoạt động bào chữa của Luật sư còn gặp nhiều hạnchế, nhất là quá trình điều tra cũng như tham gia bào chữa tại phiên tòa xét xử sơthẩm Sự hạn chế này có ảnh hưởng rất lớn đến việc xem xét vụ án và đưa ra bản án,quyết định vì kết quả tranh luận tại phiên tòa là một trong những căn cứ chính đểHội đồng xét xử quyết định tội danh và mức hình phạt
Trang 7Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành cải cách tư pháp, hướng đến mục tiêucủng cố và hoàn thiện bộ máy các Cơ quan tư pháp, hoàn thiện pháp luật về nộidung và pháp luật về hình thức - cơ sở pháp lý của hoạt động tư pháp, nâng cao hiệuquả của quá trình giải quyết các tranh chấp, kinh tế, dân sự, lao động, hành chính vàcác vụ án hình sự, bảo vệ có hiệu quả Quyền con người Hiệu quả của hoạt động tưpháp quyết định bởi nhiều yếu tố trong đó có vai trò của Luật sư Nhận rõ điều này,ngày 02/01/2002 Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số08/NQTƯ về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp Nghị quyết chỉ rõ
cần phải nâng cao hiệu quả của các phiên toà xét xử: "Khi xét xử, các Toà án phải
đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Người bào chữa để ra bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định" Bên cạnh đó, Nghị quyết
49/2005/NQTƯ cũng đã đề ra Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 với mụctiêu kiện toàn hệ thống tư pháp nhằm đáp ứng công cuộc đổi mới do Đảng cộng sảnViệt Nam khởi xướng Cho đến nay, sau hàng loạt văn bản pháp luật bị bãi bỏ hoặcthay thế, bổ sung, sửa đổi thì Việt Nam đang trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộluật TTHS 2003, nên việc nghiên cứu về Quyền bào chữa nói chung và Quyền bàochữa của Luật sư thực hiện Quyền bào chữa cho Bị can,Bị cáo trong phiên tòa sơthẩm vụ án hình sự nói riêng, là một việc làm cần thiết để đảm bảo Quyền conngười, Quyền bào chữa, đảm bảo tính khách quan và chính xác của vụ án Từ đó,góp phần hoàn thiện đưa Bộ luật TTHS đi vào đời sống xã hội một cách hợp lý
Chính vì những lẽ đó, tác giả chọn đề tài “Quyền bào chữa trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự - Trên cơ sở số liệu TPHCM” làm nội dung nghiên cứu
của Luận văn cao học luật học
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và hướng nghiên cứu mới
Trong những năm qua, đặc biệt là Nghị quyết 49-NQ/TW năm 2005 về
Trang 8Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 do Ban Chấp hành Trung ương ban hành
đã đặt nền móng cho quá trình nghiên cứu của các học giả nhằm đẩy mạnh tiến độcải cách này Xung quanh vấn đề xét xử trong TTHS đã có nhiều bài viết cũng như
công trình nghiên cứu có thể kể ra như: Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng (2010), Hiệu
quả của hoạt động xét xử trong TTHS - Luận án tiến sĩ Luật học; TS Võ Thị Kim
Oanh (2008), Xét xử sơ thẩm trong TTHS Việt Nam – Luận án tiến sĩ Luật học; TS Nguyễn Văn Tuân (2001), Vai trò của Luật sư trong TTHS, Nhà xuất bản Đại học
quốc gia xuất bản năm… Trên cơ sở chức năng và vai trò của Luật sư trong vụ ánhình sự, có một số tác phẩm và bài viết của PGS.TS.LS Phạm Hồng Hải (1999),
Bảo đảm Quyền bào chữa của người bị buộc tội, NXB Công an nhân dân; TS.LS
Phan Trung Hoài (2006), Hoàn thiện pháp luật về Luật sư ở Việt Nam của, NXB Tư pháp; Nguyễn Đức Mai (2008), Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS hiện hành
nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Tạp chí Luật học, số
7/2008 Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây, đã có một số bài viết cũng như cáccông trình nghiên cứu nhằm bổ sung, sửa đổi một số điều của Bộ luật TTHS như:
Kiến nghị sửa đổi bổ sung Bộ luật TTHS năm 2003 và các luận cứ, Hà Nội, ngày 29/10/2012 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Các công trình trên đã góp phần không nhỏ vào việc đưa ra các luận điểm lýluận, khoa học, luận giải cho những giải pháp thực tiễn góp phần vào công cuộc cảicách tư pháp hiện nay Tuy nhiên do nhiệm vụ cải cách tư pháp rất rộng, tác động vàdựa trên nhiều yếu tố vĩ mô, các công trình nghiên cứu pháp luật về Quyền bàochữa trong đó có vai trò của Người bào chữa là Luật sư một cách độc lập trongphiên tòa sơ thẩm của vụ án hình sự chưa có, chưa làm rõ những yếu tố ảnh hưởngđến vai trò của Luật sư một cách rõ ràng trong phiên tòa sơ thẩm của vụ án hình sự.Chính vì vậy, tác giả đặt ra hướng nghiên cứu mới đó là nghiên cứu Quyền bàochữa trong đó có vai trò của Người bào chữa là Luật sư trong phiên tòa sơ thẩm vụ
án hình sự, bên cạnh đó tác giả nghiên cứu giai đoạn trước đó là giai điều tra để làm
rõ cho nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả trong phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, bởilẽ hai giai đoạn này có tính tương hỗ cho nhau
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích tính hợp lý của các quy phạmpháp luật TTHS khi so sánh với yêu cầu thực tiễn về vai trò của Quyền bào chữatrong phiên tòa sơ thẩm của vụ án hình sự Qua đó đưa ra những giải pháp nhằm hoànthiện pháp luật TTHS ở Việt Nam trên yêu cầu củng cố và phát huy hiệu quả vai tròcủa Người bào chữa là Luật sư trong vụ án hình sự, đặc biệt là ở phiên tòa sơ thẩm
Để thực hiện mục đích trên, Luận văn xác định nhiệm vụ nghiên cứu gồm:
- Quy định của pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ của Người bàochữa trong đó tiếp cận vai trò của Luật sư trong TTHS nói chung và trong phiên toà
sơ thẩm nói riêng;
- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật TTHS trong việc thực hiệnQuyền bào chữa tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự;
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao khả năng bảo vệ Quyềnbào chữa tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về việc thực hiện Quyền bào chữa của Bị cáo thông quavai trò Luật sư trong phiên tòa sơ thẩm của vụ án hình sự từ cả khía cạnh pháp luậtthực định cũng như thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đó để tìm kiếm cácbiện pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Luật sư trong phiên toà sơthẩm nói riêng cũng như trong các giai đoạn TTHS nói chung
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chọn địa bàn TP.Hồ Chí Minh làm thực trạng nghiên cứu Đề tài giớihạn và tập trung việc nghiên cứu vai trò của Luật sư chỉ tại phiên tòa sơ thẩm của
vụ án hình sự Tuy nhiên, để làm rõ vai trò của Luật sư trong xét xử sơ thẩm đề tài
có nghiên cứu cả giai đoạn điều tra
5 Ý nghĩa nghiên cứu
- Ý nghĩa lý luận:
Đề tài đưa ra những luận cứ và phân tích chặt chẽ các quy định hiện hành
Trang 10của pháp luật TTHS, làm kết quả để hoàn thiện pháp luật TTHS và vai trò củaNgười bào chữa là Luật sư trong phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng và vụ
án hình sự nói chung Về nguyên tắc, phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là kết tinhcủa giai đoạn điều tra, phiên tòa phúc thẩm vụ án hình sự là dựa trên kết quả củaphiên tòa sơ thẩm, nên việc hoàn thiện vai trò của Luật sư trong phiên tòa sơthẩm phải phần nào dựa trên sự hoàn thiện vai trò của Người bào chữa là Luật sưtrong giai đoạn điều tra, cũng vừa góp phần hoàn thiện vai trò Luật sư trongphiên tòa phúc thẩm vụ án hình sự
- Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài đưa ra những lý luận chặt chẽ để các chủ thể tham gia tố tụng nhậnthức được vai trò đúng đắn của Người bào chữa là Luật sư trong quá trình thực hiệnQuyền bào chữa cho Bị can,Bị cáo, đối với hiệu quả xét xử của phiên tòa sơ thẩm,khi Tòa án có quyết định hình phạt đúng đắn nhất, công lý được đảm bảo
6 Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp luận: Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng
của triết học Mác – Lênin làm phương pháp chủ đạo của đề tài;
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Để hoàn thiện kết quả nghiên cứu, tác
giả đã sử dụng các phương pháp phổ biến như: Phân tích, thống kê, so sánh luậthọc, diễn dịch, quy nạp, lấy ý kiến chuyên gia…
Trang 11Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1 Khái quát về Quyền bào chữa trong các vụ án hình sự và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Bảo đảm Quyền con người luôn là một nội dung chính và cũng là mục đích
để xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ở nước ta Để đảm bảo thựchiện Quyền con người, các bản Hiến pháp của nước ta với vai trò là một đạo luật cơbản của Nhà nước, đã có nhiều quy định khẳng định Quyền con người, quyền côngdân và một trong những quyền được Hiến pháp nước ta bảo vệ đó chính là Quyềnbào chữa trong các vụ án hình sự Để nhìn nhận tổng quan được Quyền bào chữa là
gì và cơ sở cho việc phải bảo đảm Quyền bào chữa trong các vụ án hình sự thì trướchết, cần nhìn nhận đúng thế nào là Quyền bào chữa và làm rõ được những đặc điểmcủa Quyền bào chữa
1.1.1 Quyền bào chữa trong các vụ án hình sự
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về Quyền bào chữa bởi vì đây làmột chế định quan trọng, phức tạp, nó vừa mang tính lý luận và vừa mang tính thực
tế Từ trước đến nay có nhiều bài nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan điểm về cáchhiểu thế nào là Quyền bào chữa nhưng nhìn chung có thể nêu ra một số các quanđiểm nhìn nhận sau:
Quan điểm thứ nhất [20, tr.14] cho rằng Quyền bào chữa là tổng hòa tất cả
các hành vi tố tụng hướng tới việc bãi bỏ sự buộc tội và xác định Bị can không có lỗi hoặc nhằm làm giảm trách nhiệm của Bị can.
Quan điểm thứ hai [28, tr.18] cho rằng, Quyền bào chữa được hiểu rộng hơn,
nó không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định Bị can không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm của Bị can mà nó còn được thể hiện trong cả việc đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của Bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan đến việc làm giảm trách nhiệm của Bị can trong vụ án.
Quan điểm thứ ba [40, tr.12] cho rằng, Quyền bào chữa không chỉ thuộc về
Bị can, Bị cáo mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội, người bị kết án, người bào chữa, bị đơn dân sự và Người đại diện hợp pháp của họ.
Trang 12Quan điểm thứ tư [31, tr.53] cho rằng, Quyền bào chữa trong BLTTHS là
tổng hòa các hành vi tố tụng do Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của Cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự.
Quan điểm thứ năm [47, tr.107] cho rằng không chỉ Bị cáo mà cả bị hại cũng
cần đến việc bào chữa Ngoài ra nhân chứng, người giám định viên và cả những người khác cũng có thể có Người bào chữa nếu như quyền lợi của họ bị xâm phạm.
Các quan điểm khác nhau về Người bào chữa nói trên ít nhiều đã tiếp cận vềQuyền bào chữa ở các góc độ khác nhau nhưng chưa chính xác thể hiện ở chủ thể
của Quyền bào chữa Theo Điều 11 BLTTHS 2003 có quy định: “Người bị tạm giữ,
Bị can, Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” Như vậy,
pháp luật đã quy định chủ thể có Quyền bào chữa chính là Người bị tạm giữ, Bị can
và Bị cáo Các quan điểm như đã nêu trên có nội hàm rất hẹp, đã hạn chế các chủthể có thể có Quyền bào chữa như quan điểm một và hai hoặc đã mở rộng khôngcần thiết các chủ thể có Quyền bào chữa như ba quan điểm còn lại Về mặt lý luận,
để nhận định chủ thể của Quyền bào chữa thì cần xét đến mục đích của Quyền bàochữa là gì để có thể đánh giá và đưa ra được các chủ thể chính xác
Theo một cách hiểu chung nhất thì Quyền bào chữa là tổng thể các quyền màpháp luật quy định cho chủ thể của quyền này được trình bày các ý kiến, quan điểmcủa mình đối với việc buộc tội, được đưa ra những chứng cứ cần thiết để đề nghịcác Cơ quan tiến hành tố tụng xem xét bác bỏ toàn bộ hoặc một phần đối với việcbuộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ Hay nói cách khác, Quyền bào chữahiểu theo đúng nghĩa của từ này là quyền của một người được đưa ra các chứng cứ
để chứng minh cho sự vô tội (lỗi) hoặc giảm nhẹ tội (lỗi của mình) [20] Như vậy,những chủ thể nào liên quan trực tiếp đến việc buộc tội và cần phải phản bác lạiviệc buộc tội đó hoặc để giảm nhẹ các trách nhiệm hình sự do việc buộc tội gây rathì mới có thể trở thành chủ thể của Quyền bào chữa
Tóm lại, Quyền bào chữa của Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo là tổng hợp
tất cả các hành vi/ phương thức mà pháp luật quy định cho Người bị tạm giữ, Bị
Trang 13can, Bị cáo sử dụng trong các giai đoạn của quá trình TTHS để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự cho họ.
Với khái niệm Quyền bào chữa như trên, chúng ta có thể rút ra được một sốđặc điểm của Quyền bào chữa như sau:
a) Chủ thể của Quyền bào chữa:
Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam thì chủ thể của tội phạm là cánhân cho nên chủ thể của Quyền bào chữa cũng là cá nhân và được quy định tạiĐiều 11 BLTTHS quy định:
“Điều 11: Bảo đảm Quyền bào chữa của Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo: Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người
khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo thực hiện Quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này”.
Theo quy định của BLTTHS cũng như tác giả đã đề cập ở trên thì chủ thểchính của Quyền bào chữa này chỉ có thể là Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo Các
Cơ quan tiến hành tố tụng khi thực hiện các hoạt động tố tụng trong suốt quá trìnhgiải quyết vụ án phải có nghĩa vụ đảm bảo Quyền bào chữa này cho Người bị tạmgiữ, Bị can, Bị cáo
Quy định trên của BLTTHS 2003 so với BLTTHS 1988 quy định về Ngườibào chữa thì BLTTHS 2003 có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm việc xét xửdân chủ, khách quan, công bằng hơn theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày02-1-2002 của Bộ Chính trị Theo Điều 12 của BLTTHS năm 1988 có quy định chủthể của Quyền bào chữa chỉ có Bị can, Bị cáo Với việc mở rộng chủ thể của quyềnnày theo như quy định tại Điều 11 BLTTHS 2003 là một sự tiến bộ của pháp luật vìNgười bị tạm giữ trong giai đoạn này là đang chịu sự giám sát để điều tra hay nóicách khác họ là những người đang bị tình nghi về một hành vi phạm tội đã đượcthực hiện Về việc mở rộng chủ thể của người có Quyền bào chữa theo tác giả cóhai vấn đề lý luận chính cần lưu ý: (i) Thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 Điều 58BLTTHS có quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, theo đó, Ngườibào chữa có thể tham gia bào chữa cho khách hàng (hoặc thân chủ) của mình kể từgiai đoạn có quyết định tạm giữ nếu khách hàng (hoặc thân chủ) của Người bào
Trang 14chữa bị bắt theo quy định tại Điều 81, Điều 82 của BLTTHS 2003 Như vậy ngay từkhi có quyết định tạm giữ, Người bị tạm giữ đã được đặt dưới sự kiểm tra và giámsát của các Cơ quan tiến hành tố tụng để phục vụ cho việc điều tra, truy tố tội phạm
và do vậy họ vẫn phải được bảo đảm về Quyền bào chữa của mình tương tự như đốivới Bị can, Bị cáo.; (ii) Thứ hai là xuất phát từ một nguyên tắc chính của TTHS đóchính là nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại Điều 9 BLTTHS khi màkhông ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật và do vậy Người bị tạm giữ vẫn sẽ được hưởng Quyền bàochữa giống như Bị can, Bị cáo
b) Phương thức thực hiện Quyền bào chữa:
Cũng theo quy định tại Điều 11 BLTTHS đã nêu thì Quyền bào chữa củaNgười bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo được thực hiện bằng hai phương thức chính là (i)
tự mình bào chữa, (ii) nhờ người khác bào chữa
Đối với phương thức thứ nhất, Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo có thể tự
mình bào chữa cho mình nếu như họ cảm thấy rằng tự bản thân họ có thể bàochữa cho mình mà không cần đến sự trợ giúp của người bào chữa Đây là hìnhthức mà Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo sử dụng các quyền mà pháp luật quyđịnh cho họ trong việc chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ tội cho mình.Như vậy, Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo được sử dụng những hiểu biết vềpháp luật của mình để chống lại sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sựcủa mình Họ có thể thực hiện quyền tự bào chữa của mình bằng cách đề xuấtchứng cứ, nhận xét và đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu, tranh luận trước tòa,kháng cáo bản án hay quyết định của tòa án
Đối với phương thức thứ hai là thực hiện Quyền bào chữa thông qua người
bào chữa Việc thực hiện thông qua Người bào chữa có thể xem là một phương thứcthực hiện Quyền bào chữa phổ biến
Hiện nay, trong BLTTHS cũng như các văn bản pháp luật có liên quan đềukhông có quy định cụ thể nào liên quan đến khái niệm người bào chữa Tuy nhiênthông qua các Điều 56, Điều 57, Điều 58 BLTTHS có thể nhận định rằng Người bàochữa là người được Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của
họ, những người khác được Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo ủy quyền mời hoặc
Trang 15được Cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn Luật sư phân công Văn phòng Luật
sư cử hoặc đề nghị Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử
để bào chữa cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo nhằm làm sáng tỏ những tình tiếtgỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo
và giúp đỡ họ về mặt pháp lý
Theo khoản 1 Điều 56 BLTTHS quy định:
“Điều 56 Người bào chữa
1 Người bào chữa có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện hợp pháp của Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo;
c) Bào chữa viên nhân dân.”
Luật sư, theo Điều 2 của Luật Luật sư 2006 thì Luật sư là người có đủ tiêu
chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Luật sư và thực hiện các dịch vụpháp lý theo yêu cầu của cá nhân, Cơ quan, tổ chức có yêu cầu
Theo quy định, công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến
pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạonghề Luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hànhnghề Luật sư thì có thể trở thành Luật sư và muốn được hành nghề Luật sư phải cóChứng chỉ hành nghề Luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư [Luật luật sư 2006,Điều 10, Điều 11]
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo là bố mẹ đẻ,
bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và những người theo quy định của phápluật đối với Bị can Bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thểchất hoặc tinh thần Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáonếu không bào chữa cho Bị cáo thì họ cũng có những quyền như người bị tạm giữ,
Bị can, Bị cáo, họ tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp, nếu họtham gia tố tụng với tư cách là Người bào chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ như đốivới Người bào chữa Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáonhất thiết phải là người đã thành niên; không bị tâm thần; có quốc tịch Việt Nam và
cư trú tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với người bị tạmgiữ, Bị can, Bị cáo là người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịchhoặc là người Việt Nam ở nước ngoài
Trang 16Thực tiễn xét xử cho thấy, việc xác định người đại diện hợp pháp của người
bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo không khó nhưng lại khó ở chỗ: người bị tạm giữ, Bị can,
Bị cáo là người đã thành niên không có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần màngười thân thích của người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo tuy không phải là Luật sư,Bào chữa viên nhân dân nhưng lại yêu cầu được bào chữa cho người bị tạm giữ, Bịcan, Bị cáo vì họ là người có trình độ pháp lý, đã từng hoạt động trong các Cơ quanpháp luật nay nghỉ hưu Vậy những người này có được bào chữa cho người bị tạmgiữ, Bị can, Bị cáo hay không? Về vấn đề này, tuy còn nhiều ý kiến khác nhau,nhưng thực tiễn xét xử Toà án đã công nhận và cấp Giấy chứng nhận cho họ để họthực hiện việc bào chữa cho Bị cáo
Bào chữa viên nhân dân là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để
bào chữa cho Bị cáo Chế định Bào chữa viên nhân dân không phải là một chế địnhmới mà nó đã xuất hiện từ rất lâu Ngày 10.10.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thaymặt Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 46-SL quy định tổ chức các đoàn thểLuật sư và đến ngày 18.6.1949, Hồ Chủ tịch đã ban hành Sắc lệnh số 69-SL chophép các Bị can có thể nhờ một công dân không phải là Luật sư bênh vực cho mìnhtrước các Toà án - sau này gọi là các Bào chữa viên nhân dân [51] Việc ban hànhSắc lệnh số 69 thể hiện tính ưu việt của chế độ mới - mọi người đều bình đẳng trướcpháp luật, không phân biệt xuất thân, thành phần, dân tộc, giai cấp
Tuy nhiên, từ đó đến nay chế định Bào chữa viên nhân dân chưa được cụ thểhoá, quy định chi tiết ở bất cứ văn bản pháp luật nào Do chưa có quy định cụ thểnên hầu như chưa có sự tham gia của các Bào chữa viên nhân dân tại các phiên tòa
kể cả hình sự lẫn dân sự, hành chính Mặc dù, tại điểm c Điều 56 của Bộ luậtTTHS quy định về Người bào chữa, trong đó có nêu sự tham gia của Bào chữa viênnhân dân trong các phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho Bị can, Bị cáo, Người bị hại Thực tế hiện nay hoạt động của Bào chữa viên nhân dân cũng không được tổ chứcthành một hệ thống, chưa có quy định nào cụ thể, chi tiết về điều kiện, tiêu chuẩn đểđược công nhận là Bào chữa viên nhân dân, hiện nay trong xã hội có nhiều người cótrình độ pháp lý có hiểu biết về công việc bào chữa nhưng họ chưa được kết nạpvào đoàn Luật sư và họ lại được Bị can, Bị cáo nhờ bào chữa
Trang 17Có thể nói, việc bảo đảm Quyền bào chữa thông qua Người bào chữa là mộtđảm bảo rất quan trọng vì nhiều trường hợp Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo khônghiểu biết về pháp luật thì họ không thể tự mình sử dụng hết các quyền mà pháp luậtquy định cho họ để có thể bảo vệ quyền lợi cho mình, họ cũng không thể biết vànắm bắt hết được các hoạt động tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng có vi phạmpháp luật hay không ? Như vậy, việc tham gia của Người bào chữa được xem là một
sự cần thiết để giúp đỡ cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo về mặt pháp lý, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của họ
Trong ba loại Người bào chữa đã nêu trên thì thực tế trong ý thức củangười dân, cộng đồng và xã hội khi nói đến Người bào chữa là người ta chỉ nghĩđến là Luật sư còn những người khác không phải là Luật sư thì không được coi
là Người bào chữa Nguyên nhân của cách nhìn nhận trên có thể xuất phát mộtphần từ nhận thức của người dân còn chưa thật sự rõ ràng về chế định Ngườibào chữa cũng như sự phổ biến của Luật sư trong việc tham gia vào các vụ ánhình sự vì Luật sư là nhân vật trung tâm về hoạt động bào chữa hơn là vai tròtham gia bào chữa của Bào chữa viên nhân dân hoặc Người đại diện hợp phápcho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo
Bào chữa là một công việc mang tính chuyên môn, đòi hỏi rất nhiều về trình
độ chuyên môn, kiến thức, kinh nghiệm bào chữa Pháp luật không quy định bắtbuộc chỉ có Luật sư mới có quyền được trở thành người bào chữa, song rõ ràng cả
về mặt lý luận và thực tế đều cho thấy, Luật sư là đối tượng đáp ứng cao nhất và đầy
đủ nhất những điều kiện để thực hiện tốt và hiệu quả nhất việc bào chữa, từ đómang lại lợi ích cao nhất cho người được bào chữa Luật sư là một nghề nghiệp độclập, mang tính chuyên môn, không phải là một công việc đơn lẻ, kiêm nhiệm haybán chuyên trách
Một vấn đề cần lưu ý là việc Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo nhờ Người bàochữa để bào chữa cho họ thì việc nhờ này không làm mất đi quyền tự bào chữa củachính họ hay nói cách khác, trong mọi trường hợp, Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáoluôn được sử dụng các quyền mà pháp luật cho phép để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
Trang 18pháp của mình Về vấn đề này hiện nay trong quy định tại Điều 11 BLTTHS có thểgây ra sự nhầm lẫn bởi cách dùng từ Điều luật này thể hiện Người bị tạm giữ, Bị can,
Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Như tác giả đãphân tích ở trên, việc Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo nhờ người khác bào chữa chomình không đương nhiên làm mất đi quyền tự bào chữa của họ do vậy việc dùng từ
“hoặc” trong quy định tại Điều 11 BLTTHS là không chính xác mà nên thay thế bằngtừ “và” để thực hiện và hiểu đúng được tinh thần và nội hàm của nó
c) Cách thức tham gia bào chữa của Người bào chữa trong việc bảo đảm Quyền bào chữa:
Hiện nay, việc Người bào chữa tham gia vào các hoạt động TTHS để bàochữa cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo được thực hiện dựa trên hai phương thứcchính là (i) Người bào chữa tham gia vụ án dựa trên sự lựa chọn của Người bị tạmgiữ, Bị can, Bị cáo hoặc (ii) Người bào chữa tham gia vụ án trên cơ sở yêu cầu củacủa Cơ quan tiến hành tố tụng (bào chữa chỉ định hoặc bào chữa bắt buộc)
Ở phương thức thứ nhất, theo quy định tại khoản 1 Điều 57 BLTTHS quy
định, Người bào chữa do Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo hoặc Người đại diện hợppháp của họ lựa chọn Như vậy, việc Người bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng
để thực hiện việc bào chữa cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo là hoàn toàn phụthuộc vào ý chí và sự lựa chọn của người có Quyền bào chữa
Việc Người bào chữa tham gia bào chữa với tư cách là Người bào chữa dongười có Quyền bào chữa lựa chọn phải đáp ứng được các yêu cầu của pháp luậtTTHS để có thể được tham gia vào vụ án với tư cách là người bào chữa Theo quyđịnh tại khoản 4 Điều 56 BLTTHS thì trong thời hạn luật định, sau khi nhận đượcđầy đủ hồ sơ về việc xin tham gia bào chữa trong vụ án hình sự thì Cơ quan có thẩmquyền ở đây là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án sẽ tiến hành xem xét vàcấp Giấy chứng nhận bào chữa cho người xin tham gia bào chữa để họ có thể thựchiện việc bào chữa của mình, nếu từ chối việc cấp Giấy chứng nhận bào chữa thìphải có lý do được thể hiện bằng văn bản Như vậy, việc Người bào chữa do sự lựachọn của Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo chỉ được thực hiện khi được sự chấpthuận của các Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền
Trang 19Với phương thức thứ hai là Người bào chữa tham gia bào chữa cho Bị can,
Bị cáo với tư cách là Người bào chữa chỉ định (bào chữa bắt buộc) theo yêu cầu củacủa Cơ quan tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của các Trung tâm trợ giúp pháp
lý Đây là một quy định cần thiết và thể hiện tính nhân văn của pháp luật và được cụthể hóa tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS và được hướng dẫn chi tiết tại Nghị quyết số03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy
định chung” của BLTTHS 2003.
Một cách khái quát, bào chữa bắt buộc xảy ra khi mà trong quá trình điều tra,truy tố và xét xử vụ án hình sự mà Bị can, Bị cáo hoặc đại diện hợp pháp của họ
không mời được Người bào chữa nhưng vẫn muốn sự có sự tham gia của Người
bào chữa hoặc trong một số trường hợp do luật định mà bắt buộc phải có sự tham
gia của Người bào chữa thì pháp luật TTHS sẽ dành cho họ có quyền có người bàochữa Những trường hợp này được gọi là bào chữa chỉ định hay bào chữa bắt buộc.Quy định về bào chữa bắt buộc nhằm bảo đảm Quyền bào chữa cho Bị can, Bị cáokhi có những nguy cơ hay có những cản trở làm cho họ không thể thực hiện đượchoặc thực hiện không tốt Quyền bào chữa của mình hoặc thể hiện tinh thần củapháp luật đối với một số tội phạm bắt buộc phải có người bào chữa Khi nhữngtrường hợp này xảy ra thì Cơ quan tiến hành tố tụng, cụ thể là Cơ quan điều tra,Viện kiểm sát, Tòa án sẽ yêu cầu, chỉ định Người bào chữa cho Người bị tạm giữ,
Bị can, Bị cáo và những Người bào chữa chỉ định này có thể là Luật sư, Người đạidiện hợp pháp cho Bị can, Bị cáo hoặc Bào chữa viên nhân dân như đã phân tích ởphần trên Tuy nhiên hiện nay việc bào chữa chỉ định thường là do các Luật sư thựchiện dựa trên sự phân công của các Đoàn Luật sư đối với các tổ chức hành nghềLuật sư để cử ra một Luật sư tham gia bào chữa chỉ định cho Bị can, Bị cáo Sựtham gia của người đại diện cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo hoặc Bào chữaviên nhân dân làm Người bào chữa chỉ định hầu như không có do tính chất của yêucầu của việc phải có Người bào chữa chỉ định cũng như trình độ năng lực của hailoại Người bào chữa đã nêu còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực sự của
Trang 20việc bào chữa chỉ định đề ra.
Bào chữa chỉ định (bào chữa bắt buộc) được quy định cụ thể tại khoản 2Điều 57 BLTTHS và được hướng dẫn chi tiết tại Chương II của Nghị quyết03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tốicao về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy địnhchung” của Bộ luật TTHS năm 2003
“Điều 57 Lựa chọn và thay đổi người bào chữa
…
2 Trong những trường hp sau đây, nếu Bị can, Bị cáo hoặc Người đại diện hợp pháp của họ không mời Người bào chữa thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn Luật sư phân công Văn phòng Luật sư cử Người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử Người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình:
a) Bị can, Bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật hình sự;
b) Bị can, Bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này, Bị can, Bị cáo và Người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa”.
Với quy định trên, khi Bị can, Bị cáo bị điều tra, truy tố và xét xử về tội theokhung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì việc có Người bào chữa được xem làmang tính thận trọng, khách quan và để tránh phạm phải những sai lầm không khắcphục được trong việc giải quyết vụ án cũng như đảm bảo tính nhân đạo của phápluật trước một công dân có thể bị áp dụng hình phạt cao nhất trong các mức hìnhphạt là tử hình
Với trường hợp thứ hai là khi Bị can, Bị cáo là người chưa thành niên hoặcngười có nhược điểm về thể chất hay nhược điểm về tâm thần Trong trường hợpnày thì xét trên lý do là vì những nhược điểm của họ khiến cho họ không thể thựchiện được hoặc thực hiện không đầy đủ Quyền bào chữa của mình vì vậy pháp luậtcho họ có quyền có Người bào chữa nếu như họ và đại diện hợp pháp của họ không
Trang 21mời được Người bào chữa mà muốn có Người bào chữa.
Trong trường hợp bào chữa bắt buộc, nếu người Bị can, Bị cáo hoặc Ngườiđại diện hợp pháp của họ không mời được Người bào chữa mà không từ chối Ngườibào chữa thì các Cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm yêu cầu Đoàn Luật
sư cử Người bào chữa cho họ kể từ khi có quyết định khởi tố Bị can Điều này cũng
có nghĩa là bào chữa bắt buộc là yêu cầu khách quan của pháp luật TTHS đối với
Cơ quan tiến hành tố tụng còn đối với Bị can, Bị cáo và Người đại diện hợp phápcủa họ thì đây chỉ là những quyền mang tính chất chủ quan, việc thực hiện quyềnnày phụ thuộc vào ý chí của họ và không mang tính bắt buộc
Cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS thì Bị can, Bị cáo hoặcNgười đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu thay đổi Người bào chữa đã được
cử vì vậy khi có yêu cầu thay đổi Người bào chữa thì Cơ quan và cá nhân có thẩmquyền tiến hành tố tụng phải thực hiện và tôn trọng nguyện vọng của họ
d) Quyền bào chữa được thực hiện trong các giai đoạn TTHS
Dựa trên khái niệm về Quyền bào chữa đã phân tích, chúng ta có thể thấyđược rõ Quyền bào chữa là giúp cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo có thể sửdụng các quyền theo luật định như đưa ra tài liệu, đồ vật, chứng cứ, yêu cầu đểchứng minh cho sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình hoặc họ
có thể sử dụng những hình thức bào chữa khác nhau mà pháp luật cho phép như đãphân tích ở trên để bảo vệ các quyền và lợi ích của họ Như vậy mục đích và vai tròcuối cùng của Quyền bào chữa chính là bảo vệ quyền và lợi ích cho chính người cóQuyền bào chữa hay nói cách khác là dùng để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảmnhẹ trách nhiệm hình sự cho chính họ Chúng ta có thể thấy rằng, chỉ có nhữngNgười bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo là những người bị buộc tội trong quá trình TTHSnên chỉ có họ mới là người có Quyền bào chữa và cái mục đích cuối cùng mà họmuốn hướng đến là đem lại sự “trong sạch” cho mình, khẳng định mình không cótội hoặc để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình
Về nguyên tắc, bào chữa là sự gỡ tội và ở đâu bắt đầu có buộc tội thì ở đó sẽ
có bào chữa Do vậy, các chủ thể thực hiện Quyền bào chữa trong tất cả các giaiđoạn TTHS, từ ngay khi bị “tình nghi” là thực hiện tội phạm cho đến khi bị kết án
Trang 22bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật Đó chính là lý do mà BLTTHS đã bổsung diện chủ thể của Quyền bào chữa mở rộng sang cả người bị tạm giữ mà khôngchỉ là Bị can, Bị cáo như trước đây Cũng theo lý luận và pháp luật thực định thìhiện nay các giai đoạn TTHS gồm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và Thi hành ánhình sự Trong mỗi giai đoạn đó, các Cơ quan tiến hành tố tụng trong phạm vi chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã nhân danh Nhà nước, áp dụng các biệnpháp tố tụng luật định để làm rõ các tình tiết vụ án, xác định tội phạm, người phạmtội và kết thúc bằng việc Tòa án ra bản án, quyết định áp dụng pháp luật, qua đó xácđịnh trách nhiệm hình sự cho người đã thực hiện tội phạm Song song với tiến trình
tố tụng đó, Quyền bào chữa được thực hiện bằng các cách thức và phương thức như
đã phân tích trên nhưng trung tâm nhất là trong giai đoạn xét xử
Tòa án nhân dân là Cơ quan xét xử của nước ta, có nhiệm vụ bảo vệ công
lý, bảo vệ Quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Để có thể thực hiện được chức năng xét
xử, bên cạnh các nguyên tắc cơ bản của TTHS đã được ghi nhận trong BLTTHS,nguyên tắc tranh tụng thể hiện rõ nét nhất trong giai đoạn xét xử và trọng tâm làphiên tòa Điều này phù hợp Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/01/2002 của BộChính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam và gần đây nhất dự thảo Hiến pháp 1992 sửađổi đã ghi nhận nguyên tắc này Tại phiên tòa, sự ghi nhận nguyên tắc tranh tụngsẽ đề cao quá trình dân chủ hóa hoạt động tố tụng và sự bình đẳng trong quá trìnhgiải quyết vụ án Đó cũng là cơ sở nâng cao năng lực, trình độ, trách nhiệm, bảnlĩnh nghề nghiệp của từng chủ thể (công tố, bào chữa, xét xử) thực hiện chức năngcủa mình, đáp ứng những đòi hỏi mới của quá trình cải cách tư pháp hình sự.Chính vì vậy, Quyền bào chữa thể hiện tập trung nhất tại phiên tòa, khi mà cùnglúc các chủ thể thực hiện chức năng công tố, xét xử, bào chữa cùng thể hiện mình.Tòa án (Hội đồng xét xử) sẽ căn cứ vào sự thể hiện của các bên công tố buộc tội
và bên bào chữa (Người bào chữa hoặc/tự bào chữa) để ra phán quyết đúng người,đúng tội và đúng pháp luật
1.1.2 Quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trang 23Như đã phân tích, Quyền bào chữa được thực hiện thông qua hai hình thức làngười bị tạm giam, Bị can, Bị cáo sẽ tự mình thực hiện Quyền bào chữa này hoặcthông qua Người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Đối với hình thức tự bào chữa, hoạt động bào chữa có thể hiểu một cách đơn
giản nhất đó chính là bản thân người bị tạm giam, Bị can, Bị cáo sẽ tự mình thựchiện các quyền mà pháp luật cho phép để thực hiện việc bào chữa cho mình Vớihình thức này, Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo đã bị giới hạn một số quyền củamình và phải chịu sự giám sát chặt chẽ của các Cơ quan tiến hành tố tụng nên việcthực hiện Quyền bào chữa của họ có phần hạn chế Cụ thể là việc bào chữa của họchỉ thực sự được thể hiện thông qua quá trình xét xử tại phiên tòa cho đến khi mộtbản án, quyết định có hiệu lực được ban hành Tại phiên xét xử, thông qua các thủtục trình tự phiên tòa từ xét hỏi cho đến phần tranh luận, người có Quyền bào chữasẽ tự mình dùng những lý lẽ, lập luận để phản bác, tranh luận lại các cáo buộc đốivới mình, thực hiện việc đề xuất chứng cứ, nhận xét và đánh giá chứng cứ, đưa racác yêu cầu, tranh luận trước tòa, kháng cáo bản án hay quyết định của tòa án…Nhưvậy hoạt động bào chữa của Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo được thực hiện theomột trình tự nhất định để họ có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, thựchiện việc bác bỏ cáo buộc hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho chính bản thân họ
Hoạt động bào chữa của Người bào chữa là hoạt động thực hiện việc bào
chữa bằng cách sử dụng tất cả các quyền do pháp luật quy định để chứng minh sự
vô tội cho Bị can, Bị cáo và Người bị tạm giữ cũng như làm giảm nhẹ trách nhiệmhình sự cho Bị can, Bị cáo, Người bị tạm giữ và giúp đỡ họ về mặt pháp lý Hoạtđộng bào chữa của Người bào chữa được thực hiện kể từ khi họ nhận được yêu cầu
có Người bào chữa từ Bị can, Bị cáo hoặc Người đại diện hợp pháp của Bị can, Bịcáo hoặc khi có yêu cầu từ phía Cơ quan tiến hành tố tụng Hoạt động bào chữa củaNgười bào chữa thông thường sẽ kết thúc khi có một bản án, quyết định có hiệu lựccủa Cơ quan tiến hành tố tụng Hoạt động bào chữa của Người bào chữa được quyđịnh cụ thể thông qua quyền và nghĩa vụ của họ khi thực hiện việc bào chữa choNgười bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo theo Điều 58 BLTTHS
Trang 24Tuy nhiên như trên có phân tích thì Quyền bào chữa thực hiện ở các giaiđoạn TTHS và chủ thể thực hiện là người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo Thực ra tên gọicủa chủ thể Quyền bào chữa chỉ là tư cách tố tụng của một con người tại các giaiđoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án hình sự Quyền bào chữa thể hiện tậptrung và đầy đủ nhất trong giai đoạn xét xử và tại phiên tòa, khi vụ án đã có quyếtđịnh đưa ra xét xử và là quyền của Bị cáo.
Theo quy định của pháp luật thì Tòa án Việt Nam thực hiện chế độ 2 cấp xét
xử (Điều 20 BLTTHS năm 2003) Xét xử vụ án hình sự lần đầu là xét xử sơ thẩm vàxét xử lần thứ hai là là xét xử phúc thẩm khi bản án, quyết định sở thẩm bị khángcáo, kháng nghị Trong mỗi cấp xét xử, Quyền bào chữa được thực hiện có khácbiệt Điều này được xác định thông qua phạm vi xét xử sơ thẩm và phúc thẩm làkhác nhau Tại phiên tòa sơ thẩm, Quyền bào chữa được thực hiện đầy đủ nhất, khi
mà Bị cáo hoặc Người bào chữa của Bị cáo được quyền trình bày tất cả những vấn
đề nhằm chống lại sự buộc tội của Viện kiểm sát Trong khi đó, tại phiên tòa phúcthẩm Bị cáo hoặc Người bào chữa của Bị cáo được quyền trình bày những vấn đềliên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị nhằm giảm nhẹ sự buộc tội đối với
Bị cáo (bào chữa vô tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc trách nhiệm dân sự…)
Từ những phân tích trên có thể định nghĩa Quyền bào chữa trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm là tổng hợp các hoạt động gỡ tội của Bị cáo hoặc Người bào chữa cho Bị cáo trên cơ sở áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép nhằm chứng minh sự vô tội, sự giảm nhẹ hình phạt hoặc giảm nhẹ các hình thức trách nhiệm hình sự khác, sự giảm nhẹ trách nhiệm dân sự của Bị cáo trong quá trình chuẩn bị xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Như trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ phân tích vềhoạt động bào chữa của Luật sư thông qua giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sựđồng thời có sự nghiên cứu và đánh giá về giai đoạn điều tra vụ án vì hai giai đoạnnày việc thực hiện hoạt động bào chữa của Người bào chữa nói chung và của Luật
sư nói riêng được thể hiện một cách rõ ràng nhất
1.2 Vai trò và ý nghĩa của Quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ
Trang 25thẩm vụ án hình sự
1.2.1 Vai trò của hoạt động bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự
a) Thực hiện Quyền bào chữa góp phần bảo vệ Quyền con người
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về Quyền con người, từ định nghĩacủa các công trình nghiên cứu mang tính quốc tế đến định nghĩa về Quyền conngười tại Việt Nam Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc thìQuyền con người được hiểu là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệcác cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hạiđến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người [59] Ở Việt Nam, còn tồn tại nhiềuđịnh nghĩa khác nhau về Quyền con người nhưng nhìn chung Quyền con ngườiđược hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con ngườiđược ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận quốc tế Trongphạm vi nghiên cứu, Luận văn không tập trung đi sâu về nghiên cứu thế nào làQuyền con người mà chỉ giới thiệu một cách tổng quan, khái quát nhất về Quyềncon người như trên
Điều 50 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2001) xác định
“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các Quyền con người về chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Trên tinh thần khẳng định Quyền con
người của Hiến pháp, Điều 132 Hiếp pháp 1992 cũng như Điều 11 BLTTHS đã quyđịnh về Quyền bào chữa của Bị can, Bị cáo, Người bị tạm giữ Như đã phân tích,xuất phát từ nguyên tắc suy đoán vô tội do đó không ai bị coi là có tội khi chưa cóbản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực, do vậy Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáođược đảm bảo các Quyền con người, Quyền công dân và trong hoạt động TTHS thìquyền này được thể hiện bằng Quyền bào chữa của họ Quyền bào chữa với vai trò
là một chế định cho phép Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo có Quyền bào chữa chomình bằng việc tự bào chữa hoặc thông qua Người bào chữa để áp dụng các quyềntheo luật định để chứng minh cho sự vô tội của mình hoặc để giảm bớt trách nhiệmhình sự do việc buộc tội gây ra Các Cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải
Trang 26đảm bảo Quyền bào chữa cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo theo quy định củapháp luật Như vậy, việc ban hành một chế định bảo đảm Quyền bào chữa choNgười bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo là một nguyên tắc trong việc đảm bảo thực hiệnQuyền con người cho họ Ở đây Quyền bào chữa được xem như là một quyền củachính bản thân Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo trong các quyền liên quan đếnQuyền con người như quy định trong Hiến pháp.
Trong suốt hoạt động TTHS từ khi tạm giữ người bị tình nghi, quá trình điềutra, truy tố Bị can đến quá trình xét xử Bị cáo và kết thúc là một bản án, quyết định
có hiệu lực của Tòa án thì quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được xem là giaiđoạn quan trọng trong việc xác định một người có phải là tội phạm hay không ?Chính vì vậy, việc bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự có ý nghĩa hết sứcđặc biệt, nó có thể đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị cáo khi màthông qua việc bào chữa, các cáo buộc ban đầu có thể bị phản bác hoặc một loạitrách nhiệm hình sự nhẹ hơn sẽ được áp dụng đối với Bị cáo Quyền con người luônluôn được đảm bảo và thể hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự bằngmột quyền rất quan trọng là Quyền bào chữa của Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo
b) Thực hiện Quyền bào chữa là góp phần bảo vệ công lý.
Công lý là một khái niệm xuất hiện trong lĩnh vực triết học từ thời Hy Lạp cổđại và được phát triển mạnh mẽ trong nền khoa học pháp lý ngày nay Những tưtưởng, khát vọng về một nền công lý đích thực đã được Nguyễn Ái Quốc - ngườisáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà truyền bá về Việt Nam từ năm 1925
trong tác phẩm “Bản án Chế độ thực dân Pháp” (Chương VIII - Công lý) Với nhận
thức đúng đắn về tầm quan trọng của công lý, ngay sau khi thành lập Nhà nướccách mạng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức quan tâm đến nhiệm vụ củachính quyền nhân dân trong việc bảo vệ và thực thi công lý Điều 47 Sắc lệnh số 13của Chủ tịch nước ngày 24 tháng 01 năm 1946 quy định cách thức tổ chức Toà án
và các ngạch Thẩm phán trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã khẳng
định “Các vị Thẩm phán sẽ chỉ trọng pháp luật và công lý” Điều 25 Sắc lệnh này
quy định: Khi các Phụ thẩm nhậm chức, tại phiên toà đầu, ông Chánh án sẽ mời các
Trang 27Phụ thẩm tuyên thệ, nội dung lời tuyên thệ là “Tôi thề trước Công lý và nhân dân
rằng tôi sẽ suy xét cẩn thận những án đem ra xử, không hề ăn hối lộ, vị nể, vì sợ hãi hay vì tư lợi hay thù oán riêng mà bênh vực hay làm hại một Bị can nào Tôi sẽ cứ công bằng mà xét định mọi việc…” Có thể nói, công lý và bảo vệ công lý đã trở
thành vũ khí tư tưởng, chính trị, pháp lý sắc bén ngay từ những ngày đầu của Nhànước cách mạng nhân dân
Qua quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn sau 20 năm đổi mới, một trongnhững nội dung đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN đã được Đảng và Nhànước ta thừa nhận là yêu cầu tôn trọng và bảo vệ Quyền con người, quyền công dân;chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người Trên cơ sở đó, Nghị quyết số49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tưpháp đến năm 2020 đã một phần hiện thực hoá nội dung đặc trưng nói trên với yêucầu hệ thống tư pháp phải được hoàn thiện để hướng đến mục tiêu bảo vệ công lý,lẽ phải, lẽ công bằng
Những giá trị của công lý có thể được nhận diện trong các chính sách bảođảm công bằng xã hội, công bằng trong phân phối thu nhập, cơ hội phát triển vàđiều kiện thực hiện cơ hội nhằm thoả mãn một cách hợp lý những nhu cầu của cáctầng lớp xã hội, các nhóm xã hội, các cá nhân, xuất phát từ khả năng hiện thực củanhững điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Những giá trị của công lý cũng thể hiệntrong các yêu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện
hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch và đẩy mạnhcải cách hành chính, cải cách tư pháp
Trong cả lý luận và thực tiễn, những quyền cơ bản của cá nhân có thể bị vôhiệu hóa hoặc bị từ chối thực thi do các Cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ chế tốtụng không đáp ứng được đầy đủ và kịp thời yêu cầu phát triển của xã hội Các Cơquan tiến hành tố tụng và các thủ tục tố tụng luôn được xác định là những yếu tốquan trọng trong quá trình giúp các tổ chức, cá nhân tìm kiếm, tiếp cận công lý
Trong lĩnh vực tư pháp, công lý và bảo vệ công lý được xác định là mộttrong những mục tiêu cơ bản của Chiến lược cải cách tư pháp của Việt Nam đến
Trang 28năm 2020 Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Văn kiện Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định yêu cầu xây dựng Cơ quan tư pháp phảithật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý và Quyền con người.Chiến lược cũng xác định rõ mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh,dân chủ, nghiêm minh và bảo vệ công lý Hoạt động tư pháp mà trong đó Tòa ánđược xác định giữ vị trí trung tâm và công tác xét xử là hoạt động trọng tâm cầnphải được tiếp tục cải cách, nâng cao chất lượng, bảo đảm có hiệu lực và hiệu quả
cao Thủ tục hành chính trong các Cơ quan tư pháp cần tiếp tục được đổi mới nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý Các thủ tục, quy trình tốtụng cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện nhằm tạo một cơ chế tiếp cận công lý hữuhiệu, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam
Trong phạm vi luận văn, nghiên cứu tập trung phân tích vai trò của Quyềnbào chữa nên việc nghiên cứu khái niệm công lý sẽ tập trung vào lĩnh vực tư phápxét xử Công lý ở đây được hiểu là yêu cầu xử lý các vụ việc bằng các thủ tục tốtụng công bằng, hợp pháp nhằm bảo vệ lợi ích của xã hội và bảo vệ các Quyền conngười một cách nghiêm minh Công lý trong tư pháp xét xử không chấp nhận hiệntượng còn để xảy ra tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố và xét
xử Như vậy, để công lý có thể được bảo đảm thì các quy định liên quan đến hoạtđộng xét xử hình sự cần được minh bạch và rõ ràng, tạo tiền đề cho hoạt động xét
xử của Cơ quan tiến hành tố tụng cũng như hoạt động bào chữa của người có Quyềnbào chữa ở đây là Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo Việc đề ra nguyên tắc đảm bảoQuyền bào chữa cho Người bị tạm giữ,Bị can, Bị cáo thể hiện rõ tinh thần bảo vệcông lý trong lĩnh vực tư pháp xét xử các vụ án hình sự Người bị tạm giữ, Bị can,
Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình để bác bỏ sựbuộc tội hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự cho bản thân mình đã thể hiện rằngcông lý luôn được thực thi và bảo đảm Pháp luật xét xử đề ra những phương thứcxét xử một người bị tình nghi là phạm tội thì đồng thời cũng đề ra cơ chế để chonhững người đó có thể tự bảo vệ cho chính bản thân mình Như thế, một chế định
Trang 29pháp luật rõ ràng và đúng đắn góp phần làm cho hoạt động xét xử vụ án hình sựđược diễn ra một cách công bằng, đó cũng chính là cách để công lý được thực thi.
c) Thực hiện Quyền bào chữa nhằm bảo đảm giải quyết vụ án một cách khách quan.
Khách quan được hiểu là những gì mà con người có thể nhận thức đượchoặc không nhận thức được nhưng không thể thay đổi Đối với hoạt động xét xửtrong vụ án hình sự, việc bảo đảm Quyền bào chữa của Người bị tạm giữ, Bị can,
Bị cáo góp một phần quan trọng vào việc mang lại sự thật khách quan cho quátrình giải quyết vụ án
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn có tính chất quan trọng
vì trong giai đoạn này, Tòa án sẽ tiến hành việc xét xử và định tội danh đối với hành
vi mà Bị cáo bị truy tố theo cáo trạng của Viện kiểm sát, còn Bị cáo sẽ biết đượcrằng hành vi của mình có xem là một hành vi phạm tội không và nếu có thì mứchình phạt sẽ như thế nào, từ đó có thể xem xét đến việc khiếu nại phúc thẩm Tronggiai đoạn này, giữa một bên là Cơ quan tiến hành tố tụng đại diện cho quyền lựcNhà nước thực hiện việc xét xử và một bên là Bị cáo, người bị cho rằng có hành viphạm tội theo cáo trạng của Viện kiểm sát nêu ra do vậy hai bên Cơ quan tiến hành
tố tụng và người tham gia tố tụng đều phải tuân theo các quy định của pháp luật vàtôn trọng sự thật khách quan của vụ án Với vai trò của Quyền bào chữa là việc đưa
ra các chứng cứ chứng minh cho sự vô tội của mình hoặc để giảm nhẹ trách nhiệmhình sự đối với cáo buộc thì việc đảm bảo các yếu tố khách quan trong việc bàochữa là hết sức cần thiết Dựa trên những chứng cứ do Cơ quan điều tra điều trađược, Tòa án sẽ dựa vào đó để có thể xem xét và quyết định tội danh tuy nhiên phảicăn cứ vào quá trình tranh luận tại phiên tòa để có thể đưa ra một quyết định chínhxác nhất Bị cáo thông qua Quyền bào chữa của mình có thể thực hiện viện phảnbác lại các cáo buộc hoặc để yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình Việcxét xử của Tòa án phải căn cứ vào các kết quả điều tra cũng như quá trình bào chữacủa Bị cáo tại phiên tòa để có thể đưa ra một bản án, quyết định đúng đắn, bảo đảmđược tính khách quan của vụ án Như vậy với cơ chế thực hiện Quyền bào chữa củamình, Bị cáo được tự mình hoặc thông qua Người bào chữa để bảo vệ cho mình trên
Trang 30cơ sở tôn trọng sự thật khách quan của vụ án Việc các bên có quyền xem xét và sửdụng các chứng cứ chứng minh nhằm làm sáng tỏ tình tiết vụ án đã làm cho quátrình xét xử trở nên khách quan hơn, Tòa án có điều kiện để xem xét toàn diện vụ ándựa trên quá trình xét xử tại phiên tòa.
d) Thực hiện Quyền bào chữa góp phần bảo vệ pháp chế và trật tự pháp lý.
Pháp chế là một khái niệm mang tính khái quát cao và hiện tại không có mộtquy định của pháp luật nào định nghĩa chính xác pháp chế là gì Nhìn nhận mộtcách tổng quát, pháp chế là một chế độ và trật tự pháp luật trong đó tất cả các Cơquan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiệnpháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác Pháp chế và pháp luật cóquan hệ mật thiết với nhau, nhưng không đồng nhất Pháp chế là một phạm trù thểhiện sự đòi hỏi và những yêu cầu đối với các chủ thể pháp luật, phải triệt để tôntrọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội Một nền pháp chếthống nhất, vững chắc là cơ sở cần thiết cho hệ thống pháp luật điều chỉnh có hiệuquả các quan hệ xã hội, phát huy được hiệu lực của mình và chỉ khi có một hệ thốngpháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp và được sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung kịpthời khi cần thiết, thì nền pháp chế mới được củng cố và tăng cường
Xét dưới góc độ quan hệ pháp luật TTHS, việc đảm bảo Quyền bào chữa củaNgười bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo thể hiện sự bảo vệ pháp chế Theo quy định tạiHiến pháp, đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, việc đảm bảo Quyền con người,quyền công dân luôn là ưu tiên hàng đầu trong việc xây dựng một Nhà nước địnhhướng xã hội chủ nghĩa Như đã phân tích, Quyền bào chữa của Người bị tạm giữ,
Bị can, Bị cáo cũng chính là một quyền được thực hiện để bảo vệ Quyền con người.Với một nguyên tắc hiến định như vậy, BLTTHS 2003 tại các Điều 11, Điều 56,Điều 57 và Điều 58 đã quy định về việc thực hiện và bảo đảm Quyền bào chữa củaNgười bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo Chính việc thực hiện Quyền bào chữa trong hoạtđộng TTHS là sự bảo vệ pháp chế, bảo vệ các quy định pháp luật đã được ban hành
Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm và nghĩa vụ đảm bảo cho Người bị tạmgiữ, Bị can, Bị cáo được thực hiện Quyền bào chữa của mình còn Người bị tạm giữ,
Bị can, Bị cáo được thực hiện Quyền bào chữa của mình thông qua các quyền do
Trang 31luật định Tất cả đều được thực hiện một cách thống nhất dựa trên những quy địnhcủa pháp luật TTHS và việc đảm bảo cho Quyền bào chữa được thực hiện là mộtyêu cầu bắt buộc.
Cũng mang tính chất gần với việc bảo vệ pháp chế, việc bảo vệ trật tự pháp
lý nhằm bảo đảm rằng các quy định của pháp luật được thực hiện một cách nghiêmtúc theo đúng trình tự thủ tục luật định Điều này có nghĩa là đối với việc thực hiệnbào chữa trong TTHS thì các Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm đảm bảo choQuyền bào chữa được thực hiện theo đúng quy định tại BTLLTHS còn Người bịtạm giữ, Bị can, Bị cáo có quyền và nghĩa vụ thực hiện việc bào chữa của mình theođúng như luật định Việc phối hợp và thực hiện Quyền bào chữa phải theo đúngtrình tự pháp lý đã được đề ra
1.2.2 Ý nghĩa của hoạt động bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự
Như đã phân tích ở phần trên, hoạt động bào chữa là hoạt động của người cóQuyền bào chữa hoặc Người bào chữa bằng cách thực hiện các quyền theo luật định
để bác bỏ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do việc buộc tội gây
ra cho người có Quyền bào chữa ở đây là Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo
Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, tác giả tập trung làm rõ hoạt độngbào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hay cụ thể hơn chính là hoạt động bào chữatrong phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự Chính vì vậy Quyền bào chữa ở đây đượcthực hiện bởi chủ thể của nó là Bị cáo và Người bào chữa cho Bị cáo Do tính chấtđặc thù của phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là phiên tòa được mở ra nhằmđưa vụ án ra xét xử, tuy bản án của Tòa án đưa ra trong giai đoạn này chưa có hiệulực pháp lý thi hành ngay nhưng qua đó nó cũng đã thể hiện được quan điểm buộctội của Viện kiểm sát, quan điểm và quyết định xét xử của Hội đồng xét xử và quantrọng hơn là hiệu quả của việc thực hiện việc bào chữa của Bị cáo hoặc Người bàochữa cho Bị cáo Trên cơ sở phán quyết của Hội đồng xét xử, cả Bị cáo lẫn Ngườibào chữa có thể không đồng ý với phán quyết đó và tiến hành các thủ tục kháng cáocần thiết Do vậy, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự rất quan trọng Tại phiên
Trang 32tòa xét xử sơ thẩm giữa một bên là đại diện cho quyền lực Nhà nước gồm có Hộiđồng xét xử với chức năng là xét xử vụ án; Viện kiểm sát với chức năng buộc tội vàmột bên là Bị cáo, người đang bị tình nghi đã có hành vi vi phạm pháp luật hình sự
và bị truy tố đưa ra xét xử trước tòa với một tội danh do Viện kiểm sát truy tố thìviệc thực hiện hoạt động bào chữa có vai trò rất quan trọng Hoạt động bào chữa cóthể thực hiện bằng việc tự bào chữa của Bị cáo hoặc thông qua Người bào chữa đềuthể hiện sự đối kháng giữa quyền lực tư và quyền lực công khi cả hai bên đều xemxét và xác định một người nào đó có phạm tội theo đúng như cáo trạng đã nêu haykhông ? Khi Bị cáo đã có hành vi mà hành vi đó bị cho rằng đã vi phạm pháp luậthình sự thì sẽ bị truy tố ra trước tòa theo đúng quy định của pháp luật nhưng điều đókhông có nghĩa là Bị cáo đương nhiên là tội phạm do vậy việc thực hiện hoạt độngbào chữa tại phiên tòa có thể xem là một cơ hội để phản bác lại cáo buộc đã nêu.Như vậy, hai bên đều có thể thực hiện được quyền của mình trong hoạt động TTHS,
sự công bằng xã hội đã được bảo đảm giữa một bên là đại diện cho quyền lực Nhànước và một bên là quyền tư của một công dân
Bên cạnh đó, việc thực hiện hoạt động bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm còn có
ý nghĩa rất quan trọng trong việc góp phần tranh tụng trong TTHS Có thể nói,thông qua phiên tòa sơ thẩm, việc Bị cáo hoặc Người bào chữa cho Bị cáo có thựchiện việc bào chữa hiệu quả hay không là dựa vào kết quả phán quyết mà Hội đồngxét xử đưa ra Trong phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, phần thủ tục xét hỏi và tranhluận là hai thủ tục quan trọng nhất, nó góp phần đưa ra câu trả lời chính xác choviệc Bị cáo có phạm tội hay không phạm tội theo như cáo trạng đã nêu Trong phầntranh luận, Bị cáo hoặc Người bào chữa có thể trình bày các quan điểm của mình về
vụ án, đưa ra các chứng cứ chứng minh là mình vô tội hoặc để giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự cho mình Việc tranh tụng này được thực hiện đồng thời với phầntranh tụng của bị hại hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại đồng thời phảnbác lại các cáo buộc của Viện kiểm sát Một phiên tòa xét xử sẽ trở nên đơn điệuthiếu tính công bằng nếu như chỉ có một bên đại diện cho quyền lực Nhà nước làViện kiểm sát thực hiện việc buộc tội, Hội đồng xét xử thực hiện việc xét xử và đưa
Trang 33ra bản án, quyết định tội danh hoặc bên tham gia tố tụng khác là phía bị hại trìnhbày các quan điểm của mình nhằm khẳng định Bị cáo đã thực hiện một hành vi viphạm pháp luật hình sự đối với bản thân bị hại… mà thiếu đi sự tranh luận và phảnbác lại từ phía Bị cáo, người bào chữa Chính việc pháp luật quy định cho Bị cáo cóQuyền bào chữa nhằm đem lại cho phiên tòa xét xử sơ thẩm một sự công bằng khi
mà các bên đều có quyền phát biểu ý kiến của mình nhằm bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp cho bản thân, nhất là phía bị cáo Việc thực hiện các hoạt động bào chữacủa Bị cáo hoặc Người bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm đã tạo nên một không khítranh luận, nơi mà các bên được thể hiện quan điểm của mình đối với vụ án đó tùyvào vai trò tham gia tố tụng của các bên Như vậy việc tranh tụng trong một phiêntòa xét xử đã được đảm bảo bởi sự thực hiện các quyền theo luật định của các bên
Nhìn chung việc thực hiện các hoạt động bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm vụ
án hình sự có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong hoạt động xét xử vụ án hình sự Quyềnbào chữa vừa là quy tắc luật định theo Hiến pháp nhằm thực thi và bảo đảm Quyềncon người cũng như vừa là chế định giúp cho Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo cóthể thực hiện được các quyền của mình nhằm tạo ra sự công bằng và bình đẳngđồng thời giữ vững được trật tự pháp lý mà pháp luật TTHS đã đề ra, pháp chế luônluôn được bảo đảm một cách tốt nhất
1.3 Quyền bào chữa và Quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự trong pháp luật quốc tế
Có thể nói, Quyền bào chữa trong các quy định của pháp luật quốc tế đã xuấthiện và được khẳng định từ lâu xuất hiện đồng thời trong việc khẳng định và bảo vệQuyền con người
1.3.1 Quy định về Quyền bào chữa trong một số văn kiện pháp lý quốc tế
Theo định nghĩa của các điều ước quốc tế, Quyền bào chữa là một chuẩnmực bắt buộc (jus cogens) [8, tr.11] trong quyền được xét xử công bằng Tập hợp
các quyền để có được chuẩn mực xét xử công bằng (thường được nhắc đến như
những quyền căn bản hay sự bảo đảm tối thiểu về xét xử theo đúng pháp luật tố tụng) [15, tr.36] được nêu trong các quy định của Điều 14 Công ước quốc tế về
Quyền chính trị và Dân sự (ICCPR) Những quyền cá nhân này bao gồm cả Quyền
Trang 34bào chữa, bản thân nó không phải là các chuẩn mực ”jus cogen” vì chúng có thểđược giải thích theo ngữ cảnh hoặc thậm chí bị làm giảm chuẩn nhằm đạt được mụctiêu xét xử công bằng [12, tr.28].
Theo Điều 14, mục 3 Công ước ICCPR có quy định:
b) Có đủ thời gian và phương tiện chuẩn bị cho việc bào chữa của mình và tiếp xúc với Người bào chữa do mình lựa chọn;
c)…
d) … tự bào chữa… thông qua biện pháp trợ giúp pháp lý (TGPL) mà người
đó lựa chọn; được thông báo về quyền này nếu người đó chưa có TGPL; và được chỉ định nhận TGPL trong mọi tình huống mà những lợi ích của công lý đòi hỏi, mà không phải trả tiền trong cho dù anh ta không có đủ tiền để trả
Quy định trên được hiểu rằng khi có phán quyết của Tòa án về một tráchnhiệm hình sự, thì mọi người đều có quyền tối thiểu như trên Điều 14 củaICCPR đưa ra nội dung của mọi khía cạnh quan trọng của quy chuẩn quyềnđược xét xử công bằng
Một điều ước quốc tế khác là Hiệp định Châu Âu cũng quy định về bảo vệQuyền con người và sự tự do cơ bản của con người cũng quy định liên quan đếnviệc thực hiện và đảm bảo Quyền bào chữa Điều 6.3 của Hiệp định Châu Âu về
bảo vệ Quyền con người và sự tự do cơ bản (ECHR) quy định rằng bất kỳ ai khi Bị
cáo buộc phạm tội hình sự đều có các quyền tối thiểu là tự bào chữa cho mình thông qua sự TGPL do chính người đó lựa chọn hoặc nếu người đó không có đủ khả năng chi trả cho TGPL thì được nhận TGPL miễn phí khi cần thiết để có thể đạt được các mục tiêu công lý.
Các quyền của Bị can,Bị cáo quy định trong Điều 14(3) của ICCPR cũngđược phản ánh trong khuôn khổ mang tính lập hiến của các Tòa án và Hội đồng xét
xử hình sự quốc tế [18] Quyền được xét xử công bằng được các Tòa án quốc tế coi
là những tiền đề cơ bản để tiến hành thủ tục tố tụng quốc tế Trong nhiều khía cạnh
sự thành công hay thất bại của những thủ tục tố tụng này được đánh giá dựa trênchuẩn mực xét xử công bằng [12, tr.96] Những quy định liên quan đến Quyền bào
Trang 35chữa trong những Tòa án này được phản ánh trong Điều 14(3) (b) và (d) củaICCPR Việc áp dụng quyền được tiến hành tố tụng đúng đắn như Quyền bào chữa
về nguyên tắc được giải thích phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể
Nhìn chung, pháp luật quốc tế về Quyền bào chữa có nhiều cách nhìn nhận
và đánh giá khác nhau nhưng nhìn chung đều khẳng định Quyền bào chữa là mộttrong những quyền của Quyền con người và cần được bảo đảm thực hiện trong thực
tế Theo nghiên cứu của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) được thểhiện trong Báo cáo Quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại ViệtNam đã ghi nhận có 9 quyền cơ bản cấu thành Quyền bào chữa trong pháp luậtquốc tế về nhân quyền và tập quán quốc tế, cụ thể là:
(i) Quyền có được Người bào chữa do mình lựa chọn;
(ii) Quyền được có đủ thời gian để chuẩn bị cho phiên tòa, bao gồm tiếp xúc với người bào chữa;
(iii) Quyền được giao tiếp bí mật với Luật sư;
(iv) Quyền bào chữa thông qua trợ giúp pháp lý;
(v) Quyền được tạm hoãn thủ tục tố tụng để được tham vấn Luật sư;
(vi) Quyền được tự bào chữa;
(vii) Quyền bào chữa là hành vi bảo vệ quyền lợi của Bị cáo;
(viii) Quyền không phải tiến hành tố tụng với Luật sư bào chữa
là người không đủ năng lực hoặc thiếu cẩn thận trong khi Bị can, Bị cáo đã có Luật sư phù hợp và
(ix) Quyền bào chữa trong tất cả các giai đoạn tố tụng đối với hình phạt án
tử hình.
Để có một cái nhìn tổng quát hơn về hệ thống pháp luật quốc tế về Quyềnbào chữa, tác giả xin giới thiệu qua một số quy định về Quyền bào chữa trong hệthống pháp luật một số quốc gia tiêu biểu
1.3.2 Quy định về Quyền bào chữa trong pháp luật của một số nước tiêu biểu
a) Trung Quốc.
Trong hệ thống tư pháp hình sự của Trung Quốc và cấu trúc của hệ thống tư
Trang 36pháp hình sự Trung Quốc, Quyền bào chữa hợp pháp tăng dần theo cấp độ bậcthang vì một vụ án được tiến hành từ quá trình điều tra tiền xét xử, đến luận tội, đếnxác định có tội hay vô tội trước tòa Mỗi giai đoạn này nằm trong phạm vi hoạtđộng của mỗi tổ chức thể chế riêng biệt Các cuộc điều tra hoàn toàn do Cơ quanCông an kiểm soát, giai đoạn luận tội được các Kiểm sát viên thực hiện và cácphiên tòa được tiến hành bởi Tòa án [2, tr.91].
Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, được thông qua tại Kỳ họpthứ 5 Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc lần thứ 5 ngày 4 tháng 12 năm 1982,được thông qua tại Kỳ họp thứ 1 Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc lần thứ 8ngày 29 tháng 3 năm 1993) không có một quy định nào về Quyền bào chữa, cũngkhông đưa ra một nội dung nào khác trong tố tụng tư pháp hình sự Do thiếu đi sựbảo vệ về mặt hiến pháp, Quyền bào chữa trong pháp luật hình sự Trung Quốc đềuđược điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật chuyên ngành riêng biệt và thiếu đi sựnhất quán cần thiết Quyền bào chữa trong TTHS được xác định chủ yếu bởi LuậtTTHS, được sửa đổi vào tháng 03/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2013[39] Ngoài ra, Quyền bào chữa trong TTHS cũng được quy định trong Luật Luật sư
và Đại diện pháp luật năm 1996 (sửa đổi năm 1998) Theo quy định, Quyền bào
chữa trong TTHS được thực hiện hầu hết ở các quá trình tố tụng từ điều tra, truy tốđến xét xử tại tòa Có thể nhận thấy hoạt động bào chữa theo luật pháp Trung Quốc
có nhiều điểm tương đồng với pháp luật TTHS Việt Nam về Quyền bào chữa
Tuy nhiên, việc thực thi Quyền bào chữa theo pháp luật TTHS Trung Quốckhông thật sự hiệu quả vì nhiều nguyên nhân Mặc dù đã có quy định tối thiểu vềviệc bảo vệ Quyền bào chữa trong Luật TTHS sửa đổi năm 2012, cụ thể là việc mởrộng các quyền cấu thành trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử nhưng việc ápdụng bị cản trở bởi quy định không chịu trách nhiệm của các Cơ quan tư pháp hình
sự Trung Quốc và việc pháp luật không quy định hình phạt cho việc không thực thinghĩa vụ công và biện pháp pháp lý đối với việc ngăn chặn việc tiếp cận pháp lý,đặc biệt là khi có các cáo buộc liên quan đến “bí mật nhà nước” hay an ninh quốcgia, khủng bố, tham nhũng nghiêm trọng [5, tr.20]
Trang 37b) Nhật Bản
Hiến pháp Nhật Bản, một đạo luật tối cao và được ưu tiên áp dụng nhất sovới bất kỳ các văn bản quy phạm pháp luật nào Do vậy bất kỳ nguyên tắc và chếđịnh nào được quy định trong Hiến pháp cũng sẽ trở thành một cơ sở pháp lý vữngchắc cho việc đảm bảo và thực thi quyền hoặc chế định đó
Điều 11 của Hiến pháp giải thích mục đích của Chương III quy định vềquyền và bổn phận của con người; theo đó Điều luật quy định không ai được phépngăn cản người Nhật Bản hưởng bất kỳ quyền cơ bản nào của con người Hơn nữa,những quyền này được đảm bảo, được hưởng vĩnh viễn và bất khả xâm phạm.Chương này của Hiến pháp cũng khái quát và xác định Quyền bào chữa theo phápluật Nhật Bản
Điều 34 quy định không ai bị bắt hay giam giữ mà không có ngay đặc quyền
được bào chữa Ngoài ra, Điều 37(3) cũng quy định rằng “vào mọi thời điểm Bị
can,Bị cáo phải được Luật sư bào chữa có đủ năng lực trợ giúp - người có thể được Nhà nước chỉ định sử dụng nếu Bị cáo không thể tự bào chữa" [12].
Mặc dù Hiến pháp Nhật Bản coi Quyền bào chữa như một quyền cơ bản và
tự do, nhưng những hạn chế nhất định đã giới hạn Luật sư do Nhà nước chỉ định chỉdành cho Bị cáo và không cho người bị tình nghi, vấn đề này đã hạn chế rất lớn đếnviệc thực hiện Quyền bào chữa như tinh thần ban đầu của Hiến pháp Khả năng đểLuật sư bào chữa tiếp cận thân chủ còn bị hạn chế hơn trong thực tế và trong việcgiải thích Hiến pháp theo tư pháp và hành pháp – là những hạn chế nhìn chung bịcộng đồng quốc tế đánh giá là vi phạm Quyền bào chữa cơ bản [6, tr.22]
c) Cộng hòa Liên bang Đức
Cũng giống như Hiến pháp Trung Quốc, Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đứcvới tư cách là luật mẫu cũng không có một quy định rõ ràng nào liên quan đến việcbảo đảm Quyền bào chữa Hiện nay, Quyền bào chữa được quy định chính trong Bộluật TTHS của Đức (CCP) có hiệu lực từ năm 1877 Bộ luật TTHS Đức có mộtchương đầy đủ quy định dành cho các quyền luật định và thủ tục tiếp cận Người bàochữa cho cá nhân theo hệ thống pháp luật hình sự [10] Một điểm đáng lưu ý trong
Trang 38BLTTHS Đức là không có quy định rõ về Quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra,điều này có nghĩa là việc điều tra trong TTHS ở Đức còn chưa đảm bảo cho Quyềnbào chữa còn các giai đoạn tố tụng sau đó đều có quy định về Quyền bào chữa, từgiai đoạn có cáo trạng đến giai đoạn xét xử.
Kết luận Chương 1
Qua việc phân tích các khái niệm liên quan đến Quyền bào chữa trong luậtTTHS Việt Nam cũng như một số quy định của pháp luật một số nước và các điềuước quốc tế về Quyền bào chữa, chúng ta có thể đánh giá tổng quan về Quyền bàochữa như sau:
- Thứ nhất, nguyên tắc đảm bảo Quyền bào chữa của Người bị tạm giữ, Bị
can, Bị cáo đã được xem như là một trong những nguyên tắc đảm bảo Quyền conngười, đã được ghi nhận trong các Điều ước quốc tế và có giá trị pháp lý được quốc
tế hóa Chính vì vậy, các quy định pháp luật liên quan đến nguyên tắc bảo đảmQuyền bào chữa chính là một xu thế tất yếu của thời đại
- Thứ hai, Quyền bào chữa là một trong các chế định quan trọng không thể
thiếu được của pháp luật TTHS Việt Nam Nguyên tắc bảo đảm Quyền bào chữađược quy định xuất phát từ việc đảm bảo thực hiện Quyền con người và nhữngquyền cơ bản khác của công dân Việc thực hiện tốt các nguyên tắc bảo đảm Quyềnbào chữa của Người bị tạm giữ, Bị can, Bị cáo giúp cho các Cơ quan tiến hành tốtụng xác định được sự thật khách quan của vụ án, giúp hoạt động TTHS được tiếnhành đúng trình tự, đảm bảo việc xét xử công minh, kịp thời, không để lọt tội phạm
và không buộc tội oan người vô tội
Trong phạm vi Chương I này, tác giả đã nêu một cách tổng quan nhất vềQuyền bào chữa, từ khái niệm đến hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đềnày Thông qua giới thiệu khái quát về quyền bào chữa trong pháp luật Việt Namđến Quyền bào chữa trong hệ thống pháp luật quốc tế đã phần nào cho thấy đượcvai trò, tầm quan trọng của Quyền bào chữa trong việc thực hiện Quyền con ngườihiện nay Tuy nhiên, thông qua quá trình tiến hành hoạt động TTHS thì giữa một
Trang 39bên là các quy định của pháp luật và một bên là thực tiễn áp dụng đã có những sựkhác biệt nhất định Những vấn đề này sẽ được tác giả tiếp tục giải quyết trongChương 2 của Luận văn này.
Trang 40Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG QUYỀN BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.1 Sơ lược lịch sử các quy định pháp luật Việt Nam về Quyền bào chữa
và Quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
2.1.1 Giai đoạn từ khi Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945 đến trước khi ban hành BLTTHS năm 1988
Ngày 02/9/1945 Cách mạng tháng Tám thành công và khai sinh ra nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa Đây là Nhà nước dân chủ của nhân dân tuy chỉ mớithành lập, còn hết sức non trẻ lại phải đối mặt với tình hình đối nội và đối ngoạihết sức phức tạp nhưng Nhà nước ta đã quan tâm đến việc bảo vệ quyền tự do dânchủ của công dân, trong đó Quyền bào chữa được đề cập đến như một khía cạnhcủa quyền công dân
Ngày 13/9/1945, Chính phủ lâm thời ra sắc lệnh số 33/SL về việc thành lậpTòa án là Cơ quan xét xử đầu tiên ở nước ta Lần đầu tiên, Sắc lệnh này quy địnhcác nguyên tắc cơ bản của hoạt động xét xử nguyên tắc bảo đảm quyền tự do bàochữa hoặc nhờ người khác bào chữa của Bị cáo (Điều V, đoạn 4)
Ngày 10/10/1945, Nhà nước ban hành Sắc lệnh 46/SL quy định về việc thànhlập các tổ chức đoàn thể Luật sư Theo quy định tại Điều 2 Sắc lệnh này thì các Luật
sư có Quyền bào chữa ở tất cả các Tòa án hàng tỉnh trở lên và trước tất cả các Tòa
án quân sự
Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 về Tổ chức Tòa án và ngạch thẩm pháncũng quy định rõ tại Điều 46 với nội dung rằng các Luật sư có quyền biện hộ trướctất cả các tòa án, trừ tòa án sơ cấp
Có thể nói, pháp luật TTHS sau Cách mạng tháng Tám đã trở thành cơ sởpháp lý vững chắc để bảo vệ các quyền công dân, trong đó có Quyền bào chữa của
Bị cáo trước Tòa án Tuy nhiên trong các văn bản pháp luật nêu trên, Quyền bàochữa của Bị cáo chỉ được đề cập thông qua quy định về quyền của Luật sư bào chữa