Trình bày một số vấn đề chung về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh (sau đây gọi là biện pháp bắt buộc chữa bệnh – BPBBCB) như: khái niệm, đặc điểm của BPBBCB; phân biệt BPBBCB với hình phạt và biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với tính cách là biện pháp xử lý vi phạm hành chính. Khái quát sự phát triển của chế định biện pháp tư pháp (BPTP) nói chung, BPBBCB nói riêng, nghiên cứu các quy định cụ thể và đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về BPBBCB trong Bộ luật hình sự hiện hành của Việt Nam trong lịch sử pháp luật hình sự của nước ta từ năm 1945 đến nay, đánh giá những ưu điểm, những tồn tại và các nguyên nhân cơ bản của những tồn tại đó. Đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định về BPBBCB trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng của biện pháp này trong thực tiễn. 12. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn: góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, TA) nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong các giai đoạn tố tụng và thi hành án.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THANH SƠN
BIỆN PHÁP TƯ PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở các số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TSKH LÊ VĂN
CẢM
Trang 2HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví
dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Ngô Thanh Sơn
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội .1
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn 1
Tôi xin chân thành cảm ơn! 1
NGƯỜI CAM ĐOAN 1
Ngô Thanh Sơn 1
Bắt buộc chữa bệnh là biện pháp cưỡng chế do Tòa án, Viện kiểm sát tùy theo giai đoạn tố tụng áp dụng buộc người mà trong hoặc sau khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng trước khi xét xử hoặc đang chấp hành hình phạt mà mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình vào cơ sở điều trị chuyên khoa để chữa bệnh, nhằm xử lý tội phạm được triệt để, đồng thời loại bỏ những điều kiện có thể dẫn đến tội phạm mới trong tương lai do tình trạng bệnh của người bị áp dụng 24 Xuất phát từ khái niệm, bản chất pháp lý đã nêu về BPBBCB trong Bộ luật hình sự, chúng ta có thể nhận thấy có sáu đặc điểm chủ yếu như sau: a) BPBBCB là biện pháp cưỡng chế về hình sự được quy định trong BLHS; b) BPBBCB được áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; c) BPBBCB được áp dụng bởi các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền; d) BPBBCB không tạo ra án tích cho người bị áp dụng; đ) BPBBCB được áp dụng nhằm xử lý tội phạm được triệt để và toàn diện; e) BPBBCB là
Trang 5biện pháp cưỡng chế hình sự mang tính nhân đạo Dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét nội dung của từng đặc điểm chủ yếu này: 25 a) BPBBCB là biện pháp cưỡng chế về hình sự được quy định trong BLHS.25 Trong xã hội luôn cần có sự cưỡng chế để điều chỉnh các quan hệ xã hội, đảm bảo điều kiện tồn tại của xã hội Ở xã hội xã hội chủ nghĩa cưỡng chế là biện pháp có vai trò rất quan trọng để đảm bảo trật tự xã hội, bảo vệ giai cấp thống trị, đấu tranh phòng chống và ngăn ngừa tội phạm Do tính chất đa dạng của hành vi nguy hiểm cho xã hội đòi hỏi cần phải có nhiều cách thức cưỡng chế phù hợp Trong số các biện pháp cưỡng chế, BPBBCB là biện pháp cưỡng chế có hiệu quả Tính chất cưỡng chế của BPBBCB thể hiện ở chỗ: thứ nhất,
nó được áp dụng một cách bắt buộc, không tùy thuộc vào sự mong muốn của những người bị mắc bệnh hay của người thân thích hoặc người đại diện của họ; thứ hai, nó gắn với việc hạn chế tự do cá nhân, và thứ ba, nó được áp dụng khi có quyết định của Viện kiểm sát hoặc Tòa án tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng [54, tr.831] 25 Tuy nhiên, BPBBCB chỉ được áp dụng đối với những hành vi vi phạm pháp luật hình sự, những hành vi vi phạm các quy định pháp luật chuyên ngành khác như hành chính, dân sự… thì không thể bị áp dụng BPBBCB Vì là biện pháp cưỡng chế hình sự nên BPBBCB cũng mang những nội dung cưỡng chế nhất định, tuy nhiên sự cưỡng chế ở BPBBCB không quá nghiêm khắc như hình phạt mà chỉ ở mức độ ngăn ngừa hành vi tiếp tục vi phạm của người bị
áp dụng đồng thời còn mang tính chất nhân đạo Vì trong các hình thức của TNHS thì hình phạt là hình thức cơ bản và quan trọng nhất nên tính cưỡng chế nghiêm khắc để tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội chủ yếu được thể hiện trong hình phạt, còn BPBBCB là để nhằm hỗ trợ hoặc trong những trường hợp đặc biệt dùng để thay thế cho hình phạt Là một dạng biện pháp cưỡng chế hình sự nên nội dung của BPBBCB cũng mang tính tước
bỏ hoặc hạn chế một số quyền nhất định của người bị áp dụng nhưng không nhằm gây đau đớn về thể xác hoặc hạ thấp danh dự nhân phẩm của người bị
áp dụng Bởi lẽ BPBBCB cũng như hình phạt và án tích luôn được xây dựng trên cơ sở nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự như nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc dân chủ 26
Để bảo vệ một cách vững chắc các quyền và tự do của con người bằng pháp luật hình sự chống lại sự tùy tiện, chuyên quyền trong nhận thức và hành vi của một bộ phận quan chức thoái hóa, biến chất và vụ lợi khi thực thi công
Trang 6vụ, BLHS năm 1999 bằng các quy phạm trong Phần chung về nhiệm vụ của BLHS (đoạn 2 Điều 1) đã ghi nhận tư tưởng “tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội” phải được luật hình sự quy định [17, tr.264] Hơn nữa, với tính chất là một trong các dạng trách nhiệm pháp lí nghiêm khắc nhất, việc áp dụng BPBBCB cũng đem lại những hậu quả pháp lí bất lợi cho người bị áp dụng, vì vậy để tránh việc áp dụng tùy tiện gây ảnh hưởng đến quyền lợi của những người tham gia tố tụng (người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc người bị kết án) BPBBCB phải được quy định trong BLHS để làm căn
cứ pháp lí cho việc áp dụng và thi hành trên thực tế Đây là cơ sở rất quan trọng để đảm bảo tính pháp chế, Luật hình sự ràng buộc các cơ quan tiến hành
tố tụng chỉ được áp dụng những biện pháp cưỡng chế nói chung và đối với BPBBCB nói riêng đã được quy định rõ trong BLHS BPBBCB được quy định tại các Điều 43, 44 của BLHS 26 Khác với hình phạt chỉ được áp dụng đối với các hành vi là tội phạm, BPBBCB còn được áp dụng với cả những hành vi nguy hiểm cho xã hội Có nghĩa là có hai nhóm đối tượng bị áp dụng BPBBCB Thứ nhất, là người phạm tội, đây là người bị truy cứu TNHS trong vụ án và BPBBCB áp dụng đối với họ cũng là để giải quyết TNHS của người này Thứ hai, là những người tuy có hành vi nguy hiểm nhất định nhưng hành vi đó của họ không đủ dấu hiệu để cấu thành tội phạm Đây là trường hợp họ không có năng lực TNHS 27 Trong thực tiễn thì người đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi (tức là không có năng lực chịu TNHS) vẫn có thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc sau khi thực hiện hành vi mới mắc bệnh, trường hợp này họ bị coi là tạm thời không có năng lực TNHS Việc kết án cũng như áp dụng hình phạt với họ vừa trái với nguyên tắc nhân đạo được Luật hình sự Việt Nam thừa nhận, vừa không đạt được mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội, không đạt được hiệu quả của hình phạt, tuy nhiên để phòng ngừa và ngăn chặn họ tiếp tục thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội thì việc áp dụng BPBBCB là hết sức cần thiết và phù hợp, đồng thời còn thể hiện nguyên tắc nhân đạo sâu sắc .28 Với tính chất là một trong các dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, mặc dù không giống như hình phạt song việc áp dụng BPBBCB cũng đem lại những hậu quả pháp lý bất lợi cho người bị áp dụng, do đó việc áp dụng biện
Trang 7pháp này trên thực tế đòi hỏi phải hạn chế tối đa sự tùy tiện, chính vì thế BLHS 1999 giao thẩm quyền áp dụng BPBBCB cho các cơ quan tư pháp hình
sự, bao gồm 2 cơ quan là Tòa án, Viện kiểm sát tùy vào từng giai đoạn tố tụng
cụ thể áp dụng theo một trình tự nhất định được quy định trong BLTTHS Việc ràng buộc này là để đảm bảo nguyên tắc pháp chế, là cơ sở để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân 28 Chính sách hình sự của Nhà nước ta là huy động tối đa, đồng bộ các biện pháp, các phương tiện để giải quyết triệt để những vấn đề phát sinh trong vụ
án hình sự Tuy nhiên, hình phạt với tư cách là phương tiện chính lại không thể giải quyết hết những khía cạnh pháp lý nảy sinh trong vụ án hình sự, đặc biệt là trong những trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; hoặc người phạm tội trong khi có năng lực TNHS nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; hoặc trong trường hợp người đang chấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì BPBBCB được áp dụng để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình tố tụng cũng như trong thời gian đang chấp hành hình phạt, nhằm thay thế hoặc hỗ trợ cho hình phạt có thể đạt được mục đích và hiệu quả tối đa là không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giúp cho họ trở thành những người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tuân thủ pháp luật Nói một cách khác việc quy định và áp dụng BPBBCB nhằm góp phần giải quyết một cách trọn vẹn, triệt để hơn các vấn đề phát sinh trong vụ án hình sự bao gồm cả vấn đề TNHS của người phạm tội và các vấn đề khác như lợi ích của Nhà nước, của
xã hội và cả quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Việc quy định và áp dụng BPBBCB trong pháp luật hình sự thể hiện phương châm đúng đắn trong việc thực hiện chính sách hình sự là sử dụng tối đa, đồng bộ mọi biện pháp để nhằm răn đe, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm, góp phần nâng cao hiệu quả của sự tác động hình sự đối với tội phạm và hình phạt không phải là phương tiện, công cụ duy nhất trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm 31 Trong xu thế hội nhập quốc tế về mọi phương diện kinh tế, xã hội…và trước yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật, chúng ta nên nghiên cứu pháp luật của
Trang 8các nước trên thế giới để học hỏi cách thức lập pháp, áp dụng pháp luật và tránh những hạn chế mà các nước gặp phải Để hoàn thiện chế định BPBBCB trong BLHS 1999 cũng nên xem xét các quy định pháp luật tương tự ở một số nước Tác giả nhận thấy phần lớn trong hệ thống pháp luật hình sự của một số nước không có quy định về BPBBCB nhưng có quy định các biện pháp cưỡng chế hình sự tương tự như biện pháp này về vai trò, mục đích, tính chất 35 BLHS Nga quy định về biện pháp cưỡng chế có tính chất y học tương tự như BPBBCB trong pháp luật hình sự Việt Nam Đặc biệt, các biện pháp này được quy định thành một chương riêng với 8 Điều luật Biện pháp này được áp dụng với người thực hiện hành vi quy định tại phần riêng của BLHS khi không có năng lực TNHS hoặc sau khi phạm tội mà mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi… Nhưng đặc biệt khác với BPBBCB trong BLHS nước ta, biện pháp an ninh còn được áp dụng với người phạm tội đang trong tình trạng nghiện rượu hay nghiện ma túy Đây là điểm rất hay trong quy định của pháp luật hình sự Nga, thiết nghĩ trong thời gian tới Việt Nam cần nghiên cứu và vận dụng quy định này 35 Trong hệ thống pháp luật hình sự Tây Ban Nha, cụ thể là trong BLHS năm
1995 thì quy định các biện pháp an ninh tại phần 4 Quyển 1 nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm mới Trong đó có biện pháp đưa vào một cơ sở tâm thần, đưa vào cơ sở phục hồi và đưa vào cơ sở giáo dục đặc biệt Đây là các biện pháp cưỡng chế hình sự khác không phải là hình phạt được áp dụng để ngăn ngừa tội phạm 36 Tương tự như BPBBCB trong BLHS Việt Nam trong BLHS Thụy Điển cho phép Tòa án có thể xem xét điều kiện tâm thần, hoàn cảnh cá nhân cụ thể để quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở điều trị tâm thần cùng với việc hạn chế tự do và các biện pháp cưỡng chế khác đối với người phạm tội do ảnh hưởng của rối loạn tân thần nghiêm trọng và hành vi phạm tội của họ không giới hạn bị áp dụng phạt tiền, đó là biện pháp đưa vào cơ sở chăm sóc đặc biệt được được quy định tại Điều 3 BLHS Thụy Điển Ngoài ra, pháp luật hình sự Thụy Điển còn quy định trong trường hợp người mắc bệnh tâm thần ở mức độ cao thì sẽ không bị truy cứu TNHS Tuy nhiên, đối với trường hợp này Tòa án cần phải điều tra đặc biệt để tránh nguy cơ truy cứu một người vì lý do tâm thần Một điều đáng đáng lưu ý là biện pháp này vẫn được xem là một trong các hình phạt được quy định trong hệ thống các hình phạt của BLHS Thụy
Trang 9Điển trong khi BPBBCB trong Luật hình sự Việt Nam không phải là hình phạt 36 Biện pháp lưu trú trong bệnh viện tâm thần là một trong các biện pháp xử lý cải thiện và đảm bảo an toàn quy định trong BLHS Đức được áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi mắc bệnh tâm thần Biện pháp này theo quy định của BLHS Đức không thuộc hệ thống hình phạt mà thuộc hệ thống biện pháp xử lý hình sự riêng biệt có mục đích cải thiện tình trạng của người bị áp dụng cũng như bảo đảm an toàn xã hội Để quyết định biện pháp xử lý này Tòa án không chỉ căn cứ vào ý nghĩa của hành vi đã thực hiện mà còn phải căn cứ cả vào ý nghĩa của các hành vi được dự liệu cũng như mức độ của sự nguy hiểm từ phía người phạm tội 37 Trong Luật hình sự hiện hành của Trung Hoa cũng có quy định một số biện pháp cưỡng chế hình sự tương tự như các biện pháp tư pháp ở nước ta Tuy nhiên, BLHS Trung Hoa lại không có bất cứ một điều luật nào quy định cụ thể về các biện pháp tư pháp, thậm chí những biện pháp cưỡng chế hình sự giống như các biện pháp tư pháp của Việt Nam cũng không có tên gọi cụ thể
và nằm rải rác trong các quy định tại phần chung của Bộ luật hình sự Trung Hoa Một biện pháp tương tự như BPBBCB quy định tại Điều 15 BLHS Trung Hoa: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu TNHS Nhưng người nhà hoặc người bảo lãnh phải tăng cường kiểm tra và chữa bệnh cho họ” Có thể thấy quy định trên của BLHS Trung Hoa đã giao trách nhiệm chữa bệnh đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi cho người thân hoặc người bảo lãnh, còn trong Luật hình sự Việt Nam trách nhiệm này thuộc về nhà nước (chi phí điều trị: tiền viện phí, tiền thuốc và các chi phí khác phục vụ cho việc chữa bệnh cho người bị bắt buộc chữa bệnh do Nhà nước cấp [1, tr.342]), điều này một mặt thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối công dân, một mặt thể hiện bản chất nhân đạo sâu sắc của pháp luật hình sự Việt Nam trong đường lối xử
lý đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nói chung và với người mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi khi thực hiện tội phạm do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác nói riêng 37 BPBBCB là một trong những biện pháp cưỡng chế hình sự có vai trò quan trọng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm Việc áp dụng BPBBCB là cần
Trang 10thiết vì khi áp dụng chúng có khả năng tác động hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt trong đó có việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong vụ án hình sự
và mặc dù giữa BPBBCB và hình phạt đều có những nét tương đồng nhất định như: đều là những biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước được quy định trong Luật hình sự (1); do Toà án áp dụng đối với cá nhân người có hành vi nguy hiểm cho xã hội (2); theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do BLTTHS quy định (3); nhằm loại bỏ những điều kiện có thể dẫn đến tội phạm mới trong tương lai, đồng thời cả hai biện pháp này khi áp dụng đều dựa trên
cơ sở nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc công bằng và tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con người (4) Nhưng giữa BPBBCB và hình phạt cũng có những điểm khác nhau, và chính những điểm khác nhau đó mà hình phạt và BPBBCB có những vai trò và vị trí riêng khi được áp dụng trên thực tế Những điểm khác nhau giữa BPBBCB và hình phạt có thể nhận thấy khi so sánh các tiêu chí sau: 65 Bảng 1.1 Những điểm khác nhau giữa BPBBCB và hình phạt 65 Nhằm phòng ngừa tội phạm thông qua việc chữa trị những nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội của người bị áp dụng và loại
bỏ những điều kiện có thể dẫn đến việc phạm tội mới trong tương lai do tình trạng bệnh của người bị áp dụng Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng BPBBCB được biểu hiện dưới dạng tước tự do hoặc hạn chế tự do của người bị áp dụng trong một thời hạn nhất định là nhằm hướng đến mục đích phòng ngừa tội phạm, bảo vệ xã hội khi người bị áp dụng tái hoà nhập cộng đồng chứ việc áp dụng biện pháp này đối với người bị áp dụng không phải là sự trừng trị của Nhà nước đối với người bị áp dụng, cũng không phải là sự trả giá của người
bị áp dụng khi họ đã thực hiện hành vi phạm tội như khi áp dụng hình phạt 69 Cùng với TNHS, trách nhiệm hành chính cũng được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, do đó nếu đem BPBBCB so sánh với nội hàm của khái niệm trách nhiệm hành chính thì rõ ràng sẽ là rất khập khiễng bởi hai đối tượng đem so sánh là không tương thích với nhau Vì vậy ở đây tác giả chỉ muốn so sánh BPBBCB với biện pháp có tính chất tương tự thuộc nội dung của trách nhiệm hành chính đó là Biện pháp đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (PLXLVPHC) năm 2002 sửa đổi bổ sung
2007, 2008 và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong Luật xử lý
vi phạm hành chính (LXLVPHC) năm 2012 nhằm làm rõ hơn bản chất cũng
Trang 11như vai trò của BPBBCB dùng hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt Sự khác
nhau thể hiện ở những tiêu chí sau: 70
Bảng 1.2 Những điểm khác nhau giữa BPBBCB với biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 70
STT 70
Tiêu chí 70
Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh 70
Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 70
BPBBCB 70
1 70
Đối tượng 70
áp dụng 71
Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định) 70
(Điều 96 LXLVPHC 2012) 72
Người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, đó có thể là tội phạm hoặc không là tội phạm 70
(Điều 43 BLHS 1999) 71
2 72
Thời hạn áp dụng 72
Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người nghiện ma tuý là từ 1 năm đến 2 năm, đối với người bán dâm là từ 3 tháng đến 18 tháng 72
(Khoản 1 Điều 26 PLXLVPHC 2002 sửa đổi bổ sung 2007, 2008) 72
Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 24 tháng (Khoản 2 Điều 95 LXLVPHC 2012) 72
Không giới hạn thời gian bắt buộc chữa bệnh, nghĩa là cho đến khi nào người bị bắt buộc chữa bệnh khỏi bệnh thì thời hạn này mới kết thúc 72
(Điều 43 BLHS 1999) 72
3 72
Thẩm quyền áp dụng 72
Chủ thể có thẩm quyền áp dụng là Chủ tịch UBND cấp huyện 72
(Khoản 7 Điều 29 PLXLVPHC 2002 sửa đổi bổ sung 2007, 2008) 72
Trang 12TAND cấp huyện có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc 72
(Khoản 2 Điều 105 LXLVPHC 2012) 72
Do các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền như Tòa án, Viện kiểm sát tùy vào từng giai đoạn tố tụng cụ thể áp dụng 72
(Điều 43 BLHS 1999) 72
4 72
Cơ sở áp dụng 72
a)Được quy định trong PLXLVPHC và áp dụng theo trình tự, thủ tục do PLXLVPHC quy định 72
b)Được thực hiện trên cơ sở quyết định của chủ thể có thẩm quyền là Chủ tịch UBND cấp huyện 73
a)Được quy định trong LXLVPHC và áp dụng theo trình tự, thủ tục do LXLVPHC quy định 72
b)Được thực hiện bằng quyết định của Tòa án 73
c)Được quy định trong BLHS và áp dụng theo trình tự, thủ tục nhất định do BLTTHS quy định 72
d)Được thực hiện bằng quyết định của Tòa án hoặc Viện kiểm sát 73
Cũng cần lưu ý rằng LXLVPHC năm 2012 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012 nhằm thay thế PLXLVPHC năm 2002 sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008; do đó kể từ ngày LXLVPHC năm 2012 có hiệu lực pháp luật (01/7/2013) thì biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong PLXLVPHC cũng không còn được áp dụng mà thay vào đó biện pháp có tính chất tương tự là biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Đồng thời theo LXLVPHC năm 2012 thì biện pháp này chỉ có thể được áp dụng đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định, nghĩa là không như biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong PLXLVPHC năm 2002 sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008 trước đây được áp dụng đối với cả hai đối tượng là người nghiện ma túy và người bán dâm LXLVPHC 2012 đã loại trừ đối tượng áp dụng đối với người bán dâm, do hành vi bán dâm hiện nay không còn được xem là hành vi vi phạm pháp luật hành chính nữa do đó không thuộc đối tượng điều chỉnh của LXLVPHC 2012 .73
Trang 131.Nguyễn Ngọc Anh (chủ biên) (2012), Bình luận Luật thi hành án hình sự
năm 2010, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 108
2.Bộ luật hình sự năm 1985 108
3.Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 108
4.Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 108
5.Bộ luật hình sự năm 1985 108
6.Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 108
7.Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 108
8.Bộ luật hình sự Tây Ban Nha, Bộ tư pháp dịch 108
9.Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 108
10.Bộ luật hình sự Thụy Điển, Bộ tư pháp dịch 108
11.Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Pháp năm 1994 108
12.Bộ luật hình sự Đức, Bộ tư pháp dịch 108
13.Bộ luật hình sự, ngày 20/12/1972 của chính phủ Việt Nam Cộng hòa 108
14.Bộ tư pháp (Viện khoa học pháp lý) (2005), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Nxb Tư pháp, Hà Nội 108
15.Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo sau đại học - Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (phần chung), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 108
16.Lê Văn Cảm (2010), “Những vấn đề chung về bảo bệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự”, Sách chuyên khảo Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam (TS Võ Thị Kim Oanh chủ biên), Nxb Đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh 108
17.Lê Văn Cảm (Lê Cảm) (2012), Sách chuyên khảo Một số vấn đề cấp bách của khoa học pháp lý Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 109
18.Đỗ Văn Chỉnh (1999), “Về bắt buộc chữa bệnh và những thiếu xót cần khắc phục”, Tạp chí TAND, (03), tr.2 109
19.Nguyễn Đăng Đức (2001), Tâm thần học tư pháp, Trung tâm sức khỏe tâm thần, Tp Hồ Chí Minh 109
20.Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 109
21.Học viện quân y (2007), Giáo trình Tâm thần học và Tâm lý học y học, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 109
22.Phạm Hồng Hải (2000), “Các biện pháp tư pháp trong BLHS năm 1999 và vấn đề hoàn thiện LTTHS về trình tự thủ tục áp dụng các biện pháp đó”, Tạp chí luật học, (05), tr.19 109
Trang 1423.Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn (2006), Từ điển pháp luật hình sự, Nxb Tư
pháp, Hà Nội 109
24.Nguyễn Thị Ánh Hồng (2012), “Biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam và vấn đề bảo vệ quyền con người”, Tạp chí khoa học pháp lý, (3), tr.29 .109
25.Trần Minh Hưởng (2007), Sách tìm hiểu hình phạt và các biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam, NXB Lao Động, Hà Nội 109
26.Trần Minh Hưởng (2009), Sách hệ thống pháp luật hình sự - tập 1: Bình luận khoa học BLHS (đã được sửa đổi bổ sung năm 2009), thực hiện từ 01/01/2010, Nxb Lao động, Hà Nội 109
27.Luật giám định tư pháp năm 2012 109
28.Luật thi hành án hình sự năm 2010 109
29.Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 110
30.Nguyễn Đức Mai, Đỗ Thị Ngọc Tuyết (2012), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 phần chung, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 110
31.Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 và chiến lược cải cách tư pháp đến 2020 của Bộ chính trị 110
32.Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 28 tháng 07 năm 2011 của Chính Phủ quy định việc thi hành Biện pháp bắt buộc chữa bệnh 110
33.Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008 110
34.Đinh Văn Quế (2000), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 phần chung, Nxb Tp Hồ Chí Minh 110
35.Đinh Văn Quế (2009), Bình luận khoa học về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh 110
36.Đinh Văn Quế (2009), Bình luận khoa học về loại trừ trách nhiệm hình sự (bình luận chuyên sâu có viện dẫn các vụ án đã xét xử), Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh 110
37.Đinh Văn Quế (2010), Tìm hiểu Tội phạm và hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, Nxb Phương đông 110
38.Thông tư liên tịch số 03/TTLT ngày 24/09/1997 của Bộ nội vụ Bộ y tế -Bộ quốc phòng - -Bộ tài chính - Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về biện pháp bắt buộc chữa bệnh 110
Trang 1539.Trịnh Quốc Toản (2003), “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo Luật hình sự Hà Lan”, Tạp chí kiểm sát, (5), tr 48-52 110 40.Nguyễn Minh Tuấn (2004), Các rối loạn tâm thần chuẩn đoán và điều trị, Nxb Y học, Hà Nội 110 41.Phan Hồng Thủy (2002), “Bàn về áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”, Tạp chí Kiểm sát, (04), tr.34 110 42.Lương Hữu Thông (2005), Sức khỏe tâm thần và các rối loạn tâm thần thường gặp, Nxb Lao động, Hà Nội 111 43.Nguyễn Duy Thuân (1999), Các biện pháp ngăn chặn trong Tố tụng hình
sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 111 44.Trường Đại học Luật Hà Nội (1997), Báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội về phần chung của Bộ Luật hình sự luật hình sự Việt Nam những vấn đề
lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 111 45.Trường Đại học luật Hà Nội (2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam tập
1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 111 46.Trường Đại học luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 111 47.Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 111 48.Trường Đại học Luật Hà Nội (1997), Luật hình sự Việt Nam - Những vấn
đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công An nhân dân, Hà Nội 111 49.Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2008) Khoa luật Dân sự, Tập bài giảng "Những vấn đề chung về Luật dân sự" 111 50.Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2008) Khoa luật hình sự, Tập bài giảng "Những vấn đề chung về Luật hình sự và tội phạm" 111 51.Trần Quang Tiệp (2011), Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 111 52.Trương Quang Vinh (2010), “Thực trạng qui định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp Thực tiễn áp dụng và một số đề xuất”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (02),tr.67 111 53.Võ Khánh Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng (chủ biên) (2006), Sách chuyên khảo Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội 112 54.Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2006), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình
sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 112
Trang 1655.http://tintuc.timnhanh.com.vn/phap_luat/phap_dinh/20080618/35A7B896/ 112 56.http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2009/02/3ba0b747/ 112 57.http://www.nguoiduatin.vn/nhieu-vu-an-dang-so-boi-nguoi-tam-than-gay- ra-a29863.html 112
Trang 17PLXLVPHC: Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chínhSTT: Số thứ tự
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TTLT: Thông tư liên tịch
THA: Thi hành án
TNHS: Trách nhiệm hình sự
VKS: Viện kiểm sát
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 18MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách
tư pháp ở Việt Nam hiện nay, một trong những mục tiêu đề ra vàđược thể hiện xuyên suốt trong quá trình lập pháp nói chung vàlập pháp trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng đó là chủ độngphòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm, trừng trị,giáo dục, cảm hoá người phạm tội, cải tạo họ trở thành công dân
có ích cho xã hội trong đó giáo dục, phòng ngừa tội phạm là chủyếu Việc nghiên cứu để đưa ra các cơ chế pháp lý vừa nhằm đấutranh phòng và chống tội phạm một cách hữu hiệu, vừa đảm bảocác quyền và tự do của con người và của công dân trên thực tếbằng các biện pháp cưỡng chế của hệ thống tư pháp hình sựkhông chỉ là những nhiệm vụ cơ bản của hoạt động lập pháp, màcòn là hướng nghiên cứu quan trọng của khoa học pháp lý nước ta.Bởi lẽ, với chức năng của mình các biện pháp cưỡng chế của hệthống tư pháp hình sự có liên quan thiết thực hàng ngày đến một
số quyền cơ bản của công dân - đến các giá trị xã hội cao quý nhấtđược thừa nhận chung đã nêu trong một xã hội có tính nhân bảncao [43, tr.3], đồng thời dựa vào đó cho phép đánh giá mức độ dânchủ và pháp chế trong bất kỳ một quốc gia nào Trong số các biệnpháp cưỡng chế ấy của hệ thống tư pháp hình sự thì biện pháp tưpháp bắt buộc chữa bệnh sau đây gọi là biện pháp bắt buộc chữabệnh (BPBBCB) trong Bộ luật hình sự có chức năng rất quan trọng.Với tư cách là chế định độc lập, BPBBCB đã được các nhà làm luậtnước ta ghi nhận tại Điều 43, 44 của Bộ luật hình sự 1999
Việc quy định BPBBCB trong pháp luật hình sự thể hiệnphương châm đúng đắn trong việc thực hiện chính sách hình sựnước ta đó là sử dụng tối đa, đồng bộ mọi biện pháp để tác động
Trang 19đến việc giáo dục người phạm tội, hình phạt không phải là phươngtiện, công cụ duy nhất trong công tác đấu tranh phòng ngừa vàchống tội phạm Tất cả các biện pháp cưỡng chế hình sự cũng đềunhằm mục đích giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm,góp phần nâng cao hiệu quả của sự tác động hình sự đối với tộiphạm.
Trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước tatrong thời gian qua đã cho thấy, vì các lý do chủ quan và kháchquan khác nhau nên Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành nói chung
và chế định BPBBCB nói riêng đã bộc lộ những nhược điểm nhấtđịnh trong việc thực hiện chức năng của mình Do đó, hiện nay đểđảm bảo cho sự vận hành đồng bộ của hệ thống tư pháp hình sựnhằm đạt được hiệu quả cao trong cuộc đấu tranh phòng và chốngtội phạm, việc tiếp tục nghiên cứu một cách đồng bộ và có hệthống chế định này là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh các bài viết nghiên cứu có liên quan đếnBPBBCB trong luật hình sự Việt Nam là không nhiều và còn thiếutính đồng bộ, trong đó đa số chỉ đề cập một cách khái quát hoặcchỉ phân tích một vài khía cạnh của vấn đề, các cơ quan chức năngdường như bỏ quên công tác tổng hợp, thống kê tình hình áp dụngBPBBCB Mặt khác, trong quá trình thu thập các số liệu có liênquan đến đề tài, khi tác giả liên hệ với các cơ quan chức năng đểđược tiếp cận và thu thập số liệu thì nhận được trả lời: i) Tòa án,Viện kiểm sát: đây là các số liệu không nằm trong chỉ tiêu thống kêcủa ngành nên không thể có để cung cấp; ii) Phân viện giám địnhpháp y tâm thần phía nam (Biên Hòa - Đồng Nai): đây là các sốliệu hạn chế cung cấp (Phân viện chỉ cung cấp cho các cơ quanchức năng có liên quan khi có yêu cầu) còn đối với cá nhân như tácgiả thì không được cung cấp Chính vì những lí do đó mà tác giả đã
Trang 20gặp không ít những khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài, đặcbiệt là trong việc tìm hiểu thực tiễn áp dụng Trong quá trìnhnghiên cứu, tác giả không tìm thấy một tài liệu hay ấn phẩm nàonghiên cứu chuyên sâu của các nhà nghiên cứu cũng như học giả
Việt Nam về vấn đề "Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong
luật hình sự Việt Nam" Nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, họcgiả Việt Nam có liên quan đến BPBBCB trong luật hình sự Việt Namchỉ là những nghiên cứu dưới góc độ diễn giải, bình luận một cáchkhái quát đối với BPBBCB trong công trình nghiên cứu chung về
các biện pháp tư pháp theo luật hình sự Việt Nam như: “Thực
trạng quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp Thực tiễn áp dụng và một số đề xuất” [52] hoặc chỉ nhắc lại các
quy định của pháp luật đối với chế định về BPBBCB trong Bộ luậthình sự Việt Nam như: “Biện pháp tư pháp trong Luật hình sự ViệtNam và vấn đề bảo vệ quyền con người” [24] Hay chỉ phân tíchmột vài khía cạnh về biện pháp này, chẳng hạn “Bàn về áp dụngbiện pháp bắt buộc chữa bệnh” [41] hay “Về bắt buộc chữa bệnh
và những thiếu xót cần khắc phục” [18] Việc nghiên cứu BPBBCBtrong luật hình sự Việt Nam một cách tổng thể dưới gốc độ quyđịnh của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 và thực tiễn áp dụngbiện pháp này của các cơ quan tố tụng trong những năm gần đâytrên một địa bàn cụ thể - địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưađược thực hiện thông qua các công trình nghiên cứu nói trên.Ngoài ra, tác giả cũng tham khảo được một số quy định của Luậthình sự của một số nước có liên quan đến quy định về BPBBCBnhư: Nga, Trung Quốc, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Đức.Vì vậy,
có thể khẳng định đề tài “Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa
bệnh trong luật hình sự Việt Nam” là có tính mới và khoa học
của một công trình luận văn thạc sĩ
Trang 213 Mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu
Để đem đến một cái nhìn tổng quan về nội dung, vai trò và ýnghĩa của quy định về "Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnhtrong luật hình sự Việt Nam" tác giả sẽ nghiên cứu theo cách tiếpcận của phương pháp so sánh những quy định có liên quan đếnBPBBCB với các chế tài pháp lý hình sự và phi hình sự khác;BPBBCB trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 là đối tượngnghiên cứu chính của tác giả, những quy định của một vài nướccũng sẽ được tác giả nghiên cứu nhưng chỉ dừng lại ở mức độ thamkhảo và minh họa Một cách chi tiết hoá, trong phạm vi của đề tài,tác giả sẽ tập trung nghiên cứu ba nội dung:
(i) Những vấn đề lý luận về BPBBCB theo luật hình sự ViệtNam: Với nội dung này, tác giả tập trung làm rõ khái niệmBPBBCB, nội dung của các quy định có liên quan đến BPBBCBtrong pháp luật hình sự Việt Nam, cơ sở lý luận về vấn đề này của
Bộ luật hình sự Việt Nam
(ii) Thực tiễn áp dụng BPBBCB trong Bộ luật hình sự ViệtNam năm 1999: Trong nội dung này, tác giả hướng tới việcnghiên cứu hoạt động áp dụng BPBBCB trong việc đấu tranhphòng và chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay và thực tiễn
áp dụng trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh; cụ thể là kỹ năng cá biệthoá quy định về “Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999”, khả năng áp dụng biệnpháp này của các cơ quan tư pháp hình sự và tác dụng của việc
áp dụng biện pháp này đến hiệu quả của hoạt động đấu tranhphòng và chống tội phạm
(iii) Những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụngBPBBCB trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999: Trong nội dungnày, tác giả hướng tới việc nghiên cứu các giải pháp nhằm hoànthiện quy định về BPBBCB trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm
Trang 221999, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp này trongviệc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong giai đoạn hiệnnay.
Qua việc làm rõ những nội dung trên, tác giả mong muốnhoạt động nghiên cứu của mình sẽ góp phần làm rõ quy định cóliên quan đến BPBBCB trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999.Đồng thời luận văn này cũng trình bày một số quy định có liênquan đến BPBBCB của một vài nước, điều này sẽ giúp cho chúng ta
có thể đánh giá ưu, nhược điểm của các quy định về BPBBCB trong
Bộ luật hình sự hiện hành và học hỏi kinh nghiệm của các nước từ
đó giúp cho hoạt động áp dụng BPBBCB đạt hiệu quả mong muốn
4 Phạm vi nghiên cứu
Ở một luận văn Thạc sĩ Luật, đề tài này sẽ nghiên cứu vấn đề
về BPBBCB theo quy định của pháp luật hình sự của Việt Nam Tuynhiên, đề tài chỉ nghiên cứu vấn đề BPBBCB trong Bộ luật hình sựViệt Nam hiện hành Nghĩa là đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứutrong khuôn khổ quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
về BPBBCB
Trong giới hạn của đề tài, tác giả sẽ nghiên cứu quy định của
Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về BPBBCB và thực tiễn ápdụng biện pháp này trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm
2007 đến 2012
5 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được nội dung và mục đích của việc nghiên cứu đềtài sử dụng chủ yếu hai phương pháp là: phương pháp phân tích -tổng hợp và phương pháp so sánh
a. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Để diễn giải nội hàm của
khái niệm BPBBCB và để làm rõ các quy định có liên quan của phápluật hình sự Việt Nam, tác giả sử dụng phương pháp phân tích trongquá trình trình bày những nội dung này Phương pháp phân tích sẽđược sử dụng kết hợp cùng với phương pháp tổng hợp nhằm giúp
Trang 23cho từng nội dung được trình bày trở nên logic và có căn cứ Tác giả
sẽ tổng hợp và phân tích các thông tin từ các nguồn khác nhau baogồm các văn bản pháp quy, các tài liệu chuyên ngành như các bàinghiên cứu, sách, báo chuyên ngành,
b. Phương pháp so sánh: Với mục đích nghiên cứu các quy
định của Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến BPBBCB với một
số chế tài pháp lý hình sự và phi hình sự vài khác, cũng như trongquá trình nghiên cứu tác giả cũng trình bày một số quy định có liênquan đến BPBBCB của một vài nước, phương pháp so sánh làphương pháp thích hợp để thực hiện mục tiêu trên
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
BPBBCB đóng vai trò rất quan trọng trong đó có liên quanđến việc xác định năng lực trách nhiệm hình sự của người bị ápdụng Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Biện pháp tư pháp bắt buộcchữa bệnh trong luật hình sự Việt Nam" có ý nghĩa thực tiễn rất lớntrong quá trình đấu tranh phòng và chống tội phạm trong giai đoạnhiện nay Song những quy định này vẫn chưa được quan tâmnghiên cứu đúng mức trong thực tiễn khoa học pháp lý tại ViệtNam Vì vậy, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về
"Biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh trong luật hình sự ViệtNam" là một nhu cầu bức thiết và mang tính thực tiễn cao hiệnnay
Luận văn này đề cập việc nghiên cứu và đánh giá một cáchtương đối toàn diện về quy định "Biện pháp tư pháp bắt buộc chữabệnh trong luật hình sự Việt Nam" thông qua việc làm rõ khái niệmBPBBCB, điều kiện cần và đủ để áp dụng biện pháp này và so sánhcác căn cứ để áp dụng BPBBCB trong Bộ luật hình sự Việt Nam.Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu cách thức vận dụng biệnpháp này trong thực tiễn trên phạm vi địa bàn Thành phố Hồ ChíMinh để minh chứng cho tính hiệu quả của việc áp dụng biện pháp
Trang 24cưỡng chế này Với vai trò là biện pháp cưỡng chế trong pháp luậthình sự, việc nghiên cứu các quy định về "Biện pháp tư pháp bắtbuộc chữa bệnh trong luật hình sự Việt Nam " sẽ có ý nghĩa thựctiễn rất lớn vì nó đưa ra các căn cứ pháp lý cho việc áp dụngBPBBCB trong quá trình đấu tranh phòng và chống tội phạm tronggiai đoạn hiện nay.
7 Bố cục của luận văn
Với mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài,luận văn sẽ được bố cục thành ba phần gồm Lời nói đầu, phần nộidung gồm ba chương và Kết luận Cụ thể như sau:
Mở đầu
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về biện pháp tư pháp
bắt buộc chữa bệnh theo Luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
hiện hành về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và thực tiễn
áp dụng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp góp phần
nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sựViệt Nam về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
Kết luận
Trang 25Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẮT BUỘC CHỮA
BỆNH THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trong pháp luật hình sự tội phạm có thể được hiểu một cáchngắn gọn là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luậthình sự và phải chịu hình phạt Do đó tội phạm trước hết phải làmột hành vi Chính vì vậy, tội phạm bao giờ cũng được thực hiệnbởi chủ thể xác định Hay nói cách khác, không thể có hành vi xuấthiện ngoài thế giới khách quan mà không có chủ thể thực hiện.Các tác động trong thế giới vật chất gây nên những thiệt hại đáng
kể như sóng thần, động đất, lũ lụt, sấm sét, xảy ra trong tự nhiênthì không được coi là hành vi Theo từ điển giải thích thuật ngữ
Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội thì: Hành vi là toàn bộ những
phản ứng, cách xử sự ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh cụ thể [47, tr.23] Do vậy, tội phạm trước hết phải có
chủ thể thực hiện Luật hình sự trong mọi thời điểm lịch sử đều xâydựng trên cơ sở nguyên tắc này Chủ thể của tội phạm cùng vớicác yếu tố khác như khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quancủa tội phạm cấu thành nên tội phạm Do đó, để xác định mộthành vi nào đó có phải là tội phạm hay không cần phải xem xétđến việc hành vi đó có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm như nóitrên hay không? Nếu không có đầy đủ các yếu tố đó thì không thểcoi đó là tội phạm và do đó không thể truy cứu trách nhiệm hình
sự (TNHS) đối với người thực hiện hành vi đó Mặt khác, để trởthành chủ thể của tội phạm, người thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội một cách cố ý hay vô ý cần phải: có năng lực TNHS (1),đạt độ tuổi nhất định theo Luật hình sự quy định (2) Đây là haidấu hiệu pháp lý bắt buộc trong chủ thể của tội phạm ở mọi cấuthành tội phạm Trong đó, đặc điểm có năng lực TNHS là điều kiện
Trang 26cần thiết cho chủ thể có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xãhội.
Vì vậy sẽ là một thiếu sót rất lớn nếu chúng ta nghiên cứu vềBPBBCB mà không đề cập đến những quy định về năng lực TNHStrong pháp luật hình sự Việt Nam Do đó trước khi đi vào nghiêncứu về BPBBCB trong BLHS 1999 tác giả muốn cung cấp một cáinhìn tổng quát về năng lực TNHS để từ đó làm nền tảng cho việcnghiên cứu BPBBCB một cách toàn diện nhất
1.1 Vài nét về vấn đề năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể của tội phạm trong pháp luật hình sự
Khả năng của một người vào tại thời điểm thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội họ nhận thức được tính chất nguy hiểm cho
xã hội của hành vi và điều khiển được hành vi đó thì được xem là
có năng lực TNHS
Do đó, có thể nói năng lực TNHS là năng lực của người cótrạng thái sức khỏe bình thường để hoàn toàn có khả năng nhậnthức được tính chất thực tế (tính nguy hiểm cho xã hội) và tínhchất pháp lý (tính chất trái pháp luật hình sự) của hành vi domình thực hiện và điều khiển được hành vi ấy Cũng cần lưu ýrằng năng lực TNHS không đòi hỏi ở người thực hiện hành vinhận thức được tính chất pháp lý của hành vi, cụ thể như cáctrường hợp sai lầm về pháp luật thì vẫn phải chịu TNHS Trongtrường hợp này chỉ đòi hỏi ở người thực hiện hành vi nhận thức
về tính thực tế và tính xã hội của hành vi Năng lực TNHS là khảnăng nhận thức ý nghĩa xã hội của hành vi do mình thực hiện vàkhả năng điều khiển hành vi đó theo những đòi hỏi và chuẩnmực của xã hội Chỉ một người nhận thức và điều khiển đượchành vi của mình trong khi thực hiện tội phạm mới bị coi là có lỗi
và mới có khả năng tiếp thu những biện pháp tác động giáo dụccủa xã hội và khi đó Nhà nước mới đặt ra vấn đề giáo dục, cải
Trang 27tạo họ Một người mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành
vi của mình trong khi thực hiện tội phạm thì họ không có lỗi vàkhông có khả năng cải tạo, giáo dục và không thể trở thành chủthể của tội phạm [49, tr.105]
Sống trong xã hội luôn luôn vận động và với cấu tạo sinh họcđặc biệt vốn có của con người đã có khuynh hướng hình thành vàphát triển năng lực nói trên Tuy nhiên, trong thực tế cần phải trảiqua quá trình hoạt động và dưới sự tác động nhất định của giáodục trong môi trường xã hội thì khả năng đó mới được hình thànhmột cách đầy đủ Đây cũng chính là một trong những lý do củaviệc quy định độ tuổi chịu TNHS trong BLHS Năng lực này có thể bịloại trừ hoàn toàn hay bị hạn chế nếu tình trạng hoạt động của hệthần kinh trung ương bị rối loạn do bệnh tật Bởi những lý do đó
mà ngoài việc quy định độ tuổi phải chịu TNHS trong pháp luậthình sự còn có quy định về tình trạng không có năng lực TNHS
Như đã trình bày và phân tích ở phần trên, năng lực TNHScủa một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội gồm hai
dấu hiệu: thứ nhất, khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi; thứ hai, khả năng điều khiển hành vi đó.
Thứ nhất, về khả năng nhận thức: bộ não người là cơ sở vật
chất vốn có đầu tiên của con người để hình thành và phát triển ýthức Tuy nhiên, không phải khi con người được sinh ra đã có thểnhận thức được về tự nhiên, về xã hội, về chính bản thân mình màkhả năng này được hình thành là kết của quá trình sống, hoạtđộng trong xã hội với một thời gian nhất định Trong quá trình đócon người được lao động, học tập, được giáo dục từ gia đình, nhàtrường và xã hội, con người được giao lưu học hỏi, qua đó conngười tiếp thu được những tri thức, những kinh nghiệm sống vàdần dần mới hình thành nên khả năng nhận thức của mình Khicon người có được khả năng nhận thức nhất định thì khi đó con
Trang 28người mới hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trong cuộc sốngcộng đồng, mới hiểu được những đòi hỏi tất yếu của bản thân họđối với cuộc sống xã hội, từ đó mới có cơ sở đánh giá được ý nghĩathực tế cũng như ý nghĩa xã hội của hành vi do mình thực hiện Vàhơn nữa, khi họ thực hiện một hành vi đi ngược lại với lợi ích của
xã hội, xâm phạm đến lợi ích của cộng đồng, của người khác vàhành vi đó được pháp luật hình sự quy định là tội phạm thì họ mới
có thể nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà
họ đã thực hiện Để đánh giá được nhận thức này cần phải đánhgiá thông qua nhận thức của con người đó về các yếu tố của hành
vi, những yếu tố tạo nên tính nguy hiểm của hành vi cũng như tínhchất xã hội của hành vi đó Chẳng hạn như: kiến thức, trình độchuyên môn; cách thức mà người đó tiến hành; kinh nghiệm sống;công cụ, phương tiện mà người đó sử dụng; đối tượng mà người đó
có hành vi tác động xâm phạm, Có thể nói khi nhận thức đượcnhững vấn đề đó thì cũng chính là năng lực nhận thức của ngườiphạm tội khi họ thực hiện tội phạm
Thứ hai, về khả năng điều khiển hành vi: Khả năng điều
khiển hành vi được thể hiện thông qua khả năng được lựa chọn,quyết định và thực hiện hành vi của mình trong những điều kiện,hoàn cảnh cụ thể Năng lực điều khiển hành vi của con người trướchết được thể hiện ở chính năng lực của con người đó có khả nănglựa chọn, cân nhắc, quyết định và thực hiện các biện pháp xử sựkhi họ đứng trước những biện pháp xử sự khác nhau trong đó có cảbiện pháp xử sự hợp pháp hoặc không hợp pháp và trong đó có cảbiện pháp xử sự gây thiệt hại hoặc không gây thiệt hại Và trongtrường hợp đó nếu người đó lựa chọn biện pháp xử sự gây thiệt hạicho xã hội thì họ phải chịu TNHS về sự tự lựa chọn của mình Dovậy, khả năng điều khiển hành vi của người phạm tội có thể hiểu là
Trang 29khả năng cân nhắc, lựa chọn và quyết định thực hiện hành vi Vàkhả năng này xuất phát từ khả năng nhận thức của người phạmtội.
Tuy nhiên, không phải ai khi được sinh ra, lớn lên và đạt đếnmột độ tuổi nhất định cũng đều có khả năng nhận thức và khảnăng điều khiển được hành vi của mình mà thực tế trong cuộcsống có một số trường hợp hai khả năng này có thể bị loại trừ hoặc
bị giảm sút do mắc các loại bệnh làm rối loạn hệ thần kinh trungương Vì lý do đó mà trong khoa học Luật hình sự còn tồn tại tình
có thể bị loại bỏ một phần hoặc toàn bộ do mắc một số bệnh gâyrối loạn hoạt động của não bộ Vì vậy, có thể nói người không ởtrong tình trạng không có năng lực TNHS và TNHS hạn chế thì đượcxem là người có năng lực TNHS Trong thực tiễn áp dụng Luật hình
sự việc kiểm tra điều kiện này chỉ đặt ra đối với những trường hợpkhi có căn cứ, chứng cứ nhất định để nghi ngờ về hoạt động tâmthần của người có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội
Để xác định một người không có năng lực TNHS, thông
thường có hai dấu hiệu để xác định: thứ nhất, dấu hiệu y học (mắc bệnh); thứ hai, dấu hiệu tâm lý (mất khả năng nhận thức hay khả
năng điều khiển hành vi)
Về dấu hiệu y học: Người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác
làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi vàcác bệnh này có thể là mãn tính hoặc đột ngột nhất thời Trong đó
có thể kể đến một số bệnh tâm thần như: tâm thần kinh niên (lànhóm bệnh tâm thần mang tính liên tục, lâu dài, khó chữa trị, có
Trang 30xu hướng tiến triển ngày cành nặng) hoặc rối loạn tâm thần tạmthời (đó là những bệnh tâm thần xuất hiện một cách đột ngột, pháttriển nhanh diễn ra trong một thời gian ngắn, làm rối loạn nhậnthức hoặc khả năng điều khiển hành vi, làm quên từng phần hoặchoàn toàn sự kiện xảy ra trong thời gian mắc bệnh và kết thúcbằng việc hồi phục hoàn toàn (như xung động đốt nhà, xung độngtrộm cắp ) [49, tr.108] Ngoài ra còn có các loại bệnh như: Bệnh singốc (ngu, đần, thộn) hoặc hoạt động tinh thần bị rối loạn do cácbệnh khác như sốt rét ở nhiệt độ quá cao gây mê sảng, tình trạngbệnh khác là tình trạng bệnh tật không liên quan đến rối loạn tâmthần kinh niên hay tạm thời, nhưng cũng ảnh hưởng đến khả năngnhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, đó là nhữngngười mắc bệnh như rối loạn tuần hoàn, nhiễm khuẫn trong sọnão, u trong sọ não
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu cho thấy hiện nay córất nhiều loại bệnh tâm thần làm cho người mắc bệnh rơi vào trìnhtrạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
và trên cơ sở các tài liệu của các nhà nghiên cứu về tâm thần họcbao gồm: [19, tr.10; 40, tr.162; 42, tr.58; 21, tr.11; tài liệu tập huấn
“Giám định pháp y tâm thần toàn quốc lần thứ tư” của Viện Giámđịnh pháp y tâm thần trung ương, Bộ y tế, Nxb Y học], sau đâychúng tôi trích dẫn một số bệnh điển hình có thể làm mất khảnăng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người mắcbệnh, như:
a)Tâm thần phân liệt
Tên quốc tế của bệnh tâm thần phân liệt là Shizophrenia, là
một bệnh loạn thần nặng và phổ biến,bệnh có tính chất tiến triểnvới những rối loạn đặc trưng về tư duy, tri giác và cảm xúc, dẫnđến những rối loạn cơ bản về tâm lý và nhân cách theo kiểu phân
Trang 31liệt, nghĩa là mất dần tính hài hòa, thống nhất gây ra chia cắttrong các mặt hoạt động tâm thần [21, tr.113] Các triệu chứngđặc trưng là các rối loạn tư duy, cảm xúc và hành vi bao gồmnhững triệu chứng âm tính và dương tính, chúng tác động và chiphối đến hành vi của người bệnh
Triệu chứng dương tính thường gặp như: hoang tưởng, ảogiác,…
Triệu chứng âm tính thường gặp như: vô cảm, thu hẹp cácmối quan hệ xã hội, cảm xúc cùn mòn, giảm các thích thú và ngônngữ nghèo nàn, thu mình lại,…
Mức độ nặng nhất của bệnh tâm thần phân liệt làm cho ngườibệnh bị mất hoàn toàn ý chí cũng như không thể kiểm soát đượchành vi của mình Do đó, việc phạm tội trong trường hợp này,người đó hoàn toàn không có lỗi
b)Bệnh động kinh
Động kinh (epilepsy; épilepsie) là một quá trình bệnh lý mạntính đặc trưng bằng sự xuất hiện của ít nhất hai cơn động kinhcách nhau 24 giờ Bệnh động kinh có các biểu hiện lâm sàng dướiđây:
- Về tư duy: trong hình thức, hay gặp tư duy lai dai, khóchuyển chủ đề (đặc biệt ở những bệnh nhân bị bệnh lâu năm);trong nội dung, thường gặp các định kiến và ý định muốn trả thù
- Về hành vi tác phong: Trong các cơn động kinh bệnh nhân
có nhiều biểu hiện rối loạn hành vi tác phong (tùy vào loại cơnđộng kinh mà có những biểu hiện đặc trưng)
- Người bệnh bị mất khả năng nhận thức và khả năng điềukhiển hành vi trong các trường hợp sau đây:
Trong cơn động kinh tâm thần
Cơn xung động động kinh
Cơn rối loạn ý thức kiểu hoàn hôn (thường xảy ra saucơn động kinh toàn bộ cơn lớn)
Sa sút trí tuệ do động kinh
Trang 32Do vậy, nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộccác trường hợp bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điềukhiển hành vi do bệnh động kinh gây ra thì được xem là không cólỗi.
c)Rối loạn tâm thần thực tổn
Theo ngôn ngữ hiện nay thuật ngữ loạn thần thực tổn baogồm tổn thương thực thể tại não (nguyên phát) và tổn thương thựcthể ngoài não (thứ phát) Để dễ dàng phân biệt về mặt lâm sàngthì những tổn thương ngoài não có ảnh hưởng đến chức năng hoạtđộng của não người ta gọi là loạn thần triệu chứng, còn những tổnthương trong não gây ra rối loạn tâm thần thì gọi là loạn thần thựctổn
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rối loạn tâm thần thựctổn, qua biểu hiện lâm sàng của bệnh và tùy thuộc vào tiến triểnbệnh cơ thể có thể nêu ra các nguyên nhân sau đây:
Các bệnh nguyên phát tại não: U não, viêm não, áp xe
não, tai biến mạch máu não, teo não, xơ não, chấn thương sọnão
Các bệnh không nhiễm khuẩn: Loét dạ dày tá tràng; teo
gan cấp, thoái hóa gan não (bệnh Wilson); tăng urê huyết; suy tim,nhồi máu cơ tim; loạn dưỡng do thiếu ăn; thiếu vitamine PP, thiếuiốt
Các bệnh nhiễm khuẩn: Viêm nội tâm mạc bán cấp (bệnh
Osler); bệnh cúm, thương hàn, viêm phổi, lao phổi; viêm gan, sốt rét
ác tính nhiễm trùng hậu sản
Bệnh rối loạn tâm thần thực tổn làm cho người bệnh rơi vàotình trạng bị thu hẹp dần khả năng nhận thức do não bộ bị ảnhhưởng bởi bệnh tật Từ đó làm cho người bệnh có những triệuchứng rối loạn hoang tưởng, rối loạn cảm xúc, ảo giác,…điều nàythường hay dẫn đến khả năng làm cho người bệnh có tình trạng
Trang 33cảm giác về những việc không có thật đang xảy ra, không nhậnthức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thựchiện, đặc biệt là thường sống trong trạng thái hoang tưởng rất dễdẫn đến khả năng thực hiện hành vi nguy hiểm cho người khác vàcho bản thân họ Hậu quả của việc thực hiện hành vi bị quyết định
và chi phối bởi yếu tố bệnh lý làm cho ý thức bị suy giảm Do đótrong trường hợp này đã loại trừ yếu tố lỗi của người bệnh khi họthực hiện hành vi
d)Rối loạn hoang tưởng
Rối loạn hoang tưởng có tên quốc tế là Delusional Disorder là
một dạng rối loạn tâm thần làm cho người bệnh có những ý tưởng,phán đoán sai lầm, không phù hợp với thực tế khách quan nhưngngười bệnh cho là hoàn toàn chính xác, không thể giải thích phêphán được và chỉ mất đi khi bệnh thuyên giảm
Các triệu chứng đặc trưng của bệnh rối loạn hoang tưởng:
Người bệnh có thái độ đa nghi luôn luôn ngờ vực, lo ngạiquá đáng việc bị người khác tấn công Vì thế, luôn giữ một khoảngcách đối với người đang nói chuyện với mình Đôi khi khoảng cách
đó được biểu hiện bằng sự khiêm tốn thái quá, hoặc bằng một sựhung hăng
Độc đoán, không có khả năng tự đánh giá bản thân,không cởi mở tiếp nhận quan điểm của người khác
Người bệnh thường đa nghi, kiêu ngạo chuyên quyền,không có tính khoan dung, luôn coi thường người khác, coi mình làtrung tâm
Có thể chia rối loạn hoang tưởng thành các loại sau đây:
hoang tưởng được yêu, hoang tưởng tự cao, hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại (truy hại),
Trên thực tế, trong các dạng rối loạn hoang tưởng trên đây thìrối loạn hoang tưởng bị hại (truy hại) chiếm tỉ lệ cao nhất trong số
Trang 34các bệnh nhân bị mắc chứng bệnh rối loạn hoang tưởng Do luôntrong trạng thái tâm lý có người âm mưu xác hại hoặc chống lạimình nên đây là dạng rối loạn hoang tưởng dễ dẫn đến việc thựchiện tội phạm của người bệnh Việc sử dụng bạo lực đối với nhữngngười mà người bệnh cho là đang có ý định chống lại mình là do có
sự tác động của yếu tố bệnh tật mang lại (ảnh hưởng của nhữngkhiếm khuyết về thần kinh) Do đó, người thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội không có lỗi
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp khi mắc bệnh tâm thầnhoặc bệnh khác đều làm mất hoàn toàn khả năng nhận thức hoặckhả năng điều khiển hành vi của người mắc bệnh, mà còn tuỳthuộc vào tình trạng bệnh của mỗi người và trong mỗi giai đoạnkhác nhau thì khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vicủa người mắc bệnh được thể hiện ở những mức độ khác nhau Để
có thể xác định một người có rơi vào tình trạng không có năng lựcTNHS hay không trong thực tế cần phải dựa vào dấu hiệu thứ hai
đó chính là dấu hiệu tâm lý hay còn được gọi là dấu hiệu pháp lý
Về dấu hiệu tâm lý (dấu hiệu pháp lý): Đây là dấu hiệu nói lên
mức độ nghiêm trọng của sự rối loạn tâm thần với ý nghĩa là hậuquả của một trong các bệnh lý làm rối loạn thần kinh [50, tr.109].Tâm lý của người trong tình trạng không có năng lực TNHS được thểhiện ở hai dấu hiệu: dấu hiệu lý trí và dấu hiệu ý trí Dấu hiệu về lýtrí của người không có năng lực TNHS được hiểu là ở người đókhông có hay mất khả năng nhận thức đối với hành vi của mình;còn dấu hiệu về ý chí được hiểu là ở người đó không có hay mất khảnăng điều khiển hành vi của mình
Như vậy, dấu hiệu y học và dấu hiệu tâm lý là những điềukiện cần và đủ để xác định một người có ở trong tình trạng cónăng lực TNHS hay không Trong đó, dấu hiệu y học có vai trò như
Trang 35là nguyên nhân và dấu hiệu tâm lý là hậu quả Tuy nhiên, khôngphải mọi trường hợp khi một người bị mắc bệnh tâm thần cũng đềumất đi khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.Nghĩa là có những trường hợp mắc bệnh tâm thần có thể làm mất
đi khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, nhưngcũng có trường hợp năng lực này chỉ mất đi theo từng giai đoạn,không mang tính liên tục và cũng có những trường hợp không làmmất đi năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi củangười mắc bệnh
Khi có căn cứ nghi ngờ về tình trạng năng lực TNHS của mộtngười đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, các cơ quan tiếnhành tố tụng cần phải xác định với sự giúp đỡ của giám định pháp
y tâm thần Hoạt động giám định pháp y tâm thần đưa ra kết luậnngười thực hiện hành vi đó có mắc bệnh hay không, tính chất, mức
độ và ảnh hưởng của bệnh đối với khả năng nhận thức và khảnăng điều khiển hành vi của họ như thế nào, cũng như tình trạngbệnh tật của người đó vào tại thời điểm thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội Hay nói cách khác để xác định tình trạng năng lựcTNHS của người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phảicăn cứ vào kết luận của cơ quan giám định pháp y tâm thần (đểkiểm tra người đó có mắc bệnh tâm thần hay không? Khi thực hiệnhành vi có trong trạng thái mắc bệnh không? Nếu có mắc bệnh thìbệnh đó ảnh hưởng đến năng lực nhận thức và năng lực điều khiểnhành vi của người đó như thế nào ?[30, tr.61]
Trong thực tế, thông thường một người bị mất khả năng nhậnthức ý nghĩa xã hội của hành vi thì cũng mất đi năng lực điềukhiển hành vi Tuy nhiên, cũng có khi năng lực nhận thức còn tồntại nhưng không có khả năng điều khiển hành vi, không có khảnăng kiềm chế việc thực hiện những hành vi trái với các chuẩn
Trang 36mực xã hội do mắc bệnh Song, cả hai tình trạng nêu trên cũngđều thuộc tình trạng không có năng lực TNHS
1.1.2 Năng lực trách nhiệm hình sự hạn chế
Một người tuy bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác nhưngbệnh đó không làm cho họ mất đi hoàn toàn khả năng nhận thứchoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, có nghĩa là họ vẫn cókhả năng đó tuy nhiên ở mức độ không được như người bìnhthường khác, nghĩa là trạng thái bệnh của họ nằm trong khoảnggiữa của năng lực TNHS của người bình thường và người không cónăng lực TNHS
Như vậy, nếu do mắc bệnh và bệnh này làm cho năng lựcnhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi bị giảm sút nhưngkhông mất hoàn toàn, một người thực hiện tội phạm trong tìnhtrạng ấy thì được coi là có năng lực TNHS hạn chế, nghĩa là khiphạm tội người đó có mắc bệnh mà bệnh ấy làm cho họ nhận thứcmột cách không đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành
vi cũng như hậu quả của hành vi mà họ gây ra thì được xem làngười mắc bệnh và bệnh này làm hạn chế khả năng nhận thức.Tình trạng bệnh làm cho họ trong trạng thái nửa tỉnh, nửa mê hoặccũng có thể trong trạng thái nhận thức được đầy đủ hành vi củamình nhưng họ không thể điều khiển được hành vi (như: muốn nóinhưng không thể nói được; muốn chống lại nhưng không thể chốnglại được) hoặc tuy có điều khiển được hành vi nhưng hành vi đókhông theo như ý muốn của họ (hạn chế về hoạt động cơ học của
cơ thể), ví dụ: Tài xế đang điều khiển xe ôtô lưu thông trên đườngbỗng dưng bị lên cơn sốt cấp tính nên tài xế không đủ sức khỏe đểđiều khiển xe, dẫn đến tai nạn
Pháp luật hình sự chỉ thừa nhận và giảm nhẹ hình phạt chongười có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điềukhiển hành vi của mình nếu như căn bệnh đó do bẩm sinh hoặc do
Trang 37những tác động khách quan đưa đến, nếu do họ tự gây ra thìkhông được giảm nhẹ [35, tr.204] Thực hiện tội phạm trong tìnhtrạng năng lực TNHS hạn chế có ảnh hưởng đến mức độ lỗi, vì vậy
đó có thể xem xét là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại
điểm n khoản 1 Điều 46 BLHS hiện hành: “người phạm tội là người
có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” Tuy nhiên, để được xem là tình tiết giảm nhẹ
TNHS thì hành vi mà họ đã thực hiện phải gắn liền với tình trạnghạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
họ tại thời điểm thực hiện hành vi, nghĩa là nếu trong khi thực hiệnhành vi phạm tội họ chưa mắc bệnh mà sau khi thực hiện hành viphạm tội thì họ mới mắc bệnh hoặc tuy trước đó họ mắc bệnhnhưng đến khi thực hiện hành vi họ đã khỏi bệnh, sau khi thựchiện hành vi phạm tội họ lại bị mắc bệnh do tái phát thì trongtrường hợp này không được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS
Tình trạng năng lực TNHS bị hạn chế và mất năng lực TNHSchỉ khác nhau ở mức độ ảnh hưởng của bệnh đối với khả năngnhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của người bệnh tạithời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội Nếu loại bệnh đó làm mấtkhả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì khôngphải chịu TNHS, ngược lại tuy có bệnh nhưng chưa làm mất hoàntoàn khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thìkhông thuộc trường hợp được loại trừ TNHS mà chỉ được xem làtình tiết giảm nhẹ TNHS
Mức độ giảm nhẹ TNHS đối với người phạm tội là người cóbệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiểnhành vi của mình phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của bệnh khi
họ thực hiện hành vi phạm tội Tuy nhiên, không phải lúc nào vàtrong mọi trường hợp cũng đều có thể xác định được tỉ lệ ảnh
Trang 38hưởng của tình trạng bệnh đối với khả năng nhận thức hoặc khảnăng điều khiển hành vi, vì trên thực tế Hội đồng giám định pháp ytâm thần thường chỉ có thể xác định có hay không có mắc bệnh vànếu có thì bệnh đó có ảnh hưởng đến khả năng nhận thức hoặckhả năng điều khiển hành vi hay không.
Một vấn đề nữa được đặt ra là việc thực hiện tội phạm trongtình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, ởmức độ khác nhau, có ảnh hưởng đến khả năng nhận thức và khảnăng điều khiển hành vi hay không? Người đó có phải chịu TNHS
xã hội trong tình trạng say (say do dùng rượu hoặc dùng các chấtkích thích mạnh khác) vẫn phải chịu TNHS Tuy nhiên, trong khoahọc Luật hình sự hiện nay vấn đề này vẫn còn tồn tại nhiều quanđiểm khác nhau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Người say rượu vẫn coi là có
năng lực TNHS (mặc dù trong thực tế họ mất khả năng nhận thứchoặc khả năng điều khiển hành vi tại thời điểm thực hiện tội phạm).Bởi vì khi tự đặt mình vào trong tình trạng say, họ là người có nănglực TNHS, nhưng họ đã tự tước bỏ đi khả năng nhận thức và khả
Trang 39năng điều khiển hành vi của mình, họ tự đặt mình vào trong tìnhtrạng say đó Chính vì lý do đó mà họ được xem là người có lỗi đốivới tình trạng say của mình nên cũng có lỗi khi thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội trong tình trạng đó [45, tr.118-119].
Quan điểm thứ hai lại cho rằng: Người thực hiện tội phạm
trong tình trạng say do dùng rượu hay dùng chất kích thích mạnhkhác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành
vi của mình thì được coi là rơi vào tình trạng “không có năng lựcTNHS thực tế” do họ không nhận thức được hành vi của mình lànguy hiểm cho xã hội và do đó họ không có lỗi khi thực hiện hành
vi phạm tội Vì vậy họ sẽ không bị truy cứu TNHS [48, tr.12-16; 45,tr.166]
Tóm lại, trong giai đoạn hiện nay vấn đề năng lực TNHS đốivới người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạngsay do dùng rượu hay dùng chất kích thích mạnh khác đã được cácnhà nghiên cứu Luật học xem xét ở nhiều góc độ khác nhau nhưngvẫn chưa thể đi đến thống nhất
1.2 Khái niệm, các đặc điểm cơ bản của biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong luật hình sự
1.2.1 Khái niệm biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong luật hình sự
Tòa án áp dụng hình phạt nhằm trừng trị, cải tạo, giáo dụcngười phạm tội là cần thiết nhưng có thể là chưa đủ để xử lý tộiphạm Có những trường hợp cần phải xử lý một cách triệt để tráchnhiệm của người phạm tội vì sự công minh của pháp luật đồng thờiloại bỏ hoàn toàn điều kiện có thể dẫn đến tội phạm trong tươnglai và còn vì mục tiêu xây dựng một xã hội thật sự công bằng, vănminh Trên thực tế cũng cho thấy nếu chỉ áp dụng hình phạt thìtrong nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không đạtđược mục đích nói trên Cùng với hình phạt các biện pháp tư phápnói chung và BPBBCB nói riêng là các biện pháp cưỡng chế hình sự
Trang 40quan trọng trong đấu tranh phòng chống và ngăn ngừa tội phạm.Nhận thức đúng về bản chất của biện pháp tư pháp, đặc biệt làBPBBCB sẽ thấy vai trò quan trọng của loại biện pháp này và sẽ dễdàng chấp nhận việc quy định chúng trong BLHS Việc quy địnhBPBBCB trong BLHS thể hiện sự đúng đắn trong việc thực hiện mộttrong số những nguyên tắc của chính sách hình sự là sử dụng tối
đa mọi cách thức, biện pháp có thể để lập lại trật tự xã hội, hìnhphạt không phải là công cụ duy nhất Việc quy định BPBBCB xuấtphát từ chính sách nhân đạo sâu sắc của Nhà nước, đảm bảoquyền được điều trị về y tế của công dân, đặc biệt là khi họ mắcbệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiểnhành vi thì tự bản thân họ không thể lựa chọn được biện phápchữa bệnh và không có khả năng để chi trả cho việc chữa bệnh.Đồng thời việc quy định biện pháp này cũng nhằm phòng ngừa khảnăng gây thiệt hại cho trật tự an toàn xã hội [24, tr.29]
Bộ luật hình sự hiện hành không nêu khái niệm thế nào làBPBBCB Chính vì nguyên nhân này mà dưới góc độ lý luận hiệnnay còn nhiều quan điểm không thống nhất xung quanh khái niệm
về biện pháp tư pháp này, chẳng hạn:
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Lê Thị Sơn thì:
“Bắt buộc chữa bệnh là buộc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hay đang chấp hành hình phạt và đang mắc bệnh tới mức mất năng lực TNHS do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác phải vào cơ sở điều trị chuyên khoa để chữa bệnh” [23, tr.12].
Tác giả Nguyễn Thị Ánh Hồng: “Biện pháp tư pháp bắt buộc
chữa bệnh là biện pháp buộc người bị mắc bệnh tâm thần đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi phải vào một cơ sở điều trị chuyên khoa đề bắt buộc chữa bệnh.”
[24, tr.28]
Tác giả Đinh Văn Quế khi bình luận về biện pháp này thì cho