1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học hà nội

96 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét từ góc độ quá trình thực hiện nhiệm vụ theo chức năng của nhà trường, đào tạo đại học bao gồm các khâu: 1 Chuẩn bị đầu vào: đánh giá nhu cầu đào tạo, xây dựng các CTĐT, xây dựng các

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS NGUYỄN THỊ HOA

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và làm luận văn này tôi đã nhận được nhiều sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân

thành tới: PGS.TS Nguyễn Thị Hoa, người đã tận tâm giúp đỡ, khuyến khích và

tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Khoa Tâm lý - Giáo dục, các thầy cô giáo, viên chức các đơn vị thuộc Học viện Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập cũng như làm luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các cán bộ, giảng viên, các

em sinh viên của khoa Quản trị Kinh doanh và Du lịch và các khoa ngôn ngữ - Trường Đại học Hà Nội đã luôn tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu của mình

Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Vũ Kim Dung

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Vũ Kim Dung, học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục, khoá 2015-2017 Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Tác giả luận văn

Vũ Kim Dung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 7

1.1 Quản lý 7

1.2 Đào tạo đại học 10

1.3 Đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học 15

1.4 Quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học 20

1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học 26

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 29

2.1 Giới thiệu chung về Trường Đại học Hà Nội 29

2.2 Thực trạng đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Hà Nội 34

2.3 Thực trạng quản lý đào tạo theo học hệ thống chỉ ở Trường Đại học Hà Nội 36

2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Hà Nội 53

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 58

3.1 Cơ sở khoa học đề xuất các biện pháp 58

3.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 61

3.3 Một số biện pháp quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Hà Nội 62

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Hà Nội 66

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71

Trang 5

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT Chữ viết tắt Cụm từ viết đầy đủ

1 BGH Ban Giám hiệu

13 NCKH Nghiên cứu khoa học

14 PGS.TS Phó giáo sư - Tiến sĩ

15 QLĐT Quản lý đào tạo

16 SV Sinh viên

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Đánh giá chung của nhóm CBQL và GV và nhóm SV về công tác quản lý CTĐT theo HTTC 37Bảng 2.2: Đánh giá của nhóm CBQL và GV về công tác quản lý hoạt động dạy 39Bảng 2.3: Đánh giá chung của nhóm CBQL và GV và nhóm SV về thực trạng quản

lý hoạt động học của SV 41Bảng 2.4: Đánh giá chung của nhóm CBQL và GV và nhóm SV về thực trạng quản

lý đánh giá kết quả học tập 42Bảng 2.5: Đánh giá của nhóm CBQL và GV về thực trạng quản lý CVHT 44Bảng 2.6: Đánh giá chung của nhóm CBQL và GV và nhóm SV về thực trạng quản

lý ứng dụng CNTT trong quá trình dạy học 45Bảng 2.7: Thực trạng quản lý quá trình dạy - học 46Bảng 2.8: Đánh giá của nhóm CBQL và GV về thực trạng quản lý đội ngũ GV, CBQL và viên chức kỹ thuật 47Bảng 2.9: Đánh giá của nhóm CBQL và GV về thực trạng quản lý CSVC và tài chính 49Bảng 2.10: Đánh giá của nhóm CBQL và GV về thực trạng quản lý công tác phối hợp đào tạo theo HTTC 51Bảng 2.11: Thực trạng QLĐT theo HTTC 52Bảng 2.12: Đánh giá của nhóm CBQL và GV về các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến QLĐT theo HTTC 54Bảng 2.13: Đánh giá của nhóm CBQL và GV về thực trạng các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến QLĐT theo HTTC 56Bảng 3.1: Thống kê kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp quản lý đã đề xuất 68Bảng 3.2: Thống kê kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp quản lý đã đề xuất 68

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ CỦA ĐỀ TÀI

Biểu đồ 3.1: So sánh mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 69

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng cho xã hội là mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục, đặc biệt là GDĐH Nghị quyết hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành TW khóa XI (Nghị quyết 29-NQ/TW ban hành ngày 04/11/2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đã xác

định mục tiêu cụ thể của GDĐH: “Đối với GDĐH, tập trung vào đào tạo nhân lực

trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học [12]” Để đạt được mục tiêu trên, trong những

năm gần đây, các nhà quản lý GDĐH luôn tìm các giải pháp cải tiến chất lượng GDĐH Một trong những giải pháp đó là thực hiện đào tạo theo HTTC

Đào tạo theo học chế tín chỉ là hình thức đào tạo tiên tiến trên thế giới với nhiều ưu điểm, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học, có tính liên thông, khoa học

và linh hoạt Hệ thống tín chỉ trong đào tạo đầu tiên được phát triển bởi Viện Đại học Harvard, Mỹ vào năm 1872 Đến đầu thế kỳ thứ XX, hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các trường đại học ở Mỹ Tiếp sau đó, hình thức đào tạo tín chỉ lần lượt được áp dụng ở các nước khác như Nhật bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái làn… và nhiều nước khác trên thế giới

Ở Việt Nam đào tạo theo hình thức tín chỉ được chính thức triển khai từ năm

2001 Ngày 15 tháng 8 năm 2007 Bộ GD & ĐT đã ban hành quyết định số 43/2007

về Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo HTTC Cho đến nay, nhiều trường đại học của nước ta đang từng bước chuyển từ đào tạo theo niên chế sang hình thức đào tạo hoàn toàn theo tín chỉ Hiện nay, ở Trường Đại học Hà Nội, CTĐT tín chỉ đang được thực hiện tại một số khoa của Trường Năm học 2015-

2016, Trường Đại học Hà Nội đã tích cực chuẩn bị mọi điều kiện để việc đào tạo trong tất cả các khoa của trường có thể chuyển sang đào tạo theo tín chỉ Chúng tôi

chọn đề tài: “Quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Hà Nội”

với mục đích đánh giá việc QLĐT theo HTTC ở các khoa đang thực hiện đào tạo

Trang 9

2

theo hệ thống này nhằm rút kinh nghiệm để việc chuẩn bị chuyển sang đào tạo theo tín chỉ của nhà trường được thực hiện có hiệu quả hơn

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay ở trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu

và công bố công trình nghiên cứu về QLĐT và QLĐT theo HTTC

Về QLĐT, tại các trường Đại học đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu tiếp cận ở nhiều mức độ khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu của

từng tác giả, từng công trình khoa học Có thể kể đến các công trình:“Những vấn

đề cốt yếu của quản lý”của Harold Koontz (1992), Cyril Donnell và Heinz

Weihrich “Lý luận đại cương về quản lý” của tác giả Nguyễn Quốc Chí và

Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996) trong đó đã đề cập đến lịch sử tư tưởng quản lý và chức năng quản lý

Một số học viên cao học ngành quản lý giáo dục cũng chọn QLĐT để nghiên cứu như: Tác giả Lê Thị Thủy nghiên cứu “Một số biện pháp quản lí hoạt động đào tạo hê cử nhân quản lí giáo dục tại Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà

Nội Tác giả Ngô Thị Lụa nghiên cứu “ c i n ph p quản lý hoạt động đào tạo

của trường rung học N ng - Lâm - Nghi p n i nhằm đ p ứng u c u nguồn

nh n lực n ng - lâm - nghi p của t nh trong giai đoạn hi n na ”

Về QLĐT theo HTTC, công trình nghiên cứu về HTTC ở bậc đại học của Hoa Kỳ, Giáo sư G Dietrich đã nêu ra vai trò thiết thực, cần thiết của HTTC tại

cuốn “The emergence of the creditsystem in American education considered as a

problem of social and intellectual history” (Sự xuất hiện của HTTC trong giáo dục

Mỹ được coi là một vấn đề của lịch sử xã hội và trí tuệ)

Nhà nghiên cứu Huang Xiao-qin trong bài báo “Anal sis of the

Management of Credit System in Local Universit ” (Phân tích quản lý HTTC ở

trường đại học địa phương) [40] đã so sánh sự khác nhau cơ bản giữa đào tạo truyền thống và đào tạo theo HTTC là tính cứng nhắc và linh hoạt

Ở trong nước cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về QLĐT theo HTTC

Tác giả Nguyễn Văn Nhã đã có bài viết “ c giải pháp triển khai phương thức đào

Trang 10

3

tạo theo tín ch ở Đại học Quốc Gia Hà Nội” [26], đưa ra các giải pháp để nâng

cao chất lượng đào tạo trong học chế tín chỉ

Nhà quản lý GDĐH Vinh, Phạm Minh Hùng:“Đổi mới c ng t c QLĐ theo

HTTC ở c c trường Đại học” [18] đã nhấn mạnh cách giải pháp quản lý, nêu các

đặc trưng của phương thức đào tạo theo HTTC và đề ra yêu cầu cần đổi mới mạnh

mẽ công tác QLĐT ở một số lĩnh vực

Tác giả Trần Văn Chương có bài viết “QLĐ theo HTTC ở trường đại học

Phú n” [10] đã nêu thực trạng QLĐT theo HTTC ở Trường đại học Phú Yên,

những khó khăn chủ yếu, biện pháp quản lý đã triển khai thực hiện đạt kết quả bước đầu

Đối với hoạt động CVHT, tác giả Nguyễn Thị Diệu Linh có bài báo “Quản

lý hoạt động của VH trong đào tạo theo học chế tín ch ” [24]

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Mai Hương “Quản lý quá trình dạy và

học theo H trong c c trường đại học Vi t Nam giai đoạn hi n nay” [19]

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Hữu Hoan về “Quản lý và đ nh gi chương

trình môn học trình độ đại học trong H ” [17] đã nghiên cứu một cách có hệ

thống và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chương trình giáo dục, chương trình môn học Luận án đã đề xuất mẫu cấu trúc chương trình môn học, bộ tiêu chí đánh giá chương trình môn học Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa thực tiễn đối với các cơ sở GDĐH nước ta trong giai đoạn hiện nay khi đang chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo HTTC

Từ tổng quan nghiên cứu về QLĐT theo HTTC ở trường đại học nói chung,

có thể thấy là trong quá trình triển khai đào tạo theo HTTC đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và công bố các công trình nghiên cứu quản lí đào tạo theo HTTC Tuy nhiên nghiên cứu về QLĐT theo HTTC ở các trường đại học để chỉ ra thực trạng, đưa ra các giải pháp quản lý để nâng cao chất lượng QLĐT theo HTTC chưa

có nhiều công trình nghiên cứu Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng QLĐT theo HTTC và đề xuất những biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng đào tạo là một yêu cầu cấp thiết

Trang 11

4

Với đề tài nghiên cứu này tác giả mong muốn đề xuất một số biện pháp quản

lý hữu hiệu góp tạo phần nâng cao chất lượng đào tạo, củng cố niềm tin và phát huy thương hiệu đào tạo ngoại ngữ và chuyên ngành bằng ngoại ngữ của Trường Đại học Hà Nội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận về QLĐT theo HTTC, chỉ ra thực trạng QLĐT theo HTTC tại Trường Đại học Hà Nội và đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả QLĐT theo HTTC ở Trường Đại học Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận QLĐT theo HTTC ở các trường đại học, cao đẳng

- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng QLĐT theo HTTC ở Trường Đại học Hà Nội

- Đề xuất biện pháp QLĐT theo hệ thống chỉ có hiệu quả ở Trường Đại học

Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nội dung QLĐT theo HTTC tại Trường Đại học Hà Nội

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu đề tài

- Tiếp cận h thống

Hoạt động giáo dục và đào tạo là một hệ thống gồm nhiều yếu tố kết hợp tạo thành Để đánh giá thực trạng QLĐT theo HTTC ở Trường Đại học Hà Nội hiện

Trang 12

5

nay, tác giả luận văn quan tâm nghiên cứu thực trạng các yếu tố có liên quan chặt chẽ đến QLĐT hình thức này và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý

- Tiếp cận phức hợp:

Luận văn đề xuất các giải pháp QLĐT theo HTTC dựa trên mối quan hệ giữa

đối tượng của QLĐT với môi trường đào tạo

- Tiếp cận lịch sử

Luận văn nghiên cứu lịch sử phát triển và kinh nghiệm của QLĐT và QLĐT theo HTTC để tìm ra ưu điểm, nhược điểm, vận dụng vào QLĐT theo HTTC ở Trường Đại học Hà Nội

- Tiếp cận thực tiễn

Nghiên cứu QLĐT theo HTTC cần phải xuất phát từ thực tiễn để tìm ra những yếu điểm, hạn chế, khó khăn, thuận lợi, và nguyên nhân để giải quyết nhằm nâng cao chất lượng quản lý và đề xuất các biện pháp QLĐT theo HTTC phù hợp với thực tiễn ở Trường Đại học Hà Nội

- Tiếp cận mục tiêu

Hoạt động giáo dục, đào tạo là hoạt động phải có mục tiêu rõ ràng, phù hợp

và khả thi Nghiên cứu QLĐT theo HTTC tại trường Đại học Hà Nội cần phải xuất phát từ mục tiêu giáo dục, đào tạo của nhà trường

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp nghiên cứu tài li u, văn ản

Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các nghiên cứu và văn bản, tài liệu có liên

quan đến đề tài luận văn Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng cơ sở lý luận của luận văn

- Phương ph p điều tra bằng phiếu hỏi

Điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp nghiên cứu định lượng Trước hết, bảng hỏi được xây dựng gồm hai nội dung: (1) Xác định thực trạng QLĐT theo HTTC ở Trường Đại học Hà Nội, tìm các nguyên nhân hạn chế của thực trạng này; (2) Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp QLĐT theo HTTC Sau đó, bảng hỏi được sử dụng để thu thập thông tin về các nội dung trên

- Phương ph p phỏng vấn sâu

Trang 13

6

Phương pháp phỏng vấn là phương pháp nghiên cứu định tính Đây là phương pháp thu thập thông tin, ý kiến, nguyện vọng của CBQL, GV, SV về các nội dung

nghiên cứu định lượng nhằm lý giải cho các kết quả nghiên cứu định lượng

- Phương ph p thống kê bằng toán học

Sử dụng phần mềm SPSS for Windows xử lý số liệu, tính trung bình, độ lệch chuẩn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo theo học chế tín chỉ ở các trường đại học, cao đẳng Kết quả này sẽ góp phần làm rõ, bổ sung, hoàn thiện lý luận về công tác QLĐT theo HTTC ở Trường Đại học Hà Nội và trên cả nước

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn chỉ ra thực trạng QLĐT theo HTTC ở Trường Đại học Hà Nội và những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất được biện pháp khả thi nâng cao hiệu quả QLĐT theo HTTC ở Trường Đại học Hà Nội Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho CBQL, GV của Trường Đại học Hà Nội trong xây dựng chiến lược chuyển đổi đào tạo sang hình thức đào tạo tín chỉ Đồng thời, đây cũng là tài liệu tham khảo bổ ích cho CBQL của các trường cao đẳng, đại học ở nước ta trong QLĐT theo HTTC

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cở sở lý luận về quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học

Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Hà Nội

Chương 3: Một số biện pháp quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Hà Nội

Trang 14

7

Chương 1

CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở

TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Quản lý

1.1.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là một khoa học, xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người từ khi có sự phân công lao động trong xã hội Nó mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại Quản lý là một hoạt động phổ biến không thể thiếu trong mọi lĩnh vực đời sống, ở mọi cấp độ và có sự tác động liên quan đến con người

Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý

Về vấn đề “quản lý”, Mác – Ăngghen viết: “Bất kỳ một lao động xã hội của một cộng đồng nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn cũng đều cần có sự quản lý Nó xác lập hài hòa các mối quan hệ giữa các công việc riêng rẽ và thực hiện những chức năng chung nhất, xuất phát từ sự vận động của toàn bộ cơ cấu sản xuất (khác với sự vận động của từng bộ phận độc lập của nền sản xuất ấy) Một nghệ sĩ chơi đàn chỉ phải điều khiển chính mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [25, Tr.342]

Quản lý là “Hoạt động hay tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [16, tr.326]

F.W.Taylor là nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó đã sử dụng nhiều biện pháp khai thác tối đa thời gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động Theo ông làm quản lý là phải biết rõ là muốn người khác làm việc gì và chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm [41]

- Fayol cho rằng quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, bao gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy [39]

Trang 15

8

Xét theo chức năng quản lý, hoạt động quản lý được tác giả Phan Văn Kha định nghĩa: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các hệ thống nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định” [22, Tr 4] Như vậy, có thể hiểu “quản lý” là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các

hoạt động (chức năng) kế hoạch, tổ chức, ch đạo và kiểm tra

Trần Kiểm viết: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ - nhằm làm cho

hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến” [21, Tr 15]

Như vậy, có thể nói: Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, trong

đó chủ thể quản lý huy động, sử dụng các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu, điều chỉnh các nguồn lực khi cần thiết để nhằm đạt được mục tiêu của

tổ chức, đưa tổ chức phát triển Quản lí bao giờ cũng gồm hai thành phần là chủ thể

và khách thể Chủ thể và khách thể quản lí có mối quan hệ tác động qua lại, tương

h nhau “Quản lí” bao giờ cũng là một hoạt động có mục đích của con người

Trong nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng: Quản lí là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý, bằng cách xây dựng kế hoạch hoạt động, tổ chức chỉ đạo thực hiện hoạt động và kiểm tra kết quả họat động nhằm đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức

1.1.2 Chức năng cơ bản của quản lý

Ngày nay, nhiều chuyên gia về quản lý cho rằng có bốn chức năng quản lý

cơ bản, bao gồm: Kế hoạch hóa - tổ chức - lãnh đạo - kiểm tra

Chức năng lập kế hoạch: Là quá trình thiết lập các mục tiêu của tổ chức, xác

định và đảm bảo các điều kiện, nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó, quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó và tiến trình thực hiện các hoạt động đó như thế nào

Trang 16

9

Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc,

quyền hành và nguồn lực cho các thành viên của tổ chức, hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả

Chức năng ch đạo: Chỉ đạo, lãnh đạo là quá trình tác động đến các thành

viên của tổ chức, động viên, làm cho họ nhiệt tình, tự giác n lực phấn đấu họ thực hiện những nhiệm vụ nhất định để hoàn thành những mục tiêu của tổ chức

Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là những hoạt động của chủ thể quản lí nhằm

đánh giá và xử lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức, từ đó, tiến hành những hoạt động sửa chữa, điều chỉnh nếu cần thiết, chức năng kiểm tra bao gồm: Xây dựng định mức và tiêu chuẩn, các chỉ số công việc, phương pháp đánh giá; Rút kinh nghiệm và điều chỉnh

1.1.3 Vai trò của quản lý

Ngày nay quản lý trở thành hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực liên quan đến con người và có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển KT-

XH Quản lý lấy các hoạt động cụ thể làm đối tượng để tác động vào nhằm định hướng, thiết kế, duy trì, phát triển, điều chỉnh và phối hợp các hoạt động đó thành một hợp lực để hướng tới hoàn thành mục tiêu của tổ chức Nhìn chung quản lí có những vai trò sau:

- Vai trò định hướng: Vai trò định hướng của hoạt động quản lý được biểu

hiện chủ yếu qua chức năng lập kế hoạch Xác định mục tiêu chung, đưa ra các phương án và hướng cho các cá nhân trong tổ chức vào việc thực hiện mục tiêu đó một cách hiệu quả và đúng hướng

- Vai trò thiết kế: xây dựng cơ cấu tổ chức, xác định biên chế, phân công

công việc, giao quyền và chuẩn bị các nguồn lực khác Thực hiện tốt những nội dung này là tiền đề và điều kiện quan trọng đối với hiệu quả của hoạt động quản lý

- Vai trò du trì và thúc đẩy: Thông qua việc sử dụng các nguồn lực, tạo môi

trường và điều kiện thuận lợi cho người lao động phát huy năng lực và khả năng sáng tao của mình trong công việc, đảm bảo cho cho cá nhân và tổ chức phát triển bền vững và hiệu quả

Trang 17

10

- Vai trò điều ch nh: Xây dựng các tiêu chí để đo lường kết quả của tổ chức,

từ đó phát hiện ra những sai lệch và đưa ra các giải pháp để điều chỉnh đảm bảo cho

tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu đã đề ra

- Vai trò phối hợp: Bản chất của hoạt động quản lý là nhằm phối hợp các

nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực…) nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức

1.2 Đào tạo đại học

1.2.1.Khái niệm đào tạo

Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành hay trang bị kiến thức liên quan đến một lĩnh vực nghề cụ thể Đào tạo giúp người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho

họ thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận một công việc nhất định Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục Đào tạo thường đề cập đến một giai đoạn của quá trình dạy và học, khi người học đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại, đào tạo từ xa, tự đào tạo

Theo Từ điển Bách khoa thư Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một người nhằm làm người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách có hệ thống, để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [38]

Đào tạo là hoạt động mang tính phối hợp giữa người dạy và người học, là sự thống nhất hữu cơ giữa hai mặt dạy và học, được tiến hành trong một cơ sở giáo dục, mà trong đó tính chất, phạm vi, cấp độ, cấu trúc, quy trình của hoạt động được quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về: mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, CSVC và thiết bị dạy học, đánh giá kết quả đào tạo, cũng như về thời gian và đối tượng đào tạo cụ thể [32]

Trong nhà trường, hoạt động đào tạo là hoạt động cơ bản, đặc trưng nhất, là hoạt động liên quan đến việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, trong đó, dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo của người dạy làm cho người học tự giác, tích cực, chủ động tự

Trang 18

1.2.2 Khái niệm trường đại học

Các cơ sở GDĐH trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: a) Trường cao đẳng; b) Trường đại học, học viện; c) Đại học vùng, Đại học quốc gia (sau đây gọi chung là đại học); d) Viện NCKH được phép đào tạo trình độ tiến sĩ (Theo Điều 7, Luật GDĐH)

Chương trình đào tạo đại học có thời gian tương đương 3 đến 5 năm học tập trung đối với người tốt nghiệp phổ thông hoặc đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ GD&ĐT (Điều 2, Khoản 4, Quyết định Phê duyệt khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân) Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, việc liên thông giữa các trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp với các trình độ đào tạo của GDĐH được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ (Điều 9, Khoản

3, Luật Giáo dục nghề nghiệp)

Cơ sở GDĐH được phân tầng nhằm phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới phù hợp với yêu cầu phát triển KT-XH và xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển,nâng cao năng lực đào tạo và NCKH của cơ sở GDĐH; thực hiện quản lý nhà nước Cơ

sở GDĐH được phân tầng thành: a) Cơ sở GDĐH định hướng nghiên cứu; b) Cơ sở GDĐH định hướng ứng dụng; c) Cơ sở GDĐH định hướng thực hành (Điều 9, Khoản 4, Luật GDĐH)

1.2.3 Khái niệm đào tạo đại học

* Khái ni m đào tạo đại học

Đào tạo đại học là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có năng lực tư duy, có khả năng sáng tạo

Trang 19

12

* Mục tiêu chung đào tạo đại học: a) Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng

nhân tài; NCKH, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; b) Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân (Theo Điều 5, Khoản 1, Luật GDĐH)

* Nội dung đào tạo đại học

Đào tạo đại học là đào tạo nghề hay giáo dục nghề Đó là hoạt động dạy và học, trong đó, người dạy truyền cho người học những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, cũng như phương pháp và kinh nghiệm hoạt động chuyên môn Đồng thời, trong quá trình đào tạo, người học được bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế để có thể tự lập đi vào cuộc sống

Đào tạo đại học bao gồm các thành tố: Hoạt động dạy, hoạt động học, môi trường đào tạo

Xét từ góc độ quá trình thực hiện nhiệm vụ theo chức năng của nhà trường, đào tạo đại học bao gồm các khâu: 1) Chuẩn bị đầu vào: đánh giá nhu cầu đào tạo, xây dựng các CTĐT, xây dựng các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện các CTĐT, tuyển sinh; 2) Thực hiện các hoạt động đào tạo: dạy học, thực tập, giáo dục, NCKH…; và 3) Hoàn thiện đầu ra: kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục và dạy học, xét học vụ và công nhận tốt nghiệp, cấp phát văn bằng, chứng chỉ, kiểm định và đảm bảo chất lượng đào tạo [32]

* Hình thức đào tạo có thể

- Đào tạo theo niên chế và đào tạo theo tín ch

+ Đào tạo theo niên chế

Đào tạo theo niên chế có đơn vị đo khối lượng lao động học tập là đơn vị học trình Tổ chức lớp học theo khóa tuyển sinh Hình thức đào tạo theo niên chế, người dạy được coi là trung tâm của quá trình đào tạo Chương trình học, thời gian, tiến

độ, nội dung chương trình học được ấn định sẵn SV tham gia với vai trò chủ động,

Trang 20

ký học sớm các học phần khác

Chương trình đại học thực hiện trong 4 năm tương đương với 200 đơn vị học trình (đvht); chương trình cao đẳng tương đương 150 đvht Đơn vị đo lường khối lượng học tập là đơn vị học trình (đvht) tương đương 15 tiết học lý thuyết trên lớp,

30 giờ thực hành thí nghiệm…; So với đào tạo theo tín chỉ thì đào tạo theo niên chế

có chương trình học dài hơn

Đào tạo theo niên chế: chỉ liên thông được theo ngành học, chuyên ngành mà khó liên thông được với các ngành khác hoặc khác trường

Việc đánh giá kết quả học tập: Đánh giá theo năm học với số đơn vị học trình

đã được quy định sẵn Cách đánh giá từng môn theo thang điểm 10 Điểm không đạt: < 5; Điểm đạt: ≥ 5

+ Đào tạo theo tín ch

Đơn vị đo khối lượng học tập trong đào tạo theo tín chỉ là tín chỉ Tổ chức lớp học theo SV đăng ký Người học được coi là trung tâm của quá trình đào tạo Chương trình học linh hoạt SV chủ động sắp xếp thời gian đăng ký lịch học cho một học kỳ Trong học tập SV chủ động hơn Tự học là một thành phần bắt buộc,

SV phải chủ động nghiên cứu các tài liệu của nhà trường, nắm vững CTĐT, các học phần phải học

Chương trình học tổ chức theo kỳ học Chương trình học được cấu trúc thành những học phần; lịch trình thực hiện chính xác SV tích lũy kiến thức theo học phần; tích lũy số tín chỉ theo học kỳ Cho phép SV đăng ký học vượt số tín chỉ của một học kỳ Chương trình đại học thực hiện trong 4 năm tương đương 120 tín chỉ; chương trình cao đẳng tương đương 90 tín chỉ Đơn vị đo lường khối lượng học tập

là tín chỉ, tương đương 15 tiết giảng lý thuyết, 30 giờ thực hành, thí nghiệm

Trang 21

- Đào tạo tập trung và gi o dục thường xu n

+ Đào tạo tập trung là hình thức đào tạo mà người học phải dành toàn bộ

thời gian cho học tập và nghiên cứu theo quy định của chương trình tại cơ sở đào tạo Hệ đào tạo tập trung được áp dụng trong đào tạo đại học, đào tạo thạc sĩ, đào tạo tiến sĩ Thời gian đào tạo ngắn hơn thời gian đào tạo ở hệ không tập trung

+ Hình thức giáo dục thường xuyên nhằm tạo điều kiện cho mọi người, ở các

lứa tuổi và trình độ khác nhau có thể học tập, nâng cao kiến thức, phát triển năng lực chuyên môn, tự tạo việc làm hoặc chuyển đổi ngành, nghề phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng người, góp phần nâng cao dân trí, chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội, xây dựng xã hội học tập Người học có thể chuyển đổi từ giáo dục thường xuyên sang các phương thức khác nếu có nhu cầu, có đủ năng lực và đáp ứng yêu cầu của chương trình.

- Đào tạo đại học và đào tạo sau đại học

+ Đào tạo đại học

Các CTĐT trình độ đại học tiếp nhận người đã tốt nghiệp trung học phổ thông; người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; người đã tốt nghiệp trình độ cao đẳng

CTĐT đại học có thời gian tương đương 3 đến 5 năm học tập trung đối với người tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc người đã tốt nghiệp trình độ trung cấp và

đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông theo quy định của Bộ GD&ĐT Người tốt nghiệp trình độ đại học có thể học tiếp lên thạc

sĩ theo hướng chuyên môn phù hợp hoặc được nhận vào học các hướng chuyên môn khác nếu đáp ứng được điều kiện của CTĐT Người tốt nghiệp trình độ đại học có

Trang 22

15

kết quả học tập xuất sắc có thể được xét tuyển thẳng vào CTĐT trình độ tiến sĩ đúng hướng chuyên môn ở trình độ đại học

+ Đào tạo sau đại học

Thời gian đào tạo trình độ thạc sĩ tương đương 1 đến 2 năm học tập trung tùy theo yêu cầu của ngành đào tạo Người học sau khi hoàn thành CTĐT trình độ thạc sĩ có thể học tiếp lên tiến sĩ trong hướng chuyên môn phù hợp hoặc được nhận vào học các hướng chuyên môn khác nêu đáp ứng được điều kiện của CTĐT

Các CTĐT trình độ tiến sĩ tiếp nhận người tốt nghiệp trình độ thạc sĩ hoặc người tốt nghiệp trình độ đại học nếu đáp ứng được các yêu cầu của chương trình đào tạo

Thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ tương đương 3 đến 4 năm học tập trung tùy theo yêu cầu của ngành đào tạo và trình độ đầu vào của người học

1.3 Đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học

1.3.1 Khái quát về hệ thống tín chỉ

1.3.1.1 Khái ni m tín ch

Đào tạo theo HTTC là phương thức đào tạo tiên tiến trên thế giới Trong các tài liệu nghiên cứu có hơn 60 định nghĩa về tín chỉ Định nghĩa về tín chỉ được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam là của học giả người Mỹ gốc Trung Quốc James Quan thuộc đại học Quốc gia Washington Theo quan điểm của James Quann thì tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: 1) thời gian lên lớp; 2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khoá biểu; 3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài; đối với các môn học lý thuyết 1 tín chỉ là một giờ học trên lớp (với 2 giờ chuẩn bị ở nhà) trong 1 tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm - ít nhất là 2 giờ trong 1 tuần (với 1 giờ chuẩn bị

ở nhà); đối với việc tự học, tự nghiên cứu - ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần

Theo Quy chế 43 của Bộ GD-ĐT: “Tín ch được sử dụng để tính khối lượng

học tập của SV Một tín ch được qu định bằng 15 tiết học lý thuyết, 30-40 tiết thực hành, thí nghi m hoặc thảo luận, 45-90 giờ thực tập tại cơ sở, 45-60 giờ làm tiểu

Trang 23

16

luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghi p” Đối với những học phần lý

thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ SV phải dành ít nhất

30 giờ chuẩn bị cá nhân

Như vậy, tín chỉ là đơn vị đo lường kiến thức mà SV tích lũy trong khoảng thời gian nhất định thông qua quá trình nghe giảng lý thuyết, làm bài tập, tự nghiên cứu và tham gia các hoạt động thảo luận, thuyết trình, viết tiểu luận theo yêu cầu

và hướng dẫn của GV

1.3.1.2 H thống tín ch

HTTC được hiểu là phương thức đào tạo, trong đó tín chỉ là đơn vị đo kiến thức, đồng thời là đơn vị đánh giá kết quả học tập của SV SV phải tích lũy được một số lượng tín chỉ tối thiểu theo quy định của cơ sở đào tạo mới được xem là đã hoàn thành CTĐT

* Đặc điểm cơ ản của HTTC: (1) Đòi hỏi SV phải tích lũy kiến thức theo từng

học phần (đơn vị: tín chỉ); (2) Kiến thức cấu trúc thành các module (học phần); (3) Quy định khối lượng kiến thức phải tích lũy cho từng văn bằng; (4) Xếp năm học của người học theo khối lượng tín chỉ tích lũy; (5) CTĐT mềm dẻo: cùng với các học phần bắt buộc còn có các học phần tự chọn cho phép SV dễ dàng điều chỉnh ngành nghề đào tạo; (6) Đánh giá thường xuyên, thang điểm chữ, điểm trung bình tốt nghiệp 2.00; (7) Dạy học lấy SV làm trung tâm; (8) Đơn vị học vụ là học kỳ,

m i năm có thể chia thành 2 học kỳ (15 tuần), 3 học kỳ (15 tuần) hoặc 4 học kỳ (10 tuần); (9) Ghi danh học đầu m i học kỳ, lớp học tổ chức theo m i học phần; (10)

Có hệ thống CVHT; (11) Có thể tuyển sinh theo học kỳ; (12) Không thi tốt nghiệp, không tổ chức bảo vệ khóa luận tốt nghiệp đối với các chương trình đại học hoặc cao đẳng; (13) Chỉ có 1 văn bằng chính quy đối với 2 loại hình tập trung và không tập trung [23]

* Ưu điểm, nhược điểm của h thống tín ch

- Về ưu điểm cửa H được trình à như sau:

+ Có hiệu quả đào tạo cao: HTTC cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích

lũy kiến thức và kỹ năng của SV Trong đào tạo theo HTTC sinh viên được lựa chọn môn học, điều này cho phép SV chủ động trong việc xây dựng kế hoạch học

Trang 24

17

tập của bản thân, được quyền lựa chọn cho mình tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường đại học trở nên mềm dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết

kế chương trình liên thông giữa các cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo khác nhau

Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích luỹ được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích SV từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học đại học một cách thuận lợi Về phương diện này có thể nói HTTC là một trong những công cụ quan trọng để chuyển từ nền đại học mang tính tinh hoa thành nền đại học mang tính đại chúng

+ Có tính mềm dẻo và thích ứng cao: Với học chế tín chỉ, SV có thể chủ động đăng ký các học phần khác nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức Nó cho phép SV dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu

SV có cơ hội học thêm ngành mới một cách thuận lợi và tiết kiệm

So với phương thức đào tạo niên chế, đào tạo theo HTTC mềm dẻo tạo điều kiện cho CTĐT có thể cải cách liên tục, việc học tập được chia nhỏ, SV có thể đăng

ký học kể cả thời gian hè, tạo điều kiện cho SV hoàn thành môn học theo kế hoạch của bản thân

HTTC cung cấp cho các trường đại học một ngôn ngữ chung, tạo thuận lợi cho SV khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài nước SV được phát huy hết khả năng của mình và không bị cản trở trong quá trình học tập HTTC là một điều kiện thuận lợi giúp cho việc quản lý điểm có hiệu quả, việc chuyển điểm giữa các trường trong và ngoài nước được thực hiện dễ dàng, đặc biệt đối với các trường có hệ đào tạo liên kế với các trường đối tác ở nước ngoài

+ Đạt hiệu quả cao về quản lý và giảm giá thành đào tạo: Với HTTC, kết quả

học tập của SV được tính theo từng học phần chứ không phải theo năm học, do đó không giống như đào tạo theo niên chế, việc hỏng một học phần nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, SV không bị lưu ban hay buộc phải quay lại học từ đầu Chính vì vậy giá thành đào tạo theo HTTC thấp hơn so với đào tạo theo niên chế

Trang 25

18

Nếu triển khai HTTC các trường đại học đa lĩnh vực có thể tổ chức những môn học chung cho SV nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra SV có thể học những môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách tổ chức nói trên cho phép sử dụng được đội ngũ GV giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học

Kết hợp với HTTC, nếu trường đại học tổ chức thêm những kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học tích lũy được bên ngoài nhà trường hoặc bằng con đường tự học để cấp cho họ một tín chỉ tương đương, thì sẽ tạo thêm cơ hội cho

họ đạt văn bằng đại học ở nước ngoài, SV có cơ hội được chuyển điểm về trường của mình sau khi kết thúc khóa học chuyển tiếp ở nước ngoài, trên một nghìn trường đại học chấp nhận cung cấp tín chỉ cho những kiến thức và kỹ năng mà người học đã tích lũy được ngoài nhà trường

- Nhược điểm của h thống tín ch và cách khắc phục

+ Cắt vụn kiến thức: Phần lớn các module trong HTTC được quy định tương đối nhỏ, cỡ 3 hoặc 4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thức thật sự

có đầu, có đuôi, theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó gây ấn tượng kiến thức bị cắt vụn Đây thật sự là một nhược điểm, và người ta thường khắc phục nhược điểm này bằng cách không thiết kế các module quá nhỏ dưới 3 tín chỉ, và trong những năm cuối người ta thường thiết kế các môn học hoặc tổ chức các kỳ thi có tính tổng hợp để SV có cơ hội liên kết, tổng hợp các kiến thức đã học

+ Khó tạo nên sự gắn kết trong SV: Vì các lớp học theo module không ổn

định, khó xây dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học nên việc

tổ chức sinh hoạt đoàn thể của SV có thể gặp khó khăn Chính vì nhược điểm này

mà có người nói HTTC "khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng đồng" Khó khăn này là một nhược điểm thực sự của HTTC, tuy nhiên người

ta thường khắc phục bằng cách xây dựng các tập thể tương đối ổn định qua các lớp khóa học trong năm thứ nhất, khi SV phải học chung phần lớn các module kiến thức, và đảm bảo sắp xếp một số buổi xác định không bố trí thời khóa biểu để SV

có thể cùng tham gia các sinh hoạt đoàn thể chung [33]

Trang 26

19

Ngoài hai nhược điểm nêu trên, HTTC còn có nhược điểm là “Tính khó quản lý”: do sự đa dạng của đối tượng SV, linh hoạt của CTĐT Các hoạt động tự học khó có thể đánh giá theo một chuẩn mực nhất quán do không thể đo lường được thời lượng giờ tự học Mặt khác, HTTC có thể gây khó khăn cho người QLĐT khi

sự nhập học và ra trường không đồng loạt làm cho công việc của họ khó kế hoạch hóa nếu không có sự h trợ đắc lực của CNTT [19]

1.3.2 Đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ

* Khái ni m đào tạo đại học theo h thống tín ch

Đào tạo đại học theo HTTC là phương thức đào tạo cho phép SV được cấp văn bằng tốt nghiệp đại học theo ngành đào tạo chính (đơn ngành hoặc song ngành) sau khi đã tích lũy đủ hệ thống môn học (được đo bằng số tín chỉ) theo quy định của CTĐT đại học theo HTTC

Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học, như sau: Xuất sắc: Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,60 đến 4,00; Giỏi: Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,20 đến 3,59; Khá: Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,50 đến 3,19; Trung bình: Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 đến 2,49

* Các yêu c u c n thiết để triển khai đào tạo và QLĐ theo HTTC

Để triển khai đào tạo và QLĐT theo HTTC đặt ra cho m i trường đại học những vấn đề cần quan tâm Cần phải có những điều kiện cần thiết để triển khai đào tạo theo hệ thóng tín chỉ Trong QLĐT theo HTTC ở Việt Nam hiện nay, theo tác giả Lê Viết Khuyến [23] những vấn đề cần quan tâm đó là: Có sự thống nhất quan điểm ở mọi cấp; Ổn định và công khai hóa CTĐT; Thay đổi phương pháp dạy và học (học tích cực); Phát triển hệ thống tài liệu học tập; Phòng đào tạo thống nhất quản lý mọi hoạt động đào tạo; Thay đổi phương thức quản lý SV (xây dựng hệ thống CVHT); Lịch giảng dạy được triển khai nghiêm túc; GV phải dạy được nhiều học phần, một học phần được nhiều GV dạy; Thu học phí tỷ lệ với khối lượng các học phần đăng ký học; Cải tạo cơ sở hạ tầng, thư viện; Điều chỉnh lại bộ máy tổ chức; Điều chỉnh lại chính sách, chế độ đối với GV

Để triển khai đào tạo theo tín chỉ có hiệu quả, các trường đại học phải triển khai các điều kiện cần và đủ như sau:

Trang 27

20

- CTĐT theo HTTC đầy đủ, chương trình chi tiết từng môn học trong CTĐT theo HTTC của m i ngành đào tạo đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học, và công khai hóa các ngành nghề trong trường

- Có đội ngũ GV đủ về số lượng, chuẩn về chất lượng đáp ứng yêu cầu đào tạo theo HTTC

- Phải có bộ máy tổ chức, chế độ, chính sách đối với GV, cán bộ công nhân viên theo học chế tín chỉ

- Phát triển hệ thống tài liệu học tập tại thư viện Có đủ giáo trình, tài liệu tham khảo cho m i môn học và đảm bảo các điều kiện về CSVC, phương tiện dạy học, NCKH phục vụ cho đào tạo theo HTTC

- Có hệ thống CVHT nhiệt tình, am hiểu về đào tạo theo HTTC

- CNTT trong hệ thống QLĐT phải đủ mạnh đáp ứng độ phức tạp của công việc sẽ tăng lên rất nhanh khi số lượng SV, môn học, chuyên ngành tăng

- Có một Quy chế đào tạo hoàn chỉnh làm cơ sở pháp lý vững chắc cho quá trình đào tạo Có các văn bản pháp quy liên quan tới việc tổ chức đào tạo theo HTTC

- Xác định các phương thức quản lý và hoạt động phù hợp trong điều kiện

tổ chức đào tạo theo HTTC (kết hợp quản lý người học theo khoá và theo môn học)

1.4 Quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học

1.4.1 Khái niệm về quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học

QLĐT đại học theo HTTC là quá trình chủ thể quản lý tác động có ý thức đến hoạt động đào tạo theo HTTC, bằng cách xây dựng CTĐT, tổ chức và chỉ đạo thực hiện họat động đào tạo, kiểm tra, đánh giá kết quả họat động đó để đạt được mục tiêu nhà trường đề ra

Có thể hiểu rõ hơn một số thuật ngữ trong khái niệm trên như sau:

Chủ thể quản lý bao gồm những người làm quản lý ở các cấp khác nhau từ BGH, các phòng, khoa, đến tổ bộ môn

Đối tượng quản lý bao gồm GV, SV, CBQL cấp dưới, cán bộ phục vụ đào tạo và các thành tố của hoạt động đào tạo theo tín chỉ

Phương pháp quản lý là thông qua việc vận dụng các chức năng và phương tiện quản lý nhằm đạt được mục tiêu đào tạo của nhà trường

Trang 28

21

Hiện nay các trường đại học triển khai đào tạo theo HTTC phải thực hiện theo “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo HTTC” ban hành theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT

1.4.2 Nội dung quản lý đào tạo

Các nội dung QLĐT ở trường đại học bao gồm một hệ thống các vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau, đan xem vào nhau và tác động qua lại, chi phối lẫn nhau

Đó là các thành tố sau: (1) Quản lý mục tiêu đào tạo; (2) Quản lý nội dung và CTĐT; (3) Quản lý hoạt động dạy của GV; (4) Quản lý hoạt động học của SV; (5) Quản lý CSVC, tài chính;(6) Quản lý môi trường đào tạo; (7) Quản lý các hoạt động phục vụ đào tạo và đảm bảo chất lượng đào tạo [31]

Trên thực tế hiện nay, ở Trường Đại học Hà Nội, đang thực hiện hai hình thức đào tạo (theo niên chế và theo tín chỉ) Trong đó, hình thức đào tạo theo niên chế được thực hiện phần lớn ở các khoa, hình thức đào tạo theo tín chỉ mới được thực hiện đối với các môn học thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương, chuyên ngành giảng dạy bằng tiếng Anh, cụ thể là các ngành Quản trị kinh doanh, ngành Quản trị du lịch, ngành Kế toán, ngành Tài chính ngân hàng (các ngành này thuộc Khoa Quản tri Kinh doanh và Du lịch) Việc tuyển sinh được thực hiện chung cho

cả hai hình thức đào tạo Do đó, trong nghiên cứu này, tác giả không tìm hiểu quản

lý công tác tuyển sinh Nghiên cứu sẽ tìm hiểu các nội dung QLĐT theo HTTC trong Trường Đại học Hà Nội như sau:

- Quản lý CTĐT

- Quản lý hoạt động dạy - học

- Quản lý đội ngũ GV, CBQL, viên chức kỹ thuật

- Quản lý CSVC và tài chính

- Quản lý công tác phối hợp đào tạo giữa phòng QLĐT với các phòng, khoa,

ban liên quan

1.4.3 Nội dung của quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học

1.4.3.1 Quản lý chương trình đào tạo

Quản lý nội dung và CTĐT là khâu trung tâm của QLĐT CTĐT phản ánh mục tiêu đào tạo cụ thể của nhà trường, đồng thời hướng đến đáp ứng các nhu cầu

về chất lượng nguồn nhân lực của xã hội CTĐT phải đảm bảo tính mềm dẻo, được cập nhật thường xuyên

Trang 29

22

CTĐT của trường đại học được xây dựng theo các quy định hiện hành Quản

lý CTĐT hướng đến mục tiêu đảm bảo các chương trình được thiết kế và thực hiện trọn vẹn với chất lượng và hiệu quả cao nhất trong điều kiện cụ thể của từng trường Quản lý xây dựng và phát triển CTĐT phải theo định hướng chuẩn đầu ra gắn với yêu cầu phát triển năng lực người học, hướng tới đào tạo nhân lực có năng lực làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế Khi xây dựng CTĐT phải có sự tham gia của các GV, CBQL, đại diện của các các tổ chức, hội nghề nghiệp và các nhà tuyển dụng lao động theo quy định

CTĐT có mục tiêu rõ ràng, cụ thể, cấu trúc hợp lý, được thiết kế một cách hệ thống, đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng của đào tạo trình độ đào tạo và đáp ứng linh hoạt nhu cầu nhân lực của thị trường lao động Trong khuân khổ tín chỉ CTĐT được thiết kế theo hướng đảm bảo liên thông với các trình độ đào tạo và CTĐT khác CTĐT phải được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên cơ sở tham khảo các chương trình tiên tiến quốc tế, các ý kiến phản hồi từ phía các nhà tuyển dụng lao động, người tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phát triển giáo dục của địa phương hoặc cả nước

CTĐT theo HTTC được thiết kế với khối lượng đào tạo cả khóa từ 120 đến

135 tín chỉ và từ 40 đến 45 học phần, m i học phần thông thường là 3 hoặc 4 tín chỉ Các học phần được tổ chức dưới dạng module để có thể kết hợp, lắp ghép một cách linh hoạt, tạo điều kiện cho SV có thể lựa chọn học phần, học cùng lúc hai chương trình

1.4.3.2 Quản lý hoạt động dạy - học

Quản lý hoạt động day - học là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của nhà quản lý lên toàn bộ các yếu tố của quá trình dạy - học, bao gồm các hoạt động dạy của GV, hoạt động học của SV và các hoạt động đào tạo khác trong việc thực hiện kế hoạch và chương trình dạy - học nhằm đạt được mục tiêu dạy học đã đề ra

* Quản lý hoạt động dạy của giảng viên

Trong hoạt động đào tạo ở trường đại học, người GV là chủ thể, giữ vai trò chủ đạo trong quá trình đào tạo GV bằng hoạt động dạy của mình tổ chức, điều

Trang 30

Phương pháp dạy học ở đại học, với tư cách tổ hợp các cách thức hoạt động, tương tác giữa thầy và trò trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học,

có chức năng xác định những phương thức hoạt động dạy và học theo nội dung nhất định nhằm thực hiện tốt mục tiêu và nhiệm vụ dạy học Đổi mới phương thức đào tạo đòi hỏi phải đổi mới phương pháp giảng dạy Quản lý phương pháp dạy học trong đào tạo theo HTTC hướng đến đảm bảo các phương pháp đào tạo phải góp phần hình thành động cơ nhận thức, các phương pháp nhận thức, bồi dưỡng cho

SV phương pháp tự học, tự nghiên cứu để chiếm lĩnh tri thức, nâng cao tính tích cực, độc lập, sáng tạo của SV, phát huy năng lực vận dụng lý thuyết vào thực tiễn Dạy học theo phương pháp NCKH tỏ ra là một giải pháp hữu hiệu cho mục tiêu này [31]

* Quản lý hoạt động học của sinh viên

SV là đối tượng của hoạt động dạy, là chủ thể của hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu Kết quả đào tạo phụ thuộc vào tính tích cực nhận thức của SV Một trong những mục tiêu quan trọng của việc áp dụng học chế tín chỉ là tạo điều kiện để SV phát huy được tối đa vai trò chủ thể trong hoạt động học tập, nghiên cứu của mình Như vậy, quản lý hoạt động học của SV phải đảm bảo SV không chỉ là khách thể của hoạt động dạy mà phải biến thành chủ thể hoạt động tích cực, độc lập, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và năng lực nghề nghiệp tương lai

Quản lý hoạt động học của SV bao gồm: Hướng dẫn SV xây dựng mục tiêu

và kế hoạch học tập cá nhân; Quản lý việc thực hiện các quy chế học tập và rèn

Trang 31

Nội dung then chốt trong quản lý hoạt động học của SV là đổi mới phương pháp học tập, nghiên cứu của SV Để SV thay đổi được phương pháp học tập thì trước tiên GV đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá GV

có nhiệm vụ bồi dưỡng cho SV phương pháp và kỹ năng tự học ngay trên lớp, việc tạo điều kiện cho SV bộc lộ khả năng diễn đạt, phân tích, tổng hợp, khái quát, trừu tượng hoá vấn đề, bồi dưỡng cho SV phương pháp đọc sách, truy cập tài liệu, tóm tắt, hệ thống hoá tài liệu

* Quản lý đ nh gi kết quả học tập

Kiểm tra, đánh giá là một yếu tố cấu trúc của hoạt động đào tạo Kết quả kiểm tra, đánh giá giúp GV và nhà trường xác định mục tiêu đào tạo có phù hợp hay không, việc giảng dạy của GV có thành công hay không và hoạt động học tập của

SV có hiệu quả hay không

Quản lý đánh giá kết quả học tập trong đào tạo theo HTTC bao gồm các nội dung: Thống nhất quan điểm của CBQL, GV về kiểm tra - đánh giá; Tổ chức thi kết thúc học phần và đánh giá báo cáo thực tập, đồ án, khóa luận tốt nghiệp; Đa dạng hóa các hình thức kiểm tra đánh giá của GV; Tổ chức kiểm tra đánh giá hoạt động

tự học của SV; Tổ chức đánh giá kế quả theo từng học kỳ và đưa ra cảnh báo học tập đối với những SV không đạt yêu cầu; Xét và công công tốt nghiệp, cấp bằng tốt nghiệp theo quy chế đào tạo theo HTTC của Bộ GD&ĐT

* Quản lý công tác cố vấn học tập

Trong đào tạo tín chỉ công tác CVHT có vai trò rất quan trọng Quản lý công tác CVHT nhằm xây dựng đội ngũ CVHT tận tâm, có trách nhiệm để tư vấn, h trợ hiệu quả cho SV trong học tập, NCKH, tư vấn h trợ SV trong học tập và rèn luyện

Trang 32

25

đạo đức và tham gia các hoạt động xã hội, đoàn thể, giúp SV định hướng nghề nghiệp trong tương lai

* Quản lý ứng dụng công ngh thông tin

Tăng cường ứng dụng CNTT trong giảng dạy, học tập, đánh giá kết quả học tập của SV, nhất là phần mềm QLĐT để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý quá trình dạy học

1.4.3.3 Quản lý đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý, viên chức kỹ thuật

Quản lý đội ngũ GV, CBQL, công nhân viên trường đại học chính là quản lý nguồn nhân lực của một tổ chức Quản lý nguồn nhân lực của trường đại học là tập trung tìm mọi cách tạo thuận lợi cho đội ngũ GV, CBQL, công nhân viên trong trường phát huy được năng lực, sáng tạo hoàn thành tốt các mục tiêu chiến lược và các kế hoạch của nhà trường Vì vậy, việc quản lý nguồn nhân lực ở trường đại học phải xây dựng đội ngũ GV của trường có đủ phẩm chất, năng lực, đồng bộ về cơ cấu, có đủ loại hình để đảm bảo giảng dạy đạt chất lượng

Xây dựng, hoàn thiện quy hoạch đội ngũ là nhiệm vụ quan trọng đáp ứng yêu cầu mục tiêu, kế hoạch chiến lược của nhà trường về phát triển quy mô đào tạo theo HTTC Bao gồm: Tổ chức đánh giá viên chức quản lý, đề bạt, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm phù hợp với yêu cầu quản lý chuyên môn; Kiểm định chất lượng, đánh giá,

sử dụng hợp lý đội ngũ GV, viên chức hành chính, đồng thời tuyển dụng mới bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, đủ số lượng và cân đối cơ cấu bộ môn, đáp ứng yêu cầu đào tạo theo HTTC Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thích hợp, phục vụ tích cực cho nhiệm vụ GD&ĐT của trường Bảo đảm chế độ chính sách phục vụ công tác quản lý đội ngũ

1.4.3.4 Quản lý cơ sở vật chất và tài chính

Khi áp dụng HTTC trong hoạt động dạy học, thời gian tự học tăng lên, phương pháp giảng dạy cũng thay đổi theo hướng tự học, dẫn đến những thay đổi

về CSVC như: đòi hỏi không gian tự học, phòng học lớn, nhỏ phù hợp với từng môn học, nhu cầu về việc sử dụng tài liệu tham khảo, nhu cầu sử dụng internet

trong dạy học và đánh giá kết quả học tập tăng lên

Trang 33

26

Quản lý CSVC gồm các nội dung chính: Xây dựng kế hoạch về sử dụng và phát triển CSVC; Tăng cường CSVC, bổ sung phòng học, phòng thực hành, trang thiết bị phục vụ đào tạo theo HTTC Đầu tư bảo đảm CSVC đầy đủ, đồng bộ, hiện đại phù hợp với đào tạo theo HTTC; Hạ tầng CNTT đáp ứng yêu cầu đào tạo theo HTTC ; Có các văn bản quy định về tài sản phục vụ hiệu quả hoạt động đào tạo

Quản lý tài chính bao gồm các nội dung chủ yếu: Xây dựng kế hoạch tăng cường nguồn tài chính và quản lý tài chính cho đào tạo trên cơ sở quy định tự chủ

về tài chính, tạo được các nguồn tài chính hợp pháp, đáp ứng các hoạt động đào tạo, NCKH và các hoạt động khác; Công tác lập kế hoạch và quản lý cần được chuẩn hoá, công khai hoá, minh bạch và theo quy định; Đảm bảo sự phân bổ, sử dụng tài chính hợp lý, minh bạch và hiệu quả

1.4.3.5 Quản lý công tác phối hợp đào tạo giữa phòng Quản lý Đào tạo với các phòng, khoa, ban liên quan

Hoạt động quản lý công tác phối hợp này bao gồm các hoạt động: Tổ chức phối hợp đào tạo theo HTTC giữa phòng QLĐT và các đơn vị trong trường; Phân công nhiệm vụ trong QLĐT theo HTTC giữa phòng QLĐT và các đơn vị trong trường; Xây dựng hệ thống văn bản bảo đảm cơ sở pháp lý và cơ chế chính sách đối với công tác quản lý, chỉ đạo đào tạo theo HTTC; Xây dựng cơ chế quản lý

h trợ SV

1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học

1.5.1 Yếu tố chủ quan

Trong nhà trường người đứng đầu là hiệu trưởng và các viên chức quản lý

có vai trò quan trọng trong việc định hướng cho tổ chức phát triển Vì vậy, phong cách, năng lực, kinh nghiệm của hiệu trường và các viên chức quản lý chính là yếu

tố chủ quan ảnh hưởng đến QLĐT theo HTTC

1.5.1.1 Phẩm chất, năng lực, phong c ch lãnh đạo của đội ngũ cán bộ quản lý

Có thể khẳng định rằng hiệu quả của quản lý phần lớn phụ thuộc vào phẩm chất và năng lực của hiệu trưởng và các viên chức quản lý trong nhà trường Một nhà quản lý cần phải có phẩm chất chính trị, bản lĩnh vững vàng, cần năm được các

Trang 34

27

chủ trương về GDĐH, cần phải có đạo đức tốt, gưỡng mẫu, nề nếp Ngoài ra nhà quản lý cần phải tận tụy với công việc, phải năng động sáng tạo, có tầm nhìn, bắt kịp sự phát triển của thời đại để có thể đưa tổ chức phát triển

Đội ngũ quản lý cần thiết phải n lực hoàn thiện phong cách khoa học, năng động, thích ứng với yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện và hội nhập quốc tế Người quản lý cần có năng lực thích ứng với những thay đổi của môi trường; năng lực ứng

xử phù hợp hoàn cảnh; và năng lực nhận thức, đón đầu những thay đổi để có thể đưa tổ chức đi đúng hướng, và đạt được mục tiêu đề ra

1.5.1.2 Một số đặc điểm của giảng viên, sinh viên (hoặc của người dạ và người học)

Về phía người dạy: Sự thích ứng với đào tạo theo HTTC của GV, SV có ảnh hưởng đến việc QLĐT theo HTTC M i GV cần phải cập nhật về kiến thức, kỹ năng chuyên môn Học hỏi kinh nghiêm về đào tạo tin chỉ để từ đó có những phương pháp giảng dạy phù hợp, nâng cao chất lượng giảng dạy

Về phía người học: Đa số sinh viện hiện nay vẫn còn thụ động trong việc học tập Vẫn có thói quen học tập từ phổ thông Họ chọn cách học, cách tư duy và tiếp cận vấn đề sao cho phù hợp với cách giảng dạy của GV Người học chưa quen với

mô hình đào tạo theo HTTC do điều kiện chủ quan và khách quan của các trường và

do các dịch vụ phục vụ cho mô hình này chưa đáp ứng kịp với yêu cầu SV có tư tưởng là không cần đến lớp vì có những giờ tự học, thực hành và vẫn chưa bỏ được thói quen học theo kiểu truyền thống là nghe, chép

1.5.2 Yếu tố khách quan

1.5.2.1 hương trình đào tạo và phương ph p dạy và học

Chương trình đạo tạo có ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo Trong QLĐT theo HTTC chương trình đạo tạo cần có mềm dẻo, trong bối cảnh hiện nay CTĐT cần có mục tiêu rõ ràng, phải định hướng chuẩn quốc tế, tiếp cận và hội nhập với chương trình quốc tế

CTĐT phải đảm bảo số tín chỉ theo quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho người học lựa chọn Bố trí kế hoạch học tập phù với với điều kiện và khả năng của

SV CTĐT phải thiết kế theo hướng đảm bảo tính liên thông với các trình độ đào tạo và chương trình giáo dục khác

Trang 35

28

1.5.2.2 ơ sở vật chất và tài chính

CSVC, thiết bị dạy học đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người học và người dạy thuận lợi trong quá trình đào tạo, là điều kiện thiết yếu để tiến hành quá trình đào tạo, thiếu điều kiện này thì quá trình đào tạo không đạt hiệu quả cao CSVC phải đáp ứng theo yêu cầu của đào tạo theo HTTC Khi áp dụng HTTC thì cũng kéo theo sự thay đổi trong yêu cầu về CSVC và tài chính phục vụ đào tạo

Cần xây dựng quy chế chi tiêu phục vụ dạy học phù hợp với đào tạo theo HTTC Đòi hỏi bổ sung nguồn tài chính để phục vụ cho đào tạo

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1, tác giả đã xây dựng cơ sở lý luận về QLĐT theo HTTC ở đại học: xây dựng hệ thống các khái niệm công cụ: quản lý, đào tạo đại học, đào tạo theo HTTC ở trường đại học, QLĐT đại học theo HTTC Theo đó, QLĐT đại học theo HTTC là quá trình chủ thể quản lý tác động có ý thức đến hoạt động đào tạo theo HTTC, bằng cách xây dựng CTĐT, tổ chức và chỉ đạo thực hiện họat động đào tạo, kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động đó để đạt được mục tiêu nhà trường đề ra

Tác giả đã xác định những nội dung QLĐT theo HTTC như sau: quản lý tốt công tác quản lý xây dựng CTĐT, quản lý hoạt động dạy - học, quản lý đội ngũ GV, CBQL, viên chức kỹ thuật, quản lý CSVC và tài chính, quản lý công tác phối hợp đào tạo giữa phòng QLĐT với các phòng, khoa, ban liên quan

Cuối cùng, một số yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến QLĐT đại học theo HTTC đã được phân tích từ góc độ lý luận Có một số yếu tố ảnh hưởng

đến QLĐT đại học theo HTTC như: Phẩm chất, năng lực, phong cách lãnh đạo của

đội ngũ cán bộ quản lý; một số đặc điểm của giảng viên, sinh viên; chương trình đào tạo và phương pháp dạy và học; cơ sở vật chất và tài chính

Trang 36

29

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu chung về Trường Đại học Hà Nội

2.1.1 Sơ lược về Trường Đại học Hà Nội

Trường Đại học Hà Nội được thành lập năm 1959 với tên gọi ban đầu Trường Đại học Ngoại ngữ Chức năng ban đầu của trường là bồi dưỡng và đào tạo ngoại ngữ cho SV Với phương châm mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hình đào tạo đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo, Trường Đại học Hà Nội được mở rộng thành một trường đại học đa ngành, có uy tín trong khu vực và quốc tế Hiện nay, ở Trường Đại học Hà Nội đang giảng dạy 11 loại ngoại ngữ: ngôn ngữ Anh, Nga, Pháp, Trung Quốc, Đức, Nhật, Tây Ban Nha, Italia, Hàn Quốc, Bồ Đào Nha, tiếng

Việt cho người nước ngoài và 6 chuyên ngành khác ngoài ngôn ngữ được dạy -

học hoàn toàn bằng ngoại ngữ (ngành Quản trị kinh doanh (bắt đầu từ năm 2002), Quản trị du lịch (bắt đầu từ năm 2002), Quốc tế học ( bắt đầu từ năm 2002), Việt Nam học (bắt đầu từ năm 2004), Công nghệ thông tin (bắt đầu từ năm 2005), Tài chính - Ngân hàng (bắt đầu từ năm 2006), Kế toán (bắt đầu từ năm 2007) được giảng dạy bằng tiếng Anh; riêng ngành Công nghệ thông tin, bên cạnh tiếng Anh, còn được giảng dạy bằng tiếng Nhật Trường Đại học Hà Nội có 6 trung tâm đào tạo và hợp tác quốc tế…

Từ năm 1992 Trường Đại học Hà Nội đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo Thạc sĩ (Ngôn ngữ Anh, Ngôn ngữ Nga - bắt đầu từ năm

1992, Ngôn ngữ Pháp (bắt đầu từ năm 1998), Ngôn ngữ Trung Quốc (bắt đầu từ năm 2001), Ngôn ngữ Nhật Bản (bắt đầu từ năm 2009) Đến năm 2000 Nhà trường bắt đầu đào tạo Tiến sĩ ngành Ngôn ngữ Nga và năm 2007 mở thêm mã ngành Tiến sĩ Ngôn ngữ Pháp

Với những thành tựu đã đạt được, ngày 17/8/2006, Thủ tướng Chính phủ đã

ký quyết định đổi tên Trường Đại học Ngoại ngữ thành Trường Đại học Hà Nội Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử của Nhà trường, Trường Đại học

Hà Nội được chính thức công nhận là một trường đại học đa ngành

Trang 37

30

Có bề dày 58 năm xây dựng và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng hội nhập quốc tế dựa trên thế mạnh ngoại ngữ, Trường Đại học Hà Nội đã từng bước khẳng định vị thế là trường đại học công lập uy tín trong đào tạo ngoại ngữ ở cả ba cấp độ Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ Đây cũng là trường đại học đầu tiên của Việt Nam đào tạo chính quy 6 chương trình cử nhân chuyên

ngành hoàn toàn bằng tiếng Anh

2.1.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Hà Nội

Nhiệm vụ cơ bản của trường là đào tạo cán bộ biên phiên dịch và GV ngoại ngữ bậc đại học, đào tạo cử nhân một số ngành bằng ngoại ngữ, cung cấp nguồn nhân lực trình độ đại học, sau đại học chất lượng cao, thành thạo ngoại ngữ và ứng dụng CNTT, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động trong nước và quốc tế; bồi dưỡng, trang bị ngoại ngữ cho lưu học sinh, nghiên cứu sinh, thực tập sinh đi học nước ngoài; bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ chuyên môn, CBQL của các Bộ, ban ngành Trung ương và địa phương trong cả nước

Trường Đại học Hà Nội phấn đấu trở thành trường đại học ứng dụng có uy tín trong nước và khu vực; chuyên sâu về đào tạo, NCKH và chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực ngôn ngữ - văn hóa, quản trị kinh doanh, quản lý kinh tế, tài chính-ngân hàng, quản trị du lịch, nghiên cứu quốc tế, CNTT và truyền thông dựa trên thế mạnh truyền thống về ngoại ngữ Thế mạnh về NCKH ngoại ngữ, trong đó có phương pháp giảng dạy ngoại ngữ cho các trường chuyên ngữ, nghiên cứu giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành, nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ, văn hóa - văn minh đã được khẳng định trên cơ sở kết quả nghiệm thu đề tài NCKH các cấp đã được công bố hàng năm Nhà trường là cơ quan chủ quản

của Tạp chí khoa học ngoại ngữ - tạp chí chuyên ngành duy nhất của Việt Nam

nghiên cứu về khoa học ngoại ngữ

Trang 38

31

2.1.3 Đối tượng đào tạo và quy mô đào tạo

2.1.3.1 Các loại hình đào tạo

Các loại hình đào tạo của Nhà trường hiện nay gồm: Trường Đại học Hà Nội hiện đang đào tạo 18 ngành, trong đó có 10 ngành ngôn ngữ, 07 chuyên ngành dạy bằng tiếng nước ngoài, 01 ngành tiếng Việt và văn hóa Việt Nam (cho người nước ngoài) gồm đào tạo bậc đại học (hệ chính quy và bằng đại học thứ 2), không chính quy (hệ vừa làm vừa học và từ xa; học tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nhật, tiếng Hàn và hệ từ xa tiếng Anh) và bậc sau đại học (đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ ); gồm thạc

sĩ tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung, Nhật và tiến sĩ tiếng Nga, tiếng Pháp

Trường có nhiều chương trình liên kết đào tạo quốc tế như: Chương trình liên kết đào tạo cử nhân Quản trị kinh doanh, thạc sĩ Quản trị kinh doanh với Đại học La trobe(Úc); cử nhân Quản trị du lịch và lữ hành với ĐH IMC Krems (Áo);

Cử nhân Kế toán ứng dụng với Đại học Oxford Brookes (Vương quốc Anh) và bằng hành nghề Kế toán, Tài chính do hiệp hội Kế toán Công chứng Hoàng Gia Anh Quốc ACCA cấp; cử nhân hai ngành Kinh tế doanh nghiệp, Khoa học thống kê và bảo hiểm với Đại học Sannio (Italia); thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và phương pháp giảng dạy tiếng Anh với ĐH Victoria (Úc); thạc sĩ hai ngành Kinh tế doanh nghiệp, Khoa học thống kê và bảo hiểm với Đại học Sannio (Italia); thạc sĩ cấp bằng song ngành Ngôn ngữ và Văn học Pháp với Đai học Louvain (Vương quốc Bỉ); thạc sĩ ngôn ngữ nhật, Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật cấp song bằng với ĐH nữ sinh Nara (Nhật bản); thạc sĩ thiết kế hệ thống thông tin với ĐH Uclan (Vương quốc anh); Tiến sĩ cấp bằng song ngành Ngôn ngữ và Văn học Pháp với trường Đại học Louvain (Vương quốc Bỉ); CTĐT dự bị đại học với CHLB Đức, Italia; nhiều chương trình liên thông trao đổi SV với các trường đối tác Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Canada Ngoài ra, Trường Đại học Hà Nội mới mở thêm ngành đào tạo thạc sĩ Quản trị Kinh doanh dạy bằng tiếng Anh, cử nhân ngành Truyền thông dạy bằng tiếng Pháp

2 1 3 2 Qui m đào tạo (tính đến th ng 11 năm 2016)

Tổng số SV và học viên các hệ đào tạo là 9.992 người, trong đó:

- Hệ chính quy: 7.608

Trang 39

- Lưu học sinh (LHS) các nước: 390

- SV các dự án, các đề án 322, SV nước ngoài học các chuyên ngành tại Trường

2.1.4 Đội ngũ cán bộ quản lí và cán bộ giảng dạy

Trường Đại học Hà Nội có 44 đơn vị gồm 11 phòng, ban chức năng và đơn

vị phục vụ, 19 khoa và bộ môn trực thuộc, 14 trung tâm và 01 viên nghiên cứu và phát triền Mới thành lập Trung tâm Phát triển và Hợp tác Việt - Nhật, trung tâm Phát triển Hợp tác với Hoa kỳ

- BGH có 4 người (Hiệu trưởng và 03 Phó Hiệu trưởng)

- Đảng ủy Nhà trường có 09 người

- Ban Chấp hành Công đoàn trường có 11 ủy viên, 03 người trong Ban thường vụ

- Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên có 21 ủy viên, 06 người trong Ban Thường vụ

Tính đến hết tháng 10/2016, Nhà trường có 615 cán bộ viên chức, trong đó

có 443 GV và 172 CBQL, nghiệp vụ và phục vụ, 01 giáo sư, 06 phó giáo sư, 53 tiến

sĩ, 369 thạc sĩ (trong đó 302 thạc sĩ là GV), 140 cử nhân (trong đó có 82 là GV)

2.1.5 Công tác nghiên cứu khoa học

Năm 2015-2016, Nhà trường phê duyệt 49/54 đề tài KH& CN cấp cở và 80/80 hội nghị, hội thảo khoa học; tổ chức thực hiện, nghiệm thu 8 nhiệm vị thuộc

Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020; 38 đề tài KH&CN cấp cơ sở, trong đó có nhiều đề tài được đánh giá loại tốt Ngoài ra nhà trường tổ chức nghiệm thu 01 dự án trọng điểm cấp Trường và thẩm định 05 sáng kiến cải tiến cấp Trường

Nhà trường tổ chức 01 hội thảo quốc tế, 44 hội nghị, hội thảo khoa học các cấp dành cho cán bộ GV với số bài báo đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo cấp khoa, bộ môn là 227 bài Nội dung tham luận được cải tiến hướng tới nâng cao chất

Trang 40

33

lượng đào tạo các ngành học và có nhiều đóng góp thiết thực cho việc nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường; tổ chức 14 hội nghị, hội thảo khoa học SV với 213 bài viết được thảo luận và đăng trong ký yếu; tổ chức xét chọn và trao cho 18/20 công trình nghiên cứu của 42 SV tham gia giải thưởng SV NCKH cấp Trường, trong đó có 05 giải Nhất, 04 giải nhì, 03 giải ba và 06 giải khuyến khích

Nhà trường đã xuất bản 04 Tạp chí khoa học Ngoại ngữ (từ số 43-46), đăng tải các bài tổng quan, các kết quả nghiên cứu và hoạt động của CBGV trong trường

Có 45 bài báo được đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nước và quốc tế Tổng

số giờ NCKH của GV toàn trường theo định mức là 28.610 giờ/396 GV Tổng số giờ thực hiện là 39.112 giờ (vượt 28%) Số GV hoàn thành định mức giờ NCKH trên 100%, 200% là 90 người

2.1.6 Công tác tài chính và cơ sở vật chất - trang thiết bị phục vụ đào tạo

Về công tác tài chính: Năm 2015 Nhà trường thực hiện Đề án thí điểm đổi

mới cơ chế hoạt động của trường Đại học Hà nội giai đoạn 2015 - 2017 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 377/QĐ - TTg ngày 20/03/2015 Theo đó, Trường Đại học Hà Nội là đơn vị tự chủ hoàn toàn kinh phí chi thường xuyên và chi đầu tư, được điều chỉnh tăng học phí hệ chính quy đại học và sau đại học từ tháng 03 năm 2015 Do đó Trường chỉ còn được ngân sách nhà nước cấp ở một số khoản chi không thường xuyên như: kinh phí thực hiện đề án ngoại ngữ quốc giá 2020; kinh phí đào tạo lưu học sinh nước ngoài và lưu học sinh Lào diện hiệp định; cấp bù tiền miễn giảm học phí cho SV diện chính sách; h trợ học phí học tập cho SV là dân tộc thiểu số theo quyết định số 66/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; kinh phí đào tạo tiến sỹ (đề án 911)

Nhà trường đã ban hành quy chế chi tiêu nội bộ mới theo Quyết dịnh số 2529/QĐ-ĐHHN ngày 31/12/2015, thay thế quy chế chi tiêu nội bộ cũ năm 2013

Tháng 9/2016 nhà trường ban hành Quy định về quản lý tài sản theo quy định số 1942/QĐ-ĐHHN ngày 20/9/2016 và quy định quản lý tài sản cho thuê của Trường ĐH Hà nội theo QĐ số 2126/QĐ-ĐHHN ngày 07/10/2016

Về công tác xây dựng CSVC, trang thiết bị: Nhà trường hiện đang khai thác

sử dụng các giảng đường với 230 phòng học, 09 ký túc xá với gần 200 ch ở cho

Ngày đăng: 10/11/2017, 10:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w