1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Công nghệ chưng cất dầu thô sử dụng tháp chưng cất khí quyển

95 309 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 14,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Đường cong điểm sôi thực TBP là đường cong chưng cất có chưng luyện.Đường cong chưng cất nhận được khi chưng cất mẫu dầu thô trong thiết bị chưngcất có trang bị phần tinh luyện và hồi

Trang 1

Lòi Mở Đầu

Sự chưng cất được tiến hành trong các thiết bị chưng cất gồm tháp chưng cất và cácthiết bị phụ trợ khác như lò gia nhiệt, thiết bị làm lạnh Hầu hết các tháp chưng cấtdùng trong công nghệ lọc dầu và chế biến khí tự nhiên là tháp đĩa Trong một thápchưng cất luôn có nhiều đĩa Các thông số về tháp chưng cất (đặc biệt là về đĩa) phụthuộc vào nhiều yếu tố khác Đĩa là phần quan trọng nhất của tháp chưng cất, vì vậyviệc tính toán các thông số kĩ thuật của đĩa có ý nghĩa hàng đầu trong việc thiết kế, lựachọn hoặc xác định chế độ làm việc của tháp chưng cất Nó là một công việc rất cầnthiết đối với người kĩ sư công nghệ, đặc biệt là kĩ sư công nghệ lọc dầu Ngoài ra, nócòn đòi hỏi người kĩ sư công nghệ lọc dầu phải có kiến thức chuyên môn vững vàng

và kinh nghiệm thực tế, chính vì vậy mà đồ án em chỉ xin đề cập đến việc tính toánmột số các thông số cơ bản của loại đĩa chụp trong tháp chưng cất dầu thô dựa trêntính toán của VD 3.4.1 trang 58 Giáo trình Công nghệ lọc dầu - Phan Tử Bằng NXBXây Dựng, năm 2002

Em xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Anh Dũng - Trưởng bộ môn Lọc Hóa Dầu

ĐH Mỏ Địa Chất đã giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành đồ án,xin gửi lời cảm ơn tớicác anh chị cựu sv các lớp LHD K50,K51 đã giúp đỡ em về các tài liệu tham khảobảng,biểu đồ sử dụng trong đồ án

Tuy vậy, do còn nhiều mặt hạn chế về kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế nên đồ

án sẽ không tránh khỏi sai sót Vì vậy em rất mong được sự nhận xét và đóng góp ýkiến quý báu của thầy và bạn bè để em có thêm kinh nghiệm cũng như kiến thức

Chương I Một sô tính chât quan trọng của dâu thô Lý thuyết

về chưng cất

I.MEtsE tính chEtcEadEu thô

1.1 Tỷ trọng

Trang 1

Trang 2

Khối lượng riêng của dầu là khối lượng của một lít dầu tính bằng kilogam Tỷ trọngcủa dầu là khối lượng của dầu so với khối lượng của nước ở cùng một thể tích và ởnhiệt độ xác định Do vậy tỷ trọng sẽ có giá trị đúng bằng khối

lượng riêng khi coi khối lượng riêng của nước ở 4°c bằng 1 Trong thực tế tồn tại các

hệ thống đo tỷ trọng sau : với chỉ số trên là nhiệt độ

của dầu trong lúc thử nghiệm còn chỉ số bên dưới là nhiệt độ của nước khi thửnghiệm Tỷ trọng của dầu dao động trong khoảng rộng,tùy thuộc vào loại dầu và có trị

số từ 0,8 - 0,99.Tỷ trọng của dầu rất quan trọng khi đánh giá chất lượng dầu thô Sở dĩnhư vậy vì tỷ trọng có liên quan đến bản chất hóa học và thành phần các phan đoạnừong dầu thô

Dầu thô càng nhẹ tức có tỷ ừọng thấp, càng mang đặc tính dầu parafinic, đồng thời tỷ

lệ các phân đoạn nặng sẽ ít Ngược lại, dầu càng nặng tức tỷ ừọng cao, dầu thô càngmang đặc tính dầu aromatic hoặc naphtenic các phân đoạn nặng sẽ chiếm tỷ lệ cao Sở

dĩ như vậy vì tỷ ừọng hydrocacbon parafinic bao giờ cũng thấp hơn so với naphtenic

và aromatic khi chứng có cùng một số nguyên tử cacbon ừong phân tử Mặt khácnhững phần không phải là hydrocacbon như các chất nhựa, asphanten, các hợp chấtchứa lưu

huỳnh, chứa nitơ, chứa các kim loại lại thường tập trung trong các phần nặng, các nhiệt độ sôi cao vì vậy dầu thô có tỷ trọng cao,chất lượng càng giảm

Trang 2

Trang 3

1.2 Độ nhớt của dầu và sản phẩm dầu

Độ nhớt đặc trưng cho tính lưu biến của dầu cũng như ma sát nội tại của dầu Do vậy,

độ nhớt cho phép đánh giá khả năng bơm vận chuyển và chế biến dầu

Quan trọng hơn độ nhớt của sản phẩm đánh giá khả năng bôi trơn, tạo mù sương nhiênliệu khi phun vào động cơ, lò đốt Độ nhớt phụ thuộc vào nhiệt độ, khi nhiệt độ tăng,

độ nhớt giảm,có hai loại độ nhớt:

Trang 3

Trang 4

Đường cong chưng cất là đường cong biểu diễn tương quan giữa thành phần cất vànhiệt độ sôi.

Để đặc trưng cho từng loại dầu thô thường xác định bằng hai đường cong chưng cấtsau:

- Đường cong chưng cất đơn giản (đường cong chưng cất Engler): là đường cong biểudiễn quan hệ giữa nhiệt độ sôi và % thể tích khi chưng cất dầu

trong dụng cụ chuẩn hóa Engler, khi chưng cất không có tinh luyện, không có hồilưu Đường cong này dùng để đánh giá khả năng sử dụng của sản phẩm dầu hayphân đoạn dầu

- Đường cong điểm sôi thực (TBP) là đường cong chưng cất có chưng luyện.Đường cong chưng cất nhận được khi chưng cất mẫu dầu thô trong thiết bị chưngcất có trang bị phần tinh luyện và hồi lưu, có khả năng phân chia tương ứng số đĩa

lý thuyết trên 10 với tỷ số hồi lưu sản phẩm khoảng 5 về lý thuyết trong chưng cấtđiểm sôi thực đã sử dụng hệ chưng cất có khă năng phân chia rất triệt để nhằm làmcấu tử có mặt trong hỗn hợp được phân chia riêng biệt ở chính nhiệt độ sôi củatừng cấu tử và với số lượng đúng bằng số lượng cấu tò có trong hỗn hợp Đườngcong này phản ánh chính xác hơn sự phân bố từng hợp chất theo nhiệt độ sôi thựccủa nó trong dầu thô

1.4 Nhiệt độ sôi trung bình

Trang 4

Trang 5

Nhiệt độ sôi trung bình của dầu thô và các phân đoạn dầu có quan hệ với

các tính chất vật lý khác nhau như tỷ trọng, độ nhớt, hàm nhiệt và trọng lượng

phân tử của dầu Do vậy nó là một thông số quan trọng được sử dụng trong

đánh giá và tính toán công nghệ chế biến dầu Từ đường cong chưng cất ta dễ

dàng xác định được nhiệt độ sôi trung bình thể tích hay ừọng lượng

bằng các đồ thị chuyển đổi,ta có thể xác định được nhiệt độ sôi trung bìnhmol,nhiệt độ sôi trung bình

1.5 Hệ số đặc trưng K

Hệ số đặc trưng K được dừng để phân loại dầu thô, tính toán thiết kế hay chọn điềukiện công nghệ chế biến thích hợp cũng như nhiệt độ sôi trung bình, K có quan hệvới thông số vật lý quan ừọng khác như tỷ trọng, trọng lượng phân tử và cả trị sốoctan hay xetan của sản phẩm dầu

K được xác định theo công thức sau: K—

Trang 5

Trang 6

Ở đây: Tm là nhiệt độ sôi trung bình tính theo độ Rankine (°R)

I Lý ThuyĩHt VE Quá Trình ChEng (Mt

1.Chưng đơn giản

Chưng đơn giản là quá trình chưng cất được tiến hành bằng cách bay hơi dần dần,một lần hay nhiều lần, một hỗn hợp chất lỏng cần chưng

1.1 Chưng bay hơi dần dần:

Trang 6

Trang 7

Thiết bị (2) đốt nóng liên tục hỗn hợp chất lỏng trong bìng chưng (1) từ nhiệt độthấp tới nhiệt độ sôi cuối khi liên tục tách hơi sản phẩm và ngưng tụ hơi bay ra ừongthiết bị ngưng tụ (3) và thu được sản phẩm lỏng ừong bể chứa (4).Phương pháp nàythường áp dụng trong phòng thí nghiệm.

Hỗn hợp chất lỏng được cho liên tục vào thiết bị đun sôi (2), ở đây hỗn hợp đượcđun nóng đến nhiệt độ xác định và áp suất p cho trước Pha lỏng - hơi được tạo thành

và đạt đến trạng thái cân bằng, ở điều kiện đó lại được cho vào thiết bị phân chia mộtlần trong thiết bị đoạn nhiệt (1) Pha hơi qua thiết bị ngưng tụ (3) rồi vào bể chứa (4),

từ đó ta nhận được phần cất Phía dưới thiết bị (1) là pha lỏng được tách ra liên tục và

ta nhận được phần cặn

Tỷ lệ giữa lượng hơi được tạo thành khi bay hơi một lần với lượng chất lỏng nguyên

liệu chưng ban đầu được gọi là phần chưng cất.

Chưng cất một lần như vậy sẽ cho phép nhận được phần chưng cất lớn hơn so vớibay hơi dần dần ở cùng một điều kiện về nhiệt độ và áp suất

Ưu điểm: Quá trình chưng cất này cho phép áp dụng trong thực tế để chưng cất dầu.

Tuy với nhiệt độ chưng bị giới hạn, nhưng vẫn cho phép nhận được một lượng phầncất lớn hơn

Trang 7

Trang 8

1.3 Chung cất bay hơi nhiều lần:

Là quá trình gồm nhiều quá trình bay hơi một lần nối tiếp nhau ở nhiệt độ tăngcao dần (hay ở áp suất thấp hơn) đối với phàn cặn

Trang 9

I Nhiên liệu n Phần cất nhẹ ni Cặn chưng cất ở nhiệt độ thấp

m Cặn chưng cất ở nhiệt độ thấp rv.phần cất nhẹ V.Phần cất ở nhiệt độ cao

Nhiên liệu (I) được cho qua thiết bị gia nhiệt (3) và được làm nóng đến nhiệt độcàn thiết, sau đó cho vào tháp chưng đoạn nhiệt (1)

Ở đây phần nhẹ được bay hơi trên đỉnh và qua thiết bị làm lạnh (4) Sau đó vào

bể chứa (5) Phần nặng ở đáy tháp (1) được gia nhiệt ở (3) và dẫn vào tháp chưngđoạn nhiệt (2) Tháp chưng này có áp suất thấp hơn so voi áp suất tháp chưng (1)

và phần nhẹ bay hơi lên đỉnh, qua thiết bị ngưng tụ (4) và sau đổ vào bể (5) Ta thuđược phần sản phẩm nặng (IV) Ở đáy tháp (2) ta thu được phần cặn của quá trìnhchưng (V)

Phương pháp chưng cất dầu bằng bay hơi một lần và bay hơi nhiều lần có ý nghĩarất lớn trong thực tế công nghiệp chế biến dầu ở các dây chuyền hoạt động liên tục.Quá trình bay hơi một lần được áp dụng khi đốt nóng dầu trong các thiết bị trao đổinhiệt, trong lò ống và tiếp theo quá trình tách pha hơi khỏi pha lỏng ở bộ phận cungcấp, phân phối của tháp tinh luyện

Chưng đơn giản, nhất là với loại bay hơi một lần, không đạt được độ phân tách caokhi cần phân tách rõ ràng các cầu tử của hỗn hợp chất lỏng

Trang 9

Trang 11

1 Chưng cất có hồi lưu là quá trình chưng khi lấy một phần chất lỏng ngưng tụ từ hơi tách ra cho quay lại tưới vào dòng hơi bay lên Nhờ có sự tiếp xúc đồng đều và thêm một lần nữa giữa pha lỏng và pha hơi mà pha hơi khi tách ra khỏi hệ thống lại được làm giàu thêm cấu tử nhẹ (có nhiệt độ sôi thấp hơn) so với khi không có hồi lưu, nhờ vậy mà có độ phân chia cao hơn Việc hồi lưu lại chất lỏng được khống chế bằng bộ phận đặc biệt và được bố ừí phía ừên thiết bị chưng cất Tháp chưng

cặn

Trang 12

Nguyên liệu (I) qua thiết bị đun nóng (2) rồi đưa vào tháp chưng (1) phần hơi đi lên đỉnh tháp sau đó qua thiết bị làm lạnh và thu được sản phẩm (II) Phần đáy được tháo ra là cặn (III) một phần được gia nhiệt hồi lưu trở lại đáy tháp thực hiện tiếp quá trình chưng cất thu được sản phẩm.b Chimg cất cỏ tinh luyện:

Trang 13

Chưng cất có tinh luyện cho độ phân chia cao hơn khi kết họp với hồi lưu Cơ

sở quá trình tinh luyện là sự trao đổi chất nhiều lần về cả hai phía giữa phalỏng và pha hơi chuyển động ngược chiều nhau Quá trình này thực hiện trongtháp chưng luyện.Để đảm bảo sự tiếp xúc hoàn thiện hơn giữa pha lỏng vàhơi, trong tháp được trang bị các đĩa hay đệm Độ phân chia một hỗn họp cáccấu tử trong tháp phụ thuộc vào số lần tiếp xúc giữa các pha (số đĩa lý thuyết),vào lượng hồi lưu ở mỗi đĩa và hồi lưu ở đỉnh tháp

Các quá trình chưng cất sơ khởi dầu thô dựa vào quá trình chưng cất một lần

và nhiều lần có tinh luyện

Quá trình tinh luyện xảy ra trong tháp chưng cất phân đoạn có bố trí các đĩa Hoạt động của tháp được mô tả như hình vẽ ở trên

Pha hơi Vn bay lên từ đĩa thứ n lên từ đĩa thứ n-1 được tiếp xúc với pha lỏng

Ln-1 chảy từ đĩa n-1 xuống, còn pha lỏng từ đĩa Ln từ đĩa n chảy xuống đĩa phíadưới n+1 lại tiếp xúc với pha hơi Vn+1 bay từ dưới lên Nhờ quá trình tiếp xúcnhư vậy mà quá trình trao đổi chất xảy ra tốt hơn Pha hơi bay lên ngày càngđược làm giàu thêm cấu tử nhẹ, còn pha lỏng chảy xuống phía dưới ngày càngchứa nhiều các cấu tử nặng, số lần tiếp xúc càng nhiều, quá trình trao đổi chấtcàng tăng cường và sự phân tách của tháp càng tốt, hay nói cách khác, tháp có

độ phân chia cao Đĩa trên cùng có hồi lưu đỉnh, còn đĩa dưới cùng có hồi lưu

Trang 14

đáy, nhờ đó làm cho tháp hoạt động liên tục, ổn định có khả năng phân chia cao.Ngoài đỉnh và đáy, nếu cần người ta còn thiết kế hồi lưu trung gian, bằng cáchlấy sản phẩm lỏng ở cạnh sườn tháp cho qua trao đổi nhiệt làm lạnh rồi quay lạitưới vào tháp Còn khi lấy sản phẩm cạnh sườn tháp, người ta trang bị thêm các

bộ phận tách trung gian cạnh sườn tháp Như vậy theo chiều cao của tháp tinhluyện, ta sẽ nhận được các phân đoạn có giới hạn sôi khác nhau tuỳ thuộc vàochế độ công nghệ chưng và nguyên liệu dầu thô ban

đầu

3 Chưng cất trong chân không và chưng cất bằng hơi nước.

Hỗn họp các cấu trúc trong dầu thô thường không bền, dễ bị phân huỷ khi tăngnhiệt độ Trong số các họp chất dễ bị phân huỷ nhiệt nhất là các hợp chất chứa lưuhuỳnh, các chất cao phân tử như nhựa Các hợp chất paraffmic kém bền nhiệt hơncác họp chất naphtenic và các naphtenic lại kém bền nhiệt hơn các hợp chất thơm

Độ bền của các cấu tử tạo thành dầu không chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ mà còn phụthuộc cả vào thời gian tiếp xúc ở nhiệt độ đó Trong thực tế chưng cất, đối với cácphân đoạn có nhiệt độ cao, người ta cần tránh sự phân huỷ nhiệt của chúng khi đốtnóng Tuỳ theo loại dầu thô, trong thực tế không nên đốt nóng quá 400 420°c vớidầu không có hay có chứa rất ít lưu huỳnh và không quá 320

340°c với dầu có nhiều lưu huỳnh [1],

Trang 15

Sự phân huỷ khi chưng cất sẽ làm xấu đi các tính chất làm việc của sản phẩm,như làm giảm độ nhớt và nhiệt độ bắt cháy cốc kín của chúng, giảm độ bền oxyhóa Nhưng quan trọng hơn là chúng gây nguy hiểm cho quá trình chưng cất vìchúng tạo ra các hợp chất ăn mòn và làm tăng áp suất tháp.

Đe giảm mức độ phân huỷ, thời gian lưu của nguyên liệu ở nhiệt độ cao cũng cầnphải hạn chế Ví dụ trong thực tế chưng cất thời gian lưu của nguyên liệu dầu (phânđoạn cặn chưng cất khí quyển) ở đáy của tháp AD không lớn hơn 5 phút và phânđoạn gudron khi chưng chân không VD chỉ khoảng 2 đến 5 phút

Khi nhiệt độ sôi của hỗn hợp ở áp suất khí quyển cao hơn nhiệt độ phân huỷnhiệt của chúng, người ta phải dùng chưng trong chân không VD hay chưng cất vớihơi nước để tránh sự phân huỷ nhiệt Chân không làm giảm nhiệt độ sôi, còn hơinước cũng có tác dụng tương tự như dùng chân không: giảm áp suất riêng phần củacấu tử hỗn họp làm cho chúng sôi ở nhiệt độ thấp hơn Hơi nước được dùng ngay

cả trong chưng cất khí quyển Khi tinh luyện, nó được dùng để tái bay hơi phânđoạn có nhiệt độ sôi thấp còn chứa trong mazut hay gudron, trong nhiên liệu và dầunhờn Kết họp dùng chân không và hơi nước khi chưng cất phần cặn sẽ cho phépđảm bảo hiệu quả tách sâu hơn phân đoạn dầu nhờn (có thể đến 550 -ỉ- 600°C)

Công nghệ chưng cất dầu với hơi nước có nhiều ưu điểm Ngoài việc giảm ápsuất riêng phần của dầu, nó còn tăng cường khuấy trộn chất lỏng tránh tích nhiệtcục bộ, tăng diện tích bề mặt bay hơi do tạo thành những tia và các bong bóng hơi.Người ta cũng dùng hơi nước để tăng cường đốt nóng cặn dầu trong lò ống khi

Trang 16

chưng cất trong chân không Khi đó đạt được mức độ bay hơi lớn cho nguyên liệudầu, tránh và ngăn ngừa tạo cốc trong các lò đốt nóng Tiêu hao hơi nước trongtrường họp này khoảng 0,3 0,5% so với nguyên liệu.

Trong một vài trường họp chẳng hạn như khi nâng cao nhiệt độ bắt cháy củanhiên liệu phản lực hay diesel, người ta không dùng chưng cất với hơi nước màdùng quá trình bay hơi một lần để tránh tạo thành nhũ tương nước bền trong nhiênliệu

II CĨH ch® ho^\tđ^\ng clEa tháp chĩHng c^\t Bản chất của quá trình chưng cất

là phân tách các phân đoạn hydrocacbon dựa vào

nhiệt độ sôi của chúng Đối với một cụm tháp chưng cất dầu thô nói chung người

ta thường lấy ra các phân đoạn sản phẩm sau:

- Phân đoạn khí - xăng nhẹ (Ci - Cfi) là phân đoạn chủ yếu gồm cácHydrocacbon (HC) khí (Ci - C4) và xăng nhẹ (C5 - Cổ) có nhiệt độ sôi trongkhoảng từ 70 - 110°c

- Phân đoạn xăng nặng: Là phân đoạn có các HC từ C7 - C10 với nhiệt độ chưng

cất từ 100 - 200 °c.

Trang 17

- Phân đoạn Kerosen: Là phân đoạn có các HC từ C11 - C14 với nhiệt độ chưng

cất từ 200 - 250°c.

- Phân đoạn Gas oil: Là phân đoạn có các HC từ C14 - C20 với nhiệt độ chưng

cất từ 250 - 350°c.

- Phân đoạn cặn khí quyển AR: Là phân đoạn có các HC lớn hơn C20 với nhiệt

độ sôi cao hơn 350°c

Cần chú ý là các thông số nhiệt độ đưa ra ở trên chỉ có tính chất tham khảo,không cố định, chẳng hạn có thể lấy phân đoạn Kerosen không phải từ 200 -

250°c mà có thể lấy từ 160 - 250°c

Để hiểu rõ hơn về quá trình chưng cất cũng như việc bố trí các thiết bị đolường, điều khiển tự động hóa, ở đây em sẽ mô tả sự hình thành và hướng

chuyển động của các dòng hơi và lỏng trong tháp chưng cất (,Hình 1) Trong

hình 1 chỉ có 2 phân đoạn được lấy ra khỏi tháp chưng cất Nếu cần lấy mộtphân đoạn sườn nào đó thì ta trích dòng lỏng đang chảy xuống bằng cách cho nóchảy ra ngoài tại một đĩa nào đó có nhiệt độ thích hợp Dòng nguyên liệu có thểđược dẫn vào tháp chưng cất ở một đĩa nào đó thích họp Đó là đĩa nạp liệu Đĩanạp liệu ở cao hay ở thấp là phụ thuộc vào nhiệt độ nguyên liệu Trong chưngcất dầu thô đĩa nạp liệu của tháp chưng cất khí quyển thường là một trongnhững đĩa dưới cùng

Trang 18

Do sự trao đổi nhiệt tốt ở các đĩa mà dòng hơi và dòng lỏng không ngừng mấtbớt đi, sinh thêm ra, biến thành nhau tại mỗi đĩa và liên tục đi từ đĩa này sangđĩa khác Dòng hơi từ phía dưới lên, chui qua lớp lỏng chảy tràn ngang trên mặt

có nhiệt độ thay đổi theo từng đĩa ở trong tháp chưng cất và luôn luôn ở trạngthai đang sôi Chính vì vậy nó còn có tên là dòng hồi lưu nóng Trong một sốtrường họp người ta tạo dòng hồi lưu nóng bằng cách dẫn một dòng nguyên liệu

lạnh nhờ ống dẫn kín vào đỉnh tháp chưng cất như ở Hình 3a.

Trong phương pháp hồi lưu vòng người ta trích một phần dòng lỏng tại một đĩa nào

đó, đem ra ngoài, làm lạnh rồi bơm trở về tháp chưng cất ở vị trí cao hơn đĩa đó vài

ba đĩa như ở Hình 3,b.

Trang 19

Hồi lưu có tác dụng làm tăng độ phân

có nhiệt độ thấp hơn đó tạo ra sự ngưng tụ một phần hơi đang bay lên Hồi lưu vòng làm giảm khả năng phân tách, các đĩa nằm trong vùng đó làm việc chủ yếu như thiết bị trao đổi nhiệt, do đó nó làm tăng số đĩa cần có của tháp chưng cất lên một vài đơn yị

cạn

Hình 1 Sự chuyển động và hướng chuyển động các dòng trong tháp chưng cất

Dòng h lưu tror

Bình hổi lưu

Thiết bị làm lạnh ngưng tụ

Distillât

.

Trang 20

Hình 2 Sự chuyển động của lỏng và hơi từ đã này đến đã kia Dòng hơi tạo ra bởi

thiết bị tái đun nóng (Reboiler) ở đáy tháp chưng cất đóng vai trò hồi lưu hơi, có tác dụng tương đương dòng hồi lưu lạnh, nghĩa là làm tăng khả năng phân tách

(a) í b >

Hình 3 a) Hồi lưu nóng; b) Hồi lưu vòng về lí thuyết, độ hồi lưu(Reflux Ratio) là tỉ số giữa dòng hồi lưu trong và distillât, nhưng vì dòng hồi lưutrong thường chỉ biết được nhờ tính toán, khó đo trực tiếp, vả lại nó thay đổi theotừng đĩa, chính vì vậy người ta thường coi tỉ số giữa dòng hồi lưu ngoài và distillât

là độ hồi lưu (còn gọi là chỉ số hồi lưu) Trong thực tế chưng cất dầu thô người taluôn kết hçrp các phương pháp hồi lưu một cách họp lí và linh động Sự kết hçrp

đó được thực hiện một cách khá đa dạng

Hình 1 cho thấy là ở đĩa nạp liệu có sự thay đổi đột ngột hơn về

lưu lượng hơi

và lưu lượng lỏng, vì tại đó ngoài dòng hơi từ dưới đi lên như ở cácđĩa dưới lân

_ Trang _

1

Ống chảy chuyề

► Dòng hơi

Nguyên liệu

lạnh

Trang 21

7cận còn có dòng hơi vốn có sẵn trong nguyên liệu đã được đun nóng Tìnhhình cũng như yậy đối với dòng lỏng Nguyên liệu vào tháp chưng cất luôn luôn

là dầu thô ở dạng hỗn họp cân bằng lỏng hơi Ở hình này ta thấy rõ hơn hìnhảnh chuyển động của pha hơi và pha lỏng ở trong tháp tại các đĩa dạng mộtbước (Single - Pass Tray) ở chế độ ôn hòa nhất, tức là ở điều kiện các bóng hơi

đi lên chui qua lớp lỏng đang chảy ngang trên mặt đĩa mà không làm bắn tungtóe, làm bắn quá nhiều lớp lỏng lên phía trên Khi dòng hơi phụt lên quá mạnh,lớp chất lỏng trên đĩa bị phun lên, "sôi" và dâng cao lên, các giọt lỏng có thểtheo dòng hơi, bị cuốn lên qua các lỗ hơi mà không tập họp thành dòng chảyxuống đĩa dưới theo ống chảy chuyền Khi đó tác dụng của đĩa bị giảm sút hoặcthậm chí không còn

III ỉoM thápchĩHngcĩntcĩlibĩHn

Cũng có thể phân biệt chưng cất ra thành quy trình một lần như trong phòng thí

nghiệm để tách một hóa chất tinh khiết ra khỏi một hỗn hợp, và chưng cất liên tục,

như trong các tháp chưng cất trong công nghiệp Trong nhiều trường hợp có một

tỷ lệ nhất định của hỗn họp hai chất lỏng mà không thể tiếp tục tách bằng phương

Trang 22

pháp chưng cất được nữa Các hỗn họp này được gọi là hỗn họp đẳng phí Neu

muốn tăng nồng độ của cồn phải dùng đến các phương pháp tinh cất đặc biệt khác

Có thể sử dụng các loại tháp chưng cất sau:

-Tháp chưng cất dùng mâm xuyên lỗ hoặc mâm đĩa lưới

-Tháp chưng cất dùng mâm chóp

-Tháp đệm (tháp chưng cất dùng vật chêm )

Nhận xét về ưu khuyết điểm của từng loại tháp :

4.1 Tháp mâm xuyên lỗ

+ Ưu điểm: chế tạo đơn giản, vệ sinh dễ dàng , trở lực thấp hơn tháp chóp ,

ít tốn kim loại hơn tháp chóp

Trang 23

+ Nhược điểm: yêu cầu lắp đặt cao : mâm lắp phải rất phẳng , đối với những

tháp có đường kính quá lớn (>2.4m) ít dùng mâm xuyên lỗ vì khi đó chất lỏng

4.2 phân phối không đều trên mâm.Tháp chóp

+ ưu điểm: hiệu suất truyền khối cao , ổn định, ít tiêu hao năng lượng

hơn nên có số mâm ít hơn

+ Nhược điểm: chế tạo phức tạp , trở lực lớn

4.3 Tháp đệm :

+ Ưu điểm: chế tạo đơn giản, trở lực thấp

+ Nhược điểm: hiệu suất thấp , kém ổn định do sự phân bố các pha theo

tiết diện tháp không đều, sử dụng tháp chêm không cho phép ta kiểm soát quátrình chưng cất theo không gian tháp trong khi đó ở tháp mâm thì quá trình thểhiện qua từng mâm một cách rõ ràng , tháp chêm khó chế tạo được kích thướclớn ở qui mô công nghiệp

So sánh ưu và nhược điểm của các loại tháp

Trang 24

Ưu điểm - Đơn giản. - Trở lực thâp. Làm việc với chất

Trang 25

(a): Hĩnh rmnh họa vèmâm chóp (by Hinhmừứi họa mâmxuvèn lo (c): IIinh minh họa tháp chêm

Các yếu tố công nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp tới

trình chưng cất là nhiệt độ, áp suất và phương pháp chưng cất

Chế độ công nghệ chưng cất phụ thuộc nhiều vào chất lượng dầu thô ban đầu,

vào mục đích và yêu cầu của quá trình, vào chủng loại và sản phẩm cần thu và

phải có dây chuyền công nghệ họp lý

Vì vậy khi thiết kế quá trình chưng cất, ta phải xét kỹ và kết họp đầy đủ tất cả

Trang 26

các yếu tố để quá trình chưng cất đạt hiệu quả cao nhất Các yếu tố công nghệ

chưng cất dầu chính là các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình làm việc của thápchưng

5.1 Chế độ nhiệt của tháp chưng luyện.

Nhiệt độ là thông số quan trọng nhất của tháp chưng cất Bằng cách thay đổinhiệt độ của tháp sẽ điều chỉnh được nhiệt độ và hiệu suất của sản phẩm Chế

độ nhiệt của tháp gồm nhiệt độ của nguyên liệu vào tháp, nhiệt độ đỉnh tháp,nhiệt độ trong tháp và nhiệt độ đáy tháp

Nhiệt độ của nguyên liệu (dầu thô) vào tháp chưng phụ thuộc vào bản chất củaloại dầu thô, mức độ phân tách của sản phẩm, áp suất trong tháp và lượng hơi

nước đưa vào đáy tháp, nhưng chủ yếu phải tránh sự phân huỷ nhiệt ở nhiệt độ

_

20

Trang 27

cao Nếu dầu thô thuộc loại dầu nặng mức độ phân chia lấy sản phẩm ít thì nhiệt

độ vào tháp chưng luyện sẽ không cần cao Trong thực tế sản phẩm khi chưngcất ở áp suất khí quyển, nhiệt độ nguyên liệu vào tháp chưng luyện thườngtrong giới hạn 320 -ỉ- 360°c còn nhiệt độ nguyên liệu mazut vào tháp chưng ápsuất chân không thường khoảng 400 -ỉ- 440°c

Nhiệt độ đáy tháp chưng luyện phụ thuộc vào phương pháp bay hơi và hồilưu đáy Nếu bay hơi phần hồi lưu đáy bằng thiết bị đốt nóng riêng biệt thì nhiệt

độ đáy tháp sẽ ứng với nhiệt độ bốc hơi cân bằng ở áp suất tại đáy tháp, nếu bốchơi bằng cách dung hơi nước quá nhiệt thì nhiệt độ đáy tháp sẽ thấp hom vùngnạp liệu

Nhiệt độ đáy tháp phải chọn tối ưu, tránh sự phân huỷ các cấu tử nặng, nhưnglại phải đủ để tách hết hơi nhẹ khỏi phần nặng

Nhiệt độ đỉnh tháp được khống chế nhằm đảm bảo sự bay hơi

Nhiệt độ đỉnh tháp chưng luyện ở áp suất thường để tách xăng ra khỏi dầu thôthường là 110 130°c, còn đối với tháp chưng chân không, khi áp suất chưng là

10 ^ 70 mmHg thường nhiệt độ không quá 120 °c Với mục đích để giảm bớt

Trang 28

mất mát Gasoil chân không hay mất mát các cấu tử trong phân đoạn dầu nhờn.

Đe bảm bảo chế độ nhiệt của tháp, cũng như đã phân tích ở trên là để phânchia các quá trình hoàn thiện thì phải có hồi lưu

Các dạng hồi lưu:

Ở đỉnh tháp có hai dạng hồi lưu: Hồi lưu nóng và hồi lưu lạnh

Hồi lưu nóng: Quá trình hồi lưu nóng được thực hiện bằng cách ngưng tụ một

phần hơi sản phẩm đỉnh ở nhiệt độ sôi của nó Khi tưới trở lại tháp, chúng chỉcần thu nhiệt để bốc hơi.Tác nhân lạnh có thể dùng là nước hay chính sản phẩmlạnh

Hồi lưu nguội: Được thực hiện bằng cách làm nguội và ngưng tụ sản phẩm

đỉnh rồi tưới trở lại tháp chưng Khi đó lượng hồi lưu cần thu lại một lượngnhiệt cần thiết để đun nóng nó đến nhiệt độ sôi cần thiết để đun nóng nó đếnnhiệt độ sôi và nhiệt độ cần để hoá hơi Hồi lưu nguội sử dụng rộng rãi vì lượnghồi lưu thường

ít, làm tăng rõ ràng chất lượng mà không giảm nhiều năng suất của tháp chưng

_ Trang _

21

Hồi lưu vòng: Quá trình hồi lưu trung gian thực hiện bằng cách lấy một phần

Trang 29

sản phẩm lỏng nằm trên các đĩa có nhiệt độ là ti, đưa ra ngoài làm lạnh đến torồi tưới trở lại tháp, khi đó chất lỏng hồi lưu cần thu một lượng nhiệt để đunnóng từ nhiệt độ to^-t2.

Hồi lưu vòng có nhiều ưu điểm như: Giảm lượng hơi đi ra ở đỉnh tháp, tậndụng được một lượng nhiệt thừa rất lớn của tháp chưng để đun nóng nguyênliệu ban đầu, tăng công suất làm việc của tháp

Người ta thường kết họp hồi lưu trung gian với hồi lưu lạnh cho phép điềuchỉnh chính xác nhiệt độ chưng dẫn đến đảm bảo được hiệu suất và chất lượngsản phẩm của quá trình

5.2 Ảp suất của tháp chưng:

Khi chưng luyện dầu mỏ ở áp suất thường thì áp suất trong toàn tháp và ởmột tiết diện cũng có khác nhau

Áp suất trong tháp có thể cao hơn một ít hay thấp hơn một ít so với áp suấtkhí quyển, tương ứng với việc tăng hay giảm nhiệt độ sản phẩm lấy ra khỏitháp

Khi tháp chưng cất mazut trong tháp chưng chân không thì thường tiến hành

áp suất từ 1070 mmHg

Trang 30

Áp suất trong mỗi tiết diện của tháp chưng luyện phụ thuộc vào trở lực thuỷtĩnh khi hơi qua các đĩa, nghĩa là phụ thuộc vào số đĩa và cấu trúc đĩa, lưu lượngriêng của chất lỏng và hơi Thông thường từ đĩa này sang đĩa khác, áp suất giảm

từ 5 -ỉ- 10 mmHg từ dưới lên khi chưng cất, ở áp suất chân không qua mỗi đĩa

áp suất giảm từ 1 -ỉ- 3 mmHg

Áp suất làm việc của tháp phụ thuộc vào nhiệt độ, bản chất của nguyên liệu

và áp suất riêng phần của từng cấu tử trong tháp Nếu tháp chưng luyện màdùng hơi nước trực tiếp cho vào đáy tháp thì hơi nước làm giảm áp suất riêngphần của hơi sản phẩm đầu, cho phép chất lỏng bay hơi ở nhiệt độ thấp hơn.Lượng hơi nước tiêu hao phụ thuộc vào áp suất chung của tháp và áp suất riêngphần của các sản phẩm đầu

_ Trang _

Trang 31

22Lượng hơi nước tiêu hao cho tháp ở áp suất khí quyển khoảng 1,2 -K3,5%trọng lượng, đối với tháp chưng ở áp suất chân không khoảng 5 -ỉ- 8% trọnglượng so với nguyên liệu.

Chương II TÍNH TOÁN CỒNG NGHỆ THÁP CHƯNG CẤT KHÍ QUYÊN

Các dữ liệu cho trước:

Một tháp chưng cất có 24 đĩa, làm việc ở áp suất khí quyển và có vị trí nạp liệu,các sản phẩm sườn được mô tả trong hình 1

Stripping :

Trang 31

Trang 32

Trang 32

Trang 35

Dầu thô Những vấn đề cần gỉảỉ quyết:

1 Xác định yị trí đĩa lấy xăng nặng khi biết nhiệt độ tại đĩa lấy kerozen là 211

°c.

2 Xây dựng sơ đồ điều khiển và mô tả quá trình điều khiển tháp chưng cất

để thay đổi nhiệt độ vùng lấy sản phẩm kerozen tăng lên 10°c.

I TÍNH TOÁN TÌM VỊ TRÍ ĐĨA LẤY KEROZEN 1.1 Vẽ các đường đặt trưng của dầu thô

Từ dữ liệu về tính chất dầu Bảng 1 ta vẽ được các đường đặc trưng

Trang 36

Hình 5 Quan hệ nhiệt độ và thể tích V-t

Đặc tính %V-d của dầu thô

V(%)

Trang 37

Hình 6 Đường đặc trưng %V-d của dầu thôVẽ đường TPB từ đường ASTM theo Hình 3.13[2]

Hình 7 Đường TBP của dầu thô

Độ nghiêng của DRL được tính như sau:

B= tan a = T70(mp) ~Tl0(mp) = 4 Ố2’5Z11M= 5,817 (°C/%)

60 60

Từ đây ta tính được các điểm: Dựa vào Hình 3.11 [2]

A = 3,9 °C/% là độ nghiêng của đường FRL

_ Trang

2

Trị

Đường TBP của dầu thô

V(%)

Trang 38

7c — 22 c — T50CDRO—T'

Tso(FRL) = 342,5°c 22°c = 320,5°c (yì T 50 (DRL) chính là

T 50 (TBP)) cũng là 1 điểm thuộc đường Flash Từ T10 đến T70 của FRL

là một phần của đường Flash Dựa vào biểu đồ 3.11 [2] và đường

TBP ở trên ta xác định được các giá trị:

T1

0,fla

sh =

16 4, 5°

c

T30, flash

=

24 4°

c

T50, flash

=

33 1,5

°c

T70, flash

=

39 8,5

°c

%v

Trị

Từ đó ta vẽ được các đường TBP và Flash của dầu thô

Trang 39

Hình 8 Quan hệ giữa đường TBP và Flash

Giả sử, coi sự chưng cất là lý tưởng Khi đó đường TBP của

nguyên liệu xem như trùng với đường TBP của từng phân đoạn Từ

đó ta được đặc trưng của từng phân đoạn, như sau :

Bảng 2: Đặc trưng các phân đoạn (coi sổ đo tỷ khối bằng sổ đo khối lượng riêng)

Phân đoạn %v Thể tích Tỷ khối Khối Phân tử SốTrị

Trang 40

TBP

Ngày đăng: 09/11/2017, 21:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w