Những lời rào đón không hẳn chỉ là dấu hiệu cho thấy người nói vi phạm các nguyên tắc cộng tác hội thoại như ý kiến của một số nhà ngôn ngữ mà trong phần lớn các tình huống, sự xuất hiện
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ KHÁNH CHI
CHIẾN LƯỢC RÀO ĐÓN
VÀ NGHĨA LIÊN NHÂN CỦA HÀNH ĐỘNG RÀO ĐÓN TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ KHÁNH CHI
CHIẾN LƯỢC RÀO ĐÓN
VÀ NGHĨA LIÊN NHÂN CỦA HÀNH ĐỘNG RÀO ĐÓN TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 62 22 01 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
GS TS ĐỖ THỊ KIM LIÊN
TS ĐẶNG LƯU
NGHỆ AN - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các công trình nghiên cứu khác có liên quan được trích dẫn trong Luận án đều có chú thích rõ ràng Mọi nhận định, kiến giải, kết luận là của bản thân, không sao chép từ bất kì một tài liệu nào Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Nghệ An, tháng 10 năm 2017
Người viết
Nguyễn Thị Khánh Chi
Trang 4Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS TS Đỗ Thị Kim Liên và
TS Đặng Lưu, những người đã dìu dắt tôi từ những bước đi đầu tiên trong học tập, nghiên cứu khoa học đến quá trình thực hiện luận án này
Tôi cũng chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo, thầy cô trong bộ môn Ngôn ngữ, Khoa Sư phạm Ngữ văn, Phòng Sau đại học, Phòng Khoa học - Thiết bị của Trường Đại học Vinh, đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này
Nhân đây, tôi gửi lời cảm ơn đến đồng nghiệp, bạn bè, người thân đã động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án đúng thời hạn
Nghệ An, tháng 10 năm 2017
Người viết
Nguyễn Thị Khánh Chi
Trang 5Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 2
4 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu 3
5 Đóng góp của luận án 4
6 Cấu trúc của luận án 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 5
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước 9
1.2 Cơ sở lý thuyết 12
1.2.1 Lý thuyết hội thoại 12
1.2.2 Lý thuyết hành động ngôn từ 23
1.2.3 Hành động rào đón trong hội thoại 34
1.3 Một số đặc trưng của tiểu vùng phương ngữ Nghệ Tĩnh 36
1.3.1 Về ngữ âm 37
1.3.2 Về hệ thống từ vựng 38
1.3.3 Về cách nói năng 39
1.4 Tiểu kết chương 1 39
Chương 2 NHẬN DIỆN HÀNH ĐỘNG RÀO ĐÓN TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH 41
2.1 Những tiêu chí nhận diện hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh 41
2.1.1 Vị trí xuất hiện hành động rào đón trong tham thoại 41
2.1.2 Ngữ cảnh 44
2.1.3 Hành động chủ hướng 47
2.1.4 Biểu thức chứa hành động rào đón 51
2.1.5 Đích tác động 58
Trang 62.2.1 Tạo ngôn cảnh thuận lợi để đạt đích giao tiếp 59
2.2.2 Tham gia cấu tạo lập luận 62
2.3 Ngữ nghĩa của hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh 65
2.3.1 Khái niệm nghĩa trong ngôn ngữ 65
2.3.2 Các nhóm ngữ nghĩa của hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh 67
2.4 Tiểu kết chương 2 74
Chương 3 CHIẾN LƯỢC RÀO ĐÓN TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH 76
3.1 Những nhân tố chi phối chiến lược rào đón 76
3.1.1 Khái niệm chiến lược rào đón 76
3.1.2 Những nhân tố chi phối chiến lược rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh 77
3.2 Biểu hiện chiến lược rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh 82
3.2.1 Chiến lược rào đón lịch sự 82
3.2.2 Chiến lược kín đáo gợi ý cho người nghe 91
3.2.3 Chiến lược chủ động giải tỏa nguy cơ bất đồng 96
3.2.4 Chiến lược mượn lời 106
3.3 Tiểu kết chương 3 111
Chương 4 NGHĨA LIÊN NHÂN CỦA HÀNH ĐỘNG RÀO ĐÓN TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI NGHỆ TĨNH 112
4.1 Quan niệm nghĩa liên nhân 112
4.1.1 Quan niệm của các tác giả đi trước 112
4.1.2 Khái niệm nghĩa liên nhân 113
4.2 Biểu hiện nghĩa liên nhân của hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh 116
4.2.1 Nghĩa liên nhân biểu thị qua các vai giao tiếp 116
4.2.2 Nghĩa liên nhân biểu thị qua phương tiện tình thái 135 4.3 Dấu ấn văn hóa - ngôn ngữ của người Nghệ Tĩnh qua hành động rào đón 143 4.3.1 Lời rào đón thể hiện cách ứng xử vị tình của người Nghệ Tĩnh 144n
Trang 74.3.2 Người Nghệ Tĩnh rào đón để giữ gìn thể diện của mình và tôn trọng
thể diện người khác 145
4.3.3 Lời rào đón thể hiện sự dung hòa các đối cực trong tính cách người Nghệ Tĩnh 146
4.4 Tiểu kết chương 4 147
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC
Trang 8TT Kí hiệu viết tắt Nội dung viết tắt
Trang 9Trang Bảng 2.1 Tổng hợp vị trí của HĐRĐ trong tham thoại 43 Bảng 2.2 Hành động chủ hướng có hành động rào đón đi kèm trong giao tiếp
của người Nghệ Tĩnh 49
Bảng 2.3 Tổng hợp các kiểu kết cấu hành động rào đón với động từ nói trong
giao tiếp của người Nghệ Tĩnh 54 Bảng 2.4 Các nhóm ngữ nghĩa của hành động rào đón trong giao tiếp của
người Nghệ Tĩnh 67 Bảng 3.1 Các chiến lược rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh 82 Bảng 3.2 Các biện pháp thực hiện chiến lược rào đón lịch sự trong giao tiếp
của người Nghệ Tĩnh 84
Bảng 3.3 Các biện pháp thực hiện chiến lược kín đáo gợi ý cho Sp2 trong
giao tiếp của người Nghệ Tĩnh 92
Bảng 3.4 Các biện pháp thực hiện chiến lược chủ động giải tỏa nguy cơ bất đồng
trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh 97 Bảng 3.5 Các biện pháp thực hiện chiến lược mượn lời trong giao tiếp của
người Nghệ Tĩnh 107 Bảng 3.6 Bảng tổng hợp các chiến lược rào đón trong giao tiếp của người
Nghệ Tĩnh 110 Bảng 4.1 Tổng hợp vai giao tiếp sử dụng hành động rào đón theo giới tính 118 Bảng 4.2 Bảng tổng hợp vai giao tiếp sử dụng hành động rào đón theo vị thế 127 Bảng 4.3 Sử dụng từ xưng hô trong hành động rào đón của người Nghệ Tĩnh 129 Bảng 4.4 Khả năng xuất hiện của TTTT cuối phát ngôn rào đón của người
Nghệ Tĩnh 138 Bảng 4.5 Ngữ nghĩa của một số tiểu từ tình thái kết thúc hành động rào đón
của người Nghệ Tĩnh 139
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong giao tiếp hằng ngày, nhiều lúc ta nhận thấy những điều không có trong nội dung trao đổi cụ thể, nghĩa là không cần đến sự hồi đáp của người nghe, nhưng lại có vai trò rất quan trọng Nó định hướng cho người nghe hiểu đúng lời người nói, ngăn ngừa những hiểu lầm hoặc những phản ứng không hay có thể xẩy
ra, đảm bảo duy trì được mối quan hệ liên nhân giữa các vai giao tiếp, nhờ đó, việc trao đổi thông tin cũng diễn ra thuận lợi hơn Phần ấy trong phát ngôn được gọi là
lời rào đón (hedges)
Người Việt Nam nói chung, người Nghệ Tĩnh nói riêng, trong giao tiếp nghi thức và phi nghi thức, thường nói những lời rào đón trước khi đưa ra nội dung thông báo chính Sự xuất hiện của các câu đưa đẩy, các hành động rào đón khiến cho lời nói có vẻ vòng vo, nhưng bù lại, nhờ chúng mà hoạt động giao tiếp trở nên dễ dàng hơn Tuy lời rào đón có vai trò quan trọng như vậy, nhưng các nhà Việt ngữ học vẫn chưa dành cho nó sự quan tâm đúng mức Đặc biệt, những công trình nghiên cứu chuyên sâu về lời rào đón trong một phương ngữ cụ thể hiện vẫn còn vắng bóng
1.2 Trong giao tiếp, giữa hành động rào đón và hành động chủ hướng luôn
có mối quan hệ chặt chẽ Những lời rào đón không hẳn chỉ là dấu hiệu cho thấy người nói vi phạm các nguyên tắc cộng tác hội thoại như ý kiến của một số nhà ngôn ngữ mà trong phần lớn các tình huống, sự xuất hiện lời rào đón bao giờ cũng phụ thuộc vào nhu cầu của hành động chủ hướng, cụ thể là phụ thuộc vào mức độ
đe dọa thể diện mà các hành động chủ hướng đó biểu hiện Do đó, rào đón trở thành một trong những công cụ hữu ích cho việc duy trì và củng cố quan hệ liên nhân trong giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp đối mặt Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu quan hệ giữa hành động rào đón và hành động chủ hướng là rất cần thiết
1.3 Trong các biểu thức rào đón, nghĩa liên nhân (interpersonal meaning) - một dạng biểu hiện của nghĩa, liên quan đến các tình huống xã hội (giữa người với người), thể hiện nhân cách, vai xã hội của người nói, thái độ của người nói đối với người tham gia hội thoại hoặc nội dung của các phát ngôn được thể hiện rất rõ Nghiên cứu lời rào đón, không thể bỏ qua những khía cạnh chính yếu này
1.4 Rào đón không phải là “đặc sản” của bất cứ phương ngữ nào ở nước ta Trong hoạt động giao tiếp, hành động ngôn ngữ này bị chi phối bởi nhiều yếu tố,
Trang 11trong đó có yếu tố văn hóa Ở chiều ngược lại, qua cách nói rào đón, ta cũng có thể phát hiện một số khía cạnh trong văn hóa ứng xử của con người một vùng đất Theo thông lệ chung ấy, lời rào đón trong tiếng Nghệ Tĩnh cũng chứa đựng những thông tin đáng tin cậy về đặc điểm văn hóa của người Nghệ
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Chiến lược rào đón và nghĩa liên
nhân của hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh để nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng đến mục đích:
- Giúp người nghiên cứu hiểu sâu về chiến lược rào đón và ý nghĩa liên nhân biểu hiện qua hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, từ đó nhìn nhận một số nét riêng về văn hóa - ngôn ngữ của người Nghệ Tĩnh
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luân án hướng đến thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Giới thuyết một số vấn đề lý thuyết ngôn ngữ học thuộc phạm vi nghiên
cứu của đề tài
- Thống kê, phân loại tư liệu điều tra điền dã, ghi âm các cặp thoại của vai
giao tiếp có sử dụng hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
- Nhận diện hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
- Xác định, phân tích các tiểu nhóm thể hiện cách thức rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
- Phân tích, làm rõ nghĩa liên nhân của hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
3 Đối tượng nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh Đối tượng này được quan sát từ góc nhìn đồng đại, nghĩa là hoạt động ngôn ngữ đang diễn ra trong đời sống hiện nay Trên tư liệu hơn 2000 phiếu điều tra điền dã, ghi âm, chúng tôi đã tách các tham thoại có xuất hiện hành động rào đón để phân tích, mô tả Các phát ngôn đó đều do các cá nhân nam/nữ thuộc nhiều đối tượng, nhưng chủ yếu tập trung ở các nhóm đối tượng điển hình: cha mẹ/ông bà trong tương tác với con cháu; giáo viên với học sinh; bác sĩ với bệnh
Trang 12nhân; người bán với người mua và bạn bè, đồng nghiệp với nhau Về độ tuổi của đối tượng khảo sát, chúng tôi cũng có giới hạn trong phạm vi từ 17, 18 tuổi trở lên
3.2 Nguồn ngữ liệu
Nguồn ngữ liệu được sử dụng trong luận án là ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của nghiệm viên thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Tuy nhiên, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát tư liệu ở ba vùng: thành phố, nông thôn và miền biển Cụ thể, ở Nghệ An, chúng tôi khảo sát gồm 13 huyện: Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Đô Lương, Yên Thành, Tân Kì, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Nghi Lộc, Cửa Lò, Diễn Châu, Quỳnh Lưu và thành phố Vinh; ở Hà Tĩnh gồm 7 huyện Nghi Xuân, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Sơn, Hương Khê, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh Ngữ liệu thu được là 2050 lượt lời được chuyển từ băng ghi âm thành dạng văn bản viết (xem PHỤ LỤC)
4 Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp:
4.1 Phương pháp điều tra, điền dã
Phương pháp này được tiến hành bằng hai cách: ghi âm và ghi chép trực tiếp các cuộc thoại trong giao tiếp hàng ngày của các đối tượng được phân biệt theo những điểm sau:
a Giới tính: nam/nữ
b Nghề nghiệp: nông dân, công nhân, viên chức, sinh viên, và những người làm nghề tự do (chủ yếu là kinh doanh)
c Độ tuổi: từ 17, 18 tuổi trở lên
d Mối quan hệ: gia đình, làng xóm, bạn bè, đồng nghiệp
e Hoàn cảnh phát ngôn: giao tiếp tự nhiên giữa hai nhân vật trong gia đình
và ngoài xã hội
f Nội dung phát ngôn: liên quan đến cuộc sống riêng tư, bạn bè và công việc Băng ghi âm được chúng tôi chuyển thành dạng văn bản viết để dễ dàng phục vụ cho công việc nghiên cứu
4.2 Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình chúng tôi đi sâu phân tích quan hệ giữa hành động rào đón với hành động chủ hướng trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh; ngữ nghĩa của hành động rào đón trong những tình huống giao tiếp cụ thể; nghĩa liên nhân giữa các vai giao tiếp khi thực hiện hành động rào đón
Trang 134.3 Phương pháp phân tích ngôn cảnh
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi luôn luôn gắn việc phân tích những ví
dụ cụ thể với những yếu tố trước và sau nó; với bối cảnh không gian, với nhân vật giao tiếp để thấy được vai trò của phát ngôn trong hành chức
Bên cạnh những phương pháp trên, chúng tôi còn vận dụng một số thủ pháp sau:
- Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được sử dụng để thống kê các tham thoại chứa hành động rào đón, sau đó phân loại các hành động rào đón này thành từng nhóm nhỏ phục vụ cho từng mục đích nghiên cứu cụ thể
- Thủ pháp so sánh
Thủ pháp này được chúng tôi sử dụng để chỉ ra một số điểm tương đồng và khác biệt phương tiện rào đón được người Nghệ Tĩnh sử dụng so với các phương tiện rào đón trong giao tiếp toàn dân
- Thủ pháp hệ thống hóa, mô hình hóa thành các biểu đồ
Thủ pháp hệ thống hóa, mô hình hóa thành các biểu đồ này được chúng tôi
sử dụng khi tìm hiểu về các cách sử dụng, phân nhóm hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
5 Đóng góp của luận án
Đây là đề tài đầu tiên tiến hành nghiên cứu về hành động rào đón trong giao tiếp của người dân ở một địa phương cụ thể - Nghệ Tĩnh Do đó, những kết quả của luận án sẽ phần nào phản ánh những đặc trưng chiến lược rào đón, nghĩa liên nhân của hành động rào đón trong giao tiếp và văn hóa ứng xử của người Nghệ Tĩnh, cách người Nghệ Tĩnh nhìn nhận vấn đề và xác lập quan hệ với người đối thoại
Cũng như phần lớn các đề tài nghiên cứu ngôn ngữ ứng dụng khác, đề tài của chúng tôi cũng sẽ góp phần hoàn thiện thêm lý thuyết hội thoại và lý thuyết hành động ngôn từ
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm
4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài Chương 2: Nhận diện hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh Chương 3: Chiến lược rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
Chương 4: Nghĩa liên nhân của hành động rào đón trong giao tiếp của người
Nghệ Tĩnh
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Rào đón (Hedges) bắt đầu được sử dụng như một thuật ngữ ngôn ngữ học
thuộc bình diện dụng học từ đầu những năm 1970 khi G Lakoff (1972) đề cập đến
việc rào đón có khả năng tác động tới quy tắc hội thoại Từ đó đến nay, rào đón đã
được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam quan tâm tìm hiểu ở những phạm vi khác nhau Sau đây, chúng tôi xin điểm qua tình hình nghiên cứu
rào đón của các tác giả ngoài nước và trong nước
1.1.1 Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Cho đến nay, việc nghiên cứu về rào đón được đề cập qua nhiều bài báo, công trình khác nhau nhưng có thể quy về hai hướng chính sau đây
a) Hướng nghiên cứu hành động rào đón trong mối tương quan với các nguyên tắc hội thoại, cụ thể là nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự Hướng này gồm các tác giả tiêu biểu như G Lakoff, G Yule, Peter Grundy, P Brown & C Levinson, Green Tư tưởng của họ có ảnh hưởng rất mạnh đối với ngôn ngữ học thế giới
Năm 1996, G Yule, trong cuốn Dụng học (Pragmatics) đã đặt lời rào đón
trong mối quan hệ với bốn phương châm hội thoại Tác giả nhận định: Lời rào đón
là những chỉ dẫn rất tốt về việc người nói không chỉ nhận biết được những phương châm trên (chất, lượng, cách thức, quan hệ), mà còn cho thấy là họ muốn chỉ ra rằng
họ đang cố gắng tuân thủ chúng (Hedges are good indications that the speakers are
not only aware of the maxims, but that they want to show that they are trying to observe them [139, tr.39]) Khi nhận thấy phương châm về chất không được tôn
trọng triệt để, tức thông tin đưa ra thiếu chính xác hoặc không chứng minh thỏa
đáng được thì người nói có thể sử dụng các biểu thức rào đón như: As far as I know,
I may be mistaken, I’m not sure if this is right Khi thấy phương châm lượng có
nguy cơ vi phạm, tức lượng thông tin không phù hợp với mục đích của cuộc thoại
(ít hơn hoặc nhiều hơn) thì người nói có thể sử dụng các biểu thức rào đón như: As
you probably know, To cut a long story short, I won’t bore you with all the details
Trang 15Để rào đón phương châm quan hệ, người nói có thể sử dụng các biểu thức rào đón
kiểu như: ‘Oh, by the way’, I don’t know it this is important, Not to change the
subject Còn những lời giáo đầu kiểu như: This may be a bit confused, I’m not sure
if this makes sense, I don’t know if this is clear at all có thể được dùng để rào đón
phương châm cách thức
Các biểu thức rào đón gắn với nguyên tắc cộng tác cũng được Peter Grundy
(2008) nhắc tới trong tác phẩm Doing Pragmatics: các phương châm hội thoại có
thể được rào đón bằng những lời chú giải siêu ngôn ngữ (người nói có thể sử dụng những lời chú giải siêu ngôn ngữ đó để khẳng định rằng các phương châm đó được
tuân thủ một cách triệt để) (We’ve seen how conversational maxims can be hedged
with metalingual glosses Speakers can also use metalingual glosses to assure their addressees that the maxims are being scrupulously comlied with [129, tr 101])
Theo tác giả, bên cạnh những biểu thức được người nói sử dụng để rào đón với người nghe rằng họ có nguy cơ không gắn bó với một phương châm nào đó, còn có các biểu thức dùng để nhấn mạnh có một phương châm nào đó cần được tôn trọng
hơn Chẳng hạn, trong lời khẳng định Cigarettes are bad for you for sure thì sure là
biểu thức nhấn mạnh phương châm về chất, nó đảm bảo độ tin cậy tuyệt đối của lời
khẳng định Khi nói The point is that cigarettes are bad for you thì biểu thức The
point is that lại nhấn mạnh phương châm quan yếu Có khi, người ta lại nói: Put plainly, cigarettes are bad for you thì Put plainly là biểu thức nhấn mạnh phương
châm cách thức Như vậy, bên cạnh những biểu thức rào đón các quy tắc hội thoại còn có các biểu thức nhấn mạnh quy tắc hội thoại được tác giả Peter Grundy đề cập
Về vai trò của lời rào đón, tác giả cho rằng những lời rào đón không thêm vào giá trị đúng sai của phát ngôn mà chỉ vạch ra phạm vi, hướng dẫn cách hiểu phát ngôn hơn
là một phần nội dung được nói đến (One important point about these maxim hedges
and intensifiers is that none of them adds truth value to the utterances to which they are attached This confirms that the hedges and intensifiers are more a comment on the extent to which the speaker is abiding by the maxims which guide our conversational contributions than a part of what is said or conveyed [129, tr 101])
Ngoài ra, bên cạnh nguyên tắc cộng tác trong hội thoại, các nhà nghiên cứu
theo hướng này còn nghiên cứu hành động rào đón như một biểu hiện của lịch sự
trong giao tiếp
Trang 16G Lakoff (1972) quan niệm: rào đón dùng để chỉ những ngôn từ mà chức
năng của chúng là giúp người nói tránh việc tuyệt đối hóa những nhận định mà họ đưa ra, đồng thời giúp người nói giảm nhẹ được trách nhiệm với phát ngôn của mình Cụ thể, G.Lakoff đã tập trung khai thác đặc tính logic của các từ, cụm từ như
rather, largely, on manner of speaking và khả năng hành chức của những từ/ cụm từ
này trong việc làm cho mọi thứ trở nên mơ hồ hoặc ít mơ hồ đi Theo R Lakoff, việc dùng các yếu tố rào đón có tác dụng làm biến đổi hiệu lực của hành động ngôn
từ, do đó sẽ có các biểu thức rào đón điều kiện sử dụng hành động ở lời Ông cho rằng, khi ta yêu cầu ai làm việc gì thì tiền giả định (viết tắt là TGĐ) là: (1) người đó
có thể và có ý muốn sẵn sàng thực hiện việc đó, và (2) người đó chưa thực hiện việc
ta yêu cầu Và khi ta hứa hẹn thực hiện một điều gì đó thì TGĐ là: (1) ta chưa thực hiện nó, và (2) người nghe muốn ta thực hiện điều đó
Rào đón những điều được giả định trên có nghĩa là tránh được sự ràng buộc đối với những TGĐ đó Đó là cách thức cơ bản để giải tỏa những đe dọa đối với những tương tác, đe dọa mối quan hệ giữa con người với nhau trong giao tiếp Cùng quan niệm với G.Lakoff, các tác giả P Brown và S Levinson cũng
cho rằng rào đón là những tiểu từ, từ hoặc cụm từ xác định mức độ phụ thuộc
của vị ngữ hoặc một cụm danh từ trong một câu, có chức năng hiệu chỉnh, nói bớt đi, nói giảm nhẹ đi Nói cách khác, rào đón làm nhiệm vụ xác định các thành phần còn lại trong câu chỉ đúng một phần hoặc chỉ đúng ở một khía cạnh nhất định nào đó
G Green (1989) trong tác phẩm Pragmatics and Natural language
Undestanding cũng đề cập đến rào đón theo nguyên tắc lịch sự Green cho rằng, các
biện pháp lịch sự âm tính (các biện pháp nhằm hạn chế sự đe dọa thể diện của người nghe khi bắt buộc phải thực hiện một hành động đe dọa thể diện nào đấy) và các biện pháp lịch sự dương tính (các biện pháp tôn vinh thể diện người nghe) của P Brown và S Levinson chính là các biểu thức rào đón và nhấn mạnh, nhằm điều hòa các mối liên hệ cá nhân trong xã hội Chẳng hạn, khi chuẩn bị thực hiện một hành động có nguy cơ đe dọa thể diện của người nghe thì người nói cần phải dựa vào các nhân tố như khoảng cách xã hội, quyền lực tương đối giữa người nói và người nghe
để rồi quyết định: hoặc bỏ qua vấn đề thể diện, thực hiện bằng cách nói thẳng; hoặc lựa chọn phép lịch sự dương tính làm cho người nghe cảm thấy dễ chịu hoặc thấy
Trang 17giá trị anh ta được chia sẻ, tôn trọng, hoặc lựa chọn chiến lược lịch sự âm tính bằng cách rào đón, xin lỗi
b) Hướng tiếp cận rào đón với tư cách là công cụ hiện thực hóa chiến lược giao tiếp Đại diện cho hướng nghiên cứu này là M.Collins (1987) Collins cho rằng, nếu người nói rào đón nghĩa là người nói đang thực hiện một hành động mà sẽ bảo vệ người nói khỏi bị tác động bởi một điều gì đó không hay hoặc không mong muốn [Dẫn theo 105, tr.22] Điều này có thể được hiểu là nếu người nói rào đón một vấn đề hoặc một câu hỏi đồng nghĩa với việc người nói tránh trả lời câu hỏi hoặc đang tự cam kết với một hành động hoặc quyết định ngầm ẩn trong giao tiếp
Nó cũng đồng nghĩa với việc lựa chọn có rào đón hay không trong quá trình giao tiếp tương ứng với việc lựa chọn một chiến lược giao tiếp nhất định
Để đưa ra những cách lí giải khác nhau về rào đón, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tiếp cận chúng chủ yếu qua hai nguồn ngữ liệu chính: Nguồn ngữ liệu thứ nhất là các văn bản (nói/viết) có tính chất khoa học, học thuật và nguồn ngữ liệu thứ hai là việc giao tiếp bằng lời của các nhân vật (cụ thể là của nam giới và nữ giới) Tuy nhiên, theo hiểu biết của chúng tôi, phần lớn các bài nghiên cứu này chủ
yếu khai thác về rào đón trong các văn bản có tính chất khoa học, học thuật Có thể
kể ra đây một số bài viết, công trình tiêu biểu như:
- Giảm nhẹ chỉ trích: Việc sử dụng các phương tiện rào đón từ vựng trong
ngôn bản học thuật (Softening criticism: The use of lexical hedges in academic spoken interaction), Luận văn của Niina Riekkinen (2009)
- Các hướng tiếp cận mới về rào đón (New approaches to hedging), tập hợp
các bài nghiên cứu về rào đón tại hội thảo Dụng học quốc tế lần thứ 10 được tổ chức tại Goteborg - Thụy Điển (2010)
- Rào đón trong diễn ngôn chính trị trong các buổi họp báo của Tổng thống
Bush năm 2007 của Bruce Frase (2010) (Hedging in political discourse: The Bush
2007 Press Conferences)
- Xác định vai trò của các phương tiện rào đón trong các buổi tranh luận
tranh cử tổng thống năm 2008 của hai ứng cử viên Barack Obama và John McCain
của Fahad Al - Rashade (2012) (Determining the Role of Hedging Devices in the
Political Discourse of Two American Presidentiables in 2008)
- Rào đón trong các bản tin trực tuyến (Hedging in Onlines News Writing),
Luận văn của Elena Yuryevna Bashanova (2012)
Trang 18Tìm hiểu về rào đón trong giao tiếp bằng lời chỉ mới xuất hiện một số công trình lẻ tẻ, gồm các bài viết: Phân tích các phương tiện rào đón trong giao tiếp
bằng lời: Đường hướng tiếp cận trên cơ sở thích ứng (Analyzing Hedges in Verbal Communication: An Adaptation-Based Approach) của Yuling Wang (2010); bài viết Rào đón trong hội thoại Nhật ngữ: Tác động của các nhân tố tuổi tác, giới tính và
sự nghi thức (Hedges in Japanese conversation: The influence of age, sex, and formality) của Shizuka Lauwereyns,
1.1.2 Nghiên cứu của các tác giả trong nước
Dưới ánh sáng của lý thuyết ngữ dụng học, hiện tượng rào đón cũng đã và
đang được các nhà Việt ngữ học tiếp cận theo những cách nhìn khác nhau
Một trong những nhà Việt ngữ học đầu tiên quan tâm đến rào đón là Đỗ Hữu
Châu (1993) Khi trình bày về các chiến lược lịch sự, ông đã nhắc đến vai trò của
các yếu tố rào đón đối với phép lịch sự âm tính Tác giả chia ra các nhóm sau: a) rào đón đối với hiệu lực ở lời: Làm ơn đưa hộ cái ấm; Hắn chắc chắn về quê rồi;
Nói thành thật với anh, tôi không còn một xu dính túi nào nữa cả; b) rào đón đối với
các phương châm hội thoại của Grice: Tôi nghĩ rằng, tôi cho rằng, như chúng ta
đều biết (rào đón phương châm về chất); vào khoảng, độ chừng, trên dưới chi đó (rào đón phương châm về lượng); c) rào đón đối với phép lịch sự: Biết là làm anh không vui nhưng, Cực chẳng đã tôi mới phải nói Tác giả cũng đồng thời
khẳng định việc nghiên cứu các rào đón này chưa được ngữ pháp học Việt ngữ quan tâm, “việc gộp chung chúng vào phạm trù “tình thái” xóa mờ mất những ranh giới
và những chức năng cực kì thú vị của chúng, những chức năng mang đậm màu sắc văn hóa, dân tộc riêng của từng ngôn ngữ” [13, tr 273]
Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Dụng học Việt ngữ (2000) đã dành một mục
để nói về Những lời rào đón trong giao tiếp Ở phần này, vai trò của lời rào đón
được tác giả xác định rất cụ thể: chúng vừa để chỉ ra sự vi phạm có thể có đối với
các nguyên tắc hội thoại, cụ thể những lời rào đón giống như những bằng chứng
cho phép người nói vi phạm một nguyên tắc nào đó và chúng cũng là tín hiệu đối với người nghe để người nghe có thể hạn chế cách giải thích của mình [32, tr
132]; vừa để tránh đe dọa thể diện người khác, theo đó, lời rào đón có giá trị như
một lời xin lỗi trước, tạo sự thân hữu giữa người nói và người nghe, tránh sự xúc phạm thể diện người nghe [32, tr 135] Như vậy, vai trò của lời rào đón đã được
Trang 19Nguyễn Thiện Giáp chỉ ra từ điểm nhìn của hai nguyên tắc cơ bản trong hội thoại
là nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự Tác giả cũng nêu một số ví dụ về sự rào đón các phương châm hội thoại trong tiếng Việt Chẳng hạn, để rào đón
phương châm chất, có một số cách nói: Nếu tôi không nhầm thì, tôi nhớ không rõ
nhưng, theo như tôi biết, tôi không dám chắc, nghe đồn, hình như, có lẽ ; rào đón
phương châm lượng, có thể nói: Tôi không được phép tiết lộ, thiên cơ bất khả lộ,
như anh đã biết, tôi không muốn làm phiền anh với những chi tiết vụn vặt ; rào
đón phương châm quan yếu có thể nói: Tôi không biết điều này có quan trọng
không, tôi muốn nói thêm là ; rào đón phương châm cách thức: Tôi xin mở ngoặc đơn là Một số ví dụ về lời rào đón để tránh đe dọa thể diện cho người nghe cũng
được tác giả dẫn ra như: Nói khí vô phép, nói chị bỏ ngoài tai, tôi hỏi thật
Năm 2001, Diệp Quang Ban trong bài viết “Ứng dụng cách nhìn dụng học
vào giải thích một số yếu tố có mặt trong câu - phát ngôn” đã chỉ ra rằng: Trong tiếng Việt có những yếu tố “lang thang” thường có tính chất quán ngữ loại như anh
còn lạ gì, nói khí vô phép, chúng không thuộc cấu trúc cú pháp của câu và cũng
không dễ dàng gia nhập thành phần biệt lập vì chúng có phần khác với các thành phần đó Tác giả đã xếp những yếu tố “lang thang” nói trên vào số những lời rào
đón Năm 2009, trong cuốn Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản, lời rào đón
một lần nữa được tác giả đề cập đến Theo tác giả, lời rào đón (cùng với hai khái
niệm khác là lời ướm, sửa chữa) thường xuất hiện như là những bộ phận đi kèm
hành động nói với những chức năng khá xác định và những vai trò đáng kể trong tương tác Các kiểu rào đón nằm trong mối quan hệ với bốn phương châm hội thoại
là lượng, chất, quan hệ, cách thức Tác giả thừa nhận “sử dụng lời rào đón là một
cách thể hiện sự tôn trọng quá trình trao đổi, cụ thể là tôn trọng quy tắc thông dụng được nêu thành các phương châm hội thoại, và đó cũng là một cách để người nói bày tỏ thái độ tôn trọng người nghe trong ý nghĩa là người nghe đang coi mình như một người cộng tác chân thành” [3, tr 141]
Năm 2007, Dương Tuyết Hạnh trong luận án Hành vi nhờ và sự kiện lời nói
nhờ trong giao tiếp tiếng Việt tuy đi sâu nghiên cứu hành vi “nhờ” nhưng bước đầu
đã có trình bày sơ lược về rào đón
Trong khi đó, Phạm Thị Thanh Thùy (2008) khi tìm hiểu về Thành phần rào
đón trong các bài báo nghiên cứu kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt, lại cho rằng rào
Trang 20đón là công cụ tu từ từ vựng và là hiện tượng đặc trưng của một thể loại nhất định, qua đó, tác giả đã tập trung nghiên cứu các lớp từ vựng được sử dụng để rào đón trong các bài báo, văn bản kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời rút ra kết luận:
“Cả trong tiếng Anh và tiếng Việt, các công cụ rào đón giúp người viết tránh được việc đưa ra những nhận định cụ thể, thẳng thừng, đồng thời tạo ra khoảng cách an toàn với những nhận định người viết đưa ra, nhờ đó giúp họ giảm nhẹ được trách nhiệm trước những nhận định này”
Vũ Thị Nga (2010) với luận án Khảo sát hành vi rào đón trong giao tiếp
tiếng Việt đã tập trung phân tích rào đón như là một hành vi ngôn ngữ và xem xét
hành vi này trên bình diện chức năng dụng học Tuy nhiên, tâm điểm của công trình này vẫn là ở việc làm rõ vai trò của hành vi rào đón trong việc hiện thực hóa các nguyên tắc hội thoại, cụ thể là nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự
Năm 2016, luận án Thành phần rào đón ở hành vi hỏi và hồi đáp trong giao
tiếp tiếng Anh (đối chiếu với tiếng Việt) của Trần Thị Phương Thu lại tiếp cận về rào đón khác với những tác giả đi trước Với quan niệm xem rào đón chỉ là một bộ
phận của hành vi ngôn ngữ, tác giả đã tiến hành tìm hiểu đặc điểm của chúng gắn với một hành vi ngôn ngữ cụ thể là hành vi hỏi và hồi đáp hỏi trên các bình diện: các kiểu thành phần rào đón, mức độ sử dụng và chức năng của chúng Tác giả kết
luận: Thành phần rào đón có thể được hiểu là những từ hoặc cụm từ mà người nói
sử dụng trong phát ngôn nhằm giúp người nói giảm nhẹ tác động không mong muốn đối với người nghe, làm cho thông điệp trở nên lịch sự hoặc lịch sự hơn, và/hoặc giúp người nghe tránh cung cấp thông tin được hỏi (trong trường hợp người nghe không thể hoặc không muốn cung cấp thông tin) [105, tr.44]
Ngoài ra, có thể kể ra một số bài viết khác có liên quan đến hành động rào
đón, như bài viết “Thành phần mở rộng và các yếu tố lịch sự trong phát ngôn chê”
của Nguyễn Thị Hoàng Yến (2001); “Một số biện pháp sử dụng ngôn ngữ biểu hiện phép lịch sự trong hành vi cho, tặng” của Chữ Thị Bích (2002); “Biểu thức rào đón trong hành vi ngôn ngữ xin phép tiếng Việt trên cơ sở lí thuyết về phương châm hội thoại của P Grice” của Đào Nguyên Phúc (2003); “Cách biểu hiện hành vi từ chối lời
cầu khiến bằng các phát ngôn lảng tránh (trên các cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt)”
của Trần Chi Mai (2005); “Một số chiến lược phản bác thường dùng trong tiếng Việt” của Nguyễn Quang Ngoạn (2007) Trong các công trình này, lời rào đón được
Trang 21nhắc đến như một yếu tố của phép lịch sự để giảm bớt mức độ đe dọa thể diện, một phương tiện làm mềm hay thậm chí là một chiến lược để hiện thực hóa một hành vi ngôn ngữ nào đó (chẳng hạn như hành vi từ chối lời cầu khiến)
Từ những trình bày trên, có thể thấy, từ khi trở thành đối tượng nghiên cứu
của ngôn ngữ học đến nay, rào đón đã được định danh bằng những tên gọi khác nhau như: lời rào đón, thành phần rào đón, yếu tố rào đón, hành vi rào đón Mỗi tên gọi phản ánh một quan niệm khác nhau về vai trò và vị trí của rào đón: 1/ Là
chức năng của một nhóm ngôn từ; 2/ Là một bộ phận của hành động ngôn ngữ; 3/
Là một hành động ngôn ngữ Chúng tôi sử dụng cách gọi tên giống quan điểm thứ
ba - hành động ngôn ngữ rào đón (gọi tắt là hành động rào đón)
Qua việc điểm lại lịch sử nghiên cứu về rào đón, chúng tôi thấy việc nghiên cứu hành động rào đón ở trong và ngoài nước mới dừng lại ở phương diện lí thuyết Còn việc nghiên cứu về rào đón trong giao tiếp bằng lời giữa các nhân vật ở một địa phương nhất định thì chưa có đề tài nào Chính vì vậy, đề tài của chúng tôi đi sâu
nghiên cứu Chiến lược rào đón và nghĩa liên nhân của hành động rào đón trong
giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Lý thuyết hội thoại
1.2.1.1 Khái niệm hội thoại
Về khái niệm hội thoại, Từ điển tiếng Việt giải thích, đó là “sử dụng một
ngôn ngữ để nói chuyện với nhau” [83, tr.461] Còn trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, hội thoại được hiểu là: “Hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo mục đích được đặt ra [119, tr 122] Dù hiểu theo nghĩa thông thường hay
nghĩa thuật ngữ, hội thoại cũng là khái niệm để chỉ một hình thức giao tiếp của con
người nói chung, đồng thời cũng là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ
Có nhiều định nghĩa khác nhau về hội thoại, ở đây chúng tôi chọn định nghĩa
của Đỗ Thị Kim Liên: “Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời
giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ
có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [69, tr.18]
Trang 22Để có hội thoại, cần các nhân tố:
- Nhân vật hội thoại (ít nhất là hai nhân vật);
- Nội dung giao tiếp (thể hiện qua nội dung các phát ngôn);
- Mục đích giao tiếp (trực tiếp hay gián tiếp);
- Ngữ cảnh hội thoại (bao gồm bối cảnh không gian, thời gian, cảnh huống
và ngôn cảnh);
- Thái độ (tình thái của phát ngôn)
Dạng cơ bản của hội thoại là dạng song thoại (dialogue), tức là dạng diễn ra giữa hai nhân vật đối đáp Tuy nhiên, hội thoại có thể có dạng tam thoại (ba nhân vật) và đa thoại (nhiều nhân vật)
Hội thoại sản sinh trong hoạt động giao tiếp hàng ngày của con người Trong văn học, khi tái hiện bức tranh đời sống, nhà văn cũng tạo ra những cuộc hội thoại giữa các nhân vật Tuy nhiên, những cuộc hội thoại trong tác phẩm tự sự mang bản chất của ngôn ngữ văn chương, bởi đó chỉ là những phương tiện nghệ thuật để người nghệ sĩ thể hiện những thông điệp nghệ thuật Do vậy, đó không phải là đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng học
Lý thuyết hội thoại bao gồm nhiều nội dung: cấu trúc hội thoại, vận động hội thoại, quy tắc hội thoại, thương lượng hội thoại
1.2.1.2 Cấu trúc hội thoại
Các đơn vị cấu trúc của hội thoại (theo bậc từ lớn đến nhỏ) gồm: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại, hành động ngôn từ
a Cuộc thoại (cuộc tương tác - conversation, interaction): Là đơn vị hội
thoại bao trùm, lớn nhất, tính từ khi các nhân vật bắt đầu hội thoại cho đến khi kết
thúc Theo Nguyễn Đức Dân, “cuộc thoại là một lần nói chuyện, trao đổi giữa
những cá nhân (ít nhất là hai) trong một xã hội” [18, tr 97] Đỗ Hữu Châu cho
rằng: “Toàn bộ hoạt động ngôn ngữ của con người là một chuỗi dằng dặc những lời
đối đáp Việc phải tách ra trong chuỗi dằng dặc những lời đối đáp của con người những đơn vị gọi là cuộc thoại là cần thiết đề nghiên cứu” [13, tr 312] Một cuộc
thoại được xác định bởi các nhân tố sau:
- Nhân vật hội thoại: Một cuộc hội thoại được xác lập khi có sự hiện diện liên tục của hai hay nhiều người tham gia
- Tính thống nhất về không gian và thời gian diễn ra hội thoại Không gian
Trang 23có thể là trong nhà, ngoài ngõ hoặc nơi công cộng như: chợ búa, trường học, bệnh viện, xí nghiệp Thời gian là vào bất cứ thời điểm nào trong ngày
- Tính thống nhất về đề tài, chủ đề, tức là thống nhất về phạm vi hiện thực
mà người nói đề cập đến
Tóm lại, cuộc thoại thường bao gồm một số cặp trao đáp của ít nhất hai nhân vật, có sự thống nhất về đề tài diễn ngôn, hình thức biểu đạt và ngữ cảnh Đó cũng chính là những tiêu chí quan trọng để xác định một cuộc thoại Tuy nhiên trong thời gian diễn ra cuộc thoại, đôi khi vẫn có sự thay đổi về nhân vật, bối cảnh không gian, thời gian, đề tài và chủ đề của nó, miễn là sự thay đổi đó không làm đứt quãng cuộc thoại Điều này hoàn toàn tự nhiên và phổ biến trong các cuộc giao tiếp hàng ngày
b Đoạn thoại (sequence): Là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp
liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng, có tính hoàn chỉnh bộ phận để có thể cùng với các đoạn thoại khác làm thành cuộc thoại Các đoạn thoại được định dạng bởi tính duy nhất về chủ đề và tính duy nhất về đích
c Cặp thoại (cặp trao đáp - exchange): Là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất
Thông thường, để duy trì cuộc thoại giữa hai vai giao tiếp, cặp thoại được cấu thành
từ một tham thoại dẫn nhập và một tham thoại hồi đáp
Dựa vào số lượng các tham thoại, có thể chia ra:
- Cặp thoại một tham thoại (còn gọi là cặp thoại hẫng): Là trường hợp tham thoại của người nói Sp1 không được người nghe Sp2 hưởng ứng hồi đáp, nghĩa là chỉ có một tham thoại dẫn nhập của Sp1 còn Sp2 im lặng, cũng không có hành động phản hồi gì cả
- Cặp thoại hai tham thoại (còn gọi là cặp thoại đôi): Tham thoại thứ nhất
được gọi là tham thoại dẫn nhập (initiative), tham thoại thứ hai là tham thoại hồi
đáp (réactive) Đây được xem là cặp thoại điển hình Hành động rào đón có thể xuất
hiện trong tham thoại dẫn nhập hoặc hồi đáp, hoặc cả hai Ví dụ:
- Hành động rào đón xuất hiện trong tham thoại dẫn nhập:
A: Cô ạ, nói thật với cô chơ (chứ), đời tui (tôi) chỉ hơn con chó có đôi đụa
(đũa) thôi cô ạ
B: Bà, răng (sao) bà lại nói rứa (thế)?
- Hành động rào đón xuất hiện trong tham thoại hồi đáp:
A: Lưa đồng mô nựa (còn đồng nào nữa) không cho tau (tao) vay mấy đồng
mồ (nào)
Trang 24B: Không nói phét chơ (chứ) bựa ni (hôm nay) đúng là không lưa (còn) nhứt
xu (đồng nào)
Ngoài ra, còn có một số cách phân loại khác, đó là: a) dựa vào vai trò của cặp thoại trong sự kiện lời nói, có thể chia ra cặp thoại chủ hướng và cặp thoại phụ thuộc (cặp thoại củng cố, cặp thoại sửa chữa); b) dựa vào vị trí trong tổ chức đoạn thoại, có thể chia ra: cặp thoại mở đầu - các cặp thoại triển khai - cặp thoại kết thúc,
d Tham thoại (participants): Là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại
vào một cặp thoại nhất định Nghiên cứu tham thoại là nghiên cứu phần đóng góp của mỗi người mà theo H.P Grice “ở chỗ thích hợp làm sao cho những đóng góp đó phù hợp với phương hướng, mục tiêu của cuộc thoại đặt ra” Tham thoại do người nói phát ra, làm cơ sở cho sự xuất hiện tham thoại thứ hai của người đối thoại thì được gọi là tham thoại dẫn nhập Còn tham thoại có chức năng phản hồi lại tham thoại dẫn nhập thì được gọi là tham thoại hồi đáp
Về cấu tạo, một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên + Tham thoại chỉ có một hành vi ngôn ngữ tạo nên (cũng đồng thời là hành động chính) gọi là tham thoại đơn Ví dụ:
A: Giang gói bánh đẹp quá!
Trang 25chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình Như vậy, lượt lời được tính bởi các phát ngôn do người nói nói ra trong cuộc thoại từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc Mỗi lượt lời được xây dựng trên cơ sở những lượt lời trước đó Những người tham gia hội thoại đều có quyền được nói lượt lời, nói phần của mình để đảm bảo nguyên tắc luân phiên lượt lời, như thế, cuộc thoại mới phát triển một cách bình thường Trong giao tiếp, tham thoại có thể không hoàn toàn trùng khớp với lượt lời Mỗi lượt lời có thể thể hiện một tham thoại Ví dụ:
A: Hai bác có khỏe không em?
B: Cảm ơn anh, bố mẹ em cũng bình thường anh ạ
Cũng có khi, hai, ba lượt lời mới thể hiện một tham thoại Ví dụ:
A: Chị ơi, anh Văn
B: Anh Văn làm sao?
A: Anh ấy bị tai nạn, đang cấp cứu ở bệnh viện
Trong ví dụ trên, hai lượt lời do A nói ra mới làm thành một tham thoại Hành động rào đón là một trong những hành động đi kèm hành động chủ hướng, thuộc cấu trúc của tham thoại Nhưng trong nhiều tình huống giao tiếp, hành động này lại bị tách ra thành một (hoặc nhiều) lượt lời như trong ví dụ sau:
A: Em có chuyện ni (này) muốn nói với anh (ngập ngừng)
B: Chuyện chi (gì)?
A: Thực sự em cũng không biết bắt đầu từ đâu nựa (nữa), em biết chắc chắn
sẽ làm anh thất vọng nhưng em không thể không nói
B: Nhưng mà là chuyện chi (gì)?
A: Anh Hùng - người yêu cũ của em hẹn gặp em, và em đã đến gặp anh ấy
Trọng tâm thông báo trong ví dụ trên nằm ở lượt lời thứ ba của A, hai lượt lời trước đó chỉ có tác dụng đưa đẩy, rào đón Cả ba lượt lời của A mới làm
thành một tham thoại: Em có chuyện ni muốn nói với anh, thực sự em cụng
không biết bắt đầu từ đâu nựa, em biết chắc chắn sẽ làm anh thất vọng nhưng
em không thể không nói Anh Hùng - người yêu cũ của em hẹn gặp em, và em đã đến gặp anh ấy
Chúng tôi không chủ trương nghiên cứu hành động rào đón được phát ngôn thành những lượt lời riêng lẻ mà chỉ khảo sát các tham thoại hoàn chỉnh trong một lượt lời, có sự xuất hiện đồng thời cả hành động rào đón và hành động chủ hướng
Trang 26e Hành động ngôn từ (còn gọi là hành vi ngôn ngữ - speech act): Là đơn vị
tối thiểu tạo nên tham thoại Một tham thoại có thể chỉ có một hành động nhưng cũng có thể lớn hơn một hành động Các ứng xử bằng lời (và bằng các yếu tố kèm ngôn ngữ) đều căn cứ vào các hành động ngôn từ đi trước Chúng tôi sẽ trình bày kĩ
hơn về hành động ngôn từ ở mục 1.2.2 trong chương này của luận án
1.2.1.3 Tương tác hội thoại
Tương tác là sự tác động vào nhau, cùng làm cho nhau biến đổi Tương tác hội thoại được hiểu là các nhân vật giao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại với nhau làm biến đổi lẫn nhau Nhân vật hội thoại cũng là nhân vật liên tương tác (interactants) Họ tác động lẫn nhau về mọi phương diện, quan trọng nhất là tác động đến lời nói của nhau Liên tương tác trong hội thoại trước hết là liên tương tác giữa các lượt lời Như thế, lượt lời vừa là cái chịu tác động, vừa là phương tiện sử dụng để gây ra tác động đối với lời nói và qua lời nói mà tác động đến tâm sinh lý của các nhân vật giao tiếp
Các nhân vật tham gia hội thoại là những cá nhân có nhiều sự khác biệt, thậm chí đối lập nhau về văn hóa, nhận thức, tâm lí, tình cảm, nhu cầu, ý muốn, thói quen Bằng quá trình tương tác hội thoại, những khác biệt này hoặc sẽ giảm đi
hoặc sẽ tăng lên, có khi thành xung đột Rào đón được xem là một trong những
hành động ngôn ngữ góp phần làm cho cuộc tương tác phát triển theo hướng tích cực, tức là góp phần rút ngắn khoảng cách, sự khác biệt nói trên, đồng thời góp phần duy trì và củng cố mối quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp
1.2.1.4 Quy tắc hội thoại
Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định Những quy tắc này không chặt chẽ như những quy tắc ngôn ngữ học thuần túy nhưng đòi hỏi những người tham gia hội thoại phải tôn trọng chúng thì hội thoại mới đạt đích giao tiếp Các quy tắc hội
thoại thường gặp là: quy tắc thương lượng, quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quy
tắc điều hành nội dung cuộc thoại, quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân Sau đây,
chúng tôi sẽ trình bày về quy tắc hội thoại có liên quan trực tiếp đến đề tài, đó là quy tắc điều hành nội dung cuộc thoại, quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân
a Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại: Quy tắc cộng tác (cooperative principle)
Quy tắc cộng tác gắn liền với tên tuổi của nhà ngôn ngữ học H.P Grice Quy
Trang 27tắc này được tác giả trình bày trong tác phẩm Logic và hội thoại (Logic and
Conversation), xuất bản năm 1975 Nội dung của nó được phát biểu như sau: Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện, phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào Quy tắc này bao trùm bốn phạm trù mà Grice gọi tên là
phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức Mỗi phạm trù đó tương ứng với một “tiểu nguyên tắc” mà Grice sẽ gọi là phương châm (maxim); mỗi phương châm lại gồm một số “tiểu phương châm”:
<1> Phương châm về lượng:
a Hãy làm cho phần đóng góp của bạn có chứa thông tin như nó được đòi hỏi (đối với mục đích hiện hữu của lần trao đổi đó)
b Không làm cho phần đóng góp của bạn chứa nhiều tin hơn đang đòi hỏi
<2> Phương châm về chất: Cố gắng làm cho phần đóng góp của bạn là chân thực
a Không nói điều mà bạn tin là không chân thực
b Không nói điều mà bạn không chứng minh thỏa đáng được
<3> Phương châm về quan hệ: Phải trọng yếu (quan hệ một cách cần thiết với việc dùng, không chệch ra ngoài đề tài đang nói, hay chỉ nói những gì là trọng yếu, quan yếu)
<4> Phương châm về cách thức: Cần nói sao cho rõ ràng, tránh diễn đạt tối nghĩa, tránh mơ hồ và phải nói theo một trình tự hợp lí
Quy tắc cộng tác gắn với bốn phương châm hội thoại của Grice được xem như một căn cứ để định giá mức độ cộng tác của nhân vật tham gia giao tiếp, đánh giá độ liên kết trong cuộc thoại hoặc căn cứ để kết luận cuộc thoại đó thành công hay thất bại, chuẩn mực hay không chuẩn mực Tuy nhiên, nguyên tắc cộng tác dường như chỉ
có tác dụng đối với những cuộc thoại mà mục đích là truyền báo thông tin miêu tả, tức là những nội dung được đánh giá theo tiêu chí đúng - sai logic Nó không thể giải thích động cơ vận hành của những cơ chế tạo ra nội dung và đích liên cá nhân - là những nội dung không thể đánh giá theo tiêu chí đúng sai được
Trong thực tế giao tiếp, không phải với mọi cuộc thoại, các phương châm đó đều được tuân thủ một cách nghiêm túc Sự phá vỡ một (hoặc hơn một) trong bốn phương châm đó được coi là một trong những cơ sở tạo ra nghĩa hàm ẩn Việc vi
Trang 28phạm một cách cố ý các phương châm hội thoại của Grice để tạo ra nghĩa hàm ẩn hay nhằm mục đích khác sẽ không được người nói nói ra hoặc đưa ra các dấu hiệu chỉ dẫn sự vi phạm Do đó, phải gắn phát ngôn với hoàn cảnh giao tiếp, với mối quan hệ liên cá nhân diễn ra trong tiền ngôn cảnh giữa người nói - người nghe mới đoán được sự vi phạm/ không vi phạm nguyên tắc cộng tác trên Điều đáng nói ở đây là sự vi phạm một cách cố ý này nằm trong giới hạn cho phép và được sự chấp thuận vô điều kiện của những người tham gia hội thoại Ngược lại, khi người nói không chủ định tạo ra hàm ý hội thoại nhưng lại ý thức rõ phát ngôn của mình có nguy cơ vi phạm một trong các quy tắc đó, người nói thường sử dụng các biểu thức rào đón như một dấu hiệu chỉ dẫn, lưu ý cho người nghe biết rõ về sự vi phạm đó Các quy tắc cộng tác hội thoại của H P Grice, do đó, đã được nhiều nhà nghiên cứu vận dụng làm cơ sở để giải thích cho sự tồn tại và hoạt động của các yếu tố rào đón trong phát ngôn
b Quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân: Phép lịch sự (politeness, politesse) Trong hội thoại, ngoài quan hệ trao đổi thông tin còn có quan hệ liên cá nhân
- quan hệ được điều hành bởi phép lịch sự đúng như nhận định của C.K Orecchioni (1992): “Phép lịch sự liên quan tới tất cả các phương diện của diễn ngôn: 1 Bị chi
phối bởi các quy tắc; 2 Xuất hiện trong địa hạt quan hệ liên cá nhân; 3 Và chúng
có chức năng giữ gìn tính chất hài hòa quan hệ đó (ở mức thấp nhất là giải tỏa những xung đột tiềm tàng, tốt hơn nữa là làm cho người này trở thành càng dễ chịu với người kia thì càng tốt)” [135, tr 163] Như vậy, lịch sự chỉ hình thành, có mặt
và phát huy tác dụng khi có tương tác trong hội thoại
Từ những năm 70 của thế kỉ XX, lịch sự đã thực sự trở thành một đối tượng trong nghiên cứu khoa học - lí thuyết lịch sự (Theory of politeness) và đồng thời trở thành mối quan tâm lớn của ngữ dụng học Những tác giả tiêu biểu nhất trong lĩnh vực này phải kể đến R Lakoff, P Brown, S Levinson, G.N Leech, G Kasper, C.K Orecchioni Hiện nay có ba cách tiếp cận về lịch sự, đó là:
1/ Cách tiếp cận lịch sự theo quan điểm chiến lược của Lakoff (1973), Brown
& Levinson (1978), Leech (1983) Với cách tiếp cận này, lịch sự được xem như là chiến lược hay phương tiện tránh đụng độ trong giao tiếp Lịch sự chiến lược là cách ứng xử ngôn ngữ khôn khéo, tế nhị nhằm tránh xúc phạm hay áp đặt và làm tăng sự vừa lòng đối với người đối thoại để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất
Trang 292/ Cách tiếp cận lịch sự theo quan điểm chuẩn mực của một số tác giả: Ide (1989), Hill et al (1986), Matsumoto (1988), Gu (1990)
3/ Cách tiếp cận tổng hợp, dung hòa các quan niệm chiến lược và chuẩn mực
xã hội của Kasper (1990), Vũ Thị Thanh Hương (2000)
Sau đây là một số quan niệm về lịch sự của một số tác giả tiêu biểu
R Lakoff (1975) và G N Leech (1980) là hai tác giả xem lịch sự là những quy tắc đối với quan hệ liên cá nhân (tương tự như quy tắc cộng tác và các phương châm hội thoại của H P Grice là quy tắc đối với sự trao đổi thông tin) Theo R Lakoff, lịch sự là thể diện âm tính (negative face) với những hành động né tránh, không tọc mạch vào đời tư, tôn trọng sự tự do của đối tác, thu hẹp khoảng cách
trong quan hệ thân tình Tác giả đã nêu lên ba quy tắc lịch sự: 1/ Quy tắc không
được áp đặt; 2/ Quy tắc dành cho người nghe sự lựa chọn; 3/ Quy tắc khuyến khích tình cảm bạn bè
Còn theo G N Leech, phép lịch sự về căn bản được xây dựng dựa trên hai khái niệm: tổn thất (cost) và lợi ích (benefit), gồm một siêu nguyên tắc (như nguyên tắc cộng tác) và các phương châm, tiểu phương châm Siêu nguyên tắc lịch sự của Leech yêu cầu các bên giao tiếp tăng tối đa tổn thất cho mình và tăng tối đa lợi ích cho người, chúng được cụ thể hóa thành 6 phương châm lịch sự lớn:
1/ Phương châm khéo léo, 2/ Phương châm rộng rãi, 3/ Phương châm tán thưởng, 4/ Phương châm khiêm tốn, 5/ Phương châm tán đồng, 6/ Phương châm thiện cảm
Quan niệm về lịch sự của Leech rất gần gũi với mã văn hóa ứng xử của người Việt, được tác giả Đỗ Thị Kim Liên phát biểu thành hai nguyên tắc: nguyên tắc tôn trọng thể diện người nghe và nguyên tắc khiêm tốn về phía người nói [70, tr 222 - 224]
G N Leech cũng đã chỉ ra ba nhân tố quyết định mức độ lịch sự của một hành động
ở lời, đó là: bản chất của hành động ở lời, hình thức ngôn ngữ thể hiện hành động ở lời và quan hệ liên cá nhân giữa những người thực hiện hành động ở lời và người đối thoại
P Brown và S Levinson là hai tác giả có nhiều đóng góp quan trọng khi nghiên
cứu về lịch sự, thể hiện trong cuốn Lịch sự - Một vài phổ niệm trong dụng ngôn (Politeness - Some Universals in Language Usage - tái bản lần thứ hai năm 1987)
Theo P Brown và S Levinson, phép lịch sự trong giao tiếp hội thoại có
liên quan đến thể diện người nói và người nghe khi giao tiếp Thể diện (face) được
Trang 30định nghĩa là “Hình ảnh cái tôi xã hội (public self - image) mà mỗi thành viên đều
muốn đòi hỏi cho mình” Cái hình ảnh này có thể bị làm tổn hại, cũng có thể được
giữ gìn hay đề cao trong tương tác hội thoại P Brown và S Levinson phân biệt
hai loại thể diện: thể diện tiêu cực (negative face) và thể diện tích cực (positive face) Thể diện tiêu cực (hay thể diện âm tính) là những đòi hỏi cơ bản về lãnh địa
(territories), sự riêng tư cá nhân, quyền không bị quấy phá - tức quyền tự do hành
động và tự do từ chối sự áp đặt Với thể diện tiêu cực, con người có nhu cầu độc lập Thể diện tích cực (hay thể diện dương tính) là hình ảnh cái tôi hay nhân cách
(personalyti) nhất quán và tích cực mà các thành viên tương tác muốn có cho mình (cơ bản bao gồm mong muốn rằng hình ảnh cái tôi này của mình được đánh giá và ủng hộ)
Như vậy, phép lịch sự chính là tổng thể những cách thức mà người tham gia hội thoại dùng để giữ thể diện cho nhau Đó là một sự đòi hỏi những người trong cuộc thoại phải tránh xa những hành động gây tổn hại đến thể diện người đối thoại với mình cũng như cố gắng giữ thể diện cho mình
Về việc phân loại tiểu nhóm hành động lịch sự, hai tác giả P Brown và
S Levinson đã chia ra có hai nhóm:
- Nhóm hành động ngôn từ đe dọa thể diện tích cực hay thể diện tiêu cực của
người tham gia hội thoại (Face Threatening Acts, viết tắt là FTA) như ra lệnh, phê
bình, hỏi, chê bai, từ chối,
- Nhóm hành động ngôn từ tôn vinh thể diện tích cực hay thể diện tiêu cực
của người tham gia hội thoại (Face Flattering Acts, viết tắt là FTA) như cảm ơn,
khen ngợi, tán đồng,
Tương ứng với hai nhóm hành động trên là phép lịch sự tích cực (phép lịch
sự dương tính) và phép lịch sự tiêu cực (phép lịch sự âm tính) Phép lịch sự tiêu cực
là phép lịch sự hướng vào thể diện tiêu cực (thể diện âm tính) của người tiếp nhận
Nó tránh không dùng các FTA bằng cách thay thế FTA bằng một hành động khác (như dùng lối nói gián tiếp, giảm thiểu sự áp đặt ), còn khi buộc phải thực hiện các FTA thì cần thực hiện bằng cách bù đắp sao cho mức độ tổn hại ở mức thấp nhất (như nói giảm, sử dụng các lời nói ướm hay còn gọi là lối nói vòng, tiền dẫn nhập,
rào đón ) Phép lịch sự tích cực là phép lịch sự nhằm vào thể diện tích cực (thể
diện dương tính) của người tiếp nhận Nó thực hiện những hành động đề cao, tôn
Trang 31vinh thể diện của người nhận (đó là những cách nói nhằm bày tỏ cho người nghe cảm thấy sự chú ý của người nói về người nghe; tán dương, bày tỏ thiện cảm đối với người nghe; gia tăng sự quan tâm đến người nghe hay sử dụng những dấu hiệu báo hiệu mình cùng nhóm với người nghe )
Các nghiên cứu của Cheng, Mao (Trung Quốc); Haugh (Nhật Bản); Yu (Hàn Quốc); Vũ Thị Thanh Hương, Nguyễn Quang (Việt Nam) đã chỉ ra rằng, bản thân khái niệm “lịch sự” ở nhiều nền văn hóa phương Đông có xuất xứ liên quan đến một số giá trị cơ bản của Nho giáo Do vậy, các thang độ của lịch sự trong giao tiếp
ở những nền văn hóa này có thể được lý giải dựa trên các giá trị về giao tiếp của Nho giáo chứ không hẳn là dựa vào mô hình lịch sự của Brown & Levinson, mặc dù
lý thuyết lịch sự của hai tác giả này được coi là học thuyết có ảnh hưởng lớn nhất trong nghiên cứu về lịch sự nói riêng và giao tiếp nói chung (R J Watts, 2003)
Phạm Thị Hồng Nhung (2007) trong bài viết Áp đặt trong lời mời của văn hóa Á
Đông là hành động đe dọa thể diện âm tính hay chiến lược lịch sự dương tính: Tiếp cận từ góc độ Nho giáo (trên cứ liệu tiếng Việt, tiếng Trung và tiếng Nhật) đã phân
tích và chứng minh rằng: sự áp đặt trong lời mời của văn hóa Á Đông nếu bị xem là hành động đe dọa thể diện âm tính theo tiêu chí về lịch sự của Brown & Levinson thì quan niệm đó gần như trái ngược hoàn toàn với chuẩn mực lịch sự của người Á
Đông nếu nhìn từ góc độ văn hóa Nho giáo Tác giả kết luận: “tuy mô hình lịch sự
của Brown & Levinson có sức giải thích rất lớn đối với các chiến lược lịch sự, nhất
là ở các nước phương Tây nhưng nó vẫn không thể giải thích hợp lí một số hiện tượng ngôn ngữ lời nói gắn liền với các giá trị văn hóa mà trong đó hành động lời nói đó được thực hiện” [81]
Tóm lại, hội thoại một cách chân thực đòi hỏi người tham gia phải tôn trọng những quy tắc chung của hội thoại cũng như những quy tắc riêng của từng cuộc thoại (quy tắc sử dụng các hành động ngôn ngữ) Nếu những quy tắc cộng tác của
H P Grice chủ yếu đề cập đến mối quan hệ trao đổi thông tin, như chính tác giả đã
thừa nhận đó là mục đích “tìm kiếm hiệu quả tối ưu của sự trao đổi thông tin” thì
các quy tắc về lịch sự sẽ đề cập đến phương diện liên cá nhân của hội thoại Chúng
là những quy tắc có thực, được những người tham gia giao tiếp tuân thủ một cách
vô điều kiện Nghiên cứu hội thoại không thể không đề cập đến những quy tắc đó - những quy tắc làm cơ sở, đứng đằng sau sự vận hành của hội thoại
Trang 321.2.2 Lý thuyết hành động ngôn từ
1.2.2.1 Khái quát chung về hành động ngôn từ
Lý thuyết hành động ngôn từ gắn liền với tên tuổi của John Langshaw Austin (1911 - 1960), giáo sư triết học đạo đức, thuộc trường phái triết học ngôn ngữ đời thường, đại học Oxford Theo John Lyons [72], bản thân Austin chưa hề trình bày lý thuyết được phát triển đầy đủ về hành động ngôn từ Di cảo cuối cùng là tập bài giảng William James 1967/8 ông đọc ở Harvard vào năm 1955 và sau khi ông mất, được
công bố với tên gọi How to do things with words (Nói là hành động) (1962) Mặc dù
vậy, không thể phủ nhận công lao của Austin trong việc mở ra một hướng nghiên cứu mới trong ngôn ngữ học “Mục tiêu chính của Austin, ít nhất ở buổi ban đầu, là xem xét lại điều mà ông nhìn nhận như là ngụy thuyết miêu tả: Quan điểm cho rằng cái chức năng của ngôn ngữ được quan tâm duy nhất về mặt triết học là chức năng xây dựng những phán đoán đúng sai” Ông đã chỉ ra rằng trong số những phát ngôn thường ngày của chúng ta, số phát ngôn giả phán đoán là nhiều hơn so với số được thừa nhận bởi những người theo thẩm định luận hoặc những người chống đối họ Ví
dụ, theo Austin, nếu ta phát ngôn câu: I promise to pay you $5 (Tôi hứa trả anh chị 5
bảng) với mục đích là hứa (và báo cho người nghe biết là ta đang tạo ra một lời hứa), thì ta không phải đang nói gì đó, có thể đúng hoặc sai, do ta nhận thức được, mà chính là ta cam kết thực hiện một hành động cụ thể [72, tr 247 - 248]
Tư tưởng của J Austin đã được các học trò của ông tiếp thu và phát triển, hình thành nên lý thuyết hành động nói (hành động ngôn từ) Và hành động ngôn từ
là một thuật ngữ nằm trong hệ thống lý thuyết này, trong cái ý cho rằng: nói cũng là một thứ hành động (chứ không chỉ riêng sự vận động vật chất mới là hành động) Chẳng hạn, khi miêu tả, kể, nhận xét, khuyên, hứa hẹn, mời mọc là chúng ta đang hành động - hành động bằng ngôn ngữ Ta có thể dùng thuật ngữ hành động ngôn từ (hành động nói, hành động ngôn ngữ) để chỉ những hành động bộ phận bằng ngôn ngữ của con người
J Austin và những nhà ngữ dụng học đi sau như J Searle, S Levinson, E B White đã chia ra: hành động tạo lời, hành động mượn lời và hành động ở lời
- Hành động tạo lời (locutionary act):
Hành động tạo lời là hành động vận động các cơ quan phát âm, sử dụng các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ như ngữ âm, ngữ điệu, vốn từ, các quy tắc kết hợp để
Trang 33tạo ra những phát ngôn đúng về hình thức và cấu tạo hay những văn bản có thể hiểu được Nhờ hành động tạo lời, chúng ta hình thành nên những biểu thức có nghĩa
- Hành động mượn lời (perlocutionary act):
Hành động mượn lời là hành động mà người nói mượn phương tiện ngôn ngữ nhằm gây ra một hiệu lực ngoài ngôn ngữ đối với người nghe Loại hành động này có đích tác động cụ thể Tuy nhiên, hiệu quả này không giống nhau ở những người nghe khác nhau
- Hành động ở lời (illocutionary act):
Hành động ở lời là hành động được người nói thực hiện ngay khi nói như:
hỏi, trả lời, ra lệnh, tuyên bố, yêu cầu, khuyên nhủ, cấm đoán, nhận xét, Hiệu quả
của chúng gây ra những sự tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gây phản ứng với người nghe Chẳng hạn, khi người nói thực hiện hành động hỏi thì buộc người nghe phải đáp lại hành động đó bằng cách trả lời vào nội dung câu hỏi Theo O Ducrot, hành động ở lời khác hành động tạo lời và hành động mượn lời ở chỗ chúng làm thay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại Chúng đặt người nói và người nghe vào nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành động ở lời đó Ví dụ, khi ta hứa với ai một điều gì thì ngay lúc hứa ta đã bị ràng buộc vào trách nhiệm phải thực hiện cho được lời hứa của chúng ta và người nghe
có quyền chờ đợi được hưởng kết quả của lời hứa đó
J.R Searle nhấn mạnh: Đối với bất kì sự giao tiếp nào, điều cốt lõi là phải bao hàm một hành động ngôn từ Đơn vị của giao tiếp ngôn ngữ không phải là một
kí hiệu, từ hay câu, hay thậm chí là vật sở chỉ cụ thể (tocken) của kí hiệu, của từ hay của câu như người ta vẫn thường nghĩ thế mà chính sự sản sinh (production) ra cái
sở chỉ cụ thể khi thực hiện hành động ngôn trung mới là đơn vị cơ bản của giao tiếp bằng ngôn ngữ Nói một cách chính xác hơn, sự tạo sinh ra cái sở chỉ của câu trong những điều kiện nhất định chính là hành động ngôn trung, và chính hành động này
là đơn vị nhỏ nhất của sự giao tiếp bằng ngôn ngữ [116, tr 88-89]
Ba hành động: tạo lời, mượn lời và ở lời được thực hiện đồng thời khi tạo ra một diễn ngôn Tuy nhiên, ngữ dụng học chủ yếu nghiên cứu các hành động ở lời (trong lời, ngôn trung) Phần đông các nhà Việt ngữ học như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban, Đỗ Thị Kim Liên, Lê Đông, cũng đã tiếp nhận và vận dụng lý thuyết hành động ngôn ngữ này vào nghiên cứu tiếng Việt
Trang 34Hành động nói mà con người thực hiện trong giao tiếp hàng ngày có số lượng
vô cùng phong phú với những hình thức biểu hiện rất đa dạng Một hành động nói có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn: Một hành động cầu khiến (như muốn ai đó mở cửa) có thể được thực hiện dưới hình thức của một lời cầu khiến trực
tiếp: Anh mở cửa ra đi!, hoặc có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác như một câu hỏi: Anh có thể mở giúp tôi cái cửa được không?; một nhận xét cảm thán: Phòng này đóng cửa nên ngột ngạt quá; hay nêu ra một giả thiết đầy ẩn ý: Giá
có ai đó mở hộ cái cửa thì hay biết mấy! Ngược lại, một hình thức biểu hiện nào đó
cũng có thể thực hiện nhiều loại hành động khác nhau Ví dụ một phát ngôn có hình
thức câu hỏi rất quen thuộc như: Anh có biết bây giờ là mấy giờ rồi không? được
dùng để thực hiện một hành động hỏi tìm kiếm thông tin (tôi muốn anh cho tôi biết bây giờ là mấy giờ rồi), nhưng đôi khi nó lại là hình thức của một hành động cảnh cáo (anh đã đến muộn!), hoặc thậm chí là một hành động từ chối (bây giờ thì đã muộn rồi anh ạ) Dĩ nhiên, câu trả lời trong cả ba trường hợp trên sẽ hoàn toàn khác
nhau: với hành động hỏi, câu trả lời có thể khẳng định: 6 giờ 45; có thể phủ định: Tôi
không rõ vì tôi cũng không có đồng hồ; với hành động cảnh cáo, người nghe có thể
trả lời bằng hành động nhận lỗi: Xin lỗi, tôi đã đến muộn, hoặc chống chế: Vẫn còn
sớm mà/ Vẫn chưa đến giờ mà; còn với lời từ chối, người nghe có thể thuyết phục
thêm: còn sớm mà em hoặc thay bằng một đề nghị khác: Vậy thì lần sau nhé! Có
thể nói, ngữ dụng học với bốn nhiệm vụ chính: nghiên cứu phần ý nghĩa thuộc về người nói, nghiên cứu ý nghĩa thuộc về ngữ cảnh, nghiên cứu những cách giúp thông báo được nhiều hơn những gì được nói ra (bằng lời) và nghiên cứu về việc thể hiện khoảng cách tương đối, cùng với lý thuyết hành động nói đã cho phép chúng ta hiểu một cách đầy đủ, chính xác nhất thông điệp được phát ra cũng như biết cách làm thế nào để truyền đi một thông điệp có hiệu quả nhất
Có nhiều tham tố giúp ta nhận biết một hành động nói cụ thể, trong đó chủ yếu là ngữ cảnh, quan hệ liên cá nhân giữa người nói và người nghe, thái độ của người nói trong lời nói thể hiện mục đích của họ Mục đích của người nói thể hiện trong lời nói của họ gọi là đích ngôn trung, tức là cái đích cuối cùng mà người nói muốn thực hiện bằng cách nói ra một điều gì đó Chẳng hạn, khi chúng ta hỏi người
ngồi bên trong bàn ăn: Anh có thể chuyển giúp tôi lọ muối được không? thì cái đích,
mục đích cuối cùng mà người nói muốn người nghe thực hiện không phải là trả lời
Trang 35về khả năng đó của anh ta (có thể chuyển lọ muối được không) mà là đề nghị anh ta thực hiện một việc là chuyển lọ muối cho mình Và như vậy, đích ngôn trung trong
ví dụ trên không phải là hỏi mà là cầu khiến Trong các cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ (trừ những trường hợp đặc biệt người nói không muốn người nghe hiểu thông điệp của mình), thông thường, người nói bao giờ cũng cố gắng để lộ ý định trong hành động nói của mình để người nghe nắm bắt được
1.2.2.2 Điều kiện thực hiện hành động ở lời
Hành động ở lời cũng như mọi hành động vật lí, sinh lý khác, không phải được thực hiện một các tùy tiện mà cần phải có điều kiện nhất định, đó là điều kiện phải đáp ứng để hành động ở lời này có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó Sau đây chúng tôi trình bày điều kiện sử dụng hành động ở lời của hai tác giả: J L Austin và J.R Searle
a Điều kiện thực hiện hành động ở lời của J L Austin
J L Austin gọi các điều kiện thực hiện hành động ở lời là “điều kiện may mắn”, chúng đảm bảo cho sự thành công của các hành động ở lời Những “điều kiện may mắn” đó được Austin nêu như sau:
A a) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này cũng phải có hiệu quả có tính quy ước; b) Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều kiện quy định trong thủ tục
B Thủ tục phải được thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ
C Thông thường, những người thực hiện hành động ở lời phải có ý nghĩ, tình cảm, ý định giống như đã được đề ra trong thủ tục, và khi hành động diễn ra thì
ý nghĩ, tình cảm, ý định đúng như nó đã có
b Điều kiện thực hiện hành động ở lời của J R Searle
Trên cơ sở phân tích một hành động ở lời: hành động hứa (promise), J R
Searle đã có những điều chỉnh và bổ sung vào những điều kiện may mắn của J L Austin Theo Searle, mỗi hành động ở lời đòi hỏi phải có những hệ điều kiện (còn được gọi là quy tắc - rules) để cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả đúng với đích của
nó Searle gọi chúng là điều kiện sử dụng hay điều kiện thỏa mãn, đó là bốn điều kiện sau:
A Điều kiện nội dung mệnh đề (Propositional content rule): chỉ ra bản chất
của nội dung hành động Điều kiện này liên quan đến cấu trúc ngữ nghĩa của nội
Trang 36dung mệnh đề, tức là phải có phát ngôn chứa nội dung cụ thể
B Điều kiện chuẩn bị (Perparatory rule): gồm những hiểu biết của người
phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và người nghe
C Điều kiện chân thành (Cincerity rule): chỉ ra các trạng thái tâm lý tương
ứng của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan
hệ giữa người nói và người nghe, như xác tín đòi hỏi niềm tin, mệnh lệnh đòi hỏi mong muốn, hứa hẹn đòi hỏi ý định người nói Điều kiện này cho thấy người nói chân thành mong đợi hiệu quả ngoài lời của hành động mà mình thực hiện
D Điều kiện căn bản (Ensential rule): là điều kiện đưa ra trách nhiệm mà
người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành động ở lời đó được phát ra Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ thực hiện hoặc với tính chân thực của nội dung mệnh đề
Đây cũng là bốn điều kiện để chúng tôi xét hành động rào đón trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
Điều kiện sử dụng hành động rào đón bao gồm:
+) Nội dung mệnh đề: Người nói đưa ra nội dung có tính chất ngăn ngừa
hoặc hạn chế những hiểu lầm, những phản ứng không hay của người nghe đối với điều mình sắp nói ra hoặc vừa mới được nói ra
+) Điều kiện chuẩn bị: Người nói cho rằng mình sắp nói ra (hoặc vừa nói ra)
một điều gì đó có thể khiến người nghe:
- Có khả năng hiểu không đúng nội dung thông tin, thái độ tình cảm hoặc mục đích của người nói
- Có khả năng dẫn đến những phản ứng không hay đối với người nói hoặc đối với chính người nghe, hoặc đối với nội dung mệnh đề
- Có khả năng chịu những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần
+) Điều kiện chân thành: Người nói tin rằng những lời rào đón của mình sẽ
là những chỉ dẫn cần thiết để người nghe hiểu đúng nội dung và mục đích của thông điệp đã và sắp được nói ra Người nói mong muốn ngăn ngừa hoặc giảm thiểu ít nhiều những hiểu lầm hoặc phản ứng không hay có thể có
+) Điều kiện căn bản: Người nói có trách nhiệm về những điều được nói ra
trong mệnh đề rào đón Người nghe có thời gian ổn định tâm lý để đón nhận thông
Trang 37điệp chính của phát ngôn, tránh được những yếu tố bất ngờ và những phản ứng ngoài mong muốn
1.2.2.3 Phân loại các hành động ngôn ngữ
Có nhiều cách phân loại các hành động ngôn ngữ khác nhau thể hiện ở các tác giả: J L Austin, J.R Searle, A Wierzbicka, K Allan, D Wunderlich, F Recanati, K Bach, M Harnish Trong đó, cách phân loại của J.L Austin và J.R Searle được biết đến rộng rãi hơn cả
a Cách phân loại của J L Austin (1962)
Austin đã chia các hành động ngôn ngữ thành 5 phạm trù lớn căn cứ vào động từ ngữ vi trong tiếng Anh: phán xử, hành xử, cam kết, trình bày, ứng xử
- Phán xử (verdictives): Là những hành động đưa ra những lời phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên chứng cớ hoặc lí lẽ phù hợp: đánh giá, miêu
tả, phân loại, ước lượng,
- Hành xử (exercitives): Là những hành động đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó: ra lệnh, chỉ huy, khẩn cầu,
- Cam kết (commissives): Là những hành động ràng buộc người nói vào chuỗi những hành động nhất định, như: hứa hẹn, giao ước, bảo đảm, thề nguyền,
bày tỏ, mong muốn
- Trình bày (expositives): Là những hành động được dùng để trình bày các quan niệm, lập luận, giải thích như: khẳng định, phủ định, phản bác, trả lời
- Ứng xử (behabitives): Là những hành động phản ứng với cách xử sự của người
khác đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là các biểu hiện thái độ đối với
hành vi hay số phận người khác: xin lỗi, cảm ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán
Như nhiều nhà nghiên cứu nhận xét và ngay cả bản thân Austin cũng thừa nhận, sự phân loại này vẫn còn nhiều chỗ chưa thỏa đáng, thậm chí còn có sự chồng chéo và chưa xác định một cách rõ ràng sự khác biệt giữa những hành động
ở lời cụ thể
b Cách phân loại của J R Searle (1975)
Searle cho rằng, việc phân loại hành động ngôn ngữ phải dựa vào các tiêu chí phù hợp Ông đã xác lập bộ 12 tiêu chí, trong đó có 4 tiêu chí căn bản nhất, đó là: đích ở lời, hướng khớp ghép lời, trạng thái tâm lý và nội dung mệnh đề Trên cơ sở
đó, Searle phân loại hành động ngôn ngữ thành 5 nhóm lớn:
Trang 38- Các hành động biểu hiện (representatives): Là hành động nói trình bày những gì mà người nói tin là đúng hoặc không đúng như: miêu tả, tường thuật, kể
Đích hay mục đích của các hành động biểu hiện là ở mức độ cam kết của người nói đối với việc thông báo tình hình của sự việc, đối với tính chân thực của phán đoán được nêu ra; Hướng khớp ghép là từ ngữ - thế giới; Trạng thái tâm lí được biểu hiện
thế giới - từ ngữ; Điều kiện chân thành là sự mong muốn
- Các hành động kết ước (commissives): Là hành động nói mà người nói
dùng để ràng buộc chính mình vào việc thực hiện một việc nào đó trong tương lai
như: hứa hẹn, thề nguyền, cam kết Đích ngôn trung của lớp này là đặt sự ràng
buộc (với những mức độ khác nhau) cho người nói thực hiện một hành động nào đó trong tương lai hoặc tuân theo một tuyến hành vi xác định; Hướng khớp ghép ở đây
là thế giới - từ ngữ; Điều kiện chân thành là chủ định
- Các hành động biểu cảm (expressives): Là hành động nói trình bày trạng thái tâm lý của người nói do cảm nhận được sự vật nào đó như: hài lòng, yêu thích,
ruồng rẫy, tức giận Đích ngôn trung của lớp này là biểu lộ một trạng thái tâm lý
do điều kiện chân thành đối với tình trạng của sự vật đem lại, tình trạng của sự vật được xác định trong khuôn khổ của nội dung mệnh đề; Hướng khớp ghép có thể là
Trang 391.2.2.4 Hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp
Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, một loại hành động đặc biệt
mà phương tiện là ngôn ngữ Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói Sp1 phát ra một phát ngôn cho người nghe Sp2 trong một ngữ cảnh nhất định gắn với một mục đích nhất định như hỏi, yêu cầu, hứa hẹn, mời mọc, khẳng định, phủ định Nhưng trong thực tế giao tiếp, một phát ngôn thường không phải chỉ có một đích ở lời mà đại bộ phận các phát ngôn đều có thể chứa đựng hơn một đích ở lời, cũng tức là các phát ngôn đó được xem như đồng thời thực hiện một số hành vi Dựa vào mối quan hệ giữa hình thức biểu hiện và đích ở lời, có thể chia thành hai loại hành động: hành động ở lời trực tiếp và hành động ở lời gián tiếp
a Hành động ở lời trực tiếp: là những hành động được thực hiện đúng với
đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng chúng Các hành động đó có sự tương ứng
giữa cấu trúc bề mặt với hiệu lực mà nó gây nên, hoặc nói như G Yule thì đó là mối
liên hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng [122, tr 110] Ví dụ:
(a) - Tháng này ở biển vẫn còn sương chứ?
(b) - Anh đi đi và đừng bao giờ xuất hiện trước mặt tôi thêm một lần nào nữa! Các phát ngôn trên đều là hành động ở lời trực tiếp, chúng có đích ngôn trung hiển ngôn được biểu hiện trực tiếp bởi các dấu hiệu hình thức ngôn từ đặc trưng cho nó: tương ứng với câu hỏi trong (a) là hiệu lực hỏi, với câu cầu khiến trong (b) là hiệu lực cầu khiến Hành động ở lời trực tiếp tạo ra lời trực tiếp (còn gọi
là lời chính danh)
b Hành động ở lời gián tiếp: là hành động mà người giao tiếp sử dụng trên
bề mặt hành động ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành động ở lời khác Trong thực tế giao tiếp, một phát ngôn thường không phải chỉ có một đích ở lời mà đại bộ phận các phát ngôn được xem như là thực hiện đồng thời một số hành động
Ví dụ:
A: Bác sĩ ơi, em có tí việc muốn hỏi, có gì mong bác sĩ bỏ quá cho, tại em
không hiểu nên mới hỏi, răng (sao) ở đây thuốc này người ta ghi là chống chỉ định
cho trẻ dưới hai tuổi ạ?
B: Thì rứa (thế) tôi mới ghi là chỉ uống ½ viên/1 lần thôi
Mệnh đề chính trong tham thoại dẫn nhập ở ví dụ trên là câu hỏi: răng ở đây
thuốc này người ta ghi là chống chỉ định cho trẻ dưới hai tuổi ạ? nhưng không phải
Trang 40để tìm kiếm thông tin mà thực ra là một lời cảnh cáo nhẹ nhàng: hình như bác sĩ kê nhầm thuốc rồi đấy! - Điều này được người nghe tiếp nhận đúng, do đó, trong câu trả lời, thay vì trả lời trực tiếp vào câu hỏi, người nghe đưa ra một lời biện minh
cũng đồng thời là một sự khẳng định: Thì rứa tôi mới ghi là chỉ uống ½ viên/1 lần
thôi (chứ tôi không kê nhầm) Phần in nghiêng trong ví dụ trên là một tập hợp gồm
ba hành động: thông báo (em có tí việc muốn hỏi), đề nghị (có gì mong bác sĩ bỏ
quá cho) và giải thích (tại em không hiểu nên mới hỏi) Tuy nhiên, đó không phải là
đích cuối cùng mà người nói muốn hướng tới Tất cả chúng là hình thức thể hiện của hành động rào đón, người nói rào đón để tỏ ra khiêm tốn và tránh làm mất lòng người đối thoại, ở đây là bác sĩ - xét trong quan hệ xã hội - là người có quyền lực cao hơn so với bệnh nhân Như vậy, ví dụ trên đã chỉ ra rằng ở đây không có sự tương ứng 1:1 giữa hành động ở lời và cấu trúc bề mặt mà nó gây nên
Như vậy, muốn nhận biết hành động ở lời gián tiếp cần phải:
- Nhận biết hành động ở lời trực tiếp là hành động nào;
- Căn cứ vào nội dung mệnh đề, cụ thể là căn cứ vào cấu trúc quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố tạo nên nội dung mệnh đề Vì hành động ngôn ngữ gián tiếp thường hướng vào người nghe cho nên các thành tố ngữ nghĩa tạo nên nội dung mệnh đề cũng thường có quan hệ nào đấy, hoặc xa hoặc gần với người nghe;
- Căn cứ vào ngữ cảnh, căn cứ vào mối quan hệ liên cá nhân giữa những người thực hiện hành động ở lời gián tiếp với người nghe thì mới xác định đúng hiệu lực ở lời gián tiếp
Có thể xem hiệu lực ở lời gián tiếp là “cái thêm vào” cho một hiệu lực trực tiếp Theo Searle, vấn đề đặt ra là: Làm thế nào mà một người khi nói cái gì đó là muốn nói về điều đó và đồng thời cũng muốn nói một cái gì khác nữa? Và làm thế nào mà một người nghe có thể hiểu được hành động lời nói gián tiếp trong khi điều anh ta nghe được lại là một điều khác? Searle cho rằng cơ chế của hành động ngôn
từ gián tiếp nằm ở chính điều kiện sử dụng của các hành động ngôn từ Chẳng hạn, đối với trường hợp “hỏi” có hiệu lực gián tiếp là yêu cầu, chúng ta có thể hình dung mối quan hệ đó như sau: Nếu chúng ta có mong muốn H (ai đó) thực hiện hành động X (điều kiện chân thành) và chúng ta thấy H hội đủ điều kiện chuẩn bị (H có khả năng thực hiện X) thì thay vì đưa ra lời yêu cầu trực tiếp, ta sẽ hỏi H về khả năng thực hiện hành động X đó Tuy nhiên, ở đây, sự giải thích của Searle lại gợi ý