1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG PHƯƠNG THỨC sản XUẤT CHÂU á

68 154 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 795,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xã hội phương Đông cổ đại là xã hội chủ yếu dựa trên cơ sở bóc lột thuế khóa với giai cấp nông dân, còn giai cấp nô lệ có số lượng không nhiều và phạm vi sử dụng lao động nô lệ trong sản

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

BÀI GIẢNG (Lưu hành nội bộ)

PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á

(Dành cho Sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử)

Tác giả: ThS Lại Thị Hương

Năm 2016

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VỀ PHƯƠNG

THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á

5

1.1 Quá trình hình thành lý luận của chủ nghĩa Mác về Phương thức

sản xuất châu Á và những đặc trưng của nó

5

1.2 Một số quan điểm về Phương thức sản xuất châu Á trên thế giới 12 1.3 Những đặc trưng cơ bản của Phương thức sản xuất châu Á 17

1.3.4 Tính trì trệ, bảo thủ và tồn tại dai dẳng của những xã hội châu Á 41 CHƯƠNG 2 PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á Ở VIỆT NAM

2.3 Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác về Phương thức sản xuất

châu Á vào việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam cổ đại

2.3.5 Quá trình phát sinh, phát triển của PTXS châu Á ở Việt Nam 66

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Phương thức sản xuất châu Á là một vấn đề khoa học đã được nhiều nhà khoa học thế giới và Việt Nam nghiên cứu Phần lớn các nhà sử học mác-xít cho rằng, đến nay lịch sử loài người đã trải qua năm phương thức sản xuất hoặc năm hình thái kinh tế xã hội, đó là: nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa

Phương Đông cổ đại có 4 trung tâm văn minh lớn là Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Hoa và Ấn Độ Đối chiếu với 5 giai đoạn phát triển trên, đa số các nhà

sử học ở Liên Xô và Trung Quốc trước đây đều cho rằng, xã hội phương Đông

cổ đại là xã hội chiếm hữu nô lệ, nhưng đó là chế độ nô lệ tảo kỳ hay chế độ

nô lệ gia trưởng, khác với chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp, La Mã là chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển hay còn gọi là chế độ chiếm hữu nô lệ điển hình Quan điểm này được coi là quan điểm chính thống và được vận dụng để biên soạn các tác phẩm lịch sử phương Đông cổ đại, lịch sử thế giới cổ đại

Xã hội phương Đông cổ đại là xã hội chủ yếu dựa trên cơ sở bóc lột thuế khóa với giai cấp nông dân, còn giai cấp nô lệ có số lượng không nhiều

và phạm vi sử dụng lao động nô lệ trong sản xuất còn rất hạn chế Trong lời

tựa của tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị viết năm 1859,

Mác nói: "Về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất châu Á cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiên tiến dần dần của hình thái kinh tế xã hội"

Như vậy, Mác đã khẳng định, phương thức sản xuất châu Á là một phương thức sản xuất riêng, không cùng một phương thức sản xuất với Hy Lạp và Rôma, tức không phải là chế độ chiêm hữu nô lệ Vậy thì phương thức sản xuất châu Á là gì? Một cuộc tranh luận kéo dài nhiều thập kỷ đã diễn ra Trong khi tìm hiểu vấn đề đó, nhiều học giả đã cho rằng, phương thức sản xuất châu Á là phương thức sản xuất thời kỳ cổ đại ở phương Đông Và về thực chất của nó thì có người cho rằng đó là chế độ chiếm hữu nô lệ, có người lại cho rằng đó là chế độ phong kiến châu Á, người khác lại cho là một chế độ kết hợp giữa chế độ nô lệ, độ phong kiến và chế độ lao động làm thuê và được gọi bằng cái tên: "Chế độ nô dịch" v.v Tình hình đó cho thấy rằng, vấn đề

Trang 4

tính chất của xã hội phương Đông cổ đại trong giới sử học mác-xit vẫn chưa được giải quyết hoàn toàn

Với sử học Việt Nam, đây cũng là một vấn đề cần thiết cho việc nhận thức các phương thức sản xuất đã có trong lịch sử Việt Nam cũng như các di sản của nó Vì vậy, ở nước ta, từ những năm 60 đến đầu những năm 80, những người làm công tác nghiên cứu khoa học xã hội đã quan tâm nghiên cứu và đã

có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này Các học giả như Nguyễn Lương Bích, Nguyễn Hồng Phong, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Chử Văn Tần, Lê Kim Ngân v.v đều cho rằng, phương thức sản xuất của phương Đông cổ đại, trong đó có cả Việt Nam, là phương thức sản xuất châu Á, theo

họ, là xã hội lấy công xã nông thôn làm cơ sở và thành viên công xã là lực lượng chủ yếu

Nhằm nâng cao nhận thức về xã hội phương Đông cổ đại nói chung, xã hội Việt Nam cổ đại nói riêng, thông qua nguồn tài liệu thu thập được, bài giảng nhằm giới thiệu khái quát quá trình hình thành lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin về phương thức sản xuất châu Á, tóm lược các quan điểm của các nhà khoa học thế giới và Việt Nam về phương thức sản xuất châu Á

Đi vào nghiên cứu một vấn đề khoa học rộng lớn và phức tạp, bài giảng khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Mong nhận được sự góp ý xây dựng

từ các thầy cô và và các bạn sinh viên

Trang 5

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VỀ PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á

1.1 Quá trình hình thành lý luận của chủ nghĩa Mác về phương thức sản xuất châu Á

Khái niệm phương thức sản xuất châu Á chính thức ra đời từ tác phẩm

“Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” của Mác (1859) Đó chính là kết quả của quá trình nghiên cứu lâu dài của Mác, từ tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1845-1846), Mác đã phát hiện ra một số đặc điểm của phương thức sản xuất châu Á và chính thức đưa ra sử dụng khái niệm phương thức sản xuất châu Á thay cho khái niệm “hình thái Á châu” Tiếp đó, Mác lại đi sâu làm rõ thêm các đặc điểm đã thấy và phát hiện thêm một số đặc điểm nữa của phương thức sản xuất châu Á Cũng trong tác phẩm đó, Mác viết: “Về đại thể, có thể có các phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế xã hội”

Nhưng phương thức sản xuất châu Á là gì? Nó có những đặc trưng cơ bản nào thì Mác không hề giải thích, mặc dù ông luôn đề cập đến nhiều vấn đề của châu Á

Sau khi có những phát hiện mới về khoa học của Morơ và Moócgan thì không chỉ nội hàm của phương thức sản xuất châu Á được hiểu rõ hơn (tức đókhông chỉ nói về các xã hội châu Á, mà là để nói về các giai đoạn lịch sử sau cộng sản nguyên thủy của xã hội loài người ở các nơi trên thế giới),mà riêng Ăngghen, tuy đồng ý với Mác về nội dung của phương thức sản xuất châu Á, nhưng đã không sử dụng thuật ngữ phương thức sản xuất châu Á trong các công trình của mình

Còn về những đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất châu Á, Mác

và Ăngghen cũng không khái quát lại một cách rõ ràng như các hình thái cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa Đó là những nguyên nhân làm nảy sinh ra sự bất đồng của nhiều nhà nghiên cứu, kể

cả ở phương Đông lẫn phương Tây, khi đề cập đến vấn đề này

Những bất đồng đó xoay quanh các vấn đề:

Trang 6

1) Phương thức sản xuất châu Á có đúng là một hình thái kinh tế - xã hội ngoài năm hình thái đã được khẳng định là: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa không?

bộ lạc, thứ hai là hình thức sở hữu công xã và sở hữu nhà nước, thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp Tất cả các hình thức sở hữu đó đều gắn với sự xuất hiện nhà nước, “trong đó, một giai cấp thống trị tất cả các giai cấp khác”

Không chỉ dừng lại ở việc tìm ra các hình thức sở hữu đầu tiên trong lịch sử nhân loại, trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học” Mác còn phát hiện ra mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một phương thức sản xuất Người chỉ rõ “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất Do có những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình”

Lý luận trên của Mác đã khẳng định sự ra đời và kế tiếp lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội từ sộng sản nguyên thủy đến chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa

Nhưng nhìn sang phương Đông, Mác và Ăngghen lại thấy các xã hội đó

có những nét đặc thù mà không thể lấy các hình thái kinh tế - xã hội kể trên để giải thích

Vào những năm đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XIX, nhìn sang Ấn Độ, Mác

và Ăngghen đã phát hiện ra cái mới Những thư từ mà Mác công bố trước năm

1855 cùng với công trình “Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ” (6/1853) đã cho

Trang 7

thấy rõ những điều rất cơ bản về nét đặc thù của các xã hội phương Đông là

“nhà nước chuyên chế phương Đông – chuyên chế châu Á” và “chế độ công

xã nông thôn”

Nghiên cứu về nhà nước phương Đông, Mác nhấn mạnh: “Ở châu Á, từ những thời kỳ xa xưa, thường thường chỉ có ba ngành quản lý: bộ Tài chính hay là bộ cướp bóc nhân dân của chính nước mình, Bộ Chiến tranh hay là bộ cướp bóc nhân dân các nước khác, và sau cùng là Bộ Công trình công cộng”

Còn về chế độ công xã nông thôn, Mác nêu rõ: “Nhân dân Ấn Độ, rải rác trên khắp lãnh thổ của đất nước, sống tập trung trong những trung tâm nhỏ

bé nhờ vào mối liên hệ có tính chất gia trưởng giữa lao động nông nghiệp và lao động thủ công nghiệp, cả hai tình hình đó, từ những thời kỳ xa xưa nhất,

đã đẻ ra một chế độ xã hội đặc biệt gọi là chế độ công xã nông thôn, chế độ này đã đem lại cho mỗi đơn vị nhỏ bé đó cái tính chất độc lập và đẩy nó vào tình trạng sinh sống biệt lập”

Với tính chất đặc biệt của chế độ công xã nông thôn, Mác nhấn mạnh rằng bao giờ nó “cũng vẫn là cơ sở bền vững của chế độ chuyên chế phương Đông, hạn chế lí trí của con người trong những khuôn khổ chật hẹp nhất, trở thành một “công cụ ngoan ngoãn của mê tín”, trói buộc nó bằng những “xiềng xích nô lệ của các quy tắc cổ truyền”, làm cho nó “mất hết mọi sự vĩ đại, mọi tính chủ động lịch sử”

Ngoài những đặc thù trên, trong xã hội phương Đông, Mác khẳng định:

“Nhà vua là kẻ sở hữu duy nhất tất cả mọi đất đai trong quốc gia” và “ Tình hình không có chế độ tư hữu về ruộng đất Đó là chiếc chìa khóa thật sự ngay

cả cho thiên giới phương Đông”

Năm 1867, trong bộ “Tư bản”, Mác đã nhắc lại đầy đủ những ý kiến và tài liệu về vấn đề này Trong thư gửi Ăngghen, Mác đã trích một đoạn của

“Lịch sử Giava” để thấy rằng tình hình các công xã nông thôn ở Giava, thuộc Đông Nam Á, cũng không khác gì ở Ấn Độ và các nơi khác của châu Á

Mác chú trọng đặc biệt đến sự tồn tại lâu dài những công xã nông thôn

và cho rằng đó là cơ sở quyết định hình thái nhà nước, quyết định toàn bộ diện mạo của xã hội Á châu Ăngghen, qua nhiều tác phẩm của mình, cũng có chung ý kiến như Mác Ông quan tâm đến hai đặc điểm: trước hết và chủ yếu

Trang 8

là công xã nông thôn và thứ hai là hình thái nhà nước chuyên chính ở châu Á được xây dựng trên cơ sở những công xã đó

Ăngghen, qua nhiều tác phẩm của mình, cũng có chung ý kiến như Mác Ông quan tâm đến hai đặc điểm: trước hết và chủ yếu là công xã nông thôn và thứ hai là hình thức nhà nước chuyên chính ở châu Á được xây dựng trên cơ sở những công xã đó

Như vậy, ngoài việc đề cập đến khái niệm “phương thức sản xuất châu Á”, Mác đã nhiều lần nhắc đến những đặc điểm của châu Á, chủ yếu là công

xã nông thôn với những chế độ sở hữu về ruộng đất, về tài sản của nó Khi nghiên cứu các phương thức sản xuất tư bản, phong kiến, cổ đại, Mác đều nói theo tính chất hoặc thời đại của nó, riêng phương thức sản xuất châu Á thì Mác nói theo khu vực và chỉ rõ đó là phương thức sản xuất của một khu vực nhất định, tức châu Á Vì thế, phương thức sản xuất châu Á và những đặc điểm của nó là hai vấn đề không thể tách rời nhau Những đặc điểm của châu

Á mà Mác và Ăngghen đã nói tới chính là nội dung của phương thức sản xuất châu Á

Trong công trình “Những hình thức có trước sản xuất tư bản chủ nghĩa”(1857-1858), Mác đã chứng minh rõ các hình thức sở hữu, chiếm dụng được hình thành trên cơ sở kết hợp giữa kinh tế công nghiệp và kinh tế nông nghiệp và đã cho ra đời chế độ cống nạp – một chế độ bóc lột lao động thặng

dư mà nhà nước thu của thành viên công xã “Trong những điều kiện của chế

độ chuyên chế phương Đông và của tình trạng hình như ở đó không có quyền

sở hữu về mặt pháp lý, thì trên thực tế, với tư cách là cơ sở của chế độ chuyên chế đó, sở hữu bộ lạc hay sở hữu công xã vẫn tồn tại, sở hữu này sinh ra phần lớn là nhờ sự kết hợp giữa kinh tế công nghiệp và nông nghiệp trong khuôn khổ của công xã nhỏ, sự kết hợp đã khiến cho công xã này trở nên hoàn toàn

có thể tồn tại độc lập được và chứa đựng tất cả những điều kiện tái sản xuất và sản xuất mở rộng Một phần lao động thặng dư của công xã thuộc về tập đoàn cao mà tập đoàn này rốt cuộc lại tồn tại dưới dạng một người và lao động thặng dư ấy mang hình thức cống vật”

Quan hệ kinh tế trên đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự chậm ra đời và khó phát triển của đô thị như Mác đã viết: “Lịch sử châu Á – đó là một thể thống

Trang 9

nhất không phân biệt giữa thành thị và nông thôn” “Hình thức châu Á sẽ tồn tại vững bền nhất và lâu nhất Sỡ dĩ như vậy là do những tiền đề của hình thức ấy: cá nhân không trở thành độc lập đối với công xã được, quy mô sản xuất chỉ nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân, nông nghiệp và nghề thủ công làm một”

Đến tác phẩm “Góp phần phê phán khoa Kinh tế chính trị” (1859), Mác

đã chính thức đưa ra khái niệm “phương thức sản xuất châu Á”, coi như một trong những phương thức sản xuất của lịch sử loài người Trước đó, Mác nêu lên quan điểm lý luận về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về điều kiện mất đi của một chế độ xã hội: “Trong sự sản xuất ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất Những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ ” “Không một chế độ xã hội nào lại diệt vong khi tất cả những lực lượng sản xuất mà chế độ xã hội đó đã tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển vẫn còn chưa phát triển,và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, không bao giờ xuất hiện khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó còn chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ”

Từ những luận điểm cơ bản đó, Mác đã khẳng định: “Cho nên, nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được, vì xét kĩ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất để giải quyết nhiệm vụ đó có rồi, hay ít

ra cũng đang ở trong quá trình hình thành Về đại thể, có thể coi các phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế - xã hội”

Cho tới đây, đặc điểm của phương thức sản xuất châu Á đã được Mác khẳng định với những nét đặc thù riêng Đó là:

1 Chế độ công xã nông thôn với tất cả những sự trì trệ và bảo thủ của

2 Nhà nước chuyên chế phương Đông

3 Chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất mà đứng đầu là nhà vua và sự chiếm dụng của các công xã

Trang 10

Khi Mác nêu lên khái niệm”phương thức sản xuất châu Á” là muốn nói đến một hình thái kinh tế xã hội đặc thù, chỉ có ở châu Á mà không có ở nơi khác Các đặc thù đó là:

1 Trong phương thức sản xuất châu Á, sản xuất hàng hóa chậm phát triển, “việc biến sản phẩm thành hàng hóa, và do đó, sự tồn tại của con người với tư cách là những người sản xuất hàng hóa, chỉ đóng một vai trò thứ yếu thôi Tuy nhiên, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng hơn khi các công xã

đi vào giai đoạn suy tàn” Mác cũng chỉ rõ những yếu tố biểu hiện sự suy tàn của chế độ công xã

2 Trong phương thức sản xuất châu Á, tô và thuế kết hợp làm một Tệ cho vay nặng lãi cùng tồn tại một cách dai dẳng

3 Với phương thức sản xuất châu Á, nhân tố về sức mạnh của hiệp tác giản đơn của những người lao động, dưới sự chỉ huy của nhà nước chuyên chế phương Đông đã tạo nên những công trình lớn

4 Tính độc chuyên của phường hội và sự hình thành các đẳng cấp xã hội cũng được Mác và Ăngghen xem như một nét đặc thù của phương thức sản xuất châu Á “Công trường thủ công biến lao động bộ phận thành thiên chức suốt đời của một người, lại phù hợp với khuynh hướng của các xã hội trước kia muốn làm cho các nghề thủ công trở thành cha truyền con nối, làm cho các nghề đó kết đọng lại dưới hình thức đẳng cấp Các đẳng cấp và các phường hội cũng phát sinh từ cái quy luật tự nhiên, điều tiết việc hình thành các loài và các họ trong giới động vật và thực vật, nhưng chỉ khác một điều là đến một trình độ phát triển nhất định thì tính cha truyền con nối của các đẳng

Trang 11

cấp và tính độc chuyên của các phường hội cũng được công bố như là một luật

6 Tính trì trệ và dai dẳng của phương thức sản xuất châu Á trong các xã hội phương Đông: “Cái cơ cấu sản xuất đơn giản của các cộng đồng tự cung

tự cấp ấy – những cộng đồng không ngừng được tái sản xuất ra dưới cùng một hình thức ấy và nếu ngẫu nhiên bị phá hủy thì cũng lại xuất hiện trên địa điểm

cũ với một tên cũ, các cơ cấu ấy, cho chúng ta cái chìa khóa để hiểu được sự

bí ẩn của tính chất bất di bất dịch của những xã hội châu Á”

Như vậy, nội hàm của khái niệm phương thức sản xuất châu Á đã được phát triển với những nét riêng biệt của nó

Năm 1868, khi tiếp xúc với công trình nghiên cứu “Cơ cấu Maccơ, nông thôn của Đức” của Morơ – nhà luật học và sử học Đức, Mác đã đánh giá cao và thừa nhận rằng: “Những hình thức sở hữu châu Á hay Ấn Độ là những hình thức ban đầu ở khắp nơi của châu Âu”

Từ đây, khái niệm “phương thức sản xuất châu Á” không chỉ dành riêng cho châu Á mà có thể dùng phổ biến để chỉ một hình thái kinh tế - xã hội ban đầu kế tiếp xã hội cộng sản nguyên thủy trong tiến trình lịch sử nhân loại

Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ăngghen đã nhấn mạnh đến tính bình quân của công xã, bình đẳng giữa các thành viên công xã, các công xã nguyên thủy – cơ sở của nhà nước thô sơ nhất – nhà nước chuyên chế phương Đông, chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất, chế độ nô lệ gia trưởng nhằm làm rõ thêm những nét đặc thù của phương thức sản xuất châu Á

Sau khi Mác mất, Ăngghen còn tiếp tục sự nghiệp bằng công trình nổi tiếng “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và nhà nước”, trong đó vẫn vận dụng tư tưởng của Mác về phương thức sản xuất châu Á, tuy không sử

Trang 12

dụng khái niệm “phương thức sản xuất châu Á” Công trình đã làm rõ tư tưởng của Mác về thời kỳ thị tộc, nói lên tính phát triển liên tục của lịch sử xã hội loài người: “Hình thức thị tộc ở châu mĩ là hình thức ban đầu, còn hình thức Hy Lạp – Rôma là hình thức sau này mới có”

Tóm lại, tư tưởng của Mác và Ăngghen về phương thức sản xuất châu

Á đã ra đời qua quá trình tư duy khoa học sâu sắc, thận trọng, nghiêm túc, luôn có sự phát triển, bổ sung, hoàn thiện Lênin không đi sâu phân tích nội dung của phương thức sản xuất châu Á, sự ra đời và tồn tại của nó, mà chỉ vận dụng tư tưởng, lý luận này của Mác-Ăngghen vào việc nhận thức xã hội Nga

để tiến hành cách mạng

1.2 Một số quan điểm về phương thức sản xuất châu Á trên thế giới

Như phần trên đã đề cập, Mác chỉ phát biểu một cách đại thể về phương thức sản xuất châu Á Còn Ăngghen, tuy đồng ý với Mác về nội dung của phương thức sản xuất châu Á, nhưng đã không sử dụng thuật ngữ này trong các công trình của mình Mặc dầu luôn luôn đề cập đến nhiều vấn đề của châu

Á nhưng các ông không hề xác định phương thức này là phương thức sản xuất thuộc giai đoạn lịch sử nào của châu Á, phong kiến, nô lệ, hay công xã nguyên thủy… Đó chính là nguyên nhân nảy sinh sự bất đồng của nhiều nhà nghiên cứu về phương thức sản xuất châu Á, ở cả phương Tây lẫn phương Đông

Đầu thế kỷ XX, nhất là từ những năm 30 của thế kỷ này, khi mà các nước Á, Phi, Mỹ Latinh sau khi giải phóng dân tộc đi vào xây dựng xã hội mới, thì giới học giả thế giới, nhất là các nhà khoa học mác-xít, mới đặc biệt quan tâm Việc nghiên cứu, thảo luận được diễn ra ở nhiều nước, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa phát triển, những nước xã hội chủ nghĩa và một số nước thuộc thế giới thứ ba

Đề cập tới vấn đề này có rất nhiều ý kiến khác nhau Người đầu tiên nhắc tới khái niệm phương thức sản xuất châu Á của Mác là Plêkhanôp Ông quan niệm rằng: Mác dùng khái niệm phương thức sản xuất châu Á hay phương thức sản xuất phương Đông để chỉ một loại hình phát triển kinh tế xuất hiện đồng thời với xã hội cổ đại Và cả hai, xã hội cổ đại và xã hội

“phương thức sản xuất phương Đông” song song tồn tại, đều là sự tiếp tục của

cơ cấu xã hội thị tộc, hình thành trên sự tan rã của xã hội thị tộc

Trang 13

Viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, trường Đại học Tổng hợp Mátxcơva, Viện chủ nghĩa Mác – Lênin thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô… đã tiến hành các cuộc thảo luận về vấn

đề trên đầu tiên và lâu dài nhât Có thể chia ra làm các đợt:

Đợt 1: diễn ra vào những năm 1925 – 1931, mà kết quả là chủ trương

không tán thành phương thức sản xuất châu Á chiếm số đông

Đợt 2: diễn ra trong những năm 60 – 70, đặc biệt là cuộc hội thảo năm

1965 với 4 chủ trương lớn khác nhau:

1) Một số coi phương thức sản xuất châu Á là một hình thái kinh tế - xã hội hoàn toàn khác biệt với những hình thái đã được nhận thức như: nô lệ, phong kiến… Hình thái này có đặc trưng cơ bản là toàn bộ đất đai thuộc quyền sở hữu của nhà nước Nhà nước này tồn tại trên một nền tảng bền vững

là các công xã nông thôn, những tổ chức sản xuất ra của cải vật chất bị nhà

nước bóc lột dưới hình thức nạp cống Những nhân viên nhà nước cấu thành

giai cấp thống trị; nông dân, thành viên công xã hợp thành giai cấp bị trị (Đại diện cho quan điểm này là Viện sĩ Vácga)

2) Một số khác thừa nhận có phạm trù phương thức sản xuất châu Á, nhưng không cho đó là một hình thái kinh tế - xã hội riêng biệt Phương thức sản xuất châu Á chỉ là để nói tới những cộng đồng thôn xã có thể có mặt ở nhiều hình thái xã hội khác nhau Trong số này, có người chủ trương coi phương thức sản xuất châu Á là một giai đoạn quá độ không rõ rệt, không ổn định giữa công xã nguyên thủy và các xã hội có giai cấp chính thức

3) Một số, chủ yếu là Viện Các dân tộc phương Đông, coi phương thức sản xuất châu Á chỉ là “đặc điểm châu Á”, hoặc của chế độ chiếm hữu nô lệ, hoặc của chế độ phong kiến

4) Cuối cùng là những ý kiến phản bác quan điểm về sự tồn tại của phương thức sản xuất châu Á Họ cho rằng không nên phân biệt quá rõ rệt những hình thái xã hội tiền tư bản, trong đó có nhiều hình thức khác nhau của cưỡng bức siêu kinh tế và sự tồn tại của đối kháng giai cấp

Đợt 3: được tiến hành vào giữa thập kỷ 70, đặc biệt là Hội nghị tháng

5/1975 do Viện khoa học xã hội thuộc Ban chấp hành TW ĐCS Liên Xô chủ trì, khẳng định sự tồn tại của các quan điểm khác nhau cần tiếp tục nghiên

Trang 14

cứu, với nhắc nhở là: di sản của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin chứa đựng nhiều luận thuyết, cần phải tận dụng hết trong việc nghiên cứu của mình

Ở Trung Quốc, năm 1929, người đầu tiên đi vào vấn đề này là Quách Mạt Nhược đã cho rằng: “Cái gọi là phương thức sản xuất châu Á, một giai đoạn phát triển xã hội, là tên gọi của một giai đoạn có trước chế độ nô lệ” Lã Chấn Vũ, Lý Quý Tiến và nhiều nhà nghiên cứu cũng tìm hiểu và đưa ra nhiều

ý kiến về vấn đề này, như: phương thức sản xuất châu Á chỉ là biến dạng của chế độ chiếm hữu nô lệ mà thôi; hay phương thức sản xuất châu Á đúng là một hình thái xã hội riêng biệt nằm giữa xã hội nguyên thủy và xã hội phong kiến, đồng thời phủ nhận tính phổ biến của chế độ chiếm hữu nô lệ và cho xã hội Trung Quốc thời Hạ Ân là xã hội theo phương thức sản xuất châu Á

Ở Nhật Bản cũng có nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm coi phương thức sản xuất châu Á là một giai đoạn của chế độ công xã nguyên thủy, có quan niệm cho rằng đây là chế độ cống nạp hoặc coi phương thức sản xuất châu Á là hình thức đầu tiên của xã hội có giai cấp, có trước chế độ chiếm hữu nô lệ điển hình như kiểu Hi-La Số khác lại quan niệm phương thức sản xuất châu Á là một kết cấu hỗn hợp của chế độ nô lệ và chế độ nông

Tại Đức, Rumani, Ba Lan, Pháp, Anh… vấn đề này cũng được tranh luận sôi nổi, lâu dài với nhiều ý kiến trái ngược nhau Có thể tóm lược thành 4 loại kiến giải khác nhau về phương thức sản xuất châu Á

Loại kiến giải thứ nhất coi phương thức sản xuất châu Á là một hình thái xã hội đặc biệt, chỉ có ở châu Á hoặc phương Đông mà không có ở các nơi khác trên thế giới Nó trái với lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và không phù hợp với thực tế lịch sử châu Á Chủ nghĩa Mác – Lênin quan niệm toàn bộ quá trình phát triển của xã hội loài người chỉ bao gồm 5 giai đoạn, tức 5 hình thái xã hội Chủ trương phương thức sản xuất châu Á là một hình thái xã hội tồn tại ngoài 5 hình thái trên tức là phủ nhận lý luận phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin về quá trình phát triển của xã hội loài người

Loại kiến giải thứ hai giải thích phương thức sản xuất châu Á là giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy hoặc là thời kỳ quá độ từ xã hội nguyên

Trang 15

thủy sang xã hội chiếm hữu nô lệ Nhược điểm của chủ trương này, cũng là nhược điểm của những chủ trương giải thích phương thức sản xuất châu Á là

xã hội nguyên thủy Bởi vì, giai đoạn cuối của xã hội nguyên thủy hay thời kỳ quá độ từ công xã nguyên thủy sang chiếm hữu nô lệ cũng vẫn thuộc phạm vi

xã hội nguyên thủy Ngoài ra, những chủ trương này còn quan niệm mỗi giai đoạn của cùng một hình thái xã hội lại có một phương thức sản xuất riêng biệt

Sự thật không phải thế Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, mỗi hình thái kinh tế - xã hội chỉ có một phương thức sản xuất nhất định; không thể cùng một hình thái xã hội lại có hai, ba phương thức sản xuất khác nhau, cũng như không thể có một phương thức sản xuất riêng nào cho những thời kỳ quá độ từ hình thái xã hội này sang hình thái xã hội khác

Loại kiến giải thứ ba cho rằng phương thức sản xuất châu Á là xã hội phong kiến phương Đông Đây là quan điểm của nhà sử học Trung Quốc Đồng Thư Nghiệp, của Viện sĩ thông tấn Gube và các học giả Xô viết trong những năm 1931 – 1934 Những quan điểm ấy một mặt thừa nhận xã hội phong kiến là hình thái mở đầu xã hội có giai cấp ở phương Đông và tồn cho đến trước sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây; mặt khác bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa Mác về sự tồn tại phổ biến của chế độ chiếm hữu nô

lệ trên thế giới Phương Đông, tức châu Á, châu Phi, là đại bộ phận của thế giới mà không có chế độ chiếm hữu nô lệ thì không thể nói có sự tồn tại phổ biến của chế độ chiếm hữu nô lệ trên thế giới

Bác bỏ như vậy có đúng không? Trong tác phẩm Chống Đuyrinh,

Ăngghen khẳng định: “Chế độ nô lệ đã được phát minh ra - chế độ nô lệ chẳng bao lâu đã trở thành hình thức sản xuất thống trị trong tất cả các dân tộc… Không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc Hi Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hi Lạp; không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc La Mã Mà không có cơ sở văn minh Hi Lạp và đế quốc La Mã thì cũng không có châu

Âu hiện đại được… Theo nghĩa trên đây, chúng ta có quyền nói rằng: không

có chế độ nô lệ cổ đại thì không có chủ nghĩa xã hội hiện đại”

Như vậy, chúng ta không thể bác bỏ sự tồn tại phổ biến của chế độ chiếm hữu nô lệ Mặt khác, nếu như Mác quan niệm phương thức sản xuất châu Á là hình thái xã hội phong kiến phương Đông tức là biến chứng của

Trang 16

hình thái xã hội phong kiến nói chung, thì có lẽ trình tự trình bày các phương thức sản xuất trong câu nói của Mác đã được đổi là: các phương thức sản xuất

cổ đại, phong kiến, châu Á và tư bản hiện đại chứ không phải là: các phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư bản hiện đại Nói rằng, Mác dùng khái niệm phương thức sản xuất châu Á để chỉ xã hội phong kiến phương Đông tức là nói Mác đã đảo lộn một cách vô ý thức trình tự lôgích của các hình thái xã hội là không đúng

Loại kiến giải thứ tư nhận định: phương thức sản xuất châu Á là hình thái xã hội chiếm hữu nô lệ ở châu Á Nhược điểm chung của những kiến giải này là ở chỗ nó không giải thích được tại sao những đặc điểm của phương thức sản xuất châu Á, được coi là đặc trưng của chế độ chiếm hữu nô lệ châu

Á, vẫn tồn tại đầy đủ trong xã hội phong kiến châu Á Lấy Việt Nam làm ví

dụ, hình thái công xã nông thôn cũng như hình thái nhà nước quân chủ chuyên chế đã tồn tại trong suốt thời phong kiến Căn cứ vào sự thật lịch sử ấy, chúng

ta có thể thừa nhận: Việt Nam có phương thức sản xuất châu Á và nó tồn tại cho đến trước khi thực dân Pháp xâm lược, nhưng không phải chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam đã tồn tại đến bấy giờ

Quan điểm coi phương thức sản xuất châu Á là phương thức sản xuất của giai đoạn nô lệ tảo kì ở châu Á còn mắc nhược điểm nữa là: mỗi hình thái

xã hội chỉ có một phương thức sản xuất nhất định; không thể trong cùng một hình thái xã hội, ở mối giai đoạn lại có một phương thức sản xuất riêng

Các tác giả hai quyển đầu bộ Lịch sử thế giới của Liên Xô (cũ) không

dùng khái niệm “phương thức sản xuất châu Á” nhưng đã lấy những đặc điểm của nó làm đặc trưng của giai đoạn nô lệ tảo kì trên toàn thế giới Quan điểm này tránh được nhược điểm coi phương thức sản xuất châu Á là một phương thức sản xuất độc lập của một giai đoạn trong chế độ chiếm hữu nô lệ, nhưng

nó vẫn mắc nhược điểm chung là: không phải những đặc điểm của phương thức sản xuất châu Á chỉ có trong giai đoạn nô lệ tảo kì mà trong giai đoạn nô

lệ phát đạt và trong xã hội phong kiến ở châu Á cũng vẫn tồn tại

Tóm lại, từ khi lý luận của chủ nghĩa Mác về phương thức sản xuất châu Á ra đời đến nay, có hàng trăm công trình của các nhà khoa học trên thế

Trang 17

giới nghiên cứu, thảo luận về vấn đề này, nhưng tất cả những kiến giải đó đều chưa thỏa đáng

1.3 Những đặc trưng cơ bản của Phương thức sản xuất châu Á

Phương Đông cổ đại có 4 trung tâm văn minh lớn là Ai Cập, Lưỡng Hà,

Ấn Độ và Trung Quốc Đối chiếu với 5 giai đoạn phát triển trên, đa số các nhà

sử học ở Liên Xô và Trung Quốc trước đây đều cho rằng, xã hội phương Đông

cổ đại là xã hội chiếm hữu nô lệ, nhưng đó là chế độ nô lệ tảo kỳ hay chế độ

nô lệ gia trưởng, khác với chế độ nô lệ ở Hy Lạp, La Mã là chế độ chiếm hữu

nô lệ điển hình Quan điểm này được coi là quan điểm chính thống và được vận dụng để biên soạn các tác phẩm lịch sử phương Đông cổ đại, lịch sử thế giới cổ đại

Đặc điểm chủ yếu của xã hội phương Đông cổ đại là:

- Tổ chức công xã nông thôn tồn tại phổ biến và lâu dài Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu Thành viên công xã nông thôn chiếm tuyệt đại đa số trong cư dân và là lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội Họ cày cấy ruộng đất của công xã (mà quyền sở hữu tối cao thuộc về nhà nước) và phải nộp thuế cho nhà nước

- Giai cấp nô lệ dù khá đông đảo song không phải là giai cấp chiếm ưu thế về số lượng như ở Hy Lạp và La Mã cổ đại, đồng thời lao động của họ thường mang tính phi sản xuất, do đó không giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của xã hội

Như vậy, xã hội phương Đông cổ đại là xã hội chủ yếu dựa trên cơ sở bóc lột thuế khóa với giai cấp nông dân, còn giai cấp nô lệ có số lượng không nhiều và phạm vi sử dụng lao động nô lệ trong sản xuất còn rất hạn chế

Trong quá trình nghiên cứu, Mác đã khẳng định phương thức sản xuất châu Á là một phương thức sản xuất riêng, không cùng một phương thức sản xuất với Hy Lạp, Rôma, tức không phải là chế độ chiếm nô Vậy thì phương thức sản xuất châu Á là gì? Một cuộc tranh luận kéo dài nhiều thập kỷ đã diễn

ra Trong khi tìm hiểu vấn đề đó, nhiều học giả đã cho rằng, phương thức sản xuất châu Á là phương thức sản xuất thời kỳ cổ đại ở phương Đông, và về thực chất của nó thì có người cho rằng đó là chế độ CHNL, có người lại cho rằng đó là chế độ phong kiến châu Á, người khác lại cho đó là một chế độ kết

Trang 18

hợp giữa chế độ nô lệ, chế độ phong kiến và chế độ lao động làm thuê và được gọi bằng cái tên mới “Chế độ nô dịch”

Tình hình đó cho thấy rằng,vấn đề tính chất của xã hội phương Đông cổ đại trong giới sử học mác-xít vẫn chưa được giải quyết hoàn toàn

Ở Trung Quốc, các học giả đều cho rằng, xã hội phương Đông cổ đại (trong đó bao gồm cả Trung Quốc) là xã hội CHNL Tuy nhiên, ranh giới giữa lịch sử cổ đại và trung đại của Trung Quốc là thời điểm nào thì ý kiến chưa thống nhất Hiện nay, đa số các nhà sử học Trung Quốc đều cho rằng, niên đại đánh dấu sự kết thúc của lịch sử cổ đại Trung Quốc là năm 475 TCN, đó cũng

là mốc lịch sử phân chia giữa hai thời kỳ: Xuân Thu và Chiến Quốc Quan điểm này được coi là chính thống Các sách lịch sử Trung Quốc và các tài liệu liên quan đến vấn đề phân kỳ lịch sử Trung Quốc đều theo quan điểm này

Tuy vậy vẫn có một số nhà sử học nổi tiếng như Phạm Như Lan, Lã Chấn Vũ không đồng ý với quan điểm đó mà cho rằng, từ thời Tây Chu (khoảng thế kỷ XI TCN), Trung Quốc đã bước vào thời kỳ xã hội phong kiến

Như vậy, xã hội thời Tây Chu và Xuân Thu là xã hội gì? Về vấn đề này, ý kiến của các nhà sử học Trung Quốc cũng chưa hoàn toàn thống nhất

Ở Việt Nam, các học giả như Nguyễn Lương Bích, Nguyễn Hồng Phong, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Chử Văn Tần, Lê Kim Ngân đều cho rằng, phương thức sản xuất của phương Đông cổ đại, trong đó có cả Việt Nam, là phương thức sản xuất châu Á (mà phương thức sản xuất châu Á, theo

họ, là xã hội lấy công xã nông thôn làm cơ sở và thành viên công xã là lực lượng chủ yếu, thậm chí Nguyễn Lương Bích còn cho rằng, phương thức sản xuất châu Á là chế độ công xã nông thôn ở châu Á)

Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu sử học và giảng dạy ở trường Đại học Tổng hợp và ĐHSP Hà Nội tỏ ra dè dặt hơn Trong các giáo trình Lịch sử thế giới cổ đại do Chiêm Tế, Trịnh Nhu, Nguyễn Gia Phu biên soạn, các tác giả chỉ trình bày lịch sử các nước phương Đông cổ đại và tổng kết những đặc điểm của phương Đông cổ đại chứ không kết luận chế độ xã hội của phương Đông cổ đại là chế độ gì

Năm 1995, trong cuốn “Lịch sử thế giới cổ đại” của tác giả Lương Ninh cũng vẫn tiếp tục giữ quan điểm như vậy Trong lời nói đầu của sách,

Trang 19

GS.Lương Ninh viết: “Về lịch sử, các quốc gia được coi là cổ đại phương Đông (theo cách gọi của người Hy Lạp, Rôma), cũng có hai quan điểm khác nhau Một số người cho rằng đây vẫn là chế độ chiếm nô (hiểu theo mô hình

Hy Lạp, Rôma) tuy có một số điểm riêng biệt Những người khác thì cho rằng hoàn toàn không thể coi là xã hội chiếm nô, vì sự dị biệt giữa các quốc gia này với xã hội chiếm nô lớn hơn nhiều sự tương đồng Như vậy, sự phát triển của lịch sử mang tính đa dạng và phức tạp

Trước tình hình đó, chúng tôi phải lựa chọn phương pháp là cố trình bày lịch sử mỗi nước đúng như nó có, từ khi bắt đầu xuất hiện nhà nước, với những nét lớn của sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và những thành tựu văn hóa nổi bật theo những tài liệu đáng tin cậy và theo nhận thức của chúng tôi mà tạm gác lại việc bàn đến những quan điểm nói trên”

Tóm lại, ở nước ta, vấn đề tính chất xã hội của phương Đông cổ đại vẫn chưa được giải quyết Quan điểm cho rằng phương thức sản xuất của phương Đông cổ đại là phương thức sản xuất châu Á của một số học giả có tên tuổi cũng chỉ mới dừng lại trong phạm vi một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí, còn các giáo trình dùng cho giảng dạy trong các trường học từ Phổ thông đến Đại học thì vẫn “tạm gác lại” vấn đề đó

Một số mô hình xã hội phương Đông cổ đại tiêu biểu

Giai cấp đông đảo và giữ vai trò quan trọng nhất trong đời sống kinh tế

là giai cấp nông dân Do có quan hệ với ruộng đất khác nhau, giai cấp này chia thành nhiều loại: nông dân công xã, nông dân nông trang, nông dân tự canh Cùng với sự phát triển của lịch sử, tỷ lệ giữa ba loại đó tuy có thay đổi, nhưng nói chung nông dân công xã là thành phần đông đảo nhất Họ cày cấy phần đất của công xã chia cho nhưng họ là dân tự do và được gọi là “thần dân của vua”

Trang 20

Nông dân tự canh là nông dân có một ít ruộng đất riêng, loại này đã xuất hiện từ thời Cổ vương quốc Có tài liệu cho biết rằng, thời vương triều III

và IV, có một số người có ít ruộng đất phải bán ruộng đất của mình cho các quan lại lớn Tuy loại nông dân này đã tồn tại trong lịch sử Ai Cập cổ đại, nhưng về số lượng họ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Nông dân nông trang là những người không có ruộng đất và các các tư liệu sản xuất khác, họ phải canh tác trong các ruộng đất canh tác của vua, quan và đền miếu bằng công cụ

và súc vật của nông trang Đến thời Tân vương quốc và Trung vương quốc, công xã nông thôn dần dần tan rã, nhiều nông dân công xã đã biến thành nông dân nông trang Đồng thời, đến thời kì này, phương thức sản xuất lao động của nông dân nông trang cũng dần dần thay đổi: hình thức quản lý ngày công và trả thù lao bằng hiện vật được thay bằng hình thức phát canh thu tô

Trừ loại nông dân nông trang vừa trình bày, nông dân tự do bao gồm nông dân công xã và nông dân tự do đều phụ thuộc vào nhà nước, do vậy, họ

có nghĩa vụ phải nộp thuế đi phu và đi lính Nếu nông dân không nộp đủ thuế,

họ bị đánh đập thậm tệ, có khi còn bị trói lại và xách ngược ném xuống giếng Thời cổ vương quốc còn để lại một bức tranh về cảnh nông dân bị lôi đi nộp thuế

Do thuế khóa là nguồn thu nhập quan trọng của quốc khố nên nhà nước

Ai Cập cổ đại đã thành lập một cơ quan chuyên môn phụ trách việc thu thuế

Ngoài việc nộp thuế, các nông dân còn phải làm lao dịch để xây dựng các công trình kiến trúc to lớn cho nhà nước Thời cổ vương quốc, nhân lực chủ yếu xây dựng các kim tự tháp là nông dân Nhà sử học Hy Lạp Hêrôđốt

khi đến Ai Cập đã được nghe kể lại: “Vua Ai Cập đã đem lại cho nhân dân Ai

Cập không biết bao nhiêu tai họa ! Trước hết, ông ta đóng cửa đền miếu, cấm người Ai Cập đến dâng lễ vật, cúng tế sau đó cưỡng bức tất cả người Ai Cập làm việc cho ông ta”

Nông dân còn là nguồn cung cấp binh lính chủ yếu của nhà nước Thời Tân vương quốc, nhà nước thường tổ chức các cuộc điều tra nhân khẩu trong toàn quốc để bắt lính Như vậy, nông dân là nguồn quần chúng đông đảo nhất Bao gồm hầu hết nhân dân Ai Cập, là lực lượng lao động sản xuất chính trong nông nghiệp (ngành kinh tế chủ yếu trong toàn bộ nền kinh tế Ai Cập cổ đại),

Trang 21

là đối tượng nộp tô thuế chủ yếu mà tô thuế mà nguồn thu nhập quan trọng nhất của của quốc khố Đồng thời, nông dân cũng là nguồn nhân lực chủ yếu tạo nên các công trình kiến trúc bất hủ của Ai Cập cổ đại và là lực lượng đông đảo nhất trong quân đội

Một giai cấp khác rất quan trọng trong quần chúng bị áp bức bóc lột là giai cấp nô lệ Giai cấp nô lệ ở Ai Cập cổ đại tương đối đông Nguồn nô lệ chủ yếu là tù binh, những người bản xứ bị nô dịch và những người do các nước lệ thuộc cống nạp Trong các loại nô lệ đó, những người nô lệ vốn là tù binh chiếm đa số Do vậy, đại đa số nô lệ ở Ai Cập là người da đen ở Nubi, Libi, Êtiôpi và các người thuộc các tộc ở Tây Á v.v Thời Cổ vương quốc, số tù binh bắt được sau mỗi lần chiến thắng thường lên đến hàng ngàn Ví dụ: Vua thứ nhất của vương triều IV, có lần bắt được 7.000 tù binh Êtiôpi, có lần bắt được 1.100 tù binh người Libi Thời Tân vương quốc, số tù binh bắt được càng nhiều Thời Amenkhôtep II, thuộc vương triều XVII, sau cuộc viễn chinh Xiri đã bắt được 100.000 tù binh… những con số này có lẽ đã được phóng đại nhiều, nhưng dù sự thật có đúng như thế về số lượng, giai cấp nô lệ cũng chỉ chiếm một tỷ lệ nào đó trong cư dân, không thể so sánh với giai cấp nông dân

Nô lệ phần lớn được sử dụng vào các công việc phi sản xuất như hầu hạ chủ, làm các công việc trong nhà, xây dựng các công trình kiến trúc… Thời

Cổ vương quốc, trong ngôi mộ của một viên quan thuộc vương triều V có vẽ 2 người nô lệ được đặt tên là “người mua về” trong đó một người xách giày và một người cầm gậy, một người thì bê giường và gối cho chủ nhân Thời trung vương quốc, một viên đại quan (thuộc vương triều XII) khi đi thăm một công trường khai thác đá đã đem theo 50 nô lệ để hầu hạ

Ngoài các công việc phi sản xuất, nô lệ còn được sử dụng vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp Có một tài liệu cho biết, vua Tutmôdit III (Troutmosis III), thuộc vương triều XVIII đã tặng cho đền thờ Amôn một số

nô lệ “để làm ruộng, để cày cấy ruộng đất, để sản xuất lương thực, để làm giàu kho tàng cúng thần” Mặc dầu vậy, vai trò của giai cấp nô lệ trong nền kinh tế

Ai Cập cổ đại cũng rất có hạn

- Giai cấp bóc lột: ở phương Đông cổ đại, giai cấp này chưa có một tên gọi thỏa đáng Những người quan niệm xã hội phương Đông là một xã hội

Trang 22

chiếm hữu nô lệ gọi đây là giai cấp chủ nô Những người cho rằng phương Đông cổ đại không phải là xã hội chiếm hữu nô lệ thì tạm gọi đây là giai cấp quý tộc

Ở Ai Cập cổ đại, giai cấp này gồm hai bộ phận chính là quan lại và tăng

lữ Tư liệu sản xuất của họ chủ yếu là ruộng đất mà nguồn ruộng đất của họ là chủ yếu do nhà nước ban tặng

Thời Cổ vương quốc, vào cuối vương triều III đầu vương triều IV, có một viên quan lớn tên là Mêten Ngoài phần đất đai được thừa kề từ người mẹ, ông còn được nhà vua cấp thêm ruộng đất Một tư liệu lịch sử (vào loại sớm

nhất) ghi chép về vấn đề này cho biết: “Ban cho ông ấy đất khen thưởng 200

stat … Do mẹ ông ấy là bà NơbơX entơ cho ông ấy 50 stat ruộng đất vì việc này, bà đã làm di chúc cho con bà Nhà vua cho phép họ được hưởng số ruộng đất đó Cho ông ấy và con trai ông ấy 12 stat ruộng đất có người và súc vật nhỏ”

Ngoài việc ban cấp ruộng đất chô các quan lại, các vua Ai Cập còn ban cấp nhiều ruộng đất cho các đền miếu Bia Palermo chuyên ghi lịch sử biên miên vắn tắt của các vua thuộc các vương triều đầu tiên của Ai Cập cổ đại cho biết, hàng năm Pharaông đã tặng đền thờ các thần một số lượng ruộng đất rất lớn

Để quản lý và canh tác ruộng đất của mình, các quan lại và những người trông coi đền miếu tổ chức thành lập những nông trang Nông trang là những đơn vị tự túc tự cấp, trong đó có đủ các ngành sản xuất: nông nghiệp, thủ công nghiệp, chăn nuôi, săn bắn, đánh cá v.v Vì vậy, chủ nông trang được cung cấp đầy đủ mọi nhu cầu Phản ánh tình trạng đó, một tài liệu viết:

“ Ngài bước vào tòa lâu đâì riêng hoa lệ ngoại ô Miệng ngài nếm đủ thứ rượu nho, rượu bia, bánh mì, thịt mỡ và đồ điểm tâm Giết bò béo, mỡ hủ rượu, tiếng hát ngọt ngào vang lên trước mặt ngài Đồ trang sức của ngài luôn luôn bôi dầu, người trông coi vườn hoa tay cầm chổi, đội bắt chim của ngàu dâng vịt, dân chài của ngài kiếm cá tươi Bê của ngài đầy vườn, đầy tớ của ngài khỏe mạnh”

Lực lượng lao động nông nghiệp chủ yếu trong các nông trang đó là nông dân nông trang Họ, hoặc là canh tác ruộng đất của chủ bằng công cụ và

Trang 23

súc vật của của chủ được trả một số thù lao bằng hiện vật, hoặc được giao một mảnh đất và phải nộp địa tô Vào những dịp mùa màng bần rộn, chủ nông trang còn thuê nông dân công xã đến làm việc

Ngoài ruộng đất, những chủ nông trang còn có rất nhiều nô lệ Số nô lệ chủ yếu là những người bị bắt trong các cuộc chiến tranh xâm lược và được nhà vua ban tặng Đặc biệt, số nô lệ của các đền miếu lại càng nhiều Thời vương triều XVIII, vua Thoutmosis III đã tặng cho đền thờ thần Amôn ở Thebes 1.585 nô lệ người Xiri và một số lớn nô lệ người Êtiôpi

Như ở phần trước đã nói, một bộ phận nô lệ cũng tham gia sản xuất nông nghiệp “để sản xuất lương thực, để làm giàu kho tàng cúng thần”, nhưng lao động sản xuất của nô lệ chỉ tạo nên một phần trong toàn bộ thu nhập của giai cấp bóc lột mà thôi

Ngoài các giai cấp nói trên, Ai Cập cổ đại còn có tầng lớp thợ thủ công

và đến thời Tân vương quốc lại có những người buôn bán

Tóm lại, ở Ai Cập cổ đại, giai cấp đông đảo và giữ vai trò quann trọng nhất trong nền kinh tế chính là giai cấp nông dân chứ k phải là giai cấp nô lệ Hình thức bóc lột chủ yếu đối với đại đa số nông dân là thuế và đối vối một bộ

phận nông dân khác là sức lao động trực tiếp hoặc địa tô

Lưỡng Hà cổ đại

Tình hình kinh tế, xã hội của Lưỡng Hà cổ đại cũng giống như ở Ai Cập

cổ đại, song nhờ có nhiều tư liệu, nhất là các bộ luật còn để lại đến ngày nay

mà chúng ta có thể biết được tương đối cụ thể hơn về tình hình các giai cấp và các hình thức bóc lột lúc bấy giờ

Giai cấp nông dân vẫn là giai cấp cơ bản nhất trong xã hội, giai cấp này bao gồm: nông dân công xã, nông dân tự canh và nông dân không có hoặc có

ít ruộng đất, phải lĩnh canh ruộng đất của người khác hay phải đi làm thuê

Ở Lưỡng Hà cổ đại, công xã nông thôn vẫn tồn tại nhưng đang trong quá trình tan rã nhanh chóng Chính vì vậy, trong bộ luật Hammurabi có một

số điều đề cập đến công xã nông thôn và nông dân công xã, tuy vấn đề đó còn

mờ nhạt

Điều 23 của bộ luật viết: “Nếu kẻ cướp không bắt được, người bị cướp

phải thề trước thần và chỉ rõ những gì minhg bị mất thì công xã nơi xảy ra vụ

Trang 24

cướp hoặc công xã xunh quanh và già làng phải bồi thường những vật mà

người đó bị mất”

Điều 24: “Nếu tính mạng bị hại thì công xã và già làng phải bồi

thường 1 mina bạc cho thân thích người bị hại”

Qua đó có thể thấy, tính cộng đồng trong từng công xã và giữa các công

xã trong cùng một khu vực còn tương đối mạnh

Ruộng đất mà nông dân công xã cày cấy là ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước, do vậy nông dân không có quyền bán, tặng và làm vật để gán nợ Đồng thời, nông dân phải có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước, do luật Hammurabi gọi loại nông dân này là “người cống nộp”, và đã trở thành 5 điều (36,37,38,39,40,41) để nói về loại nông dân này

Do công xã nông thôn tan rã, nên trong xã hội đã xuất hiện tầng lớp nông dân không có ruộng đất Họ phải lĩnh canh ruộng đất và phải nộp địa tô hoặc phải đi làm thuê nhằm nhận được một khoản thù lao để sinh sống

Bộ luật Hammurabi đã dành 12 điều (42, 42, 44, 45, 46, 47, 60, 61, 61,

63, 64, 65) để nói về việc lĩnh canh ruộng, địa tô và các nghĩa vụ khác của người tá điền Theo luật Hammurabi, nông dân phải lĩnh canh ruộng đất có

nghĩa vụ phải nộp cho chủ ruộng địa tô bằng tiền hoặc sản phẩm Tình hình đó

Nếu người lĩnh canh ruộng đất canh tác kém hiệu quả hoặc để đất hoang thì phải căn cứ theo đám ruộng bên cạnh để nộp địa tô

Nếu nông dân lĩnh canh đất vườn, thì mọi nghĩa vụ cũng tương tự như

ruộng trồng ngũ cốc nhưng mức địa tô cao hơn từ 1 lần rưỡi đến 2 lần

Một số nông dân nghèo không có ruộng đất và tư liệu sản xuất phải đi làm thuê cho chủ ruộng Như vậy ở Lưỡng Hà cổ đại, tầng lớp cố nông đã xuất hiện

Điều 9 của bộ luật Hammurabi, vua của nước Eshnunna, một quốc gia

Đông Bắc Babilon viết: “Nếu dân tự do vì gặt hái mà đưa cho người gặt hái

10 xiclơ bạc, nhưng người làm thuê không làm giúp dân tự do, hoàn toàn không gặt hái cho ông ta thì người này phải trả 10 xiclơ bạc ”

Trong bộ luật Hammurabi cũng có 5 điều (253, 254, 255, 256, 257) nói

về loại cố nông này

Trang 25

Điều 253: “Dân tự do thuê dân tự do làm việc trên đất của mình, giao

cày và súc vật cho người này và giao hẹn người này phải có trách nhiệm cày cấy ruộng đất Nếu người này ăn cắp giống hoặc thức ăn của súc vật bị bắt quả tang thì sẽ bị chặt ngón tay”

Bộ luật Hammurabi còn cho biết thêm rằng, khác việc thuê các loại thợ thủ công là trả tiền thuê công nhật, việc thuê cố nông phải trả thù lao theo năm

Điều 257: “Nếu nông dân tự do thuê thợ cày thì mỗi năm y phải trả 8

guru thóc.” (1 guru = 121 lit)

Ngoài tầng lớp nông dân không có ruộng đất, sự tan rã của công xã nông thôn còn dẫn đến sự ra đời của tầng lớp nông dân tự canh Đây là những nông dân có ruộng đất tư hữu của mình và có toàn quyền chi phối đất đai của

họ như bán, tặng hoặc dùng để gán nợ

Trong bộ luật Hammurabi có 12 điều (từ điều 48 đến điều 59) đề cập đến những vấn đề ruộng đất của nông dân Tuy có ruộng đất riêng, nhưng họ vẫn gặp nhiều thiếu thốn và phải dùng ruộng đất của mình để làm vật thế chấp

Điều 49: “Nếu dân tự do vay bạc của Tamca và giao cho Tamca ruộng

có thể trồng vừng và nói với Tamca rằng: Ruoobngj này do ông trồng trọt, lúa hoặc vừng trên ruộng do ông thu hoạch”

Nếu nông dân trồng lúa hoặc vừng trên ruộng thì khi thu hoạch, thóc hoặc vừng trên ruộng thuộc về chủ ruộng, nhưng phải nộp thóc cho Tamca đề

bù vào số bạc đã vay cùng tiền lãi và những phí tổn mà Tamca đã trả khi cày ruộng”

Điều 50: “Nếu đám ruộng mà người này đem làm vật bảo đảm để vay

nợ đã trồng lúa hoặc trồng vừng thì số thóc hoặc số vừng thu hoạch được là thuộc về chủ ruộng và phải dùng bạc để trả vốn và lãi cho Tamca”

Bộ luật Hammurabi không nói đến nghĩa vụ của loại nông dân này nhuwnh cũng như nông dân công xã, họ phải nộp thuế cho nhà nước

- Giai cấp nô lệ: Có nhiều vấn đề liên quan đến giai cấp nô lệ nhưng ở đây chỉ khảo sát hai vấn đề chính: số lượng của nô lệ so với nông dân và vai trò của nô lệ trong sản xuất

Trang 26

Nguồn nô lệ chủ yếu ở Lưỡng Hà cổ đại là những người bị bắt trong chiến tranh (bao gồm cả tù binh và dân thường), những người bị mắc nợ và chủ yếu là do mua về Lưỡng Hà không phải là một quốc gia, mà ở đó đã từng tồn tại nhiều quốc gia hùng mạnh lẫy lừng một thời Gắn liền với những quốc gia đó, số lượng tù binh và dân cư bị bắt ở đây không phải là ít Tuy nhiên, chỉ thỉnh thoảng chúng ta mới bắt gặp một vài số liệu về vấn đề đó Nguồn thứ 2

là nô lệ vì nợ Chúng ta không phủ nhận hiện tượng đó nhưng cũng không nên đánh giá quá cao biện pháp này trong việc tăng thêm số lượng nô lệ trong xã hội

Trong điều kiện công xã nông thôn vẫn còn tồn tại, nông dân dù rất nghèo khổ vẫn có thể sống được Chỉ có những người gặp phải khó khăn đặc biệt mới phải vay những khoản nợ lớn và khi không trả được mới phải bán vợ, con hoặc đem vợ con ra làm vật gán nợ Do vậy, loại nô lệ này chắc chắn là không nhiều lắm Hơn nữa, những người bị gán làm nô lệ vì nợ này chỉ tạm thời trong 3 năm chứ không phải mất quyền tự do vĩnh viễn hoặc cha truyền con nối, thực chất họ giống như người đi ở mướn trong những thời kì sau này

Công việc của nô lệ chủ yếu vẫn là hầu hạ trong cung đình, đền miếu, tư gia, một bộ phận bị huy động đi xây dựng các công trình kiến trúc, thủy lợi, một bộ phận làm việc trong các xưởng thủ công số lượng nô lệ làm việc trên đồng ruộng tương đối ít Có một số tài liệu cho biết, trong một số nông trang của nhà vua rộng 200ha mà chỉ có 21 nô lệ làm việc

Trong luật có 29 điều đề cập đến vấn đề nô lệ Các điều đó chủ yếu là quy định về việc bảo vệ sở hữu đối với nô lệ, trừng trị những hành vi chiếm dụng nô lệ của kẻ khác, bồi thường sự thiệt hại đối với nô lệ, quy định về việc bán nô lệ, giá trị của nô lệ so với dân tự do, trừng phạt nô lệ, quyên tài sản của

nô lệ Điều đáng chú ý là trong 29 điều ấy, không có một chi tiết nào cho biết

về công việc của nô lệ, trong khi công việc của các tầng lớp khác cũng như thợ thủ công, người chăn nuôi được bộ luật nói đến Phải chăng, tình hình đó cũng phản ánh rằng, lao động sản xuất của nô lệ là không quan trọng, không

có gì đáng nói

- Giai cấp bóc lột, ở Lưỡng Hà cổ đại, thuộc về giai cấp này gồm có, vua, quan, tăng lữ, những người có nhiều ruộng đất, Tamca (thương nhân

Trang 27

kiêm chủ ruộng) Tài sản chính của họ là ruộng đất, nhưng phương thức bóc lột của họ không giống nhau

Ruộng đất của vua là đền miếu được tổ chức thành những nông trang Lực lượng lao động chủ yếu trong các nông trang nông trang ấy là nông dân, nhưng phương thức bóc lột ở các quốc gia, các thời kỳ là không giống nhau

Ở Xume, vào thế kỷ XVII – XVI TCN, người lao động trong các nông trang của đền miếu ở Xuruppac gọi là gurus Họ được những người trông nom đền miếu giao cho một lô đất, súc vật kéo và hạt giống Đến vụ thu hoạch, họ

có nghĩa vụ phải giao nộp cho đền miếu một phần sản phẩm của lô đất đó

Ở Lagát, thời các vua Luagalianđa và Urucaghina (thế kỷ XV, XIV TCN), người lao động chủ yếu trong nông trang của đền thờ nữ thần Bau gọi

là xubơlugalơ Họ phải cùng nhau làm việc trên ruộng đất của đền thờ gọi là

“phần ruộng của người trưởng giáo “và toàn bộ thu hoạch trên phần ruộng đất

đó đều phải nộp cho đền thờ Để trả công cho họ, họ được cấp cho một mảnh đất được gọi là “đất nuôi dưỡng” Ngoài ra, họ còn được nhận một khoản thù lao bằng hiện vật

Đồng thời trong nông trang ở đền miếu Lagát có tồn tại một hình thức bóc lột khác Đền miếu đem một phần ruộng đất phát canh cho xubơlugalơ rồi thu một phần hoa lợi Đôi khi, ngoài ruộng đất phát canh, ho còn có thêm một phần đất khác nữa

Thời vương triều III của Ua (Cuối thế kỷ XII, đầu thế kỉ XI) những người lao động trên các nông trang vẫn là những người gurus, nhưng khác với thế kỷ XVII, XVI ở Xuruppac, họ không được nhận đất mà chỉ nhận được một khoản thù lao bằng hiện vật

Thời cổ Babilon, nhà vua không trực tiếp kinh doanh ruộng đất nữa mà đem chia cho các quan lại, tăng lữ, binh lính, nông dân công xã Trong luật Hammurabi không tìm thấy bóng dáng của nông trang, vương thất và đền miếu Hình thức bóc lột của những người nhiều ruộng đất ở đây là phát canh thu tô hoặc thuê người làm hình thức này được bộ luật Hammurabi quy định rất rõ ràng, cụ thể từ điều 42 đến 47, hình thức thuê người canh tác ruộng đất được quy định trong các điều 253 đến 258 và 261 đến 267

Trang 28

Về thù lao thuê nhân công, đối với thợ cày và người chăn bò, dê cừu là

8 guru ngũ cốc một năm, chỉ chăn bò là 6 guru ngũ cốc một năm Như vậy,

thù lao công của họ cũng không phải là quá tồi tề, nhưng nếu những người làm thuê này không làm tròn trách nhiệm, gây thiệt hại cho chủ thì phải bồi thường thậm chí trừng phạt rất nặng

Ngoài tá điền và cố nông (nông dân làm thuê), tại các nông trang của đền miếu và vương thất còn sử dụng sức lao động của nô lệ, nhưng trong sản xuất nông nghiệp, nô lệ chỉ đóng vai trò thứ yếu Trong số các tư liệu của Lưỡng Hà để lại, không thấy nói đến vai trò của nô lệ và chỉ nói tới nông dân, người làm thuê, hoặc người lao động chung mà thôi

Trong bản thân của viên quản lý lao động của nông trang vương thất ở thành Umma vào năm 2082 TCN, người ta thấy nói tới 24 nông dân và con họ cùng những toán người làm thuê do những viên đốc công khác đem về Thù

lao công của họ có hai loại 7 xila đại mạch hoặc 6 xila đại mạch mỗi ngày

Thử tính thù lao của loại 7 xila sẽ là 7 xila x 360 ngày = 2520 xila (cứ

300 xila = 1 guru); như vậy, thù lao của loại lao động này là 8,4 guru đại mạch một năm So với mức thù lao quy định ở điều 257 bộ luật Hammurabi là tương đương Như vậy, đây là thù lao của những người lao động làm thuê chứ không phải là lương thực cấp phát cho nô lệ

Trong một bản minh văn khác nói về tình hình cấp phát lương thực cho

nô lệ nữ đã cho biết rằng, mức lương thực cấp phát có nhiều loại, các nữ nô lệ được cấp theo các mức 25, 30 hoặc 40 xila mỗi tháng Như vậy, mức lương thực cao nhất cấp cho nữ nô lệ là 40 xila mỗi tháng, so với thù lao của người làm thuê là 180 xila mỗi tháng (6 xila x 30 ngày), hoặc 210 xila (7 x 30 ngày),

là rất khác nhau

Tóm lại, ở Lưỡng Hà cổ đại, lực lượng lao động chủ yếu đồng thời là đối tượng bị bóc lột chủ yếu, là nông dân Sự bóc lột của nhà nước, đền miếu,

tư nhân đối với họ có nhiều hình thức như thuế, địa tô (bao gồm tô sản phẩm

và tô lao dịch), đồng thời, cũng đã tồn tại hình thức bóc lột sức lao động làm thuê, nhưng đó là quan hệ làm thuê dưới chế độ chuyên chế

Trang 29

Giai cấp nô lệ tồn tại phổ biến, nhưng trong việc sản xuất ở các vương trang, đền miếu họ chỉ đóng vai trò thứ yếu Còn trong cả nước, thì vai trò kinh tế của họ lại càng không quan trọng

Ấn Độ cổ đại

So với các nước phương Đông cổ đại, xã hội Ấn Độ cổ đại có nhiều nét riêng biệt Đó là sự tồn tại vững chắc của tổ chức công xã nông thôn và chế độ đẳng cấp Những tổ chức đó đã có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu giai cấp của xã hội Ấn Độ, làm cho xã hội Ấn Độ phát triển chậm chạp và ít thay đổi không chỉ trong thời cổ đại mà cả trong thời trung đại Mặc dầu có nhiều đặc điểm riêng, nhưng cơ cấu giai cấp chủ yếu trong xã hội vẫn là nông dân, nô lệ và giai cấp bóc lột

Giai cấp nông dân: Do sự tồn tại vững chắc và phổ biến của tổ chức

công xã nông thôn nên giai cấp nông dân Ấn Độ tương đối thuần nhất Họ hầu hết là nông dân công xã Quyền sỡ hữu tối cao ruộng đất thuộc về chính phủ trung ương, nhưng ở các làng, quyền sở hữu thực tế thuộc về công xã nông thôn Theo định kỳ, các hộ nông dân được công xã chia cho một phần ruộng đất để canh tác Việc tưới nước ruộng đất của nông dân do công xã phụ trách, hoa màu của nông dân được công xã cử người bảo vệ Bên cạnh những quyền lợi đó, nông dân có nghĩa vụ phải nộp thuế cho nhà nước

Ở từng làng, người trực tiếp thu các khoản thuế của nông dân công xã là trưởng thôn (lý trưởng) Giữa làng và trung ương còn có 4 cấp hành chính trung gian là, Mười làng, Hai trăm làng, Trăn làng và Nghìn làng Các khoản thuế của nông dân được nộp từ dưới lên trên cho đến trung ương

Một điều đáng chú ý trong lịch sử Ấn Độ là, công xã nông thôn cũng như cuộc sống của người dân Ấn Độ tồn tại dai dẳng cho đến thời cận đại Sau khi người Anh thống trị Ấn Độ, họ vẫn thấy rằng công xã nông thôn vẫn là những tế bào cơ bản của xã hội Tình hình đó được báo cáo trước Hạ viện Anh như sau: “Làng mạc, về mặt địa lý là một khoảng đất rộng với vài trăm hay vài nghìn acre, gồm những mảnh đất canh tác và những mảnh đất hoang; về mặt chính trị, làng mạc giống như một phường hay một công xã ở thành phố… Potali hay trưởng thôn, tức là người trông nom chung công việc và dàn xếp sự

Trang 30

tranh chấp giữa nông dân trong làng, làm những chức năng của cảnh sát và chấp hành nghĩa vụ thu thuế trong làng”

Vì vậy, Mác đã nhận định rằng: “Dù những thay đổi của Ấn Độ trong

có quá khứ có lớn lao đến như thế nào chăng nữa, thì những điều kiện xã hội của Ấn Độ vẫn không hề thay đổi từ thời cổ đại hết sức xa xôi cho đến 10 năm đầu tiên của thế kỷ XX”

Qua thực tế lịch sử và qua nhận định của Mác, chúng ta có thể rút ra kết luận sơ bộ rằng, trong toàn bộ lịch sử cổ đại và trung đại, ở Ấn Độ chỉ có một phương thức sản xuất mà trong đó nông dân công xã là lực lượng lao động chủ yếu, đồng thời cũng chính là đối tượng bị bóc lột chủ yếu

Như vậy, tuyệt đại đa số nông dân Ấn Độ là nông dân công xã và về đẳng cấp, họ chủ yếu thuộc Vaisya

Giai cấp nô lệ: So với Ai Cập, Lưỡng Hà và Trung Quốc cổ đại, Ấn Độ

là nơi quan hệ nô lệ kém phát triển nhất

Trong tác phẩm Inđika, Mêgasten, sứ thần Xêlơcốt, thường trú ở cung đình vương triều Môrya ghi rằng, cư dân trong xã hội Ấn Độ thời đó chỉ bao gồm 7 tầng lớp:

Hiền triết: Tầng lớp này ít nhất nhưng có địa vị cao nhất, họ không phải phục dịch, không phải nộp thuế

Nông dân: Tầng lớp này đông đảo nhất, họ không phải đi lính, chỉ cày ruộng và nộp thuế

Những người chăn nuôi và săn bắn: họ phải nộp thuế bằng súc vật Dân buôn, thợ thủ công và thủy thủ: họ phải nộp thuế bằng sản phẩm, riêng loại thợ làm vũ khí và đóng thuyền thì được vua trợ cấp tiền

Binh lính: số người của tầng lớp này chỉ thua nông dân Họ chỉ làm một nhiệm vụ là chiến đấu chứ ngoài ra không làm bất cứ việc gì khác Họ được cung cấp ngựa voi do người khác nuôi, thời bình, họ cũng được hưởng lương

Mật thám của chính phủ: nhiệm vụ của họ và báo cáo tình hình dân gian với nhà vua hoặc các quan đứng đầu địa phương

Cố vấn của vua (hoặc công chức ở địa phương): tầng lớp này không đông lắm nhưng họ là lực lượng quan lại chủ yếu ở địa phương

Trang 31

Như vậy, nông dân công xã không được nhắc đến vì Mê gasten quả

quyết rằng, “Ở Ấn Độ có điểm đáng chú ý nhất là tất cả những người Ấn Độ

đều là người tự do, không có một người Ấn nào là nô lệ”

Trên thực tế, ở Ấn Độ có tầng lớp người gọi là đaxa, đó là những nô lệ

và những người có thân phận tôi tớ nói chung

Theo sách “Bàn về chính trị” (Arthasastra) của Kautilya, ở Ấn Độ cổ

đại có 15 loại đaxa:

o Được thưởng khi rút thăm hoặc trong các cuộc thi đấu

o Tự nguyện làm đaxa và nói: “Tôi là của ông”

o Những ẩn sĩ không giữ được lời thề

o Làm đaxa trong thời gian nhất định

o Lấy nữ đaxa mà trở thành đaxa

Nói chung, giai cấp nô lệ không đồng nhất với đẳng cấp Suđra, vì nô lệ

là những người không có tự do Hơn nữa, có một số nô lệ vốn xuất thân từ những đẳng cấp cao (ví dụ, những ẩn sĩ không giữ được lời thề) Tuy vậy, Suđra là đẳng cấp nghèo khổ nhất nên một số người trong đẳng cấp Suđra đã biến thành nô lệ

Điều 413, chương VIII của bộ Luật Manu viết:

Trang 32

“Braman có thể bắt Suđra mua về hay không mua về làm các công việc hầu hạ, bởi vì đấng tự tại tạo nên Suđra để hầu hạ Braman.”

Điều 414, chương VIII còn cho biết thêm: “Suđra dù đã được chủ phóng thích vẫn không thoát khỏi trách nhiệm hầu hạ, vì việc đó sinh ra là để cho Suđra, vậy thì ai có thể giải thoát cho Suđra khỏi cái đó?”

Do sự tồn tại vững chắc lâu dài của tổ chức công xã nông thôn và sự phản ánh của các tư liệu lịch sử, có thể khẳng định, hơn bất cứ nước phương Đông cổ đại nào khác, thì số lượng nô lệ ở Ấn Độ là ít nhất Công việc lao động sản xuất trong nông nghiệp đã có nông dân công xã, trong thủ công nghiệp, dù là những nghề bị coi là thấp kém, cũng đã có Suđra đảm nhiệm, nên vai trò của nô lệ trong đời sống cũng rất mờ nhạt

Giai cấp bóc lột: Chủ yếu ở Ấn Độ cổ đại bao gồm các vương công

quan lại các cấp và đạo sĩ

Thời cổ đại, Ấn Độ chưa bao giờ được thống nhất hoàn toàn, mà thường

bị chia cắt thành nhiều tiểu quốc Trong từng quốc gia nhỏ đó, ruộng đất thuộc thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà vua Vua đem lại ruộng đất cho các quan lại, đền chùa, đạo sĩ Đơn vị dùng để phong cấp ruộng đất phần lớn là làng mà

ở đó đang tồn tại nông xã công thôn

Hình thức bóc lột trên ruộng đất của nhà nước cũng như trên ruộng đất

đã ban cấp cho quan lại, đền chùa, đạo sĩ đều là thuế Sau đây là tư liệu lịch sử thuộc nửa đầu thế kỷ VII, nhưng tình hình xã hội Ấn Độ cổ - trung đại không thấy thay đổi, nên chúng ta cũng có thể tham khảo để hiểu thêm về tình hình bóc lột trong thời cổ đại

Tóm lại, cơ cấu giai cấp và hình thức bóc lột ở Ấn Độ cổ đại tương đối đơn giản: Giai cấp lao động sản xuất chủ yếu, đồng thời cũng là đối tượng bị bóc lột chủ yếu là nông dân công xã, và hình thức bóc lột chủ yếu là thuế ruộng đất

Tầng lớp nô lệ, tương đối ít về số lượng, chỉ làm công việc hầu hạ mà thôi

Trung Quốc cổ đại

Đối với các nước phương Đông có tiến trình lịch sử liên tục như Ấn Độ, Trung Quốc… sự phân chia ra hai thời cổ đại và trung đại chỉ có ý nghĩa

Trang 33

tương đối Trong các giáo trình lịch sử thế giới của Việt Nam, lịch sử cổ đại Trung Quốc được trình bày đến năm kết thúc thời Chiến Quốc (năm 221 TCN), nhưng quan điểm chính thống của Trung Quốc là năm 475 TCN, mốc ranh giới giữa thời Xuân Thu và Chiến Quốc Lịch sử thời Chiến Quốc đã được các nhà sử học Trung Quốc nhất trí nhận định là lịch sử chế độ phong kiến, nên ở đây chỉ khảo sát lịch sử cổ - trung đại đến hết thời Xuân Thu mà thôi

Lịch sử có nhà nước ở Trung Quốc bắt đầu từ thời Hạ, nhưng thời kỳ này chưa có chữ viết nên tư liệu lịch sử về thời kỳ này tương đối ít Còn thời Thương, tuy đã có chữ giáp cốt nhưng tư liệu lịch sử để lại cũng chưa nhiều Chỉ có những tư liệu về thời Chu là tương đối phong phú

Từ ngàn xưa, Trung Quốc đã là một nước nông nghiệp, nghề nông được coi là một nghề gốc nên cơ cấu giai cấp và phương thức bóc lột ở đây về đại thể cũng tương tự như các nước phương Đông cổ đại khác

Giai cấp nông dân: ruộng đất ở Trung Quốc cổ đại thuộc quyền sở hữu

của nhà nước Ở các địa phương, ruộng đất được giao cho các làng xã quản lý Thời Ân Chu, tổ chức công xã nông thôn vẫn tồn tại, nông dân công xã đều là thần dân của nhà nước Để đem “đất vua” chia cho “dân vua”, các làng (lúc đầu là hàng năm, sau 3 năm một lần) chia lại ruộng đất cho các hộ nông dân

Ví dụ, một đôi vợ chồng nông dân được chia 100 mẫu (khoảng 2 ha) Sách

Công dương truyện do Hà Hưu đời Hán chú thích viết:

“Do vậy, thánh nhân đặt ra phép tỉnh điền để chia ruộng cho các khẩu, một vợ nhận ruộng 100 mẫu… Quan Tư Không phân biệt cẩn thận ruộng đất tốt xấu, chia làm 3 loại, ruộng loại tốt, mỗi năm canh tác một lần, ruộng loại vừa: 2 năm canh tác một lần, ruộng loại xấu: 3 năm canh tác một lần; đất tốt không được hưởng 1 mình, đất xấu không phải một mình chịu, do vậy 3 năm đổi ruộng một lần để cho của cải và sức người đều nhau.”

Về định mức ruộng đất cho các loại, Thực hóa chí sách Hán thư viết cụ thể hơn:

“Dân nhận ruộng loại tốt, mỗi suất 100 mẫu, ruộng loại vừa, mỗi suất

200 mẫu, ruộng loại xấu, mỗi suất 300 mẫu Hàng năm, cày cấu là loại ruộng tốt không phải đổi, để đất nghỉ ngơi 1 năm là loại ruộng vừa

Trang 34

phải đổi 1 lần, để đất nghỉ ngơi 2 năm là loại ruộng xấu, phải đổi 2 lần, bă năm cày đổi trở lại, tự thay đổi nơi cày cấy.”

Độ tuổi được nhận ruộng từ 20 đến 60 tuổi “Thực hóa chí” đã tưởng

hóa thời Ân Chu khi viết rằng:

“Dân đến 20 tuổi thì nhận ruộng, 60 tuoir thì trả ruộng, 70 tuổi thì được bề trên dưỡng lão, 10 tuổi trở xuống được bề trên nuôi dưỡng, 11 tuổi được bề trên khuyến khích làm việc.”

Việc tiến hành sản xuất của nông dân công xã được tiến hành theo đơn

vị gia đình Bài “Thất nguyệt” trong Kinh Thi miêu tả tình trạng đó như sau:

“Tháng giêng sửa cày cuốc, Tháng hai bận xuống đồng,

Vợ con ta làm cùng, Cơm đem ra tận ruộng”

Nhưng đồng thời, việc sản xuất ấy là do các chức dịch trong làng lãnh

đạo và giám sát:“Mùa xuân khi sắp ra cho dân ra đồng, sáng sớm, Lý tư ngồi

ở điếm bên phải, Lân trưởng ngồi ở điếm bên trái, sau khi ra hết thì trở về đến chiều cũng vậy Nhưng người vào ấp phải xách theo củi, nặng nhẹ chia cho nhau, những người tách hoa râm thì không phải xách

Mùa đông, dân vào hết trong ấp, phụ nữ cùng ngõ cùng nhau kéo sợi ban đêm, công của phụ nữ 1 tháng được 45 ngày Phải làm cùng nhau như vậy là để tiết kiệm đèn lửa, tốt xấu giống nhau và hợp với tập tục Hán Thư - Thực hóa chí )”

Canh tác ruộng đất cho nhà nước, nhân dân phải nộp phú thuế cho nhà

nước Hán Thư - Thực hóa chí viết: “Có phú, có thuế Thuế là phần thu 1/10

của ruộng công và thu nhập của công thương và những sản phẩm của rừng núi, sông hồ Phú để cung cấp cho ngựa và xe, vũ khí, binh lính, nộp vào kho nhà nước dùng cho việc ban cấp Thuế dùng cho việc cúng tế trời đất, tôn miếu, trăm thần và để phụng dưỡng thiên tử, ban cấp bổng lộc cho các quan

và để chi phí cho mọi việc”

Một tác phẩm quan trọng khác cho biết khá rõ về giai cấp nông dân trong xã hội Trung Quốc cổ đại là Kinh Thi Tuy là một tác phẩm văn học, nhưng qua việc miêu tả các hoạt động sản xuất và cuộc sống tình cảm của

Ngày đăng: 09/11/2017, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w