1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG GIÁO dục HOÀ NHẬP CHO học SINH KHUYẾT tật ở TRƯỜNG TIỂU học

80 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng mục tiêu giáo dục trẻ khuyết tật giúp giáo viên, học sinh và những người liên quan biết trẻ đang ở mức độ phát triển, cần đạt đến mức nào trong quá trình giáo dục, từ đó có định

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

MỤC LỤC

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRẺ KHUYẾT TẬT 2

1.1 Trẻ khuyết tật 2

1.2 Giáo dục trẻ khuyết tật 4

1.3 Các phương thức giáo dục trẻ khuyết tật 10

1.4 Sơ lược lịch sử giáo dục trẻ khuyết tật 14

1.5 Giáo dục trẻ khuyết tật ở Việt Nam 15

Chương 2 GIÁO DỤC HOÀ NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT 18

2.1 Khái niệm về giáo dục hoà nhập 18

2.2 Bản chất của giáo dục hoà nhập 19

2.3 Tính tất yếu của giáo dục hòa nhập 20

2.4 Những mặt tích cực của giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 25

2.5 Bước đi cơ bản của giáo dục hòa nhập 27

2.6 Qui trình giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật 32

Chương 3 HỖ TRỢ GIÁO DỤC HOÀ NHẬP 43

3.1 Nhóm bạn bè 43

3.2 Nhóm hỗ trợ cộng đồng 47

3.3 Quản lý giáo dục hoà nhập trong nhà trường 62

Chương 4 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC TRONG DẠY HỌC HÒA NHẬP 65

4.1 Khái niệm về đánh giá 65

4.2 Quan điểm đánh giá kết quả giáo dục trẻ khuyết tật 65

4.3 Quy trình đánh giá 67

4.4 Nội dung đánh giá kết quả 69

4.5 Phương pháp đánh giá 72

CÂU HỎI ÔN TẬP 78

Trang 3

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRẺ KHUYẾT TẬT

1.1 Trẻ khuyết tật

1.1.1 Khái niệm trẻ khuyết tật

Người khuyết tật nói chung, trẻ em khuyết tật nói riêng là một bộ phận dân

số tồn tại khách quan trong xã hội loại người Trong thời ngày nay, tất cả các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề người khuyết tật Có thể nói, việc đảm bảo cho người khuyết và trẻ em khuyết tật hòa nhập với đời sống xã hội được xem là thước đo cho sự phát triển, sự tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia Việt Nam là nước có số lượng người khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng khá lớn và đa dạng Theo số liệu điều tra sơ bộ, Việt Nam có trên 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,2% dân số, trong số đó trẻ dưới 15 tuổi bị khuyết tật chiếm khoảng 28% số với tổng số người khuyết tật, tức là khoảng 1,2 - 1,5% so với tổng dân số Vậy trẻ như thế nào thì gọi là trẻ khuyết tật?

Trẻ khuyết tật là những trẻ em do những tổn thương về cơ thể hoặc rối loạn các chức năng nhất định gây nên những khó khăn đặc thù trong các hoạt động vui chơi, học tập, lao động

Trang 4

- Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể sử dụng suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc

- Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường

- Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển

- Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp trên

1.2.3 Nguyên nhân gây nên khuyết tật

- Nguyên nhân bẩm sinh:

+ Do di truyền;

+ Do sinh đẻ không bình thường;

+ Do lây truyền từ cha mẹ, từ trong bào thai

- Những nguyên nhân do môi trường sống:

+ Đói nghèo, bệnh tật chưa chấm dứt;

+ Môi trường bị ô nhiễm;

+ Sử dụng thuốc chữa bệnh bừa bãi;

+ Các bệnh xã hội;

+ Chấn thương do tai nạn, rủi ro;

+ Chấn thương tinh thần;

+ Chiến tranh, bạo loạn

- Những nguyên nhân do xã hội:

+ Xã hội không quan tâm, thờ ơ, thái độ chưa đúng mực;

+ Quan niệm, thái độ đối với trẻ;

+ Môi trường chưa tạo điều kiện cho trẻ phát triển

Trang 5

- Các nguyên nhân khác:

1.2 Giáo dục trẻ khuyết tật

1.2.1 Mục tiêu giáo dục trẻ khuyết tật

Mục tiêu giáo dục trẻ khuyết tật là dự kiến kết quả cần đạt tới của quá trình giáo dục sau một thời gian nhất định, đó là cái địch đến của quá trình giáo dục

Nếu xác định đích đến kho phù hợp thì sẽ làm cho quá trình giáo dục bị lệch hướng, không hiệu quả Xây dựng mục tiêu giáo dục trẻ khuyết tật giúp giáo viên, học sinh và những người liên quan biết trẻ đang ở mức độ phát triển, cần đạt đến mức nào trong quá trình giáo dục, từ đó có định hướng và thực hiện bằng các hoạt động với phương tiện và điều kiện vật chất… phù hợp và cần thiết Căn

cứ vào mục tiêu, những biện pháp thực hiện, những hỗ trợ cần thiết đối với trẻ sẽ được hoạch định cho kế hoạch cá nhân Mục tiêu còn có ý nghĩa quan trọng là giúp các nhà quản lý đánh giá chính xác sự phát triển của trẻ

Mục tiêu giáo dục trẻ khuyết tật cần xây dựng cụ thể, chính xác, phù hợp với đối tượng và có tính khả thi Mục tiêu đồng thời mang tính định hướng những hoạt động giáo dục trong thời gian hạn định

Theo nghĩa rộng, mục tiêu giáo dục trẻ khuyết tật là: Đảm bảo cho trẻ

khuyết tật hưởng những quyền giáo dục cơ bản, không bị tách biệt, có điều kiện thuận lợi để tham gia vào mọi hoạt động xã hội và có cơ hội cống hiến

Phát triển toàn diện các mặt cho trẻ khuyết tật, bao gồm: đức, trí, thể mỹ

và khả năng lao động Nghĩa là phát triển vốn kiến thức, rèn luyện kỹ năng văn hóa - xã hội và trau dồi tính tích cực trong mọi hoạt động

Tạo cơ hội cho trẻ khuyết tật hòa nhập vào môi trường giáo dục bình thường, phát triển hài hòa và tối đa những khả năng còn lại để hình thành, phát triển nhân cách

Mục tiêu giáo dục cho trẻ khuyết tật bao gồm:

- Kiến thức văn hóa: Đạt trình độ văn hóa tùy theo năng lực của bản thân trong môi trường giáo dục phổ thông

- Những kỹ năng xã hội: Trẻ khuyết tật được trang bị những kiến thức và kỹ năng xã hội như trẻ bình thường ở cùng độ tuổi, đồng thời bổ sung những kỹ năng xã hội thông thường tự hình thành ở trẻ bình thường

Trang 6

- Mục tiêu sức khỏe: Cải thiện tình trạng giảm sút các chức năng do tật, phát huy tối da những năng lực còn lại Rèn luyện thói quen và kỹ năng tự phục vụ, yêu thích lao động, đồng thời giáo dục định hướng nghề nghiệp tùy theo năng lực sức khỏe của trẻ

1.2.2 Nội dung giáo dục trẻ khuyết tật

1.2.2.1 Nội dung giáo dục cơ bản

Nội dung giáo dục cơ bản nhằm đảm bảo cho trẻ khuyết tật được hưởng những quyền giáo dục cơ bản, quyền tự do, không bị tách biệt và được cụ thể trong từng cấp học Các trường học thực hiện các nội dung giáo dục học sinh thông qua các hoạt động chính khóa, ngoại khóa và đặc biệt là hoạt động dạy học

Có cách tiếp cận khác nhau để định nội dung giáo dục cho trẻ khuyết tật

- Tiếp cận cá nhân:

Theo cách tiếp cận này, khuyết tật của trẻ và những khó khăn do khuyết tật gây nên được chú trọng đặc biệt Trẻ khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn, thẩm chí không thể một chương trình giáo dục như với trẻ bình thường Như vậy có thể nãy sinh xu hướng giáo dục vào phục hồi và chăm sóc y tế cho trẻ Những kiến thức, kỹ năng văn hóa, xã hội thường bị coi nhẹ

Với quan điểm cho rằng, nhiều chức năng bị suy giảm hoặc mất do tật nguyền gây ra làm cho trẻ khuyết tật trở nên khó khăn khi tham gia hầu hết các hoạt động trong cuộc sống Do vậy, những chức năng thiếu hụt đó cần được tác động để phục hồi Theo quan điểm, các tác động phục hồi chức năng tập trung vào khía cạnh y tế, đó là những đơn thuốc của bác sỹ, những phương pháp rèn luyện để khôi phục, cải thiện hiệu quả hoạt động của những phần cơ thể dị tật

Với cách tiếp cận này, đứa trẻ chủ yếu được chăm sóc và sử dụng các liệu pháp tác động vào chính cơ thể của trẻ mà ít chú ý tới ảnh hưởng của quá trình giáo dục đến năng lực nhận thức, sự nổ lực cá nhân và sự điều chỉnh hành vi phù hợp với cuộc sống cộng đồng Trẻ khuyết tật mặc dù được chăm sóc chu đáo nhưng khuyết tật về thể chất sẽ không bao giờ khỏi và hơn nữa, trước cộng đồng trẻ trở nên lạc lỏng và hoàn toàn bị tách biệt

- Tiếp cận xã hội:

Trang 7

Sự phát triển của đứa trẻ được nhìn nhận trong tổng thể, trong mối tương tác văn hóa, xã hội Thực tiễn đã chứng minh rằng, trẻ khuyết tật hoàn toàn có thể học cùng nội dung giáo dục với trẻ bình thường Trong môi trường giáo dục bình thường, các em sẽ dễ dàng học được không những kiến thức, kỹ năng xã hội, khả năng thích ứng và hòa nhập trẻ khuyết tật đã đáp ứng và hòa nhập trẻ khuyết tật đã đáp ứng được các yêu cầu về mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành cho mọi học sinh (trong đó có học sinh khuyết tật) phù hợp với yêu cầu chung của xã hội

Nội dung giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật được xây dựng dựa trên quan điểm; mọi trẻ đều có thể học được, những trải nghiệm của trẻ trong quá trình học tập sẽ giúp trẻ học hỏi những tri thức mới và có những hiểu biết, nhận thức sát thực về cuộc sống Xây dựng nội dung giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật không chỉ bó hẹp ở phạm vi sách vở mà phải gắn liền với kiến thức thực tiễn Nội dung phải hướng trẻ vào các hoạt động thực tiễn, tiếp nhận kiến thức thông qua thực hành và trải nghiệm sát thực Trong môi trường dạy học cụ thể cần phải chú ý tới việc cung cấp kiến thức, kỹ năng và hình thành thái độ cho trẻ ở các mặt: kiến thức, kỹ năng học đường Những nội dung giáo dục đó sẽ giúp các em

có thể tiếp tục học lên các cấp học cao hơn, có kiến thức và kỹ năng giải quyết các vấn đề trong thực tế cuộc sống, có thái độ đúng đắn trong mối quan hệ bạn

bè, gia đình, cộng đồng Đồng thời có thái độ và giải pháp phù hợp trước những

cơ hội hay thách thức trong những hoạt động xã hội

Xây dựng nội dung giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật được xác định theo những tiêu chí cơ bản sau: Nội dung, kiến thức phải đảm bảo tính vừa sức

và đảm bảo cho sự phát triển của trẻ sau này, đồng thời cần đặc biệt chú ý tới những lĩnh vực thiết yếu của cuộc sống gắn liền cuộc sống học tập của trẻ với sinh hoạt hòa nhập cộng đồng Việc tham gia học tập của trẻ có hiệu quả hay không phụ thuộc nhiều ở môi trường tác động giáo dục và sự điều chỉnh nội dung hợp lý cho từng đứa trẻ

Định hướng cho cách tiếp cận nội dung giáo dục cho trẻ khuyết tật là: + Bình đẳng về cơ hội được tham gia các nội dung giáo dục của trẻ trong khuyết tật ở trường phổ thông

Trang 8

+ Tính đến năng lực và nhu cầu của trẻ khuyết tật

+ Xác định điều kiện, cơ hội học tập, nghề nghiệp sau này của trẻ

Thông qua nội dung giáo dục, các nhóm kỹ năng cơ bản được hình thành đáp ứng được những nội dung cần thiết trong hoạt động lao động, vui chơi, học tập của trẻ Các kỹ năng được rèn luyện và củng cố từng bước từ đơn giản đến phức tạp, từ thô sơ đến hoàn thiện, từ không ổn định đến ổn định

Yêu cầu về mức độ chính xác, phức tạp và tinh xảo của các kỹ năng ở trẻ khuyết tật đạt được thông qua các nội dung giáo dục ở mỗi lĩnh vực khác nhau, tùy thuộc vào cơ chế hoạt động chức năng, năng lực của trẻ Từ đó đặt ra yêu cầu cao, đồi hỏi sự nổ lực trong hoạt động của trẻ cộng với sự hỗ trợ khuyến khích từ bên ngoài

Tạo mối quan hệ liên kết gữa các kỹ năng và tình huống khác nhau, đẩy mức độ sử dụng của trẻ theo hướng từ những tình huống quen thuộc, mới lạ nhưng gần giống với mẫu, đến nhiều tình huống khác nhau và đòi hỏi sự phối hợp, huy động nhiều kỹ năng phức tạp theo chuổi hoạt động để giải quyết nhiệm

vụ

- Thái độ

Thái độ là sự thể hiện tình cảm, sự nhận định về giá trị, ước muốn, sự nổ lực,… của bản thân trẻ trước các vấn đề xảy ra xum quanh và có thể đánh giá được thông qua hành vi hằng ngày của trẻ Thái độ của trẻ khuyết tật càng được

ổn định và xác định theo thời gian và tiến trình học tập Thái độ của trẻ được hình thành từ chính những mỗi quan hệ tác động trong quá trình tương tác, cùng học tập với bạn bè và những người xum quanh, từ việc giải quyết nhiệm vụ học tập và ứng dụng trong các tình huống thực Quá trình học tập của trẻ trong trường hòa nhập cho trẻ càng trải nghiệm khác nhau thì việc hình thành thái độ, niềm tin cho trẻ càng rõ rang và sâu sắc hơn

Trong giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, nội dung phục hồi chức năng định hướng theo hướng tiếp cận giáo dục Nội dung này được coi là một bộ phận trong giáo dục chung nhằm giúp trẻ khuyết tật biết giữ gìn và phát triển khả năng nổi trội của mình đồng thời biết cách phối hợp sử dụng chúng để bù đắp theo những chức năng đã mất trong quá trình học tập và sinh hoạt

Trang 9

Rèn luyện phát triển những chức năng bị suy giảm, bao gồm: việc sử dụng đúng mức và phù hợp, gìn giữ và bảo vệ phần chức năng còn lại, biết sử dụng các phương tiện, dụng cụ để hoạt động chức năng thiếu hụt Ví dụ: để tận dụng phần thị lực còn lại ở trẻ nhìn kém cần cho trẻ đeo kính, sử dụng máy trợ thính đối với trẻ khiếm thính,

Về vật chất, nội dung phục hồi chức năng là những hoạt động giáo dục cần

bù đắp, thay thế những chức năng bị mất hoặc suy giảm Trong giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật cần chú ý tối đa những chức năng bù trừ trong quá trình tiếp nhận và xử lý thông tin của trẻ Nếu nội dung này được thực hiện thường xuyên

và đúng phương pháp thì nó sẽ là đòn bẩy cho hoạt động học tập, nhận thức của trẻ, từ đó tăng nhanh năng lực hòa nhập cộng đồng

1.2.2.2 Hình thành và phát triển các kỹ năng xã hội

Hình thành và phát triển các kỹ năng xã hội là nội dung quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ khuyết tật Thực tế đã cho thấy sự hình thành và phát triển những kỹ năng xã hội ở trẻ khuyết tật thường muộn và chậm hơn so với trẻ bình thường cùng độ tuổi Thậm chí nếu không được can thiệp giáo dục phù hợp, những kỹ năng xã hội ở trẻ khuyết tật có khi còn phát triển lệch lạc Điều này làm cho trẻ khuyết tật còn gặp nhiều khó khăn thận chí không được chấp nhận của cộng đồng trong quá trình hòa nhập Sự chậm trể hay lệch hướng của các kỹ năng xã hội gây ra do hậu quả của khuyết tật và tác động của môi trường nhận thức của trẻ Do vậy đối với trẻ khuyết tật, vấn đề hình thành và rèn luyện kỹ năng xã hội cần có những nội dung giáo dục thiết thực và kế hoạch dược thiết kế phù hợp

Sự hình thành và phát triển trí tuệ, lệch hướng các kỹ năng xã hội ở trẻ khuyết tật còn tùy thuộc vào mức độ và các dạng tật của trẻ Do vậy, nội dung giáo dục để hình thành và phát triển các kỹ năng xã hội cho trẻ khuyết tật cần được xây dựng cụ thể dựa trên những đánh giá kỹ năng hình thành xã hội của từng cá nhân trẻ Quyết định nội dung những kỹ năng xã hội cần dạy cho mỗi trẻ khuyết tật cũng cần được dựa trên độ tuổi của trẻ và những chuẩn mực văn hóa của mỗi vùng miền Nội dung giáo dục các kỹ năng xã hội cho trẻ khuyết tật có thể bao gồm hai phần chính là: dạy những kỹ năng xã hội phù hợp và giảm thiểu

Trang 10

hoặc loại bỏ những hành vi không phù hợp

1.2.2.3 Giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề

Nhà nước đã ban hành những văn bản pháp luật có liên quan tới giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho người khuyết tật, trong đó có “pháp lệnh người tàn tật” số 06/1998/PL-UBTVQH ban hành ngày 30/7/1998 Sau đây là những điểm chính liên quan tới giáo dục hướng nghiệp dạy nghề cho người khuyết tật trong văn bản này

- Các cơ quan tổ chức tạo điều kiện cho người tàn tật được chọn nghề, học nghề làm những việc trong tổ chức hoặc làm việc tại nhà Người khuyết tật học nghề được giảm hoặc miễn học phí và hưởng trợ cấp xã hội

- Cơ sở dạy nghề và cơ sở sản xuất dành riêng cho người khuyết tật được giảm hoặc miễn phí, vay vốn với lãi suất ưu đãi, địa phương giao hoặc cho thuê đất, chính phủ hỗ trợ ngân sách xây dựng trường lớp, mua sắm thiết bị, phương tiện dạy học, đào tạo giáo viên

- Người khuyết tật làm việc tại nhà được vay vốn, được chính quyền giúp

mà cơ quan có nhu cầu tuyển dụng

- Các doanh nghiệp phải tuân thủ những quy định luật của Bộ luật lao động

và những quy định riêng đối với lao động là người khuyết tật

Giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề là nội dung quan trọng ở phổ thông cho những học sinh bình thường và nó trở nên càng quan trọng hơn khi đối tượng giáo dục là trẻ khuyết tật Việc giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề sớm cho trẻ khuyết tật sẽ tăng khả năng lựa chọn nghề nghiệp, khả năng lao động, hòa nhập xã hội của trẻ Quá trình giáo dục hướng nghiệp cần được tiến hành qua từng bước, phù hợp với quá trình phát triển toàn diện của con người Những bước đó có thể là: nhận thức, tìm hiểu, chuẩn bị và thực tập

Việc xây dựng nội dung hướng nghiệp cho trẻ khuyết tật cần được cụ thể

Trang 11

hóa cho phù hợp với từng cá nhân trẻ khuyết tật Cơ sở xậy dựng những nội dung giáo dục hướng nghiệp cụ thể là: đặc điểm, tính cách của mỗi trẻ, khả năng nghề nghiệp của các em, điều kiện gia đình, nhà trường và cộng đồng, vì vậy những nội dung giáo dục hướng nghiệp dưới đây chỉ đóng vai trò là đường hướng công việc

Nội dung giáo dục lao động tự phục vụ, hướng nghiệp cho học sinh khuyết tật bậc Tiểu học bao gồm:

- Biết lao động tự phục vụ

- Biết cách bảo vệ, giữ gìn những dụng cụ trợ giúp

- Biết sắp xếp thời gian biểu tự hợp lý cho các hoạt động học tập ở trường

- Bắt đầu tìm hiểu một số kỹ năng cho cộng việc nào đó

- Tập trung những công việc phù hợp với khả năng trong gia đình, trường học, nơi vui chơi

- Bắt đầu nhận ra và mô tả được những nhiệm vụ khác nhau cho một công việc nào đó

- Bắt đầu hiểu người ta có thể học cách thi hành một nhiệm vụ như thế nào

và chỉ dẫn cho người khác như thế nào

- Bắt đầu nhận ra rằng có những công việc quá sức, năng lực của mình

- Nhận ra những nguồn cung cấp thông tin khác nhau về công việc như đài, vô tuyến, thư viện,…

- Bắt đầu có kiến thức về những đòi hỏi cần có của một người khi muốn làm việc

1.3 Các phương thức giáo dục trẻ khuyết tật

1.3.1 Giáo dục chuyên biệt

1.3.1.1 Thế nào là giáo dục chuyên biệt

Giáo dục chuyên biệt là những phương thức giáo dục tách biệt khi trẻ em

Trang 12

có cùng dạng khuyết tật vào cơ sở giáo dục riêng

Những trẻ khuyết tật có cùng dạng, cùng mức độ được học theo một chương trình riêng với phương pháp riêng biệt Đây là mô hình xuất hiện sớm nhất trong lịch sử giáo dục trẻ khuyết khuyết tật, nó được xuất hiện từ những năm đầu của thế kỷ XVI ở các nước Pháp, Đức, Tây Ban Nha,… Đầu tiên là một

số tu sĩ tập trung những trẻ câm điếc, mù vào các lớp học trong nhà thờ để dạy Dần dần nó được phát triển ở nhiều nước và trở thành hệ thống các trường chuyên biệt dạy trẻ khuyết tật Ở đây trẻ được học chương trình riêng, tách biệt với các hệ thống giáo dục quốc dân

1.3.1.2 Mục tiêu của giáo dục chuyên biệt

Theo quan điểm thời bấy giờ trẻ lành và trẻ khuyết tật được phân biệt rất

rõ ràng Trẻ khuyết tật được coi như những bệnh nhân, những con bệnh cần phải được chữa trị Ví dụ: trẻ câm cần phải dạy nói, trẻ mù cần phải dạy hướng trong không gian để trẻ có thể đi lại

Quan điểm giáo dục chuyên biệt xem trẻ khuyết tật là đối tượng giáo dục được huấn luyện để trở thành bình thường Chính vì vậy, người ta nói rằng, mô hình giáo dục chuyên biệt là “mô hình y tế”, mô hình lấy phục hồi chức năng làm mục tiêu giáo

Giáo dục chuyên biệt trẻ khuyết tật nhằm đạt mục tiêu chính sau đây:

- Mục tiêu nhân đạo

Trẻ khuyết tật là đối tượng trợ giúp của các tấm lòng hảo tâm, từ thiện Họ nhận được sự thương hại của cộng đồng xã hội

- Mục tiêu chăm sóc giáo dục

Trẻ khuyết tật là đối tượng của quá trình phục hồi chức năng và giáo dục Trong quá trình phục hồi chức năng là mục tiêu cuối cùng Chính mục tiêu đó nên người ta chia nhỏ những trẻ khuyết tật thành những dạng, mức độ đồng nhất

để từ đó tác động vào đứa trẻ theo những nội dung và biện pháp đồng nhất như trẻ điếc: điếc nặng, điếc nhẹ,… Phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật và hy vọng đến một ngày nào đó, đứa trẻ sẽ trở thành bình thường hoặc gần với những đứa trẻ bình thường khác

Trang 13

1.3.1.3 Những hạn chế của giáo dục chuyên biệt

Hạn chế của giáo dục chuyên biệt là quan niệm, đánh giá không đúng về trẻ khuyế tật: coi trẻ là những đứa trẻ thấp kém, không có khả sống và học tập như đứa trẻ bình thường khác Tách trẻ ra khỏi cộng đồng, áp dụng phương pháp giáo dục đặc biệt

Sự giáo dục chuyên biệt mang lại cho trẻ những mặc cảm, tự ty và những cản trở không cho trẻ phát triển hết khả năng của mình

Giáo dục chuyên biệt tạo ra môi trường bị hạn chế về nhiều mặt Môi trường này không mở ra cơ hội để trẻ khuyết tật phát triển hết những tiềm năng của mình Hiệu quả giáo dục trong trường chuyên biệt thấp Nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp phải bắt đầu lại từ đầu để tái hòa nhập xã hội

Ngoài ra mô hình giáo dục chuyên biệt biệt rất tốn kém, chi phí cao cho xây dựng cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ giáo viên riêng, cách làm này sẽ không huy động được lực lượng xã hội tham gia giáo dục Thực hiện mô hình giáo dục chuyên biệt sẽ làm cho phần lớn trẻ khuyết tật thất học

Tuy nhiên mô hình giáo dục chuyên biệt đã xuất hiện từ rất sớm và tồn tại cho đến ngày nay, nó đã giúp cho một bộ phận nhỏ trẻ khuyết tật được chăm sóc

và giáo dục Giáo dục chuyên biệt hình thành và phát triển phù hợp với những điều kiện xã hội, kinh tế và phù hợp với trình độ nhận thức, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật của nhân loại Nó đóng vai trò tích cực trong lịch sử phát triển giáo dục trẻ khuyết tật

1.3.2 Giáo dục hội nhập

Trẻ khuyết tật (TKT) được học trong lớp học chuyên biệt, đặt trong trường phổ thông bình thường Trong quá trình giáo dục, TKT nào có “khả năng” sẽ được học chung ở một số môn học hoặc tham gia một số hoạt động cùng trẻ bình thường

Ture Johson (chuyên gia Liên Hợp về phục hồi chức năng) đã đưa ra khái niệm về các mức độ hội nhập như sau:

1 Hội nhập về thể chất: Trẻ lành và TKT được giao lưu với nhau hay

cùng chơi với nhau trong một địa điểm và trong một thời gian nhất định

2 Hội nhập về chức năng: Trẻ lành và TKT được tham gia cùng nhau

Trang 14

trong một số hoạt động như thể thao, vẽ,

3 Hội nhập xã hội: Trẻ cùng học với nhau trong một trường nhưng theo

các chương trình khác nhau, có giờ học chung và học riêng tuỳ theo môn học và khả năng học của trẻ

4 Hội nhập hoàn toàn: TKT học như trẻ lành theo một chương trình

cứng bắt buộc

- Vấn đề: Khi nào thì hội nhập về thể chất, khi nào hội nhập về chức năng;

ai là người quyết định cho trẻ hội nhập ở các mức đó

- Những hạn chế :

+ TKT chưa thực sự được hoà nhập với trẻ bình thường

+ Việc học tập của TKT trong các lớp chuyên biệt theo một chương trình riêng, không trùng lặp với các lớp khác nên trẻ không thích ứng được

Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy, đây là con đường bế tắc không có tính phát triển Một trường Tiểu học tại quận Đống Đa, Hà Nội đã mở 4 lớp chuyên biệt cho khoảng 60 trẻ chậm phát triển trí tuệ (khó khăn trong học tập) Sau 14 năm duy trì, mô hình trên đã bộc lộ một số tồn tại sau :

- Phần lớn HS không qua được cấp tiểu học;

- Trẻ lĩnh hội được rất ít các kĩ năng xã hội, khi ra trường không hoà nhập được vào xã hội

- Đầu ra cho trẻ lớn tuổi rất bế tắc, trẻ không biết làm gì

- Nhiều trẻ bị ức chế về tâm lí, không muốn học trong lớp chuyên biệt

Trong chương trình giáo dục hội nhập do UNICEF tài trợ thực hiện ở một

số tỉnh thành từ năm 1991 đã mở một số lớp chuyên biệt trong trường phổ thông, nhiều lớp đã tự giải tán sau một vài năm

Chương trình giáo dục hội nhập trẻ khiếm thính cũng rơi vào tình trạng tương tự Nhiều trẻ được hội nhập, sau một thời gian lại trở về với trường chuyên biệt

1.3.3 Giáo dục hoà nhập

Giáo dục hòa nhập (GDHN) là phương thức giáo dục, trong đó TKT cùng học với trẻ em bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống

Trang 15

GDHN xuất phát từ quan điểm xã hội về giáo dục, coi nhà trường như một xã hội thu nhỏ và phản ánh tính chất đa dạng của xã hội, vì vậy môi trường giáo dục phổ thông được chú ý cải thiện sao cho đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi

HS, kể cả những HS có khó khăn đặc thù Đây là mô hình giáo dục tiến bộ nhất được biết đến trong lĩnh vực giáo dục TKT

1.4 Sơ lược lịch sử giáo dục trẻ khuyết tật

- Bị phân biệt đối xử

- Chưa được đi học

- Không có nghề nghiệp

Người khuyết tật là người nghèo khổ nhất, lệ thuộc và luôn bị đe dọa hoặc

là cất tiếng yếu ớt, chẳng nói được gì… Họ chẳng có cơ hội hưởng một quyền lợi

và quyền lực hoặc một uy thế chính trị nào cả Có tới 98% người khuyết tật bị bỏ mặc hoăc lãng quên

* Giai đoạn trước thế kỷ XVI

Do quạn niệm của xã hội, do trình độ phát triển của khoa học, cho rằng người khuyết tật không thể có suy nghĩ, tư duy bình thường vì họ bị tổn thương các cơ quan cảm giác nên họ không thể học được Tuy nhiên, vẫn có một số nơi trên thế giới người ta vẫn dạy người mù, điếc (trong tu viện)

* Giai đoạn từ thế kỷ XVI – XVIII

Đây là thời kỳ mở đầu cho dạy trẻ khuyết tật, đặc biệt là trẻ điếc và trẻ mù Đối với trẻ điếc, người ta tìm cách dạy trẻ bằng ký hiệu xuất hiệu đầu tiên ở

Trang 16

Pháp ở Tây Ban Nha Về sau ở Đức dạy ngôn ngữ nói

Đối với trẻ mù, xuất hiện chữ Braille đã giúp cho việc dạy trẻ mù thuận lợi nhiều hơn

Trong thời gian này, thế giới đã hình thành hệ thống các lớp, các trường dạy trẻ điếc và trẻ mù

* Giai đoạn từ thế kỷ XVIII - XX

Do sự phát triển của giáo dục đặc biệt cũng như cũng khoa học kỹ thuật hệ thống các trường chuyên biệt dạy trẻ điếc, trẻ mù và một số tật khác cũng phát triển rất nhanh trên khắp thế giới Đồng thời hỗ trợ giáo dục trẻ khuyết tật bằng máy móc đặc thù ngày càng tăng cả về số lượng lấn chất lượng (máy trợ thình)

* Giai đoạn từ thế kỷ XX đến nay

Vấn đề người khuyết tật và trẻ khuyết tật ngày càng được xã hội quan tâm Quan điểm về người khuyết tật và trẻ khuyết tật ngày càng được xã hội quan tâm Quan điểm về người khuyết tật được thay đổi mạnh mẽ trong cộng đồng Bởi vậy, việc chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật chuyển sang một giai đoạn mới Giai đoạn mà trẻ khuyết tật được chính thức thừa nhận là một thành viên bình đẳng trong xã hội Do việc đánh giá người khuyết tật nói riêng đúng đắn và khoa học, nên việc chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật hiệu quả hơn

Từ cuối thế kỷ XX, do việc đánh giá đúng nhu cầu và khả của trẻ khuyết tật, một hình thức giáo dục mới xuất hiện: Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật, phương pháp giáo dục hòa nhập trẻ khuyết khuyết ngày càng phát triển và hoàn thiện ở nhiều nước trên thế giới

1.5 Giáo dục trẻ khuyết tật ở Việt Nam

Ở Việt Nam, có khoảng một triệu trẻ khuyết (trong số gần sáu triệu người khuyết tật) theo số liệu thực năm 2005

Ở Hòa Bắc (Hòa Vang – Đã Nẵng): 1,87%, một xã thuộc huyện Yên Lập (Phú Thọ): 1,92%; huyện Triệu Phong (Quảng Trị): trên 2,09%

Tỷ lệ khuyết tật trong độ tuổi từ khi sinh đến hết 16 tuổi trong cả nước là 3,4% so với trẻ em cùng độ tuổi

Dạng khuyết tật trong trong số trẻ khuyết tật: Trẻ khó khăn học: khoảng

Trang 17

28,36%; khuyết tật về vận động: 19,25%: khiếm thị: 13,73%; khiếm thính: 12,43%; ngôn ngữ: 12,57%; đa tật: 12,62%

Việc chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật ở Việt Nam được tiến hành sớm và phát triển qua các thời kỳ:

- Hệ thống quản lý nhà nước về giáo dục trẻ khuyết tật được hình thành đi vào hoạt động có nề nếp Tháng 11 năm 2002, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo

đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo giáo dục trẻ khuyết tật của Bộ Ban chỉ đạo giáo dục trẻ khuyết tật của Bộ đã chỉ đạo sát việc thực hiện công tác giáo dục trẻ khuyết tật ở địa phương thông qua ban điều hành của các tình Đây là một việc làm cụ thể được đánh dấu một bước tiến mới trong công tác quản lý nhà nước về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật

- Nguồn nhân lực giáo dục cho trẻ khuyết tật đang được hình thành phát triển Đến nay, có 04 trường Đại học và 03 trường Cao đẳng Sư phạm đã thành

Trang 18

lập khoa giáo dục đặc biệt Hệ thống chương trình, giáo trình và tài liệu giáo dục hòa nhập được hoàn thiện hơn Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục mầm non, tiểu học của các tỉnh đều được tập huấn về giáo dục hòa nhập và can thiệp sớm

Quy mô các trường giáo dục hòa nhập ngày càng được mở rộng, chất lượng giáo dục hòa nhập ngày từng bước được nâng lên Số lượng khuyết tật đi học trong các loại hình, trường lớp được tăng lên đáng kể trong các năm gần đây Khoảng 100 nghìn trẻ trong các trường giáo dục hòa nhập Cùng với sự tăng nhanh về số lượng, chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập cũng từng bước được nâng lên

Mặc dù trong các năm qua, giáo dục trẻ khuyết tật đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, song những khó khăn, trở ngại không còn ít Điều này được thể hiện cụ thể ở các mặt:

+ Số lượng trẻ khuyết tật đi học còn rất hạn chế khoảng 100 nghìn trong tổng số 1,2 triệu (chiếm tỷ lệ 10% so với 50% kế hoạch)

+ Chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật đang ở mức khiêm tốn Số lượng học sinh đang đi học hòa nhập còn hạn chế về “hòa nhập văn hóa” Các em đi học chưa phát triển tiềm năng của mình

Trang 19

Chương 2 GIÁO DỤC HOÀ NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT

2.1 Khái niệm về giáo dục hoà nhập

Giáo dục hoà nhập là phương thức giáo dục trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ em bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống

Thuật ngữ giáo dục hoà nhập được xuất phát từ Canada và được hiểu là những trẻ ngoại lệ được hoà nhập, qui thuộc vào trường hoà nhập Giáo dục hoà nhập là phương thức giáo dục mọi trẻ em, trong đó có trẻ khuyết tật, trong lớp học bình thường của trường phổ thông Giáo dục hoà nhập là "Hỗ trợ mọi học sinh, trong đó có trẻ khuyết tật, cơ hội bình đẳng tiếp nhận dịch vụ giáo dục với những hỗ trợ cần thiết trong lớp học phù hợp tại trường phổ thông nơi trẻ sinh sống nhằm chuẩn bị trở thành những thành viên đầy đủ của xã hội Hoà nhập không có nghĩa là "xếp chỗ" cho trẻ khuyết tật trong trường lớp phổ thông và không phải tất cả mọi trẻ đều đạt trình độ hoàn toàn như nhau trong mục tiêu giáo dục Giáo dục hoà nhập đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết để mọi học sinh phát triển hết khả năng của mình Sự hỗ trợ cần thiết đó được thể hiên trong việc điều chỉnh chương trình, các đồ dùng dạy học, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt, các kỹ năng giảng dạy đặc thù,… Các giáo viên và nhân viên nhà trường cần thấm nhuần tư tưởng hoà nhập để trẻ khuyết tật được phụ thuộc lẫn nhau, được chấp nhận, được có giá trị, được hỗ trợ của bạn bè… Trường hoà nhập là "Tổ chức giải quyết vấn đề đa dạng nhằm chú trọng đến việc học của mọi trẻ Mọi giáo viên, cán bộ và nhân viên nhà trường cam kết làm việc cùng nhau tạo ra và duy trì môi trường đầm ấm

có hiệu quả cho việc học tập Trách nhiệm cho mọi trẻ được chia sẻ"

Giáo dục hoà nhập dựa trên quan điểm xã hội trong việc nhìn nhận đánh giá đúng trẻ khuyết tật Nguyên nhân gây ra khuyết tật không phải chỉ do khiếm khuyết của bản thân cá thể mà còn là môi trường xã hội Môi trường xã hội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ khuyết tật Trẻ khuyết tật về vận động (như liệt) sẽ là mất khả năng nếu không có các phương tiện đi lại, không được tham gia vào hoạt động xã hội và sẽ trở thành tàn phế nếu không ai chăm sóc giúp đỡ Nhưng cũng trẻ đó, nếu được hỗ trợ, có phương tiện đi lại và xã hội

có những cơ sở vật chất thích ứng không tạo ra các khó khăn (như có các đường

Trang 20

lên xuống dễ dàng cho xe đẩy) và cùng được tham gia vào các hoạt động, trẻ sẽ được bình đẳng và phát triển như mọi trẻ khác

Giáo dục hoà nhập dựa trên quan điểm tích cực về trẻ khuyết tật Mọi trẻ khuyết tật đều có những năng lực nhất định, chính từ sự đánh giá đó mà trẻ khuyết tật được coi là chủ thể chứ không phải là đối tượng thụ động trong quá trình tiếp nhận các tác động giáo dục Từ đó người ta tập trung quan tâm, tìm kiếm những cái mà trẻ khuyết tật có thể làm được Các em sẽ làm tốt những việc phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình Trong giáo dục, gia đình, cộng đồng, xã hội cần tạo ra sự hợp tác và hoà nhập với các em trong mọi hoạt động Vì thế các em phải được học ngay ở trường học gần nhất, nơi các em sinh ra và lớn lên Các em luôn luôn được gần gũi gia đình, luôn được sưởi ấm bằng tình yêu của cha, mẹ, anh, chị mình và được cả cộng đồng đùm bọc, giúp đỡ Trẻ khuyết tật sẽ được học cùng một chương trình, cùng lớp, cùng trường với các bạn học sinh bình thường Cũng như mọi học sinh khác, học sinh khuyết tật là trung tâm của quá trình giáo dục Các em được tham gia đầy đủ, và bình đẳng mọi công việc trong nhà trường và cộng đồng để thực hiện lý tưởng "trường học cho mọi trẻ em, trong một xã hội cho mọi người" Chính lý tưởng đó tạo cho trẻ khuyết tật niềm tin, lòng tự trọng, ý chí vươn lên để đạt đến mức cao nhất mà năng lực của mình cho phép Đó là giáo dục hoà nhập

2.2 Bản chất của giáo dục hoà nhập

Mọi trẻ em đều được học trong môi trường giáo dục, mà trong đó trẻ có điều kiện và có cơ hội để lĩnh hội những tri thức mới theo nhu cầu và khả năng của mình Để có một môi trường học tập như vậy cho mọi trẻ em, giáo dục hoà nhập cần đề cập đến những nội dung cơ bản sau đây trong dạy và học:

- Trẻ được học theo một chương trình phổ thông

- Tuỳ theo năng lực và nhu cầu của từng trẻ mà giáo viên có trách nhiệm điều chỉnh nội dung cho phù hợp

- Đổi mới phương pháp dạy và học, đặc biệt giáo viên cần biết cách điều chỉnh và lựa chọn những hoạt động học tập sao cho mọi trẻ đều có đủ những điều kiện thuận lợi và cơ hội để lĩnh hội kiến thức mới

- Môi trường giáo dục phù hợp cho mọi đối tượng

Trang 21

- Porter (1995) đã đề xuất các yếu tố của giáo dục hoà nhập như sau:

+ Học sinh khuyết tật được học ở trường thuộc khu vực sinh sống

+ Học sinh khuyết tật, với tỷ lệ hợp lí, được bố trí vào lớp học phù hợp lứa tuổi

+ Cung cấp các dịch vụ và giúp đỡ HS ngay trong trường hoà nhập

+ Mọi học sinh đều là thành viên của tập thể Bạn bè cùng lứa giúp đỡ lẫn nhau

+ Đánh giá cao tính đa dạng của học sinh

+ Điều chỉnh chương trình phổ thông cho phù hợp với năng lực nhận thức của học sinh Phương pháp dạy học đa dạng dựa vào điểm mạnh của học sinh Học sinh với những khả năng khác nhau được học theo nhóm

+ Giáo viên phổ thông và chuyên biệt cùng chia sẻ trách nhiệm giáo dục mọi đối tượng học sinh

+ Chú trọng cả lĩnh hội tri thức và kĩ năng xã hội

2.3 Tính tất yếu của giáo dục hòa nhập

Giáo dục hoà nhập là một xu thế, là một sự tất yếu của thời đại Tại Hội nghị về giáo dục cho trẻ khuyết tật tại Agra, ấn độ (3/1998) do UNESCO tổ chức

đã khẳng định xu hướng: Giáo dục hoà nhập cho mọi trẻ em Những nội dung sau đây sẽ lý giải tại sao phải tiến hành giáo dục hoà nhập cho mọi trẻ em, trong đó

Trang 22

* Thông đạt kiến thức, kỹ năng

Thành đạt và có khả năng tốt trong một hoặc một vài lĩnh vực Được phát triển toàn diện Có tư duy linh hoạt và năng lực giải quyết các vấn đề Có động

cơ đúng đắn Có tri thức văn hoá và có khả năng làm chủ kỹ thuật Được tiếp tục học tập và có khả năng cao trong lĩnh vực quan tâm

Trẻ phải được tiếp thu những tri thức, kỹ năng cơ bản, cần thiết phù hợp với nhu cầu và năng lực của mỗi em Mỗi đứa trẻ có những khả năng khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau Khi đã có kiến thức và kỹ năng, các em phải có

thái độ đúng, ứng xử một cách linh hoạt trước mọi vấn đề đặt ra

* Tính độc lập

Mọi em đều có cơ hội chọn nghề và tin, yêu công việc đã chọn Có trách nhiệm cá nhân cao, chịu trách nhiệm về hành động và quyết định của mình Được độc lập trong mọi lĩnh vực

Làm thế nào để trẻ đạt được mục tiêu? Luôn luôn dạy trẻ có lòng tự trọng, tự tin, tự học hỏi, biết chấp nhận, tiếp nhận thông tin để phát triển Có độc lập tự chủ mới có sáng tạo Những điều này rất cần cho cuộc sống lao

Trang 23

động, hội nhập cộng đồng trong tương lai khi trẻ đã trưởng thành

và phải giúp đỡ người khác khi cần

Thay đổi quan điểm giáo dục

Chúng ta biết rằng giáo dục trong nhà trường là đào tạo ra những con người, có kỹ năng, thái độ và thiên hướng cần cho xã hội

Trước đây người ta đã quyết định rằng cần phải phân loại trẻ em càng tỉ

mỉ càng tốt Bằng thang đo trí lực cho biết chỉ số trí tuệ IQ, trẻ em đã được chẩn đoán để có thể phát hiện ra các tài năng sớm Những trẻ em sau khi đã được phân loại cần được dạy theo một chương trình riêng, theo một phương pháp riêng Người ta cho rằng cách đào tạo này sẽ có hiệu quả hơn Thực tế đã chỉ ra rằng trẻ em được học kiểu này đã không phát triển hết các khả năng của mình, thậm chí có thể phát triển lệch lạc

Xu thế giáo dục đa trình độ, đa phương pháp và phát huy tính độc lập học tập hay sự tham gia tích cực của học sinh đã trở nên phổ biến Hiện nay Việt nam đang thực hiện chương trình tiểu học mới, trong đó chú trọng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh

Phương pháp dạy học tập trung vào hoạt động của người học trở nên ngày càng phổ biến và mang lại hiệu quả cho nhiều trẻ em

2.3.2 Tính hiệu quả

Được giáo dục trong môi trường hoà nhập, trẻ có những dạng khó khăn khác nhau đều có thể tiến bộ hơn, các tiềm năng của trẻ được khơi dậy và phát

Trang 24

triển tốt hơn so với cách giáo dục trong môi trường khác Thực tế hơn 10 năm tiến hành giáo dục hoà nhập ở Việt Nam và kinh nghiệm giáo dục trên thế giới cho thấy tính hiệu quả đối với các đối tượng trẻ khuyết tật khác nhau như sau:

Trẻ chậm phát triển trí tuệ: Thông qua giao lưu với bạn bè, trẻ xoá bỏ

mặc cảm, tự ti, kĩ năng giao tiếp của trẻ phát triển nhanh, phát triển tính độc lập trong sinh hoạt và trẻ học được nhiều hơn

Trẻ khiếm thị: Do được học gần nhà nên trẻ khiếm thị bớt khó khăn trong

việc đi lại, trẻ có nhiều bạn bè, hội nhập dễ dàng, có cơ hội tìm việc làm sau khi tốt nghiệp

Trẻ khiếm thính: Thông qua quan hệ với bạn bè trẻ học cách giao tiếp, có

nhiều cơ hội để phát triển khả năng của mình, tư duy của trẻ được phát triển tốt hơn qua học tập và sinh hoạt

Trẻ khó khăn vận động: Được học tập để có thể phát triển tài năng, được

bạn bè giúp đỡ, xoá bỏ dần sự lệ thuộc vào người khác

2.3.3 Cơ sở pháp lý

Vấn đề bình đẳng trong cơ hội học tập và nhiều quyền khác đã được nêu trong Công ước Quốc tế về quyền trẻ em (điều 18, 23), trong Công ước về giáo dục cho mọi người và gần đây nhất, trong Tuyên ngôn về giáo dục đặc biệt Salamanca (Tây Ban Nha, 1994): “Giáo dục là quyền của con người và những người khuyết tật cũng có quyền được học trong các trường phổ thông và các trường đó phải được thay đổi để tất cả trẻ em đều được học”

Tuyên ngôn về quyền con người của Liên hợp quốc được bổ sung bởi tuyên ngôn về quyền của những người tàn tật trong đó đã nêu: "Những người tàn tật phải có quyền được tôn trọng phẩm giá Những người tàn tật dù họ có nguồn gốc gì, bản chất ra sao và sự bất lợi do bệnh tật gây ra như thế nào cũng đều có quyền bình đẳng như mọi người khác" Khái niệm bình đẳng được làm sáng rõ Những nguyên tắc về quyền bình đẳng đối với người tàn tật (không có

sự ám chỉ đến tật nguyền cụ thể) là những nhu cầu của mỗi người và của mọi cá nhân trong xã hội đều có tầm quan trọng như nhau "Những nhu cầu đó cần được tôn trọng và đáp ứng nhằm đảm bảo cho mọi cá nhân đều có cơ hội phát

Trang 25

triển để tham gia một cách bình đẳng vào công việc trong xã hội "

Năm 1983, 120 Quốc gia thành viên của Liên hợp quốc đã chấp nhận những nguyên tắc cơ bản về quyền của người tàn tật Đặc biệt là quyền được giáo dục Vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật được thực hiện trong hệ thống nhà trường chung Những luật pháp liên quan đến nền giáo dục bắt buộc sẽ bao gồm tất cả mọi trẻ em thuộc mọi dạng khuyết tật, kể cả những em bị khuyết tật nặng

Vấn đề đã được mở rộng trong tuyên ngôn thế giới về giáo dục cho mọi người (1990) Tuyên ngôn đã khuyến nghị các quốc gia phải quan tâm đến nhu cầu giáo dục đặc biệt của trẻ em khuyết tật và tạo điều kiện bình đẳng trong giáo dục cho mọi trẻ khuyết tật như là một bộ phận thiết yếu của hệ thống giáo dục quốc dân

Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em một lần nữa nhấn mạnh đến các quyền cơ bản của trẻ khuyết tật Khái niệm về quyền trẻ em được làm sáng

tỏ trên nguyên tắc cơ bản của các quyền trẻ em là xã hội có trách nhiệm đáp những nhu cầu cơ bản của trẻ em và cung cấp các dịch vụ, sự giúp đỡ cần thiết cho sự phát triển của mỗi các nhân về mọi mặt, nhân cách, năng lực, tài năng

2.3.4 Tính kinh tế

Mô hình giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật là mô hình có hiệu quả kinh tế nhất:

Chi phí đỡ tốn kém

Nhiều trẻ khuyết tật được đi học

Như ta biết, kinh phí giáo dục cho một trẻ khuyết tật bao gồm các chi phí cho học sinh, đào tạo giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học, Theo

số liệu tổng hợp từ các cơ sở, chi phí cho một trẻ khiếm thính trong một năm nội trú - khoảng 5 triệu, trường bán trú - khoảng 2,5 triệu trong đó chưa tính đào tạo giáo viên và máy trợ thính Chi phí cho cơ sở vật chất ban đầu cũng là điều cần đề cập; Xây dựng cơ sở vật chất của cho các trường, trung tâm cũng rất cao

Tuy nhiên, giáo dục hoà nhập không chỉ để giải quyết vấn đề ngân sách,

mà vấn đề cơ bản là làm thế nào để trẻ được hưởng lợi nhiều nhất

Trang 26

Cũng cần tránh tư tưởng cho rằng giáo dục hoà nhập là ít tốn kém hơn nhiều so với giáo dục chuyên biệt, nên không cần chi phí nhiều Trên thực tế tại nhiều nước, giáo dục hoà nhập nhiều khi cần có nguồn kinh phí không kém giáo dục chuyên biệt như Niu Dilân Còn ở bang Têchdat Hoa Kỳ do chi phí cho trẻ khuyết tật trong lớp hoà nhập chỉ bằng 1/10 so với trường chuyên biệt nên hệ quả là nhà trường không muốn nhận trẻ khuyết tật và tỷ lệ học sinh học hoà nhập là 5% trong tổng số trẻ khuyết tật, so với các bang khác là 53%

2.4 Những mặt tích cực của giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật

Giáo dục hoà nhập là mô hình giáo dục trẻ khuyết tật có hiệu quả

Trong giáo dục hoà nhập, trẻ khuyết tật được học ở môi trường bình thường, học ở trường gần nhà nhất Điều này tạo cho các em không bị tách biệt với bố, mẹ, anh, chị trong gia đình Các em luôn gần gũi với bạn bè, người thân, người quen ở làng, xã Sống trong môi trường như vậy ở các em sẽ yên tâm hơn Những xúc động, vui, buồn, trong tình cảm diễn ra ở trẻ một cách bình thường Do đó tâm lý ổn định, phát triển cân đối, hài hoà như những trẻ em khác, trong điều kiện đó các em sẽ yên tâm phấn đấu, học tập và phát triển

Các em được học cùng một chương trình với các bạn bình thường khác Chương trình và phương pháp ở đây sẽ được điều chỉnh, đổi mới cho phù hợp với nhu cầu, năng lực của các em Dạy học như vậy sẽ đưa đến hiệu quả cao, các em sẽ phát triển hết khả năng của mình

Giáo dục hoà nhập coi trọng sự cân đối giữa kiến thức và kỹ năng xã hội Môi trường giáo dục thay đổi, các em được tự do giao lưu, giúp đỡ lẫn nhau làm cho các em phát triển toàn diện hơn và thích ứng tốt hơn với môi trường xã hội Giáo dục hoà nhập sẽ tạo ra cơ hội, môi trường để các lực lượng tham gia giáo dục có điều kiện hợp tác với nhau vì mục tiêu chung Đây cũng là môi trường mà mọi người trong cộng đồng có dịp tiếp cận với trẻ khuyết tật nhiều hơn, thấy rõ hơn những nhu cầu, tiềm năng của các em, những mặt mạnh, khó khăn của các em, từ đó thấy cần phải làm những gì để hỗ trợ các em nhiều hơn Càng có nhiều người hiểu các em, giúp đỡ các em, chắc chắn các em sẽ có sự phát triển tốt hơn

Trang 27

Giáo dục hoà nhập là mô hình hoàn thiện nhất trong các mô hình giáo dục trẻ khuyết tật

Giáo dục hoà nhập có cơ sở lý luận vững chắc về đánh giá con người, về mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và các giải pháp thích hợp trong tổ chức cũng như trong tiến hành giáo dục

Giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật được áp dụng những lý luận dạy học hiện đại - lấy người học là trung tâm Chương trình được điều chỉnh, phương pháp đựơc đổi mới thích hợp cho mọi học sinh

Giáo dục hoà nhập là mô hình giáo dục kinh tế nhất, mang tính nhân văn nhất Mô hình này làm cho mọi trẻ em đi học đều vui, đều thấy rõ trách nhiệm của mình Nó cũng làm cho người lớn gần gũi nhau hơn, có cơ hội hợp tác với nhau vì sự nghiệp giáo dục trẻ khuyết tật

Sự khác biệt giữa các mô hình giáo dục

UNICEF và UNESCO đã giới thiệu bảng tổng hợp khái quát sự khác nhau giữa các hình thức giáo dục trong 11 tiêu chí so sánh như sau:

Trẻ Đặc biệt Được đưa tới càng gần

trình,

phương pháp

Đặc biệt Môn học làm trung

tâm

Lấy trẻ làm trung tâm

Giáo viên Chuyên biệt GV chủ nhiệm, giáo

viên chuyên biệt, chuyên gia của các lĩnh vực liên quan

Giáo viên chủ nhiệm

Trang 28

Hiệu quả

giảng dạy của

giáo viên

Chuyên biệt cho nhóm trẻ cùng dạng tật

Không thay đổi; chỉ

có khả năng dạy trẻ "lành "

Có khả năng giúp mọi trẻ trong quá trình học

Sự tự tin ở trẻ Thấp, cảm

giác mình bị khác biệt

Có cảm giácbị cách biệt

Cảm giác tự tin về bản thân

Môi trường Gần như bị

tách biệt, từ chối

Không thay đổi Giới hạn thấp nhất,

mở rộng ngang bằng với những trẻ khác

Ngân sách Rất cao Đỡ đắt hơn Hầu hết đều có hiệu

quả Tính bền vững Không bền

vững

Không chứng minh

được là bền vững

Được thừa nhận là có quyền nhưng không triệt để

Thực tế và cấp thiết được thực thi hoàn toàn bình đẳng

2.5 Bước đi cơ bản của giáo dục hòa nhập

Bước 1: Phân loại nhu cầu, ý nghuyện, sự mong muốn của gia đình và bản thân trẻ khuyết tật

Đây là bước khởi đầu cực kỳ quan trọng Trong bước này chúng ta phải hiểu đối tượng trên cơ sở hiểu biết, đánh giá tình trạng khuyết tật của trẻ và khả năng phục hồi Gia đình thể khuyết tật tích cực tham gia vào bước đi này Nhờ

đó, chúng ta hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng, những nhu cầu cơ bản của chúng Có thể thực hiện bước đi này theo sơ đồ:

Trang 29

Mọi ý kiến trao đổi được xem xét kỹ và cuối cùng là kết luận để rút ra được:

+ Bức tranh tổng thể về em đó Em đó là ai?

+ Điều cốt yếu là nhu cầu của em đó Em đang cần cái gì?

Nếu bước đi này làm tốt thì mới có cơ sở để làm các bước sau

Bước 2: Kế hoạch giáo dục và sự tham gia của hiệu trưởng

Khi ta biết em đó là ai? Em đó có những năng lực gì Đồng thời ta hiểu được nhu cầu của em đó như thế nào? Thích đi học? Thích được cùng chơi với bạn? Mong muốn được sự giúp? Thì đấy là những dữ liệu quan trọng để chúng ta lập kế hoạch đúng và sát Em này có khó khăn về nghe, thì kế hoạch phải là nội dung giúp em phục hồi chức năng thính giác, hình thành và phát triển ngôn ngữ làm cơ sở để giao tiếp và phát triển tư duy Nếu các em khác có khó khăn về nhìn thì nội dung của kế hoạch lại phải khác Nó phải là những nội dung phục hồi chức năng di chuyển trong không gian, phục hồi chức năng thính giác và xúc giác, chuẩn bị học chữ Braille…Như vậy kế hoạch phải cụ thể và sát với từng đối tượng, từng trẻ khuyết Nói cách khác, kế hoạch là để phục vụ cho việc giáo dục từng trẻ khuyết tật cụ thể

Chọn người phụ trách, chọn thư ký

Các thành phần trong gia đình và bản thân trẻ khuyết tật

Tổ chức gặp

gỡ trao đổi thẳng thắn

- Thư ký ghi chép đầy

đủ trung thành các ý kiến của người phụ trách và của các thành viên trong gia đình

- Những nhu cầu, nguyện vọng thực tế của gia đình và trẻ

nghiên cứu kỹ lưỡng

- Đánh giá và kết luận

Trang 30

Ở đây cần nhấn mạnh vai trò của người Hiệu trưởng Ai cũng biết rằng, người hiệu trưởng chỉ đạo mọi hoạt động của nhà trường Trong công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật không những người hiệu trưởng phải tham gia

mà còn phải trực tiếp chỉ đạo Có như thế các kế hoạch mới thực hiện một cách nghiêm túc và có hiệu quả Nói đến sự chỉ đạo của người hiệu trưởng trong giáo dục hòa nhập là muốn nói đến việc tổ chức và vận động toàn bộ tiềm năng của nhà trường, của đội nguc giáo viên, của đông đảo học sinh tham gia quá trình giáo dục Mọi người cần phải hiểu trẻ khuyết tật là ai? Giáo dục hòa nhập cáo gì? Chức năng, nhiệm vụ của mình trong công việc ra sao?

Bước 3: Đội ngũ giáo viên

Nói đến giáo dục là nói đến nhà trường Bất cứ nhà trường nào cungc có đội nguc giáo viên Ở đây giáo viên dạy hòa nhập cho trẻ khuyết tật Trước hết phải có đội ngũ giáo viên sẵn sàng tham gia chương trình giáo dục hòa nhập (trực tiếp và gián tiếp) Trong hoàn cảnh hiện nay, chúng ta chưa có đủ điều kiện để đào tạo hết toàn bộ giảng viên Tuy nhiên cần có kế hoạch để đào tạo một số giáo viên đủ đáp ứng cho nhu cầu giáo dục

Ví dụ: có đủ số lượng để đảm bảo tiến hành giáo dục cho khoảng 60% số trẻ khuyết tật đã được điều tra

Số lượng giáo viên viên là quan trọng nhưng điều quan trọng hơn là đội ngũ này phải có chất lượng khá, đảm bảo được công việc Giáo viên dạy hòa nhập có chất lượng, cần phải có các phẩm chất sau:

- Có tinh thần trách nhiệm, tình thương yêu trẻ

- Hiểu biết về giáo dục hòa nhập Có quan điểm đúng về cách đánh giá trẻ khuyết tật, ủng hộ giáo viên hòa nhập

- Có trình độ tri thức Sư phạm tật học trong giáo dục hòa nhập (cả lý luận lẫn thực hành)

- Biết và làm nhiều việc: tổ chức giáo dục, tuyên truyền vận động, tổ chức nhiều lực lượng tham gia giáo dục, vận động tam gia giáo dục, tổ chức các buổi trao đổi nghề nghiệp

Đội ngũ giáo viên trong giáo dục hòa nhập có vai trò quyết định Trước tiên đội ngũ này phải là chìa khóa mở ra giáo dục hòa nhập Sau nữa, chính đội

Trang 31

ngũ này làm nhiệm vụ xây dựng, củng cố và phát triển chương trình Đương nhiên, họ không làm đơn độc mà sẽ có nhiều lực lượng khác hỗ trợ

Bước 4: Sự tham gia của các nhóm học sinh

Học sinh không khuyết tật là đội ngũ đông đảo, có vai trò quan trọng trong giáo dục hòa nhập Các nhóm học sinh này, trước hết phải hiểu, những người bạn khuyết tật của mình có những hoàn cảnh khó khăn đặc biệt cần giúp

đỡ Bằng những nội dung, phương pháp khác nhau, thầy cô giáo dục, động viên các nhóm học sinh hoàn toàn tự giác, thấy được trách nhiệm của mình đón nhận các bạn khuyết tật vào lớp, cùng học, cùng chơi, cùng sinh hoạt,…Sau nữa phải có hành động tham gia giáo dục cụ thể

- Giúp đỡ bạn khuyết tật đi học Những ngày đầu mới đến trường, có thể các bạn khuyết tật còn tự ty, còn e ngại, sợ sệt, cảm thấy không an toàn… Sự giúp đỡ lúc này là rất cần thiết Sự giúp đỡ đó không những làm cho các bạn khuyết tật đi học đều đặn mà còn điều quan trọng hơn là các bạn đó yên tâm, vui vẻ phấn khởi, mong muốn hằng ngày được đến trường Đặc biệt đối với những bạn khuyết tật, gặp khó khăn khi đi lại (trẻ khuyết tật vận động, khuyết tật về mắt), sự giúp đỡ này càng cần thiết và cụ thể hơn Trong thực tiễn đã có nhiều nhóm học sinh cỗng bạn bại liệt hai chân đến trường đều đặn suốt năm học

- Giúp bạn khuyết tật trong học tập Trước hết phải giúp đỡ về mặt tinh thần Biết trước những bạn này gặp nhiều khó khăn, mỗi một cố gắng trong học tập, dù nhỏ nhất của bạn này đều nên khuyến khích, nâng đỡ Các nhóm học tập, thường có 3 học sinh, trong đó có một bạn khuyết tật, hai bạn kia cùng thôn, cùng xóm, học khá sẵn sàng và có ý thức giúp đỡ các bạn khuyết tật trong học tập: cùng học nhóm, giảng lại những phần khó bạn chưa hiểu trên lớp, tổ chức thảo luận những vấn đề cần thiết ở các môn học khác nhau… Tất cả đều

có ích cho bạn khuyết tật

- Lôi cuốn các bạn khuyết tật tham gia mọi hoạt động trong các môi trường khác nhau, với nhiều loại hình hoạt động phong phú: học tập, vui chơi, sinh hoạt tập thể, văn nghệ - thể thao,… các nhóm học sinh cần suy nghĩ với những giải pháp khác nhau và bằng chính cả sự gương mẫu của mình để lôi

Trang 32

cuốn các bạn khuyết tật cùng hoạt động Lúc dầu có thể còn nhiều khó khăn, xuất hiện từ hai phía Có thể còn tồn tại cái gì đó như là đặc biệt, khi quen dần mới trở nên bình thường Chính cái “bình thường” đó là điều chúng ta mong muốn, cần phấn đấu để đạt đươc

Bước 5: Sự hỗ trợ của các lực lượng khác tham gia giáo dục hòa nhập

Điều này đã được đề cập đến rất nhiều và đã được mô hình hóa:

Sơ đồ cho chúng ta thấy rõ, hạt nhân ở giữa là trẻ khuyết tật Đây là nhân vật trung tâm được nhiều lực lượng của toàn xã hội đứng xung quanh, những lực lượng này đều có ý thức và trách nhiệm, thường có tác động tích cực, theo đúng chức năng của mình đến trẻ khuyết tật Những lực lượng này sẽ giúp đỡ trẻ khuyết tật cả tinh thần lẫn vật chất, để những em này sớm có vị trí xứng đáng trong cộng đồng Chúng ta đều thấy rõ, mỗi lực lượng ở đây có vai trò, vị trí, chức năng khác nhau nhưng đều có mục tiêu chung vì sự tiến bộ của trẻ khuyết tật Có thể nói rằng, trách nhiệm này là của mỗi con người và của toàn

xa hội thiếu một trong những lực lượng hỗ trợ này sẽ làm cho chương trình yếu đi, hiệu quả chắc chắn sẽ không được như móng muốn

Điều quan trọng ở đây là cần chú ý sự giúp đỡ của giáo viên Giáo viên là người chịu trách nhiệm trực tiếp giáo dục trẻ khuyết tật Họ còn nhiều khó

Các cấp chính quyền, Các ngành chức năng

Gia đình (đặc biệt là vai trò của người mẹ)

Trẻ khuyết tật

Các đoàn thể, nhân dân, toàn xã hội

Nhà Giáo viên

trường

Hoc sinh

Trang 33

khăn Họ cần được động viên, giúp đỡ cả tinh thần lẫn vật chất Họ cần được đào tạo chu đáo hơn, kỹ càng hơn Tất cả sự giúp đỡ đó là để tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên dạy trẻ khuyết tật có đội ngũ đầy đủ các phẩm chất, tri thức

và các điều kiện khác để họ làm tốt hơn, có chất lượng hơn trong quá trình tổ chức giáo dục trẻ khuyết tật

Thực tiễn cho thấy rằng ở đâu chăm lo việc đào tạo giáo viên, chú ý hỗ trợ đời sống vật chất hòa nhập đạt hiệu quả cao Những nhà lãnh đạo, các cấp chính quyền, các ngành chức năng thường xuyên động viên đội ngũ giáo viên, thấy được những công việc làm của họ, thấy được những khó khăn họ gặp phải

và có những giải pháp hỗ trợ tích cực, kịp thời sẽ làm cho đội ngũ này có thêm điều kiện, thêm niềm tin vào những công việc vì trẻ khuyết tật

2.6 Qui trình giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật

Giáo dục hòa nhập được theo qui trình kép kín gồm bốn bước Trong quá trình giáo dục, có thể sử dụng nhiều vòng qui trình Mỗi vòng có những mục tiêu trọng tâm và các hoạt động đặc thù nhằm đạt mục tiêu đó Bốn bước của qui trình được thể hiện dưới đâỵ

2.6.1 Tìm hiểu nhu cầu và năng lực trẻ khuyết tật

* Tìm hiểu nhu cầu của trẻ khuyết tật

Khái niệm chung về nhu cầu

Trong cuộc sống hàng ngày của con người, xu hướng được biểu hiện ra bên ngoài qua nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, niềm tin Nhu cầu là sự đòi hỏi cá nhân về những cái cần thiết để sinh sống và phát triển Nhu cầu nào được con người nhận thức một cách đầy đủ sâu sắc, có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của mình (không thể thiếu được) thì nhu cầu đó trở thành động cơ Không

có nhu cầu thì không có hoạt động

Phân loại nhu cầu

Nhu cầu vật chất: gắn liền sự tồn tại của cơ thể như ăn mặc, nhà ở v.v Nhu cầu tinh thần: Gắn liền với văn minh nhân loại Thí dụ như nghệ thuật, khoa học, học tập

Bậc thang về nhu cầu căn bản của con người

Những nhu cầu căn bản của con người có thể được miêu tả bằng “Bậc

Trang 34

thang nhu cầu căn bản của con người" của nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow

Tự nhận thức được hết khả năng của mình để đóng góp cho xã hội

Tự trọng và được người khác tôn trọng

Nhu cầu được trở thành một thành viên của cộng đồng

Nhu cầu thiết yếu để che chở như quần áo, nhà ở

Nhu cầu thiết yếu cho con người

để sống: thức ăn, không khí, ngủ

Dù sống ở đâu, mỗi cá nhân đều có một số nhu cầu cơ bản như nhau Tuy nhiên những nhu cầu đó không thường xuyên được đáp ứng với cùng mức độ Các nhu cầu khác nhau không thể xem xét một cách biệt lập Không ai có thể tự mình đáp ứng được toàn bộ các nhu cầu đó Nó chỉ có thể thực hiện được trong một cộng đồng với sự giúp đỡ của những người khác

Những nhu cầu sinh lý, thân thể

Mỗi con người đều phải đảm bảo duy trì sự sống bằng những nhu cầu tối thiểu như: lương thực, thực phẩm để ăn, có nước để uống và có dưỡng khí để thở Nếu như những nhu cầu này không được đáp ứng thì người ta không thể nghĩ đến các nhu cầu khác

Nhu cầu an toàn

An toàn ở đây có thể nhìn nhận theo 2 dạng: Tinh thần và vật chất

Nhu cầu an toàn được thể hiện ngay từ khi đứa trẻ mới lọt lòng được duy trì và tồn tại trong suốt đời người Điều đó có thể lý giải tại sao trẻ em từ lúc

Trang 35

sinh ra đến tuổi trưởng thành vẫn luôn luôn cần có người thân bên cạnh Khi độc lập cũng thật vô cùng khó khăn để người ta làm việc có hiệu quả, nếu như

họ sống trong sự sợ hãi hoặc bất ổn định Khi người ta sợ, điều quan trọng nhất đối với họ là có được - một môi trường an toàn

Về mặt vật chất, con người có nhu cầu về an toàn, tránh các rủi ro, tai nạn làm tổn thương đến thân thể

Nhu cầu xã hội, tình cảm

Một trong những điểm quan trong nhất đối với con người là cần được yêu thương Chỉ một số ít người cảm thấy vui với cuộc sống cô đơn không cần giao tiếp với người khác Người ta có cảm giác rằng họ là một phần của một gia đình Họ cần có bạn và được yêu thương Có người nhu cầu yêu thương và kết

bạn lớn hơn so với người khác

Nhu cầu tự trọng và được người khác tôn trọng

Lòng tự trọng hay là lòng tự tôn là cảm giác về giá trị và sự có ích của cá nhân mình Để yêu thương người khác, người ta trước hết phải biết yêu thương chính bản thân mình, Người ta khó mà quan tâm tới hay giúp đỡ người khác

khi mà họ không vui về cuộc sống của chính bản thân họ

Tự biết được khả năng của mình

Mỗi người tự đặt ra những mục đích sống cho mình và cố gắng đạt được chúng Những mục đích này có thể rất khác nhau ở mỗi cá nhân vì nó phụ thuộc vào khả năng, vào tinh thần hay thể chất và các mối quan tâm ở mỗi cá nhân Nó cũng thay đổi theo tiềm năng, cơ hội và môi trường thực tế của mỗi cá nhân

* Tìm hiểu năng lực của trẻ khuyết tật

Khái niệm

Năng lực là những đặc điểm cá nhân đáp ứng được các đòi hỏi của một hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để đạt được kết quả cho hành động nào đó Bất cứ hoạt động nào cũng đòi hỏi ở con người một loại năng lực và

các năng lực đó liên quan với nhau

Thuyết đa năng lực (thông minh)

Theo quan điểm của Gardner thì trong bản thân mỗi con người có rất

Trang 36

nhiều khả năng trong đó có những khả năng mà chúng ta chưa bao giờ sử dụng hoặc ít sử dụng Ông cho rằng ai cũng có năng lực nhất định và các năng lực đó phát triển ở các mức độ khác nhau Ông đề xuất 8 dạng năng lực sau:

- Năng lực giao tiếp/ Ngôn ngữ: Học đọc nhanh, từ vựng (Dùng từ ngữ chuẩn xác, linh hoạt), ngôn ngữ chính thức phát triển nhanh, ghi chép nhật ký, cách viết sáng tạo, biết làm thơ ca, tranh luận bằng lời lưu loát, có tính thuyết phục, ứng khẩu nhanh, dùng những câu nói hài hước, kể chuyện hấp dẫn

- Năng lực tư duy logic và toán học: Hiểu nhanh những ký hiệu trừu tượng/ công thức, biết vạch dàn ý, vẽ biểu đồ bằng hình vẽ, nhớ các chữ số, tính toán nhanh, hiểu mã số, nắm bắt những mối quan hệ bắt buộc nhanh, hiểu

và hay sử dụng tam đoạn luận, giải quyết vấn đề logíc, sáng tác các trò chơi điển hình

- Năng lực tưởng tượng (Hình ảnh/ hội hoạ/ không gian): Khả năng hình tượng, tưởng tượng sống động, thể hiện bằng biểu đồ màu, trình bày các mẫu vẽ/ mẫu thiết kế, vẽ tranh và cảm nhận tranh, trí tưởng tượng trong đầu phong phú, nhập vai nhanh

- Năng lực âm nhạc: Biết cảm thụ âm nhạc, Biết nghe nhạc

- Năng lực nội tâm: Phương pháp phản ánh nội tâm, Kỹ năng nhận thức, Biết cách suy ngẫm, hiểu diễn biến tâm lý, tự khám phá bản thân, biết cách suy luận, khả năng tập trung tư duy, phương pháp suy luận mang tính logic cao

- Năng lực quan hệ tương tác, quan hệ xã hội: Đưa ra sự phản hồi phù hợp, nhận biết cảm giác của người khác, chiến lược học nhóm, biết giao tiếp cá nhân, biết phân chia lao động trong quá trình hoạt động, có kỹ năng hợp táctrong hoạt động, nhận phản hồi từ người khác, biết lập kế hoạch hợp tác nhóm

- Năng lực/ Thể thao vận động: Các điệu nhảy dân tộc/ các điệu nhảy sáng tạo, đóng vai, thể dục thể thao, kịch, võ thuật, ngôn ngữ cơ thể, các bài thể dục, kịch câm, sáng tạo, trò chơi thể thao

- Năng lực tìm hiểu thiên nhiên: Cảm thụ cái đẹp của thiên nhiên, hiểu thiên nhiên

Nội dung tìm hiểu nhu cầu và khả năng của trẻ khuyết tật

- Sự phát triển về thể chất: Sự phát triển cân đối của cơ thể: hình dáng bề

Trang 37

ngoài, khả năng vận động (Bò, ngồi, đứng đi, chạy, nhảy .), khả năng lao

động ( tự phục vụ, lao động giúp đỡ gia đình ), phát triển các giác quan

- Khả năng ngôn ngữ - giao tiếp: Khả năng nghe, đọc, hiểu ngôn ngữ, ngôn ngữ diễn đạt (Khả năng diễn đạt bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, kỹ năng phát âm, vốn từ vựng, ngữ pháp), kỹ năng, viết, khả năng giao tiếp (không lời

và bằng lời)

- Khả năng nhận thức: Khả năng tri giác (Nghe, nhìn và các giác quan khác), khả năng ghi nhớ, khả năng tư duy, suy nghĩ, phán đoán, giải quyết vấn

đề khả năng hiểu biết về: Con người, thế giới vật chất, phương tiện, công cụ

khả năng học tập văn hoá, lao động, học nghề

- Quan hệ xã hội: Mối quan hệ của trẻ đối với mọi người, hành vi ứng xử, cảm xúc, tình cảm ., khả năng thích hợp, đáp ứng những quy định của gia đình, xã hội, khả năng hội nhập với cộng đồng

- Môi trường phát triển của trẻ: Môi trường ăn ở, vệ sinh, chăm sóc sức

khoẻ, giáo dục, văn hoá - xã hội

Trong kế hoạch quan sát cần chú ý bốn điểm cơ bản:

+ Nội dung quan sát

Trang 38

mạnh của quan sát không chủ định là nó nảy sinh một cách tự nhiên, làm cho người quan sát có được những thông tin và đánh giá một cách khách quan không

hề có dự kiến trước

2.6.2 Xây dựng mục tiêu và lập kế hoạch

Trên cơ sở những thông tin thu được ta có một bức tranh tổng thể về đứa trẻ Việc giúp đỡ trẻ như thế nào, năng lực nào của trẻ cần được phát triển trước làm cơ sở để hình thành những năng lực khác; và nhu cầu nào cần được ưu tiên đáp ứng Trong phần này sẽ đề cập đến cách xây dựng mục tiêu và lập kế hoạch

giáo dục đối với từng trẻ

Xây dựng mục tiêu giáo dục cá nhân

Các quan điểm xây dựng mục tiêu

- Bình đẳng:

+ Quyền được giáo dục cho mọi trẻ em

+ Quyền bình đẳng về cơ hội: Trẻ em không giống nhau do đó không nên đánh giá cào bằng mà phải căn cứ vào nhu cầu, năng lực của từng trẻ để xây dựng mục tiêu chung

+ Quyền tham gia các hoạt động xã hội

Làm thế nào để trẻ không cảm thấy bị hạn chế trong khi được học tập, được tham gia mọi hoạt động bình thường trong môi trường giáo dục với mọi trẻ

em

- Quan điểm phát triển:

+ Bất cứ trẻ khuyết tật nào cũng có khả năng phát triển

+ Cần căn cứ vào qui luật bù trừ chức năng của trẻ khuyết tật để xây dựng mục tiêu

+ Sự phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc phần lớn vào phương pháp giáo dục của người lớn

- Quan điểm tiếp cận đối với giáo dục phổ thông:

Trong giáo dục hoà nhập, trẻ khuyết tật cùng với trẻ em khác được học chung một chương trình Giáo viên đặt mục tiêu cho từng trẻ cũng cần đảm bảo nguyên tắc tiếp cận với mục tiêu cấp học, lớp học của phổ thông

* Phương pháp xây dựng mục tiêu

Trang 39

Mục tiêu giáo dục cá nhân trẻ khuyết tật được xây dựng dựa các cơ sở sau đây: a) Khả năng của trẻ; b) Nhu cầu cần đáp ứng; c) Mục tiêu cấp học; d) Điều kiện thực hiện (môi trường giáo dục, kinh tế, nhân lực)

Những thông tin trên được rút ra từ kết quả quan sát được trong quá trình tìm hiểu nhu cầu và khả năng của trẻ Để xây dựng mục tiêu chính xác, giáo viên chủ nhiệm cần tham khảo ý kiến của các giáo viên trong trường, ý kiến của cha

mẹ học sinh và những người có liên quan

Khi xây dựng mục tiêu cho một trẻ khuyết tật cần theo 5 nội dung:

Mục tiêu được xây dựng theo hai hình thức: mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn Khái niệm ngắn và dài hạn chỉ là tương đối Dài hạn có thể là một hoặc nhiều năm Ngắn hạn có thể là một học kỳ vài tháng Điều quan trọng là mục tiêu dài hạn cho thấy cái đích, mong muốn sau một giai đoạn thực hiện giáo dục, còn mục tiêu ngắn hạn cho thấy cái cụ thể hơn trong từng giai đoạn, cái cần đạt sau một thời gian cụ thể Mục tiêu ngắn hạn là định hướng những vấn đề được cụ thể hoá trong kế hoạch giáo dục

Lập kế hoạch giáo dục

Căn cứ vào mục tiêu đã đề ra để xây dựng kế hoạch giáo dục nghĩa là tìm cách đáp ứng những nhu cầu của trẻ (căn cứ vào bảng tóm tắt khả năng và khó khăn để làm kế hoạch)

Trong kế hoạch cần phải nói rõ, cụ thể nội dung từng phần, biện pháp, người thực hiện, thời gian và đánh giá kết quả

Mẫu: Bản tóm tắt các mặt tích cực và khó khăn của trẻ

Trang 40

Họ và tên học sinh: Năm sinh:

Nội dung quan sát Khả năng của

trẻ (Mặt tích cực)

Khó khăn (Các nhu cầu cần đáp ứng)

II Khả năng giao tiếp

- Khả năng giao tiếp

- Khả năng tư duy

- Khả năng hiểu biết

- Khả năng học các môn học

- Khả năng LĐ

Ngày đăng: 09/11/2017, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w