1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

ĐỀ TÀI CƠ SỞ MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG KÍN VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI MỘT TRUNG TÂM GIẢI ĐÁP KHÁCH HÀNG KHU VỰC HÀ NỘI

27 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 490,25 KB
File đính kèm đề tài.rar (438 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây, nhiều tòa nhà được thiết kế theo mô hình giảm thiểu lượng không khí bên ngoài vào nhằm tiết kiệm năng lượng làm lạnh hoặc làm ấm không khí. Cửa sổ và cửa ra vào được thiết kế để có thể đóng chặt nhất để không có một lượng khí nào từ ngoài có thể vào phòng và như vậy con người phải tái sử dụng lại không khí. Thêm vào đó, nhiều chất liệu mới được sử dụng trong xây dựng, những chất liệu này có chứa các chất độc hóa học như formaldehyde. Sự gia tăng sử dụng các loại thiết bị máy móc cũng góp phần làm ô nhiễm không khí trong phòng, chẳng hạn như ô zon từ máy photocopy, tiếng ồn từ máy in và điện từ trường từ các màn hình máy tính. Bản thân hệ thống điều hòa có thể chứa các chất gây ô nhiễm và vi khuẩn gây bệnh. Bụi bẩn vào cùng với luồng khí được lấy vào hoặc đã có sẵn từ khi lắp hệ thống này. Hơn thế nữa, hệ thống không được thường xuyên làm sạch và bảo dưỡng. Sự thiếu không khí từ ngoài môi trường cùng với các chất ô nhiễm trong phòng không được thoát ra ngoài như một hệ quả gây ra các triệu chứng của hội chứng nhà kín như: đau đầu, đờ đẫn, thiếu linh hoạt, thiếu tập trung, kích thích mắt, mũi, họng và da....21. Mặc dù không đe dọa đến tính mạng con người hoặc gây ra các bệnh mạn tính, nhưng hội chứng nhà kín đã thực sự là một vấn đề nghiêm trọng với những gì mà nó tác động đến con người: giảm hiệu quả lao động của nhân viên, tăng tỷ lệ người nghỉ ốm, tăng tỷ lệ người phàn nàn về môi trường 5. Tuy nhiên ở Việt Nam cho tới nay chưa có một nghiên cứu nào về môi trường lao động kín và sự ảnh hưởng của nó tới sức khỏe người lao động. Chính vì vậy mà chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu này nhằm: 1Đánh giá thực trạng điều kiện môi trường lao động kín của Trung tâm. 2Xác định tỷ lệ người lao động mắc hội chứng nhà kín.

Trang 1

MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG KÍN VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI MỘT TRUNG TÂM GIẢI ĐÁP KHÁCH HÀNG KHU VỰC HÀ NỘI

Đoàn Thị Hải Lý và cs

Hà Nội, 2011

Trang 2

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Những năm gần đây, nhiều tòa nhà được thiết kế theo mô hình giảm thiểu lượng không khí bên ngoài vào nhằm tiết kiệm năng lượng làm lạnh hoặc làm ấm không khí Cửa sổ và cửa ra vào được thiết kế để có thể đóng chặt nhất để không có một lượng khí nào từ ngoài có thể vào phòng và như vậy con người phải tái sử dụng lại không khí Thêm vào đó, nhiều chất liệu mới được sử dụng trong xây dựng, những chất liệu này có chứa các chất độc hóa học như formaldehyde Sự gia tăng sử dụng các loại thiết bị máy móc cũng góp phần làm ô nhiễm không khí trong phòng, chẳng hạn như ô zon từ máy photocopy, tiếng ồn từ máy in và điện từ trường từ các màn hình máy tính Bản thân hệ thống điều hòa có thể chứa các chất gây ô nhiễm và vi khuẩn gây bệnh Bụi bẩn vào cùng với luồng khí được lấy vào hoặc đã có sẵn từ khi lắp hệ thống này Hơn thế nữa, hệ thống không được thường xuyên làm sạch và bảo dưỡng Sự thiếu không khí từ ngoài môi trường cùng với các chất ô nhiễm trong phòng không được thoát ra ngoài như một hệ quả gây ra các triệu chứng của hội chứng nhà kín như: đau đầu, đờ đẫn, thiếu linh hoạt, thiếu tập trung, kích thích mắt, mũi, họng và da [21]

Mặc dù không đe dọa đến tính mạng con người hoặc gây ra các bệnh mạn tính, nhưng hội chứng nhà kín đã thực sự là một vấn đề nghiêm trọng với những gì mà nó tác động đến con người: giảm hiệu quả lao động của nhân viên, tăng tỷ lệ người nghỉ ốm, tăng tỷ lệ người phàn nàn về môi trường [5] Tuy nhiên ở Việt Nam cho tới nay chưa có một nghiên cứu nào về môi trường lao động kín và sự ảnh hưởng của nó tới sức khỏe người lao động Chính vì vậy mà chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu này nhằm:

1-Đánh giá thực trạng điều kiện môi trường lao động kín của Trung tâm

2-Xác định tỷ lệ người lao động mắc hội chứng nhà kín

Trên cơ sở các kết quả thu được, chúng tôi sẽ đề xuất các biện pháp cải thiện điều kiện môi trường lao động kín

Trang 3

2 TỔNG QUAN

2.1 Khái niệm hội chứng nhà kín

Từ năm 1980, trên thế giới đã có nhiều báo cáo về hiện tượng hội chứng nhà kín (sick building syndrome) chính thức được công bố nhưng với những thuật ngữ rất khác nhau như: ”building sickness”, ”sick office syndrome”, ”tight building syndrome”, ”office eye syndrome” và nhiều thuật ngữ khác nữa Cho tới năm 1982, thuật ngữ hội chứng nhà kín (sick building syndrome) đã được tổ chức Y tế thế giới (WHO) công nhận và được sử dụng một cách rộng rãi

Hội chứng nhà kín là một loạt các triệu chứng con người mắc phải khi ở trong một tòa nhà nào đó và các triệu chứng này sẽ mất đi sau nhiều giờ hoặc nhiều ngày khi họ ra khỏi tòa nhà Các triệu chứng này bao gồm: kích thích mắt mũi họng và da, đau đầu, lơ mơ, dễ kích thích và thiếu tập trung [5]

2.2 Nguyên nhân [21]:

2.2.1 Ô nhiễm không khí:

Dưới đây là một số chất ô nhiễm phổ biến có thể gặp trong các tòa nhà

* Ammonia: có trong các chất tẩy rửa, máy in and khói thuốc lá Chất này gây kích thích màng nhầy do đó nó ảnh hưởng tới hệ thống hô hấp và mắt

* Asbestos(amiăng): có trong một số vật liệu xây dựng và trong hệ thống điều hòa không khí Các loại amiăng màu xanh, nâu và trắng có thể gây ung thư và xơ hóa phổi và

u trung biểu mô

*Benzen: là chất gây ung thư, được thoát ra từ các sợi và nhựa tổng hợp, trong các chất tẩy rửa và khói thuốc lá Chất này còn gây kích thích hệ thống hô hấp và da

* Biocides (bioxit): Chất này thường được cho vào hệ thống điều hòa để kìm hãm sự phát triển của vi sinh vật Đây cũng là một loại chất độc đối với sức khỏe con người

* Carbon dioxide (cacbonic): cacbonic (CO2) là một thành phần của không khí, thông thường thường nồng độ CO2 chiếm khoảng 0,03% thành phần của không khí và chiếm khoảng 5% trong thành phần khí thở ra của con người Nồng độ khí CO2 tăng cao ở những phòng thiếu sự thông thoáng khí Do đó nó được sử dụng để đánh giá hiệu quả thông thoáng khí Nồng độ CO2 cao hơn 800ppm cho biết căn phòng đó thiếu sự thông

Trang 4

thoáng khí Nồng độ CO2 quá cao sẽ gây đau đầu và lơ mơ, sau đó khó thở, vã mồ hôi, hoa mắt và run

* Cacbon monoxide(CO): Quá trình đốt cháy thường sinh ra CO do đó chất này có thể thấy trong khói thuốc lá, khói bếp và khói xe CO làm cho oxy không gắn kết được với hemoglobin của tế bào máu gây thiếu oxy cho cơ thể, đặc biệt là não Dấu hiệu sớm của ngộ độc CO là đau đầu, ở nồng độ cao hơn ở một số người có thể thấy hoa mắt, buồn nôn

và nôn Nồng độ gây ngộ độc ở những người hút thuốc lá cao hơn những người không hút thuốc lá do sự thích nghi Nồng độ CO được khuyến cáo dưới 9ppm

* Detergent dust (chất tẩy rửa): các chất tẩy rửa để làm sạch thảm còn sót lại có thể gây kích thích hô hấp như ho, khô họng, khó thở, ngạt mũi và đau đầu Mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào loại chất tẩy rửa được sử dụng

* Fibreglass (sợi thủy tinh): được sử dụng làm chất cách ly Những sợi lớn có thể gây ngứa và kích thích da, những sợi nhỏ được cho là yếu tố nguy cơ gây các bệnh về phổi và ung thư giống như amiăng

* Formaldehyde: là một chất không màu, mùi cay, có trong rất nhiều loại sản phẩm khác nhau, bao gồm vật liệu cách nhiệt, thiết bị văn phòng, chất gắn thảm, nhựa các loại,

sợi tổng hợp, sơn và một số loại giấy Ở nồng độ 2-3ppm, formaldehyd gây kích thích

mắt, mũi, họng của hầu hết những người phơi nhiễm formaldehyd Ở nồng độ 4-5ppm, nó gây kích thích mạnh hơn, kết hợp với ngủ lơ mơ, mất trí nhớ, hắt hơi và xuất hiện mày đay ở da Ở nồng độ10-20ppm gây khó thở nặng, nóng mắt, mũi và họng Formaldehyd tăng nguy cơ ung thư, kém ngủ, giảm trí nhớ, thiếu sự tập trung

* Hydrocacbons: là hợp chất hóa học của hydro và cacbon, được phát hiện có ở trong sơn, các dung môi, các chất liệu tổng hợp, chất làm bóng sàn và các dụng cụ và khói xe Sự ảnh hưởng của nó tới sức khỏe con người phụ thuộc và loại hydrocacbon nhưng

có thể ảnh hưởng tới cơ quan hô hấp, da và kích thích mắt, gây buồn nôn, đau đầu và phá hủy hệ thống thần kinh

* Hydrogen chloride: phát sinh từ máy cắt giấy bằng điện Nó gây kích thích màng nhầy của mắt, mũi, họng

* Micro-organisms: nhiều cuộc thử nghiệm đã được thực hiện và kết quả cho thấy con người có phản ứng dị ứng rất mạnh với các bào tử nấm

Trang 5

* Motor vehicle exhaust (khói xe): khói xe bao gồm cacbon monoxide, nitrogen oxides, lead particulates, sulphur oxides and hydrocarbons Khói xe là do nguồn khí cấp vào được lấy gần bãi đỗ xe hoặc gần đường

* Nitrogen oxides: giống như cacbon monoxide, nitrogen oxides là sản phẩm của quá trình đốt cháy Do vậy nguồn của nó cũng từ khói xe, khói thuốc lá Chất hóa học này gây kích thích hệ thống hô hấp và mắt

* Ozon: là một thành phần của không khí, sinh ra bởi các tia tử ngoại Tuy nhiên, nó cũng có thể được sinh ra bởi các thiết bị xạc điện và máy photocopy Ozon có thể gây kích thích màng nhầy của mắt, mũi, họng, gây tổn thương phổi khi phơi nhiễm ở nồng độ cao Nó cũng có thể gây đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi

* Sơn: Hơi sơn có thể gây đau đầu và kích thích mắt và hệ thống hô hấp, gây tổn thương hệ thống thần kinh, ung thư, gây tổn thương xương ống và thận ở nồng độ cao

* Pesticides (thuốcdiệt côn trùng): thuốc diệt côn trùng được dùng khá phổ biến như thuốc diệt mối, muỗi Mức độ ảnh hưởng của thuốc diệt côn trùng tới sức khỏe con người phụ thuộc vào công thức của nó Nhìn chung thuốc diệt côn trùng có thể gây mắt, mũi và

hệ thống hô hấp, một số loại có thể gây ung thư, phá hủy gan, gây dị dạng cho bào thai *Sulphur oxides: Sulphur oxides, cụ thể là sulphur dioxide được thải ra từ đốt than, ống khói và khói xe Sulphur dioxide gây kích thích hô hấp, chảy nước mũi và ho Phơi nhiễm thời gian dài có thể gây viêm phế quản mãn tính, tổn thương phổi

* Khói thuốc lá: Khói thuốc lá bao gồm cacbon monoxide, cacbon dioxide, nicotine, formaldehyde, acetaldehyde, acrolein, ammonia, hydrogen cyanide, nitrogen oxides Nhiều chất trong những chất này rất độc với cơ thể, có thể gây những triệu chứng tương tự những triệu chứng của hội chứng nhà kín: kích thích mắt, mũi họng, ho, khó thở, sưng và đau họng, đau đầu, nôn mửa và hoa mắt chóng mặt Phơi nhiễm một thời gian dài

có thể gây ung thư và các bệnh tim mạch

* Vinyl chloride: thường có trong các sản phẩm nhựa như ống nhựa và thảm Nó có thể gây ung thư da và phổi

Các chất hiếm gặp khác như: Photochemical smod, radon, solvent, sterilant gases, methanol cũng được thống kê là những nguyên nhân có thể gây hội chứng nhà kín

2.2.2 Hệ thống điều hòa:

Trang 6

Hệ thống điều hòa xử lý không khí để kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, độ sạch của không khí và sự phân phối không khí

Nguồn cấp khí: Không khí được lấy từ bên ngoài qua bộ phận cấp khí Vị trí đặt bộ phận cấp khí này rất quan trọng trong việc quyết định chất lượng không khí Không khí trong thành phố rất khó có thể gọi là trong lành Không khí lấy vào có thể bị ô nhiễm nếu

bộ cấp khí được đặt ở gần bãi đỗ xe, vỉa hè dọc các phố đông xe cộ qua lại, cuối hướng gió của lò phân hủy rác bệnh viện hoặc nhà máy hóa chất Bộ cấp khí cũng phải được bảo

vệ tránh chim, côn trùng lớn và rác thải chui vào, và nên đặt thoải sao cho nước dễ dàng thoát đi mà không chảy vào buồng trộn khí

Buồng trộn khí: Tại đây không khí lấy vào được hòa trộn cùng với nguồn khí trở ra từ tòa nhà Khoảng 10-20% lượng khí tại đây là khí tươi, nhưng van khí tươi có thể đóng hoàn toàn để đảm bảo rằng 100% lượng khí tái sử dụng được lưu thông

Bộ lọc: bộ lọc giữ lại các bụi bẩn và các chất không tinh khiết ra khỏi không khí nhưng

bộ phận này sẽ hoạt động không hiệu quả khi công tác bảo dưỡng không tốt và thậm chí

có thể làm ô nhiễm không khí Trong nhiều hệ thống điều hòa, bộ phận lọc chỉ được thiết

kế để giữ lại các côn trùng lớn như bướm và sâu bọ Có nhiều loại bộ lọc và nó khác nhau

về hiệu quả làm sạch Một hệ thống lọc tốt phải có nhiều bộ lọc

Bộ phận làm mát: bộ phận làm mát không khí vừa đuổi không khí nóng ra vừa làm ẩm không khí: độ ẩm trong không khí ấm được ngưng tụ lại ở bộ phận làm mát rồi được thu lại ở khay hứng nước Bất cứ nơi nào có nước, đặc biệt là nước tồn đọng trong một thời gian dài, vi sinh vật sẽ phát triển

Hệ thống kiểm soát: giống như hệ thống điều hòa nhiệt độ hệ thống kiểm soát nhiệt độ,

độ ẩm và phân tán không khí có nhiều loại Vị trí và số bộ điều nhiệt, bộ điều hòa độ ẩm

và các bộ cảm biến quyết định chức nâng của hệ thống Bộ phận điều nhiệt cần được cài đặt lại hàng tháng phụ thuộc vào nhiệt độ trung bình ngoài trời vì cơ thể con người thích nghi với nhiệt độ khác nhau ở những mùa khác nhau Nguyên nhân của các vấn đề nhiệt

độ trong toà nhà có thể do: Bộ điều nhiệt được đặt sai vị trí, ở những chỗ có ánh nắng chiếu trực tiếp; Sự sắp xếp lại các ngăn có thể đặt bộ điều nhiệt ra ngoài khu vực; Hỏng

bộ điều nhiệt; Hỏng thiết bị của hệ thống điều hòa

Trang 7

Sự phân tán và lưu thông không khí: quạt phân tán không khí qua những lỗ (máy khuếch tán) được đặt trên tường hoặc trần Số quạt phụ thuộc vào kích thước của phòng hoặc khu vực được phân chia Các lỗ cấp khí quyết định dung tích, tốc độ và hướng của luồng không khí vào khu vực làm việc Ngay cả khi lượng khí không đủ cung cấp cho phòng thì cũng không có nghĩa là không khí không đến được mọi nơi một cách đồng đều Những đồ dùng có độ cao hơn 5 feet có thể ngăn cản sự lưu thông của không khí nên khi

sử dụng đồ dùng cao thì khu vực bị ngăn cách bởi đồ dùng đó phải có ít nhất một lỗ cấp

và thoát khí Hệ thống điều hòa phải được kiểm tra một lần khi các đồ dùng đã được sắp đặt vào phòng để đảm bảo rằng không khí được lưu thông đúng như thiết kế ban đầu Khí thải: khí thải cũng quan trọng như khí cấp vào Không khí lưu thông trong phòng được trở lại qua lỗ thoáng khí trên trần Phần lớn lượng khí thải quay trở lại buồng trộn, một phần nhỏ sẽ ra khỏi tòa nhà qua lưới thoáng khí Không khí có thể bị kéo trực tiếp từ

lỗ cấp khí tới lỗ thoát khí do đó con người không nhận được khí tươi Để duy trì sự lưu chuyển của không khí, không khí trong tòa nhà có hệ thống điều hòa thường hoạt động dưới áp lực không khí dương nhẹ Điều này có nghĩa là áp lực không khí trong tòa nhà lớn hơn áp lực không khí bên ngoài và không khí có xu hướng dịch chuyển ra ngoài Khi

hệ thống điều hòa bị hỏng, áp lực không khí trong tòa nhà âm hơn thì không khí bên ngoài sẽ tràn vào khi cửa sổ mở ra Hậu quả của nó là không khí ô nhiễm không thể ra khỏi tòa nhà

2.2.3 Chất lượng không khí và sự thoải mái:

Trong môi trường thoải mái, không có sự dao động đáng kể về không khí, không gió lùa, không có mùi thơm Các yếu tố chính ảnh hưởng tới sự thoải mái bao gồm: nhiệt độ,

độ ẩm và sự lưu chuyển của không khí Những yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau Nếu không khí có độ ẩm cao thì nhiệt độ cố cảm giác lạnh hơn ở điều kiện không khí khô Nếu tốc độ lưu chuyển không khí cao thì nhiệt độ cũng có cảm giác mát hơn ở nơi có độ lưu chuyển không khí thấp

Mỗi người có cảm giác thoải mái ở những điều kiện khác nhau: ở cùng một nhiệt độ có người có cảm giác quá nóng trong khi người khác lại thấy thoải mái Nhìn chung phụ nữ

có xu hướng thích nhiệt độ cao hơn đàn ông một chút Nhưng nhiều vấn đề trong phòng

Trang 8

nảy sinh do thiếu sự kiểm soát cá nhân đối với điều kiện không khí, cửa sổ không thể mở

ra, nhiệt độ không thể kiểm soát theo khu vực, ánh sáng không tập trung

* Nhiệt độ: Những phàn nàn về nhiệt độ trong văn phòng là khá phổ biến, đặc biệt nếu tòa nhà được trang bị hệ thống điều hòa Một số nơi của tòa nhà có thể quá lạnh trong khi những nơi khác lại quá nóng, hoặc do không khí lưu thông không tốt do đó chân của mọi người thì lạnh mặc dù mặt lại luôn ấm, hoặc do nhiệt độ thay đổi một cách đáng kể trong ngày

Nhiệt đội có thể được kiểm tra bằng nhiệt kế để xem nó có ở trong khoảng nhiệt độ mà con người có cảm giác thoải mái hay không Độ ẩm và tốc độ gió cũng cần được kiểm tra thường xuyên

* Độ ẩm: Độ ẩm là lượng hơi ẩm có trong không khí Ở nhiệt độ nhất định không khí chỉ có một lượng hơi ẩm nhất định và không thể nhiều hơn thế Đó chính là độ ẩm bão hòa Độ ẩm được định lượng bằng tỉ lệ phần trăm độ ẩm bão hòa (100%) và được gọi là

độ ẩm tương đối Độ ẩm tương đối càng cao thì con người càng khó có khả năng thoát hơi nước qua da (hiện tượng ra mồ hôi) Ở độ ẩm từ 60-70% và ở nhiệt độ ấm, cơ thể có mồ hôi nhưng không bay hơi được nên có cảm giác nhiệt độ nóng hơn và cảm giác dính trên

da Khi độ ẩm tương đối thấp, không khí khô và độ ẩm thoát dễ dàng qua da Tuy nhiên khi độ ẩm tương đối quá thấp (dưới 20%) da và màng nhầy của mũi, họng bị khô Da khô quá sẽ trở nên ngứa, và gãi sẽ làm viêm da Màng nhầy khô có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn Các triệu chứng khác do độ ẩm thấp bao gồm đau đầu, ngột ngạt, có vấn đề về xoang, nhức mắt Độ ẩm cao hơn 50% là điều kiện thuận loại để vi khuẩn và nấm mốcphát triển

* Độ thông thoáng khí:

- Độ lưu chuyển của không khí: Độ lưu chuyển của không khí càng cao (tốc độ gió cao) không khí có cảm giác mát hơn vì mồ hôi dễ dàng bay hơi miễn là nhiệt độ không cao hơn nhiệt độ cơ thể và độ ẩm tương đối không quá cao Nếu tốc độ gió quá thấp sẽ có cảm giác ngột ngạt và nếu quá cao thì có cảm giác bị gió lùa, Tốc độ không khí lớn hơn 0,8 m/s sẽ làm bay giấy và những người ngồi gần lỗ cấp khí sẽ có cảm giác khó chịu vì gió mạnh quá

- Khí tươi: Có bốn lý do của việc cấp khí tươi là:

Trang 9

+ Để thở: cung cấp oxy và làm loãng nồng độ carbon monoxide

+ Làm loãng và đẩy lui không khí không trong sạch được sản sinh bởi những người có ở trong phòng

+ Để làm đẩy lui không khí quá nóng và duy trì điều kiện thoải mái

+ Để làm loãng các chất gây ô nhiễm không khí khác như bụi, khói

Một vài tiêu chuẩn đã được đưa ra để đảm bảo độ thông thoáng khí trong phòng Những chuẩn này chủ yếu dựa vào lượng không khí cần để làm loãng khói thuốc và mùi thơm của cơ thể con người Khuyến cáo của viện thiết kế nhà ở của Anh năm 1986 (CIBSE) đưa ra là tối thiểu 8 lít một giây một người, những nơi có nhiều người hút thuốc lá thì lượng khí tươi cần cung cấp lên tới 25 lít một giây một người

* Bức xạ nhiệt: Bức xạ nhiệt từ rất nhiều nguồn khác nhau có sự ảnh hưởng quan trọng tới nhiệt độ trong phòng Bức xạ mặt trời qua cửa sổ và nhiệt từ các nguồn chiếu sáng thiết bị hiển thị (VDU) làm tăng nhiệt độ trong phòng Một người làm việc văn phòng tỏa

ra nguồn nhiệt tương đương với 140 watts trong khi đó một VDU (tin học) có thể tỏa ra một lượng nhiệt lên tới 500watts Khi một dụng cụ mới được đưa vào sử dụng trong phòng người ta thường không lưu ý đến việc phải nâng cấp hệ thống thông thoáng khí để

có thể đáp ứng được với nhu cầu mới

* Tiếng ồn: tiếng ồn quá cao xâm nhập là những âm thanh không mong đợi có thể là đơn độc hay là tiếng ồn liên tục Nhưng tiếng ồn có thể quá yên tĩnh đến mức gây đau đầu, tiếng ồn quá yên tĩnh cũng có thể gây lơ đãng

Có nhiều nguồn phát sinh tiếng ồn trong tòa nhà: tiếng âm thanh từ một số đèn chiếu leon, tiếng ồn từ hệ thống điều hòa, tiếng ồn từ dụng cụ văn phòng như máy in, máy photocoppy, tiếng người nói Ngoài ra còn có tiếng ồn từ ngoài tòa nhà Sức chịu đựng tiếng ồn của người này cũng khác với sức chịu đựng của người kia vì sự trải nghiệm qua các âm thanh là khác biệt nhau Dụng cụ điều hòa có thể gây ồn nếu chức năng của nó kém hoặc do không được bảo dưỡng thường xuyên Tốc độ không khí qua lỗ cấp khí nhanh cũng có thể gây ồn CIBSE khuyến cáo mức ồn dưới 46 dBA đối với công việc văn phòng nói chung

* Ánh sáng: Những vấn đề về chiếu sáng có thể gặp như: ánh sáng mờ, nhấp nháy, thiếu

sự tương phản, cường độ chiếu sáng không đủ hoặc chiếu sáng tập trung kém Chiếu sáng

Trang 10

không tốt có thể gây ra các vấn đề về thị lực như mỏi mắt, khô và dặm mắt Ngoài ra những vấn đề về ánh sáng còn có thể gây đau đầu Ánh sáng đèn huỳnh quang có thể gây mỏi mắt và đau đầu nên thay đèn huỳnh quang bằng các loại đèn khác và ánh sáng tự nhiên trong khả năng có thể CIBSE khuyến cáo cường độ chiếu sáng cần thiết đối với từng loại công việc khác nhau (xem trong bảng 1)

* Ions: có nhiều cáo buộc về sảnh hưởng của ion đối với sức khỏe nhưng có rất ít nghiên cứu về ion được thực hiện Ion được mô tả gồm ion dương và ion âm của phân tử hình thành nên khí quyển Không phải tất cả mọi người đều nhạy cảm với sự thay đổi về độ tập trung của ion trong không khí: khoảng 25% số người không phát hiện ra sự thay đổi về tỷ

lệ ion dương trên ion âm Phụ nữ dường như nhạy cảm hơn với sự suy yếu của ion hơn đàn ông và đáp ứng tốt hơn với môi trường giầu ion Ion âm dường như trở nên kém hiệu quả khi nhiệt độ xung quanh tăng trên 220C và độ ẩm tương đối cao

* Bức xạ và thiết bị hiển thị (thiết bị tin học): thuật ngữ bức xạ được sử dụng để miêu tả năng lượng điện từ trường dịch chuyển dưới dạng sóng Những sóng này khác biệt nhau

về tần số, từ tần số rất thấp được phát ra từ các thiết bị điện có điện áp cao tới các tần số rất cao như tia X và tia gamma do dò rỉ hạt nhân Bức xạ ở các tần số khác nhau có sự ảnh hưởng sinh học khác nhau

* Stress (sự căng thẳng): ngoài yếu tố công việc, quan hệ đồng nghiệp thì điều kiện môi trường cũng tác động rất nhiều tới sự căng thẳng của con người Con người có thể bị căng thẳng, lo âu nếu họ không thể kiểm soát được môi trường xung quanh họ Không thể kiểm soát nhiệt độ phù hợp với bản thân, không thể thay đổi độ chiếu sáng, không thể mở cửa

sổ để lấy khí tươi, giảm tiếng ồn, loại trừ khói thuốc lá có thể gây căng thẳng, ảnh hưởng tới sức khỏe con người

2.3 Biện pháp phòng ngừa và kiểm soát hội chứng nhà kín [5]

Chúng ta cần phải xem xét nguyên nhân của Hội chứng nhà kín ở 4 mức độ:

* Xây dựng: gồm thiết kế, xây dựng và vị trí đặt tòa nhà, vị trí kê đồ đạc và các dịch vụ

đi theo tòa nhà

* Không khí trong tòa nhà: cấu trúc của tòa nhà và vị trí xây dựng gián tiếp ảnh hưởng tới điều kiện không khí trong tòa nhà

Trang 11

* Chủ sở hữu và vận hành tòa nhà: họ là người quản lý lực lượng lao động và người quyết định việc bảo dưỡng hệ thống cấp khí của tòa nhà

* Từng cá nhân trong tòa nhà: dấu hiệu hội chứng nhà kín rất khác nhau giữa các cá nhân Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm: khả năng tự kiểm soát các yếu tố môi trường, các nhân tố về quy định của cơ quan, cách cư xử, sức khỏe thể chất và tinh thần của từng người

Việc xác định nguyên nhân cụ thể gây ra hội chứng nhà kín là rất khó khăn Hiện nay chúng ta chỉ có thể xác định các yếu tố nguy cơ và phòng tránh chúng

Trang 12

2.3.1 Trước khi xây dựng

Để phòng tránh được hội chứng nhà kín một cách hiệu quả, tất cả các bên liên quan cần hợp tác với nhau, phần vì sự ràng buộc bởi luật pháp hiện hành, phần vì nguyên tắc chỉ đạo và mong muốn xây dựng một tòa nhà có chất lượng tốt Những yếu tố sau đây cần được cân nhắc kỹ lưỡng trước khi xây dựng:

- Kiểu kiến trúc và vị trí xây dựng: Phòng không có vách ngăn

Ánh sáng tự nhiên yếu Không khí bên ngoài bị ô nhiễm

- Dịch vụ của tòa nhà: Sự cần thiết phải có hệ thống điều hòa

Cấp khí tươi (dung lượng, vị trí lấy khí vào, tái sử dụng lượng không khí đã được làm ấm hoặc làm mát, các thành phần vệ sinh và máy hút ẩm )

Lưu thông không khí

Hệ thống kiểm soát các chất ô nhiễm

- Chọn vật liệu xây dựng và đồ dùng có sự thải ra chất gây ô nhiễm thấp nhất

2.3.2 Quá trình xây dựng

Vật liệu xây dựng cũng như việc lắp đặt các thiết bị và dịch vụ cần phải tuân thủ đúng theo thiết kế kỹ thuật ban đầu Mọi thay đổi cần phải được kiểm tra để đảm bảo rằng tòa nhà vẫn được hoàn thành đúng chất lượng dự định ban đầu

- Tiếp tục thông thoáng khí trong một thời gian ngắn sau khi kết thúc ngày làm việc

- Duy trì nhiệt độ ở giới hạn thấp nhất có thể mà vẫn cho cảm giác thoải mái ở những phòng đang sử dụng

- Tránh tăng nhiệt độ trong quá trình làm việc

Trang 13

- Sử dụng độ thông thoáng khí ở mức cao nhất để đẩy các chất ô nhiễm ra khỏi bề mặt các vật dụng khi phòng không có người

- Làm vệ sinh phòng thường xuyên

2.3.4 Giải quyết vấn đề:

Phòng ngừa bao giờ cũng tốt hơn là cứu chữa Tuy nhiên chúng ta cũng không thể ngăn ngừa được hết các tình huống Nhiều trường hợp vẫn xảy ra hội chứng nhà kín Chúng ta phải tiến hành nghiên cứu để giải quyết các vấn đề này

2.3.4.1 Chẩn đoán:

Trong nhiều điều tra, những người sử dụng có thể xem như họ đã có chẩn đoán Những cảm giác này dễ hiểu nhưng có thể bị nhầm lẫn Những phàn nàn tự phát đó phải được điều tra chính thức mới có thể quyết định được

Bộ câu hỏi khảo sát môi trường là phương tiện chẩn đoán chuẩn

2.3.4.2 Cứu chữa:

Các biện pháp cứu chữa phải được xác định dựa trên các bằng chứng xác thực đã được chứng minh tuy nhiên có một số cách tiếp cận đặc biệt tới vấn đề chất lượng không khí trong phòng có giá trị thảo luận Có bốn cách tiếp cận hiệu quả sau:

- Tăng cường các biện pháp thông thoáng khí

- Thông thoáng khí hiệu quả hơn: thông thoáng khí có hiệu quả tới từng khu vực của tò nhà, đặc biệt lưu ý các khu vực bị tách biệt

- Đảm bảo các dịch vụ của tòa nhà là sạch

- Kiểm tra xem các hệ thống có được bảo dưỡng thường xuyên theo định kỳ không

- Điều chỉnh hoạt động hoặc sửa chữa hệ thống cho phù hợp

Ngày đăng: 09/11/2017, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w