Trong những năm qua, ở đơn vị trường chúng tôi, việc dạy học 2 buổi/ngày đãđược chú trọng về nội dung và phương pháp giảng dạy, đặc biệt là giáo viên đã dạy lồngghép các kỹ năng sống, dạ
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU I.1 Lí do chọn đề tài
Trong xu thế phát triển của ngành Giáo dục, việc đẩy mạnh và mở rộng mô hìnhdạy và học lớp 2 buổi/ngày là một giải pháp đúng đắn nhằm nâng cao chất lượng giáodục toàn diện cho học sinh Vì vậy, vai trò của người làm công tác quản lý chuyên môntrong việc tiếp cận nội dung, chương trình vào việc chỉ đạo công tác dạy và học lớp 2buổi/ngày ở trường là rất quan trọng Mọi hoạt động dạy - học của giáo viên và học sinhđều được quản lý và có kế hoạch phù hợp với từng đối tượng học sinh Một trongnhững kỹ năng quan trọng đó là công tác biên soạn nội dung, thiết kế giờ dạy ở buổihọc thứ hai như thế nào để đảm bảo cho mọi đối tượng học sinh được học, được thamgia các trò chơi học tập một cách tích cực, hợp tác và có hiệu quả
Trong những năm qua, ở đơn vị trường chúng tôi, việc dạy học 2 buổi/ngày đãđược chú trọng về nội dung và phương pháp giảng dạy, đặc biệt là giáo viên đã dạy lồngghép các kỹ năng sống, dạy các trò chơi dân gian, học hát dân ca, bảo vệ sức khoẻ,ATGT với hình thức tổ chức các hoạt động đa dạng, phong phú, học sinh tham gia họctập một cách chủ động Tuy nhiên trên thực tế các tiết học của buổi thứ hai giáo viênvẫn còn lúng túng, nhầm lẫn với nội dung của tiết học buổi học thứ nhất Các kĩ năngphát triển tư duy, óc sáng tạo cho học sinh chưa có chiều sâu dẫn đến tiết học nhàmchán, uể oải, chất lượng học tập buổi thứ hai chưa cao Học sinh ngại đến trường, đếnlớp khi phải học tập cả ngày tại trường
Vậy công tác quản lý, chỉ đạo dạy và học buổi thứ hai lớp 2 buổi/ngày như thế nàocho hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu dạy thật, học thật và nâng cao chất lượng học tậpcủa học sinh Đây chính là nỗi trăn trở của những người làm công tác chuyên môn, phảitìm hiểu, phải nghiên cứu, phải tích lũy để chất lượng ngày hôm nay tốt hơn ngày hômqua
Để giúp giáo viên thay đổi cách dạy, thay đổi hình thức tổ chức hoạt động học tập
buổi học thứ hai, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy học các môn học buổi thứ hai, lớp 2 buổi/ngày”
I.2 Mục tiêu - nhiệm vụ của đề tài
* Mục tiêu
Trang 2- Giúp giáo viên nhận thức được việc dạy học 2 buổi/ngày nhằm hạn chế tình trạngdạy thêm – học thêm không đúng quy định ở nhà trường; Tăng cường giáo dục toàndiện, giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh.
- Có khả năng tự biên soạn nội dung bài dạy buổi học thứ hai đạt hiệu quả
- Nắm chắc những biểu hiện, diễn biến tâm lý và hoàn cảnh gia đình của học sinh,nhất là những học sinh chậm tiến
- Nắm bắt được trình độ học tập của từng đối tượng học sinh lớp 2 buổi/ngày
- Có điều kiện phát huy giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua các hoạt độngngoài giờ, vui chơi giải trí lành mạnh
- Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, chất lượng giáo dục của nhà trường
- Làm cơ sở, tiền đề cho chủ trương xây dựng trường chuẩn Quốc gia mức độ 2
* Nhiệm vụ
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy và học lớp 2 buổi/ngày ở trường Tiểu học
- Thống kê, phân tích những giải pháp mà giáo viên đã sử dụng, đánh giá hiệu quảcủa các giải pháp đó
- Tìm những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu (Kỹ năng soạnthảo, thiết kế bài dạy buổi học thứ hai của giáo viên theo từng khối lớp)
- Nghiên cứu các dạng bài tập ở buổi học thứ nhất để phát triển thêm ở buổi họcthứ hai
- Nghiên cứu về khả năng sở trường của từng giáo viên đối với lớp dạy 2buổi/ngày
I.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến lớp học 2 buổi/ngày như: Các môn học của buổi học thứ hai, thiết kế giáo án cho bài học.
I.4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
* Về nội dung
- Nghiên cứu các hoạt động học tập, kết quả đạt được của học sinh lớp 2 buổi/ngày
từ năm học 2007 - 2008 đến năm học 2012 – 2013 tại trường Tiểu học Lý Tự Trọng
- Các hình thức tổ chức, chất lượng giảng dạy của giáo viên chủ nhiệm lớp học 2buổi/ngày từ năm học 2007- 2008 đến năm học 2012 – 2013
Trang 3* Về địa điểm
- Nghiên cứu tại đơn vị trường Tiểu học Lý Tự Trọng và một số lớp ở đơn vị đượcchúng tôi thanh tra hàng năm
I.5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát (khảo sát chất lượng học tập, đạo đức của HS)
- Phương pháp nghiên cứu (Tài liệu, các dạng bài tập, trò chơi, trắc nghiệm)
- Phương pháp thực nghiệm (Tổ chức chuyên đề dạy học buổi thứ hai)
- Phương pháp xây dựng giáo án các tiết học buổi thứ hai
- Phương pháp thực hành, quan sát (GV và HS trong các tiết HĐNGLL)
- Phương pháp kiểm tra đánh giá
chính để “dọn dẹp”, nhưng phần lớn không thành công” (Trích cuốn “ Nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên và đổi mới quản lý giáo dục tiểu học”, Nhà xuất bản giáo
Trang 4dục) Khi xã hội phát triển, dân trí được nâng cao, nhu cầu học tập của học sinh ngày
càng cao, càng nhiều Do đó, việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày là thể hiện vai trò, tráchnhiệm, sự cương quyết của Ban giám hiệu trong công tác quản lý
Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng, mục tiêu giáo dục tiểu học nhằm giúp họcsinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức,trí tuệ, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học tốt ở bậc trung học cơsở
Để thực hiện mục tiêu trên thì việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày ở trường chúng tôi
là một yêu cầu cần thiết Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng giảng dạy các mônhọc buổi thứ hai lớp 2 buổi/ngày mà vẫn đảm bảo được phương châm của giáo dục tiểuhọc là “Học nhẹ nhàng – tự nhiên – hứng thú – hiệu quả”
Trước yêu cầu trên thầy, cô, những người làm công tác chuyên môn phải hiểu vàphải tìm kiếm những giải pháp giáo dục sao cho phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi thiếunhi thông qua các hoạt động vừa học – vừa chơi trong ngày do nhà trường tổ chức Học
2 buổi/ngày học sinh có đủ thời gian để thực hành, vận dụng, phát triển các kĩ năng vànăng khiếu của mình thông qua các tiết tự học, tiết hoạt động tập thể (buổi thứ hai) họcsinh được vui chơi, giải trí sau những giờ học căng thẳng ở buổi học thứ nhất
Việc dạy học buổi thứ hai nhằm củng cố và đào sâu các bài học của các môn họcchính, đồng thời học sinh được tiếp cận các dạng bài tập nâng cao hơn so với chươngtrình trong sách giáo khoa để các em được phát triển tư duy, nắm vững kiến thức saugiờ thực hành luyện tập Vậy muốn nâng cao chất lượng dạy và học buổi thứ hai lớp 2buổi/ngày thì người giáo viên phải biết chủ động lập kế hoạch dạy học, biết biên soạncác tiết hướng dẫn tự học, Toán, Tiếng Việt và các tiết HĐTT, HĐNGLL với các nộidung phong phú như: tổ chức các trò chơi học tập, sinh hoạt ngoại khóa, kể chuyện nêugương, vẽ đề tài tự chọn, múa hát theo chủ điểm
Muốn vậy, người giáo viên phải đủ tự tin, am hiểu đầy đủ nội dung, kiến thức, kĩnăng cần truyền thụ của từng tiết dạy Biết tổ chức các hoạt động của thầy và trò mộtcách hợp lý, khoa học, biết định hướng các dạng bài tập phù hợp với từng đối tượng họcsinh, kích thích tư duy độc lập, phát huy hết khả năng tiềm tàng của mỗi bản thân họcsinh
Trang 5Chính vì thế, người giáo viên phải có khả năng ứng xư tốt, thông minh trong xử lýcác tình huống sư phạm, tạo được không khí thân mật, hiểu biết, tin tưởng giữa thầy vàtrò trong tiết học
- Nội dung, phương pháp dạy học phải hướng vào việc tổ chức cho học sinh luyệntập thực hành; không được thực hiện dạy học giống và lặp lại bài học buổi thứ nhất
Trường có bề dày về thành tích Trong 7 năm qua chất lượng học tập của lớp học 2buổi/ngày được tăng lên
Có sự quan tâm của Ban Giám hiệu về cơ sở vật chất như: bố trí sắp xếp phòng họchợp lý, sáng sủa, gọn gàng, có nhà vệ sinh tiện lợi, có sân chơi bóng mát để học sinhđược hoạt động thoải mái
Các tổ chuyên môn thường xuyên thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, tổchức các chuyên đề như: thiết kế bài soạn buổi thứ hai, bài soạn điện tử
* Khó khăn
- Kinh phí của nhà trường không đủ để đầu tư tất cả các hoạt động ngoại khóa chocác em, trang thiết bị cho các môn học tự chọn chưa được mua sắm đầy đủ
- Việc vận dụng các nội dung, phương pháp dạy học ở các tiết học của buổi học thứ
2 chưa thực sự có chiều sâu
Trang 6- Một bộ phận gia đình coi trọng việc học thêm bên ngoài hơn là học buổi thú hai
ở trường, nặng về kiến thức nâng cao hơn là giáo dục kĩ năng sống thông qua các hoạtđộng tập thể
- Nhận thức của một bộ phận nhỏ giáo viên chưa tâm đắc với việc dạy 2 buổi/ngày, do phải tới trường nhiều hơn
- Điều kiện về cơ sở vật chất, phòng học thiếu như: số lớp học 2 buổi/ngày ít,phòng học môn chuyên biệt (Âm nhạc, Mĩ thuật, Tiếng Anh) chưa đủ
- Nắm được điểm mạnh, điểm yếu của HS và có hướng bồi dưỡng phù hợp
- Luôn tạo điều kiện cho học sinh thảo luận nhóm, sắm vai, tăng cường trò chơihọc tập trong các hoạt động học
- Được học nhiều tiết học ngoài trời, được thực hành về an toàn giao thông, đượcvui chơi thoải mái bởi trò chơi dân gian…
* Hạn chế
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn những hạn chế nhất định:
- Một số hình thức dạy học còn gượng ép, thiếu sinh động.
- Thiếu kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động trò chơi học tập (trò chơithiếu thực tế)
- Sự chuẩn bị bài thiếu chu đáo
- Học sinh chưa có đủ dụng cụ học tập đã làm cho môn học mất đi phần hứng thú,không tạo ra được hiệu quả cao nhất cho bài học
- Kế hoạch dạy học chưa được cụ thể và đồng bộ dẫn đến sự thay đổi thườngxuyên của thời khóa biểu
Trang 7c Mặt mạnh - Mặt yếu
* Mặt mạnh
- Giáo viên tự tin trong việc thiết kế các tiết dạy của buổi học thứ hai
- Nắm vững và vận dụng tốt các hoạt động dạy học, các môn hướng dẫn tự học, cólòng nhiệt tình và trách nhiệm cao
- Tạo được môi trường học tập thân thiện
- Học sinh có nhiều đam mê, năng khiếu các môn Nghệ thuật, Cờ vua, Âm nhạc,
Mĩ thuật Điều này giúp giáo viên dễ dàng hơn trong việc tạo hứng thú cho học sinh ởcác môn học của buổi thứ hai
- Phương pháp dạy và học 2 buổi/ngày đã và đang được áp dụng trong thực tế tạitrường nhằm đem lại hiệu quả học cao hơn
* Mặt yếu
- Học sinh yếu kém, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh khuyết tật tuychiếm tỷ lệ rất ít, nhưng có ảnh hưởng tới việc chia nhóm.Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải
có phương pháp dạy đúng đắn, để hòa đồng được tất cả học sinh trong lớp
- Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy buổi thứ hai đã được đưa ra, song áp dụngvào thực tế dạy học thì chưa đồng bộ, và chưa được như yêu cầu đặt ra
- Giáo viên thiếu kinh nghiệm trong việc tổ chức các hoạt động trò chơi học tập,hạn chế các năng khiếu như hội họa, múa hát, kể chuyện
d Các nguyên nhân và các yếu tố tác động
- Nội dung chương trình dạy học buổi thứ hai theo CV 7632 chỉ có phần gợi ý,không có phần nội dung
- Giáo viên tự biên soạn, thiết kế các hoạt động dạy học của mình (soạn theo khảnăng của mỗi giáo viên, không có tài liệu nghiên cứu)
- Giáo viên không làm mới được các hoạt động dạy học, dẫn đến tiết học khô khan,học sinh không hứng thú học tập vì phải làm đi làm lại một số dạng bài tập giống nhau
- Một số giáo viên chuẩn bị bài chưa chu đáo nên còn lúng túng khi tổ chức cáchoạt động học tập ở các tiết hướng dẫn tự học
Trang 8Từ những nguyên nhân và các yếu tố tác động trên đòi hỏi người làm công tácquản lý chuyên môn phải tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra hướng đi đúng, giúp các em họctốt các môn học của buổi học thứ hai.
e Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra
Từ năm học 2007 - 2008 đến năm học 2012 - 2013, trường chúng tôi đã duy trì nềnếp dạy học lớp 2 buổi/ngày Tỉ lệ học sinh khá, giỏi trên 80%, không có học sinh yếukém, chất lượng học tập của học sinh tăng lên Đa số giáo viên đã nắm vững mục tiêu,phương pháp và cấu trúc bài dạy Nhiều giáo viên đã có tiết dạy giỏi ở các tiết HDTHToán, HDTHTV và tiết HĐTT với số điểm đánh giá cao (19; 19,5 và điểm 20)
Trong quá trình thực hiện nội dung dạy học của buổi học thứ hai, nhà trường đãtiến hành khảo sát năng lực giảng dạy của giáo viên, yêu cầu các khối chuyên môn tiếnhành nghiên cứu kiến thức của khối lớp mình, phân định kiến thức chính khoá thành cácphần trọng tâm Từ đó định ra các mảng, dạng tăng tiết cho từng môn học, từng nhómđối tượng học sinh trong khối Cụ thể:
+ Khối 1-2: Hệ thống bổ sung những kiến thức học sinh còn gặp khó khăn Yêu
cầu giáo viên dạy chắc kiến thức cơ bản, chú trọng đến đối tượng yếu khi dạy các tiếtHDTH Toán, HDTH Tiếng Việt, nhằm giúp cho các em biết đọc thông, viết thạo, biếttính toán trong phạm vi 100 Chú ý đến rèn chữ viết cho học sinh
+ Khối 3: Yêu cầu giáo viên dạy kỹ các kiến thức trọng tâm để các em thuận lợi
trong tiếp thu các kiến thức ở lớp trên Yêu cầu giáo viên phải nắm được chương trình
để cung cấp các mảng kiến thức phù hợp cho từng đối tượng Chú ý đến hướng dẫnphương pháp tự học cho các em và giáo dục kĩ năng sống trong tiết HĐTT
+ Khối 4 -5: Yêu cầu giáo viên dạy theo các mảng đã học nhưng phát triển theo
hình thức chuyên sâu và mở rộng cùng với việc bổ sung một số kiến thức mới Chú ýcách rèn phương pháp tự học và tự nghiên cứu tài liệu ở tiết HĐNGLL
+ Đối với học sinh chưa đạt chuẩn (còn yếu kém) cần tập trung vào chuẩn kiếnthức và kỹ năng cơ bản; Giải quyết những kiến thức cơ bản mà học sinh chưa nắmvững, còn nhầm lẫn…ở buổi học thứ nhất
Trong quá trình triển khai và thực hiện vẫn còn xảy ra các tình huống ngoài ýmuốn Chúng tôi xin giới thiệu một số tình huống sau:
Trang 9Một số tình huống thường xảy ra trong các tiết học ở lớp học 2 buổi/ngày tại đơn vị trường và một số đơn vị bạn:
* Tình huống ở lớp 1D
Trong 1 lần kiểm tra nề nếp đột xuất, chúng tôi vào lớp của cô giáo A, thấy lớp học
rất trật tự, học sinh cả lớp đang viết bài vào vở rèn chữ viết Chúng tôi hỏi: "Học sinh đang học môn gì?" Cô giáo B trả lời: "Tiết hoạt động tập thể." Giáo viên dạy tiết HĐTT
là đúng theo thời khóa biểu Điều đáng nói ở đây là giáo viên đã không thực hiệnnghiêm túc kế hoạch bài học cho tiết HĐTT, học sinh không được tiếp thu bài học bằngcác trò chơi học tập hay các dạng bài tập có lồng ghép kĩ năng sống
* Tình huống ở lớp 2D
Trong tiết dạy HDTV, giáo viên B đã nêu yêu cầu của bài học như sau: "Cô đã chuẩn bị rất nhiều lá thăm có các bài Tập đọc và học thuộc lòng tuần 15 và 16, cô sẽ gọi khoảng 7 bạn của mỗi tổ lên bốc thăm và đọc, kết hợp trả lời câu hỏi mà cô đưa ra." Suốt thời gian 35 phút, giáo viên B chỉ thực hiện một hoạt động luyện đọc được lặp
đi lặp lại một cách nhàm chán, thiếu linh hoạt Tiết học khô khan, đơn điệu, học sinh dễchán học và mệt mỏi
* Tình huống ở lớp 3B
Trong 1 tiết dự giờ của buổi học thứ 2 (tiết HD Toán) Cô giáo C đã giới thiệu bài
như sau: "Tiết học Toán, phần luyện tập chung, trang 125 của buổi học thứ nhất các em
đã được học và làm bài tập 1 và 2, ở tiết ôn luyện chiều nay cô trò chúng ta sẽ giải quyết tiếp phần bài tập còn lại." Như vậy cô giáo A đã không hoàn thành yêu cầu bài
tập của buổi học chính khóa
* Tình huống ở lớp 4A
Khi dạy tiết GDTT, giáo viên D gọi lớp trưởng lên bục giảng và nói với cả lớp:" Hôm nay bạn lớp trưởng sẽ cho cả lớp sinh hoạt Lớp trưởng sẽ đưa ra nhận xét, đánh giá, phê bình những bạn không thuộc bài, đi học muộn, thiếu nghiêm túc trong giờ học
và gọi tên các bạn lên bục giảng để nhận lỗi trước lớp." Giáo viên D đã giao toàn bộ công việc cho lớp trưởng, không thể hiện được vai trò của mình trong tiết học Giáo
Trang 10viên D đã không xác định được mục tiêu của tiết học, cũng như chưa làm tốt công tácchủ nhiệm Với cách dạy này, học sinh sẽ có cảm giác lo sợ khi đến tiết sinh hoạt lớp.
* Tình huống ở lớp 5C
Trong 1 tiết dự giờ tại lớp, cô giáo H, sau khi giới thiệu bài xong cô giáo đã nêu:
“Trong nội dung bài ôn luyện toán hôm nay, cô cùng các em thực hiện 3 bài tập cơ bản, trong đó có bài tập 2 (trang 57 - SGK Toán 5 – Tập 1) đã được giảm tải, nhưng ở tiết học này, cô có 1 yêu cầu: Các bạn học sinh khá giỏi sẽ giúp các bạn học yếu hơn làm thêm bài tập này” Như vậy cô giáo H đã không thực hiện nghiêm túc nội dung dạy học
theo chuẩn KT – KN, học sinh phải học kiến thức nhiều hơn, nặng hơn
Từ những phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra, chúngtôi thấy được ưu điểm và những tồn tại trong dạy học các tiết học của buổi học thứ hai,lớp 2 buổi/ ngày và mạnh dạn đưa ra các giải pháp sau
II.3 Giải pháp, biện pháp
a Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
- Giáo viên tìm ra được hướng đi đúng trong thiết kế giờ dạy các tiết của buổi họcthứ hai
- Biết vận dụng các kĩ năng, năng khiếu của bản thân trong việc lập kế hoạch bàihọc cho các tiết hướng dẫn Toán, Tiếng Việt, hoạt động tập thể và giáo dục ngoài giờlên lớp
- Có khả năng sáng tạo một cách linh hoạt các hình thức tổ chức dạy học theohướng tích cưc, hợp tác
- Có điều kiện phát huy hết khả năng vốn có của mình và thổi được luồng khôngkhí mới và vui tươi vào các giờ học buổi thứ hai
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
* Nhóm giải pháp dạy môn Tiếng Việt buổi thứ hai
Trước hết chúng ta cần hiểu rõ mục tiêu của các giờ học Tiếng việt buổi thứ 2 làrèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và phải luyện tập để biến kỹ năng mà học sinh đãhọc thành kỹ xảo trọng thực hành bài tập và thể nghiệm trong cuộc sống sinh hoạt hàngngày.Vậy người giáo viên phải lập kế hoạch bài dạy, thiết kế giáo án tiết Tiếng Việt buổichiều như thế nào cho hiệu quả
Trang 11Sau đây là một số minh họa mà tại đơn vị trường chúng tôi đã thực hiện nhằm sosánh nội dung bài dạy buổi học thứ nhất và buổi học thứ hai:
Dạy ôn học vần buổi thứ hai (lớp một):
+ Buổi thứ nhất:
- Phần kiểm tra bài cũ: Giáo viên kiểm tra bài học trước
- Giới thiệu vần mới, dạy đánh vần, ghép, viết vần mới, đọc tiếng từ mới, đọc từcâu ứng dụng và luyện nói Mức độ yêu cầu là học sinh “biết”
+ Ví dụ về một số hoạt động dạy học cơ bản: Bài 54: ung - ưng
- Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra bài
học trước
- Giới thiệu vần mới: ung
- Hoạt động 1: Luyện đọc: ung –
- Khởi động: Hát, trò chơi vui nhộn…
- Luyện đọc cả bài đã học: bài 54: ung - ưng
- Hoạt động 1: Tập ghép tiếng có vận mới học:
dùng bằng bảng cài, mỗi học sinh tự ghép một phụ
âm đầu với một vần vừa học và một dấu thanh đểđược một tiếng mới
- Cả lớp lần lượt đọc tiếng mới ghép được cho cácbạn nghe
- Hoạt động 2: Tìm và đọc, viết các từ ngoài bài
có vần ung – ưng vừa học : thung lũng, sung sướng, lũng lẳng, lung tung, củng cố, tưng bừng, xây dựng, rừng cây, quả trứng.
Trang 12- Luyện nói theo chủ đề: Rừng,
thung lũng, suối đèo
Củng cố: Học sinh đọc lại vần,
tiếng, từ mới học
- Hoạt động 3: HS giỏi có thể so sánh cách viết
một số từ có điểm giống và khác nhau: sung/ súng, đứng/ đừng…
- Luyện nói theo nhóm: mỗi nhóm tự chọn mộtchủ đề (tên chủ đề có tiếng chứa vần mới học) vàluyện nói theo chủ đề đó trước lớp HS trongnhóm, ngoài nhóm nghe và chỉ ra các từ đã nói cóchứa vần mới học
- Trò chơi” Ai nhanh, ai đúng” chọn tiếng có vần
vừa học gắn lên bảng phụ
Dạy ôn Tập đọc buổi thứ 2:
+ Buổi thứ nhất: Giáo viên hướng dẫn đọc bài, luyện phát âm từ khó mà học sinh
khó phát âm hoặc đọc tiếng địa phương (phương ngữ), tìm hiểu bài, luyện đọc Yêu cầu
là học sinh “thực hiện đúng”.
+ Buổi thứ hai: Rèn luyện cho các em các kỹ năng đọc, nghe, nói, viết, sau đó
giáo viên luyện đọc từng câu, đoạn, cả bài tập đọc; luyện đọc đoạn văn dài, luyện nghe
và cảm thụ nội dung, ý nghĩa bài đọc; kể, hoặc nêu lại nội dung đã nghe bằng lời văn
của bạn Yêu cầu là “tự nhiên, thành thạo”.
Ví dụ: Về nội dung dạy học cơ bản: Bài Mẹ ốm (Tập đọc lớp 4)
- Giới thiệu bài: Mẹ ốm
- Hoạt động 1: Luyện đọc bài
(đoạn, cả bài);
- Phát âm từ khó: cơi trầu, khép
lỏng; cuốc cày, lần giường…
- Hoạt động 2: Tìm hiểu bài
- Khởi động: Cả lớp hát những bài hát về mẹ
- Hoạt động 1: Luyện đọc cả bài (chú ý nhịp
thơ, cách ngắt nghỉ)
- Phát âm từ khó: (các từ ngữ hay nhẫm lẫncác phụ âm l/n, v/d, ch/tr ):
- Tìm hiểu nghĩa các từ khó hiểu: diễn kịch,chắt dồn, vai chèo, cơi trầu, mưa rào…
- Hoạt động 2: HS nêu cảm nhận của mình
về những hình ảnh trong bài
Trang 13(đọc và trả lời các câu hỏi tìm
hiểu bài)
- Nêu được ý của từng đoạn nội
dung chính của cả bài
VD: khổ thơ 1;cho biết mẹ bạn
nhỏ bị ốm,
Khổ thơ 3: sự quan tâm chăm
sóc của xóm làng đối với mẹ
- Hoạt động 3: Viết một đoạn văn nói về ý
nghĩa của bài đọc hoặc ý nghĩa của một đoạnthơ mà em thích, theo ý hiểu của em
- Học sinh cá nhân viết
Bài Tập đọc Ê-mi-li-con (Tập đọc lớp 5 – Tuần 5)
Ở tiết học thứ hai chúng tôi cho học sinh luyện đọc Học sinh trung bình và yếu thìluyện đọc đúng, đọc lưu loát, học sinh khá giỏi chúng tôi cho luyện đọc và thi đọc diễn
cảm bài thơ, (kỹ năng thể hiện sự tự tin), học sinh khá giỏi nêu cảm xúc của em khi học bài thơ (kỹ năng tư duy sáng tạo).
Cũng có thể cho Học sinh suy nghĩ với kỹ thuật “Trình bày 1 phút” tôi cho học
sinh nêu trước lớp một cách ngắn gọn cảm xúc của em đối với chú Mo-ri-xơn, với tội ác
của Giôn-xơn (kỹ năng thuyết trình).
Trái lại, với phân môn LTVC: Bài: Liên kết các câu trong bài bằng từ ngữ nối; ( Tiếng Việt 5, Tuần 27) Giáo viên dựa vào nội dung của bài học để biên soạn các dạng
bài tập vui, kích thích hứng thú học tập của học sinh
Ví dụ: Mẫu chuyện vui dưới đây có một chỗ dùng sai từ để nối, em hãy chữa lại
Trang 14Cách chữa: Thay từ nhưng bằng: vậy, vậy thì, thế thì, nếu thế thì, nếu vậy thì.
Câu văn sẽ là:
- Vậy (vậy thì, thế thì, nếu thế thì, nếu vậy thì) bố hãy tắt đèn đi và kí vào sổ liên
lạc cho con
- HS đọc thầm lại mẫu chuyện vui, nhận xét về tính láu linh của cậu bé
Hoặc giáo viên cho các từ ngữ nối cho trước như: Đến khi, rồi, nhưng, mãi đến…
Sau đó giáo viên cho học sinh xây dựng tình huống:
Ví dụ: Đến khi mùa phượng nở rộ trên cành, những bông hoa đỏ rực khoe sắc Rồi sau đó những chùm quả nhú ra trông thật dễ thương.
Bài soạn chuyên đề: Người thực hiện: Phan Thị Hợi (lớp 2)
Tiết: Luyện từ và câu: Luyện tập (Tuần 26)
I Mục tiêu:
- Kiến thức:
+ Củng cố về tìm và đặt câu hỏi cho bộ phận “ Như thế nào?”.
+ Củng cố kĩ năng đáp lời cảm ơn, xin lỗi của người khác
+ Củng cố một số từ ngữ về chim chóc, muông thú
- Kĩ năng:
+ HS đặt đúng câu hỏi, tìm đúng bộ phận trả lời cho câu hỏi “Như thế nào?” (họcsinh trung bình)
+ Đặt được câu có bộ phận trả lời cho câu hỏi “ Như thế nào?” (HS K - G)
+ Nêu đặc điểm của các vật trông qua trò chơi
* KNS: KN làm việc nhóm, KN thể hiện sự tự tin; KN giao tiếp, ứng xử
- Thái độ: Biết cách ứng xử tốt trong giao tiếp hàng ngày; Có ý chăm sóc, thức bảo
vệ các loài vật
Trang 15II Chuẩn bị: Một số BT để HS luyện tập; ảnh các con vật, phiếu BT nhóm.
hỏi cho bộ phận” Như thế nào?”
Bài tập 1: Tìm bộ phận trả lời cho câu
hỏi “ Như thế nào?”trong các câu sau:
a Mùa hè, tiếng ve kêu râm ran
b Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương
đưa
Cho học sinh đặt câu hỏi cho bộ phận
vừa tìm được
GV chốt: Muốn hỏi về thời gian, ta
dùng câu hỏi “ khi nào?”
Muốn hỏi về nơi chốn, ta dùng câu
hỏi “ở đâu”
Muốn hỏi về nguyên nhân, ta dùng
câu hỏi “ vì sao”?
Muốn hỏi về đặc điểm ta dùng câu hỏi
“ như thế nào?
Bài tập 2: Gạch dưới bộ phận trả lời
cho câu hỏi “ Như thế nào?”
a Chú sóc chuyền từ cành này sang
cành khác nhanh thoăn thoắt
a Mùa hè, tiếng ve kêu râm ran
b Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa
- HS nối tiếp nhau đặt câu hỏi+ Mùa hè, tiếng ve kêu như thế nào?+ Cây bưởi sau nhà như thế nào?
Trang 16b Khóm nhài trong vườn nở hoa trắng
muốt
- GV chữa bài, cho học sinh đặt câu
hỏi cho bộ phận đã tìm được
Bài tập 3: Đặt câu có bộ phận trả lời
cho câu hỏi “ Như thế nào?”
- Tổ chức chữa bài trên bảng lớp
* Hoạt động 2: Luyện nói lời đáp
người khác cảm ơn hay xin lỗi mình
thì các em cần phải đáp lại người đó
với thái độ thân thiện, lễ phép,
* Hoạt động 3: “Đoán tên con vât”
- GV gắn ảnh các con vật lên cho HS
nêu tên con vật, đặc điểm con vật
- Cho 3 HS lần lượt lên cầm ảnh con
vật cho cả lớp đặt câu hỏi đoán tên
con vật
10’
8’
khác nhanh thoăn thoắt
b Khóm nhài trong vườn nở hoa trắng muốt
+ Chú sóc chuyền từ cành này sang cành khác như thế nào?
+ b Khóm nhài trong vườn nở hoa như thế nào?
* Hoạt động theo nhóm
- Nhóm học sinh khá giỏi
* Hoạt động nhóm đôi (đóng vai)
- Học sinh làm việc theo cặp
- HS thảo luận theo cặp và đóng vai
Trang 17Chốt ND liện hệ giáo dục bảo về các
vật nuôi, chim choc, muông thú
- Cho cả lớp đọc bài “ Vè chim”
4 Củng cố
- Hệ thống nội dung bài ôn
2’
VD: bạn mang tên con hổ
Bạn có thích ăn cà rốt không? (sai) Bạn có tính hay tò mò phải phông? (sai) Bạn có bộ lông vằn phải không? (Đ) Bạn rất hung dữ phải phông?(Đ) Vậy bạn là con hổ phải không? (Đ)
- HS lắng nghe
- HS nhắc lại nội dung bài
* Nhóm giải pháp dạy môn Toán buổi thứ hai:
Về nguyên tắc, không thêm nội dung kiến thức mới mà chủ yếu là luyện tập, khaithác sâu phần kiến thức đã có trong sách giáo khoa, hình thức tổ chức phong phú, đadạng như trò chơi, thi giải toán…giữa các cá nhân, tổ, nhóm Sau đây là gợi ý để giáoviên làm căn cứ soạn nội dung phù hợp với trình độ học sinh lớp mình phụ trách:
- Buổi thứ nhất: Tìm hiểu kiến thức mới rút ra công thức tính hay quy tắc, làm các
bài tập vận dụng Mức độ yêu cầu là học sinh “thực hiện đúng”.
- Buổi thứ hai: Học sinh rèn các kỹ năng làm tính, làm toán, giải bài toán có liên
quan đến kiến thức đã học Tổ chức làm bài tập theo các dạng, các kiểu bài: giải toán,làm tính bằng nhiều cách Mỗi dạng bài tập cần được luyện đi luyện lại nhiều lần
Yêu cầu “Nắm chắc, thực hiện thành thạo” Vậy giáo viên phải sáng tạo các dạng
bài tập thành các trò chơi học tập sao cho phù hợp với trình độ của học sinh theo nhómđối tượng (Giỏi – Khá; Trung bình; Yếu)
- VD về nội dung dạy học cơ bản Bài: Biểu thức có chứa hai chữ Toán 4
1 Giới thiệu biểu thức có chứa hai chữ,
tính giá trị của biểu thức chứa hai chữ:
Nếu a = 3 và b = 2 thì a + b = 3 + 2 = 5
2 Luyện tập: HS làm các bài tập:
+ Bài tập 1: Đọc biểu thức trong bài, sau
1 GV tổ chức cho HS làm các bài tập rènluyện kỹ năng: (Dựa vào các kiểu bài tập ởgiờ học buổi thứ nhất)