1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn một số BIỆN PHÁP hỗ TRỢ xây DỰNG đề KTĐK THEO MA TRẬN

19 175 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 122,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì cái quan trọng nhất trong việc đào tạo là dạy cách học, do vậy khi chọn nội dung và hình thức đánh giá cần phải bảo đảm nguyên tắc "Kiểm tra đánh giá

Trang 1

I Đề tài:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP HỖ TRỢ GIÁO VIÊN XÂY DỰNG ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KỲ THEO MA TRẬN

II Đặt vấn đề:

Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức tri thức, sức khỏe thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải là quá trình đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục Trong đó, đổi mới kiểm tra đánh giá là công cụ quan trọng góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục Hiện nay mặc dù đã được tập huấn về kĩ năng biên soạn đề kiểm tra nhưng một số giáo viên còn lúng túng trong việc thực hiện các bước trong qui trình Giáo viên mới chỉ đánh giá để biết được mức độ tiếp thu kiến thức và kỹ năng của người học Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì cái quan trọng nhất trong việc đào tạo là dạy cách học, do vậy khi chọn nội dung và hình thức đánh giá cần phải bảo đảm nguyên tắc "Kiểm tra đánh giá của giáo viên phải kích thích được sự tự kiểm tra đánh giá của người học và kiểm định được chính xác khách quan và mức độ cần đạt được của nội dung kiến thức " Khi Phòng giáo dục đào tạo mở lớp tập huấn vào tháng 8/2014

đa số chúng tôi được tập huấn xây dựng quy trình ra đề kiểm tra đánh giá học sinh bằng hai hình thức tự luận và trắc nghiệm khách quan Hầu hết các giáo viên trong trường nói riêng và toàn huyện nói chung còn lúng túng và chưa thật

sự bắt nhịp kịp với việc xây dựng qui trình ra đề kiểm tra đánh giá học sinh đúng theo ma trận Trường TH Nam Trân không đứng ngoài thực trạng đó Hơn ai hết, là người phụ trách chuyên môn của trường tôi nhận thức rõ việc đổi mới công tác kiểm tra đánh giá học sinh hiện nay là cấp thiết Vì vậy, tôi quyết định

viết kinh nghiệm “Biện pháp hỗ trợ giáo viên xây dựng đề kiểm định kỳ theo

ma trận” để một phần nào đó giúp các giáo viên trong trường thấy dễ dàng khi

xây dựng đề kiểm tra định kỳ hằng năm đồng thời góp phần cùng nhà trường đánh giá đúng sát thực việc học tập của học sinh cũng như đánh giá được năng lực thực sự của giáo viên

III Cơ sở lý luận:

Đánh giá chất lượng giáo dục gồm nhiều vấn đề, trong đó hai vấn đề cơ bản nhất là đánh giá chất lượng dạy của thầy cô và đánh giá chất lượng học của học sinh Từ đó sẽ tạo động lực nâng cao chất lượng dạy và học Kiểm tra - đánh giá

là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh Qua đó Ban giám hiệu có thể đánh giá được năng lực cũng

Trang 2

như phương pháp giảng dạy của giáo viên Trong qúa trình hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình, mỗi học sinh được trải qua quá trình giáo dục bao gồm các mặt giáo dục trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mĩ Đánh giá chất lượng học tập của các môn học của học sinh thực chất là xem xét mức độ nhận thức cũng như năng lực mà học sinh có được sau mỗi kì học, mỗi năm học Trong quá trình dạy học, giáo viên phải đặt ra những kế hoạch để kiểm tra mức độ đạt được yêu cầu so với mục tiêu đặt ra Kiểm tra xem học sinh đạt được những yêu cầu về các mặt ở mức độ nào, so với mục tiêu môn học đề ra hoàn thành được đến đâu Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện ở chất lượng học tập của học sinh Đồng thời Ban giám hiệu biết được năng lực của giáo viên bộ môn từ đó có kế hoạch bồi dưỡng thêm Có 2 hình thức kiểm tra đánh giá: -Kiểm tra - đánh giá thường xuyên: thông qua các giờ học trên lớp hoặc công việc mà giáo viên giao học sinh chuẩn bị ở nhà - Kiểm tra - đánh giá định kỳ:

là hoạt động của giáo viên vào những thời điểm đã được qui định trong phân phối chương trình môn học, gắn các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn với những phương pháp kiểm tra - đánh giá tương ứng nhằm đánh giá, định hướng việc đạt mục tiêu môn học ở giai đoạn tương ứng của học sinh.- Kết quả kiểm tra - đánh giá định kì được xem là kết quả học tập môn học của học sinh và là cơ

sở để đánh giá chất lượng khi kết thúc học kì Đổi mới kiểm tra đánh giá bao gồm nhiều mặt nhưng khâu thiết kế đề kiểm tra để đánh giá học sinh theo chúng tôi là khâu quan trọng nhất Thiết kế đề phải xác định được mục đích, yêu cầu của đề; xác định mục tiêu dạy học; thiết lập ma trận hai chiều; thiết kế đáp án, biểu điểm, đồng thời tổ chức rút kinh nghiệm ở tổ sau mỗi đợt kiểm tra Đề kiểm tra là phương tiện đánh giá kết quả học tập của HS sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kỳ hay toàn bộ chương trình của một lớp học, một cấp học Theo hướng dẫn của tài liệu tập huấn biên soạn câu hỏi và ra đề kiểm tra theo khung ma trận kiến thức, kỹ năng của từng môn học

Để ra được một đề kiểm tra đạt yêu cầu cần đảm bảo được quy trình 5 bước sau đây:

Bước 1: Xác định mục tiêu, phạm vi, mô tả yêu cầu cần đạt của nội dung kiểm tra theo các cấp độ (từ dễ đến khó)

Bước 2: Xây dựng nội dung ma trận cho đề kiểm tra

Bước 3: Biên soạn thư viện câu hỏi và ra đề kiểm tra theo khung ma trận kiến thức, kỹ năng

Bước 4: Xây dựng đáp án và biểu điểm cho đề kiểm tra

Bước 5: Thẩm định và niêm phong đề kiểm tra, đáp án

Trang 3

IV Cơ sở thực tiễn:

Thực tế hiện nay một số giáo viên "có dạy thì phải ra đề kiểm tra" nhưng phương pháp ra đề kiểm tra định kỳ thật sự nắm bắt chưa sâu sát, cho nên từ tài liệu hiện có: trên thị trường cứ chép ra là tốt! Do vậy:

-Việc ra đề kiểm tra thiếu khoa học, thậm chí còn mang tính máy móc, rập khuôn từ các đề kiểm tra mà những năm học trước để lại, thiếu cải tiến về cả nội dung lẫn hình thức

- Thiếu sự cọ xát giữa kiến thức và thực tế đối tượng học sinh Mỗi năm đối tượng học sinh lại khác, điều đó khẳng định lựơng kiến thức mà học sinh có được trong các năm học là không như nhau Vì vậy, mỗi năm học cần lấy học sinh làm trung tâm và dựa trên chuẩn kiến thức cơ bản để có một đề kiểm tra

-Thiếu hài hoà giữa trắc nghiệm và bài tập vận dụng Tuỳ theo yêu cầu môn học, nội dung của từng chương học mà giáo viên cần linh hoạt tạo ra đề kiểm tra

có số câu trắc nghiệm và số câu tự luận hợp lý, đặt biệt là phù hợp với đối tượng học sinh

-Đánh giá chưa sát thực từng đối tượng học sinh Vì thiếu các yêu cầu trên, nên đề kiểm tra chưa bám sát về khả năng trình bày của học sinh Có những học sinh yếu khả năng trắc nghiệm nhưng khả năng tự luận rất tốt và cũng có những học sinh có khả năng ngược lại

Dựa trên những yêu cầu thực tế đã được nêu, tôi xin trình bày những giải pháp mang tính cụ thể nhất nhằm khắc phục hoặc hạn chế những nhược điểm trên để đề kiểm tra định kỳ được sát thực nhất với chuẩn nội dung - hình thức và

cả đối tượng học sinh

Khi tham gia học lớp bồi dưỡng chuyên môn hè về Thông tư 30 và học về cách xây dựng ma trận đề, ra đề kiểm tra định kỳ, các thành viên trong nhóm hầu hết thực hiện khá tốt các bước trong qui trình Nhưng khi bắt tay vào việc vận dụng để ra đề trắc nghiệm khách quan thì các giáo viên lại tỏ ra lúng túng và thường xây dựng trên ma trận giống với ma trận thi trước đây, không thể hiện rõ nội dung cụ thể cần kiểm tra Khi đó nếu giáo viên có sử dụng ma trận đề để ôn tập sẽ chung chung vì thế học sinh sẽ phải học nhiều mà không có trọng tâm kiến thức Những đề kiểm tra định kỳ giáo viên gởi lên cho chuyên môn trường thường theo lối cũ, không đúng với nội dung mới Nhiều giáo viên còn cho rằng khi xây dựng ma trận chi tiết như qui trình đặt ra có thể sẽ làm học sinh dự đoán trước được đề thi và giáo viên thì tốn nhiều thời gian

V Nội dung nghiên cứu:

Trang 4

Xuất phát từ thực trạng trên nên tôi quyết định xây dựng lại qui trình thực hiện việc đánh giá kết quả học tập của học sinh tại trường theo mô hình sau: Tổ chức sinh hoạt chuyên môn cấp trường xây dựng ma trận đề kiểm tra thông báo trước trên Gmail cho giáo viên ma trận khoảng 2 tuần, toàn bộ giáo viên đều nghiên cứu xây dựng đề, đáp án và thang điểm nộp cho tổ trưởng để thẩm định

đề kiểm tra, tổ trưởng chịu trách nhiệm độ chính xác và tính bảo mật của đề, tổ trưởng kiểm tra lại thật kĩ và nộp lên cho Phó hiệu trưởng của trường tổ chức kiểm tra thẩm định bài tập chung cho toàn khối Thống kê kết quả từng khối lớp, nhận xét kết quả và rút kinh nghiệm

Dựa theo tiêu các tiêu chí như sau:

* Tiêu chí xây dựng đề kiểm tra định kỳ

Đề kiểm tra học kì phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:

1 Nội dung bao quát chương trình đã học

2 Đảm bảo mục tiêu dạy học; bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ ở các mức độ đã được qui định trong chương trình môn học, cấp học

3 Đảm bảo tính chính xác, khoa học

4 Phù hợp với thời gian kiểm tra

5 Góp phần đánh giá khách quan trình độ học sinh

6 Mỗi câu hỏi phải phù hợp với thời gian dự kiến trả lời và với số điểm dành cho nó

Câu hỏi phần trắc nghiệm và cả phần tự luận phải phù hợp với yêu cầu của chương trình, với chuẩn kiến thức tối thiểu theo quy định của Bộ GD&ĐT, sát với

trình độ học sinh

Các câu hỏi phải được phát biểu chính xác, rõ ràng để học sinh hiểu một cách dễ dàng

Bên cạch những yêu cầu cơ bản, giáo viên cần chuẩn bị cả những câu hỏi đào sâu, đòi hỏi vận dụng kiến thức một cách tổng hợp, khuyến khích suy nghĩ tích cực của học sinh

Đề kiểm tra cần hài hoà giữa các hình thức câu hỏi Cần phải thể hiện linh hoạt và phù hợp với nội dung của các hình thức

Phát huy được tính tự giác, chăm chỉ, không ỉ lại ở bạn

*Thể loại câu trắc nghiệm:

1/Câu hỏi đúng-sai:

Loại câu này thì thông thường trước đó phải là một câu dẫn

Khi soạn câu trắc nghiệm khách quan loại này cần chú ý:

Trang 5

- Chọn câu dẫn nào mà học sinh trung bình, khó nhận ra ngay là đúng hay sai

- Không nên trích nguyên văn những câu trong sách giáo khoa

- Cần đảm bảo tính đúng hay sai của câu dẫn là chắc chắn

- Mỗi câu dẫn chỉ nên diễn tả một ý độc nhất, tránh bao gồm nhiều chi tiết hay nhiều nội dung

- Tránh dùng những cụm từ như: tất cả, không bao giờ, đôi khi, thường.Vì những cụm từ này làm cho tính đúng hay sai không rõ ràng hoặc có thể giúp học sinh dễ dàng nhận ra câu trả lời Học sinh sẽ không phân biệt được " Câu a và c đều đúng" và "Cả a và c đúng"

2/Câu hỏi có nhiều lựa chọn:

Loại câu này mỗi câu hỏi có thể có từ ba đến năm câu trả lời sẵn, trong đó chỉ có một câu đúng hoặc đúng nhất Khi soạn loại câu trắc nghiệm khách quan loại này cần chú ý:

- Phần gốc có thể là một câu hỏi hoặc một câu bỏ lững và phần lựa chọn

đoạn bổ sung để phần gốc trở nên đúng nghĩa

- Phần lựa chọn phải từ ba đến năm ý (tuỳ vào trình độ kiến thức và tư duy của học sinh) Cố gắng sao cho những câu nhiễu (câu gài "bẫy") đều hấp dẫn như nhau, đều dễ làm cho học sinh chưa hiểu kỹ, chưa suy nghĩ cẩn thận đều cho là đúng Tuy nhiên đây không phải là "bẫy" để phân biệt học sinh giỏi hay học sinh yếu

- Tránh để cho một câu hỏi nào đó có thể có hai câu trả lời lựa chọn đều là đúng nhất Trong một số trường hợp có thể thêm một phương án là: không có câu trả lời nào là đúng (hoặc đúng nhất), hoặc trong trường hợp cho học sinh chọn câu hỏi đúng nhất thì có thể cho hai câu trả lời là đúng để học sinh còn lưỡng lự sẽ lựa chọn

3/Câu hỏi dạng ghép đôi

- Loại câu này thường gồm hai dãy thông tin: một dãy là những câu hỏi (hay câu dẫn), một dãy là câu trả lời hay câu lựa chọn Học sinh phải tìm ra những cặp câu đúng nghĩa Khi soạn câu trắc nghiệm khách quan loại này cần chú ý:

- Dãy thông tin nêu ra không quá dài, nên thuộc cùng một loại có liên quan với nhau để học sinh có thể dễ nhầm lẫn

- Số các câu hỏi và số các câu trả lời không được bằng nhau Nên có số những câu trả lời dư ra để tăng sự cân nhắc khi lựa chọn của học sinh

- Thứ tự các câu trả lời không giống (hoặc không ăn khớp) với các thứ tự của câu hỏi mà gây thêm những khó khăn không đáng cho sự lựa chọn

Trang 6

4/Câu dạng điền khuyết

Loại câu này được thể hiện ở hai cấp độ: điền khuyết với những từ hoặc cụm từ đã có sẵn và cấp độ cao hơn là điền khuyết với những từ hoặc cụm từ mà học sinh tự tìm cho đúng

Trên đây là 4 loại câu trắc nghiệm thông dụng để kiểm tra đánh giá kiến thức, trong đó được dùng phổ biến nhất là loại câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn Ngoài ra, tuỳ theo đặc điểm bộ môn mà còn có câu hỏi dạng trả lời ngắn hoặc bảng lựa chọn

Tuy nhiên, dù loại trắc nghiệm nào cũng cần chú ý đến dạng " Trắc nghiệm mà phải tự luận" hay đúng hơn là "phần tự luận được thể hiện ở dạng

*Thể loại câu tự luận:

Thể loại câu tự luận phải đa dạng để phát huy khả năng có thể của học sinh Tự luận ngắn, tự luận kiểu điền khuyết, tự luận kiểu tự trình bày

*Bố cục tiết kiểm tra:

Khi soạn đề kiểm tra định kỳ cần thể hiện quy trình chặt chẽ về nội dung – hình thức lẫn bố cục thể hiện Trong đó thể hiện rõ:

1/Xác định mục đích, yêu cầu đề kiểm tra:

Đề kiểm tra được dùng làm phương tiện đánh giá kết quả học tập sau khi học xong một chủ đề, một chương, hay một lượng kiến thức cụ thể

2/Xác định mục tiêu bài dạy:Để xây dựng được đề kiểm tra tốt, cần liệt kê chi tiết các mục tiêu giảng dạy, thể hiện ở các mục tiêu của từng bài học trong lượng kiến thức cần kiểm tra và các hành vi hay năng lực cần phát triển ở học sinh ở lượng kiến thức đó, (kiến thức, kỹ năng, thái độ)

3/Thiết lập ma trận hai chiều:

Đề kiểm tra muốn thể hiện đúng nội dung, phù hợp với đối tượng học sinh thì phải có ma trận đề định hướng trước khi ra đề Đó là cơ sở khoa học cho chất lượng đề kiểm tra Trong ma trận đề, một chiều là các mạch kiến thức cơ bản cần kiểm tra, một chiều là mức độ nhận thức của học sinh được đánh giá theo ba mức độ: Nhận biết; Thông hiểu; Vận dụng Trong mỗi ô là số lượng câu hỏi và hình thức câu hỏi Quyết định số lượng câu hỏi cho từng mục tiêu tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng của mục tiêu đó, thời gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm quy định cho từng mạch kiến thức Công đoạn trên có thể được tiến hành qua những bước cơ bản sau:

Bước 1: Xác định trọng số điểm cho từng mạch kiến thức Cách xác định này dựa vào số tiết quy định trong phân phối chương trình, dựa vào mức độ quan trọng của mỗi mạch kiến thức trong chương trình mà xác định số điểm tương ứng cho từng mạch

Trang 7

Bước 2: Xác định số điểm cho từng hình thức câu hỏi: nếu kết hợp cả hai hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận trong cùng một chủ đề thì cần xác định tỉ lệ trọng số điểm giữa chúng sao cho thích hợp Ngoài việc cần đảm bảo nguyên tắc kiểm tra được toàn diện và tổng hợp được kiến thức đã học, cũng rất cần chú trọng việc đánh giá và điều chỉnh quá trình tìm tòi, tư duy của học sinh

Tuỳ theo nội dung từng chương hay từng lượng kiến thức của từng bộ môn khác nhau mà tỉ trọng điểm thích hợp giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận nên là: 4 : 6; hay 5 : 5; hoặc 6 : 4

Bước 3: Xác định trọng số điểm cho từng mức độ nhận thức: để đảm bảo phân phối điểm sau khi kiểm tra có dạng chuẩn hoặc tương đối chuẩn thì việc xác định trọng số điểm ở ba mức độ: Nhận biết - Thông hiểu - Vận dụng theo thứ tự đó nên tuân theo các tỉ lệ: 4 : 4 : 2; hoặc 3 : 5 : 2; hoặc 3 : 4 : 3 tuỳ theo đối tượng học sinh Tuy nhiên, mức độ nhận thức trung bình (thông hiểu) luôn được dành cho nhiều hơn hoặc bằng các mức độ khác

Bước 4: Xác định số lượng câu hỏi cho từng ô ma trận, căn cứ vào trọng

số điểm đã xác định ở trên mà định số câu hỏi tương ứng Trong đó mỗi câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan phải có trọng số điểm như nhau

VI Kết quả nghiên cứu:

Qua hơn một năm áp dụng nội dung chuyên đề trên, chuyên môn trường

đã có được chuẩn thống nhất về kiến thức ở từng khối từng chương của từng môn học cho từng giáo viên giảng dạy nắm vững để soạn đề kiểm tra Tuy nhiên, để đảm bảo tiêu chí “Phát huy được tính tự giác, chăm chỉ, không ỉ lại ở bạn” thì có thể cần có ít nhất hai đề kiểm tra với nội dung kiến thức “bằng nhau”, phát xen kẽ nhau khi làm bài thì hiệu quả sẽ đạt cao hơn

Với kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế, kính mong quý đồng nghiệp cùng nghiên cứu chuyên đề, tích cực thảo luận, bổ sung đóng góp cho nội dung của chuyên đề được hoàn thiện hơn Thành thật cảm ơn

Sau đây là ví dụ cụ thể về việc ra đề kiểm tra một tiết dựa theo ma trận đề kiểm tra, chủ đề: Môn Tiếng Việt

TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

Soạn đềTNKQ- Các dạngTNKQ

-Đúng/ sai - Đa lựa chọn -Tương ứng cặp - Bán khách quan

-Điền chỗ trống -Trả lời ngắn - Tự luận -Câu hỏi có kết thúc mở

MINH HỌA

+Tự luận

Tại sao bảng con là người bạn thân thiết của em

Em và bạn em hưởng ứng đợt bảo vệ môi trường do nhà trường vừa phát động như thế nào?

Trang 8

+Đúng/sai

Phấn là đồ dùng học tập?

+Đa lựa chọn

Tìm từ đồng nghĩa với vị thành niên?

phụ nữ- thiếu niên- thanh niên- đàn ông

+Tương ứng cặp

Nối nơi hoạt động với người hoạt động

+Trả lời ngắn (Bán khách quan)

Tự viết một nhãn vở

+ Hạn định khu vực trả lời:

Các thông tin để nhận diện ra chủ nhân và để chủ nhân nhận ra cuốn vở không ghi thông tin thừa: nơi sinh sống, cha mẹ tên gì, làm gì, vở còn mấy trang

tên trường lớp tên môn/phân môn học và tên năm học…

+ Trả lời ngắn (Bán khách quan)

Hãy kểt tên các đồ dùng học tập của em và bạn em

+Hạn định khu vực trả lời:

Đồ dùng thiết yếu cho học tập, không ghi vật dụng không dùng trong học tập như đồ ăn, phương tiện đi lại, đồ chơi sách giáo khoa vở bút bảng con hộp bút cặp, túi

+ Điền chỗ trống (bán khách quan)

Điền dấu thanh thích hợp để được tiếng sau đây có nghĩa

Điền từ thích hợp để câu sau đây có nghĩa: ăn cỏ đồng ta

*Ưu điểm:

-Vùng quét nội dung KT&KN rộng chi tiết

- Kết quả khách quan KT & ĐG ở cơ sở thông tin cập nhật và chi tiết về từng HS kết quả đáng tin cậy dễ báo cáo thống kê

-KT & ĐG diện rộng dễ nhân bản kết quả đáng tin cậy tiện tự động hóa trong chấm điểm

-TNKQ có độ dài ngắn, cấu trúc giản dị, nên: tiện gộp nhiều đề lại thành một bộ đề  tăng độ tin cậy chứa nhiều chủ đề khác nhau  tăng thông tin về HS

-TNKQ thiết kế đúng và chất lượng sẽ tốt hơn tự luận

So sánh bài làm TNKQ với bài làm theo Tự luận của cùng một nhóm HS,

đã có 2 kết luận quan trọng:

Ngoài ra còn bổ sung hàng loạt chi tiết mà bài làm qua tự luận không thể kết quả qua TNKQ dự báo tốt kết quả qua tự luận có được

Kết quả qua Tự luận không dự liệu được kết quả của TNKQ

Trang 9

*Nhược điểm

Khuyến khích đoán mò, nhất là ở dạng đúng/sai

Dạng đa lựa chọn chỉ yêu cầu tìm đúng câu trả lời, nên không nhớ chi tiết dừng phát triển nhận thức chỉ ở mức nhận biết

Thiên về kĩ năng đọc - hiểu, hạn chế kĩ năng viết, nên không biết soạn trả lời không phát triển khả năng tạo lập câu và văn bản

Nhiễu trong các câu trả lời có vẻ ngoài hợp lí, lượng lại vượt trội 

làm vẩn đục môi trường sư phạm, nhất là tiểu học

Do người soạn đề chủ quan, nên câu TNKQ thường: tầm thường, rời rạc, không bao quát bỏ qua phát triển tư duy qua các kĩ năng phân tích và tổng hợp!

TNKQ không tiết kiệm được thời gian, vì:

Trước khi ra đề phải cân nhắc kĩ chiến lược ra đề để có tính hệ thống cao và vô tình bỏ sót một số vùng KT&KN cần KT&ĐG

Về mặt kĩ thuật, người ra đề phải chuyên nghiệp

Trước khi đưa ra đại trà phải có thời gian thử nghiệm và hiệu chỉnh

bộ đề cho sát với thực tế

Soạn đề TNKQ Yêu cầu về hình thức Yêu cầu về nội dung YÊU CẦU HÌNH THỨC

2 loạt quy tắc:

Câu hỏi - Câu trả lời Cấu trúc thành tố đề TNKQ Tìm từ đồng nghĩa với vị thành niên?

phụ nữ- thiếu niên- thanh niên- đàn ông Câu trả lời đúng

Câu trả lời nhiễu Thân câu hỏi Lệnh

1 Câu hỏi không lặp nguyên văn bài đã học

2 Thân câu hỏi không chứa từ phủ định

3 Câu hỏi không làm rối trí HS

4 Thân câu hỏi phải có nghĩa và phải nêu rõ được vấn đề cần hỏi

5 Hình thức câu hỏi không chi phối, làm ảnh hưởng đến phần thân

6 Phần thân chứa càng nhiều yếu tố hỏi càng tốt Đoạn lặp lại, nếu

có ở trả lời, phải đưa vào thân câu hỏi

7 Không dùng các câu hỏi có nội dung chính trị, tôn giáo hoặc quảng

cáo ,ngoài phạm vi GDTH

Trang 10

8 Không dùng câu hỏi móc xích: trả lời đúng câu trước mới đến được câu tiếp sau

9 Không dùng câu hỏi đa lựa chọn nếu các dạng đúng/ sai, điền, cặp

tương hợp tốt hơn

MINH HỌA

Không lặp lại nguyên văn bài học

Có dịp về Sóc Trăng, bạn nên tới thăm chùa Dơi Quanh chùa, cây cối mọc um tùm, nhiều nhất là những cây sao, cây dầu Có hàng vạn chú dơi khổng

lồ sinh sống nơi đây Những chú dơi khổng lồ, sải cánh tới hàng mét, khéo léo treo mình

ngủ dưới những nhành cây

1 Chùa Dơi có gì đặc biệt?

Có nhiều tượng Phật

Có nhiều chú dơi sinh sống

Có lễ hội đông vui

2 Dơi ngủ như thế nào?

Treo mình ngủ dưới những nhành cây

Nằm ngủ trong tổ

Đứng ngủ tại sân chùa

Đề Lớp 3 Tiếng Việt

Thân câu hỏi không chứa từ phủ định

Đặc điểm nào dưới đây không phải là đặc điểm của loài chim?

Có xương sống

Có lông mao

Đẻ con và nuôi con bằng sữa

Có lông mao

Đề Lớp 3 TNXH

Câu hỏi không làm rối trí HS

Mồm bò mà lại không phải mồm bò, mà lại là mồm bò

Câu đố Việt Nam

Xếp các câu tục ngữ dưới đây vào 3 nhóm bằng cách viết chữ đầu câu (a, b, c, ) vào các ô tương ứng:

a/ Góp gió thành bão

b/ Xấu người đẹp nết

c/Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

d/ Con có cha như nhà có nóc

e/Cái nết đánh chết cái đẹp

Ngày đăng: 09/11/2017, 00:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w