MỞ ĐẦU Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm tất cả bản sắc văn hóa của các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam. Tính thống nhất ấy không chỉ là phép cộng đơn giản, các dân tộc chỉ có thể đóng góp vào và làm nên sự phong phú của văn hóa Việt Nam với điều kiện không đánh mất bản sắc văn hóa tộc người. Nền văn hóa này đã chịu đựng được sự thử thách và khảo nghiệm của lịch sử trong quá trình dựng nước và giữ nước. Tính đoàn kết, tính thống nhất này đã hình thành nên khái niệm dân tộc Việt Nam. Chúng ta đã xây dựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam với tất cả sự phong phú và độc đáo của 54 dân tộc sinh sống trên đất nước ta. Việc phát triển văn hóa nhằm mục tiêu tạo nên sự phát triển bền vững của văn hóa Việt Nam nhưng làm thế nào để tạo dựng nên một sự bền vững khi trên con đường phát triển các dân tộc lại đang đánh mất bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Bên cạnh đó, hiện nay các thế lực phản động trong nước và quốc tế đã và đang sử dụng văn hóa như một công cụ để kích động mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc. Do vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, là vấn đề tồn tại hay không tồn tại đối với mỗi dân tộc. Dân tộc Tày là cư dân bản địa và lâu đời ở nước ta. Họ phân bố trên phạm vi rộng từ biên giới phía Bắc của các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai xuống vùng trung du; từ biên giới phía đông của tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng qua huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái và huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình. Thái Nguyên là một trong những tỉnh đồng bào Tày có mặt lâu đời và có số dân chiếm 9,08%. Trong đó người Tày ở Định Hóa có số dân trên 43367 người chiếm 49,2 % dân số toàn huyện. Do sớm có mặt ở Định Hóa lại chiếm tỷ lệ dân số khá đông, trong tiến trình phát triển của lịch sử, đồng bào Tày nơi đây đã sớm xây dựng cho mình một nền văn hóa truyền thống phong phú và đa dạng góp phần xây dựng nên truyền thống văn hóa Việt Nam. Trên cơ sở đó, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc luôn trở thành vấn đề trọng tâm trong đường lối của Đảng. Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ V khóa VIII, Đảng ta đã khẳng định rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để tạo ra những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”. Với mục đích bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc trong văn hóa truyền thống của đồng bào Tày ở huyện Định Hóa, chúng tôi chọn vấn đề “Văn hóa ăn ở của người Tày ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu khoa học kết thúc học phần “ Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam ”. Trong đó tập trung chủ yếu vào đời sống vật chất và tinh thần của người Tày ở huyện Định Hóa.
Trang 1LỜI CẢM ƠN Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Trần Phương Thúy,
cùng các thầy cô trong Khoa văn hóa thông tin và xã hội Trườn Đại học Nội vụ
Hà Nội đã chỉ bảo tận tình, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình họctập giúp tôi hoàn thành đề tài của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn phòng Văn hóa thông tin xã hội huyện Định Hóatỉnh Thái nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi về mọi mặt giúp tôi hoàn thiện đề tàicủa mình Trong thời gian đi điền dã thu thập tài liệu tôi đã nhận được sự giúp
đỡ nhiệt tình của các già làng, trưởng bản và những người cung cấp thông tin ởnhiều xã trong huyện Định Hóa Tôi chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè,thầy cô đã động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành đềtài
Trang 2MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồmtất cả bản sắc văn hóa của các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam Tính thốngnhất ấy không chỉ là phép cộng đơn giản, các dân tộc chỉ có thể đóng góp vào vàlàm nên sự phong phú của văn hóa Việt Nam với điều kiện không đánh mất bảnsắc văn hóa tộc người Nền văn hóa này đã chịu đựng được sự thử thách và khảonghiệm của lịch sử trong quá trình dựng nước và giữ nước Tính đoàn kết, tínhthống nhất này đã hình thành nên khái niệm dân tộc Việt Nam Chúng ta đã xâydựng và phát triển một nền văn hóa Việt Nam với tất cả sự phong phú và độcđáo của 54 dân tộc sinh sống trên đất nước ta Việc phát triển văn hóa nhằm mụctiêu tạo nên sự phát triển bền vững của văn hóa Việt Nam nhưng làm thế nào đểtạo dựng nên một sự bền vững khi trên con đường phát triển các dân tộc lại đangđánh mất bản sắc văn hóa của dân tộc mình Bên cạnh đó, hiện nay các thế lựcphản động trong nước và quốc tế đã và đang sử dụng văn hóa như một công cụ
để kích động mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc Do vậy, việc giữ gìn và pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, là vấn đề tồntại hay không tồn tại đối với mỗi dân tộc Dân tộc Tày là cư dân bản địa và lâuđời ở nước ta Họ phân bố trên phạm vi rộng từ biên giới phía Bắc của các tỉnhCao Bằng, Hà Giang, Lào Cai xuống vùng trung du; từ biên giới phía đông củatỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng qua huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái vàhuyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình Thái Nguyên là một trong những tỉnh đồng bàoTày có mặt lâu đời và có số dân chiếm 9,08% Trong đó người Tày ở Định Hóa
có số dân trên 43367 người chiếm 49,2 % dân số toàn huyện
Do sớm có mặt ở Định Hóa lại chiếm tỷ lệ dân số khá đông, trong tiếntrình phát triển của lịch sử, đồng bào Tày nơi đây đã sớm xây dựng cho mìnhmột nền văn hóa truyền thống phong phú và đa dạng góp phần xây dựng nêntruyền thống văn hóa Việt Nam
Trên cơ sở đó, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc luôn trở thành vấn đềtrọng tâm trong đường lối của Đảng Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
Trang 3Đảng lần thứ V khóa VIII, Đảng ta đã khẳng định rõ: “Di sản văn hóa là tài sản
vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để tạo ranhững giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kếthừa và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vănhóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”
Với mục đích bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc trong văn hóa truyềnthống của đồng bào Tày ở huyện Định Hóa, chúng tôi chọn vấn đề “Văn hóa ăn
ở của người Tày ở huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứukhoa học kết thúc học phần “ Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam ” Trong
đó tập trung chủ yếu vào đời sống vật chất và tinh thần của người Tày ở huyệnĐịnh Hóa
Trang 4Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DÂN TỘC TÀY
Ở HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1 Khái quát tình hình kinh tế, văn hõa, xã hội của dân tộc Tày ở huyện Định Hóa tỉnh Thái nguyên.
1.1.1 Dân số, nguồn gốc
Dân tộc Tày là dân cư chiếm số đông ở huyện Định Hóa Hiện nay, ởĐịnh Hóa có 43.367 người Tày chiếm 49,2% dân số toàn huyện Có những xãcủa huyện Định Hóa người Tày chiếm tới 90% như: Linh Thông, Bộc Nhiêu,Điềm Mặc, Bình Yên…
Theo tác giả Đào Duy Anh trong tác phẩm “Đất nước Việt Nam qua cácđời” thì người Tày ở nước ta có nguồn gốc từ người Lão Man ở Trung Quốc Tácgiả “đoán rằng người Nùng ở miền Nam Trung Quốc và người Tày ở Bắc ViệtNam là hậu duệ của họ Đặc biệt là người Lão ở Tây Nguyên bấy giờ” “Chúng
ta có thể đoán rằng cư dân các châu ki mi thuộc An Nam đô hộ phủ là tiền thâncủa đồng bào Tày, Nùng ở khu vực Việt Bắc hiện nay”
Ngoài nguồn gốc từ phía Nam Trung Quốc, người Tày ở Định Hóa cònmột bộ phận “Tày hóa” Người Kinh trong lịch sử đã có quá trình di cư lên ĐịnhHóa sinh sống cùng người Tày và dần dần họ trở thành người Tày Một bộ phậnngười Tày hiện nay nếu xem xét gia phả thì hoàn toàn là người Việt
1.1.2 Tình hình kinh tế
1.1.2.1 Kinh tế nông nghiệp
Là cư dân bản địa, người Tày đã sinh sống ở Định Hóa từ lâu đời Với đặcđiểm cư trú ở những vùng thấp, ven chân đồi nơi có nguồn nước nên người Tày
ở đây có điều kiện thuận lợi để canh tác lúa nước Ruộng của người Tày đượckhai phá từ đất bằng phẳng ven sông ở các vùng thung lũng có độ màu mỡ caohoặc khai phá các thửa ruộng rìa đồi rừng Tên các cánh đồng đó thường được
Trang 5bắt đầu bằng từ “nà” như Nà Chằm, Nà Luông, Nà Phai… Trong canh tác lúanước người Tày biết dùng phân bón, chủ yếu là phân trâu để bón ruộng Hệthống thủy lợi tương đối phát triển bao gồm: hệ thống mương, phai đặc biệtngười Tày ở Định Hóa nói riêng và đồng bào Tày nói chung biết sáng tạo ranhững chiếc cọn dẫn nước từ khe suối lên ruộng bậc thang, đảm bảo việc tướitiêu có hiệu quả.
Khi canh tác lúa nước, người Tày tiến hành các bước kỹ thuật như sau: từcày lật đất rồi cày lại lần hai, bừa lần 1, bón lót, bừa lần hai cho phẳng rồi mớicấy lúa Ruộng để gieo mạ được làm rất kỹ Đất được cày bừa bằng trâu sau đóngười ta bón phân chuồng lên ruộng rồi bừa cho mặt ruộng phẳng, láng nước.Thóc được làm giống được chọn rất kỹ phải là hạt già, mẩy và đều hạt Trướckhi đem ủ mầm, thóc được ngâm trong nước khoảng 1 ngày, sau đó đem ủ từ 2 -
3 ngày khi hạt đã nảy mầm đều thì đem ra ruộng gieo Khi mạ gieo xong, đểkhoảng 4 ngày cho mầm thóc ổn định mới cho nước vào Từ khi gieo mạ đến khicấy khoảng 25 - 30 ngày Ruộng để cấy được cày, bừa kỹ càng Khi làm ruộng,đồng bào đã sử dụng phân chuồng hoặc phân xanh để bón cho lúa Ngày nay,nhờ áp dụng khoa học và cải tiến kỹ thuật nên người Tày đã sử dụng các loạiphân đạm hóa học, thuốc trừ sâu để chăm sóc cho lúa, nhờ vậy nên năng suấtcây trồng được nâng cao
Bên cạnh canh tác lúa nước, đồng bào còn làm nương rẫy, soi bãi và pháttriển vườn tược theo lối truyền thống Nương rẫy là một hình thức sản xuất cổtruyền, có nguồn gốc từ lâu đời Trên nương rẫy đồng bào tiến hành trồng cácloại cây ngũ cốc như: lúa, ngô, khoai, sắn… Những nương đã trồng một, hai vụlúa hoặc ngô người ta dùng để trồng đỗ, đậu các loại vừa tận dụng được thời vụ,tận dụng được đất không trồng được lúa, vừa để cải tạo đất để trồng các loại câykhác Ngoài nương rẫy đồng bào còn có hình thức trồng trọt khác là vườn tược
và soi bãi, ngày nay có cả những trang trại trồng cây công nghiệp, cây ăn quả…
Sau trồng trọt, chăn nuôi là hoạt động kinh tế quan trọng Trước đây,
Trang 6lợn, dê, gà, ngan, vịt… nhưng chủ yếu là chăn thả, rất ít khi làm chuồng trại kiên
cố Từ khi có chính sách khuyến nông của Đảng và Nhà nước, đồng bào đã biết
áp dụng các phương pháp khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi Các loại gia súc,gia cầm đã có chuồng, trại ổn định, nuôi các giống vật nuôi cho năng suất caonhư: lợn lai, lợn siêu nạc, gà siêu nạc,… Nhờ vậy, chăn nuôi không chỉ nhằmphục vụ nhu cầu của đồng bào mà con tạo ra sản phẩm để trao đổi hàng hóa, tạothêm thu nhập cho gia đình Có thể nói, đồng bào Tày đã đưa kinh tế hàng hóavào trong chăn nuôi
Ngoài ra, đồng bào nơi đây con chú trọng nuôi cá Hầu như gia đình nàocũng đào ao nuôi cá vừa để cải thiện đời sống, vừa tạo cảnh quan môi trườngsống sạch đẹp hơn Nếu là ao chuyên canh thì đồng bào nuôi nhiều loại cá khácnhau, thời vụ ngắn, dài khác nhau như cá chép, cá trôi, cá mè, á trắm,… là cádài ngày, cá diếc, cá rô,…là cá ngắn ngày Thông thường cứ 1 hoặc 2 năm người
ta tháo ao bắt cá và sửa sang, nạo vét ao cá Riêng cá nuôi ở ruộng sau 1 hoặc 2
vụ lúa thì đồng bào thường nuôi các loại cá ngắn ngày, năng suất thấp
Không chỉ có chăn nuôi và trồng trọt, đồng bào Tày còn tiến hành háilượm và đánh bắt Sau buổi làm nương, đồng bào tranh thủ hái các loại rau rừng,nấm, măng về làm thức ăn Đánh bắt cá ở khe suối, sông, hồ tự nhiên cũng làmột hoạt động kiếm sống mang tính tự nhiên khá phát triển của đồng bào TàyĐịnh Hóa Đồng bào sử dụng các loại dụng cụ từ thô sơ như việc bắt bằng tayđến các loại công cụ cao hơn như chài lưới, dùng thuyền, mảng…
1.1.2.2 Kinh tế thủ công nghiệp
Đồng bào Tày ở Định Hóa có một số nghề thủ công truyền thống như:nghề dệt vải, nghề đan lát, nghề làm mộc…
Nghề dệt vải truyền thống của người Tày nơi đây mang tính xã hội cao vàgắn bó khá mật thiết với người phụ nữ Tày Người Tày ở huyện Định Hóa đãsớm biết trồng bông nhuộm chàm, tạo khung dệt vải Nhờ bàn tay lao động củangười phụ nữ mà những bộ trang phục truyền thống được tạo nên Các sản phẩmdệt ngoài việc để dùng để may mặc còn được sử dụng làm mặt chăn, màn che,
Trang 7mặt địu, túi đeo…
Nghề dệt đã gắn chặt với phong tục cưới xin truyền thống của người Tày
từ bao đời nay Để chuẩn bị hành trang về nhà chồng, các thiếu nữ Tày phải tựtay dệt rất nhiều vỏ chăn, gối để biếu những người thân trong gia đình nhàchồng
Người Tày ở Định Hóa rất ít thêu thùa và trang trí hoa văn trên bộ trangphục truyền thống của mình Nhưng hoa văn được dệt trên vải thì rất phong phú
và đa dạng tùy theo mục đích sử dụng Vải nhuộm chàm dùng để may quần áo,vải trơn dùng trong tang ma, vải thổ cẩm dùng để làm vỏ chăn, vỏ gối, địu, túiđeo… thì tạo hoa văn với nhiều kiểu dáng như kiểu quả trám, hoa hồi, hoa cúc…
Nghề đan lát của người Tày chủ yếu tạo ra các sản phẩm phục vụ cho laođộng sản xuất và sinh hoạt gia đình như các loại dần, sàng, phên, bồ, giỏ,…Nguyên liệu đan lát là tre, giang, nứa, mây… sẵn có trong tự nhiên Nghề đan látđược phổ cập trong mọi người từ già đến trẻ đều tận dụng thời gian rỗi để làm.Nhất là đối với phụ nữ, đan lát còn là một trong những tiêu chí để xác định tài
tề gia nội trợ của họ cũng như nghề dệt vải vậy
Nghề rèn đúc ít phổ biến hơn chỉ có một số gia đình hoặc nhóm thợ cùngchung vốn dựng lò rèn Các lò rèn thường sửa hoặc rèn mới một số nông cụ nhưcuỗc, cào, liềm, đinh ba, dao, kéo… phục vụ cho lao động sản xuất và sinh hoạt
1.1.3 Đời sống văn hóa, xã hội
1.1.3.1 Quan hệ xã hội
a Quan hệ cộng đồng làng bản
Người Tày ở huyên Định Hóa có tập quán cư trú thành làng bản Bản làđơn vị tụ cư của nhiều dòng họ lấy quan hệ láng giềng làm cơ sở, có thiết chế tựquản và những quy định riêng Quy mô của các bản vừa và nhỏ, mỗi bản thườngchỉ có 30 đến 60 nóc nhà Làng bản của người Tày thường được tạo dựng ởthung lũng có sông, suối hay có đồi núi bao quanh… Tên gọi của bản thườngđược đệm từ “nà” (ruộng), “pác” (cửa), “khuổi” (suối) như: Nà Loòng, Nà Poọc,
Trang 8Pác Máng, Pác Cáp…
Mỗi bản có phạm vi cư trú và đất đai trồng trọt riêng, đường phân giớithường là đường mòn, khe núi, khe suối, đèo cao… được công nhận theo quyước của dân bản Mặc dù những quy ước đó không được ghi thành văn bản cụthể nhưng do sự tôn trọng và tin tưởng nhau nên dân bản đều công nhận Ý thức
về địa vực cư trú ấy được truyền từ đời này sang đời khác trong dân cư của làngbản
Dân cư trong bản bao gồm nhiều họ, trong đó có một đến hai họ đôngngười hơn và thường là những họ của người đến cư trú đầu tiên Mỗi bản đều cónhững nghi lễ chung liên quan đến nghề nông, chăn nuôi, lễ cúng thổ thần, lễxuống đồng… nhằm cầu mong cho người, cây trồng và vật nuôi phát triển, làngbản ấm no, hạnh phúc
Trong mỗi bản làng của người Tày thì quan hệ huyết thống dân tộc là mậtthiết nhất Bên cạnh đó là quan hệ láng giềng đồng tộc hay khác tộc cũng là yếu
tố quan trọng để giúp nhau cả về vật chất lẫn tinh thần Trong mỗi bản đều cómiếu thờ thổ công là linh thần cai quản cương giới của làng bản, che chở cho cưdân của làng bản Thông qua lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa tinh thần mọithành viên trong bản dù đồng tộc hay khác tộc đều đoàn kết với nhau Trong sảnxuất, đồng bào nơi đây có tập quán đổi công cho nhau trong những ngày mùabận rộn Hay khi một nhà trong bản có lễ cưới hay tang ma đều nhận được sựgiúp đỡ của mọi người dân trong bản Đó thực sự là một nét đẹp trong đời sốngtinh thần của đồng bào Tày nơi đây
b.Quan hệ dòng họ
Thông thường những người cùng họ sống cùng nhau trong một bản hoặcvài bản gần kề Cho nên những người trong dòng họ luôn giúp đỡ lẫn nhau trongsinh hoạt cũng như trong sản xuất Chẳng hạn, khi con gái của gia đình nào đótrong dòng họ có người đến dạm hỏi, gia đình phải có lời mời anh em thân tộcđến hỏi ý kiến Trong lễ ăn hỏi với sự có mặt đông đủ của họ hàng nhà gái đểbàn bạc, thỏa thuận với nhà trai về số lượng sính lễ, thủ tục đưa đón dâu…
Trang 9Trong quan hệ dòng họ, về mặt nguyên tắc hôn nhân, đồng bào thực hiệnnguyên tắc hôn nhân ngoại tộc Điều này có nghĩa là thực hiện hôn nhân ngoàidòng họ, những người cùng dòng họ không được kết hôn với nhau.
c Quan hệ gia đình
Gia đình của người Tày là gia đình phụ hệ, quan hệ huyết tộc theo dòngcha, mang tính chất phụ quyền ảnh hưởng theo lễ giáo phong kiến Nho giáo.Trước đây, người Tày ở Định Hóa còn tồn tại nhiều gia đình lớn nhiều thế hệ,nhưng ngày nay phổ biến là gia đình nhỏ với hai thế hệ bố mẹ và con cái chưalập gia đình Con cái sinh ra lấy theo họ bố, trường hợp con trai đi làm rể đời đểthờ cúng hương hỏa nhà vợ thì con sinh ra lấy theo họ mẹ Đây là một trongnhững đặc trưng phản ánh tính chất phụ quyền trong gia đình người Tày
Mỗi tiểu gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập, có tài sản riêng, tiêu dùngriêng Chủ gia đình là người cha, người chồng Chủ gia đình làm chủ toàn bộ tàisản, có quyền quyết định tất thảy mọi công việc trong nhà, điều khiển mọi côngviệc sản xuất, tổ chức sinh hoạt, có trách nhiệm cúng bái và là người thay mặtgia đình giải quyết những vấn đề liên quan với bên ngoài Khi xem xét, giảiquyết những công việc quan trọng người chủ gia đình thường bàn bạc với vợcon nhưng tiếng nói quyết định thuộc về chủ gia đình
Trong tổ chức sản xuất có sự phân công lao động theo giới một cách tựnhiên Trong gia đình, những loại công việc khác nhau do các thành viên thựchiện theo sự phân công của chủ gia đình, phù hợp với sức khỏe và khả năng củatừng người Đàn ông chủ yếu đảm đương những việc nặng nhọc như: cày, bừa,phát nương, làm nhà, chuồng trại gia súc,… Phụ nữ làm những công việc đỡnặng nhọc hơn như: cấy hái, làm cỏ, bón phân, kiếm củi, chăm lo việc nội trợ,nuôi dạy con cái, dệt vải…
Tính chất phụ quyền trong gia đình người Tày không chỉ thể hiện qua vaitrò của người chồng, người bố mà còn biểu hiện rõ nét trong việc phân chia tàisản - chỉ có con trai mới có quyền thừa kế Tài sản để phân chia gồm có: ruộng,
Trang 10trâu, bò, ngựa, rừng, lúa gạo, đồ dùng gia đình, công cụ sản xuất,… Trong mỗigia đình khi con cái ra ở riêng đều được bố mẹ phân chia cho một phần tài sản.Trong đa số trường hợp, con trai trưởng được nhận phần nhiều hơn, các con traikhác chia đều như nhau Khi bố mẹ chết đi, người con trai trưởng sẽ là người thờcúng bố mẹ, lo dựng vợ gả chồng cho các em Mặc dù vậy người phụ nữ cũng
có một vai trò nhất định trong gia đình Trong gia đình, người vợ có quyền thamgia ý kiến về các công việc, là lao động chính trong gia đình, là người trực tiếpnuôi dạy con cái nhưng quyền quyết định bao giờ cũng thuộc về người chồng
Một biểu hiện nữa của tính chất phụ quyền trong gia đình người Tày ởĐịnh Hóa đó là quan hệ giữa các thành viên trong gia đình nhất là giữa con dâu,
em dâu với bố chồng, anh chồng Trong gia đình, vợ phải nghe lời chồng, emphải nghe lời anh, chị, bậc dưới phải tôn trọng bậc trên Đặc biệt người phụ nữtrong gia đình phải tuân thủ những quy tắc ứng xử chặt chẽ như: không được đingang qua phía trước các bàn thờ trong nhà, không ngồi vào chỗ tiếp khách củanam giới ở gian ngoài, không được tới chỗ ngủ và nơi dành riêng cho bố, chúbác, anh chồng ; Bố chồng, anh chồng không bao giờ ngồi cùng mâm cơm, bànchè, bàn rượu với con dâu, em dâu ; Con dâu, em dâu không được phép đưa cho
bố chồng, anh chồng dùng bất cứ thứ gì mình đã dùng và đang dùng như : chậurửa mặt, lược chải đầu…; Khi con dâu, em dâu ở cữ, bố chồng, anh chồng khôngbao giờ tự tay đưa trực tiếp cho con dâu, em dâu cơm hay bất cứ thứ gì Nếumuốn đưa đồ gì phải qua một người trung gian hoặc để ở bàn để con dâu, emdâu tự lấy ; Bố chồng, anh chồng không được đặt địu cháu lên lưng và buộc địucháu cho con dâu, em dâu Con dâu, em dâu muốn đặt địu cháu phải chạy sangnhờ hàng xóm mặc dù có bố chồng hoặc anh chồng ở nhà ; Bố chồng, anh chồngkhông được bước chân vào buồng ngủ của con dâu, em dâu kể cả là ban ngày.Trong trường hợp con dâu, em dâu bị ốm mà bố chồng, anh chồng muốn vàothăm thì phải có mặt của mẹ chồng, em dì hay em gái chồng Thậm chí cháukhóc, ông cũng không được phép vào buồng con dâu bế cháu mà phải nhờ người
Trang 11khác vào bế cháu ra ngoài hộ; Con dâu không được đi ngang qua trước mặt bốchồng, anh chồng
Người Tày có tục nhận con nuôi, nhận bạn tồng kể cả trong trường hợpngười khác dân tộc Nhận con nuôi có nhiều dạng, nhiều nguyên nhân như : đỡđầu ăn học, chữa khỏi bệnh, truyền dạy nghề thầy cúng… Nhận con nuôi nhưngkhông phải nuôi thực sự Mặc dù vậy, khi nhà bố mẹ nuôi có công việc bận rộnhay khi gặp khó khăn, con nuôi phải có trách nhiệm giúp đỡ như đối với cha mẹ
đẻ của mình Vào dịp lễ tết con nuôi phải đến lễ tết và có lễ vật cho bố mẹ nuôi.Khi bố mẹ nuôi qua đời, con nuôi phải để tang báo hiếu và có lễ vật hiến tế nhưđối với bố mẹ ruột Ngược lại bố mẹ nuôi cũng phải có trách nhiệm bảo vệ, giúp
đỡ con nuôi nhưng chủ yếu là về mặt tinh thần Một dạng khác là nhận con nuôithực sự hay còn gọi là nhận con thừa tự Con thừa tự sẽ được đón về ăn ở hẳntại nhà bố mẹ nuôi, coi bố mẹ nuôi như bố mẹ đẻ Con thừa tự phải làm mọinghĩa vụ của một người con và được hưởng mọi quyền lợi như con trai trong nhà
bố mẹ nuôi
Lễ đón nhận con thừa tự rất thiêng liêng và trang trọng có cha mẹ haibên, các bậc chú, bác, anh chị em thân tộc đến chứng kiến Sau buổi lễ, ngườicon thừa tự được đổi họ của bố đẻ sang họ của bố nuôi Và từ đây, người conthừa tự được công nhận là con trai của gia đình có trách nhiệm chăm sóc bố mẹnuôi và là người thừa hưởng tài sản của bố mẹ nuôi và cũng là người thờ cúng tổtiên sau này
Các chàng trai, cô gái người Tày khi gặp bạn cùng giới có thể cùng dântộc, có thể khác dân tộc nhưng qua trao đổi chuyện trò, đi lại với nhau mà thấyhợp nhau thì họ sẽ kết tồng với nhau.Đôi bạn tồng coi nhau như anh em, chị emruột thịt và coi bố mẹ, chú bác, cô dì, anh chị em… của bạn như bố mẹ, chú bác,anh chị em… của mình Khi kết bạn tồng rồi, họ rất có trách nhiệm với nhau,quan tâm, giúp đỡ chia sẻ buồn vui với nhau Đặc biệt khi ông bà, bố mẹ củabạn qua đời, họ phải sắm lễ vật hiến tế và để tang báo hiếu như đối với ông bà,
Trang 12bố mẹ mình Sau này, trải qua nhiều đời, con cháu họ vẫn tiếp tục giữ mối tìnhthân thiết đó Tục nhận con nuôi và kết bạn tồng thực sự là một nét đẹp, một nétvăn hóa độc đáo, thuần phong mỹ tục của người Tày nơi đây và cũng là cơ sở đểtạo nên sự cố kết cộng đồng dân tộc.
1.1.3.2 Tín ngưỡng dân gian
Xã hội người Tày nói chung và người Tày Định Hóa nói riêng không cómột tôn giáo chính thống nào nhưng là xã hội ảnh hưởng đa giáo, trong đó có cảPhật giáo, Đạo giáo, Nho giáo kết hợp với tín ngưỡng dân gian Với những quanniệm thần bí trong ý thức của mình, người Tày đã mường tượng ra nhiều thầnthánh, ma quỷ có sự chi phối vào cuộc sống con người Trước hết đó là kháiniệm về ma (Phi)
Người Tày chia ma thành hai loại : ma lành và ma dữ
Ma lành gồm: ma tổ tiên, ma bếp, ma thổ công, ma bà mụ… là những mabảo vệ che chở cho con cháu và gia súc, giúp trừ đuổi những ma quỷ đến xâmnhập và làm hại con cháu nhưng con cháu không được làm phật ý nếu không sẽ
có thể bị trách phạt bởi các linh thần này
Ma dữ bao gồm: ma sông, ma núi, ma cây to, ma người chết vì tai nạn, magà… Người Tày kiêng sợ nhất là ma gà Ma gà mà nhập vào người sống sẽchuyên đi hại người Đồng bào còn lưu truyền rất nhiều câu chuyện ly kỳ xoayquanh về chuyện ma gà như : khi trời tối sẽ bay đến các nhà trong làng bản gây
ốm đau cho người, gây hại cho gia súc, gia cầm của người ta… Vì vậy, gia đìnhnào bị coi là có ma gà thì rất khó lấy vợ, lấy chồng, luôn bị hàng xóm xa lánh
Để cầu mong sự bảo vệ, che chở và phù hộ của ma lành, hàng năm đồngbào Tày ở huyện Định Hóa tổ chức rất nhiều nghi lễ cúng Và trong các nghi lễ
đó vai trò của các thầy cúng rất quan trọng Thầy cúng được coi là cầu nối giữacon người với thế giới của các đấng thần linh ngự trị Hầu như bản nào cũng cóvài người làm nghề thầy cúng và thầy cúng rất được mọi người kính trọng
Thờ cúng tổ tiên và các vị thần che chở cho gia đình Một hình thức thờ
Trang 13cúng quan trọng nhất trong đời sống tâm linh của người Tày đó là thờ cúng tổtiên Vì vậy gia đình nào cũng có một bàn thờ tổ tiên đặt ở gian giữa nhà, đây lànơi tôn nghiêm nhất Người Tày thường thắp hương cúng tổ tiên vào ngày mùng
1 và ngày rằm hàng tháng với những đồ lễ đơn giản như: hoa quả, rượu haynước sạch Vào những dịp lễ tết nhất là tết nguyên đán và tết rằm tháng bảy, cỗbàn cúng tổ tiên rất thịnh soạn đủ các loại bánh trái, rượu, thịt gà, thịt lợn… Khitrong nhà có công to việc lớn như cưới xin, vào nhà mới, lễ đầy tháng… ngườiTày đều cúng báo cáo với tổ tiên Bên cạnh việc thờ cúng tổ tiên, người Tày ởĐịnh Hóa còn thờ các vị thần che chở bảo vệ cho gia đình, làng bản
Gia đình nào cũng có bàn thờ Bà Mụ - vị thần cai quản và bảo hộ cho trẻ
em đặt ngay sát vách ngoài cửa buồng
Thờ vua bếp: nhà người Tày nào cũng thờ vua bếp Người ta bảo rằng vuabếp là vị thần cai quản theo dõi công việc làm ăn ở trong nhà mình suốt cả năm
để đến cuối năm lên tâu trình với Ngọc hoàng Người Tày thờ vua bếp ở ngaytrong nhà bếp Người Tày thờ cúng vua bếp vào ngày rằm và mồng 1 chỉ thắphương và khấn vái, đến ngày 23 tháng Chạp mới cần phải có lễ vật Ngoài ra khitrong nhà có việc vui, việc đột xuất dù lớn hay nhỏ người ta đều thắp hương chovua bếp và cầu khấn vua bếp phù hộ, bảo vệ cho mọi sự được may mắn tốt lành
Thờ thần tài: đồng bào Tày tin rằng thần tài là người đem của cải, vàngbạc, gia súc, gia cầm về cho nhà mình và bảo vệ tất cả của cải trong gia đình Đểthờ thần tài người Tày cắm một lọ hương ở bên cửa ra vào hay ở đầu cầu thanglên sàn nhà Ngày mồng 1 và ngày rằm họ thắp hương và khấn cầu thần tài phù
hộ cho gia đình
Thờ thổ công: đây là vị thần bảo vệ và che chở cho cà bản làng Theoquan niệm của đồng bào, vị thần này là người có thật, có công lao xây dựng bảnlàng Khi qua đời họ được dân bản nhớ ơn, thờ làm thần bản mệnh của cả bản.Nơi thờ thần thổ công thường ở đầu hay cuối làng bản, nơi có gốc cây to, nơi cónhiều người qua lại Người ta làm một cái lều nhỏ với đôi gắp gianh và đặt một