MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN LỜI CAM ĐOAN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI VÀ GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỈNH PHÚ YÊN 3 1.1. Khái quát về lễ hội 3 1.1.1. Khái niệm lễ hội 3 1.1.2. Sự ra đời của lễ hội 6 1.2. Phân loại lễ hội 6 1.3. Đặc điểm của lễ hội 10 1.4. Vai trò của lễ hội. 12 1.5. Giới thiệu về tỉnh Phú Yên 13 CHƯƠNG II: LỄ HỘI ĐÂM TRÂU CỦA NGƯỜI BANA TẠI PHÚ YÊN 18 2.1. Tổng quan về lễ hội đâm trâu của người Bana 18 2.1.1. Lịch sử hình thành 18 2.1.2. Thời gian và địa điểm tổ chức 20 2.1.3. Các hoạt động của lễ hội 20 2.2. Giá trị lịch sử và tâm linh 23 CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG CỦA LỄ HỘI ĐÂM TRÂU HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN 25 3.1. Thực trạng khai thác lễ hội đâm trâu của người Bana tại Phú Yên 25 3.2. Một số giải pháp bảo tồn và phát triển lễ đâm trâu tại Phú Yên. 26 KẾT LUẬN 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Lễ hội đâm trâu của người bana ở phú yên là một lễ hội đặc sắc và độcđáo trong hệ thống lễ hội của truyền của dân tộc việt nam lễ hội đâm trâuđược người bana gọi là x’trǎng, là một lễ hội tế thần linh, ăn mừng chiếnthắng, mừng mùa màng bội thu, mừng lễ hội mùa xuân hay mừng các sự kiệntrọng đại trong năm đây là những ngày hội thực sự mang những nét văn hóatruyền thống, thể hiện rõ yếu tố cộng đồng, sự ngưỡng mộ thần linh, là sự kếtục những truyền thống văn hóa thiêng liêng của người dân tộc nơi đây
Cuốn nghiên cứu khoa học này gồm 3 chương sẽ đem lại cho ngườiđọc sự hiểu biết cơ bản về lễ hội đâm trâu của người bana ở phú yên đồngthời đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát phiển
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng biên soạn nhưng nội dung nghiên cứukhoa học vẫn khó tránh khỏi những thiếu sót vì vậy tôi rất mong nhận đượcnhững ý kiến bổ sung, đóng góp của giảng viên và bạn đọc để chỉnh lý cuốnnghiên cứu này ngày càng hoàn thiện hơn
TÔI XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN !
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các kiến thức trong cuốn nghiên cứu khoa học
này đều chính xác và đúng đắn Không có sự thay đổi lịch sử Nếu có kiếnthức sai trong nghiên cứu khoa học , nhóm chúng tôi xin chịu mọi trách
nhiệm
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI VÀ GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỈNH PHÚ YÊN 3
1.1 Khái quát về lễ hội 3
1.1.1 Khái niệm lễ hội 3
1.1.2 Sự ra đời của lễ hội 6
1.2 Phân loại lễ hội 6
1.3 Đặc điểm của lễ hội 10
1.4 Vai trò của lễ hội 12
1.5 Giới thiệu về tỉnh Phú Yên 13
CHƯƠNG II: LỄ HỘI ĐÂM TRÂU CỦA NGƯỜI BANA TẠI PHÚ YÊN 18 2.1 Tổng quan về lễ hội đâm trâu của người Bana 18
2.1.1 Lịch sử hình thành 18
2.1.2 Thời gian và địa điểm tổ chức 20
2.1.3 Các hoạt động của lễ hội 20
2.2 Giá trị lịch sử và tâm linh 23
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG CỦA LỄ HỘI ĐÂM TRÂU HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN 25
3.1 Thực trạng khai thác lễ hội đâm trâu của người Bana tại Phú Yên 25
3.2 Một số giải pháp bảo tồn và phát triển lễ đâm trâu tại Phú Yên 26
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 4MỞ ĐẦU
Cùng với sự phong phú về điều kiện tự nhiên, Việt Nam còn là mộtquốc gia có bề dày về lịch sự văn hóa, trong đó lễ hội là một trong những disản văn hóa có giá trị gắn liền với quá trình hình thành và phát triển đất nước
Lễ hội là một nét sinh hoạt văn hóa dân gian, đây cũng là một thành tốquan trọng góp phần tạo nên bức tranh văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Lễhội là bảo tàng sống về đời sống của cha ông ta ngày xưa, về văn hóa đặc thùcủa dân tộc đã được lưu truyền, kế thừa qua nhiều thế kỷ, được tái hiện lạimột cách sinh động nhất, giúp cho chúng ta – thế hệ sau này được một phần
về đời sống tinh thần của ông cha, đồng thời tác động mạnh mẽ vào tâm linh,vào việc khuôn đúc tâm hồn và vun đắp cho tính cách, con người Việt Namxưa và thế hệ mai sau Lễ hội đã tô đậm được những truyền thống tốt đẹp vàquý báu của con người Việt Nam, là dịp để tưởng nhớ tổ tiên, biết ơn nhữngngười có công đối với đất nước
Lễ hội đâm trâu của người Bana ở Phú Yên là một lễ hội đặc sắc và độc
đáo trong hệ thống lễ hội của truyền của dân tộc Việt Nam Lễ hội đâm trâu
được người Bana gọi là x’trǎng, là một lễ hội tế thần linh, ăn mừng chiếnthắng, mừng mùa màng bội thu, mừng lễ hội mùa xuân hay mừng các sự kiệntrọng đại trong năm Đây là những ngày hội thực sự mang những nét văn hóatruyền thống, thể hiện rõ yếu tố cộng đồng, sự ngưỡng mộ thần linh, là sự kếtục những truyền thống văn hóa thiêng liêng của người dân tộc nơi đây
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, người dân thường mải mê với việcmưu sinh, với nhiều lo toan thường nhật mà dần quên đi những lễ hội truyềnthống, những phong tục tập quán tốt đẹp, vì thế nhiều lễ hội dần bị mai mộtlãng quên Vì vậy việc khôi phục lại những lễ hội truyền thống là một trongnhững cách làm hữu hiệu nhất để giúp con người hiện nay trở về với quá khứ,biết giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của ông cha
Với mong muốn đó, là một sinh viên theo học ngành quản lý văn hóa,tôi đã lựa chọn đề tài “tìm hiểu về lễ hội đâm trâu của người Bana ở Phú
Trang 5Yên”, thông qua bài tiểu luận này tôi muốn đem một phần công sức nhỏ bévào việc giới thiệu và bảo tồn giá trị văn hóa lễ hội đâm trâu của người Bana.
Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo đề tài đượcchia làm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về lễ hội và giới thiệu chung về tỉnh Phú YênChương 2: Lễ hội đâm trâu của người Bana tại Phú Yên
Chương 3: Thực trạng của lễ hội đâm trâu hiện nay và một số giảipháp bảo tồn và phát triển
Trang 6CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI VÀ GIỚI THIỆU
CHUNG VỀ TỈNH PHÚ YÊN
1.1 Khái quát về lễ hội
1.1.1 Khái niệm lễ hội
Ở bất cứ thời điểm nào, bất cứ dân tộc nào, vào bất cứ mùa nào cũng cónhững ngày lễ hội Trong gốc từ Hán Việt, “lễ hội” được kết hợp từ hai yếu
tố, trong đó “lễ” là những quy tắc ứng xử, cách thức cúng tế, nghi thức tôngiáo; “hội” là cuộc vui, đám vui đông người Còn trong tiếng Latinh, “lễ hội”xuất xứ từ từ Festum nghĩa là sự vui chơi, sự vui mừng Theo tiếng Anh, lễhội là Festival, chỉ một loại diễn xướng, thu hoạch một mùa vụ đặc biệt, haymột khoảng thời gian của một hoạt động có tính thiêng liêng và thế tục
Theo nhà nghiên cứu M Bakhatin: “Lễ hội là cuộc sống được tái diễndưới hình thức tế lễ và trò diễn, đó là cuộc sống lao động, chiến đấu của cộngđồng dân cư Tuy nhiên, bản thân cuộc sống không thể trở thành lễ hội đượcnếu như chính nó không được thăng hoa, liên kết và quy tụ lại thành thế giớicủa tâm linh, tư tưởng của các biểu tượng vượt lên trên thế giới của phươngtiện và điều kiện tất yếu Đó là thế giới, là cuộc sống thứ hai thoát ly tạm thờithực tại, đạt tới hiện thực lý tưởng mà ở đó mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ, lunglinh, siêu việt và cao cả”
Học giả Alessandro Falassi đã đưa ra một định nghĩa khác về lễ hội: lễhội là một hoạt động kỉ niệm định kì biểu thị thế giới quan của một nền vănhóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng nghi lễ và trò chơi truyềnthống
Giáo sư người Nhật Kurahayashi cũng đưa ra quan điểm rằng: “xét vềtính chất xã hội của lễ hội, lễ hội là quảng trường tâm hồn; xét về tính chấtvăn nghệ, lễ hội là cái nôi snả sinh nuôi dưỡng nghệ thuật, mỹ thuật, nghệthuật giải trí, trò diễn và với ý nghĩa đó, lễ hội tồn tại và có liên hệ mật thiếtvới sự phát triển của văn hóa
Trang 7Đó là các định nghĩa khác nhau của các học giả nước ngoài, còn tạiViệt Nam, trong cuốn “lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch” của tácgiả Dương Văn Sáu đã đưa ra khái niệm về lễ hội “Lễ hội là hình thức sinhhoạt văn hóa cộng đồng, diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian vàkhông gian xác định; nhằm nhắc lại một sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyềnthoại đồng thời là dịp để biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người vớithiên nhiên – thần thánh và con người trong xã hội”
Hay trong cuốn “Địa lý du lịch”, tác giả Nguyễn Minh Tuệ cho rằng:
“Lễ hội là một loại sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phongphú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệtnhọc hoặc là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại:ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống hoặc là để giải quyết những nỗi âu lo,những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được”
Theo Giáo sư Ngô Đức Thịnh “lễ hội là một hiện tượng văn hóa dângian tổng thể được hình thành trên cơ sở một nghi lễ, tín ngưỡng nào đó, đượctiến hành theo định kì, mang tính cộng đồng thường là cộng đồng làng
Tóm lại, ta có thể rút ra được định nghĩa khái quát nhất về lễ hội là: “lễhội là một hệ thống sinh hoạt văn hóa, tôn giáo nghệ thuật của một cộng đồngngười gắn liền với các nghi lễ đặc thù và các cuộc vui chung nhằm đáp ứngnhu cầu tinh thần của con người
Như vậy, lễ hội là một hình thức sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặttinh thần và vật chất, là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân saunhững ngày lao động vất vả, hoặc là một dịp để mọi người có thể tựu, tậptrung lại để cùng nhau sống cuộc sống văn hóa cộng đồng, những sinh hoạttín ngưỡng của nhân dân hay đơn thuần là những hoạt động có tính chất giảitrí
Lễ hội có hai phần chính:
- Phần lễ (hay còn gọi là nghi lễ): tùy theo tính chất của lễ hội mà nộidung của phần lễ sẽ mang ý nghĩa riêng Có thể phần lễ mở đầu ngày hội
Trang 8mang tính tưởng niệm hướng về một sự kiện trọng đại, tưởng niêmh một vịanh hùng dân tộc; cúng có thể phần lễ là nghi thức thuộc về tín ngưỡng tôngiáo bày tỏ lòng tôn kính đối với các bậc thánh hiền và thần linh cầu mongđiều tốt lành trong cuộc sống Phần nghi lễ có ý nghĩa quan trọng và thiêngliêng chứa đựng những truyền thống tốt đẹp, giá trị thẩm mĩ và triết học sâusắc của cộng đồng.
- Phần hội: là cuộc vui được tổ chức chung cho đông đảo người tham
dự theo phong tục hay nhân dịp đặc biệt, đem lại lợi ích tinh thần cho cácthành viên trong cộng đồng và có nhiều trò vui Mặc dù cũng hàm chứanhững yếu tố văn hóa truyền thống nhưng phạm vi nội dung của nó khôngkhuôn cứng mà hết sức linh hoạt, luôn luôn được bổ sung bởi những yếu tốvăn hóa mới
Trong cuốn “tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần NgọcThêm nhận xét về lễ hội như sau:
- Phần lễ mang ý nghĩa cầu xin và tạ ơn: tạ ơn và cầu xin thần linh bảotrợ cho cuộc sống của mình
- Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú, phần lớnđược xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của con người nôngnghiệp
Như vậy, lễ là để cho người dân bày tỏ lòng thành kính của mình vớinhững thần thánh, tổ tông… bằng các hình thức cúng tế; hội là phần vui chơigiải trí, mà ở đó người dân có thể nhảy múa, hát ca… nhằm thỏa mãn nhu cầutinh thần của mình Ngoài ra, trong hoạt động lễ hội còn bao gồm một sốthành tố khác như hệ thống các tục hèm, các trò diễn dân gian, hoạt động hộichợ triển lãm và liên hoan văn hóa ẩm thực… Các thành tố này luôn có sựgắn kết mật thiết, tương hỗ lẫn nhau, sự tương hỗ này luôn có một trục trungtâm là định hướng phát triển.Các thành tố của lễ hội luôn vận hành quanh trụctrung tâm đó để đạt được những mục tiêu nhất định, những mục tiêu nàynhằm phục vụ lợi ích của cả cộng đồng chứ không chỉ phục vụ lợi ích củariêng những người tổ chức hoạt động lễ hội
Trang 9Có nhà nghiên cứu cho rằng để tìm hiểu văn hóa Việt Nam, văn hóalàng xã, cũng như văn hóa lúa nước người ta có thể tìm hiểu qua các lễ hộihoặc trực tiếp tham gia vào các lễ hội Từ đó có thể thấy lễ hội là một tàinguyên du lịch nhân văn rất quan trọng.
1.1.2 Sự ra đời của lễ hội
Trong tiến trình lịch sử dân tộc, lễ hội Việt Nam hình thành rất sớm, từkhi chưa hình thành nhà nước, chưa có sự phân chia giai cấp Tuy vậy, có thểcho rằng, lễ hội chỉ xuất hiện khi loài người đạt trình độ phát triển cao trong
tổ chức đời sống xã hội Cũng như các mặt khác của đời sống con người, lễhội từng bước hình thành, không ngừng biến đổi và hoàn thiện để phù hợp với
sự phát triển của xã hội ở từng giai đoạn khác nhau của lịch sử Từ thực tiễncuộc sống, có thể thấy rằng lễ hội được hình thành từ các cơ sở nguồn gốcnhư sau:
Một là: do nhu cầu vui chơi giải trí của các tầng lớp nhân dân trong xãhội Nhu cầu vui chơi giải trí luôn đặt ra với con người mỗi khi có thời giannhàn rỗi như sau thời kì lao động sản xuất có liên quan đến mùa vụ, hoặc cácnghề sản xuất khác Người dân sau một thời gian sản xuất mệt nhọc, vất vả,căng thẳng muốn nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, đều có mong muốn giải tỏanhững ức chế, mệt mỏi trong cuộc sống thông qua việc tham gia lễ hội
Hai là: do phong tục tập quán truyền thống của địa phương truyền lại Những phong tục tập quán được hình thành từ bao đời, giữ gìn qua baothế hệ và được truyền lại cho các thế hệ kế tiếp, luôn thể hiện mộ phần đạo lí
“uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, đây cũng là cơ sở hìnhthành chủ yếu của các lễ hội truyền thống Việt Nam Trong dân gian có câu:
“Trống làng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ” điều này vừaphản ánh, thể hiện yếu tố bản địa, mang tính địa phương, vừa tạo sự phongphú đa dạng của bức tranh văn hóa dân tộc
1.2 Phân loại lễ hội
- Căn cứ vào không gian tổ chức:
Trang 10Đây là hình thức phân loại theo quy mô, mức độ và phạm vi ảnhhưởng, chi phối, tác động của lễ hội Theo tác giả Dương Văn Sáu, căn cứ vàokhông gian, có thể chia lễ hội theo các hình thức sau đây
- Lễ hội mang tính quốc tế: là những lễ hội được du nhập từ bên ngoài
vào trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội của người Việt Nam, được cảngười Việt Nam và thế giới tổ chức như ngày Quốc tế lao động 1/5, ngàyQuốc tế phụ nữ 8/3… Lễ hội mang tính quốc tế thường được tổ chức vào cácdịp kỉ niệm về các nhân vật, sự kiện lịch sử, có liên quan, ảnh hưởng, chi phốitới ý thức hệ tư tưởng chính trị của giai cấp cầm quyền
- Lễ hội mang tính quốc gia: là những lễ hội mà nhân vật, hoặc sự kiện
được thờ cúng có liên quan ảnh hưởng sâu sắc, rộng lớn tới cả dân tộc và đấtnước Những lễ hội đó thường được gọi là “quốc hội”, “quốc lễ”, “quốc tự”như lễ hội Đền Hùng (10/3 âm lịch), lễ hội Chùa Hương… Hoặc các lễ hộihiện đại, phản ánh các sự kiện lịch sử, có vai trò to lớn, tác động và ảnhhưởng sâu sắc đến trình độ phát triển của lịch sử dân tộc như các lễ hội chàomừng Quốc khánh mồng 2/9, lễ hội mừng ngày sinh nhật chủ tịch Hồ ChíMinh
- Lễ hội mang tính vùng miền: là những ngày lễ hội mà nhân vật hoặc sựkiện được thờ khá nổi tiếng Khi tổ chức lễ hội được sự tham gia, có mặt củađông đảo nhân dân trong vùng, ví dụ như: Lễ hội Phủ Giầy (3/3 âm lịch), lễhội Đền Kiếp Bạc (20/8 âm lịch)…
- Lễ hội làng: là hình thức phổ biến rộng rãi, với số lượng nhiều, có nộidung phong phú, da dạng và sinh động nhất Hội làng truyền thống đã gópphần tạo dựng và vun đắp lối sống phong cách và văn hóa Việt Lễ hội làng là
lễ hội chủ đạotrong đời sống văn hóa của các tầng lớp dân cư Đây trở thànhhạt nhân, nền tảng cho kho tàng lễ hội của dân tộc tồn tại, phát sinh, phát triểntrong suốt tiến trình lịch sử
- Căn cứ vào thời gian tổ chức:
Căn cứ vào thời gian tổ chức, có thể chia lễ hội làm hai dạng: Lễ hội
Trang 11truyền thống và Lễ hội hiện đại.
- Lễ hội truyền thống bao gồm: lễ hội dân gian và lễ hội cung đình
Lễ hội dân gian: Đó là kho di sản văn hóa đặc sắc của người ViệtNam, mang dấu ấn những giai đoạn phát triển của các địa phương và cả dântộc trong tiến trình lịch sử Kho oil lễ hội dân gian truyền thống chủ yếu baogồm các “lễ hội làng”, đây chính là những lễ hội nông nghiệp, gắn với cuộcsống lao động sản xuất của các tầng lớp cư dân ở các địa phương khác nhau
Về thời gian, những lễ hội này xuất hiện và tồn tại trước 1945 Với số lượng
đồ sộ và nội dung vô cùng phong phú tạo lên những giá trị lớn lao trong khooil văn hóa quý báu của dân tộc ta
Lễ hội cung đình: gắn liền với văn hóa cung đình của các triều đạiphong kiến mà đỉnh cao và sự phong phú là các lễ hội cung đình triều Nguyễnnhư lễ tế Nam Giao, tế Xã tắc, lễ Truyền lô
- Lễ hội hiện đại ra đời từ sau cách mạng tháng Tám 1945, lễ hội hiệnđại bao gồm: Lễ hội kỷ niệm và lễ hội văn hóa thể thao – du lịch
Lễ hội kỷ niệm: là những hoạt động văn hóa mang giá trị kỷ niệm,tuởng niệm các danh nhân, các anh hùng dân tộc, các sự kiện chính trị - quân
sự - văn hóa xã hội trong đời sống tinh thần của nhân dân Những sự kiện lịch
sử quan trọng có vai trò to lớn, mang tính quyết định trong tiến trình pháttriển của lịch sử dân tộc, ví dụ như: Lễ hội kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-
Hà Nội, Lễ hội Kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh…
Lễ hội văn hóa thể thao – du lịch: Đây là những hoạt động văn hóa xãhội mang nặng yếu tố kinh tế, phản ánh trình độ và khả năng cùng các yếu tốđặt ra cảu nền kinh tế đất nước trong giai đoạn mới của quá trình công nghiệphóa hiện đại hóa đất nước, ví dụ như: lễ hội hoa Đà Lạt, lễ hội pháo hoa ĐàNẵng
- Căn cứ vào mục đích thờ cúng:
- Căn cứ vào mục đích thờ cúng, có thể chia lễ hội thành các dạng sau:
Lễ hội gắn liền với hoạt động sản xuất:
Trang 12Việt Nam là một nước nông nghiệp, nên những lễ hội gắn liền vớihoạt
động sản xuất nông nghiệp chiếm số lượng lớn trong kho oil lễ hội của đấtnước Đó là các lễ hội có liên quan đến các nghi thức thờ cúng, tế lễ trong đó
có sử dụng các nghi thức để cầu mùa, cầu nước, cầu mưa, tạ ơn…Trong nộidung và hình thức của lễ hội nông nghiệp thường chứa đựng những yếu tố vềđời sống của cư dân nông nghiệp thông qua các hoạt động diễn ra trong đờisống xã hội như các hình thức và phương pháp canh tác truyền thống, kinhnghiệm làm ăn…
Đối với cư dân Việt lao động trong các ngành nghề khác, có thể kểtên các lễ hội thờ Thánh sư – Tổ nghề với ngành Thủ công nghiệp, thờ CáÔng hay thờ Nam Hải thần vương, Lão Hải đại vương, Long vương… củanhững cư dân làm nghề ngư nghiệp…
Lễ hội tôn vinh các anh hùng dân tộc: Là những lễ hội được tổ chứcnhằm tôn vinh, tưởng niệm các danh nhân văn hóa lịch sử, các anh hùng dântộc – những con người có đóng góp và ảnh hưởng to lớn đến tiến trình pháttriển của đời sống xã hội, của lịch sử địa phương hay của quốc gia dân tộc
Đó cũng là những người thường được thần thánh hóa, trở thành những đốtượng được sung bái, có vi trí quan trọng trong đời sống tinh thần của ngườidân Việt Nam, chẳng hạn như Chử Đồng Tử, Trần Quốc Tuấn, Đinh Bộ Lĩnh,Hai Bà Trưng… Nhiều trong số các lễ hội tôn vinh các anh hùng dân tộc nàycòn đồng nhất với hệ thống lễ hôi có liên quan đến tín ngưỡng thờ Thành
Lễ hội liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa: bao gồm các loạinhư:
Lễ hội của tín ngưỡng thờ nhiên thần (các vị thần tự nhiên): thường diễn
ra ở các nơi thờ tự các thần tự nhiên như Sơn thần, Thổ thần, Thuỷ thần, Mộcthần hoặc thờ các lực lượng trong tự nhiên là các vị thần Mây- Mưa-SấmChớp
Trang 13Lễ hội của tín ngưỡng phồn thực: là tín ngưỡng tôn thờ những hiện vậtmang biểu tượng về sinh thực khí âm dương và những nghi lễ biểu đạt hànhđộng tính giao để cầu mong sự sinh sôi nảy nở, no đủ và phát triển Đây làmột lễ hội đặc sắc, thu hút sự quan tâm chú ý của đông đảo các tầng lớp nhândân trong xã hội.
Lễ hội của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên: Ở phương diện quốc gia, lễ hộiĐền Hùng được coi là lễ hội liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên lớnnhất của người Việt, tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm
Lễ hội của tín ngưỡng thờ cúng Thành hoàng làng: những lễ hội nàyphổ biến rộng khắp mọi miền đất nước, ở nhiều thời điểm khác nhau trongnăm và chiếm số lượng nhiều nhất trong tất cả các loại hình lễ hội Đây khôngchỉ là sinh hoạt văn hóa mà còn là “tài sản văn hóa” của các địa phương gópphần vào sự phát triển của từng vùng
Lễ hội của tín ngưỡng thờ Mẫu: Lễ hội thờ mẫu Liễu Hạnh diễn ra ởcác phủ điện thờ mẫu như phủ Tây Hồ (Hà Nội), Phủ Giầy (Nam Định)…vàonhững ngày đầu tháng 3 âm lịch hàng năm
Lễ hội Kitô giáo: thường là những hình thức nghi lễ tôn giáo mang tínhtoàn cầu và được thực hiện nghiêm túc, thống nhất Khi hành lễ, Linh mục làngười thay mặt Chúa rao giảng Kinh phúc ân và làm các phép bí tích rửa tội,giải tội… Những nghi lễ tôn giáo đó thường chỉ là một trong những biểu hiệncủa sinh hoạt tôn giáo ở bất kỳ một giáo xứ nào, ví dụ như lễ phục sinh, lễchúa nhật, lễ chúa hiển linh…
Lễ hội của Phật giáo: Phật giáo là một tôn giáo du nhập sớm nhất vàoViệt Nam và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong các tầng lớp dân chúng trongnước
1.3 Đặc điểm của lễ hội
Tính thiêng: Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra đượcmột lý do mang tính “thiêng” nào đó Đó là người anh hùng đánh giặc ngãxuống mảnh đất ấy, đó là nơi người anh hùng bỗng dưng hiển thánh bay về
Trang 14cũng có khi đó chỉ là một bờ sông, nơi có xác người chết đuối đang trôi bỗngnhiên dừng lại không trôi nữa được người dân vớt lên chôn cất và thờphụng…song những nhân vật đó bao giờ cũng được “thiêng hóa”, trở thành
“thần thánh” trong tâm trí của người dân Nhân dân tin tưởng những người đó
đã trở thành thần thánh không chỉ để phù hộ cho họ về sản xuất, chữa bệnh,đánh giặc… mà còn có thể giúp họ vượt qua những khó khăn phức tạp củađời sống Chính tính “thiêng” ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dântrong những thời điểm khó khăn, cũng như tạo cho họ những hi vọng vào điềutốt đẹp sẽ đến
Tính cộng đồng: Lễ hội được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trởthành nhu cầu tự nguyện của một cộng đồng Cộng đồng lớn thì phạm vi của
lễ hội càng lớn, bởi thế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, mộtvùng hoặc cả nước
Tính địa phương: Lễ hội sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đấtnhất định, bởi thế lễ hội ở vùng nào mang sắc thái của vùng đó Tính địaphương của lễ hội chính là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đờisống của nhân dân, nó đáp ứng nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dânkhông chỉ ở nội dung của lễ hội mà còn ở phong cách của lễ hội nữa Phongcách đó thể hiện ở lời văn tế, ở trang phục, kiểu lọng, kiểu kiệu, kiểu cờ, lễvật dâng cúng…
Tính cung đình: Đa phần các nhân vật được suy tôn thành thần linh
trong các lễ hội của người Việt đều là những nhân vật đã giữ các chức vịtrong triều đình xưa Bởi thế những nghi thức diễn ra trong lễ hội từ tế lễ,dâng hương đến rước kiệu đều mô phỏng sinh hoạt cung đình Sự mô phỏng
đó thể hiện ở cách bài trí, trang phục, động tác đi lại Điều này làm cho lễ hộitrở nên trang trọng hơn, lộng lẫy hơn Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làmcho người tham gia cảm thấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường,đáp ứng những tâm lý, nguyện vọng của ngýời dân
Trang 15Tính đương đại: Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội trong quátrình vận động của lịch sử cũng dần tiếp thu những yếu tố đương đại, nhữngtrò chơi mới, những cách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới nhưrađiô, video, tăng âm, micrô…đã tham gia vào lễ hội giúp cho việc tổ chức lễhội được thuận lợi hơn đáp ứng được nhu cầu mới.
1.4 Vai trò của lễ hội.
Thứ nhất, lễ hội thực hiện giá trị liên kết cộng đồng: dù dưới hình thứcnào lễ hội vẫn là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân, là “cuộc vui chơiđông người” được tổ chức sau thời gian lao động, sản xuất hay nhân dịp một
sự kiện xã hội quan trọng liên quan đến sự tồn tại của một cộng đồng hoặc đểquần chúng tìm đến một điều gì đó mà họ mong ước Người đi hội không cảmthấy mình là người ngoài cuộc, chính điều đó đã đem lại niềm an ủi, sự xúcđộng thật sự và là nguồn động viên sâu sắc cho những thân phận nhỏ bé ngàythường trong xã hội phong kiến xưa
Thứ hai, lễ hội dù truyền thống hay hiện đại đều có giá trị phản ánh,bảo lưu và truyền bá các giá trị văn hóa của dân tộc Thông qua lễ hội, vănhóa dân tộc được hồi sinh, tái tạo và truyền giao qua các thế hệ, cũng nhưđược giới thiệu sâu rộng đến bạn bè quốc tế bốn phương
Thứ ba, lễ hội còn thể hiện giá trị đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần,tâm linh, giải quyết những khát khao, những ước mơ của cộng đồng các dântộc ở địa phương như lễ hội Cầu Ngư (Bình Thuận), Chùa Bà (Bình Dương),Núi Bà Đen (Tây Ninh)… Thông qua đó, lễ hội tạo cho con người niềm lạcquan yêu đời, yêu chân lý, trọng cái thiện và làm cho tâm hồn, nhân cách mỗicon người như được sưởi ấm tính nhân đạo, nhân văn để rồi thẩm thấu vàocuộc sống đời thường, đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần, tâm linh
về giao lưu, làm cho đời sống có ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn
Thứ tư, lễ hội còn có giá trị tạo ra môi trường hưởng thụ và giải trí chongười dân: Đến với lễ hội truyền thống ngoài sự “hòa nhập” hết mình trongcác hoạt động của lễ hội, được “hóa thân” trong đúng một vai trong hội hay
Trang 16“nhập thân” vào một trò chơi, tất cả mọi người đều được hưởng những lễ vật
mà mình dâng cúng, đều được tham gia vào các hoạt động vui chơi, giải trítrong quá trình tổ chức hoạt động lễ hội Trong lễ hội truyền thống, người dânkhông chỉhưởng thụ mà còn là người sáng tạo văn hóa, là chủ nhân thực sựtrong đời sống văn hóa của chính bản thân mình
Cuối cùng, lễ hội còn có giá trị hướng về nguồn: Thông qua việc táihiện lịch sử, đề cao, tôn thờ những phẩm chất tốt đẹp của thần linh, xem đó làchuẩn mực của cộng đồng, từ đó tạo cho lễ hội một chức năng vô cùng quantrọng chức năng giáo dục đối với các thế hệ mai sau
1.5 Giới thiệu về tỉnh Phú Yên
Điều kiện tự nhiên – xã hội: Phú Yên là một tỉnh thuộc vùng duyênhải Nam Trung bộ, có tọa độ địa lý: Điểm cực Bắc: 13041'28"; Điểmcực Nam: 12042'36"; Điểm cực Tây: 108040'40" và điểm cực Đông:
109027'47"
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.060 km2, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định,phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk, phíaĐông giáp biển Đông Phú Yên có vị trí địa lý và giao thông tương đối thuậnlợi để phát triển kinh tế - xã hội
Tỉnh có 09 đơn vị hành chính gồm các huyện: Đồng Xuân, Đông Hòa,Sông Hinh, Sơn Hòa, Phú Hòa, Tây Hòa, Tuy An, thị xã Sông Cầu và thànhphố Tuy Hòa
Dân số trung bình của tỉnh Phú Yên (tính đến năm 2011) là 871.949người, mật độ dân số năm 2010 là 172 người/km2
Phú Yên có địa hình khá đa dạng, đồng bằng đồi núi, cao nguyên,thung lũng xen kẽ nhau và thấp dần từ Tây sang Đông, phần lớn có độ dốclớn Phú Yên có 03 mặt là núi, dãy Cù Mông ở phía Bắc, dãy Vọng Phu - Đèo
Cả ở phía Nam, phía Tây là rìa Đông của dãy Trường Sơn Ở giữa sườn Đôngcủa dãy Trường Sơn có một dãy núi thấp hơn đâm ngang ra biển tạo nên caonguyên Vân Hòa; là ranh giới phân chia hai đồng bằng trù phú do sông Ba và
Trang 17sông Kỳ Lộ bồi đắp Diện tích đồng bằng toàn tỉnh 816 km2, trong đó riêngđồng bằng Tuy Hòa đã chiếm 500km2, đây là đồng bằng màu mỡ nhất do nằm
ở hạ lưu sông Ba chảy từ các vùng đồi bazan ở thượng lưu đã mang về lượngphù sa màu mỡ Phú Yên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nóng ẩm
Tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên đất Phú Yên khá đa dạng về nhóm,các loại đất phân bố trên nhiều dạng địa hình khác nhau tạo ra những tiểuvùng sinh thái nông – lâm nghiệp thích hợp với nhiều loại cây trồng, đặc biệt
là cây trồng lâu năm vùng đồi núi Có 8 nhóm đất chính: Nhóm đất đỏ vàng:
Là nhóm đất có diện tích lớn nhất 336.579 ha, chiếm tỷ lệ 66,71%; Nhóm đấtcát biển: 15.009 ha chiếm 2,97% Nhóm đất mặn, phèn: 7.899 ha, chiếm1,57% Nhóm đất Phù sa: 55.752 ha, chiếm 11.05% Nhóm đất xám: 39.552
ha, chiếm 7,84%, Nhóm đất đen: 18.831 ha, chiếm 3,73% Nhóm đất vàng
đỏ trên núi: 11.300 ha, chiếm 2,5% Nhóm đất thung lũng dốc tụ: 1.246ha; Các loại đất khác: 21.192 ha, chiếm tỷ lệ 4,21%
- Phú Yên có hệ thống sông ngòi phân bổ tương đối đều trên toàn tỉnh,các sông đều bắt nguồn từ phía Đông của dãy Trường Sơn, chảy trên địa hìnhđồi, núi ở trung và thượng lưu, đồng bằng nhỏ hẹp ở hạ lưu rồi đổ ra biển.Phú Yên có trên 50 con sông lớn nhỏ, đáng chú ý là 3 con sông chính: sông
Kỳ Lộ, Sông Ba, Sông Bàn Thạch với với tổng diện tích lưu vực là16.400km2, tổng lượng dòng chảy 11.8 tỷ m3, phục vụ nước tưới cho nôngnghiệp, thủy điện và sinh hoạt của người dân Phú Yên Nguồn nước
mặt: Mạng lưới sông suối ở Phú Yên phần lớn bắt nguồn từ dãy núi Trường
Sơn ở phía Tây, dãy Cù Mông ở phía Bắc và dãy đèo Cả ở phía Nam Sông
suối của tỉnh thường ngắn, dốc nên tốc độ dòng chảy lớn Nguồn nước sông
Ba có trữ lượng lớn nhất tỉnh, lượng nước đổ ra biển hàng năm là 9,7 tỷ m3.Nguồn nước sông Bàn Thạch với tổng lượng dòng chảy của sông 0,8 tỷ
m3/năm Sông Kỳ Lộ là con sông lớn thứ 2 trong tỉnh, diện tích lưu vực sông
Kỳ Lộ là 1.950 km2, trong đó phần trong tỉnh là 1.560 km2 Nguồn nước
ngầm: Trữ lượng động tự nhiên khai thác tiềm năng nguồn nước ngầm của