MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN LỜI CAM ĐOAN PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1. Khái quát chung về huyện Ngân Sơn và tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn Bắc Kạn 2 1.1. Khái quát chung về huyện Ngân Sơn – Bắc Kạn 2 1.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 2 1.1.2. Khái quát về điều kiện kinh tế xã hội 5 1.1.3. Khái quát về điều kiện văn hóa 6 1.2. Khái quát về tộc người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn – Bắc Kạn 7 1.2.1. Tên gọi, lịch sử cư trú 7 1.2.2. Dân số và sự phân bố dân cư 8 1.2.3. Khái quát về đời sống kinh tế xã hội 9 1.2.4. Khái quát về đời sống văn hóa 9 Chương 2: Trang phục truyền thống phụ nữ tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn Bắc Kạn 11 2.1. Quan niệm về trang phục truyền thống 11 2.2. Quá trình chuẩn bị làm ra trang phục 12 2.2.1. Nguyên liệu 12 2.2.2. Họa tiết hoa văn 15 2.3. Trang phục truyền thống của phụ nữ tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn – Bắc Kạn 17 2.3.1. Trang phục trong sinh hoạt và lao động thường ngày 17 2.3.2. Trang phục trong ngày lễ hội và cưới xin 19 2.4. Đồ trang sức 21 2.5. Một số giá trị của trang phục phụ nữ tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn – Bắc Kạn 24 2.5.1. Giá trị sử dụng 24 2.5.2. Giá trị văn hóa 24 2.5.3. Giá trị thẩm mỹ 25 Chương 3: Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị trang phục truyền thống của phụ nữ tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn – Bắc Kạn 27 3.1. Những biến đổi trong trang phục truyền thống của phụ nữ tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn – Bắc Kạn 27 3.1.1. Thực trạng biến đổi trong trang phục truyền thống 27 3.1.2. Nguyên nhân biến đổi 28 3.2. Một số giải pháp bảo tồn, phát triển trang phục truyền thống của phụ nữ tộc người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn – Bắc Kạn 30 3.2.1. Giải pháp về chính sách 30 3.2.2. Giải pháp về kỹ thuật 31 3.2.3. Giải pháp về sử dụng 32 KẾT LUẬN 33 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 35 PHỤ LỤC 36
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy cô giáo trong khoaVăn hóa thông tin và xã hội, giảng viên Trần Thị Phương Thúy – người trựctiếp giảng dạy em trong bộ môn Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đãdạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong quá trình học
Bài tiểu luận của em còn thiếu sót, hạn chế về mặt kiến thức Em rấtmong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô để bài tiểu luận đượchoàn thiện Và đó cũng là hành trang quý giá giúp em hoàn thiện kiến thứccủa mình sau này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là bài tiểu luận của riêng tôi Các số liệu, kết quảnêu trong bài là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác.Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tàicủa mình
Người cam đoan
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 Khái quát chung về huyện Ngân Sơn và tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn - Bắc Kạn 2
1.1 Khái quát chung về huyện Ngân Sơn – Bắc Kạn 2
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 2
1.1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế xã hội 5
1.1.3 Khái quát về điều kiện văn hóa 6
1.2 Khái quát về tộc người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn – Bắc Kạn 7
1.2.1 Tên gọi, lịch sử cư trú 7
1.2.2 Dân số và sự phân bố dân cư 8
1.2.3 Khái quát về đời sống kinh tế xã hội 9
1.2.4 Khái quát về đời sống văn hóa 9
Chương 2: Trang phục truyền thống phụ nữ tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn - Bắc Kạn 11
2.1 Quan niệm về trang phục truyền thống 11
2.2 Quá trình chuẩn bị làm ra trang phục 12
2.2.1 Nguyên liệu 12
2.2.2 Họa tiết hoa văn 15
2.3 Trang phục truyền thống của phụ nữ tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn – Bắc Kạn 17
2.3.1 Trang phục trong sinh hoạt và lao động thường ngày 17
2.3.2 Trang phục trong ngày lễ hội và cưới xin 19
2.4 Đồ trang sức 21
Trang 42.5 Một số giá trị của trang phục phụ nữ tộc người Dao Tiền ở Ngân
Sơn – Bắc Kạn 24
2.5.1 Giá trị sử dụng 24
2.5.2 Giá trị văn hóa 24
2.5.3 Giá trị thẩm mỹ 25
Chương 3: Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị trang phục truyền thống của phụ nữ tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn – Bắc Kạn 27
3.1 Những biến đổi trong trang phục truyền thống của phụ nữ tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn – Bắc Kạn 27
3.1.1 Thực trạng biến đổi trong trang phục truyền thống 27
3.1.2 Nguyên nhân biến đổi 28
3.2 Một số giải pháp bảo tồn, phát triển trang phục truyền thống của phụ nữ tộc người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn – Bắc Kạn 30
3.2.1 Giải pháp về chính sách 30
3.2.2 Giải pháp về kỹ thuật 31
3.2.3 Giải pháp về sử dụng 32
KẾT LUẬN 33
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC 36
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Trang phục là thành tố văn hóa quan trọng nhất để nhận biết giữa cáctộc người và cũng là thành tố biểu hiện rõ nhất về đặc trưng văn hóa của mộttộc người Là giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa, làm thành những chuẩnmực để phân biệt tộc người này với tộc người kia Trang phục chính là mộtnét đẹp văn hóa của mỗi tộc người
Và hiện nay, trong nền kinh tế mở cửa, xu thế toàn cầu hóa, kéo theo sựbiến đổi hội nhập đó là sự giao lưu văn hóa rộng rãi hơn giữa các quốc gia,dân tộc trên thế giới Rất nhiều phong tục tập quán, những nét văn hóa mới đã
và đang du nhập vào nền văn hóa Việt Nam Và trang phục không nằm ngoài
xu hướng đó, sự hòa đồng về trang phục của các tộc người ngày càng trở nênphổ biến ở tất cả mọi vùng miền, mọi tộc người trên cả nước Cũng chính sựbiến đổi nhanh chóng như vậy của văn hóa đời sống xã hội mà những giá trị
vẻ đẹp truyền thống trong trang phục của các tộc người Việt Nam, đặc biệt làtrang phục các tộc người thiểu số cũng dần mất đi Và trang phục truyềnthống phụ nữ tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn – Bắc Kạn đang hòa theo xuhướng phát triển đó Đứng trước những thách thức to lớn làm biến đổi, maimột các giá trị văn hóa truyền thống Chính vì vậy, vấn đề bảo tồn và pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc đang là việc làm cấp thiết
Bản thân là sinh viên hiện đang theo học nghành quản lý văn hóa, đượctiếp xúc với các vấn đề văn hóa dân tộc nhất là các giá trị văn hóa dân tộcthiểu số Nhận thấy việc tìm hiểu trang phục truyền thống của phụ nữ tộcngười Dao Tiền giúp tôi có thêm nhiều kiến thức bổ ích không chỉ phục vụcho học tập mà còn phục vụ cho ngành học của mình, công việc sau này khilàm quản lý văn hóa Với lý do trên, tôi chọn đề tài: “ Tìm hiểu trang phụctruyền thống của phụ nữ Dao Tiền ở Ngân Sơn – Bắc Kạn ” là đề tài tìm hiểucho mình
Trang 6Chương 1 Khái quát chung về huyện Ngân Sơn và tộc người Dao Tiền ở
Ngân Sơn - Bắc Kạn 1.1 Khái quát chung về huyện Ngân Sơn – Bắc Kạn
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Ngân Sơn là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Kạn cótoạ độ địa lý trong khoảng từ 22010'00" đến 22029'00" độ vĩ Bắc và từ
105050'10" đến 106001'10" độ kinh Đông Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phíaĐông giáp tỉnh Cao Bằng và tỉnh Lạng Sơn, phía Nam giáp huyện BạchThông và huyện Na Rì, phía Tây giáp huyện Ba Bể
Diện tích đất tự nhiên của huyện có 64.587,00 ha và được chia thành 11đơn vị hành chính cấp xã (10 xã và 1 thị trấn)
Xã Vân Tùng là trung tâm văn hoá, chính trị của cả huyện, cách trungtâm thị xã Bắc Kạn khoảng 65km về phía Bắc theo Quốc lộ 3.Quốc lộ 3 làtuyến giao thông chính chạy xuyên suốt qua địa bàn huyện theo chiều TâyNam đến Đông Bắc
Địa hình Ngân Sơn là nơi hội tụ của hệ thống nếp lồi dạng cánh cung,
bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối, núi đồi trùng điệp và thung lũng sâutạo thành các kiểu địa hình khác nhau: Địa hình núi cao trung bình, địa hìnhnúi thấp và đồi thoải lượn sóng xen kẽ với các thung lũng, địa hình đồi bát úp
và các cánh đồng nhỏ hẹp Độ dốc bình quân 26 đến 300, diện tích đồi núichiếm khoảng 90% tổng diện tích tự nhiên, diện tích tương đối bằng phẳngchiếm khoảng 10%, đất nông nghiệp chủ yếu là ruộng bậc thang và các bãibồi dọc theo hệ thống sông suối
Do địa hình phức tạp nên đã gây khó khăn không ít khó khăn cho hoạtđộng sản xuất nông nghiệp của bà con nơi đây Nhất là nguồn nước phục vụcho sản xuất nông nghiệp, mùa khô gây ra hạn hán, mùa mưa gây ra ngập úngcục bộ
Khí hậu: Ngân Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mộtnăm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng
Trang 711 đến tháng 4 năm sau
Nhiệt độ trung bình hàng năm thấp 20,70C Sự chênh lệch nhiệt độtrung bình các tháng trong năm tương đối cao Tháng nóng nhất trong năm làtháng 7 nhiệt độ trung bình là 26,100C, thấp nhất là tháng 1 nhiệt độ trungbình là 11,900C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 20C gây giá buốt ảnh hưởng rấtlớn đến cây trồng vật nuôi
Lượng mưa trung bình năm là 1.248,2 mm, phân bố không đều giữacác tháng trong năm, mưa tập trung vào các tháng 5,6,7,8; vào tháng 11 lượngmưa không đáng kể, hàng năm trên địa bàn huyện xuất hiện mưa đá từ 1 đến
3 lần
Độ ẩm không khí khá cao 83,0%, cao nhất vào các tháng 7, 8, 9, 10 từ
84 đến 86% thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 năm sau Nhìn chung độ ẩmkhông khí trên địa bàn huyện không có sự chênh lệch nhiều giữa các thángtrong năm
Thủy văn: Chế độ gió trên địa bàn huyện xuất hiện hai hướng gió thịnhhành là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam, tốc độ gió bình quân 1 đến3m/s, tháng 4 vào giai đoạn chuyển mùa gió thổi cả ngày với vận tốc trungbình từ 2 đến 3 m/s, thời kỳ chuyển từ mùa Hạ sang mùa Đông tốc độ gió yếunhất trong năm Bão ít ảnh hưởng đến Ngân Sơn vì nằm sâu trong đất liền vàđược che chắn bởi các dãy núi cao, lượng mưa trong năm không lớn nhưng lạitập trung nên xảy ra tình trạng lũ lụt ở một số vùng
Hệ thống thuỷ văn trên địa bàn huyện được phân bố khá dày đặc, songhầu hết đều ngắn, lưu vực nhỏ, độ dốc dòng chảy lớn và có nhiều thác ghềnh
Do cấu tạo địa hình cánh cung, dãy núi cao nên Ngân Sơn được coi làngôi nhà phân chia nước về các huyện trên địa bàn tỉnh nói riêng và các tỉnhlân cận nói chung
Sông Bằng Giang bắt nguồn từ dãy núi Khao Phan (Ngân Sơn) chảyqua huyện Na Rì sang Lạng Sơn Đoạn chảy qua huyện Ngân Sơn có chiềudài 35km, rộng 50m đến 70m
Trang 8Nhìn chung hệ thống sông ngòi trên địa bàn được chi phối trực tiếp bởicấu tạo địa hình trên địa bàn huyện, về mùa mưa địa hình dốc lớn gây ảnhhưởng trực tiếp đến sản xuất và sinh hoạt, gây xói mòn rửa trôi.
Chế độ thuỷ văn của huyện phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống sông ngòi,
hồ đập trong khu vực của huyện và khu vực phụ cận, một số hệ thống khesuối thuộc khu vực thuợng nguồn (sông Bằng Giang) Sông có độ dốc dọcthuỷ văn trung bình 4 đến 5%, suối trung bình 8 đến 10% Khe nhỏ có độ dốcdọc thuỷ văn càng lớn vì thế sau những trận mưa rào thường hay có lũ quét
Tài nguyên thiên nhiên: Ngân Sơn nằm trong vùng địa chất có địa hìnhphức tạp của tỉnh Bắc Kạn Trên địa hình của tỉnh có bao nhiêu kiểu địa mạothì có bấy nhiêu kiểu kiến trúc địa chất, trong đó có cánh cung Ngân Sơn cócác loại Granít, phiến sét, thạch anh, đá vôi
Phân bố các loại đất chính trên đại bàn huyện như sau:
Đất Feralít màu vàng nhạt trên núi trung bình(FH): Được phân bố trêncác đỉnh núi cao >700m, trên nền đá măcma axit kết tinh chua, đá trầm tích vàbiến chất, hạt mịn, hạt thô Tầng đất mỏng, đá nổi nhiều, đất ẩm và có tầngthảm mục khá dày, ẩm, đá nổi dày
Đất Feralít hình thành trên vùng đồi núi thấp (phát triển trên đá sathạch): Đặc điểm là tầng mỏng đến trung bình Thành phần cơ giới nhẹ, màuvàng đỏ Thích hợp với cây trồng nông - lâm nghiệp
Huyện Ngân Sơn có nguồn nước mặt ở lưu vực một số suối có nước
quanh năm, vào mùa khô lưu lượng nước ít hơn do độ dốc địa hình lớn (lưuvực suối Lủng Sao - xã Bằng Vân) Một số suối chỉ có nước vào mùa mưa,mùa khô hầu như không có Vì vậy, khai thác nguồn nước cho sản xuất vàsinh hoạt cần phải có sự đầu tư lớn
Còn nguồn nước ngầm thì do địa hình miền núi nên nước ngầm chỉ có
ở chân các hợp thuỷ và gần suối, mạch nước ngầm cách mặt đất khoảng từ 3đến 3,5m, hình thức khai thác là dùng giếng khoan
Huyện Ngân Sơn có diện tích rừng là đất Lâm nghiệp có 51.712,78 ha
Trang 9(theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010), chiếm 80,06% diện tích tự nhiên củahuyện, trong đó:
Rừng sản xuất có 26.468,41 ha, chiếm 47,34% diện tích đất nôngnghiệp nghiệp
Rừng phòng hộ có 25.244,37 ha, chiếm 45,15% diện tích đất nôngnghiệp
Về trữ lượng gỗ: Tính bình quân chung diện tích rừng gỗ (tự nhiên núiđất, núi đá, hỗn giao và rừng trồng) thì trữ lượng gỗ lớn đạt trên 45m3/ha vớinhiều loại gỗ quý nhóm I, II, III đối với rừng tre nứa hỗn giao đã cung cấpvật liệu cho xây dựng và nguyên liệu giấy
Ngoài ra Ngân Sơn còn có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phúnhư: Đất sét ở Bằng Khẩu xã Bằng Vân Đá vôi ở Lũng Phải xã Bằng Vân,Khuổi Khâu xã Thượng Quan
Quặng sắt ở: Lũng Viền xã Cốc Đán trữ lượng 1.000.000 tấn Nà Nọithị trấn Nà Phặc trữ lượng 700.000 tấn Lùm Lếch xã Lãng Ngâm trữ lượng100.000 tấn Bản Kít xã Thượng Ân trữ lượng 500.000 tấn
Quặng Chì Kẽm ở: Tôm Tiên xã Trung Hoà Phía Đén, Nà Đeng, BảnPhiêu, Đèo Gió (trữ lượng 150.000 tấn), Cốc Sấu, Phương Sơn xã Vân Tùng.Phúc Sơn xã Thượng Quan Cốc Phay (trữ lượng 2.000 tấn) thị trấn Nà Phặc
Nà Diếu (trữ lượng 2.000 tấn) xã Thượng Quan
Quặng Vàng ở: Bó Va (trữ lượng 1.280kg), Đông Tiot, Bản Đăm, PắcLạng (20.000kg), Bằng Khẩu (trữ lượng 110kg) xã Bằng Vân
1.1.2 Khái quát về điều kiện kinh tế xã hội
Do địa hình núi cao và sâu nên việc giao lưu buôn bán giữa các huyện
và xã giáp danh còn nhiều hạn chế
Nhân dân các thôn khu có 80% sống chủ yếu bằng nghề nông, ngoài ramột số ít bộ phận nhân dân sống bằng nghề kinh doanh dịch vụ và các ngành
nghề khác Sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là lúa, ngô Những năm gần đây,
huyện đã chú trọng thực hiện tốt công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
Trang 10nuôi để xóa đói, giảm nghèo Với nhiều chương trình hỗ trợ như chương trình
134, 135, hỗ trợ giống, phân bón; vận động người dân thâm canh tăngvụ… Từ thu hoạch các cây trồng vụ xuân, vụ mùa, nhiều gia đình ở đâykhông những thoát nghèo, mà còn sớm ổn định về kinh tế và có cuộc sống tốthơn
Cây lúa, ngô chủ yếu sử dụng giống lai năng suất cao Trong đó, sảnlượng các cây trồng vụ xuân đạt 362,11 tấn; cây ngô mùa đạt 489,326 tấn.Cùng với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, các mô hình chăn nuôi lợn, nuôingựa bạch cũng được nhiều gia đình thực hiện và đạt hiệu quả kinh tế cao.Hiện nay, toàn xã có tổng đàn gia súc gần 4.000 con, trong đó ngựa trên 175con; lợn 2.696 con Với việc tích cực thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng,vật nuôi, đời sống của người dân đã dần ổn định, thu nhập bình quân đầungười năm sau cao hơn năm trước, tỷ lệ hộ nghèo ngày một giảm, hiện nay tỷ
lệ hộ nghèo trên toàn xã chỉ còn chiếm trên 10% nhiều hạn chế
Cây thuốc lá là cây truyền thống, nhân dân đã có kinh nghiệm gieotrồng từ hơn 30 năm nay Với nguồn nhân lực dồi dào, có đất phù hợp choviệc trồng cây thuốc lá kể cả vườn tạp và soi bãi Chủ trương phát triển câythuốc lá được Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân và một số ban ngành trong tỉnh ủng
hộ và định hướng chỉ đạo
Cơ sở hạ tầng nông thôn như hệ thống đường giao thông được xâydựng, nâng cấp tạo điều kiện cho nhân dân đi lại, mua bán sản phẩm, hànghoá; các công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng, sửa chữa đã chủ động tướitrên 52% diện tích đất ruộng Cơ bản diện tích đất nông nghiệp các thôn vùngthấp được cơ khí hoá
1.1.3 Khái quát về điều kiện văn hóa
Huyện Ngân Sơn chủ yếu là bà con các tộc người Nùng, Tày, Dao Bàcon dân tộc Dao đa số thuộc nhóm Dao Tiền, sống rải rác các vùng núi cao,cuộc sống chủ yếu tự cung tự cấp, khép kín, ít giao du với bên ngoài, họ giaotiếp bằng tiếng dân tộc của mình hoặc tiếng Tày Đời sống văn hoá đều được
Trang 11người dân quan tâm phát triển, gìn giữ bản sắc văn hoá của từng làng quê.
Lĩnh vực văn hoá - xã hội của huyện có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân được nâng lên đáng kể Các hoạt động văn hoá, vănnghệ, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi, các ngày lễ lớn được tổ chức chu đáo,trọng thể Vào ngày 15 tháng giêng âm lịch hàng năm, Ngân Sơn có lễ hộiLồng Tồng Trong lễ hội có nhiều trò chơi dân gian như: Múa kèn, thổi sáo,tung còn, trai gái hát giao duyên
1.2 Khái quát về tộc người Dao Tiền ở huyện Ngân Sơn – Bắc Kạn
1.2.1 Tên gọi, lịch sử cư trú
Tộc người Dao tên tự gọi là Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).Ngoài
ra họ còn có tên gọi khác là Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Lù Gang, Làn Tẻn,Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu
Hiện nay, trên địa bàn huyện có 3 nhóm Dao chính: Nhóm Đại Bảngồm có: ngành Dao Đỏ, Thanh Phán; nhóm Tiểu Bản đồng bào tự nhận là DuTồn, người Tày gọi là Cần Téo Chèn, người Kinh gọi là Dao Tiền; NhómThanh Bạch Làn, nhóm này có nhiều tên gọi khác nhau như: Thanh Y, QuầnTrắng, Dao Tuyển, Dao áo dài bản thân đồng bào tự gọi là Kìm Nhùn
Tên gọi tộc người Dao Tiền là cách nói tắt của cụm từ “Lui chìn miền”trong tiếng Dao cổ: “Lui” là áo, “chìn” là tiền và “miền” là người Lui chìnmiền nghĩa là người mặc áo đeo tiền, bởi áo dài truyền thống của tộcngườiDao Tiền có đeo một chùm tiền (Tiền kim khí ở phía sau, dưới gáy)
Ngôn ngữ: Tộc người Dao nói chung và tộc người Dao Tiền nói riêngđều thuộc ngữ hệ Hmông - Dao
Lịch sử cư trú: Tộc người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việcchuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầuthế kỷ XX Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhânvật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở tộc người Dao Tộc người Dao
ở Việt Nam, cư trú rải rác khắp vùng rừng núi từ biên giới Việt Trung, Việt Lào cho tới một số tỉnh trung du và miền biển Bắc Bộ Bắc Kạn là một trong
Trang 12-những tỉnh có đông tộc người Dao sinh sống.
1.2.2 Dân số và sự phân bố dân cư
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tộc người Dao ở ViệtNam có dân số 751.067 người, cư trú tại 61 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố.Tộc người Dao cư trú tập trung tại các tỉnh Hà Giang 109.708 người, chiếm tỷ
lệ 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số tộc người Dao tại Việt Nam; tỉnhTuyên Quang 90.618 người, chiếm tỷ lệ 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1%tổng số tộc người Dao tại Việt Nam; tỉnh Lào Cai 88.379 người, chiếm tỷ lệ14,4% dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng số tộc người Dao tại Việt Nam; tỉnhYên Bái 83.888 người, chiếm tỷ lệ 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng sốtộc người Dao tại Việt Nam; tỉnh Quảng Ninh 59.156 người, chiếm tỷ lệ 5,2%dân số toàn tỉnh; tỉnh Bắc Kạn 51.801 người, chiếm tỷ lệ 17,6% dân số toàntỉnh; tỉnh Cao Bằng 51.124 người, chiếm tỷ lệ 10,1% dân số toàn tỉnh; tỉnhLai Châu 48.745 người, chiếm tỷ lệ 13,2% dân số toàn tỉnh; tỉnh Lạng Sơn25.666 người; tỉnh Thái Nguyên 25.360 người
Tộc người Dao cư trú chủ yếu ở biên giới Việt - Trung, Việt - Lào và ởmột số tỉnh trung du và ven biển Bắc bộ Việt Nam Cụ thể, đa phần tại cáctỉnh như Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng,Bắc Kạn, Lai Châu, Hòa Bình…
Là một trong 54 cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trải qua các thời kỳlịch sử dựng nước và giữ nước, tộc người Dao luôn luôn thể hiện là một dântộc chung thủy sắt son, có phúc cùng hưởng, có họa cùng chia với các dân tộcanh em, luôn luôn sống hòa đồng, tôn trọng phong tục, tập quán, văn hóa củacác dân tộc anh em Tộc người Dao là một tộc người bé nhỏ, trước đây luônluôn phải lùi bước và tránh xa những tộc người đông hơn và hung dữ hơn đểtồn tại Đến thời kỳ xã hội có vua, dù là xã hội đã có pháp luật và có vuachung nhưng vua là người tộc khác, tộc người Dao là một tộc người bé nhỏ thì họ vẫn phải luôn luôn lùi bước, chịu thua thiệt trong mỗi cuộc tranh chấp
để tồn tại, thậm chí là phải di cư rất xa, tránh những tộc người đông, hung
Trang 13ác thì mới sống nổi Điều này giải thích tại sao tộc người Dao nói chung vàtộc người Dao Tiền nói riêng trước đây luôn cư trú trên núi cao, xa đường cái,
xa chợ, xa thành phố
1.2.3 Khái quát về đời sống kinh tế xã hội
Tộc người Dao Tiền ở đây sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương
và ruộng nước Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọngnhư bầu, bí, khoai Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và
ở vùng cao còn nuôi ngựa, dê Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến, họ ưa dùngvải nhuộm chàm Ngoài lúa họ còn trồng màu Nông cụ sản xuất thô sơ nhưng
kỹ thuật canh tác đã có nhiều tiến bộ
Về nghề thủ công: Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến, (tộc người Dao
ưa dùng vải nhuộm chàm) Một số nghề thủ công đã phát triển như dệt vải,rèn, mộc, làm giấy, ép dầu Tộc người Dao Tiền ở đây còn giữ được nghề làmgiấy bản Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùngcho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng haydầu ăn, nghề làm đường mật Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làlàm đồ trang sức Và hầu hết các xóm đều có nghề rèn để sản xuất nông cụ
1.2.4 Khái quát về đời sống văn hóa
Cũng như các tộc người anh em khác, tộc người Dao Tiền ở đây có cáchoạt động văn hoá tinh thần độc đáo và phong phú Dân ca, dân vũ của tộcngười Dao Tiền phong phú về số lượng và nội dung, phản ánh kinh nghiệmsản xuất, dự báo thời tiết, phép ứng xử trong xã hội, đề cao đạo đức, lẽ sốnglàm người, tình yêu quê hương, đôi lứa Hát đối đáp nam nữ đã có vợ cóchồng, nội dung các bài hát chủ yếu ca ngợi lao động sản xuất, ca ngợi cảnhđẹp thiên nhiên, hỏi thăm sức khoẻ, thăm công việc đồng áng Một thể loạinữa cũng cần phải nói đến đó là "Páo dung hộp tíu" - hát uống rượu, tức là khiuống rượu vui vẻ thì đồng bào ca hát với nhau Dân ca Dao còn có thể loại hát
ru con gọi là “Háo ton” hay “lồ xấy” Cùng với các làn điệu dân ca, tộc ngườiDao còn có các điệu dân vũ phong phú và đặc sắc, chủ yếu gắn liền với nghi
Trang 14lễ, tôn giáo
Về tín ngưỡng dân gian: Có các phong tục tập quán mang màu sắc tínngưỡng, những phong tục tập quán mang đậm nét văn hóa như: tục chăngdây, hát đối đáp, nghi lễ chọn đất khi làm nhà mới, nghi lễ cấp sắc cho ngườitrưởng thành
Lễ cấp sắc (còn gọi là lễ phong sắc, tự cải) là một trong những nghi lễđộc đáo của tộc người Dao nói chung và tộc người Dao Tiền nói riêng Cácđiều giáo huấn được thực hiện bằng lời thề dưới sự chứng kiến của tổ tiên vàcác quan âm binh nên tính giáo dục càng có giá trị Họ quan niệm rằng, người
đã trải qua lễ cấp sắc mới có tâm, có đức, mới biết lẽ phải trái ở đời, hướngtới việc thiện, không làm điều ác và mới được công nhận là con cháu của BànVương Lễ cấp sắc có mục đích là chuyển từ giai đoạn trẻ con lên người đànông trưởng thành Người đàn ông cao tuổi mà chưa trải qua lễ cấp sắc thìcũng bị coi như chưa trưởng thành Ngược lại, dù còn ít tuổi nhưng đã trải qua
lễ cấp sắc thì người đó được phép tham dự bàn bạc những công việc của làngbản, dòng họ… Lễ Cấp sắc thường được tổ chức vào tháng 11, tháng 12 hoặctháng Giêng hàng năm, vì đây là thời gian nhàn rỗi Ngày thụ lễ được lựachọn rất kĩ, tộc người Dao Đỏ, Dao Tiền thường làm lễ cấp sắc từ độ tuổi 12đến 30, trong khi đó ở tộc người Dao Áo Dài là 11 đến 19 tuổi
Về văn học: Tộc người Dao để lại cho nền văn học những tác phẩm cógiá trị Đặc biệt là 23 truyện thơ như: "Hàn Bằng", "Đàm Thanh", "BátNương", "Lâu Cảnh", "Trạng Nghèo", "Đô Nương truyện", "Đặng NguyênHuyện truyện", "Bá Giai truyện", "Thần sắt ca" Trong số đó, truyện thơ kể
về hành trình tìm đất vất vả của tộc người Dao chiếm số lượng nhiều hơn cả.Bên cạnh đó, tộc người Dao còn có kho tàng tri thức dân gian vô cùng phongphú, đặc biệt là y học cổ truyền
Trang 15Chương 2: Trang phục truyền thống phụ nữ tộc người Dao Tiền
ở Ngân Sơn – Bắc Kạn 2.1 Quan niệm về trang phục truyền thống [A1 - trang 36]
Trang phục là một trong những giá trị văn hóa giúp ta dễ dàng phânbiệt sắc thái giữa các vùng miền trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Theo từng điều kiện thiên nhiên và xã hội; mỗi tộc người hình thànhvùng nguyên liệu, chất liệu khác nhau để có những quy trình sản xuất khácnhau tạo ra sự khác nhau trong trang phục của con người Cũng từ sự khácbiệt đó, mỗi tộc người có hình thức dệt nhuộm, may thêu, trang trí riêng, hìnhthành tâm lý sử dụng, truyền thống thẩm mỹ riêng với trang phục truyềnthống của mình
Ngay trong một cộng đồng tộc người cũng đã hình thành những quyước riêng về mặc phù hợp với vị trí xã hội, lứa tuổi, giới tính với hoàn cảnh
cụ thể khi giao tiếp, ứng xử trong đó có yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng và nghềnghiệp Trang phục trở thành yếu tố nổi trội dễ nhận biết nhất của văn hóa,bản sắc dân tộc, đặc điểm của dân cư, của vùng miền cư trú Từ đó trang phụcđược xem một trong những thành tố quan trọng cấu tạo nên tổng thể văn hóatộc người Trang phục truyền thống phản ánh được nhiều lĩnh vực của đờisống kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như tính đa dạng, đặc sắc của từng cộngđồng, dân tộc
Tộc người Dao Tiền là một trong những tộc người rất tự hào về trang
phục truyền thống của mình Họ quan niệm trang phục là bản sắc văn hóavùng miền, tiếng nói riêng biệt của tộc người mình, mang ý nghĩa lịch sử cộinguồn, giá trị tinh thần, giá trị bản sắc con người Dao Tiền Đặc biệt ngườiDao Tiền quan niệm rằng mặc bộ trang phục truyền thống có thêu hình conchó cách điệu và hoa tám cánh khi đi rừng sẽ không bị hổ vồ và gặp nhiềumay mắn Và họ cũng luôn mặc trang phục truyền thống trong các dịp lễ hội,
đi chợ, đi nương… Trong ngày hội, ngày chợ chị em phụ nữ Dao Tiền rấtduyên dáng, nhã nhặn trong trang phục truyền thống giữa núi rừng
Trang 16Trang phục truyền thống của phụ nữ tộc người Dao Tiền rất cầu kì, tinh
tế nhưng phù hợp với tập quán và tập quán lao động sản xuất của mình Khácvới tộc người Dao Đỏ hoạ tiết trong trang phục chủ yếu là màu đỏ thì tộcngười Dao Tiền - Bắc Kạn màu sắc chủ đạo trong trang phục là màu chàm vàmàu trắng rất tinh tế nhưng nhã nhặn, hài hoà
Tộc người Dao rất coi trọng chuyện ăn mặc, ngay cả trẻ nhỏ đã được
bố mẹ mặc cho những trang phục truyền thống Theo phong tục tộc ngườiDao, con gái trước khi lấy chồng phải biết thêu thùa, may vá để tự tay dệt váycưới cho mình Vì vậy, ngay từ khi còn nhỏ các thiếu nữ được bà, mẹ dạycách thêu thùa, từ những công đoạn giản đơn đến phức tạp, từ những chi tiếtnhỏ đến cách nhuộm lại tấm áo chàm cho mới; tự tay thêu, may những bộquần áo của mình để mặc lúc ở nhà, đi chợ, đám cưới, lên nương, chơi hộixuân Vì kỹ thuật làm được một bộ trang phục rất cầu kì và trải qua nhiềucông đoạn, một bộ trang phục của họ phải mất khoảng 15 ngày mới mayxong Chính vì vậy, họ luôn có ý thức giữ gìn nét truyền thống bắt đầu từnhững trang phục cầu kì của mình
2.2 Quá trình chuẩn bị làm ra trang phục [A2 – trang 36; A3 trang 37]
-2.2.1 Nguyên liệu
Để làm ra một bộ trang phục truyền thống của phụ nữ tộc người DaoTiền cần phải trải qua rất nhiều thời gian và công đoạn Tranh thủ những lúcnhàn rỗi phụ nữ Dao Tiền ép hạt, bật bông, se sợi, dệt vải, tự may trang phụccho mình và cho người thân Người phụ nữ thường đảm nhiệm tất cả các côngđoạn này
Từ công đoạn làm ra một tấm vải diềm bâu: từ việc trồng bông, thuhoạch bông, chọn bông, cán bông, bật bông, kéo sợi, luộc và hồ sợi, bướccuối là dệt bằng khung sợi Khi lấy được bông họ đun qua nước sôi, ngâm vàonước lạnh rồi vớt ra đùm thành con
Trang phục của phụ nữ tộc người Dao Tiền chủ yếu thêu trên áo, phần
Trang 17váy họ vẽ sáp ong Vì thế công đoạn chấm in sáp ong là công đoạn không chỉđòi hỏi sự khéo léo của bàn tay phụ nữ, sự sắc sảo và cả sự thông minh màhơn thế nữa nó còn thể hiện tính kiên nhẫn, sự cần cù của họ Để tạo hoa văntrước tiên người ta dùng dụng cụ vẽ Đó là chiếc bút gắn ngòi đồng nhưngcũng có khi chỉ là những chiếc que tre bẻ thành hình tam giác Loại to để tỉatót hoa lá, loại vừa chuyên vẽ hình vuông, hình tròn chim, ốc Và bộ dụng cụ
in sáp ong rất đơn giản gồm có từ 2 đến 7 cái bút vẽ hình chữ T gắn ngòiđồng có kích cỡ khác nhau, vài cái khung hình tam giác làm bằng tre hoặcnứa kể in các đoạn thẳng và góc Dùng các ống tre có đường kính to nhỏ khácnhau từ 1,5cm đến 2cm để in các hình tròn, một vài lá chít được ép phẳngdùng làm cữ Một chiếc nanh lợn rừng, một phiến đá dùng để miết vải chonhẵn Sáp ong cho vào nồi đun chảy thành nước sau đó lọc thật kỹ cho hết tạpchất Sáp phải có độ loãng cần thiết mới in được, nếu loãng quá khi in hoavăn hay bị nhoè, đặc quá thì sáp ong không ăn vào vải Sau khi nấu chảy sápong họ sẽ nhúng đầu bút vẽ hoa văn lên vải Vẽ xong đem tấm vải đó đinhuộm chàm và khi các công đoạn nhuộm chàm hoàn tất họ đem ngâm vàonước nóng để sáp tan ra Những chỗ trước đây có vẽ sáp ong không nhuốmchàm nên chỉ để lại một màu xanh lơ hài hoà đẹp mắt
Công đoạn nhuộm chàm, có thể nói đây là công đoạn khá vất vả và cầnnhiều thời gian, sự tỉ mỉ và đòi hỏi đến tính kiên nhẫn của người phụ nữ DaoTiền Chàm trồng trên nương vào tháng hai, tháng ba, đến tháng sáu thángbảy âm lịch thì thu hoạch được Cây chàm được cắt thành từng bó đem vềngâm vào chum, vại, khi lá chàm nát ngấm thì vớt ra bỏ bã, nước chàm đượclọc kỹ qua một cái rá đựng chấu, sau đó cho vôi bột vào nước rồi khuấy thậtđều, cho nhiều hay ít vôi tuỳ thuộc vào lượng nước chàm Ngoài vôi còn cótro bếp, tro được đựng trong một cái rổ có lót lá chuối, đổ nước vào chảyxuống cái chum nhỏ, dung dịch này để từ 3 đến 5 ngày rồi trộn với nước vôingâm chàm và để lắng, khi nào thấy nước trên mặt có mầu nâu nhạt thì gạn đi
để lấy phần chàm và vôi lắng ở dưới chum, đó chính là cao chàm
Trang 18Khi nhuộm vải, lấy cao chàm hòa với nước đun với lá ngải cứu đểnguội pha thêm ít nước tro vào rượu rồi khuấy đều Khi đã pha xong muốnthử phải lấy tay nhúng vào nước chàm, thấy da có mầu xanh chàm là được.Người Dao Tiền thường nhuộm chàm vào tháng 7 đến 8, vì thời gian này trờinắng nhiều vải mau khô và bắt mầu tốt.
Trước khi nhuộm phải ngâm giặt cho thật kỹ để vải hết hồ mới dễ bắtmàu và khi sử dụng không bị loang lổ Khi nhuộm cho vải chìm ngập trongnước chàm, dùng tay hoặc chân đạp thật kỹ cho vải thấm đều, công đoạn phảilàm thật nhiều lần (ngày phơi nắng, đêm ngâm chàm) nhằm tạo ra sản phẩmđạt chất lượng cao có màu sắc xanh sẫm Đây cũng là công đoạn cuối cùngtrong kỹ thuật chế biến và nhuộm chàm của người Dao Tiền
Về dụng cụ phục vụ cho việc sản xuất trang phục của tộc người Daohầu như đều là các dụng cụ do tộc người tự làm, vật liệu để làm ra các dụng
cụ đó cũng là những vật liệu xung quanh cuộc sống của họ, thường là: gỗ, tre,nứa, lá chít… Dụng cụ chủ yếu giúp hoàn thành trang phục là chiếc khung dệt
- vật cần thiết trong mỗi gia đình tộc người Dao Chỉ với hai thoi sợi chính,phụ nữ Dao Tiền dệt thành những mảnh vải vuông khoảng 30 đến 40cm mộtchiều Và các dụng cụ khác như khung cửi, cán để bật bông, khung kéo sợ,khung hình tam giác, lá chít Tất cả các dụng cụ đều được bàn tay con người
tự chế tạo, được đúc kết từ hàng trăm năm kinh nghiệm, từ thế hệ này sangthế hệ khác
Mỗi gia đình có một bí quyết riêng trong việc gia giảm các thành phầntạo vải, trong việc điều khiển các công cụ sản xuất, trong thời gian sản xuất.Mỗi tấm vải do đó vừa là kết tinh lao động của từng gia đình, vừa thể hiện sựtôn trọng truyền thống Vất vả đến mấy tộc người Dao Tiền xưa cũng phải tựtay mình làm ra vải may trang phục Và trang phục do đó chính là một phầnthể hiện bản sắc con người họ, tộc người họ
Có thể nói, từ những công việc tỉ mỉ và đầy công phu này, người ta cóthể nhận thấy giá trị vật chất, giá trị lao động, giá trị cha truyền con nối của
Trang 19một tộc người đã từng sống trong vòng “tự cung tự cấp” và tự hào về truyềnthống ấy Với sự cầu kỳ trong khâu vá và lấy màu chàm đen, màu đỏ làm chủđạo, trang phục của những người phụ nữ dân tộc Dao Tiền tạo nên nét rêngtrong trang phục đặc sắc của 54 dân tộc Việt Nam.
2.2.2 Họa tiết hoa văn [A4 - trang 37]
Hoa văn dân tộc là một di sản văn hóa truyền thống độc đáo mang đặctrưng riêng rất dễ nhận biết của mỗi tộc người Hoa văn trang trí dân tộc làsản phẩm vật chất của lao động, đồng thời cũng là sản phẩm văn hóa, là biểuhiện sinh động của kỹ thuật thủ công gắn liền với khả năng thẩm mỹ Mỗi tộcngười có cách tạo hình trang trí và sử dụng trang phục theo những đặc điểmvăn hóa riêng của mình Đó là sự thể hiện một trình độ tay nghề tài khéo, mộtđời sống tâm hồn phong phú, giàu chất mỹ cảm nguyên sơ, một năng lực biểutượng hóa các huyền thoại của dân tộc, biểu tượng hóa dòng lịch sử của dântộc mà vẫn không tách biệt khỏi cuộc sống đời thường
Khác với trang phục Dao Đỏ, trang phục truyền thống của tộc ngườiDao Tiền lấy 2 màu sắc chủ đạo là chàm và đen để trang trí Đây là hai màusắc tinh tế, nhã nhặn và hài hòa, khi kết hợp với hoa văn trên vải, tạo nên một
bộ trang phục độc đáo và khác biệt
Cách thêu hoa văn của tộc người Dao Tiền khá đặc biệt, từ đôi bàn taykhéo léo của người phụ nữ Dao tiền, những sợ cây đay, lanh ẩn mình trongrừng chỉ sau một thời gian đã tạo ra những tấm thổ cẩm bền đẹp, may thànhnhững khăn, váy, áo lộng lẫy Tộc người Dao tiền với bí quyết dùng sáp ong
để đo độ chính xác, sau đó mới in hoa hoa văn lên trang phục khiến cho tấmthổ cẩm tinh tế mà rực rỡ, bền đẹp Họ tính toán rất cẩn thận số lượng sợi dệt,nên khi thêu, các hoa văn rất chính xác Họ không thêu đè lên các sợi vải màluồn chỉ theo mắt sợi, thêu ở mặt trái nhưng các họa tiết lại nổi lên mặt phảicủa vải
Hầu hết phụ nữ đều có những mẫu thêu truyền thống rất tinh xảo,thường là hình sao tám cánh, hình chữ thập, ngoặc đơn, ngoặc kép; hoa văn
Trang 20hình gà, con nai, con chó, chim và hoa lá… Màu sắc hoa văn họ ưa dùng làmàu đen và trắng Trong các sản phẩm thêu, thêu lâu và khó nhất là bộ quần
áo tộc người Dao, thêu liên tục trong vòng một năm mới xong; còn thêu cáiquấn chân cũng mất gần 2 tháng mới hoàn thành
Trên áo tộc người Dao Tiền nhất thiết phải thêu các hoa văn hình trám,hình con chó, hình nhện và hoa (thêu ở 2 bên phía sau) cũng là đặc điểm riêngcủa trang phục Các hình thêu chó, nhện là cả câu chuyện dài của dân tộc DaoTiền
Truyền thuyết xưa kể lại rằng: Xưa kia có ông vua của tộc người Daokhông có con trai mà chỉ sinh được 12 người con gái Một ngày kia giặc sangxâm lược, vua liền truyền rằng ai đánh thắng giặc vua sẽ gả cả cho 12 cô congái, và vua cầu khấn trời để xin Một buổi chiều xuất hiện 1 con Long khuyểnngũ sắc, là con chó mình rồng, 5 màu có 12 chiếc đuôi, chạy đến xin vua chođánh giặc Khi giặc đến thấy con chó lạ mắt liền bắt về nuôi, nó ngoan ngoãntheo về, đợi khi giặc ngủ say liền cắn cổ cho bọn giặc chết hết Con chó trở
về, theo đúng lời hứa, vua liền gả các con gái cho con chó và con chó đượcvua truyền ngôi báu Để nhớ ơn con chó đã có công dẹp giặc cứu dân tộc nênđồng bào đã thêu hình con chó và 4 chiếc chân chó ở sau áo
Tộc người Dao Tiền còn có truyền thuyết khác về con chó: Theo truyềnthuyết, Bàn Vương là con chó thần, vị tổ của người Dao nên phải nhớ đến,phải có hình ảnh trên vạt áo của từng người
Ngoài ra, đồng bào tộc người Dao Tiền còn có một thuyết khác về hìnhcon nhện: Xưa kia khi tộc người Dao mới biết mặc quần áo thì cả đồng tộc bịđại dịch, do ăn phải phấn của con bướm trắng, bị chết rất nhiều, sau đó cóngười lấy con nhện đem nướng cháy hòa nước uống và khỏi bệnh, từ đó đểnhớ ơn con nhện đã có công cứu tộc người nên họ thêu hình con nhện lên áo
Và từ đó, khi dệt vải, may áo, phụ nữ Dao Tiền cũng thêu một bứctranh mang hình nhiều con chó hoặc con nhện ở vạt áo phía sau Có trangphục thuê tới 16 con chó, mỗi con một dáng vẻ sinh động Trên một vùng vải
Trang 21trang trí nhỏ, con thì châu đầu vào nhau như tâm tình thủ thỉ, con thì ngoảnhmặt ra bốn phía quan sát Bức tranh này thể hiện ý thức cội nguồn và là mộtminh chứng cho tài năng sáng tạo của phụ nữ Dao Tiền về tài thêu thùa, trangtrí
Vì vậy trang phục của mỗi người phụ nữ thể hiện sự tinh tế và khéo léokhác nhau Qua cách thêu thùa, may vá, người đàn ông cũng đánh giá sự khéoléo của các cô gái để chọn vợ
Hoa văn trên áo thường ngày: Phía sau dưới gáy áo thêu hình “Chồngnhài” (hình tam giác có nhiều tua rua), hình “tà ngao” màu trắng có hình móccong cong, và các hình đường diềm thẳng; phía trước(tà áo) thêu hình con chóđơn và các đường diềm đường thẳng nhiều màu, gấu áo thêu hình các con chóđơn, chó đôi, hay hình “chồng nhài”, hình 6 chiếc thuyền, trên vai thêu hìnhchữ thập ngoặc (hay còn gọi là chữ vạn)
Hoa văn trên áo hành lễ: Phía sau sống lưng thêu hình xương cá, haibên mép áo thêu họa tiết con chó đơn, tà sau trên gấu áo thêu hình “mò nzhoi”(tức hình tượng tượng trưng cho mặt trời), dưới nữa là hình vuông hình tượngcủa sao tám cánh, hình “zhằng lám Ngàn” (một hình 3 tam giác đặt lên đỉnh 6chiếc thuyền, làm cho hoa văn trở nên cân đối hơn, phong phú hơn) và hìnhchữ thập ngoặc (hình hai chữ ss ngược đan xen nhau), phía trước (tà áo) thêu
ít hoa văn hơn, gấu thêu hình con chó, chữ thập ngoặc, còn trên vai thêu hìnhxương cá Áo thường ngày có gắn cúc bạc, áo hành lễ không cần gắn cúc vìkhi mặc bao giờ cũng mặc phía ngoài của áo thường ngày nên đã có cúc bạccủa áo phía trong lộ ra
2.3 Trang phục truyền thống của phụ nữ tộc người Dao Tiền ở Ngân Sơn – Bắc Kạn
2.3.1 Trang phục trong sinh hoạt và lao động thường ngày [A5; A6 trang 38; A7; A8 - 39trang ; A11; A12 - trang 41]
-Trang phục thường ngày gồm: Khăn vấn đầu (xì miền miên), Khănquàng cổ (Miên chi chống), Áo (lui), Váy (chùn), Yếm (lui ton), Thắt lưng
Trang 22(Lui xin), Xà cạp (Lùi penh).
Trong các nhóm tộc người Dao, chỉ riêng có tộc người Dao Tiền là mặcváy, và ở mỗi vùng miền thì lại có sự khác biệt.Ở phía bắc thì tộc người DaoTiền mặc váy dài hơn ở phía nam
Khăn vấn đầu của phụ nữ Dao Tiền có 3 loại khăn: khăn vuông, khănchữ nhật và khăn dài, có màu trắng dài khoảng 1,2m đến 1,5m và rộngkhoảng 30 đến 40cm Hai đầu khăn có hai mảng hoa văn hình vuông Khănvấn đầu thường ngày có màu đen, làm bằng vải thô nhuộm chàm, phần giữacủa khăn chiếm tới 80% là màu đen, hai đầu khăn thêu hoa và đính hạt cườmmàu sắc sặc sỡ Khi đội khăn, hai đuôi tai khăn vắt chéo qua trán, kín gáy vàgần kín hai tai, tạo thành hai mũi nhọn nhỏ ở hai bên thái dương và một hìnhchữ bát ở trước trán, hai đuôi khăn buông xuống sau lưng Về màu sắc củakhăn vấn đầu, có ý kiến cho rằng, nhóm tộc người Dao này di cư trong lúcchưa cất tang Bàn Vương, cho nên khăn được quy định màu là màu chàm vàtrắng, hoa văn hình vuông ở 2 đầu khăn chính là hình biểu tượng của BànVương Qua đây ta cũng thấy, tộc người Dao sùng kính tổ tiên của mình, đểtang tổ tiên của mình và tìm cách mang theo hình tổ tiên của mình đi theotrong công cuộc di cư lịch sử
Khăn quàng cổ là một tấm vải trắng được thường có chiều dài dài hơnkhăn vấn đầu, được trang trí rất tỉ mỉ và công phu
Phụ nữ tộc người Dao Tiền thường mặc kiểu dáng áo không cổ, 4 thân,
xẻ ngực, xẻ tà khoảng 30cm, gồm 5 cúc, 1 cúc bạc tô và 4 cúc bạc nhỏ, làdạng khuy, cúc giả Xung quanh mép gấu áo thêu chỉ mầu, tà sau lưng cố 4đến 5 viền chỉ các màu trắng, xanh, hồng và trong cùng là hoa văn, 2 tà trướcphần thêu ở gấu áo luôn ít hơn tà sau 1 viền chỉ trắng, cổ tay áo cũng thêu cácviền chỉ màu trắng, xanh, đỏ Thân áo dài của phụ nữ Dao thường được hìnhthành từ hai khổ vải được gấp đôi lại Hai thân trước để rời, có nẹp từ cổ áoxuống tới chỗ xẻ tà Tay áo được khâu theo dạng tay ống, cửa tay được thêunhư ở nẹp ngực Ở cổ áo, thân sau được đeo một số đồng bạc thường từ 6 đến
Trang 2312 đồng.
Váy của phụ nữ Dao Tiền có màu chàm với đặc điểm chỉ dài quá đầugối một chút và váy được thiết kế với độ xòe khá rộng Cạp váy dạng lá tọarời thêu dây để buộc giữ chắc váy Để thích hợp với cuộc sống hàng ngàyphải trèo núi, đi nương, góc mở của váy khá rộng Trên váy, phần trang trí tậptrung kín trên váy, hoa văn váy lại in bằng công nghệ của nghệ thuật batik,tức là dùng sáp ong nóng chảy chấm hình trên nển vải trắng rồi mới đemnhuộm chàm
Để trang phục kín đáo hơn phụ nữ tộc người Dao Tiền còn có mộtchiếc yếm nhỏ che kín cổ và ngực Yếm là một vuông vải trắng có táp mộtmiếng vải chàm hình tam giác để làm cổ yếm, hai góc đính dây vải để buộc
và không trang trí hoa văn ở chiếc yếm này
Lui xin (tức thắt lưng) trong tiếng Dao không có ý nghĩa là cái để giữcho quần hoặc váy khỏi tụt mà là cái để cuốn, để thắt phần thân, phần lưngnhư một phần trang trí Thắt lưng của tộc người Dao không phải được cắt ra
từ một miếng vải rồi thêu vào đó mà nó được dệt riêng Người ta dệt một tấmvải bằng những sợi chỉ to, sáng mầu, rộng chừng 3cm, dài chừng 3m, hai đầu
để tua rua Do đó thắt lưng có chiều dài 3m, rộng 3cm Khi dùng, người taquấn nhiều vòng đến khi gần hết vải, quanh bụng một vài vòng rồi gài hai đầuthắt lưng ra phía trước hai bên hông và để lộ phần tua rua ra ngoài chứ khôngbuộc hay thắt nơ Thắt lưng có 2 loại, thắt lưng trắng và và thắt lưng đỏ.Thường ngày tộc người Dao chỉ dùng thắt lưng trắng, trong các lễ Quá Tang,Chấu Đàng, Tẩu Sai, người hành lễ phải thắt cả hai chồng lên nhau: đỏ trong,trắng ngoài, gọi là “Là lùi xin họp”, nghĩa là thắt lưng kép
Xà cạp của phụ nữ Dao Tiền được thêu bằng chỉ mầu đen với nhiềuhình thù khác nhau Xà cạp được để chừa mỗi đầu vải một sợi dây dài vàthường được quấn từ trên đầu gối xuống quấn theo hình xoắn ốc đến khi hếtvải thì người ta buộc hai đầu dây
2.3.2 Trang phục trong ngày lễ hội và cưới xin [A9; A10- trang 40]
Trang 24Có thể nói, trang phục hành lễ của tộc người Dao Tiền rất đặc biệt,trang phục này cả nam và nữ đều sử dụng chung khi cử hành những nghi lễquan trọng của tộc người Dao Tiền
Trang phục này gồm một chiếc áo dài không gắn đồng tiền kim khí sau
cổ áo, hoa văn trang trí trên trang phục này cũng có phần mới lạ hơn, có thêmnhiều hoa văn hơn được trang trí dày đặc trên chiếc áo Điểm nhấn trên trangphục này là hai hoa văn hình mặt trời được trang trí sau lưng áo Nếu nhưtrang phục thường ngày của phụ nữ là dày đặc hoa văn hình “Tào Chố” (ChóTiên) thì ở chiếc áo này lại là các hình chữ thập ngoặc (chữ vạn) thêu quanhhai cổ tay áo và phần mép gấu áo Bốn hình “Cà pinh” chưa tạo nên điểmnhấn trên chiếc áo, chỉ là những hình hoa văn đơn, nếu không để ý sẽ khôngnhận thấy hoa văn này Hoa văn xương cá được thêu ở phần sống lưng của áo,
và hình “Zhồng nhài” thêu ở gấu áo , màu sắc có phần sặc sỡ hơn trang phụcngày thường Về từng thành phần của trang phục phụ nữ Dao Tiền, từ hìnhdáng, kích thước, màu sắc, tập quán sử dụng cũng như ý nghĩa biểu trưng củacác món đồ này trong tổng thể bộ trang phục, và ý nghĩa của nó ở trong cáinhìn, trong quan niệm của tộc người Dao Tiền rất đa dạng và phong phú
Khăn đội đầu ngày lễ của phụ nữ tộc người Dao Tiền làm bằng vải thôhoặc nhiễu được may và thêu công phu, phong phú về hoa văn hoạ tiết vàđẹp hơn khăn đội đầu thường nhiều ngày Mỗi đầu khăn dài khoảng 40cm, cótrang trí một đường bằng vải đỏ rộng khoảng 4 đến 5cm bao quanh Liền kềđường vải đỏ là những đường chỉ to bằng ngón tay màu trắng và màu đen.Hoạ tiết, hoa văn thêu trên khăn là các hình ngũ giác, 36 loại hoa và nhữnghạt cườm Trên khăn có đính một hàng đều nhau những đồng bạc trắng
Vào dịp lễ hội, người phụ nữ Dao còn giữ tục chải đầu bằng sáp ongcho mái tóc nuột nà, uốn lượn Đây cũng là một bí quyết giúp mái tóc củanhững cô gái Dao khỏe về sức sống, đẹp trong con mắt mọi người Trongkhông khí tưng bừng của ngày Tết, lễ hội, người ta dùng điệu hát lời ca làmcuộc sống thêm thăng hoa