1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu tín ngưỡng của đồng bào dân tộc kháng ở việt nam

53 396 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 781,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN MỞ ĐẦU 1 Chương 1. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DÂN TỘC KHÁNG 2 1.1. Khái niệm và các hình thức tín ngưỡng 2 1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng 2 1.1.2 Khái quát về các hình thức tín ngưỡng của người Việt 3 1.2. Khái quát chung về dân tộc Kháng 5 1.2.1. Tên gọi, nguồn gốc lịch sử và đặc điểm kinh tế 5 1.2.2. Phong tục tập quán: 7 Tiểu kết chương 1 9 Chương 2. TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC KHÁNG Ở VIỆT NAM 10 2.1. Tín ngưỡng dân gian 10 2.1.1. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 10 2.1.2. Thờ cúng thần thổ địa 12 2.1.3. Người hành nghề tôn giáo 13 2.2. Các nghi lễ phong tục liên quan đến chu kỳ đời người 14 2.2.1. Sinh đẻ và nuôi con 14 2.2.1.1. Các bước chuẩn bị 15 2.2.1.2. Trình tự trong tập tục sinh đẻ 15 2.2.1.3. Nghi lễ đặt tên cho trẻ 18 2.2.2. Hôn nhân 20 2.2.2.1. Các bước thực hành lễ cưới 20 2.2.2.2. Lễ chung chăn chung chiếu 22 2.2.2.3. Tục ở rể 24 2.2.3. Làm nhà mới 26 2.2.4. Tang ma 27 2.3.Phong tục nghi lễ khác 30 2.3.1. Món cá của người Kháng và lễ hắp om đắc ca 30 2.3.2. Nghi lễ cúng chữa bệnh 32 2.3.2.1. Nghi thức bói đoán bệnh 32 2.3.2.2. Lễ cúng ma nhà tìm hồn cho người bệnh 34 2.3.3. Tập tục và nghi lễ trong sản xuất nông nghiệp 38 Tiểu kết chương 2 38 Chương 3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC KHÁNG 39 3.1. Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn giá trị tín ngưỡng của dân tộc Kháng 39 3.2. Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị tín ngưỡng truyền thống của đồng bào dân tộc Kháng 41 KẾT LUẬN 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin kính gửi đến Cô ThS Trần Thị Phương Thúy lời cảm

ơn chân thành và sâu sắc nhất Cảm ơn Cô vì đã nhiệt tình, chu đáo chỉ bảo,hướng dẫn cho em trong suốt quá trình làm bài tiểu luận Cô đã giúp đỡ em rấtnhiều khi em gặp những khó khăn và thắc mắc Em cũng muốn kính gửi lời cảm

ơn đến các thầy cô giáo trong Văn hóa Thông tin và Xã hội đã nhiệt tình giúp đỡcũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho chúng em trong suốt quá trìnhhọc tập

Đây là lần đầu làm quen với công việc nghiên cứu về các dân tộc thiểu số

ít người ở Việt Nam, trong quá trình viết, do còn thiếu điều kiện và kiến thứccòn hạn chế, bài tiểu luận sẽ không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết Vìvậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô đểbài tiểu luận hoàn thiện hơn

Trang 2

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DÂN TỘC KHÁNG 2

1.1 Khái niệm và các hình thức tín ngưỡng 2

1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng 2

1.1.2 Khái quát về các hình thức tín ngưỡng của người Việt 3

1.2 Khái quát chung về dân tộc Kháng 5

1.2.1 Tên gọi, nguồn gốc lịch sử và đặc điểm kinh tế 5

1.2.2 Phong tục tập quán: 7

Tiểu kết chương 1 9

Chương 2 TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC KHÁNG Ở VIỆT NAM 10

2.1 Tín ngưỡng dân gian 10

2.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 10

2.1.2 Thờ cúng thần thổ địa 12

2.1.3 Người hành nghề tôn giáo 13

2.2 Các nghi lễ phong tục liên quan đến chu kỳ đời người 14

2.2.1 Sinh đẻ và nuôi con 14

2.2.1.1 Các bước chuẩn bị 15

2.2.1.2 Trình tự trong tập tục sinh đẻ 15

2.2.1.3 Nghi lễ đặt tên cho trẻ 18

2.2.2 Hôn nhân 20

2.2.2.1 Các bước thực hành lễ cưới 20

2.2.2.2 Lễ chung chăn chung chiếu 22

2.2.2.3 Tục ở rể 24

2.2.3 Làm nhà mới 26

2.2.4 Tang ma 27

2.3.Phong tục nghi lễ khác 30

Trang 3

2.3.1 Món cá của người Kháng và lễ hắp om đắc ca 30

2.3.2 Nghi lễ cúng chữa bệnh 32

2.3.2.1 Nghi thức bói đoán bệnh 32

2.3.2.2 Lễ cúng ma nhà tìm hồn cho người bệnh 34

2.3.3 Tập tục và nghi lễ trong sản xuất nông nghiệp 38

Tiểu kết chương 2 38

Chương 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC KHÁNG 39

3.1 Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn giá trị tín ngưỡng của dân tộc Kháng 39

3.2 Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị tín ngưỡng truyền thống của đồng bào dân tộc Kháng 41

KẾT LUẬN 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo với nhiều loại hình tínngưỡng khác nhau Trong số đó không thể không kể đến các tín ngưỡng dângian, lễ hội cổ truyền của đồng bào dân tộc Kháng ở Việt Nam

Khu vực miền núi phía bắc Việt Nam có cộng đồng dân cư khá đa dạng,gồm hơn 30 dân tộc; trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm hơn 60% dân

số Đồng bào các dân tộc thiểu số ở khu vực này có đời sống tâm linh, tínngưỡng khá phong phú đa dạng Đa phần các tộc người thiểu số ở khu vực đềutheo tín ngưỡng đa thần Mỗi dân tộc thiểu số có những sắc thái riêng trong sinhhoạt tín ngưỡng, song có thể nhận diện đời sống tín ngưỡng của đồng bào quamột số loại hình, như: thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng liên quan đến cộng đồng, tínngưỡng liên quan đến tự nhiên, tín ngưỡng liên quan đến sản xuất và tín ngưỡngliên quan đến vòng đời người

Là một trong 21 dân tộc thuộc nhóm ngữ hệ Môn- Khơ me ở nước ta, chođến nay, với những lý do khách quan như dân số ít, sinh sống vùng sâu, vùng xa,vùng kém phát triển về kinh tế-xã hội, nên dân tộc Kháng nhận được ít sự quantâm nghiên cứu, trong đó, nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian lại càng hiếm thấy

Do quá trình tộc người cũng như quá trình phát triển kinh tế-xã hội chung

ở Tây Bắc, dân tộc Kháng cùng với một số cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Khơ Me đã và đang chịu sự ảnh hưởng của người Thái trên mọi phương diện

Môn-Sự đồng hóa trong lịch sử cộng với xu hướng giao lưu, tiếp xúc mạnh mẽ vớicác dân tộc khác trong giai đoạn hiện nay đã làm cho nền văn hóa bản địa củangười Kháng rất khó nhận diện

Từ thực tế trên, tôi chọn đề tài “Tìm hiểu tín ngưỡng của đồng bào dân tộcKháng ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình Đề tài hướng đến việcnhận định và chỉ ra một cách khách quan nhất về các loại hình văn hóa, tínngưỡng dân gian của đồng bào dân tộc Kháng

Trang 5

Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ KHÁI QUÁT

CHUNG VỀ DÂN TỘC KHÁNG 1.1 Khái niệm và các hình thức tín ngưỡng

1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng

Theo luật tín ngưỡng tôn giáo năm 2016 giải thích: “ Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.” Ngoài ra chúng ta có thể hiểu cụm từ tín ngưỡng như sau:

Thứ nhất, tín ngưỡng là một hình thức văn hóa phi vật thế mang tính độc

đáo và biểu hiện khá rõ được đời sống vật chất, tinh thần của con người, nhất làtrong hoàn cảnh riêng của văn hóa và con người Việt Nam Ngoài ra, tín ngưỡngcòn đóng góp vào việc hình thành nên các giá trị truyền thống của văn hoá vàtính cách dân tộc, kết nối cả cộng đồng lại với nhau

Thứ hai, tín ngưỡng còn là hệ thống những niềm tin và cách thức thể hiện

những niềm tin ấy bằng những hành động cụ thể của con người đối với một hiệntượng siêu nhiên, xã hội, thậm chí là một sự vật nào đó, hoặc cá nhân có liên quanđến cuộc sống thực tại của họ đã được thiêng hóa để cầu mong sự che chở, giúp đỡ

Thứ ba, xuất phát từ quan điểm của trường phái Tương đối luận văn hóa,

cho rằng mỗi nền văn hóa đều có tính độc đáo riêng, không phân biệt cao, thấp,cho nên tín ngưỡng cũng như việc thực hành tín ngưỡng phụ thuộc vào nhữngbối cảnh lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như trình độ nhận thức củachủ thể sáng tạo ra các nền văn hóa đó Ở một phương diện khác, cũng cần nhấnmạnh thêm rằng, qua việc nghiên cứu tín ngưỡng sẽ giúp cho nhận diện rõ đượctrình độ nhận thức, không gian và thời gian, phương thức sống, chiều sâu của mộtnền văn hóa mà cá nhân và cộng đồng đó đang tồn tại Ngô Đức Thịnh đã có một

nhận xét tương tự: “Tất cả những niềm tin, thực hành và tình cảm tôn giáo tín ngưỡng trên đều sản sinh và tồn tại trong một môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa mà con người đang sống, theo cách suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hóa đang chi phối họ”.

Trang 6

Thứ tư, tín ngưỡng không tồn tại một cách đơn lẻ mà còn là một tích hợp

với nhiều hình thức văn hóa khác nhau để thể hiện niềm tin của con người bằng

các hành vi cụ thể như Patrick B.Mullen đã nhận định: “Tín ngưỡng dân gian không chỉ tồn tại ở dạng trừu tượng mà nó còn tồn tại trong thực tiễn và các ứng xử thực tế Xin nhắc lại, văn hoá dân gian không chỉ là sự phản ánh một thế giới quan văn hoá trừu tượng, mà nó còn tồn tại trong cuộc sống hằng ngày như

là một phương tiện sáng tạo văn hoá” Nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh

thì có cách nhìn cụ thể hơn: Bản thân các tôn giáo tín ngưỡng đã là một hìnhthức văn hoá đặc thù, đấy là chưa kể, trong quá trình hình thành và phát triển,mỗi tôn giáo tín ngưỡng bao giờ cũng sản sinh, tích hợp trong nó những hiệntượng, những sinh hoạt văn hoá nghệ thuật Thực chất, tín ngưỡng thực ra còn làmôi trường sản sinh, tích hợp và bảo tồn nhiều sinh hoạt văn hoá dân gian Conngười muốn chuyển đạt nguyện vọng cuả mình lên thần linh thì phải cần có cáccông cụ, phương tiện như: Múa hát, tượng thờ, nghi lễ, phẩm vật, nơi thờcúng…

1.1.2 Khái quát về các hình thức tín ngưỡng của người Việt

Người Việt và các dân tộc khác ở nước ta vốn là cư dân nông nghiệptrồng lúa ở vùng nhiệt đới gió mùa, do vậy, từ ngàn đời nay, từ quan niệm, lốinghĩ đến nếp sống của họ cơ bản vẫn là người nông dân Quan niệm luậnphương Đông cổ đại vẫn là Âm Dương tương khắc tương sinh Trong tiềm thứccủa hộ việc tôn thờ Thần Đất, Thần Nước, Thần Núi,…Hơn nữa, Việt Nam lại làngã ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh Haiyếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng.Tính

đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn các vị thần mà điều đáng nói là,các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt.Điều đó dẫn đếnmột đặc điểm của đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của người Việt đó là tính hỗndung tôn giáo Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt khôngtiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng,tôn giáo bản địa Vì vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì cáctín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của

Trang 7

người dân Dưới đây là một số tín ngưỡng dân gian tiêu biểu của người Việt:

* Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Việt Nam là một dân tộc giàu tình cảm, trọng lễ nghĩa, sống hướng nội,

thường giải quyết các vấn đề theo cảm tính hơn lý trí Truyền thống “uống nước nhớ nguồn” là một trong những đức tính đáng trân trọng của dân tộc Việt.

Người Việt có khuynh hướng nhìn lại quá khứ và nuối tiếc dĩ vãng nhiềuhơn hướng đến tương lai như người phương Tây Vì thế người Việt thường lưugiữ mãi những tình cảm thương tiếc đối với ông bà cha mẹ quá cố Tập tục thờcúng tổ tiên của người Việt ra đời trên căn bản này và được đa số người Việtxem gần như một tôn giáo, gọi là đạo Thờ cúng Ông Bà

* Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng

Ở làng các làng xã, nông thôn Việt Nam, Thành Hoàng là một niềm tinthiêng liêng, một chỗ dựa tin Thần cho cộng đồng từ bao đời nay Thờ cúngThành Hoàng cũng giống như Thờ cúng tổ tiên, nó mang đậm dấu ấn tâm linh

và Thể hiện quan niệm “uống nước nhớ nguồn” của người dân Việt Nam

Hầu hết các làng đều thờ hai loại thành hoàng, trong đó một vị là biểutượng của sức mạnh tự nhiên, một vị là nhân vật lịch sử hoặc người có công vớilàng

Và điểm đặc biệt của tín ngưỡng thờ thành hoàng của các làng Việt cổ là

ở chỗ, dù thời cuộc có biến đổi như thế nào, dù làng có chuyển nơi cư trú baonhiêu lần, dù chính sách tôn giáo của Nhà nước có chặt chẽ hay cởi mở, dù dânlàng giàu sang hay nghèo túng,… thì nhân vật được dân làng thờ làm Thànhhoàng vẫn không thay đổi, mà tồn tại mãi mãi, suốt từ đời này đến đời khác

Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng đều khơi dậy ở mỗi con người ý thức về dân

tộc, về nguồn gốc tổ tiên của mình: “Chim có tổ, người có tông” Mang đặc trưng

là hướng tới tổ tiên, nhớ về cội nguồn với mơ ước cuộc sống muôn đời của nhândân được phúc lộc, bình an

* Tín ngưỡng phồn thực

Ở Việt Nam, mảnh đất gió mùa nhiệt đới tuy được lợi về ánh sáng và độ

ẩm, nhưng lại nhiều dịch bệnh, thiên tai, nên cư dân nông nghiệp lúa nước nơi

Trang 8

đây thường xuyên phải vật lộn với thiên nhiên không mấy ưu đãi để đảm bảocuộc sống Tâm thức đó là nền móng vững chắc của tín ngưỡng phồnthực Nhưng, người Việt một mặt chịu sự chi phối của nguyên lý kết hợp hài hòa

âm dương, nguồn cội của sinh sôi nảy nở, mặt khác lại ảnh hưởng khá sâu sắc tưtưởng của một số tôn giáo ngoại lai (Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo) sau khoảngthời gian dài diễn ra quá trình đan xen văn hóa Để giải quyết cái nghịch lý ấy,tín ngưỡng phồn thực phải hóa thân để tồn tại, nó ẩn chứa vào các nghi lễ và tròdiễn trong các lễ hội của làng xã cổ truyền

Tín ngưỡng phồn thực được biểu đạt bởi rất nhiều hình thức khác nhau,tùy theo phong tục của từng vùng mà có những cách làm và thờ những hình

“giống” khác nhau Nhưng bên cạnh những tiểu dị ấy vẫn có những cái đại đồngcủa văn minh nông nghiệp lúa nước Cơ quan sinh sản của nam và nữ được

“hình tượng hóa” thành hai vật thiêng linga và yoni, được Việt hóa với cái tên

nõ và nường Nõ: khúc gỗ ngắn tượng trưng cho sinh thực khí nam, nói lên sứcmạnh dương khí, sinh sản Nường: mảnh gỗ hình tam giác có đục lỗ, tượngtrưng cho sinh thực khí nữ, biểu thị sức chứa đựng

Chất liệu nếu không là đá, gỗ, mo cau thì cũng là tre, lá dứa, mà cách điệunữa là lúa, bột, gạo làm nên những biểu tượng khác nhau mang hàm nghĩa chodương vật (cột đá dựng đứng, cột trụ tròn, cây bông, cây gậy, lưỡi cày, sừngtrâu, quả cầu tròn, chiếc bánh chưng dài ) và âm vật (khe đá, bánh dày, lỗ trònhoặc vuông ), biểu hiện cho sức mạnh về sinh sản hoặc mang yếu tố phồn thựcđược sùng bái trong Hindu giáo và tín ngưỡng dân gian

1.2 Khái quát chung về dân tộc Kháng

1.2.1 Tên gọi, nguồn gốc lịch sử và đặc điểm kinh tế

 Tên tự gọi: Kháng

Tên gọi khác:Xá Khao, Xá Xủa, Xá Don, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá ái, XáBung và Quảng Lâm

 Dân tộc: 1.268.963 người (Tổng cục Thống kê năm 2009)

 Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng Kháng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ

me, ngữ hệ Nam Á Người Kháng chưa có chữ viết riêng

Trang 9

 Địa bàn cư trú: Người Kháng sống tập trung ở hai tỉnh Sơn La và LaiChâu Ở nước ta, người Kháng cư trú chủ yếu ở Sơn La, Lai Châu và Điện Biên.Theo tổng điều tra dân số năm 1999, người Kháng có 10.272 người Mười nămsau, 2009, lên tới 13.840 người Tỷ lệ tăng như thế là vừa phải trong chủ trương

kế hoạch hóa gia đình của nước ta Nói Điện Biên, Sơn La, Lai Châu là địa bàn

cư trú gốc của người Kháng, còn ngày nay, họ đã phân bố ở 25 tỉnh và thànhphố do nhu cầu đời sống riêng tư, công việc làm ăn và công tác được phân công.Người Kháng còn cư trú ở bên Lào, các tỉnh sát biên giới, gần cận với các địabàn gốc của họ tại Điện Biên, Sơn La, Lai Châu Tại đây, họ cũng được gọibằng nhiều tên khác nhau: Phong-Kniang, Pong 3, Khaniang, Keniang, LaoPhong, với dân số khảong 1.000 người

 Nguồn gốc lịch sử: Là cư dân sống lâu đời ở miền núi Tây Bắc nướcta

 Đặc điểm kinh tế:Nương rẫy là hình thái kinh tế chủ đạo với cách thứcphát đốt, chọc lỗ tra hạt Có thể phân thành 3 nhóm:

Nhóm sống du canh du cư: làm rẫy

Nhóm du canh bán định cư: làm rẫy kết hợp làm ruộng

Nhóm định canh định cư: làm ruộng kết hợp làm rẫy Tập quán trồng lúanếp kết hợp trồng ngô, sắn, vừng Chăn nuôi khá phát triển: lợn, gà, vịt, trâu,

bò Nghề phụ nổi tiếng là đan lát đồ gia dụng (hòm, ghế mây, mây, gùi ) NgườiKháng giỏi đóng và đi thuyền độc mộc, thuyền đuôi én Thuyền của họ đóngđược các dân tộc anh em ưa mua dùng

Phần lớn người Kháng trồng lúa, ngô trên rẫy với công cụ sản xuất thô sơ(dao, nu, gậy chọc lỗ) Một số nhỏ cày, bừa, trồng lúa nước Ngoài ra còn sănbắt, hái lượm Đồng bào chăn thả trâu, lợn, gà Nghề thủ công được phát triển làđan lát (hòm, bem, mâm, gùi ) Kinh tế chủ yếu của người Kháng là làm rẫytheo lối chọc lỗ tra hạt Đây là phương thức làm nông nghiệp nương rẫy cổ xưanhất có từ thời văn hóa Đông Sơn mà những dấu ấn của tục thờ thần Mặt trời,quan niệm về vũ trụ thông qua các bước chuyển động của người nông dân khichọc lỗ tra hạt từ các nương rẫy đã toát lộ quan niệm ấy – điều mà tôi đã giới

Trang 10

thiệu về người Mãng Ư, có lối canh tác tương đồng, cũng trong tạp chí này cáchđây không lâu Ngoài lối canh tác ấy, người Kháng còn làm ruộng nước theophương thức cày bừa, gieo cấy trên các thửa ruộng bậc thang hẹp, nhưng khôngphổ biến Người Kháng cũng chăn nuôi gia súc và gia cầm (gà, lợn, trâu) và họcũng làm đồ đan lát (ghế, rổ, rá, nia, hòm, gùi), làm mộc (thuyền độc mộc kiểuđuôi én) được người Kháng ưa dùng Đó là những công việc nông nhàn, phục vụcho đời sống tự túc, tự cấp trong các bản làng của họ Nếu có chăng, không phải

là tự túc, tự cấp thì thương mại của họ cũng là hàng đổi hàng Họ trồng bông rồiđem bông đổi lấy vải và đồ dệt của người Kháng – một dân tộc cư trú liền kề, cótruyền thống về dệt thổ cẩm và làm chăn đệm bông Họ cũng đổi thuyền đuôi éncho người Kháng để lấy những nông thổ sản của dân tộc này phục vụ cho đờisống thường nhật

1.2.2 Phong tục tập quán:

 Ăn: Người Kháng thường ăn cơm nếp, ngô, sắn đồ Đặc biệt, có tục Tumui, đổ nước cay vào mũi là nét văn hóa độc đáo của họ Tục uống bằng mũi (tumui) là nét văn hóa độc đáo của họ Người Kháng quen uống rượu trắng, rượucần, hút thuốc lá và hút thuốc lào

có hai bếp lửa (một bếp để nấu ăn hàng ngày, còn một bếp để sưởi và để nấu đồcúng khi bố mẹ chết)

 Phương tiện vận chuyển: Gùi có dây đeo qua trán, thuyền độc mộc làphương tiện vận chuyển chính

 Hôn nhân:Tục cưới xin của người Kháng lần lượt trải qua các lễ thứcsau: dạm hỏi, xin ở rể, cưới Lễ cưới lần đầu được tổ chức cho chàng trai đi ở rể

Lễ cưới lần hai, đưa dâu về nhà chồng để gây dựng gia đình riêng Người cậu có

Trang 11

vai trò đặc biệt trong việc dựng vợ gả chồng cho cháu Tục ở rể 3 năm mới cướichính thức vẫn tồn tại trong cộng đồng người Kháng.

 Tang ma: Có tục chia của cho người chết, con cháu phải cắt một nhúmtóc ở đầu để tưởng nhớ người đã mất Ma chay của người Kháng cũng giốngnhư nhiều dân tộc khác ở miền núi phía Tây Bắc nước ta, được biểu hiện rất rõqua phong tục chôn cất Người chết được chôn cất chu đáo, có nấm mộ và giỏcơm, ống hút rượu, bát, đũa… Phía đầu mộ chôn cột cao 4 -5 mét, trên đỉnh cócon chim gỗ, có treo chiếc áo của vợ hay chồng người chết

Người Kháng có quan niệm mỗi con người có 5 hồn, hồn chính trên đầu

và 4 hồn kia ở tứ chi Khi chết, mỗi người biến thành “ma ngắt”, ngụ ở 5 nơi.Hồn chủ thành ma ở nhà, chỗ thờ tổ tiên là “ma ngắt nhá”, hồn tay phải trênthiên đàng là “ma ngắt kỷ”, hồn tay trái ở gốc cây làm quan tài là “ma ngắthóm”, hồn chân phải ở nhà mồ là “ma ngắt môn”, hồn chân trái lên trời thành

ma trời là “ma ngắt xừ rè”

Quan niệm này của người Kháng xuất phát từ một tín ngưỡng rất xa xưacủa nhiều dân tộc cư trú ở miền núi Đông Dương Việc làm nhà mồ, chăm sócngười chết, giữ và bỏ mả, trồng cột gỗ (hoặc đá) tưởng niệm, hồn và vía ở đầu

và tứ chi… là một chuỗi quan niệm của cư dân cổ xưa vùng núi bán đảo ĐôngDương và xa hơn nữa Quan niệm này có liên quan tới tín ngưỡng cự thạch (đálớn) và tàn dư của tín ngưỡng ấy còn thấy ở nhiều dân tộc, trong đó, ngườiMường là đậm đặc hơn cả Trên các hòn mồ bằng đá được trồng quanh cáchuyệt mộ ở các khu mộ ở nghĩa địa dòng họ quan lang Mường Hòa Bình, người

ta còn thấy nhiều minh văn, bằng chữ Hán, trên đó nói rõ thân phận chủ nhân

mộ, ngày tháng sinh và mất…, có niên đại cuối thế kỷ XVII

Hiện tượng ấy giống như bia mộ của người Kinh, nhưng từ trong sâu thẳmcủa tư duy tín ngưỡng Mường, những cột đá ấy là nơi trú ngụ của linh hồn Và

đá là nơi cư trú của linh hồn là một trong những tiêu chí tạo nên phức hợp củatín ngưỡng cự thạch Thế nhưng tín ngưỡng thờ đá là khá phổ biến, trong đó có

ở người Việt, song, việc dựng cột đá để tưởng niệm lại được nhiều người cho làcủa dân tộc Thái – những nhóm cư dân sống liền kề với người Mường, Kháng

Trang 12

Tiếp biến văn hóa từ người Thái (dựng cự thạch) và với người Kinh (làm biamộ), cùng với sự tiếp nối truyền thống thờ đá của người Việt cổ, đã tạo nên bảnsắc tang ma Mường Bản sắc ấy na ná với người Kháng qua những miêu tả trựcquan và điều tra hồi cố nêu trên.

 Tín ngưỡng: Người Kháng thờ cúng tổ tiên Người Kháng hàng năm

có nhiều nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp

 Trang phục: Nữ mặc áo ngắn có hàng cúc bạc, váy đen, đội khăn piêu.Nam mặc quần áo chàm, đôi khi cũng đội khăn.Phụ nữ nhuộm răng đen, ăn trầu

 Quan hệ xã hội:

Nằm trong sự quản lý của các mường Thái trước đây, Người Khángkhông có tổ chức xã hội riêng Chức dịch cao nhất trong bản là: quan cai gầnnhư Tạo bản người Thái Trong các bản người Kháng đã có sự phân hoá giàunghèo

Tiểu gia đình phụ quyền chiếm ưu thế trong bản Bên cạnh đó cũng tồn tạimột số tàn dư của chế độ mẫu hệ: tục ở rể, vai trò ông cậu Trưởng họ vẫn cóvai trò nhất định

 Đời sống văn hóa: Người Kháng có nhiều truyện kể dân gian, có múaxòe, chơi sáo trong ngày lễ, cả những khi cúng bố mẹ Người Kháng ăn tếtNguyên đán, tết cơm mới và thực hiện các nghi lễ liên quan đến nông nghiệpnương rẫy

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 sinh viên thực hiện đã nêu ra những cơ sở lý luận chung

về tín ngưỡng Đồng thời đã làm rõ hơn các khái niệm về tín ngưỡng, các hìnhthức tín ngưỡng để từ đó xác định và làm rõ hơn về tín ngưỡng của dân tộcKháng ở Việt Nam

Bên cạnh những cơ sở lý luận về tín ngưỡng, sinh viên thực hiện cũng đãtóm tắt sơ lược về dân Tộc Kháng ở Việt Nam qua: tên gọi, dân số, ngôn ngữ vàchữ viết, địa bàn cư trú, đặc điểm kinh tế, nguồn gốc lịch sử, phong tục tậpquán Để từ đó làm cơ sở cho việc thực hiện tìm hiểu tín ngưỡng của ngườiKháng ở phần sau

Trang 13

Chương 2 TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC KHÁNG Ở VIỆT NAM 2.1 Tín ngưỡng dân gian

2.1.1 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Đối với người dân Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được biểu hiện

rõ nét nhất ở người Việt hay còn gọi là người Kinh qua việc mỗi một làng đều

có thành hoàng làng của mình (thờ những người có công khai phá ra làng), mỗidòng họ đều có gia phả riêng (ghi chép về những người trong một dòng họ theothứ bậc, chi, phái để ghi nhớ gốc gác, quê hương, bản quán), trong mỗi gia đìnhđều có bàn thờ gia tiên

Người Kháng có quan niệm mỗi con người có 5 hồn, hồn chính trên đầu

và 4 hồn kia ở tứ chi Khi chết, mỗi người biến thành “ma ngắt”, ngụ ở 5 nơi.Hồn chủ thành ma ở nhà, chỗ thờ tổ tiên là “ma ngắt nhá”, hồn tay phải trênthiên đàng là “ma ngắt kỷ”, hồn tay trái ở gốc cây làm quan tài là “ma ngắthóm”, hồn chân phải ở nhà mồ là “ma ngắt môn”, hồn chân trái lên trời thành

ma trời là “ma ngắt xừ rè”

Hằng năm khi mùa xuân đến cũng là lúc làm lễ Xên bản (cúng bản) Mùaxuân là mùa của sự sống đâm chồi nảy lộc, mùa của hoa ban nở và cũng là lúcbắt đầu vào một vụ mới Vào thời điểm đó, tiếng trống hoà với tiếng chiêng tạo

ra một thứ âm thanh rộn rã rất riêng có của vùng Tây Bắc, như chào mời mọingười cùng tham gia lễ hội với nhân dân trong bản, trên mường

Trong lễ Xên bản, người làm lễ thường là thầy mo Phần lễ bao gồm haiphần chính là cúng cọp sửa (cúng ở chỗ cây thiêng đầu bản) và cúng chẩu xửa(cúng trưởng bản)

Theo quan niệm của người Kháng, cây to được chọn để thờ là một cây to

ở đầu bản gọi là co lắc mương Gốc cây to được chọn để làm lễ cúng được coi lànơi hội tụ hồn bản, là nơi thần linh hội nhập và trú ngụ Đây là nơi rất linhthiêng và kiêng kỵ đối với người Kháng, con gái không bao giờ được vào, đốivới con trai thì hằng năm cũng chỉ được vào một lần trước hôm cúng để phátdọn trước khi làm lễ, không một ai dám xâm phạm vì như vậy sẽ động đến các

Trang 14

vị thần.

Lễ vật dùng để dâng cúng bao gồm: Bánh Chưng, 1 con lợn, 1 con gà, 3đĩa xôi, 5 gói hò mọc, 1 chai rượu, 1 chum rượu cần Tất cả những lễ vật này sẽđược bàn tay khéo léo của người phụ nữ Thái sắp xếp trong mâm cúng, rồi đượcđưa đến đền thờ của dòng họ

Khi làm lễ ở gốc cây to, thầy mo bắt đầu cúng các vị thần linh là những

vị thần như thần sông, thần núi là những vị thần bảo hộ cho bản, chomường Họ là những đấng tối cao, đấng vô hình, mà con người luôn luônngưỡng mộ Tiếp theo thầy mo cúng đến mười hai hồn, mỗi hồn tương ứng một

bộ phận của cơ thể con người và cũng là tượng trưng cho mười hai tháng trongmột năm Sau đó thầy mo cúng và đọc tên những người chết theo trình tự từ xưađến nay, tức là những ma (hồn) của những người đã chết của bản ở đâu thì vềvui cùng con cháu trong bản và phù hộ cho mùa màng tốt tươi, con cháu mạnhkhoẻ

Thầy mo là nhân vật được cả bản coi trọng bởi lẽ, xung quanh thầy mo cómột thế lực vô hình rất lớn, thầy mo được bảo trợ bởi các đấng tối cao và thầy

mo có rất nhiều "phép" Nhưng theo chúng tôi còn một nguyên nhân khá quantrọng để thầy mo được kính trọng và nể sợ nữa là thầy mo là người trực tiếpcúng lễ, trực tiếp nói chuyện được với các vị thần và hơn nữa thầy mo còn nóichuyện được với ma (hồn) - tức là tổ tiên của những người đang sống trong bản.Như vậy thầy mo đã bao quanh được mình cả những yếu tố thần bí (các vị thần)

và cả yếu tố quá khứ có liên quan trực tiếp tới tất cả nhân dân trong bản Xênbản là sợi dây liên kết giữa người sống với người chết, giữa ma sống (ma củanhững người còn sống) với ma (hồn) của những người đã chết hay nói cách khácXên bản là phương tiện thông quan giữa thế giới người sống với thế giới người

đã khuất

Việc đọc tên những người chết theo trình tự từ xa đến gần nói theo mộtcách nào đó như một gia phả thu nhỏ của người Việt, mặc dù không được đầy

đủ vì chỉ được thể hiện qua trí nhớ của thầy mo

Sau khi cúng ở gốc cây thiêng xong, đến phần cúng păn khoanh cúng

Trang 15

chẩu xửa (trưởng bản) - tức là chủ áo, chủ hồn thường là người đứng đầu bản,được cha truyền con nối Chẩu sửa ở bản trước tiên là ông cha của người cócông khai phá ra bản đó, thì nay mọi người vẫn trân trọng tiếp tục được đưa ralàm người đúng đầu bản Như vậy, theo chúng tôi đây chính là cách mà dân tộcThái nhớ về tổ tiên, cha ông của mình - những người đầu tiên khai phá ra bản.

Như vậy là nhớ về tổ tiên hay nói cách khác là nhớ đến công đức của tổtiên, là một đạo lý đã ăn sâu vào tiềm thức nhiều dân tộc, chỉ có điều nó đượcbiểu hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua một nghi thức, một lễ nghi nào

đó mà thôi

2.1.2 Thờ cúng thần thổ địa

Mỗi dân tộc có một quan niệm về cúng thần Thổ địa, và cách thức cúng

có có đôi chút khác biệt Song, điểm chung giữa các dân tộc là để có một nghi lễcúng trang trọng, đồng bào phải chuẩn bị từ vài hôm trước Thông qua một buổihọp bàn, người làm chủ lễ trong bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên.Mỗi thành viên giữ một việc: trang trí lại nhà cúng thần, chuẩn bị các đồ thờcúng, mổ lợn, mổ gà, giúp thầy cúng khi làm lễ… Bản làng của đồng bào Kháng

từ bao đời nay vẫn nằm ở chân núi, ven những dòng suối và nương rẫy NgườiKháng đặc biệt tôn sùng ông thần đất (còn gọi là thần Thổ địa) Đã thành lệ, mỗinăm 2 lần vào ngày 3-3 và 6-6 âm lịch, cộng đồng dân tộc Kháng lại tổ chứcnghi lễ cúng thần Thổ địa

Việc tổ chức nghi lễ này, trước là để người dân bày tỏ lòng tưởng nhớ, ghi

ơn vị thần Thổ địa đã dẫn dắt dân tộc Kháng khai hoang, lập bản, sau là dịp để

họ gửi gắm đến thần lời cầu nguyện, ước mong được che chở, bảo vệ khỏinhững điều không may mắn

Nghi lễ cúng thần thổ địa tiếng dân tộc Kháng có tên là Mừ té mà ngặt tia.Theo quan niệm của đồng bào, trong năm, nhất định phải tổ chức nghi lễ trên hailần, nếu vì lý do nào đó không thực hiện được thì năm đó, cuộc sống dân làng sẽkhó khăn, mùa màng thất bát, con người đau ốm, lợn, gà khó nuôi…

Nghi lễ cúng thần thổ địa có từ rất lâu đời, khi cộng đồng dân tộc Kháng

về đây sinh sống Việc tổ chức nghi lễ này, trước là để người dân bày tỏ lòng

Trang 16

tưởng nhớ, ghi ơn vị thần thổ địa đã dẫn dắt dân tộc Kháng khai hoang, lập bản,sau là dịp để họ gửi gắm đến thần lời cầu nguyện, ước mong được che chở, bảo

vệ khỏi những điều không may mắn

Để có một nghi lễ cúng trang trọng, đồng bào Kháng phải chuẩn bị từ vàihôm trước Thông qua một buổi họp bàn, trưởng bản sẽ phân công nhiệm vụ chocác thành viên trong thôn, bản Mỗi người giữ một nhiệm vụ như: trang trí lạinhà cúng thần, chuẩn bị các đồ thờ cúng, mổ lợn, mổ gà, giúp thầy cúng khi làmlễ… Ai nấy phấn khởi, lo làm tốt công việc của mình với mong muốn thần sẽvui và phù hộ cho mình và cho buôn làng Điều đặc biệt là trong nghi lễ là chỉ cónam giới mới tham dự Mỗi gia đình sẽ có một đại diện tham gia, mỗi ngườimang theo một ít đồ ăn bằng xôi màu và một ít rượu

Không gian tiến hành nghi lễ cúng thần thổ địa là ngoài cánh đồng đồng.Địa điểm tổ chức mỗi năm có thể khác nhưng đều phải đáp ứng các yêu cầunhư: gần nguồn nước, có cây, đặc biệt là cây tre để lấy nguyên liệu phục vụ lễ.Vật cúng thần là một con lợn và một con gà Trong các đồ cúng chuẩn bị chonghi lễ, quan trọng nhất là mâm cho các thần Thông thường, có các mâm cúngthần của bốn phương và thần thổ địa, trong đó mâm của thần thổ địa là to hơncả

Khi nghi lễ kết thúc cũng là lúc tiệc rượu của những người tham gia nghi

lễ bắt đầu Người Kháng quan niệm, việc thưởng thức những thức ăn đã quacúng lễ và ăn ngay tại nơi hành lễ là một điều may mắn, đem lại cho gia đình vàcộng đồng những điều tốt đẹp, vì đó là những vật phẩm đã được thần linh vềchứng giám Ngoài việc thưởng thức tại nơi hành lễ, mỗi thành viên trong cộngđồng sẽ được chia một chút lộc về gia đình lấy may

Sau khi thực hiện nghi lễ cúng thần Thổ địa, người dân tộc Kháng an tâmbắt tay vào công việc trồng, cấy… Nghi lễ cúng thần thổ địa của dân tộc Khángmang giá trị nhân văn to lớn, thể hiện tinh thần cộng cảm, cộng mệnh và cố kếtcao giữa các thành viên trong cộng đồng

2.1.3 Người hành nghề tôn giáo

Thầy cúng (pả o) người Kháng không giữ vai trò quan trọng như thầy

Trang 17

cũng của các dân tộc Tày, Nùng Khi cúng họ mặc trang phục khá đơn giảnkhông cầu kỳ như áo thầy tào các dân tộc Tày, Nùng vùng Đông Bắc Việt Nam.

Trang phục của thầy cúng người Kháng gồm có: áo, quần, mũ, thắt lưng.Tuy nhiên áo, quần (sửa côn, suổng) của thầy cúng cũng là bộ quần áo mà namgiới người Kháng mặc hàng ngày, không có gì khác biệt, chỉ khác bộ trang phụcthường ngày ở chiếc mũ và đai lưng

Mũ (mù á) của thầy cúng làm bằng hai lớp vải, bên trong là vải mộc trắng,bên ngoài là vải đỏ làm nền Nhìn tổng thể đó là tấm vải hình chữ nhật dài67cm, rộng l0cm, được may khép kín Mặt ngoài của mũ trang trí các hoa vănhình con rồng, đài sen, sóng nước, mái nhà, chậu hoa, tam giác… Phía sau mũđính hai dải dài 60cm, tết kiểu đuôi sam bằng len màu đỏ, trắng, đen

 Đai lưng (tài khoá) của thầy cúng người Kháng dài 93cm, rộng 9cmđược làm từ dải vải được ghép bởi hai lớp, lớp trong bằng vải thô màu trắngđục, lớp ngoài bằng vải đỏ Trên đai lưng này cũng được trang trí, thêu ghép các

mô típ hoa văn hình con rồng, đài sen, sóng nước, mái nhà, chậu hoa, tamgiác…

Khi làm lễ, thầy cúng đội mũ, thắt đai lưng để tạo thèm phần ỉ inh thiêng.Hiện nay, thầy cúng người Kháng vẫn sử dụng bộ đồ này khi hành lễ

2.2 Các nghi lễ phong tục liên quan đến chu kỳ đời người

2.2.1 Sinh đẻ và nuôi con

Dân tộc Kháng canh tác chủ yếu trên ruộng nương trong điều kiện, trình

độ hiểu biết về khoa học kĩ thuật còn thấp, kinh tế chậm phát triển Cuộc sốngchủ yếu dựa vào các yếu tố tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên diễn ra trong nămnhư: gió bão, mưa, lũ lụt, hạn hán, trăng khuyết, trăng tròn, nguyệt thực, dịchbệnh, ốm đau, tác động đến họ mà không lý giải được, làm cho họ sợ hãi Dovậy, họ tìm kiếm sự che trở từ các thế lực siêu nhiên giúp họ chống lại những tácđộng xấu từ ngoại cảnh Người Kháng tin vào số phận, tin vào trời, mọi sự vậthiện tượng dưới trần gian đều do trời sắp đặt, trời đứng cai quản loài người vàvạn vật

Sinh đẻ của phụ nữ nói chung, dân tộc Kháng nói riêng là theo quy luật

Trang 18

phát triển của tự nhiên, đồng thời ở đó ta thấy được sự quan tâm của cộng đồng

xã hội đối với môt thành viên mới sắp ra đời như thế nào, từ lúc thai nghén đến

ở cữ rồi hết cữ cho đến khi làm lễ nhập tổ tiên

2.2.1.1 Các bước chuẩn bị

Người phụ nữ Kháng khi đã lập gia đình, sau một thời gian ngắn pháthiện ra mình đã có thai thông qua một số biểu hiện như: kén ăn, xanh xao, trạngthái không bình thường mệt mỏi đây là giai đoạn cần chú ý bồi bổ, dưỡng thai

và giữ gìn sức khoẻ là chủ yếu Người nhà ưu tiên không cho làm những côngviệc nặng nhọc như: Gánh vác, lên nương, cuốc rẫy…ưu tiên khẩu phần ănuống, đảm bảo đầy đủ dưỡng chất cho thai nhi phát triển bình thường Trongsuốt quá trình mang thai, cùng sự quan tâm của gia đình, thai phụ cũng đã biết tựchuẩn bị những đồ dùng sinh hoạt cần thiết cho bản thân và tã lót cùng một sốvật dụng cần thiết để chờ đón đứa trẻ chào đời

Người chồng của thai phụ chuẩn bị: Theo tính toán trước ngày thai phụtrở dạ khoảng một tuần, người chồng có trách nhiệm chuẩn bị cây tre hoặc câynứa đem về để sẵn ở nhà, đến ngày vợ sinh con sẽ dựng nhà tắm cho vợ

2.2.1.2 Trình tự trong tập tục sinh đẻ

 Khi trở dạ sinh con

Khi thai phụ sắp đẻ thường đau bụng dồn dập, buồn đại tiện, tiểu tiện vàmuốn rặn, cơn đau thưa bà đỡ làm động tác xoa bụng kích thích cho tử cung cobóp để đẩy trẻ ra ngoài Khi thấy đầu trẻ thập thò thì bà đỡ tiến hành như sau:

- Nếu tay phải thuận thì tay trái bà đỡ giữ tầng sinh môn, tay phải bà đỡ

ấn đầu trẻ cho trẻ cúi xuống tốt

- Khi đầu trẻ đã cúi bà đỡ tiếp tục: tay trái giữ cho chặt tầng sinh môn, tayphải đẩy trán và mặt của trẻ sao cho cằm trẻ ra khỏi sinh môn người mẹ

- Khi mặt đã ra khỏi tầng sinh môn bà đỡ lấy khăn sạch móc miệng trẻcho nước ối ra hết khỏi miệng Đồng thời đầu trẻ tự xoay nghiêng sau đó bà đỡlấy 2 tay áp sát vào 2 má của trẻ kéo xuống phía hậu môn để cho vai trên của trẻ

ra khỏi phía trên tầng sinh môn, sau đó tay phải của bà đỡ cho xuống dưới đỡ cổ

và gáy của trẻ đẩy lên phía trên, tay trái bà đỡ giữ tầng sinh môn sao cho khỏi bị

Trang 19

rách, khi vai sau đã ra khỏi tầng sinh môn, tay dưới bà đỡ ngửa lên trên để đónlấy mông và chân trẻ.

 Khi đứa trẻ trào đời

Khi đứa bé lọt lòng "tốc phạk" bà đỡ nhanh tay đỡ trẻ, cắt rốn với nhữngthao tác như sau:

- Lấy chỉ thắt chặt rốn, cách cuống rốn khoảng 2cm

- Lấy cật thanh nứa nhỏ bằng hai ngón tay, lấy dao vót thật sắc rồi hơ qualửa hoặc nhúng vào nước sôi để khử trùng cho cật nứa rồi cắt rốn trẻ, ngày naychủ yếu là dùng kéo cắt

- Lấy nước ấm lau cho trẻ rồi đưa cho bà đón trẻ (me hặp), bà đón bế bétrên tay rồi quấn tã cẩn thận, đưa bé nằm vào một cái mẹt và đặt trong gian bênsàn rửa (chán)

Để đầu bé quay ra hướng ngoài cửa, chân bé quay vào trong nhà Bởitheo quan niệm: Giữa đứa trẻ và rau trong bụng người mẹ có liên quan đếnnhau, khi rau trong bụng mẹ chưa ra thì có thể đe doạ đến tính mạng sản phụ bất

cứ lúc nào Đặt đứa trẻ như vậy có ý nghĩa như:

- Một là: Theo tư thế xuôi lúc bé lọt lòng chân vẫn quay về hướng mẹ đểđợi rau trong bụng mẹ ra hết

- Hai là: Để cho tổ tiên biết và phù hộ người mẹ thoát khỏi tai ương.Trong thời gian sinh đẻ, người nhà phải đun nước thuốc để tắm cho sản phụ.Theo quan niệm của người Kháng sản phụ sau khi sinh từ 6-7 ngày, kiêng khôngđược tắm nước lã sẽ hại, sức khoẻ lâu hồi phục Do vậy người chồng phải lođun nước tắm hàng ngày cho vợ con Trong khoảng từ 6-7 ngày đầu, cả hai mẹcon phải tắm lá thuốc mỗi ngày từ 5-6 lần (nước lá thuốc đun sôi để âm ấm tắm,không được pha thêm nước lã) Lượt tắm trong ngày tiếp theo giảm dần đến khimột ngày chỉ cần tắm nước lá thuốc từ 1- 2 lần cho đến hết tháng

 Chăm sóc sản phụ

Sau khi sinh xong hai mẹ con sẽ được tắm nước thuốc do người chồngđun sẵn, cùng với đó người nhà khẩn trương kê sạp, chải đệm, gối kê đầu, chănđắp cho hai mẹ con nằm, đặt hai sọt phía cuối giường, một sọt để đựng tã sạch

Trang 20

cho trẻ và một sọt đựng tã bẩn Người chồng mang củi to vào nhóm lửa bếp chohai mẹ con sưởi (bếp đã chuẩn bị trước) Khi sản phụ được tắm rửa vệ sinh sạch

sẽ, các bà đưa sản phụ đến ngồi nơi bếp lửa, phía trên sà nhà nơi sản phụ ngồi cóbuộc khăn piêu thõng xuống để sản phụ ngồi vịn Ngồi như vậy sẽ có tác dụngcho máu bẩn dồn ra hết mới mau sạch người Nếu cho sản phụ vào nằm ngay thì

sẽ không được tốt, vì máu sẽ dồn lên phía đầu, sẽ đau đầu và choáng Khi sảnphụ vào ngồi ghế rồi, trước tiên là đưa cho sản phụ bát nước thuốc đun từ lá câyphang (là một loại cây thân thảo mọc trong rừng) còn nóng, để sản phụ uốngngay, vừa uống vừa thổi "pấu sột" Đây là loại thuốc có tác dụng để hồi phụcsức khỏe Bên cạnh sản phụ, đứa trẻ được chải chăn riêng (pái phả neo), mềnbông chải xuống trước, lấy tã lót dầy phủ lên trên Quấn tã cho bé rồi đặt bé nằmxuống, lấy chăn bông dầy đắp từ vai bé xuống Lấy một chiếc chăn bông nữaquấn thành nửa vòng tròn từ vai bên phải của bé vòng qua đầu đến vai bên tráicủa bé, rồi lấy một mảnh vải xô đậy lên, đứa trẻ lúc nào cũng giữ được độ ấm,tránh con ruồi và bụi bay vào mắt trẻ Cả hai mẹ con đều phải nằm quay đầu vàohướng trong nhà, chân quay ra ngoài cửa Sản phụ chủ yếu ngồi ghế mây (tắngcắm bươn) trên mặt ghế lót váy cũ, dưới gầm ghế cho than nóng, lá thuốc phủlên than để hơi thuốc bốc lên toả vào người sản phụ ngồi mỏi thì vào nằm,nhưng vẫn phải quay lưng vào lửa hơ gọi là hơ người cho cứng cáp (xang tôxang kính, hẩư kính khanh) sưởi cho ấm đều khắp, kết hợp lá thuốc gầm ghế bốclên và uống nước thuốc đun sôi (pấu sột) để khí huyết lưu thông chóng bìnhphục sức khoẻ

- Bếp lửa của sản phụ không được ai dẫm lên nhất là khi sắc thuốc - Từngày đầu mới đẻ cho đến hết một tháng người sản phụ phải lấy khăn piêu thắtbụng, vì quá trình mang thai 8-9 tháng, bụng sản phụ đã bị giãn ra hết cỡ, do chonên lấy khăn thắt bụng có tác dụng làm cho da bụng nhanh chóng co lại nhưtrạng thái ban đầu, cũng chính việc thắt bụng đã giúp phụ nữ Kháng sau khi sinh

nở vẫn gọn gàng, cân đối không bị xồ xề

- Đầu sản phụ bao giờ cũng cuốn khăn cho ấm Trong khoảng 6-7 ngàyđầu người chồng không phải đi làm gì ngoài chăm lo cho vợ ăn, uống, đun nước

Trang 21

cho vợ tắm.

 Ăn uống của sản phụ

Ăn uống của sản phụ trong một, hai ngày đầu chủ yếu ăn cơm lam vàuống nước thuốc Uống nước lúc nóng vừa thổi vừa uống (pấu sột), đến ngàythứ ba sản phụ mới được ăn thêm xôi nếp (khẩu nửng) Thức ăn sản phụ chủ yếu

là rau rừng, rau vả, rau sung, rau hoa ban, rau ngót, cỏ mần trầu và tất cả các loạirau có hoa trắng, là loại rau có tác dụng giải nhiệt, không hại bụng (pay tọng)còn giúp cho sản phụ có nhiều sữa

- Cá chủ yếu ăn cá trê, cá diếc, cá trôi, pa mọm, pa khính; riêng cá mè cáchép, thịt trâu trắng kiêng không được ăn vì có chất tanh

- Thịt và cá sát muối sấy khô, khi ăn đem ra rửa rồi cho vào gắp trenướng kỹ (pỉng sang) cho thơm hoặc hấp trên chõ xôi

- Gà: gà bé từ 6- 7 lạng mỗi ngày ăn một con, bỏ hết bộ lòng ra, đập củgừng vào, một nhánh nghệ (hản pháy) và một chén rượu mạnh, một ít muối, đemhầm nhừ để sản phụ ăn khi nóng

– Muối chấm của sản phụ cũng phải cho vào lá chuối nướng chín khửchất tanh mới được ăn

- Mỗi loại rau giống như một vị thuốc rất tốt cho sản phụ như: giúp sảnphụ chóng hồi phục sức khoẻ, có sữa nhiều Tóm lại: Thức ăn, uống của người

mẹ có liên quan trực tiếp đến sữa mẹ và ảnh hưởng tốt hay xấu đến con bú, nênngười mẹ phải ăn, uống đảm bảo đầy đủ dưỡng chất

2.2.1.3 Nghi lễ đặt tên cho trẻ

 Cúng vía võng, vía địu

Ngay từ khi đứa trẻ lọt long mẹ, ông nội, ông ngoại đã chuẩn bị đan võngtre, còn địu thì đã được chuẩn bị từ trước, để đón bé nằm võng ru, địu cõng.Trước khi cho trẻ tiếp xúc với võng, địu, người Kháng thường làm thủ tục cúngvía võng, vía địu Cầu mong sự tốt lành cho bé, mong bé khỏe, bé ngoan, khônghờn, không giật mình,…

Cách thức làm như sau: Cho chiếc địu vào trong võng rồi đặt bé nằm vào.Lấy nắm xôi, quả trứng gà luộc đã bóc vỏ, thầy cúng đứng cạnh với bài cúng

Trang 22

 Cúng vía vú

Người mẹ bế đứa con ngồi tại chân giường mình ngủ, thầy cúng đưa mâm

lễ ra đặt ở nơi hai mẹ con ngồi Trong mâm có: nắm xôi, các nướng, trứng gàluộc bóc vỏ Ngoài ra còn chuẩn bị một cái kéo, một ít là chuối xanh bằng bàntay

Đôi vợ chồng bế con nhỏ ngồi nơi chân giường, mọi người trong gia đìnhcũng như một số an hem ngồi quay quần xung quanh mâm cúng để làm lễ chocháu bé Đồng thời đây cũng là mâm cúng tụ hồn cho cả gia đình, sau khi xongthủ tục mọi người chúc cháu bé mau lớn

Sau nghi lễ cúng báo tổ tiên và các ma nhà kết thúc, anh em trong gia đìnhdòng họ cũng như cộng đồng dân bản sẽ biếu quà mừng cho gia đình và cho đứa

bé Thông thường thì người mang theo chai rượu, người mang theo bát gạo,người mang theo gà, người mang theo đùi lợn đến vừa để làm quà mừng vừa

để giúp mẹ đứa bé có thức ăn nuôi con

Trong khi mọi người biếu quà, những mâm rượu thịt cũng được chủ nhàbày ra dọc gian nhà mời mọi người ngồi vào chúc mừng gia đình, nghi lễ “bóichén” tìm tên cho đứa trẻ bắt đầu Nghi lễ này chỉ dành cho những người namgiới, có vai vế từ cao xuống thấp Người đầu tiên được vinh dự tung và bói chén

là người đàn ông cao tuổi hoặc có vai vế cao nhất bên họ nhà ngoại, tiếp đến làngười đàn ông cao tuổi hoặc có vai về cao nhất bên họ nhà nội và lần lượt đếnnhững người khác cho đến khi tìm được tên cho đứa trẻ

Người được giao trọng trách “bói chén” sẽ phải nghĩ sẵn ra một cái tênphù hợp và nói ra cho mọi người cùng biết rồi sẽ bói xem tên ấy liệu có phù hợpkhông Sau khi mọi người cho ý kiến đồng ý về tên này người bói sẽ dùng ngaychén uống rượu trong mâm và tung lên cao chừng 50-60 cm cho rơi xuống mâm.Việc tung chén được tiến hành ba lần, nếu cả ba lần chiếc chén đều nằm ngửa thìcoi như thần linh đã chấp thuật tên do tung nghĩ ra Trong trường hợp hai trong

ba lần tung mà chén nằm sấp thì việc chọn tên sẽ được chuyển cho người khác

Bói chén chọn tên được thực hiện một cách nghiêm túc và thành kính vìngười Kháng cho rằng cái tên đúng có tác động rất lớn đến tính tình và sức khỏe

Trang 23

cũng như số phận của đứa trẻ sau này Nếu đặt tên đúng thì đứa trẻ ấy sẽ lớnnhanh, khỏe mạnh, hiền lành, tốt tính Còn nếu cái tên mà đặt sai thì đứa trẻ sẽchậm lớn, yếu ớt, độc ác, xấu tính, thậm chí là sẽ chết yểu Mọi người vỗ taytán thưởng vì đứa trẻ đã có tên, ông đứa trẻ cảm ơn người đã đặt được tên chocháu mình bằng hai chén rượu đầy Ngược lại, người đã đặt được tên cho đứa trẻlại uống với người cha của đứa trẻ hai chén kèm theo những lời chúc tốt đẹpnhất dành cho đứa trẻ.

Sau nghi lễ mời rượu cảm ơn và chúc mừng kết thúc cũng là lúc cuộc vuimừng lễ đặt tên lên cao trào Tất cả những người tham dự nghi lễ đều chúcmừng ông và bố đứa trẻ hai chén rượu, chủ nhà cũng lần lượt mời lại mỗi ngườihai chén cảm ơn mọi người đã đến mừng cho đứa trẻ và gia đình Tiệc rượuchúc mừng cũng đánh dấu sự kết thúc tốt đẹp của nghi lễ bói chén đặt tên, đứatrẻ đã có tên gọi và chính thức là thành viên của cộng đồng dân tộc Kháng

2.2.2 Hôn nhân

2.2.2.1 Các bước thực hành lễ cưới

Hôn nhân một vợ một chồng và cư trú ở bên nhà chồng là hình thức chủyếu trong hôn nhân của người Kháng Chế độ hôn nhân một vợ một chồng khábền vững, hiếm thấy các trường hợp ly hôn Các trường hợp lấy hai vợ phải cónguyên nhân, vợ cả không có con hoặc qua đời Phần lớn các cặp vợ chồngkhông có con trai đều lấy con trai của anh, em ruột chồng làm con nuôi

Ngày nay việc đám cưới của các đôi nam nữ dân tộc Kháng được tổ chứcđều là do tự nguyện của hai bên Đến tuổi trưởng thành nam nữ tự tìm hiểu, khiđưa ra quyết định lấy nhau họ thông báo với hai bên gia đình để họ cùng chuẩn

bị các bước cho đám cưới, đó là:

Bước 1: Dạm ngõ - The man căn sao

Đại diện gia đình nhà trai đến chơi với nhà gái, nói chuyện việc hai đứacon yêu nhau và muốn lấy nhau Lần này nếu có điều kiện nhà trai sẽ mang theomấy con gà và một số thứ sang nhà gái làm quà, nhà gái đáp lại bằng cách làmcơm cả hai bên cùng ăn Sau cuộc nói chuyện hai bên gia đình sẽ hứa hẹn và ấnđịnh ngày lành tháng tốt tiếp theo nhà trai sẽ sang nhà gái làm lễ ăn hỏi

Trang 24

Bước 2: Ăn hỏi - Khai diên blóng

Đại diện gia đình nhà trai sang bên nhà gái lần này sẽ mang theo: 01 conlợn (khoảng 70 - 80kg); 02 con gà (trên 1kg/con); 02 chum rượu cần và 02 sáchrượu (20 lít/1 sách); khoảng 20kg gạo

Theo quy định của dân tộc Kháng, trong lễ ăn hỏi nhà trai đã phải biếttrước nhà gái có mấy anh em ruột (anh chị em ruột của con dâu tương lai) vàchuẩn bị mang cho mỗi người anh chị em ruột này 5 lạng cá, nếu không có cáphải có 5 lạng gà thay thế

Sau bước này, nhà gái có sự thay đổi phải hoàn toàn chịu mọi chi phí choviệc nhà trai đã làm

Bước 3: Con dâu thăm nhà trai - Mể muôn rờ chơ nha pả du mể ma

Sau 10 ngày con dâu thăm nhà trai, người con dâu phải chuẩn bị 2 – 3 congà; cót; cá (tuỳ theo) đến đưa cho bố mẹ chồng, ăn cơm và ở một vài ngày rồitrở lại nhà mình

Trước khi về, nhà trai có thể cho cô dâu một số thứ như gà, lợn và một số

đồ dùng sinh hoạt như: chăn, ga, đệm, hòm, áo, váy; anh em nhà chồng mỗingười cho cô dâu 01 con gà Chú rể lúc này theo luôn về nhà gái để ở rể

Thời gian ở rể cũng tuỳ thuộc vào từng gia đình, trước đây ở 7, 8 nămnhưng nay có thể ở 1, 2 năm Hết thời gian ở rể tổ chức cưới ở nhà gái

Bước 4: Đám cưới nhỏ - Ngan tủ đế

Lần cưới này coi như việc đánh dấu hết thời gian ở rể của người con trai.Việc tổ chức đám cưới lần này nhà trai phải chuẩn bị đồ mang sang gồm: 01 conlợn (khoảng 70 - 80kg); 04 con gà; 04 ống cá muối; 08 con cá khô (loại cá nhỏ);

01 bó chay; 01 bó trầu; ít vôi; khoảng 20 - 30kg gạo; rượu (2 chum rượu cần, 02sách) Nhà trai chuẩn bị đầy đủ rồi mang sang nhà gái làm cơm, làm cơm xongtiến hành làm lý mời ông bà, tổ tiên nhà gái về uống rượu cần trước, ăn thức ăn

do gia đình nhà trai mang sang và xin ông bà, tổ tiên nhà gái cho con gái về nhàtrai làm dâu Sau đó nhà trai mời mọi người trong nhà gái cùng ăn Tiếp theo côdâu, chú rể đi chúc rượu và nhận những lời chúc của tất cả mọi người Khi bữatiệc chúc tụng nhau dừng lại coi như việc tổ chức đám cưới nhỏ đã xong Đến

Trang 25

đây cô dâu, chú rể có thể về nhà trai luôn Sau đám cưới nhỏ này, nhà trai tiếptục phải chuẩn bị đồ cho lần đám cưới to tiếp theo Tuỳ từng gia đình chọn ngày

và cũng tuỳ vào khả năng chuẩn bị của các gia đình Khi đã chuẩn bị được đầy

đủ nhà trai phải đứng ra tổ chức đám cưới một lần nữa

Bước 5: Đám cưới to - Mủ khà đưng

Lần cưới này tổ chức to, rộng khắp tất cả họ hàng và khách của hai bên.Nhà trai chuẩn bị 02 con lợn; 02 sách rượu; 04 chum rượu; 08 con gà (từ 7lạng trở lên); 16 con cá khô

Nhà gái làm lễ cho của hồi môn (Lễ nộp tiền): ông cậu cho 1 triệu; nhàtrai cho đầu lợn; anh em nhà vợ cho khoảng 500 nghìn; nhà trai cho đùi lợn và

01 con gà

Thủ tục của hai bên gia đình cho cô dâu, chú rể xong Cô dâu, chú rể cầmtrên tay một cái đĩa, trong đĩa có 4 cái chén, lần lượt đi mời tất cả mọi ngườihôm đó đến dự đám cưới Những người khách được mời đến đám cưới có thểmừng tiền, tặng chậu, tặng khăn piêu,

Nhà trai nói xin dâu về Ở lần này phải có thủ tục đại diện hai bên giađình, nhà gái trao con gái, nhà trai nhận và ngược lại Con rể lạy bố mẹ vợ xinđược rước dâu về Bố mẹ cho con gái của hồi môn và tiến hành buộc chỉ tay.Nhà trai buộc chỉ vào tay phải, nhà gái buộc chỉ vào tay trái Kể từ đây cô dâu làcon của nhà chồng, mọi thủ tục phải hoàn toàn phụ thuộc vào nhà chồng

2.2.2.2 Lễ chung chăn chung chiếu

Sau khi lễ rượu xin hồn xin vía kết thúc, trong khi mọi người còn đangcùng giúp cô dâu chú rể mang những quà mừng của hai họ đi cất và thay nhữngchum rượu cần mới thì lễ chung chăn chung chiếu “hạ khửn khươi” được bắtđầu

Điều đặc biệt là nghi lễ do mẹ của cô dâu chú rể và đại diện hai gia đình

tổ chức mà không có sự tham gia của cô dâu chú rể

Đây là nghi lễ khi tổ chức bắt buộc phải kín đáo, chỉ những người có liênquan trực tiếp mới được tham dự, ngoài hai bà mẹ, còn có hai người đại diện chohai gia đình Ngay khi lễ rượu xin hồn vía vừa kết thúc, hai bà mẹ của cô dâu và

Trang 26

chú rể ra hiệu cho nhau và cùng lặng lẽ đi vào buồng dành riêng cho cô dâu chú

rể Hai bà mẹ lần lượt lấy lấy hai cái chăn “bút” chồng lên nhau và đặt lên trêncái đệm, rồi lại lấy hai cái gối “mon” đặt lên trên hai cái chăn “Hành độngchồng các cặp đồ dùng trong phòng cô dâu chú rể tượng trưng cho cảnh hônphối Chăn - đệm - gối là những vận dụng dùng để ngủ, mỗi thứ một đôi làtượng trưng cho cảnh sinh hoạt vợ chồng, duy trì nòi giống”

Khi các cặp chăn đệm gối đã được chồng lên nhau ngay ngắn, bốn ngườingồi bốn góc, vừa đập tay vào hai bộ chăn, đệm, gối vừa lẩm nhẩm nói: “Khoẻmạnh nhé, đẻ nhiều con cái nhé ” Kết thúc nghi lễ “Chung chăn, chung chiếu”,các cặp chăn, đệm, gối lại được xếp ngay ngắn như khi chưa làm lễ

Nghi lễ “Chung chăn chung chiếu” kết thúc cũng là lúc cuộc rượu liênhoan mừng hạnh phúc của cô dâu chú rể bắt đầu bước sang giai đoạn vui vẻ,thoải mái nhất trong đám cưới Người ta bỏ hai chum rượu cần cũ đi và thay vào

đó là hai chum rượu cần mới Lúc này, mọi người đã ăn no và cũng đã chuếnhchoáng hơi mem, người ta bắt đầu chúc tục nhau, thách đố nhau “đấu rượu”

Thông thường, cuộc thách đấu được tiến hành giữa các đấng nam nhi củanhà trai và nhà gái, ban đầu là thách nhau hai sừng trâu, rồi đến bốn sừng trâu,sáu sừng trâu cho đến khi một trong hai bên nhà trai hoặc nhà gái xin thua.Cuộc đấu rượu diễn ra tưng bừng và nhận được sự ủng hộ, cổ vũ nhiệt tình củađám hội

Cuộc đấu rượu kéo dài đến tối và bắt đầu chuyển sang phần hát giaoduyên, hát đối đáp, đánh tính tẩu, chiêng, trống, gậy, chuông Lúc thì từng đôinam nữ hát đối nhau, lúc thì cả một tập thể nữ hát đối với cả một tập thể nam.Cuộc hát được đan xen bởi những điệu múa kèm tiếng trống chiêng rộn rã.Không khí của cuộc vui lên đến đỉnh điểm với tiếng trống, chiêng rộn rã, thúcgiục, tiếng những bước chân nhảy huỳnh huỵch trên sàn nhà, tiếng đồm độp củanhững chiếc gậy tre gõ xuống sàn, tiếng những quả chuông đồng trên hai đầukhăn của những người phụ nữ va vào nhau kêu leng keng

Trong đêm ấy, vài cuộc hát giao duyên và múa xèo lại được tổ chức, cuộcvui kéo đến tản sáng thì chấm dứt Từ đó cho đến lúc sáng hẳn, lần lượt từng

Ngày đăng: 08/11/2017, 20:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Viện dân tộc học (1984), “Các dân tộc ít người ở Việt Nam(các tỉnh phía Bắc)”, Nhà xuất bản khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít người ở Việt Nam(các tỉnhphía Bắc)
Tác giả: Viện dân tộc học
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 1984
2. Trần Hữu Sơn (2010), “Văn hóa dân gian người Kháng ở Tây Bắc”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian người Kháng ở Tây Bắc
Tác giả: Trần Hữu Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
3. Trần Trí Dõi (2015), “Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: nhàxuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
4. Hoàng Tuyên Vương (1963), “Các dân tộc nguồn gốc Nam-Á ở miền Bắc Việt Nam”, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc nguồn gốc Nam-Á ở miềnBắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Tuyên Vương
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1963
5. Trần Ngọc Bình (2008), “Văn hóa các dân tộc Việt Nam”, Nhà xuất bản Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Bình
Nhà XB: Nhà xuấtbản Thanh niên
Năm: 2008
6. Nguyễn Văn Huy (2001), “Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam”, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
7. Hoàng Phê (1994), “ Từ điển bách khoa Việt Nam”, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam”
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nhà xuất bảnGiáo dục
Năm: 1994
8. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Tập 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Việt Nam
Tác giả: Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w