MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ KHÁI QUÁT KHÔNG GIAN ĐỀN THƯỢNG. 6 1.1. Một số khái niệm cơ bản. 6 1.1.1. Khái niệm Di tích. 6 1.1.2. Khái niệm Di tích lịch sử. 7 1.1.3. Khái niệm Di tích kiến trúc nghệ thuật. 8 1.1.4. Khái niệm Di tích thắng cảnh. 8 1.1.5. Vai trò của Di tích 8 1.2. Không gian đền Thượng. 9 1.2.1. Đặc điểm địa lý. 9 1.2.2. Đặc điểm văn hóa. 9 Tiểu kết 10 Chương 2. THỰC TRẠNG VỀ KHU DI TÍCH ĐỀN THƯỢNG TẠI XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI. 11 2.1. Diễn trình lịch sử 11 2.2. Đặc điểm kiến trúc, nghệ thuật. 16 2.2.1. Không gian cảnh quan. 16 2.2.2. Mặt bằng di tích. 17 2.2.3. Kết cấu kiến trúc, trang trí, chạm khắc kiến trúc 18 2.2.4. Một số di vật tiêu biểu của Đền Thượng 18 2.2.5. Đền Bác 19 2.3. Lễ hội 21 2.3.1. Thời gian diễn ra lễ hội 21 2.3.2. Công việc chuẩn bị lễ hội, diễn trình lễ hội 21 2.4. Thực trạng di tích Đền Thượng 22 2.4.1. Hiện trạng của các kiến trúc 22 2.4.2. Thực trạng cảnh quan, không gian xung quanh di tích. 24 Tiểu kết 25 Chương 3. GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY KHU DI TÍCH ĐỀN THƯỢNG TẠI XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI. 26 3.1. Giải pháp bảo tồn, tôn tạo di tích 26 3.2. Khai thác và phát huy giá trị di tích. 26 Tiểu kết 27 KẾT LUẬN 28 TÀI LIỆU THAM KHẢO 29 PHỤ LỤC 30
Trang 1LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Tiến sĩ LÊ THỊ HIỀN - giảng
viên bộ môn “Phương pháp nghiên cứu khoa học” của khoa Văn hóa - Thông tin
và xã hội đã trang bị cho tôi những kiến thức, kĩ năng cơ bản để tôi có thể hoànthành đề tài nghiên cứu này
Tôi cũng xin cảm ơn các ban quản lý đền Thượng đã tạo điều kiện cho tôi
có thêm hiểu biết về lịch sử, kiến trúc cũng như các giá trị tâm linh của di tíchlịch sử đền Thượng
Tôi hi vọng tài liệu này sẽ là cẩm nang hữu ích cung cấp cho bạn đọcnhững kiến thức lịch sử - văn hoá cơ bản và cụ thể về di tích lịch sử đền Thượng
Mặc dù trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã cố gắng tổng hợp đầy đủ
bề dầy và bề sâu lịch sử - văn hoá và các giá trị của di tích lịch sử đền Thượngnhưng tôi khó tránh khỏi những sai sót khi tìm hiểu, đánh giá cũng như trình bày
về đề tài nghiên cứu này Tôi rất mong bạn đọc thông cảm và mong giành được
sự quan tâm đóng góp ý kiến của cô giáo và các bạn cho bài nghiên cứu để tôitiếp tục bổ sung, hoàn thiện đề tài hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu sửdụng trong
đề tài nghiên cứu hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặccông bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện nghiên cứu đề tài đã được cảm ơn vàcác thông tin trích dẫn trong đề tài nghiên cứu đều được ghi rõ nguồn gốc
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ KHÁI QUÁT KHÔNG GIAN ĐỀN THƯỢNG 6
1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.1 Khái niệm Di tích 6
1.1.2 Khái niệm Di tích lịch sử 7
1.1.3 Khái niệm Di tích kiến trúc nghệ thuật 8
1.1.4 Khái niệm Di tích thắng cảnh 8
1.1.5 Vai trò của Di tích 8
1.2 Không gian đền Thượng 9
1.2.1 Đặc điểm địa lý 9
1.2.2 Đặc điểm văn hóa 9
Tiểu kết 10
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ KHU DI TÍCH ĐỀN THƯỢNG TẠI XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 11
2.1 Diễn trình lịch sử 11
2.2 Đặc điểm kiến trúc, nghệ thuật 16
2.2.1 Không gian cảnh quan 16
2.2.2 Mặt bằng di tích 17
2.2.3 Kết cấu kiến trúc, trang trí, chạm khắc kiến trúc 18
2.2.4 Một số di vật tiêu biểu của Đền Thượng 18
2.2.5 Đền Bác 19
2.3 Lễ hội 21
2.3.1 Thời gian diễn ra lễ hội 21
2.3.2 Công việc chuẩn bị lễ hội, diễn trình lễ hội 21
2.4 Thực trạng di tích Đền Thượng 22
2.4.1 Hiện trạng của các kiến trúc 22
2.4.2 Thực trạng cảnh quan, không gian xung quanh di tích 24
Tiểu kết 25
Chương 3 GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY KHU DI TÍCH ĐỀN THƯỢNG TẠI XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 26
3.1 Giải pháp bảo tồn, tôn tạo di tích 26
3.2 Khai thác và phát huy giá trị di tích 26
Tiểu kết 27
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHỤ LỤC 30
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, với vùng miền đều có những nét văn hoáriêng, đặc trưng riêng tạo nên bản sắc của riêng mình, góp phần làm phong phúhơn, đa dạng hơn cho nền văn hoá thế giới Nói đến Châu Âu, nói đến nhữngngười da trắng, chúng ta nghĩ ngay đến những nhà thờ cổ kinh, trang trọng nhưkiến trúc Roman, kiến trúc La mã cổ, kiến trúc Baroque, kiến trúc Gothic, kiếntrúc Phục hưng Đến với Nam Á người ta không thể không nghĩ đến nhữngthánh đường hồi giáo lộng lẫy, đầy trang nghiêm như thánh đường FaisalIslamabad – Pakistan, … Khi nói đến Việt Nam, chúng ta không những tự hào
về những trang sử hào hùng về quá trình dựng nước và giữ nước mà ta còn nhớđến hình ảnh những ngôi đền mộc mạc, những mái chùa bình dị, thân quennhưng không kém phần cổ kính, linh thiêng Mái chùa gợi lên tình yêu quêhương, tình yêu đất nước Bởi lẽ, nó không chỉ là “chùa chung” của cả dân làng(đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt) mà nơi đó còn tượng trưng cho hồn dântộc, gắn bó, vun đúc tô bồi nếp sống giản dị của những người con đất Việt
Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) đã khẳng định: “Di sản văn hóa làtài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở đểsáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kếthừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóacách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”
Từ xưa đến nay, ông cha ta vẫn thường nói : “có thờ có thiêng, có kiêng
có lành” Tâm lý ấy đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt Nam, hìnhthành nên tục lệ đi lễ chùa vào dịp đầu năm hay tuần rằm, mùng một Hệ thống
đền, chùa ở Việt Nam vô cùng phong phú với 14.401 ngôi chùa ( theo Số liệu thống kê của GHPGVN ngày 27/12/2003) và hàng nghìn ngôi đền Với người
Việt Nam , đền chùa không chỉ là nơi thờ Phật, là nơi thờ các vị anh hùng dântộc như Thánh Gióng, Đức Thánh Trần Hưng Đạo, … mà còn là nơi linh hồncủa người đã khuất an nghỉ, siêu thoát Vì là nơi chứa đựng những giá trị tinhthần vô giá nên đền chùa thường là những nơi người dân Việt Nam đến cầu an,
Trang 5cầu tài, là nơi che chở cho đời sống tâm linh của họ.
Ba Vì, một địa bàn miền trung du, ba bên bốn bề non xanh nước biếc bày
ra, tạo nên cảnh sơn thủy hữu tình như tranh vẽ, cây cỏ hoa lá sầm uất Nhìn ra
xa, dòng Đà Giang nối dòng chảy Nhị Hà như vòng tay Đức Mẹ ôm lấy thế đấtlong chầu, hổ phục, hạc vẫy cánh; tứ linh hội tụ Nơi đây, mạch nguồn non Tản
âm ỉ lắng vào lòng đất, linh khí núi Nghĩa Lĩnh theo dòng Hồng Hà chảy vềđọng lại khí thiêng cho nương ruộng, đồng điền bốn mùa đua nở, ong bướm rộnràng, chim kêu, vượn hot Ngoảng lại Ba Vì sừng sững như một bức hán thưquanh năm sương phủ la đà Đó chính là nơi phát tích Đức Thánh Tản Viên Sơn– Thượng Đẳng Tối Linh Thần – Nam Thiên Thánh Tổ - Đệ Nhất Bách Thần.Chính nơi đây, trên đia bàn huyện Ba Vì với non sông oai linh, điền địa nhưgấm thêu,tạo nên con người thuần hậu, cần mẫn, dũng cảm, đảm đảng, đời nốiđời ra sức xây dựng quê hương ngày càng khởi sắc, đời sống người dân được anlành, lễ tục, lễ hội trang nghiêm tạo nên vùng văn hóa phi vật thể nổi tiếng cảnước Đặc biệt, Ba Vì là cái nôi truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh Trên khắpvùng châu thổ sông Hồng rất nhiều đền, đình thờ Đức Thánh Tản Viên nhưngkhông một nơi nào mật độ đền, đình thờ Người lại nhiều như ở nơi đây
Tôi thấy việc bảo tồn và phát huy khu di tích lịch sử không những chỉ gópphần thực hiện có hiệu quả công tác chính trị tại địa phương mà còn có ý nghĩaquan trọng việc góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản
sắc dân tộc như vậy, nên tôi xin chọn cho mình đề tài: ”Tìm hiểu giá trị di tích Đền Thượng tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội ” để tìm hiểu rõ hơn ý
nghĩa của khu di tích và cho đến nay khu di tích đó đã và đang được bảo tồn vàphát triển như thế nào? Đồng thời đưa ra một số góp ý giúp cho việc bảo tồn vàphát huy giá trị lịch sử của địa phương nói riêng cũng như của thành phố Hà Nộinói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khu di tích đền Thượng tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.Hoạt động lễ hội “ Tản Viên Sơn Thánh ”
Trang 63.2 Phạm vi nghiên cứu.
Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu tại khu di tích đền Thượng tại xã Ba
Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc,
nghệ thuật của đền Thượng, lễ hội Tản Viên Sơn Thánh và thực trạng của đềnThượng cũng như lễ hội
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
4.1 Mục đích nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu vấn đề “ Tìm hiểu giá trị di tích đền Thượng tại xã
Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội ” nhằm tìm hiểu về đặc điểm kiến trúc,
nghệ thuật và lễ hội Tản Viên Sơn Thánh, chỉ ra được mặt tích cực và nhữnghạn chế trong công tác bảo tồn và phát huy của địa ranh nói riêng cũng như củaquần thể di tích lịch sử huyện Ba Vì nói chung
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống cơ sở lý luận về vấn đề tìm hiểu giá trị di tích đền Thượng tại xã
Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội: Đưa ra những khái niệm, phân loại kháiniệm và vai trò
Phân tích đánh giá thực trạng của khu di tích đền Thượng tại xã Ba Vì,huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội: Làm rõ đặc điểm kiến trúc, nghệ thuật và lễ hộiTản Viên Sơn Thánh, chỉ ra được thực trạng chung của khu di tích đền Thượng
Đề xuất giải pháp, phương hướng cho công tác bảo tồn và phát huy giá trịkhu di tích Thành Bản Phủ: giải pháp về hướng tôn tạo,giải pháp về nâng cấp tusửa khu di tích,giải pháp về nâng cao tầm hiểu biết của mọi người về ý thức bảotồn và phát triển khu di tích theo hướng hiện đại nhưng vẫn giữ được ý nghĩabản chất gốc
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu văn bản thứ cấp
Các thông tin, tài liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như: Quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện chủtrương đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước về văn hóa, về Di sản văn
Trang 7hóa, luật, về bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa; Sở văn hóa, Thể thao và Dulịch, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh, Bảo tàng tỉnh, Thư viện tỉnh, Internet, Báo chí, Đàitruyền hình, Sách và giáo trình có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Phân tích tổng hợp hệ thống hóa các công trình liên quan của các tác gỉa
đi trước, sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu với các tài liệu thu được trênthực địa, tìm ra những điểm chung cho đề tài
5.2 Phương pháp điền dã, quan sát
Thực hiện các cuộc đi thực tế tại khu di tích lịch sử để quan sát thấy rõhơn thực trạng công trình kiến trúc, nghệ thuật cũng như phần lễ hội khu di tíchnhằm mục đích cho việc nghiên cứu đề tài thực tế hơn: thực hiện cuộc điền dãvào hai ngày ngày 30/04/2017, tại khu di tích đền Thượng xã Ba Vì, huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội
5.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn
Phương pháp này nghiên cứu, nhận xét và đánh giá về việc tìm hiểu giá trịkhu di tích đền Thượng
5.3.1 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được thực hiện đối với cộng đồng địa phương, Banquản lý khu di tích cụ thể: hai cuộc phỏng vấn đối với hai cán bộ làm công tácquản lý khu di tích đền Thượng tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội;mười cuộc phỏng vấn đối với người dân địa bàn xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thànhphố Hà Nội
5.3.2.Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này được tiến hành với khách du lịch trong nước và nướcngoài (cụ thể là thông qua người phiên dịch của đoàn vì phiếu điều tra bằngtiếng Việt),bao gồm 150 phiếu
6 Đóng góp của đề tài
Góp phần khẳng định giá trị văn hóa, tầm quan trọng của giá trị khu ditích đền Thượng tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Giúp cho chínhquyền địa phương, các cơ quan doanh nghiệp nhận định đúng hướng phát triểnsao cho có tiềm năng về kinh tế mà vẫn giữ được nguyên gốc các giá trị của khu
Trang 8di tích, hoạch định những c Làm tài liệu tham khảo cho các khóa sau.
7.Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết thúc thì nội dung của đề tài còn được chiathành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về di tích lịch sử và khái quát không gian Đền Thượng.
Chương 2: Thực trạng về khu di tích Đền Thượng tại xã Ba Vì, huyện Ba
Vì, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy khu di tích Đền Thượng tại xã
Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Trang 9Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ KHÁI QUÁT
KHÔNG GIAN ĐỀN THƯỢNG.
1.1 Một số khái niệm cơ bản.
1.1.1 Khái niệm Di tích.
Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất
có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử Ở Việt Nam, một di tích khi đã đủ các điềukiện sẽ được công nhận theo thứ tự: di tích cấp tỉnh, di tích cấp quốc gia và ditích quốc gia đặc biệt Tính đến năm 2014, Việt Nam có hơn 40.000 di tích,thắng cảnh trong đó có hơn 3.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn7.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 70% di tích của ViệtNam Trong số di tích quốc gia đặc biệt và trong số đó có 8 di sản thế giới
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định về Di tích Xem xét ditích với tư cách là tài nguyên du lịch nhân văn với các giá trị nhân văn vật thể vàphi vật thể có một số khái niệm tiêu biểu như sau:
Theo hiến chương Vơnidơ – Italia (1964), “di tích lịch sử không chỉ làmột công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn cóchứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sựkiện lịch sử Khái niệm này không chỉ áp dụng với các công trình nghệ thuật tolớn mà cả với những công trình khiêm tốn hớn vốn đã cùng với thời gian, thâunạp được một ý nghĩa văn hóa.”[54]
Theo đạo luật 16 về di sản lịch sử của Tây Ban Nha (1985), di sản lịch sửvăn hóa được gọi là di tích lịch sử: “di tích lịch sử bao gồm các bất động sản vàcác động sản có lợi ích nghệ thuật, có lợi ích vật học, khảo cổ học, dân tộc học,khoa học hoặc kỹ thuật, cũng kể cả di sản tự nhiên và thư mục, các lớp mỏ, cáckhu vực khảo cổ, các thắng cảnh thiên nhiên, các công viên, các vườn có giá trịnghệ thuật lịch sử hay nhân chủng học”[54]
Theo công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới củaUNESCO (1971), Di sản văn hóa là: 1) Các di tích: Các công trình kiến trúcđiêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ
Trang 10học, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt
về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học; 2) Các quần thể: Các nhómcông trình xây dựng đứng một mình hoặc quần tụ có giá trị quốc tế đặc biệt vềphương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do liến trúc, sự thống nhất củachúng hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan; 3) Các thắng cảnh: Cáccông trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với côngtrình của tự nhiên, cũng như các khu vực, kể cả các di chỉ khảo cổ học, có mộtgiá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhânchứng học
Theo luật Di sản văn hóa Việt Nam (2001) và Luật Di sản văn hóa bổsung và sử đổi của Việt Nam (2009) Di tích lịch sử văn hóa là công trình xâydựng , địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm
đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Di tích lịch sử văn hóa có một trong cáctiêu chí sau: 1) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóatiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; 2) Công trình xây dựng, địa điểmgắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử
có ảnh hưởng tích cực đến phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trongcác thời kỳ lịch sử; 3) Địa chỉ khảo cổ học có giá trị têu biểu; 4) Công trình kiếntrúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc dô thị và địa điểm cư trú
có giá trị tiêu biếu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật[31]
1.1.2 Khái niệm Di tích lịch sử.
Theo từ điển Hán Việt:
Di: Sót lại, rơi lại, để lại
Tích: Tàn tích, dấu vết
Di tích: Tàn tích, dấu vết còn sót lại của quá khứ
Theo đại từ điển Tiếng Việt: di tích lịch sử là tổng thể những côngtrình,địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóađược lưu lại
Theo Luật di sản văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 11được quốc hội khóa X thông qua trong kỳ họp thứ 9 ngày 29/09/2001: “Di tíchlịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, vật cổ bảo vậtquốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử văn hóa khoa học.”
1.1.3 Khái niệm Di tích kiến trúc nghệ thuật.
Di tích kiến trúc nghệ thuật là công trình kiến trúc nghệ thuật, tổng thểkiến trúc đô thị và đô thị có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển nghệthuật kiến trúc của dân tộc Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trìnhkiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiềugiai đoạn lịch sử Các di tích tiêu biểu loại này như Chùa Bút Tháp, phố cổ Hội
An, nhà thờ PHát Diệm, chùa Keo, đình Tây Đẳng, chùa Phật Tích
Năm 2010, di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm 44,2% tổng số di tích đượcxếp hạng
1.1.4 Khái niệm Di tích thắng cảnh.
Di tích thắng cảnh (danh lam thắng cảnh) là cảnh quan thiên nhiên hoặcđịa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc cógiá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học Danh lam thắng cảnh phải có một trong cáctiêu chí sau đây:
Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quanthiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu Các di tíchquốc gia đặc biệt tiêu biểu thuộc loại này như 4 danh lam thắng cảnh khu danhthắng Tây Thiên, động Phong Nha, vịnh Ha Long
Khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đadạng sinh học , hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng nhữngdấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của Trái Đất Các di tích tiêu biểuthuộc loại này như vịnh Hạ Long, cao nguyên Đồng Văn, các vườn quốc gia vàkhu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam
Danh lam thằng cảnh chiếm khoảng 3,3% di tích được xếp hạng
1.1.5 Vai trò của Di tích
Di tích là những bằng chứng vật chứng có ý nghĩa quan trọng minh chứng
về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Di tích giúp cho con
Trang 12người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặctrưng văn hóa của đất nước và do đó tác động ngược trở lại tới việc hình thànhnhân cách con người Việt Nam hiện đại.
Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế to lớn (giá trị nhiều ngàn tỷ đồng)nếu bị mất đi không đơn thuần là mất đi tài sản vật chất, mà là mất đi những giátrị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Đồng thời, di tích còn mang ý nghĩa lànguồn lực cho phát triển kinh tế, một nguồn lực rất lớn, sẵn có nếu được khaithác, sử dụng tốt để góp phàn không nhỏ cho việc phát triển kinh tế đất nước và
nó càng có ý nghĩa to lớn hơn khi đất nước đang cần phát huy tối đa nguồn nộilực để phát triển
1.2 Không gian đền Thượng.
1.2.1 Đặc điểm địa lý.
Theo truyền thuyết và Ngọc phả có liên quan cho rằng đền Thượng đượcxây dựng từ thời An Dương Vương, đến thời Vua Lý Nhân Tông đền Thượngđược xây cất với quy mô lớn và tín ngưỡng thờ Thánh Tản Viên lan rộng khắpvùng đồng bằng Bắc bộ Theo truyền thuyết để lại, để xây dựng đền Thượng,nhà nước phong kiến đã phải huy động nguồn nhân lực rất lớn ở hai bên bờ sông
Đà, dân chúng nối tay nhau chuyển vật liệu từ sông Đà lên đỉnh núi Tản để xâyđền
Đền Thượng xưa thuộc đất Thủ Pháp, tổng Hoằng Nhuệ, huyện Bất Bạt,nay thuộc địa giới hành chính xã Ba Vì, huyện Ba Vì và nằm trong diện tích lânphần của Vườn Quốc gia Ba Vì quản lý Năm 1993 Đền Thượng đã được khởidựng lại trên mái núi thắt cổ bồng nằm trên độ cao 1.227m
1.2.2 Đặc điểm văn hóa.
Qua thời gian ngôi đền cổ không còn nữa, cho đến năm 1993, ngôi đềnđược trùng tu lại thành một ngôi đền nhỏ tựa lưng vào vách núi Đến năm 2008Đền Thượng cùng với đền Trung và đền Hạ được nhà nước công nhận là di tíchlịch sử, văn hóa cấp Quốc gia Năm 2010, Thành phố Hà Nội đã khởi công trùng
tu lại ngôi đền với quy mô khá hoàn chỉnh gồm Điện thờ chính, nhà thủ từ, nhàsẵp lễ, nghi môn, am hóa vàng…
Trang 13Ngôi đền được trùng tu lại vẫn tựa lưng vào núi tạo thế vững chãi, trangnghiêm và độc đáo, hậu cung chính là vách đá Thắt Cổ Bồng linh thiêng vàhuyền thoại có từ ngàn đời xưa Ngôi đền tuy không rộng, nhưng huyền bí, có
độ sâu thẳm về tâm linh Chính giữa ngôi Tam Bảo là tượng ĐứcThánh Tản ngựtrong long ngai sơn son thiếp vàng Bên tả là thờ Đức Thánh Trần (Hưng ĐạoĐại Vương) và bên hữu là ban thờ Tam toà Thánh Mẫu (bà mẫu Thượng ngàn)
Phía trên mái đá là những cây bách xanh cổ hàng trăm năm tuổi, cành lágân guốc nhuốm màu rêu phong của thời gian trông tựa như những con rồngđang uốn lượn trên trời xanh vươn mình ra che chở cho cả ngôi đền trước giãidầu mưa nắng giữa chốn non cao luôn lồng lộng gió thổi, mây giăng
Cách bên phải ngôi đền hơn 100m, trên vách đá cao du khách còn tận mắtchứng kiến cây bách xanh cổ thụ ngàn năm tuổi được mọc ra từ kẽ nứt trên đỉnhnúi thiêng, thân và rễ ôm toàn bộ vào vách đá
Tiểu kết
Các nội dung trong Chương 1 đã nêu lên cơ sở lý luận về di tích và kháiquát một cách chân thực nhất về di tích đền Thượng tại xã Ba Vì, huyện Ba Vì,thành phố Hà Nội Đó là nền tảng để tìm hiểu giá trị của đền Thượng
Trang 14Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ KHU DI TÍCH ĐỀN THƯỢNG TẠI XÃ BA
Thánh Tản Viên được coi là vị thánh được nhắc tới đầu tiên Có lẽ đây là
vị thánh liên quan tới truyền thuyết về việc bảo tồn, giữ gìn đất nước trong cuộcđấu tranh đối chọi với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm của dân tộc
Truyện kể về xung đột mang màu sắc “tình ái” giữa hai vị thần tượngtrưng cho hai thế lực đối chọi nhau: Thuỷ Tinh (Thần Nước), là sức mạnh tựnhiên, biểu hiện của thiên tai lũ lụt, bão tố … mà hàng năm nhân dân ta phảigánh chịu, nhất là cư dân lưu vực đồng bằng sông Hồng (mà Thăng Long làvùng chịu ảnh hưởng khá nặng nề) Còn Sơn Tinh (Thần Núi), còn gọi là ThánhTản Viên, đại diện cho sức mạnh vật chất, ý chí, sự thông minh, lòng quả cảm
và sự đoàn kết toàn dân, đã chống chọi kiên cường và chống chọi thành công vớisức huỷ diệt tàn phá của mọi thiên tai địch hoạ
Hiện có hai quan niệm và cách giải thích nguồn gốc xuất thân của TảnViên:
1 Các học giả thời phong kiến cho Tản Viên là “hạo khí anh linh của trờiđất sinh ra”, hoặc cho “là 1 trong 50 người con của Lạc Long Quân, Âu Cơ theocha xuống biển” Chàng “từ biển đi vào, qua cửa Thần Phù, ngược sông Hồngđến Long Đỗ (Hà Nội), Trấn Trạch, rồi ngược sông Lô, đến Phúc Lộc giang”
Từ đấy, “nhìn thấy núi Tản Viên cao vời, xinh đẹp, lại thêm phía dưới dânchúng thuần phác, thái bình”, nên chàng “đã làm một con đường thẳng như kẻchỉ, từ Bạch Phiên Tân lên thẳng phía Nam núi Tản Viên, tới động An Uyên, thìlập diện để nghỉ ngơi” Các tác giả Lịch triều Hiến chương (Phan Huy Chú) vàViệt sử Thông giám cương mục… cũng đều có những quan niệm tương tự
2 Trong khi đó theo quan niệm của dân gian, được thể hiện qua các bản
Trang 15thần thích thần phả ở các làng trong vùng Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh(Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ) thì Thánh Tản Viên lại là người có thực, xuấtthân từ tầng lớp nghèo khổ trong dân chúng.
Chàng tên thực là Nguyễn Tuấn, có tài “hô phong hoán vũ”, dũngcảm Sơn Tinh được Hùng Vương kén làm rể, gả con gái Mỵ Nương Sau đó,Thủy Tinh vì không được chọn, đã nổi giận đem binh đến đánh, xảy ra các cuộcchinh chiến trong nhiều năm trời Kết cục, Thủy Tinh luôn là kẻ bại trận
Truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thánh:
Truyền thuyết thời Hùng Vương về Tản Viên Sơn Thánh, có rất nhiều, cóthể kể đến: Tản Viên Sơn Thánh; Sơn Tinh Thủy Tinh; Tản Viên đón vợ; TrầnGiới, Trần Hà; Ba anh em lốt rắn; Cao Sơn và Quý Minh; Đại Hải đánh Thục;
An Dương Vương lập cột đá thề; Sơn Tinh gánh đất trị thủy;
Cuốn Ngọc phả trong đền Lăng Sương, ở xã Trung Nghĩa, huyện Thanh
Thủy, Phú Thọ kể lại gốc tích ra đời, trưởng thành của thánh Sơn Tinh, tên thật
là Nguyễn Tuấn Thân phụ ngài là ông Nguyễn Cao Hành, thân mẫu là Đinh ThịĐen, vốn là những người tu nhân tích đức nhưng hiếm muộn con cái
Trong một lần mẫu Đen (tên mà người dân trong vùng gọi thân mẫu sinhthành ra thánh Tản Viên) ra giếng gánh nước thì gặp con rồng vàng Mẫu gánhnước về tắm thì đột nhiên mang thai Người thường chỉ mang thai 9 tháng nhưngmẫu mang thai đúng 14 tháng mới sinh Đến thai kỳ thì sinh được một con trai
có tướng mạo khôi ngô nên đặt tên cho là Nguyễn Tuấn”
Truyền thuyết kể lại rằng thân mẫu Nguyễn Tuấn thường ngồi trên phiến
đá đó cúi xuống để lấy nước nên in dấu thành vết Độ sâu của giếng chỉ khoảng3m – 4m nhưng chưa bao giờ cạn nước, kể cả vào mùa khô “Vào mùa hè khôhanh, ruộng đồng khắp nơi đều cạn nước nhưng giếng này vẫn đầy nước, nhìntrong vắt”, ông Tuất nói
Khi Nguyễn Tuấn lên 6 tuổi đã mồ côi cha, sau đó hai mẹ con chuyểnsang nơi sinh nhai mới thuộc xóm Cốc ở núi Tản Viên Cũng tại đây, chàngthanh niên Nguyễn Tuấn được thần núi Ma Thị Cao Sơn nhận làm con nuôi Sau
3 năm sinh sống ở chân núi Tản, hai mẹ con lại trở về sống ở động Lăng Sương
Trang 16(đền Lăng Sương ngày nay).
Năm 12 tuổi, Nguyễn Tuấn ngày ngày vượt sông Đà sang núi Tản Viên đểđốn củi về phụ giúp thân mẫu Cứ mỗi khi quay trở lại núi vào ngày hôm sau,chàng lại thấy những cây mình chặt hôm trước mọc trở lại Thấy lạ, chàng mớiquyết định núp để tìm hiểu Nhờ đó mà Nguyễn Tuấn gặp được ông Tử Vi thầntướng Bạch Tuyết – chính là người đã làm cho các cây gỗ bị chặt mọc lại Thấychàng trai trẻ Nguyễn Tuấn có tướng mạo khôi ngô tuấn tú, Tử Vi thần tướng đãtruyền lại cho chàng cây gậy đầu sinh đầu tử Trên đường qua sông về nhà,Nguyễn Tuấn nhìn thấy con trai vua Thủy Tề bị tử nạn, chàng đã sử dụng câygậy thần, cứu mạng con vua Thủy Tề
Cảm kích ơn cứu mạng, vua Thủy Tề dâng vàng bạc châu báu để trả ơnnhưng Nguyễn Tuấn đều từ chối Khi nhìn thấy cuốn sách ước – một bảo vật củavua Thủy Tề, Nguyễn Tuấn ngỏ ý xin ban tặng nhưng vua Thủy Tề từ chối vì đó
là bảo bối quý hiếm
Mặc dù nhà vua từ chối nhưng người con trai quyết trả ơn cho NguyễnTuấn, bèn đánh cắp cuốn sách để tặng cho vị ân nhân Vua Thủy Tề biết được,liền dâng nước và quân đội lên để đòi lại sách quý Tuy nhiên, có trong tay cuốnsách bảo bối, Nguyễn Tuấn đã đẩy lùi đạo quân sóng nước
Người vợ của Nguyễn Tuấn sau này là con gái Hùng Vương Khi lấyđược công chúa, Nguyễn Tuấn được vua cha truyền lại ngôi báu Sau đó,Nguyễn Tuấn đã nhường lại ngôi cho Thục Phán An Dương Vương, từ đó nước
Âu Lạc ra đời
Với công lao đẩy lùi thủy hạn, an dân hộ quốc, sau này, nhân dân địaphương đã lập đàn thờ và tôn ngài thành Tản Viên Sơn Thánh Sơn Tinh cũng lànhân vật đầu tiên trong Tứ Bất Tử của nước ta
Những tích bút ghi cho thấy một giả thiết khác về nguồn gốc xuất thâncủa Đức thánh Tản Viên (Sơn Tinh), nhiều tình tiết có phần khác hẳn với truyềnthuyết Sơn Tinh vốn đã lưu truyền trong dân gian từ trước đến nay
Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh:
Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh, kể rằng: Vua Hùng thứ 18 sinh được 20
Trang 17người con trai và 6 nàng con gái lần lượt qua đời, chỉ còn lại Tiên Dung côngchúa và Ngọc Hoa công chúa Tiên Dung đã lấy Chử Đồng Tử còn Ngọc Hoachưa lấy ai Ngọc Hoa xinh đẹp da ngà mặt ngọc, xinh đẹp tuyệt vời, được vuacha rất yêu quí Vua Hùng lập lầu kén rể Sơn Tinh và Thủy Tinh nghe tin, cùngtìm đến thi tài Sơn Tinh, Thủy Tinh đều có tài nghệ hơn người, hình dung tuấntú.
Trước lầu cao có vua Hùng và Ngọc Hoa ngự Thủy Tinh thi trước, ra oaigọi gió, hô mưa, chợt thấy mưa rơi sầm sập, sấm nổ vang ầm ĩ, trời đất tối tăm,bốn bề nước réo, cây nghiêng núi ngả, muôn loài đều khiếp sợ, người và muôngthú vội tìm chỗ trú ẩn cho kín, ai nấy nín hơi ngậm miệng không dám ló ra Đếnlượt Sơn Tinh, chàng giơ cao chiếc gậy thần, lập tức sét câm, mưa trốn, trờitrong mây sáng, cây cỏ lại xanh tươi, chim hót hoa cười, rõ ra cảnh tượng mùaxuân hòa vui ấm áp
Vua Hùng thấy cả hai chàng trai đều có tài lạ, không biết gả Ngọc Hoacho ai, trong dạ phân vân, mới thách đồ dẫn cưới phải có “voi 9 ngà, gà 9 cựa,ngựa 9 hồng mao” và hẹn rằng ngày mai ai đem đồ lễ tới trước thì sẽ được đóncông chúa về làm vợ Cả hai chàng Sơn Tinh và Thủy Tinh vái tạ nhà vua, vội
vã ra về lo sửa soạn đồ sính lễ
Sơn Tinh, nhờ có cuốn sách ước vua Thủy Tề tặng, nên tuy ở ngay tạithành Phong Châu, nhưng chỉ việc mở sách ước ra là có đủ các vật quí, lạ củanúi rừng sông bể, đủ cả “voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao” như vua Hùng
đã thách Trời chưa sáng, Sơn Tinh sợ trùng trình Thủy Tinh kéo đến, mới giảtiếng gà gáy Tức thì, gà khắp vùng gáy theo inh ỏi Cửa thành mở rộng
Sơn Tinh vào chầu vua Hùng, tiến dâng lễ vật và được vua Hùng cho đónNgọc Hoa về nhà trai Đám rước dâu vừa tới làng Trẹo (nay là thôn Triệu Phú,
xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, gần Đền Hùng) thì gặp Thủy Tinh đang đốcthúc quân gia khiêng các lễ vật tới Thấy Sơn Tinh đã đón Ngọc Hoa, Thủy Tinhnổi giận đùng đùng, vứt tung lễ vật rơi vãi khắp nơi, rồi thét quân xông tới cướpNgọc Hoa Hai bên giao chiến một trận dữ dội
Lúc đó trời đất bỗng tối sầm, chỉ thấy ánh chớp sáng lòe, tiếng sét đánh