MỞ ĐẦU LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên em xin kính gửi đến cô Ths. Trần Thị Phương Thúy lời cảm ơn trân thành và sâu sắc nhất. Cảm ơn cô đã nhiệt tình, chu đáo chỉ bảo, hướng dẫn cho em trong suốt quá trình làm bài tiểu luận. Cô đã giúp đỡ em rất nhiều khi em gặp những khó khăn và thắc mắc. Em cũng muốn kính gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Văn hóa Thông tin và Xã hội đã nhiệt tình giúp đỡ cũng như tạo mọi điều kiện thuân lợi nhất cho chúng em trong suốt quá trình học tập Đây là lần đầu tiên làm quen với công việc nghiên cứu về các dân tộc thiểu số ít người ở Việt Nam, trong quá trình viết, do còn thiếu điều kiện và kiến thức còn hạn chế, bài tiểu luận sẽ không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết. Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô để bài tiểu luận hoàn thiện hơn. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong nhiều năm trở lại đây, dưới tác động của các điều kiện kinh tếxã hội, nhất là sự tác động của kinh tế thị trường làm cho đời sống văn hoá và các phong tục tập quán truyền thống đã có những thay đổi về nhiều mặt cả tích cực và tiêu cực làm ảnh hưởng nhiều đến việc gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống dân tộc. Vì vậy, việc nghiên cứu các phong tục tập quán truyền thống, đặc biệt là các dân tộc thiểu số được đặt ra như một nhiệm vụ cấp thiết. Cho đến nay, người Khơmú ở Việt Nam không đông. Cả nước có 56.542 người (năm 1999), trong đó trên địa bàn tỉnh Yên Bái, người Khơmú có hơn 1.000 người. Văn Chấn là huyện duy nhất trong tỉnh có nhiều người Khơmú sinh sống. Do tác động của nền kinh tế thị trường, do có sự giao thoa văn hóa của các tộc người sống xen kẽ, những năm qua vấn đề tín ngưỡng văn hóa của người Khơmú đã có nhiều thay đổi theo những chiều hướng khác nhau. Đặc biệt là đã bắt đầu xuất hiện một số vấn đề làm ảnh hưởng đến gìn giữ bản sắc của người Khơ mú ở Yên Bái. Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tập trung nghiên cứu tín ngưỡng văn hóa của người Khơmú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Luận văn sẽ góp phần nâng cao nhận thức về văn hoá truyền thống của người Khơmú nói chung, ở Văn Chấn nói riêng. Từ đó, thấy được những giá trị tích cực cũng như những yếu tố không còn phù hợp trong quá trình xây dựng đời sống văn hoá mới. Đồng thời có thêm luận cứ khoa học giúp cho các nhà quản lý ở địa phương có thêm cơ sở khoa học trong việc hoạch định chính sách và tìm ra các giải pháp thích hợp trong việc bảo lưu, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị T.W 5, khoá 8 về Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Với lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu tín ngưỡng văn hóa của người Khơ Mú để làm rõ tín ngưỡng văn hóa độc đáo của người Khơ Mú, những hiện trạng và những giải pháp khắc phục đưa văn hóa tín ngưỡng của người Khơ Mú ngày càng phát triển, cũng qua đó giữ lại bản sắc độc đáo của tín ngưỡng văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số của đất nước ta.
Trang 1MỞ ĐẦU LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin kính gửi đến cô Ths Trần Thị Phương
Thúy lời cảm ơn trân thành và sâu sắc nhất Cảm ơn cô đã nhiệt tình, chu đáo chỉ bảo, hướng dẫn cho em trong suốt quá trình làm bài tiểu luận Cô đã giúp đỡ em rất nhiều khi em gặp những khó khăn và thắc mắc Em cũng muốn kính gửi lời cảm ơn đến các thầy
cô giáo trong khoa Văn hóa Thông tin và Xã hội đã nhiệt tình giúp
đỡ cũng như tạo mọi điều kiện thuân lợi nhất cho chúng em trong suốt quá trình học tập Đây là lần đầu tiên làm quen với công việc nghiên cứu về các dân tộc thiểu số ít người ở Việt Nam, trong quá trình viết, do còn thiếu điều kiện và kiến thức còn hạn chế, bài
tiểu luận sẽ không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết Vìvậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô để bài tiểu luận hoàn thiện hơn
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong nhiều năm trở lại đây, dưới tác động của các điều kiện kinh tế-xã hội, nhất là sự tác động của kinh tế thị trường làm cho đời sống văn hoá và các phong tục tập quán truyền thống đã
có những thay đổi về nhiều mặt cả tích cực và tiêu cực làm ảnh hưởng nhiều đến việc gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống dân tộc Vì vậy, việc nghiên cứu các phong tục tập quán truyền
thống, đặc biệt là các dân tộc thiểu số được đặt ra như một nhiệm
vụ cấp thiết
Cho đến nay, người Khơ-mú ở Việt Nam không đông Cả nước
có 56.542 người (năm 1999), trong đó trên địa bàn tỉnh Yên Bái, người Khơ-mú có hơn 1.000 người Văn Chấn là huyện duy nhất trong tỉnh có nhiều người Khơ-mú sinh sống Do tác động của nền kinh tế thị trường, do có sự giao thoa văn hóa của các tộc
người sống xen kẽ, những năm qua vấn đề tín ngưỡng văn hóa của người Khơ-mú đã có nhiều thay đổi theo những chiều hướng
Trang 2khác nhau Đặc biệt là đã bắt đầu xuất hiện một số vấn đề làm ảnh hưởng đến gìn giữ bản sắc của người Khơ- mú ở Yên Bái
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tập trung nghiên cứu tín ngưỡng văn hóa của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Luận văn sẽ góp phần nâng cao nhận thức về văn hoá truyền thống của người Khơ-mú nói chung, ở Văn Chấn nói riêng Từ
đó, thấy được những giá trị tích cực cũng như những yếu tố
không còn phù hợp trong quá trình xây dựng đời sống văn hoá mới Đồng thời có thêm luận cứ khoa học giúp cho các nhà quản lý ở địa
phương có thêm cơ sở khoa học trong việc hoạch định chính sách và tìm ra các giải pháp thích hợp trong việc bảo lưu, gìn giữ vàphát huy bản sắc văn hoá dân tộc, theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị T.W 5, khoá 8 về Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Với lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu tín ngưỡng văn hóa của người Khơ Mú để làm rõ tín ngưỡng văn hóa độc đáo của người Khơ Mú, những hiện trạng và những giải pháp khắc phục đưa văn hóa tín ngưỡng của người Khơ Mú ngày càng phát triển, cũng qua đó giữ lại bản sắc độc đáo của tín ngưỡng văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số của đất nước ta
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Cho đến nay, đã có một số các tác giả người nước ngoài nghiên cứu về người Khơ-mú nhưng chủ yếu về người Khơ-mú ở Lào và Thái Lan, ở Việt Nam còn rất ít, ngoại trừ công trình Études Ethnographiques sur les Khas, Revue Indochinoise, 1907, của Macey và bài viết Chương trong văn học dân gian, trong lịch sử và tiềm thức của người Khơ-mú của TS Frank Proschan Tuy
nhiên, so sánh với các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ
Môn-Khơme miền Bắc, thì Khơ-mú cũng là tộc người được nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm, chú ý Ngay sau 1954, người
Trang 3Khơ-mú được nhiều người biết đến qua các báo cáo của Ban Dân tộcKhu Uỷ Tây Bắc với tộc danh là Xá.
Bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ trước, các công trình
nghiên cứu có liên quan đến người Khơ-mú bắt đầu được công bố như: Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam, 1963 và
Sự phân bố dân tộc và nhóm dân cư ở miền Bắc Việt Nam, 1966 của Vương Hoàng Tuyên
Từ sau 1975, người Khơ-mú ngày càng được giới thiệu nhiều hơn trong các công trình, bài viết, tiêu biểu như: Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam do Đặng
Nghiêm Vạn chủ biên, Nxb Khoa học xã 3 hội H, 1972; Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) của Viện Dân tộc học, Nxb Khoa học xã hội, H, 1978; Dân tộc Khơ-mú ở Việt Nam doKhổng Diễn chủ biên, Nxb Văn hoá Dân tộc, H, 1999; Người
Khơ-mú do Chu Thái Sơn chủ biên, Nxb Trẻ -2006; Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An của Nguyễn Đình Lộc, Nxb Nghệ An, 1993; Đặc trưng văn hoá và truyền thống cách mạng các dân tộc ở Kỳ Sơn,Nghệ An do Phạm Quang Hoan chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1995; Xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam của Viện Dân tộc học, Nxb, Khoa học xã hội, H, 1975; Góp phần nghiên cứu bản lĩnh, bản sắc các dân tộc Việt Nam của Viện Dân tộc học, Nxb, Khoa học xã hội, H, 1980; Sổ tay các dân tộc ở Việt Nam của Viện Dân tộc học, Nxb, Khoa học xã hội, H, 1983; Dân tộc và bản sắc văn hoá vùng Văn Chấn, Mường Lò củaBùi Huy Mai, Nxb Văn hoá Dân tộc, H, 2007… Trong các công trình, bài viết kể trên, người Khơ-mú đã được giới thiệu khá đầy
đủ từ góc độ tộc danh, dân số, địa bàn cư trú cho đến các hoạt
động kinh tế truyền thống, các dạng thức văn hoá cổ truyền của
họ Tuy nhiên, cho đến nay vẫn thiếu vắng một khảo cứu mang tính chuyên sâu về phong tục hôn nhân và cưới xin của họ Đặc biệt,
Trang 4vẫn còn rất ít các công trình, bài viết riêng về người Khơ-mú ở Văn Chấn nói chung, và tín ngưỡng văn hóa của họ nói riêng.
MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích
Đánh giá thực trạng và tìm ra những giải pháp gìn giữ, phát huy những giá trị văn hoá trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
Nhiệm vụ
Làm rõ những giá trị văn hoá trong hôn nhân và cưới xin của người Khơ- mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái cần phát huy và những hạn chế Đề xuất giải pháp để phát huy giá trị văn hoá trong hôn nhân
và cưới xin của người Khơ-mú ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG CỦA DÂN TỘC KHƠ MÚ
1 Tên gọi, dân số, địa bàn cư trú:
- Người Khơ-mú là một trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Cho đến nay, dân số người Khơ-mú ở Việt Nam không đông Theo
số liệu thống kê năm 1999,dân tộc Khơ-mú có 56.542 người, đứng thứ 23 trong 54 các dân tộc Việt nam Họ chủ yếu cư trú tại các tỉnh: Nghệ An, Thanh Hóa, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái Khơ-
mú là một trong sáu tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ
Môn-Khơ-me (của Ngữ hệ Nam Á) miền Bắc Việt Nam
- người Khơ-mú còn được các dân tộc gọi bằng những tên khác nhau: Xá Cẩu, Khá Klẩu, Mảng Cẩu (người búi tóc ngược), Tềnh, Phu Thênh (người ở trên núi cao), Tày Hạy (người chuyên làm nương), Mứn Xen (ngàn vạn) v.v… Sau đợt xác minh
thành phần dân tộc (1968-1978), Khơ-mú trở thành tên gọi
chính thức, được ghi trong Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam, công bố năm 1979
Trang 52 Lịch sử tộc người
- lịch sử của người Khơ-mú ở Tây Bắc Việt Nam, trước đây có
ý kiến cho rằng cùng với người Kháng, Xinh-mun, 7 Mảng,
Khơ-mú cũng là một trong những cư dân bản địa đã cư trú lâu đời ở vùng núi Tây Bắc Ý kiến này được trình bày trong tài liệu “Báo cáo về tình hình người Xá Cẩu” của Ban Dân tộc Tây Bắc năm 1954
Sau này, Lã Văn Lô, Vương Hoàng Tuyên cũng có nhắc lại trong các bài viết của mình Theo truyền thuyết trong truyện “Quảbầu” của Người Thái Tây Bắc cũng kể rằng: Tổ tiên của người Khơ-mú và người Thái đều chui ra từ một quả bầu nhưng người Khơ-mú thì chui ra trước theo lỗ dùi bằng sắt nhọn, nên có màu da
đen, còn tổ tiên người Thái thì chui ra sau bằng lỗ dao khoét, nên có màu da trắng hơn
- Tuy nhiên, ngay từ đầu đã có những ý kiến nghi ngờ về quan điểm người Khơ- mú là cư dân bản địa miền Tây Bắc nói trên Sau những đợt điền dã ở vùng Tây Bắc từ những năm 1960, GS.Đặng Nghiêm Vạn đã đưa ý kiến nghi ngờ này trên tạp chí
Nghiên cứu Lịch sử số 78/1965 và chứng minh rằng Khơ-mú
không phải là cư dân bản địa miền Tây Bắc, mà họ mới di cư
từ Lào 8 sang Việt Nam cách đây hơn 200 năm Đến nay, với những
tư liệu và tài liệu thu thập được, ý kiến này vẫn phù hợp Về mặt nhân chủng, khi so sánh người Khơ- mú với người Kháng và người La Ha, Nguyễn Đình Khoa cũng nhấn mạnh, ở người Khơ-mú, yếu tố Inđônêdiêng trội hơn yếu tố Nam Á, mặc dù yếu
tố Inđônêdiêng ở họ cũng đang mờ dần
- nguồn gốc của người Khơ-mú là từ Lào (tập trung ở Luông Pra Băng với các vương quốc Swa/Saowa), nhưng sau này người Thái do tù trưởng Khun Bo Rôm cùng con trai là Khun Lò tràn từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống đánh chiếm, cộng thêm các cuộc xâm lược từ bên kia sông Mê Công của phong kiến Xiêm thế kỷ
XVII-XVIII, nên họ phải chạy sang các nước láng giềng lánh
Trang 6nạn, trong đó có miền Tây Bắc, miền núi Thanh - Nghệ và cả Bắc Thái Lan Sau này, với mong muốn khôi phục lại vương quốc, thủ lĩnh Chương Han mới tổ chức lực lượng đánh chiếm nhiều nơi, gọi là nạn giặc Chương (xấc Chương), trong đó có nhiều lần đánh sang cả Mường Lay (Lai Châu), Kỳ Sơn (Nghệ An) vào những năm cuối thế kỷ XIX Sau khi Chương Han thất bại, những người theo ông phải ở lại Việt Nam và chịu thân phận cuông, nhốc (tức là nô lệ, tôi tớ) cho các lãnh chúa Thái.
3 Đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội của người Khơ Mú:
- Hầu hết người Khơ-mú đều lấy canh tác nương rẫy làm nguồnsống chính Ngoài trồng lúa, bà con còn trồng các loại ngô, sắn, bầu
bí, cây ăn quả Công việc hái lượm, săn bắt, đánh bắt cá còn chiếm vị trí khá quan trọng trong đời sống hàng ngày Ngoài ra chănnuôi gia súc, gia cầm phổ biến ở hầu hết trong các gia đình
Nghề thủ công truyền thống phát triển nhất là đan lát với nhiều sản phẩm đan có tiếng như mâm mây, gùi, ghế và các đồ gia dụng khác Trao đổi chủ yếu diễn ra trong nội bộ và với người Thái Trước kia, trao đổi chủ yếu dưới hình thức vật đổi vật, nay phổ biến dùng tiền
- Xã hội cổ truyền của người Khơ-mú được tổ chức theo thiết chế bảnmường của người Thái Các bản Khơ-mú đều trực thuộc mường, nhưng vẫn được duy trì việc tự quản theo tập quán truyền thống Mỗi bản có trưởng bản Khun cung (cha truyền con nối, do bầu bán hay do chỉ định) đứng đầu điều hành, quản lý Hằng năm,mỗi bản phải chịu cống nạp và lao dịch theo lệ mường quy định Ngoài ra, còn phải nộp các loại thuế cho chúa đất mường là người Thái Từ trước tới nay, người Khơ-mú thường ở thành từng bản làng, vẫn có tập quán ở nhà sàn, kiểu nhà hình khum mai rùa Do du canh du cư, nên kiểu nhà truyền thống của họ thường
chỉ làm bằng các loại gỗ tạp, ba gian, lợp tranh hay lá cọ, đầu hồi có trang trí khau cút hình chéo Thông thường có hai bếp:
Trang 7bếp dành để nấu ăn hàng ngày và một bếp chỉ dùng để nấu nướng khi giỗ tổ họ hay khi làm nhà lớn Nơi thờ ma nhà thường bố trí thành một gian riêng tại hồi phía sau Sau này, nhiều bản đã định cư, nên nhà cửa có phần khang trang hơn
Trừ một số nơi có nghề dệt, còn lại hầu hết người Khơ-mú
thường đem các sản phẩm đan lát đổi lấy vải của người Thái về
sử dụng Hiện nay, ở Điện Biên, Lai Châu, phụ nữ Khơ-mú còn mặc váy đen và kiểu áo truyền thống có trang trí hàng cúc bạc hay nhôm hình chữ nhật, đội khăn đen kiểu khăn piêu; còn lại
thường mặc y phục kiểu phụ nữ Thái, thường đeo các đồ trang sứcbằng bạc, nhôm như: vòng cổ, vòng tay, khuyên tai; Đàn ông Khơ-
mú mang trang phục của người Thái hoặc trang phục của người Kinh và thường đội mũ đen
Với người Khơ-mú, hình thức gia đình cũng giống như người Việt, đó là quá trình phát triển từ hình thức đại gia đình đến gia đình hạt nhân Trong qua trình phát triển của xã hội, hình thức đại gia đình ngày càng giảm dần, thay vào đó là gia đình hạt nhân, gia đình nhỏ với hai thế hệ vợ chồng và con cái Gia đình người
- Khơ-mú là gia đình phụ quyền, người chồng, người cha là người chủ gia đình, có vai trò quan trọng nhiều mặt của cuộc sống: có quyền hành lớn, quyết định mọi việc từ làm ăn, cưới xin,tang ma đến công việc tín ngưỡng Đồng thời, họ còn là
người thay mặt gia đình quan hệ với họ hàng, làng xóm và các
tổ chức xã hội, với chính quyền địa phương Mọi tài sản trong nhà, kể cả ruộng nương, trâu bò, công cụ sản xuất đều do người đàn ông là người chủ nắm giữ Quyền lực này sẽ được bàn giao lại cho con trai cả khi đã trưởng thành đảm đương, người cha chỉ đóng vai trò cố vấn và lo việc đối ngoại Bên cạnh quyền lực thực
tế của người chồng người cha được xã hội ghi nhận, người phụ nữ
(người mẹ) trong gia đình người Khơ-mú có vai trò quan trọng trong đời sống gia đình và sản xuất, từ việc tham gia lao
động sản xuất trên nương, ngoài ruộng đến các công việc nội chợ
Trang 8trong gia đình, nuôi dạy con cái… ngoài việc tham gia lao động nặng nhọc, người phụ nữ đảm nhận lớn hơn nam giới rất nhiều Tuy nhiên trong xã hội truyền thống của người Khơ-
mú, người phụ nữ hầu như không có quyền hành gì lớn trong gia đình
- Gia đình người Khơ-mú là nơi bảo tồn các gía trị văn hóa
truyền thống, là nơi trao truyền các truyền thống tộc người trongvăn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Trước kia, người Khơ-mú ở Văn Chấn chủ yếu ở nhà sàn hoặc nhànửa sàn nửa đất Do du canh du cư, nên ngôi nhà của họ cũng mangtính tạm bợ, chủ yếu dựng bằng các loại gỗ tạp, lợp gianh, vách nứa.Hiện nay, nhà ở cũng phong phú hơn, bên cạnh những ngôi nhà sàntruyền thống, bà con cũng dựng những ngôi nhà đất giống ngườiKinh, hoặc nhà sàn đổ cột bê tông, có tường xây, gạch lát nền, gầmsàn lát xi măng
+ Trang phục của người Khơ-mú ở Văn Chấn cũng không có gì đặcbiệt bởi họ không duy trì nghề dệt vải Trước kia, y phục của nam nữKhơ- mú cơ bản giống như bộ y phục của người Thái Đen Mường
Lò Hiện nay, nam giới chủ yếu mặc âu phục như người Kinh, nữvẫn mặc theo kiểu y phục phụ nữ Thái
+ Ẩm thực của người Khơ-mú cũng đơn giản trên cơ sở tự cung tựcấp Người Khơ-mú rất thích ăn cay, ăn đồ nướng Món ăn đặc trưngnhất của họ là thịt lam nhoọc (thịt chuột, sóc sấy khô nấu trộn vớitấm) Họ cũng thích ăn món ruột non (nậm pịa) như người Tháitrong vùng Cũng giống như nhiều dân tộc miền núi khác, ngườiKhơ-mú Nghĩa Sơn thường xuyên uống rượu cần và rượu nếp do họ
tự cất ủ theo kiểu riêng của mình Trong đời sống văn hóa của ngườiKhơ-mú, ruợu cần có vị trí và vai trò quan trọng Nghi thức cúngrượu cần được sử dụng trong những sự kiện quan trọng của gia đình,
đó là lễ lên nhà mới, lễ cưới và lễ rước hồn mẹ lúa Rượu cần chỉcúng cho tổ tiên và trong lễ hội Xên bản, Xên mường
- Tiểu kết chương I: qua chương I chúng ta có thể thấy nguồn gốc,
Trang 9lịch sử tộc người Khơ Mú Ngoài ra chúng ta cũng có thể thấy đượcđặc điểm kinh tế văn hóa xã hội của người Khơ Mú vô cùng đặc sắc
và phong phú
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC
1 tín ngưỡng trong gia đình:
• Cũng giống như các vùng khác, tín ngưỡng dân gian củangười Khơ- mú Nghĩa Sơn khá sâu đậm Họ vừa có ý thứctín ngưỡng riêng của dân tộc 18 mình, lại vừa chịu sự chiphối, giao thoa của tín ngưỡng bản địa các dân tộc lân cận,đặc biệt là dân tộc Thái Đồng bào cho rằng: mọi hoạt độngtrong cuộc sống thường ngày của mình đều do lực lượng siêunhiên giám sát, chi phối Lực lượng “siêu nhiên” ấy được gọichung là ma, trong đó ma trời (Hrôi Lvang) là to nhất, đángtôn trọng và đáng sợ nhất Ma trời có nhiều ma khác nhaugiúp việc như ma sấm, ma mưa gió nên nếu mà trời giận thì
sẽ rất nguy hiểm Sau ma trời là ma đất (Hrôiptê), dướiquyền ma đất là ma nương, ma rừng, ma bản… Loại thứ ba
là ma Thuồng Luồng
• ma tượng trưng cho nguồn nước, sông suối (Prưdồng).Thuồng Luồng có quyền uy nằm ở những vũng nước lớn đểđiều hành lượng nước cần thiết cho con người Ma thứ tư là
ma Hổ (Rvai) là chúa tể của rừng núi, cai quản tinh linh củamuôn loài thú vật Đó là bốn loại ma quan trọng nhất mà bất
cứ dịp cúng lễ nào cũng được nhắc tới Bốn ma to này cùngvới ma nhà và ma Tổ tiên (của thị tộc, dòng họ) có thể trừngphạt hay phù hộ con cháu bất cứ lúc nào tuỳ theo cách đối xửcủa con cháu Tục thờ vật tổ (tô tem) cũng in đậm ở ngườiKhơ-mú cho đến tận ngày nay Mỗi khi lễ tết, hội hè họ sẽhoá trang giống hình thù con vật hay cây cối mang dòng họcủa mình để tham gia cùng cộng đồng Trong dịp cúng tổ
Trang 10tiên, các dòng họ đều diễn lại những đặc điểm của dòng họmình khi xưa Ngoài lễ cúng ma nhà, người Khơ-mú còn cótục lệ cúng ma bản, ma làng Ma làng được bà con quan niệm
là linh hồn của những người có công lập nên làng bản trongthuở ban đầu Ngoài ra, dân bản còn tổ chức cúng ma trờiđất, ma sông suối, ma tà, ma độc (gọi chung là ma đến ăn).Các nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp cũng rấtđược người Khơ-mú coi trọng và thực hiện khá đầy đủ Tùytính chất và nhu cầu, đặc điểm, thời gian mà những nghi lễđược tổ chức thích hợp
2 các lễ hội, phong tục:
- Lễ cầu mưa: Người Khơ-mú sợ nhất là vào mùa nương rẫy mà hạnhán, nên trước mùa nương rẫy bà con mở hội “cầu mưa” Cách cầumưa của họ không chỉ là các hình thức ma thuật, bắt chước, diễn lạihiện tượng mưa rơi (vảy nước, tuốt lá thể hiện tiếng mưa), mà còn làlàm các điều “xúi quẩy” vào chỗ linh thiêng ở nương để “chọc tức”trời hay ma hạn hán (hrôi nhan) bực mình mà đổ mưa xuống Lễ trahạt: Lễ này được tiến hành sau khi đốt rẫy ba ngày chủ nhà phải làmmột khu rẫy tượng trưng rộng khoảng 2m2 rồi trồng khoai sọ vàobốn góc Sau đó mổ một con gà trống luộc chín cùng với chai rượu,trầu cau đặt lên mâm để cúng và đọc thần chú cầu mong thần linhphù hộ cho hạt mọc đều, chim muông không đến phá phách…
- Lễ cúng hồn lúa, mẹ lúa: Người Khơ-mú cho rằng lúa có hồn vàphải giữ được hồn của nó thì lúa mới chắc, mới cho con người thuhoạch có kết quả Nếu hồn lúa bỏ đi là lúa hỏng hết Lễ này được tổchức vào một ngày tốt trong tháng 9 âm lịch bên cạnh kho thóc vừadựng lên trên nương rẫy Thầy cúng thay mặt gia đình vào hành lễ,mời hồn lúa vào kho Sau lễ này gia đình mới được phép thu hoạchlúa trên nương rẫy của mình
- Lễ cúng cơm mới: Đây là nghi lễ quan trọng trong năm sau lễ cúng
ma nhà và lễ cúng ma bản Nó thể hiện lòng biết ơn của con ngườiđối với lực lượng siêu nhiên đã cho họ một mùa thu hoạch Lễ được
Trang 11tổ chức trước hoặc sau khi thu hoạch mùa màng tuỳ theo từng vùng
3 văn nghệ dân gian:
Trước hết là phải nói đến những truyền thuyết, sự tích về nguồngốc tộc người, nguồn gốc dòng họ như chuyện “Quả Bầu”chuyện “T góoc”, chuyện “Chim én”, chuyện “Chim chìa vôi”,chuyện “Cây dương xỉ”…
Ngoài ra, người dân cũng sở hữu một kho tàng ca dao, tục ngữ,câu đố, truyện cười, truyện cổ tích phong phú 20 Người dânKhơ-mú trong bản còn lưu truyền những làn điệu dân ca của dân tộcnhư “Mưa rơi”, “hát tơm” (hát đối đáp vào những dịp mừng nhàmới, đón năm mới, đám cưới ), “hát cơnchơ” (hát ở trên rừng đểgọi tình yêu, nhớ người yêu, ca ngợi cảnh thiên nhiên, hát động viêntrong lao động, đi đường )
Những nhạc cụ người Khơ-mú thường dùng như “Thằm đaođao”, “Đàn trống”; “Đàn môi”; “Sáo dọc pi tơn”, “Sáo dọc pi tót”;
“Sáo thổi bằng mũi”; “Sáo nhiều ống”; “Đàn dây”; “Khèn bè”;
“Cồng chiêng” Người Khơ-mú cũng thích nhảy múa trongnhững dịp lễ tết hội hè và họ đã có những điệu múa được nhiềungười biết đến như “múa tăng bu”, “múa cá lượn” (hay còn gọi là
“múa giao duyên”)
Đó là những hình thức sinh hoạt văn nghệ dân gian khá độc đáocủa người Khơ-mú có từ thuở xa xưa và đến nay vẫn còn tồn tạitrong các bản làng
-Tiểu kết chương II: qua chương II chúng ta có thể thấy đời
sống văn hóa tinh thần của dân tộc Khơ Mú vô cùng phong phú vàđặc sắc, người Khơ Mú có một đời sống văn hóa tinh thần mang bảnsắc dân tộc vô cùng phong phú và đặc sắc
CHƯƠNG III: NHỮNG VẤN ĐỀ TRONG VIỆC BẢO TỒN TRONG TÍN NGƯỠNG CƯỚI XIN CỦA NGƯỜI KHƠ MÚ:
1 Những vấn đề chung trong hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Khơ Mú: