MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DÂN TỘC HRÊ 3 1 Khái quát chung về tộc người: 3 1.1 Nguồn gốc lịch sử: 3 1.2 Ngôn ngữ chữ viết: 3 1.3 Địa bàn cư trú: 3 1.4 Hoạt động sản xuất: 3 1.5 Thực phẩm: 4 1.6 Nhà cửa: 4 1.7 Trang phục: 5 1.8 Văn hóa: 5 1.9Tổ chức xã hội 5 CHƯƠNG II. KẾT QUẢ TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC HRÊ 7 2.1 Hôn nhân của dân tộc Hrê: 7 2.2Tín ngưỡng trong sinh đẻ 9 2.3 Tín ngưỡng tang ma 10 2.4 Lễ tết truyền thống của dân tộc Hrê 13 2.5 Tín ngưỡng trong lễ đâm trâu của người Hrê 14 2.6 Tín ngưỡng cúng lúa mới 17 2.7 Lễ cúng bến nước 18 2.8 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 20 CHƯƠNG III. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC BẢO TỒN CÁC GIÁ TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC HRÊ 21 3.1 Thực trạng trong tín ngưỡng của Dân tộc Hrê 21 3.2 Những giải pháp bảo tồn 23 KẾT LUẬN 26 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 28 PHỤ LỤC
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho em xin kính gửi lời cảm ơn trân thành và sâu sắc nhấtđến ThS Trần Thị Phương Thúy Cảm ơn Cô vì sự tận tình, tâm huyết chỉ bảohướng dẫn trong suốt quá trình làm bài tiểu luận Cô đã nhiệt tình chỉ bảo và giảiđáp những thắc mắc trong quá trình làm bài làm bài tiểu luận cũng như suốt quátrình học tập vừa qua Em xin kính gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trongKhoa Văn hóa Thông tin và Xã hội đã nhiệt tình giúp đỡ cũng như tạo mọi điềukiện thuận lợi nhất cho chúng em trong suốt quá trình học tập
Đây là lần đầu tiên em được làm quen với công việc nghiên cứu về cácdân tộc thiểu số Việt Nam Trong quá trình thực hiện do kiến thức và kinhnghiệm còn hạn chế, bài tiểu luận sẽ không tránh khỏi những sai sót và hạn chế
Vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để bàitiểu luận được hoàn thiện hơn
Trang 2MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DÂN TỘC HRÊ 3
1 Khái quát chung về tộc người: 3
1.1 Nguồn gốc lịch sử: 3
1.2 Ngôn ngữ chữ viết: 3
1.3 Địa bàn cư trú: 3
1.4 Hoạt động sản xuất: 3
1.5 Thực phẩm: 4
1.6 Nhà cửa: 4
1.7 Trang phục: 5
1.8 Văn hóa: 5
1.9Tổ chức xã hội 5
CHƯƠNG II KẾT QUẢ TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC HRÊ 7
2.1 Hôn nhân của dân tộc Hrê: 7
2.2Tín ngưỡng trong sinh đẻ 9
2.3 Tín ngưỡng tang ma 10
2.4 Lễ tết truyền thống của dân tộc Hrê 13
2.5 Tín ngưỡng trong lễ đâm trâu của người Hrê 14
2.6 Tín ngưỡng cúng lúa mới 17
2.7 Lễ cúng bến nước 18
2.8 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên 20
CHƯƠNG III NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC BẢO TỒN CÁC GIÁ TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC HRÊ 21
3.1 Thực trạng trong tín ngưỡng của Dân tộc Hrê 21
3.2 Những giải pháp bảo tồn 23
KẾT LUẬN 26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 28 PHỤ LỤC
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài: Dân tộc Hrê là một trong 54 dân Việt Nam sinh sốnglâu đời tại vùng Trường Sơn- Tây Nguyên Ngoài việc đảm bảo đời sống vậtchất trong sinh hoạt, mỗi dân tộc đều phải tìm ra những biện pháp để chăm logiữ gìn và phát triển đời sống tinh thần cho dân tộc nói chung và cá nhân nóiriêng Người Hrê cũng vậy, họ luôn muốn tìm ra những biện pháp làm sao đểgiữ gìn và phát triển một đời sống văn hóa lành mạnh, tiên tiến nhưng vẫn đậm
đà bản sắc dân tộc,giữ gìn và phát huy những nét văn hóa tín ngưỡng tốt đẹp củadân tộc chính là góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần cũng như giữđược những nét riêng biệt không bị hòa tan trong những nền văn hóa khác trênthế giới.Tín ngưỡng là một phần trong đời sống văn hóa tinh thần của mỗi dântộc, nó được hiểu là một niềm tin có hệ thống mà con người tin vào để giải thíchthế giới và để mang lại sự bình yên cho bản thân và mọi người thể hiện giá trịcủa cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững, cơ sở của mọi tôn giáo, tínngưỡng là sự ngưỡng vọng của con người vào những cái “siêu nhiên” hay còngọi là “cái thiêng” đối lập với những cái “trần tục” Niềm tín vào “cái thiêng” lànhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đờisống vật chất, tư tưởng, đời sống tình cảm Tín ngưỡng đang là vấn đề nhứcnhói trong những năm gần đây khi những kẻ xấu, những thế lực phản động luônmuốn lợi dụng vấn đề tôn giáo tín ngưỡng để lôi kéo tuyên truyền nhân dânchống phá nhà nước, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số rất dễ bị chúng lợidụng lôi kéo
Tín ngưỡng là một nét văn hóa mà văn hóa là nền tảng quyết định xã hội,một văn hóa cho sự phát triển mạnh mẽ, sâu sắc toàn diện Có thể khẳng định: “Tín ngưỡng là cái hồn của văn hóa dân tộc, một dân tộc nếu không giữ đượcnhững nét tín ngưỡng, văn hóa riêng biệt thì dân tộc đó sẽ bị lu mờ thậm chí làkhông còn dân tộc đó nữa Chính vì thế, xây dựng và phát triển tín ngưỡng vănhóa dân tộc không chỉ là trách nhiệm của ngành văn hóa mà còn là trách nhiệmcủa toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội Trong bối cảnh phát triển của kinh tế-xãhội như hiện nay khi mà sự giao lưu hợp tác giữa các quốc gia dân tộc ngày
Trang 4càng được mở rộng Bên cạnh những điểm tích cực nó cũng đã để lại một số vấn
đề về văn hóa trái với thực tế Để giải quyết những vấn đề hạn chế và phát huynhững mặt tích cực của tín ngưỡng dân tộc là một điều vô cùng cấp thiết, mangtính sống còn đối với vấn đề dân tộc và sự phát triển bền vững của đất nước.Ngoài ra khi chọn đề tài này em muốn vận dụng những kiến thức đã tiếp thuđược trong quá trình học tập tại nhà trường để giải quyết vấn đề thực tế nêu trên
Trang 5CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DÂN TỘC HRÊ
1 Khái quát chung về tộc người:
1.1 Nguồn gốc lịch sử:
Người Hrê là một trong 54 dân tộc Việt Nam sinh tụ lâu đời tại vùngTrường Sơn- Tây Nguyên.Trước kia vào thời nhà Nguyễn dân tộc Hrê được gọibằng những phiếm danh có ý khinh biệt như “ Mọi Đá Vách”, “Mọi SơnPhòng”…tuy nhiên tên tự gọi của đồng bao Hrê thường đặt theo tên các consông lớn trong vùng cư trú của họ
1.2 Ngôn ngữ chữ viết:
Tiếng nói của người Hrê thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ me ngữ hệ Nam
Á, gần đây người Hrê có chữ viết theo mẫu chữ Latinh
1.3 Địa bàn cư trú:
Hiện nay người Hrê cư trú chủ yếu ở tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Bình Định,một số ít sống ở tỉnh Kon Tum Người Hrê định cư thành từng làng (plây) vớiquy mô lớn nhỏ khác nhau, làng Hre xây dựng bên triền đồi, phía dưới là thunglũng.Địa bàn cư trú nằm sát với đất đai canh tác và nguồn nước, đồng bảo chỉ dichuyển làng khi có dịch bệnh.Nhà sàn của người Hrê bố trí từng lớp từ thấp đếncao dựng ngang triền đồi, nằm gọn trên các khoảng đất cao, thoáng đãng
1.4 Hoạt động sản xuất:
Do địa hình dân cư người Hrê sống tại thung lũng, những cánh đồng bằngphẳng hoặc những triền đất màu mỡ trải ven bờ sông, suối nên người Hrê lấynông nghiệp làm nguồn sống chính.Phần lớn người Hrê làm ruộng nước làchính, chỉ có một bộ phận sống chủ yếu nhờ rẫy Người Hrê tuốt lúa rãy bằngtay, họ đeo giở trước bụng để đựng thóc, khi đầy thì đổ vào gùi, cuối ngày làmviệc mới chuyển về kho ở gần nhà Ngoài việc canh tác, săn bắn, hái lượm,người Hrê còn phát triển các nghề thủ công như: dệt, đan lát, làm đồ gỗ… nghềdệt của người Hrê rất được ưa chuộng bởi chất liệu vải bền, các mô típ hoa vănchi tiết đẹp, tuy nhiên hiện nay đang dần bị mai một Lối canh tác rẫy phát - đốt
Trang 6- chọc trỉa, với bộ nông cụ đơn giản gồm rìu, dao quắm, gậy chọc lỗ, cái nạo cỏ,khi thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa Họ sử dụng bừa có đôi trâu kéo, biết gieo mạ
và cấy, dùng liềm và vằng để gặt nhưng còn thấy dấu vết của tập quán trồnglúa rẫy
1.5 Thực phẩm:
Người Hrê thường ngày ăn cơm tẻ, ngày lễ tết có thêm cơm nếp Thức ănchủ yếu là những thứ kiếm được và muối ớt, khi có cúng bái các con vật hiếnsinh được sử dụng để cải thiện bữa ăn.Thức ăn thường được đựng trong các mocau Thức uống có nước lã, nước chè, và rượu cần Tập quán hút thuốc và ăntrầu cau khá phổ biến Rượu cần là văn hóa vật chất không thể thiếu trong đờisống tinh thần sinh hoạt cộng đồng của người Hrê Khi nhắc đến rượu cần, thìrượu cần của người Hrê là nổi tiếng nhất ở vùng cao Quảng Ngãi Cho đến tậnngày nay, rượu cần vẫn là thức uống không thể thiếu trong ngày lễ, tết Ngoài rađồng bào người Hrê còn nổi tiếng với món thịt trâu nướng Muốn làm món thịttrâu nướng, người ta chọn những miếng thịt đùi có thớ thịt khá dày đem thái nhỏthành hình chữ nhật to bằng hai đốt của ngón tay giữa Sau đó dùng xiên tre xiênthành lụi rồi nướng qua lửa than hồng chứ không tẩm bất kỳ một gia vị nào, đó
là thịt trâu nướng trần
1.6 Nhà cửa:
Hrê xưa ở nhà sàn dài Nay hầu như nhà dài không còn nữa Nóc nhà cóhai mái chính lợp cỏ tranh, hai mái phụ ở hai đầu hồi thụt sâu vào trong hai máichính Mái này có lớp ngoài còn thêm một lớp nạp giống như ở vách nhà Chỏmđầu đốc có "bộ sừng" trang trí với các kiểu khác nhau Vách, lớp trong bằng cỏtranh, bên ngoài có một lớp nẹp rất chắc chắn Hai gian đầu hồi để trống Bộkhung nhà kết cấu đơn giản giống như nhà của nhiều cư dân khác ở TâyNguyên
Trong nhà (trừ hai gian đầu hồi) không có vách ngăn Với nhà người Hrêcòn có đặc điểm ít thấy ở nhà các dân tộc khác: thường thì nhà ở cửa mặt trướchoặc hai đầu hồi Mặt trước nhà nhìn xuống phía đất thấp, lưng nhà dựa vào thếđất cao Người nằm trong nhà đầu quay về phía đất cao Nhưng với người Hrê
Trang 7thì hoàn toàn ngược lại Gian hồi bên phải (nhìn vào mặt nhà) dành cho sinhhoạt của nam và khách Gian hồi bên trái dành cho sinh hoạt của nữ Giáp váchgian hồi bên phải đặt bếp chính Gian chính giữa đặt bếp phụ Gian giáp váchvới gian hồi bên trái đặt cối giã gạo
1.7 Trang phục:
Có biểu hiện giống người Kinh Có cá tính tộc người song không rõ nét.Trước kia đàn ông Hrê đóng khố, mặc áo cánh ngắn đến thắt lưng hoặc ở trần,quấn khăn; đàn bà mặc váy hai tầng, áo 5 thân, trùm khăn Nam, nữ đều búi tóccài trâm hoặc lông chim Ngày nay, người Hrê mặc quần áo như người Kinh,riêng cách quấn khăn, trùm khăn vẫn như xưa Phần lớn nữ giới vẫn mặc váy,nhưng may bằng vải dệt công nghiệp Người Hrê thích đeo trang sức bằng đồng,bạc, hạt cườm; nam nữ đều đeo vòng cổ, vòng tay, nữ có thêm vòng chân và hoatai Tục cà răng đã dần dần được xóa bỏ
1.8 Văn hóa:
Người Hrê cũng có lễ đâm trâu như phong tục chung ở Trường Sơn - Tây
Nguyên Mặc dù đời sống vật chất còn nhiều khó khăn song đời sống tinh thầncủa người Hrê vẫn rất phong phú Người Hrê thích sáng tác thơ ca, ham mê cahát và chơi các loại nhạc cụ Ka-choi và Ka-lêu là làn điệu dân ca quen thuộccủa đồng bào, họ thường biểu diễn các làn điệu dân ca truyền thống của dân tộctrong các buổi sinh hoạt cộng đồng và khi hội họp gia đình Truyện cổ đề cậpđến tình yêu chung thủy, cuộc đọ tài trí giữa thiện và ác, giàu và nghèo, rất hấpdẫn các thế hệ từ bao đời nay Nhạc cụ của người Hrê gồm nhiều loại: đànBrook, Ching Ka-la, sáo ling la, ống tiêu ta-lía, đàn ống bút của nữ giới, khèn ra-vai, ràng ngói, pơ-pen, trống Những nhạc cụ được đồng bào quí nhất là chiêng,cồng, thường dùng bộ 3 chiếc, hoặc 5 chiếc, với các nhịp điệu tấu khác nhau
1.9Tổ chức xã hội
Trong xã hội truyền thống của người Hrê làng là đơn vị cư trú đồng thời
là cộng đồng tự quản với những thiết chế sinh hoạt đã định từ lâu Mỗi làng đều
có chủ làng là người lớn tuổi am hiểu nhiều, có uy tín, gia đình thuộc loại giàu
có trong làng Chủ làng là người cùng với thầy cúng tổ chức các lễ cúng lớn
Trang 8trong làng Chủ làng là chức vụ bầu theo lối dân cử, không theo nguyên tắc chatruyền con nối Ngoài ra ở mỗi gia đình dòng họ đều có tộc trưởng là nhữngngười già đứng đầu giòng họ, các tộc trưởng quy tụ trong hội đồng già làng đểbàn các công việc lớn trong làng.
Xưa kia xã hội của người Hrê có sự phân hóa giàu nghèo do sự chênhlệch về ruộng đất, về lao động và thu nhập của các hộ gia đình Trong xã hội đó
có 4 tầng lớp: Người giàu (proong),người đủ ăn có chút ít của cải dư thừa (lắpká) và người kinh tế khó khăn (pa), người đi làm nô lệ vì nợ (hapoong, dik) Lắp
ká và pa thường chiếm chủ yếu trong xã hội người Hrê Tuy nhiên người giàutrong xã hội của người Hrê thường không phải bóc lột mà do lao động cần cù,tích lũy của cải trong quá trình sản xuất của chính mình Ngày nay trong cộngđồng người Hrê không còn phân biệt các tầng lớp như trên
Trang 9CHƯƠNG II KẾT QUẢ TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC HRÊ
2.1 Hôn nhân của dân tộc Hrê:
Quan hệ hôn nhân của người Hrê về cơ bản là hôn nhân ngoại tộc, tựnguyện và là hôn nhân một vợ, một chồng Ngày xưa hôn nhân thường quamai mối, nhưng phổ biến hơn cả vẫn là tự nguyện, trai gái Hrê đến tuổitrưởng thành được tự do tìm hiểu, yêu thương, có quyền lựa chọn ngườibạn đời cho mình Tuy nhiên, sự lựa chọn ấy phải được hai bên cha mẹchấp thuận và trong một chừng mực nhất định, được dân làng đồng tình thìhoàn toàn đi đến hôn nhân Phong tục dựng vợ gã chồng truyền thống củangười Hrê dựa trên những nguyên tắc cơ bản đó Sự tìm hiểu đi đến tìnhyêu của trai gái Hrê thường diễn ra trong cuộc sống đời thường thông qualao động sản xuất trên nương rẫy, trong giao tiếp hàng ngày và các dịp lễhội…Đối với con gái Hrê, chàng trai khoẻ mạnh, thông minh tháo vác, phátrẫy làm ruộng giỏi, cái miệng nói lời hay, cái tay biết đánh nhạc ching…được các cô ưng bụng và ngược lại, những cô gái khoẻ mạnh, đảm đang,biết làm cái rẫy cái ruộng cho nhiều hạt lúa, cái tay biết dệt thổ cẩm đẹp,biết vỗ vinh-vụt và cái miệng hát kchoi hay …được nhiều chàng trai để ýyêu thương Sau những lần gặp và đưa mắt tỏ tình cho nhau, khi có điềukiện, đôi trai gái hẹn hò tìm hiểu, nếu hợp sẽ báo cha mẹ hai bên, xin đượccưới nhau làm vợ làm chồng Đặc biệt, trong hôn nhân của người Hrê,người làm mai có vai trò rất quan trọng Người làm mai có thể là người maimối đôi nam, nữ của hai gia đình với nhau Nếu trường hợp đôi nam, nữ tựtìm hiểu, người làm mai thay mặt gia đình thăm dò những người lớn tuổi vàdân làng về mối quan hệ của họ để tìm hiểu về nguồn gốc hai bên gia đình,tránh hôn nhân cùng huyết thống và vi phạm các Luật tục của làng Ngườilàm mai còn đóng vai trò là sợi dây liên hệ xuyên suốt giữa hai bên giađình nam nữ cho đến khi hôn nhân hoàn thành Sau khi đôi nam nữ đãthành vợ thành chồng, người làm mai còn có trách nhiệm vun vén cho hạnhphúc của lứa đôi Vai trò quan trọng như vậy, người được chọn làm mai
Trang 10mối phải là người hiểu biết phong tục tập quán, có khả năng ăn nói thuyếtphục và là người có uy tín, được dân làng qúy mến.Thông qua người làmmai, hai bên gia đình hiểu được ý định, cùng nhau thỏa thuận những vấn đềcần thiết, chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức đón dâu đón rễ về nhà Mộttrong những nhiệm vụ quan trọng của người làm mai là thăm dò, thỏa thuângiữa hai bên gia đình về việc đón dâu hay đón rễ Việc đón dâu hay đón rễcủa người Hrê là do đôi trai gái, và do hai bên gia đình cùng thống nhất vớinhau Thường thì gia đình khó khăn về kinh tế sẽ được ưu tiên hơn nếumuốn đón dâu hay đón rể Mùa cưới của người Hrê thường được tiến hànhkhoảng từ cuối tháng 10 âm lịch năm trước đến tháng 2 âm lịch năm sau.Đây là khoảng thời gian nhàng rỗi giữa hai chu kỳ sản xuất và cũng là mùadiễn ra nhiều lễ hội truyền thống của dân tộc Tuỳ theo điều kiện hoàn cảnhcủa mỗi gia đình, việc tổ chức tiệc cưới có thể tổ chức trước, trong khicưới hoặc sau khi đã cưới xong đều được Những nhà khấm khá, có thể tổchức đãi tiệc nhiều lần, mời bà con dòng họ và dân làng đến ăn uống, chiavui, và để thông báo về mối thông gia giữa hai gia đình Cô dâu, chú rểnhân dịp này cũng biết về bà con dòng họ của nhau.Trong nghi thức cướingười Hrê quan trọng làm lễ ăn thề và chúc tụng.Thầy cúng sẽ bắt một con
gà trống đen, dùng chân gà cào vào đầu, vào mình cô dâu chú rể sau đó cắttiết gà nhỏ lên đầu hai người Trong lúc làm nghi thức này, thầy cúng luônkhẩn cầu thần linh cho cô dâu chú rể luôn khỏe mạnh và yêu thương nhausuốt đời, sinh đẻ nhiều, làm được nhiều lúa gạo Sau khi con gà được luộcchín, thầy cúng sẽ đưa cho cô dâu chú rể mỗi người một cái đùi gà, mộtnắm cơm, một miếng trầu, chàng rể và cô dâu sẽ đổi đùi gà cho nhau sau
đó ăn hết đùi gà và nắm cơm Có nơi cô dâu chú rể không ăn cơm mà chovào bát cất kỹ để sau này nếu không sống được với nhau thì sẽ trao lại nắmcơm cho nhau coi như “gỡ lời thề”,cũng có nơi thầy cúng đưa cho mỗingười một chén rượu sau đó hai người ngậm rượu phun vào nhau Ngàyđón dâu, hoặc đón rể về nhà thường diễn ra gọn nhẹ Nếu là đón dâu, phíanhà trai mời những thanh nữ cùng trang lứa chưa lập gia đình trong làng,
Trang 11càng đông càng vui để cùng đi với chú rễ đến nhà gái đón dâu Ngược lại,nếu là đón rễ, phía nhà gái mời những nam thanh niên chưa vợ cùng đi với
cô dâu đến nhà trai để đón rễ Ngày đón dâu, đón rể, không chỉ là niềmhạnh phúc, niềm vui của lứa đôi, của hai bên gia đình mà còn là niềm vuicủa cả dân làng, nhất là đối với thanh niên nam, nữ Mọi người tập hợpuống rựu cần, túc ching (đánh chiêng), vỗ vinh vút, hát kchoi và các lànđiệu dân ca truyền thống Cuộc vui kéo dài cho đến khi đoàn người đóndâu hoặc đón rễ ra về mới kết thúc
Thường là khoảng 4 đến 5 giờ chiều, đoàn người đón dâu, hoặc đón
rể về tới nhà Gia đình được đón dâu hoặc rể sẽ dâng lên thần linh, ông bà
tổ tiên lễ vật, thường là con gà để báo cáo và xin thần linh, ông bà chứnggiám, công nhận đôi nam nữ từ nay đã thành vợ thành chồng, cho chúng nómạnh khỏe yêu thương gắn bó suốt đời, làm rẫy làm ruộng được nhiều lúa
và sinh con đẻ cháu Từ tình yêu này, một thế hệ con cháu mới lại sắp chàođời trong niềm tin yêu của gia đình của cả buôn làng Nó như mầm xanhcủa cây rừng, vươn dậy, mạnh mẽ Khi đến ăn mừng cô dâu chú rể dân làng
có thể mang theo gạo, trầu cau, rượu…để góp cùng gia đình, không có lệmừng bằng tiền Trong lễ cưới gia đình có thể mổ trâu, lợn, gà…tùy theođiều kiện kinh tế
2.2Tín ngưỡng trong sinh đẻ
Người phụ nữ Hrê luôn kiêng cữ nhiều điều trong lúc mang thai, và đượccộng đồng chú trọng ưu ái hơn những phụ nữ khác, như được chia nhiều phầnthức ăn trong ngày lễ hội… Khi sinh có bà mụ, là một người có kinh nghiệmtrong việc sinh nở, và những người thân cận giúp sức tại nhà sàn (ngày naynhiều người đã đến trạm xá, bệnh viện) Việc sinh đẻ diễn ra ngay gần bếp lửacủa nhà sàn Để nhờ thần linh giúp sức cho thai phụ và thai nhi, người chủ giađình làm gà, xôi cúng thần Khi đứa trẻ sinh ra, bà mụ sẽ cắt rốn đứa trẻ bằngchính con dao xếp thường dùng được hơ nóng qua bếp lửa Nhau của đứa trẻ sẽ
được gói vào mo cau, rồi đem bỏ vào cà-rầng (rừng ma), hoặc dưới gốc cây to
trong rừng Trong thời gian ở cữ, người mẹ kiêng ăn cá niêng, ớt, trứng, thịt gà
Trang 12trắng; uống thuốc từ củ ma-gang Trước nhà sàn người Hrê lấy nhánh lá gai (hla
vrec) cắm báo hiệu kiêng cữ để mọi người trong làng biết không được vào nhà,
vì sợ lây bệnh hoặc làm cho đứa trẻ bị kinh động Sau khoảng một tuần, người
mẹ có thể địu con lên rừng, lên rẫy Đứa bé tròn một tháng tuổi thì được cắt tócsạch sẽ Khi tròn ba tháng thì làm lễ đặt tên Tên của đứa trẻ không được trùngvới tên của ông bà, cha mẹ, những người thân thuộc trong họ hàng
Người Hrê cũng chú ý tên nựng, tên yêu đối với con cháu, như Y Iêng, Y Nga, Y
Nuq cho con gái; Oong, Éo… cho con trai Trong lễ đặt tên phải cúng gà trắng
cho các nữ thần Y Côh, Y Cah - là những vị thần nặn ra đứa trẻ trong bụng.
Trước đây, do khâu vệ sinh trong sinh nở không kỹ lưỡng, việc chăm sócchưa chu đáo và việc cho con ra ngoài nắng gió quá sớm nên tỷ lệ trẻ bị chếtyểu khá cao Ngày nay, nhờ việc tuyên truyền về sức khỏe sinh sản nên việc
sinh đẻ của người Hrê đã có nhiều tiến bộ so với trước.
2.3 Tín ngưỡng tang ma
Khi bản làng có người mất bà con xa gần được thông báo đến viếng ngườimất, mang theo chiếu, vải, rượu tùy theo điều kiện kinh tế của mối gia đình đếnviếng Khi đặt người mất vào quan tài không đậy nắp ngồi xung quanh quan tài
là con cháu và người thân khóc, cách khóc của người H're (khóc gọi là: moi) cótheo giai điệu, nhằm kể lễ công lao của người chết khi còn sống và chia sẽ tìnhcảm cho con cháu, anh em làng xóm gần xa.Dưới mỗi ngôi nhà sàn củangười Hrê thường có một quan tài bằng gỗ, là một khúc cây to, được đẽo rỗngtrong ruột, có nắp đậy, hình thuyền Đó là khâu chuẩn bị quan trọng của gia đìnhdành cho người già khi biết người già sắp về với tổ tiên
Người chết sẽ được đặt trên nhà sàn Nếu là người chủ gia đình sẽ đượcđặt tại cột thiêng Mọi người đến viếng đều mang theo rượu, gạo để giúp cho giađình và chia cho người chết Bên cạnh người chết là một vò rượu, một rá cơm,một đĩa thịt lợn Người đến viếng lấy rượu, cơm, thịt bỏ vào miệng người chếtmột chút làm phép, sau đó tự uống Coi như ăn uống một lần cuối cùng vớingười chết Tập tục này nay cũng đã giảm nhiều Trong lễ tang của
người Hrê còn có tục chia của (ha nua) Để chia của, người Hrê phải làm một
Trang 13con trâu, một con lợn, một con gà Con trâu dùng để chia của không phân biệt tonhỏ, béo hay gầy, mà tùy thuộc vào quẻ bói giò gà của thầy cúng Nếu bói trúngquẻ là người chết đòi ăn con trâu đang mang thai thì cũng phải đâm con trâu đó
để chia cho người chết Đây là một tập tục còn lạc hậu Lễ đâm trâu chia của có
rất nhiều điểm khác biệt so với đâm trâu hiến tế thần linh trong lễ hội ăn trâu (ká
kapơ).
Người chết sẽ được đưa ra cửa mang, hoặc moóc, tùy vào địa vị của họ
trong gia đình Đầu người chết sẽ được đưa ra trước, và cứ thế khiêng ra mộ Bàcon, họ hàng, làng xóm đi theo đưa tang Phụ nữ thì luôn hát những bài hát khóc
kể về tài, đức, công lao của người vừa chết Người chết sẽ được chôn trong cà
rầng (rừng ma) Khi hạ quan tài mọi người khóc lóc thảm thiết Trước khi chôn,
người ta mở nắp quan tài để mọi người nhìn mặt lần cuối cùng và bỏ vào trongquan tài một vài nắm cơm, cho người chết "uống" thêm vài ly rượu cộng cảm.Người ta sẽ làm ngay nhà mồ khi vừa chôn xong người chết Nhà mồ có kiểudáng giống như một ngôi nhà thu nhỏ, có biểu tượng sừng trâu trên mái, có khắcnhiều hoa văn họa tiết Trên đầu nhà mồ người Hrê cắm sừng trâu, các xâu thịttượng trưng cho các bộ phận con trâu được treo chung quanh; chiêng, ché, chénbát, nồi, rìu, rựa, cuốc được đặt xung quanh hoặc bên trong nhà mồ, là nhữngthứ của chia cho người chết Bốn phía nhà mồ người ta còn trồng các loại cây,như dứa, chuối, chè Người Hrê còn đem gà con chia của cho người chết Mộtvài con được vặt cổ chôn dưới đất, một vài con thả chạy quanh mộ Khi chôncất, làm nhà mồ và chia của xong, những người đưa đám quay trở về Từ thờiđiểm đó trở đi phụ nữ tuyệt đối không được khóc lóc nữa Nhà có người chết từ
đó trở đi cũng phải kiêng cữ nhiều điều, như không được sang nhà người khácvào dịp lễ tết, không chơi chiêng trong một năm Thịt trâu trong lễ đâm trâuchia của sẽ được chế biến làm thức ăn cho họ hàng, và chia phần cho thầy cúng,những người họ hàng thân thích đến giúp làm lễ tang và chia buồn.Nếu là trẻ sơsinh chưa kịp bú mẹ mà chết thì người nhà sẽ bỏ xác trẻ vào mo cau và đem treo
lên cây cao (hình thức không táng), không có lễ chia của Đây là loại "ma" mà
người Hrê cũng như các tộc người miền núi ở Quảng Ngãi nói chung rất sợ hãi
Trang 14Hiện nay, tục táng thức này dường như đã được bỏ hẳn.
Ngoài ra người Hrê còn có tục làm tang ma giả cho người đã chết lâu nămcũng thể hiện tấm lòng của người sống với người đã mất, tuy nhiên tục rất tốnkém, không khác gì một đám tang bình thường của người Hrê Tục làm tang magiả khá phổ biến trong đồng bào người Hrê ở huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi), tụclàm tang ma giả được họ tổ chức như một phong tục tang ma bình thường Tụclàm tang ma giả của người Hre đã có từ lâu đời, bởi họ quan niệm rằng người đãkhuất cũng cần có nhà cửa, của cải để họ tiếp tục sống cuộc sống của người âm
và họ còn quan niệm rằng khi trong gia đình xảy ra chuyện chẳng lành, cácthành viên trong gia đình luôn bị đau ốm không khỏi, gặp tai nạn hay trâu, bòcủa họ bị chết không có lí do thì là do người chết xui khiến, quở trách vì họ chưachia tài sản cho người chết nên hồn vía họ chưa siêu thoát Vì quan niệm đó, màmột bộ phận người Hre ở huyện Ba Tơ đã tốn kém không ít của cải, tài sản củagia đình để làm tang ma giả, nhưng bệnh tật, đau ốm vẫn không khỏi…
Khi trong gia đình người Hre xảy ra biến cố, tai họa, có người đau ốm màtrong gia đình đó đã từng có người thân hoặc họ hàng gần xa, hay thậm chí chỉ
là những bào thai chết mà chưa có điều kiện làm nhà mồ, chia của cho họ thì giađình đó sẽ đi gặp thầy bói để xem quẻ (người Hrê thường gọi là xem giò gà),nếu quẻ ám chỉ gia đình đó bị người chết lâu năm xui khiến thì bắt buộc gia đìnhphải tổ chức một đám tang ma giả Nhiều gia đình khó khăn, không có điều kiệnnhưng họ vẫn đi vay mượn để làm tang ma giả cho người quá cố Giống nhưmột tang ma bình thường, khi một gia đình tổ chức tang, thì họ hàng thân thuộc
và cả dân làng cùng đến giúp lo ma chay Gia đình và bà con sẽ chuẩn bị quantài, cỏ tranh, dây làm nhà mồ và chia của như lợn, trâu, bò – đó là những con vậthiến tế được coi là dành cho người chết Người Hrê làm quan tài bằng thân câyđục rỗng khá công phu, có ván thiêng đậy lên trên Họ cũng thực hiện chia củanhư người mới chết, như quần áo, cơm , thịt, trầu cau, con gà, cái ché, các vậtdụng hằng ngày dao, bếp, nồi, củi, gùi, sừng trâu… thậm chí có những gia đìnhkhá giả hơn họ còn cho người chết vàng, bạc, hạt cườm… Nhà mồ cũng được họlàm công phu như nhà mồ bình thường Nếu người chết lâu năm đó đã từng là
Trang 15chủ gia đình thì đưa ra ngoài theo cửa phía đầu nhà, nếu là thành viên khác trongnhà hay họ hàng thì đưa qua cửa bên.
2.4 Lễ tết truyền thống của dân tộc Hrê
Tháng 3 khi mùa hoa gạo nở đỏ rực cùng vơi tiếng chim vơ linh âm vangkhắp núi rừng cũng là lúc người Hrê vui mừng đón tết truyền
thống của dân tộc mình Đây là một nét văn hóa truyền thống đậm đà bảnsắc dân tộc mà người Hrê lưu giữ bao đời nay.Tết năm mới của người Hrê gọi làH’tênd thường được tổ chức vào khoảng tháng 2 đến hết tháng 3 âm lịch Trướcđây người Hrê ăn tết cả tháng nhưng nay chỉ dừng lại trong 3 ngày Nhữngngười cao tuổi trong làng sẽ là người bàn bạc với chủ làng để đưa ra quyết địnhngày nào dân làng ăn Tết Không khí trong buôn làng trước ngày đón Tết rất rộnràng nhộn nhịp Một ngày trước Tết chủ làng sẽ tuyên bố ngày vô lá ( tức làngày dân làng mang lá dong vào nhà ) Ngày hôm đó tất cả mọi nhà trong làngdọn dẹp nhà cửa, tu sửa lại chuồng và chọn những cây tre to, đặc về làm trụ cửachuồng trâu, tranh thủ đi bắt cá suối về muối chua để ăn với bánh lá dong Dânlàng vào rừng kiếm dây mây nhỏ để làm dây treo ching ( chiêng) Ngày tết thứnhất bắt đầu bằng lễ cúng dọn nhà để đuổi tà ma và mừng lộc mới vào lúc trờivừa mờ sáng Sau lễ cúng dọn nhà người Hrê còn cúng Kla Hoanh, Chem Prai làcác yang thần ma của sông núi, đất đai, tổ tiên Khi cúng xong người Hrê làmbánh lá dong nguyên liệu từ lúa nương mà họ sản xuất được trong mùa vụ trước
để chuẩn bị cho ngày tết thứ hai
Ngày tết thứ hai cũng bắt đầu từ sáng sớm bằng nghi thức cúng trâu.Lễvật cúng trâu thường gồm trứng gà, cá suối, thịt lợn và bát hương bằng niêu đất.Nghi thức cúng trâu diễn ra trước cửa chuồng trâu trong vòng nửa giờ đồng hồ.Sau khi lễ cúng trâu diễn ra xong gia đình tổ chức ăn uống thiết đãi khách khứa.Con trâu ngoài hình thức biểu hiện giá trị giàu có của gia đình còn được thờcúng theo tín ngưỡng vì nó gắn liền với đời sống của người Hrê, giúp đỡ họ rấtnhiều trong quá trình lao động như kéo gỗ, kéo cày…vì vậy lễ cúng trâu rấtquan trọng cầu mong cho con trâu mạnh khỏe béo tốt,không bị dịch bệnh
Ngày tết thứ ba gọi là Ôk rôk, là ngày mà mọi người đi chúc tết lẫn nhau
Trang 16Vào ngày này người lớn tuổi trong gia đình thường kể những câu chuyện cũ chocon cháu nghe để tự hào về truyền thống dân tộc, buôn làng mình Dân làng tậptrung lại với nhau hát Kiêu, Kchoi Trai tráng trong làng tổ chức đánh chiêng,đấu vật thi múa gươm, phóng lao…Những chóe rượu cần sẽ được chủ nhà đem
ra mời khách, điều này thể hiện sự mến khách của chủ nhà đồng thời cũng thểhiện sự khéo léo của người phụ nữ trong gia đình Trong quan niệm của ngườiHrê chóe rượu cần còn có cả linh hồn.Người Hrê đều mong những chóe rượucần làm ra thơm ngon để “cái miệng khách uống không biết chán, say khôngbiết đườn về”.Không khí vui tươi rộn ràng kéo dài trong suốt những ngày Tết đểcầu mong một năm mưa thuận gió hòa, no ấm sung túc
2.5 Tín ngưỡng trong lễ đâm trâu của người Hrê
Lễ hội đâm trâu của người Hrê có tên gọi là kapơ thường được tổ chứcvào khoảng tháng 3 âm lịch khi mùa lúa rẫy, lúa nước đã thu hoạch xong Trongkhoảng thời gian này tùy thuộc vào kinh tế của mỗi gia đình và quẻ bói của thầycúng mà gia đình tự chọn ngày tổ chức lễ đâm trâu riêng của gia đình mình Lễđâm trâu của gia đình chủ yếu được tổ chức xung quanh không gian ngôi nhàsàn của gia đình ( khác với lễ đâm trâu của làng được tổ chức tại một địa điểmthiêng của làng, thường là nơi đầu rừng)
Mục đích tổ chức lễ hội đâm trâu là nhằm tạ ơn thần linh, sau khi ướcmuốn với thần linh một việc nào đó đã được toại nguyện, đồng thời cũng chứngminh cho cộng đồng biết gia đình mình đã no đủ, khá giả Để tổ chức lễ ăn trâu,gia đình phải chuẩn bị mọi thứ, từ gạo, củi, nuôi heo, gà, nuôi trâu, hoặc chuẩn bịtiền bạc để mua trâu, bởi con trâu hiến sinh phải là con trâu khỏe mạnh, không có
tì vết nào trên cơ thể Lễ vật hiến sinh chính gồm 1 con trâu, 7 con gà, 1 - 2con lợn to
Trình tự lễ hội ăn trâu của người Hrê bao gồm các phần chính: thời gianbước vào hội, thời gian hội và thời gian kết của hội Thời gian bước vào hội diễn
ra khoảng 5 - 6 ngày Đây là khoảng thời gian mà mọi thành viên trong gia đìnhcũng như họ hàng làng xóm, chủ làng và cả thầy cúng đến giúp để chuẩn bị rượucần (khoảng từ 15 - 20 ché), chuẩn bị mọi thứ tre, mây để làm cây nêu, đào lỗ