1. Tính cấp thiết của đề tài Trong rất nhiều các mục tiêu quan trọng được Đảng và Nhà nước quan tâm thì vấn đề sức khoẻ con người luôn được đặt lên hàng đầu. Bởi việc đảm bảo tốt công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản sẽ tạo ra một lực lượng lao động có chất lượng cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần và xã hội đáp ứng yêu cầu của một nước đang phát triển theo định hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Xã hội phát triển, nhu cầu chăm sóc SKSS của con người được nâng cao, cũng chính vì thế nhu cầu tìm hiểu những thông tin xung quanh việc chăm sóc SKSS cũng ngày càng được quan tâm. Nữ công nhân nhập cư là những người đóng góp lớn cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Đây là đối tượng dễ bị tổn thương chịu nhiều thiệt thòi. Mặc dù địa phương đã triển khai nhiều chính sách, Nhà nước đã có giải pháp hỗ trợ cho nhóm đối tượng này nhưng phần đông đời sống của họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì gánh nặng về kinh tế, nên nữ công nhân nhập cư không có đủ điều kiện để tìm hiểu thông tin về cách chăm sóc sức khoẻ, cách bảo vệ mình trước những nguy cơ về sức khoẻ sinh sản có thể xảy ra trong cuộc sống. Hệ luỵ không tốt của việc thiếu kiến thức về SKSS sẽ đem lại hậu quả xấu như mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, trẻ em bị bỏ rơi,…tạo gánh nặng cho xã hội như nạn mại dâm, ma tuý hay các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác.Chăm sóc SKSS không những giúp nữ công nhân nhập cư có một cơ quan sinh sản khoẻ mạnh, sẵn sàng cho cuộc sống hôn nhân, gia đình hạnh phúc mà còn giúp các chị có được trạng thái tinh thần thoải mái và hoà hợp với xã hội. Tại khu công nghiệp Samsung, tỉnh Bắc Ninh với cơ cấu nữ công nhân chiếm hơn 60%; 37% là lao động nhập cư đang trong độ tuổi sinh sản và trung bình mỗi năm có khoảng trên 200 phụ nữ nghỉ chế độ thai sản thì nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư là rất lớn. Chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho nữ công nhân nhập cư là trang bị cho họ sự hiểu biết về sự phát triển của cơ thể, về sự phát triển giới tính, an toàn tình dục, hiểu được bản chất con người trong mối quan hệ tình dục. Tuy nhiên hiện nay, nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Samsung còn gặp nhiều trở ngại khi tiếp cận về giáo dục kĩ năng sống, chăm sóc SKSS, KHHGĐ. Nhận thức được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của vấn đề xã hội trên, tôi chọn đề tài “Dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư khu công nghiệp Samsung, tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Mong rằng đề tài không những đưa ra một bức tranh chi tiết về thực trạng thực hiện dịch vụ chăm sóc SKSS cho nữ công nhân nhập cư tại một khu vực cụ thể mà còn đề xuất những giải pháp can thiệp dưới cách tiếp cận của CTXH nhằm cung cấp cho nữ công nhân nhập cư kiến thức về chăm sóc SKSS cho bản thân mình.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỐI VỚI NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ 12 1.1.Một số khái niệm cơ bản 12
1.2 Khái niệm “Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư” 18
1.3 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 20
1.4 Luật pháp, chính sáchhỗ trợ sức khỏe sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư 25
Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ SINH SẢN ĐỐI VỚI NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ TẠI KHU CÔNG NGHIỆP SAMSUNG, TỈNH BẮC NINH 32
2.1 Đặc điểm địa bàn, khách thể nghiên cứu 32
2.2 Thực trạng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư 36
2.3 Các yếu tố tác động đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư 45
Chương 3 ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG CUNG CẤP KIẾN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN ĐỐI VỚI NHÓM NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ 48
3.1 Mục đích can thiệp 49
3.2 Thành lập nhóm 49
3.3 Các hoạt động can thiệp 51
3.4 Kết thúc và lượng giá tiến trình can thiệp 62
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Phân cấp nhu cầu theo mức của Maslow 21Bảng 2.1 Mức độ hài lòng của nữ công nhân nhập cư về hoạt động tham vấn, tư vấn 37Bảng 2.2 Mức độ tiếp cận dịch vụ tham vấn, tư vấn của nữ công nhân nhập
cư 38Bảng 2.3 Mức độ tham gia hoạt động truyền thông, tập huấn nâng cao nhận thức của nữ công nhân nhập cư 40Bảng 2.4 Mức độ hài lòng về hoạt động truyền thông, tập huấn nâng cao nhận thức của nữ công nhân nhập cư 41Bảng 2.5 Mức độ hài lòng của nữ công nhân nhập cư về hoạt động kết nối nguồn lực 43
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong rất nhiều các mục tiêu quan trọng được Đảng và Nhà nước quan tâm thì vấn đề sức khoẻ con người luôn được đặt lên hàng đầu Bởi việc đảm bảo tốt công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản sẽ tạo ra một lực lượng lao động
có chất lượng cả về thể chất, trí tuệ, tinh thần và xã hội đáp ứng yêu cầu của một nước đang phát triển theo định hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá Xã hội phát triển, nhu cầu chăm sóc SKSS của con người được nâng cao, cũng chính vì thế nhu cầu tìm hiểu những thông tin xung quanh việc chăm sóc SKSS cũng ngày càng được quan tâm
Nữ công nhân nhập cư là những người đóng góp lớn cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Đây là đối tượng dễ bị tổn thương chịu nhiều thiệt thòi Mặc dù địa phương đã triển khai nhiều chính sách, Nhà nước đã có giải pháp
hỗ trợ cho nhóm đối tượng này nhưng phần đông đời sống của họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn Chính vì gánh nặng về kinh tế, nên nữ công nhân nhập cư không có đủ điều kiện để tìm hiểu thông tin về cách chăm sóc sức khoẻ, cách bảo vệ mình trước những nguy cơ về sức khoẻ sinh sản có thể xảy ra trong cuộc sống Hệ luỵ không tốt của việc thiếu kiến thức về SKSS sẽ đem lại hậu quả xấu như mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, trẻ em bị bỏ rơi,…tạo gánh nặng cho xã hội như nạn mại dâm, ma tuý hay các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác.Chăm sóc SKSS không những giúp nữ công nhân nhập
cư có một cơ quan sinh sản khoẻ mạnh, sẵn sàng cho cuộc sống hôn nhân, gia đình hạnh phúc mà còn giúp các chị có được trạng thái tinh thần thoải mái và hoà hợp với xã hội
Tại khu công nghiệp Samsung, tỉnh Bắc Ninh với cơ cấu nữ công nhân chiếm hơn 60%; 37% là lao động nhập cư đang trong độ tuổi sinh sản và
Trang 62
trung bình mỗi năm có khoảng trên 200 phụ nữ nghỉ chế độ thai sản thì nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư là rất lớn Chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho nữ công nhân nhập cư là trang bị cho họ sự hiểu biết về sự phát triển của cơ thể, về sự phát triển giới tính, an toàn tình dục, hiểu được bản chất con người trong mối quan hệ tình dục
Tuy nhiên hiện nay, nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Samsung còn gặp nhiều trở ngại khi tiếp cận về giáo dục kĩ năng sống, chăm sóc SKSS, KHHGĐ Nhận thức được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của
vấn đề xã hội trên, tôi chọn đề tài “Dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư khu công nghiệp Samsung, tỉnh Bắc Ninh” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp của mình Mong rằng đề tài không những đưa ra một bức tranh chi tiết về thực trạng thực hiện dịch vụ chăm sóc SKSS cho nữ công nhân nhập cư tại một khu vực cụ thể mà còn đề xuất những giải pháp can thiệp dưới cách tiếp cận của CTXH nhằm cung cấp cho nữ công nhân nhập cư kiến thức về chăm sóc SKSS cho bản thân mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển ở Cairo (1994) đã ghi nhận 13 thành tố của SKSS, căn cứ vào tình hình
cụ thể của đất nước, Việt Nam đã chọn 7 nội dung cơ bản về SKSS như sau:
1 Quyền sinh sản
2 Kế hoạch hóa gia đình
3 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS
4 Sức khỏe sinh sản vị thành niên
5 Nạo, hút thai
6 Làm mẹ an toàn
7 Bình đẳng giới trong chương trình sức khỏe sinh sản
Trang 7sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS ở 7 tỉnh, đồng thời xác định các chỉ số hỗ trợ công tác theo dõi và giám sát của việc thực hiện dự án ở các tỉnh trong CTQ7, làm cơ sở cho đánh giá tác động của CTQG 7 tỉnh Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và thuốc thiết yếu phục vụ chăm sóc SKSS tại các cơ sở y tế được điều tra còn hạn chế, thiếu nhiều so với qui định chuẩn của quốc gia về các dịch vụ chăm sóc SKSS, đặc biệt là ở tuyến xã.Kiến thức chuyên môn của người cung cấp dịch vụ là tương đối tốt nhưng không phải là toàn diện Kiến thức, thái độ và hành vi của cán bộ được phân công theo dõi/quản lý chương trình SKSS và chương trình Dân số- Kế hoạch hóa gia đình
và cán bộ trực tiếp làm công tác truyền thông về Dân số/SKSS ở cả 3 tuyến tỉnh/huyện/xã chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý Kiến thức, thái độ và hành vi
về chăm sóc SKSS của phụ nữ 15-49 tuổi đang nuôi con dưới 24 tháng tuổi, nam giới có vợ từ 15-49 tuổi đang nuôi con dưới 24 tháng tuổi Tuy nhiên, kết quả ở các tỉnh đã tham gia CTQG7 được cải thiện hơn so với những tỉnh mới bắt đầu tham gia vào CTQG7.Mối quan hệ giữa cung cấp dịch vụ và sử dụng dịch vụ chăm sóc SKSS tương đối tốt, ở các tỉnh đã tham gia CTQG6 được cải thiện hơn
so với những tỉnh mới bắt đầu được tham gia vào CTQG7
Những kết quả trên cho thấy, thiếu các yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết
bị, thuốc thiết yếu cho cơ sở y tế các tuyến, đặc biệt là tuyến xã Cần đào tạo lại kiến thức cũng như kĩ năng thực hành chuyên môn chăm sóc SKSS cho người cung cấp dịch vụ; trang bị đầy đủ kiến thức cho cán bộ quản lý chương
Trang 84
trình và trực tiếp truyền thông về chăm sóc SKSS, DS-KHHGĐ; thông tin - giáo dục - truyền thông cho cộng đồng liên quan đến chăm sóc SKSS là rất quan trọng nhằm tăng cường mức độ tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS
Phan Thị Mai Hương, Viện Tâm lí học làm chủ nhiệm (2011),“Báo cáo
kết quả nghiên cứu về công nhân” Đề tài đã thực hiện khảo sát với những
công nhân trên cả ba miền đất nước về vấn đề kinh tế xã hội Nghiên cứu này
đã chỉ ra rằng người công nhân có sự quan tâm đối với các vấn đề lớn của đất nước nhưng nhận thức còn chưa thực sự đầy đủ, còn có những hạn chế Các thông tin về những vấn đề lớn, được nhiều người quan tâm được công nhân tiếp nhận chủ yếu qua các phương tiện truyền thông đại chúng như truyền hình, đài, báo chí Thậm chí ngay cả việc tiếp thu thông tin qua các phương tiện truyền thông đại chúng cũng không phải là nhiều, do phần lớn thời gian công nhân dành để làm việc, làm tăng ca, do người công nhân còn phải lo cho cuộc sống hàng ngày, lo kiếm sống Vì vậy, thông tin thu được cũng không phải là nhiều Bên cạnh đó trình độ học vấn của người công nhân nói chung chưa cao nên điều này cũng ảnh hưởng đến nhận thức của họ
Nhóm tác giả Lê Thị Kim Ánh và cộng sự (2012) nghiên cứu về việc sử dụng dịch vụ khám chữa nhiễm khuẩn đường sinh sản của 291 phụ nữ di cư tuổi 18-49 lao động tại khu công nghiệp Sài Đồng (Hà Nội) chỉ ra rằng điều kiện sống của các lao động này còn khá hạn chế, sử dụng nước máy khoan, nhà vệ sinh chung Chỉ có 55/291 đối tượng phụ nữ di cư đã khám chữa bệnh đường nhiễm khuẩn đường sinh sản (NKĐSS) tại cơ sở y tế (CSYT) trong vòng 6 tháng trước tại thời điểm nghiên cứu Phụ nữ di cư lao động tại các khu công nghiệp thường trẻ, trong độ tuổi sinh sản và chưa có gia đình Việc
sử dụng các dịch vụ y tế trong khám chữa bệnh NKĐSS tại các CSYT còn hạn chế do nhiều nguyên nhân Nghiên cứu này đã nêu ra các nguyên nhân liên quan đến bản thân nữ lao động di cư như trình độ học vấn thấp, thu nhập
Trang 95
hàng tháng,… Việc e ngại hoặc xấu hổ khi sử dụng dịch vụ khám chữa NKĐSS tại các CSYT có thể dẫn đến việc nữ lao động di cư lựa chọn việc điều trị bằng cách tự mua thuốc tại các nhà thuốc Việc tự điều trị hoặc mua thuốc điều trị chi phí có thấp hơn, ít kỳ thị hơn.Tuy nhiên điều này dẫn đến khả năng chữa khỏi bệnh của các đối tượng là không cao.Nghiên cứu cũng cho thấy tuổi liên quan đến NKĐSS tập trung ở độ tuổi 31-40 Kết quả nghiên cứu này gợi ý cho việc tăng cường cung cấp bảo hiểm y tế cho các đối tượng
nữ lao động di cư làm việc trong các khu công nghiệp nói riêng, ngoài ra còn cải thiện điều kiện sống, thu nhập, nâng cao kiến thức thái độ của các đối tượng là điều kiện vô cùng cần thiết
Tác giả Bế Trung Anh ( 1999) khi nghiên cứu về hành vi chăm sóc sức khỏe và SKSS của phụ nữ ở một xã của tỉnh Thái Nguyên chỉ ra rằng phụ nữ nơi đây còn quan niệm lạc hậu về chăm sóc sức khỏe sinh sản, không có chế
độ dinh dưỡng đầy đủ, trong suốt quá trình mang thai vẫn phải đảm đương các công việc nặng nhọc Điều này ảnh hưởng từ quan niệm phụ nữ có thai nên làm những công việc nặng để sinh con dễ hơn Sau khi được tuyên truyền
họ cũng tự đi tìm các CSYT để khám thai, tiêm phòng uốn ván khi mang thai Yếu tố khả năng chi trả cho việc khám chữa bệnh có vai trò quan trọng, mức sống cao làm tăng hành vi tích cực chăm sóc SKSS của người phụ nữ Ngoài
ra sự phức tạp địa hình ở nơi cư trú cũng gây khó khăn cho việc tiếp cận dịch
Trang 106
pháp lý bảo vệ người di cư, bảo hiểm y tế, thái độ của chính quyền với người
di cư, tình trạng cư trú lao động, thời gian làm việc dài, thu nhập thấp, chi phí khám chữa bệnh cao, thiếu hiểu biết về SKSS, SKTD Các mô hình can thiệp hiện tại chưa giải quyết được các rào cản một cách toàn diện, tính bền vững của mô hình còn thấp Những kết quả nghiên cứu về khách thể nghiên cứu là
nữ công nhân di cư – người lao động tại các khu công nghiệp có giá trị lớn đối với việc thực hiện luận văn này
Luận văn thạc sỹ “Việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc SKSS của lao động
nữ tại thị xã Lộc Bảo huyện Bảo Lâm tỉnh Lâm Đồng” của Trần Nguyễn
Tường Oanh (2009) cho thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói là do trình độ học vấn còn thấp, nhận thức kém, tính ỷ lại và trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước Môi trường sống cuả lao động nữ không đủ điều kiện, nước không đảm bảo, nhà vệ sinh ẩm thấp Họ chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc chăm sóc SKSS mặc dù đã có sự tuyên truyền của nhân viên y tế.Họ vẫn giữ và tin vào các phong tục tập quán, tin vào thầy bói, thầy cúng trong chữa bệnh Ngoài ra một số nguyên nhân khách quan phải kể đến đó là nguyên nhân từ phía dịch vụ chăm sóc SKSS cũng góp phần ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ đó chính là thái độ làm việc, thái độ đối xử với bệnh nhân của cán bộ y tế chưa đúng mực và còn nhiều hạn chế
Luận văn thạc sỹ “ Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khoẻ
sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số từ thực tế huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai” của Bùi Thị Tình (2016) đã đưa ra được những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với phụ nữ người dân tộc thiểu số, đó là: giải pháp về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc thiết yếu, khoa học công nghệ; giải pháp tăng cường công tác quản lý trong công tác chăm sóc sức khoẻ đối với phụ nữ dân tộc thiểu số; giải pháp nâng cao tính sẵn có chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ
Trang 117
trẻ em; giải pháp nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ hành vi người dân trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản với phụ nữ người dân tộc Ngoài ra luận văn cũng ứng dụng công tác xã hội nhóm vào dịch vụ công tác xã hội chăm sóc sức khoẻ sinh sản phụ nữ dân tộc thiểu số
Từ những tổng quan nghiên cứu trên cho thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về nữ công nhân và nghiên cứu chăm sóc SKSS cho phụ nữ nhưng đề tài nghiên cứu về dịch vụ CTXH trong chăm sóc SKSS đối với nữ công nhân nhập cư còn chưa nhiều Chính vì vậy, tác giả tiếp cận đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu rõ thực trạng hiểu biết của nữ công nhân nhập cư
về chăm sóc SKSS cũng như nhu cầu sử dụng dịch vụ CTXH trong chăm sóc SKSS đối với nữ công nhân nhập cư
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm đánh giá thực trạng thực hiện dịch vụ chăm sóc SKSS đối với nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Samsung.Căn cứ vào đó để áp dụng phương pháp CTXH nhóm trong cung cấp kiến thức về SKSS cho nữ công nhân nhập cư
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dịch vụ chăm sóc SKSS đối với nữ công nhân nhập cư
- Đánh giá thực trạng dịch vụ chăm sóc SKSS đối nữ công nhân nhập
cư tại khu công nghiệp Samsung
- Ứng dụng CTXH nhóm trong cung cấp kiến thức về SKSS đối với nhóm nữ công nhân
- Đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch
vụ chăm sóc SKSS đối với nữ công nhân nhập cư tại các khu công nghiệp
Trang 128
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư khu công nghiệp
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận chung
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, có nghĩa tôn trọng khách quan khi xem xét, kiến giải sự vật, hiện tượng, mọi sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới Đồng thời,
sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển chung của xã hội
Cùng với đó là hệ thống các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo vệ và giúp phụ nữ phát triển Trong đó đáng chú ý là các quan điểm như: Văn kiện Đại hội XII của Đảng (tháng 01-2016) xác định phương hướng: Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện luật pháp, chính sách đối với lao động nữ,
Trang 139
tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình; Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 22 tháng 12 năm 2000): Để thực hiện mục tiêu chiến lược, nhiều giải pháp về truyền thông - giáo dục thay đổi hành vi và chăm sóc SKSS/KHHGĐ
đã chú trọng tới nhiều đối đối tượng trong đó có phụ nữ; Chiến lược Dân số
và Sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 14 tháng 11 năm 2011): Để thực hiện mục tiêu tổng quát
“Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân
bố dân số, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
5.2 Phương pháp thu thập thông tin
5.2.1 Phương pháp phỏng vấn sâu
Đây là phương pháp thu thập thông tin thông qua hỏi và đáp Người nghiên cứu đặt ra câu hỏi cho đối tượng khảo sát, sau đó ghi lại hoặc ghi âm lại những gì mà người nghiên cứu thu được Phương pháp này được sử dụng
để tìm hiểu sâu sắc về các phản ứng, suy nghĩ, thái độ tình cảm, quan điểm, chính kiến của đối tượng được phỏng vấn
Phỏng vấn được sử dụng trong bài báo cáo này cho các đội tượng sau:
trong độ tuổi sinh sản 18-49)
5.2.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Tác giả đã thiết kế nội dung bảng hỏi ( Đính kèm ở phần Phụ lục) nhằm mục đích thu thập thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu Nghiên cứu đã
Trang 1410
phát ra 200 phiếu trưng cầu ý kiến với khách thể là các nữ công nhân nhập cư tại nhà máy 1 khu công nghiệp Samsung nhằm tìm hiểu hiểu biết của nữ công nhân về SKSS và các hoạt động CTXH trong chăm sóc SKSS của công ty đối với nữ công nhân nhập cư
Tại nhà máy 1 của khu công nghiệp Samsung có tất cả 4500 công nhân trong đó có 1623 nữ công nhân nhập cư Tác giả đánh số thứ tự từ 1 đến 1623 Như vậy cứ tính từ người thứ nhất thì người có số thứ tự thứ 81 sẽ là người được chọn để trả lời bảng hỏi Người tiếp theo sẽ tính từ số thứ tự người được chọn + 80 Cứ như vậy cho đến hết 1623 nữ công nhân nhập cư
5.2.3 Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã đọc và phân tích một số tài liệu liên quan đến dịch vụ chăm sóc SKSS nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Việc nghiên cứu đề tài trên một phần là củng cố tri thức, phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội cho người nghiên cứu Đồng thời đề tài sẽ làm phong phú thêm phạm vi nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu cho công tác xã hội.Một mặt nghiên cứu này muốn kiểm nghiệm tính ứng dụng của lý thuyết
hệ thống và các lý thuyết nhu cầu của Maslow để tìm hiểu mức độ cần thiết của dịch vụ chăm sóc SKSS đối với nữ công nhân nhập cư
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Công tác xã hội là bộ môn khoa học luôn đi sát với thực tiễn và nhằm giúp phát triển xã hội theo hướng tích cực Nghiên cứu cũng vận dụng những kiến thức của bộ môn Xã hội học trong vịêc thu thập thông tin và sử lý số liệu
để tìm hiểu về thực trạng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư Qua đó đưa ra những nét khái quát nhất về thực trạng cũng như nhu cầu của nữ công nhân nhập cư về vấn đề chăm sóc SKSS Căn cứ vào
Trang 15đã có Hơn thế nữa, trong quá trình nghiên cứu cũng rút ra được kiến thức cũng như kỹ năng và phương pháp làm việc phù hợp và hiệu quả nhất đối với
nữ công nhân nhập cư cho nhân viên CTXH trong vấn đề này
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu; kết luận và khuyến nghị; mục lục; danh mục tài liệu tham khảo; đề tài gồm 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về dịch vụ chăm sóc sức khỏe
sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư
Chương 2: Thực trạng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với nữ
công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Samsung, tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Ứng dụng công tác xã hội nhóm trong cung cấp kiến thức
về sức khỏe sinh sản đối với nhóm nữ công nhân nhập cư
Trang 16Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương
tự như hàng hóa như phi vật chất Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khỏe… và mang lại lợi nhuận
Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất
Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc
độ khác nhau nhưng theo quan điểm của tác giả:
“Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con
người Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội”
1.1.2 Khái niệm sức khỏe sinh sản
SKSS là một phần rất quan trọng của sức khỏe.Khi bàn về sức khỏe là nói đến 60% công việc của ngành y tế SKSS gắn liền với toàn bộ cuộc đời của con người, từ lúc bào thai cho đến khi tuổi già
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển ICPD tại Cairo (Ai Cập) 1994
đã đưa ra định nghĩa về sức khỏe sinh sản như sau: “Sức khỏe sinh sản là một
Trang 1713
tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những
gì liên quan tới hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh tật hoặc tàn phế trong bộ máy đó”
Điều này hàm ý là mọi người kể cả nam và nữ đều có quyền nhận được thông tin và tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các biện pháp KHHGĐ
an toàn, hiệu quả, dễ dàng và thích hợp tùy theo sự lựa chọn của họ đảm bảo cho phụ nữ trải qua thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng những điều kiện tốt nhất để có những đứa con khỏe mạnh
Cũng trong chương trình hành động của hội nghị đã nêu rõ: “SKSS là trạng thái sung mãn hoàn toàn về thể chất, tinh thần, xã hội và không chỉ là không có bệnh tật hay không bị tàn phế về tất cả những gì liên quan đến hệ thống, chức phận và quá trình sinh sản” Như thế, SKSS có nghĩa là mọi người có thể có cuộc sống tình dục an toàn hài lòng, họ có khả năng sinh sản,
tự do quyết định sinh con hay không, sinh con khi nào và sinh bao nhiêu con
Hiện nay, các nội dung SKSS ưu tiên chung trong chương trình mục tiêu quốc gia là: quyền sinh sản; KHHGĐ; làm mẹ an toàn; phòng tránh các bệnh lây nhiễm qua đường sinh sản, lây qua đường tình dục và HIV/AIDS; chăm sóc SKSS vị thành niên; bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS
1.1.3 Khái niệm chăm sóc sức khỏe sinh sản
Theo Hội nghị Y tế thế giới Alm-Ata thì chăm sóc sức khỏe là những chăm sóc thiết yếu với kĩ thuật thích hợp được mang tới cho mỗi người trong mọi gia đình, được cộng đồng chấp nhận và tham gia với những chi phí rẻ nhất Do đó, chăm sóc sức khỏe là sự thường xuyên quam tâm làm một việc nào đó, chăm sóc sức khỏe chính là hoạt động thường xuyên, liên tục để đạt đến một trạng thái hoàn hảo về sức khỏe, đó là sự sảng khoái về thể chất, tinh thần và các quan hệ xã hội Hoạt động này có thể là tự bản thân chăm sóc hoặc là sự quan tâm, giúp đỡ người khác
Trang 1814
Trong Hội nghị Alm-Ata cũng đã đưa ra khái niệm về chăm sóc sức khỏe ban đầu như sau: “Chăm sóc sức khỏe ban đầu là những sự chăm sóc thiết yếu xây dựng trên những phương pháp và kĩ thuật thực hành, có cơ sở khoa học và chấp nhận được về mặt xã hội; có thể phổ biến rộng rãi cho tất cả các cá nhân và gia đình của cộng đồng xã hội cùng tham gia đầy đủ với một giá mà cộng đồng nước đó có thể chịu đựng được ở một giai đoạn phát triển của họ và theo tinh thần tự giác, tự nguyện
Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một tổng thể các biện pháp, kĩ thuật và dịch vụ góp phần nâng cao sức khỏe và hạnh phúc bằng cách phòng ngừa và giải quyết những vấn đề về sức khỏe sinh sản, nó bao gồm: sức khỏe tình dục với mục đích đề cao cuộc sống và các mối quan hệ riêng tư, tư vấn, chăm sóc liên quan đến vấn đề sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Như vậy, chăm sóc SKSS đối với nữ công nhân khu công nghiệp là quá trình sử dụng các biện pháp, kĩ thuật, dịch vụ góp phần nâng cao, phòng ngừa
và giải quyết các vấn đề về sức khỏe sinh sản cho nữ công nhân
1.1.4 Khái niệm nữ công nhân nhập cư
Khái niệm nữ công nhân nhập cư
Theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia: “Phụ nữ hay đàn bà là từ chỉ giống cái của loài người Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn “con gái” thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn”
Nữ công nhân chỉ một bộ phận phụ nữ trưởng thành đủ tuổi lao động phải bán sức lao động để đổi lấy tiền lương và họ không phải là chủ sở hữu của phương tiện sản xuất
Theo Đại từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản Văn hoá – thông tin: Nhập cư là đến định cư ở một nơi khác Với đề tài này, khái niệm nữ công nhân nhập cư muốn nói đến việc một lực lượng lớn nữ giới từ tỉnh khác về khu công nghiệp Samsung sinh sống và làm việc lâu dài và họ chưa có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Ninh
Trang 1915
Đặc điểm tâm lý của nữ công nhân nhập cư
Nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Samsung đa phần xuất thân từ nông nghiệp Họ mong muốn có một công việc tốt gần nhà, thu nhập ổn định, công việc suôn sẻ, được công ty tạo điều kiện tăng ca để có thêm thu nhập
Họ không có điều kiện học thêm về văn hoá, kĩ thuật nên khi mới vào khu công nghiệp, họ chưa thích nghi ngay được với yêu cầu kĩ thuật hiện đại
Tâm lí xa nhà nên nữ công nhân nhập cư thường trở về nhà trọ sau khi tan ca, họ hầu như chỉ có mối quan hệ với những người cùng xa quê như mình Chính vì vậy, họ có tâm lí e ngại khi tiếp xúc với người khác, không thích tâm sự chuyện của mình cho người khác biết Họ mong muốn có một cuộc sống bình yên tại nơi trọ và làm việc; được sự giúp đỡ của đồng nghiệp trong công ty
Nữ công nhân nhập cư đi làm hầu hết chỉ chú tâm vào lương tháng, ít quan tâm đến công việc và thời gian làm việc tại khu công nghiệp
Do thời gian làm việc khắt khe nên nữ công nhân nhập cư ít có cơ hội quan tâm và tích cực tham gia các hoạt động xã hội Chính vì vậy họ ít có cơ hội chia sẻ tâm tư nguyện vọng của mình, họ thường âm thầm chịu đựng khi có xung đột tâm lí Khi có thời gian, những nữ công nhân nhập cư mong muốn được giao lưu với bạn bè khác giới, được tham quan du lịch xung quanh môi trường làm việc
Trình độ văn hoá, tay nghề còn thấp ảnh hưởng đến việc tiếp thu khoa học kĩ thuật, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm Nên những nữ công nhân nhập cư thường có tâm lí tự ti, nhất là khi họ đang làm việc tại nơi được coi là đất khách quê người
Nhu cầu của nữ công nhân nhập cư
Nhu cầu về vật chất: Nữ công nhân nhập cư cũng như bao người phụ
nữ bình thường khác, họ có nhu cầu khám – chữa bệnh liên quan đến bệnh phụ khoa; khám thai sản định kì; phòng chống lây nhiễm qua đường tình dục; được cung cấp đầy đủ các loại thuốc uống; các biện pháp KHHGĐ
Trang 2016
Nhu cầu về tinh thần: Được chia sẻ những khó khăn, căng thẳng trong công việc, trong đời sống hôn nhân vợ chồng; Chia sẻ, động viên trong quá trình sinh đẻ; Được tư vấn về các biện pháp KHHGĐ, tư vấn tâm lí trong quá trình trước mang thai và sau sinh; Hỗ trợ tinh thần cho nữ công nhân nhập cư khi mắc các bệnh phụ khoa, vô sinh; Được tham gia sinh hoạt nhóm, nhằm chia sẻ những kinh nghiệm về SKSS của mình,trang bị những kĩ năng để có thể tự chăm sóc cho mình khi có những vấn đề xảy ra
1.1.5 Khái niệm Công tác xã hội
Công tác xã hội (CTXH) được xem như là một nghề mang tính chuyên nghiệp ở nhiều quốc gia từ gần thế kỷ nay CTXH tồn tại và hoạt động khi xuất hiện những vấn đề cần giải quyết như tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng giới, và giúp đỡ những thành phần dễ bị tổn thương như trẻ mồ côi, người tàn tật, phụ nữ,…Chính vì vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm công tác xã hội
Tác giả Nguyễn Thị Oanh (trích từ tài liệu hội thảo 2004) cho rằng CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng TỰ GIÚP Nó không phải là một hành động ban
bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm
và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình Theo khái niệm này, CTXH trong việc giáo dục SKSS cho nữ công nhân nhập cư là một hoạt động chuyên môn khoa học, nằm trong mạng lưới các hoạt động của hệ thống an sinh xã hội quốc gia
Tác giả Bùi Thị Xuân Mai trong cuốn giáo trình Nhập môn công tác xã
hội định nghĩa “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ
giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu
và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội”
Trang 2117
[8, tr.63] Theo khái niệm này CTXH trong việc giáo dục SKSS cho nữ công nhân nhập cư được coi là một trong các hoạt động của nghề CTXH thông qua đó giúp nhóm yếu thế là nữ công nhân nhập cư nâng cao năng lực và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy về các chính sách, nguồn lực và dịch vụ để giúp nữ công nhân nhập cư giải quyết cũng như phòng ngừa các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản
Quan điểm mới về CTXH của Quốc tế (7/2014), “CTXH là một nghề thực hành và là một khoa học thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển xã hội, sự cố kết xã hội và tăng quyền lực giải phóng người dân Các nguyên tắc công bằng
xã hội, quyền con người, tinh thần trách nhiệm chung và tôn trọng sự đa dạng
là trọng tâm của nghề CTXH Vận dụng những lý thuyết của CTXH, khoa học
xã hội, khoa học nhân văn và kiến thức bản địa; CTXH vận động/thu hút người dân và các tổ chức nhận diện những thách thức trong cuộc sống và tăng cường an sinh cho con người” Theo quan niệm này, CTXH trong việc giáo dục SKSS cho nữ công nhân nhập cư dựa trên các nguyên tắc công bằng xã hội, quyền con người và tôn trọng sự đa dạng của thân chủ Đồng thời vận dụng các lý thuyết CTXH, khoa học xã hội, khoa học nhân văn và kiến thức đặc thù tại cộng đồng vào các hoạt động giáo dục SKSS cho thân chủ là nữ công nhân nhập cư
Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn
đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một
xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống
an sinh xã hội tiên tiến
Theo quan điểm này, CTXH trong việc giáo dục SKSS cho nữ công nhân nhập cư là hoạt động góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con
Trang 2218
người với con người, hạn chế các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ là nữ công nhân nhập cư
1.1.6 Khái niệm công tác xã hội nhóm
Theo TS Hà Thị Thư trong Kĩ năng CTXH nhóm của sinh viên có viết:
CTXH nhóm là một phương pháp của CTXH nhằm trợ giúp các thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường hoạt động tương tác, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung khi tham gia vào các hoạt động nhóm
để đạt tới mục tiêu chung của nhóm và hướng đến giải quyết những mục đích
của cá nhân thành viên
Từ thực trạng thực hiện dịch vụ chăm sóc SKSS đối với nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Samsung, tác giả tiến hành phương pháp công tác xã hội nhóm với 10 nhóm viên thông qua các hoạt động khác nhau để xem xét nhu cầu của các chị về dịch vụ CTXH cũng như kiến thức về chăm sóc SKSS Tác giả thực hiện theo đúng tiến trình trong phương pháp CTXH nhóm: thành lập nhóm; khảo sát nhóm; duy trì nhóm; kết thúc và mang lại kết quả đúng như mong đợi Thông qua các hoạt động nhóm, các chị có cơ hội được bộc lộ những suy nghĩ của mình về vấn đề thảo luận, được lắng nghe ý kiến của các thành viên trong nhóm Từ đó tạo sự kết nối giữa các nhóm viên, tạo điều kiện để hoạt động nhóm diễn ra có hiệu quả
1.2 Khái niệm Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư
1.2.1 Khái niệm
Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư được hiểu là các dịch vụ có sử dụng các tri thức, kĩ năng, phương pháp của CTXH vào việc chăm sóc SKSS cho nữ công nhân nhập cư nhằm giúp đỡ họ phục hồi, tăng cường các chức năng xã hội của mình, đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ
Trang 23Góp phần xây dựng cộng đồng lành mạnh, cũng là góp phần bảo đảm quyền của người phụ nữ, góp phần vào công cuộc bình đẳng giới mà xã hội đang hướng tới Sâu xa hơn, mục đích của CTXH chính là tính nhân văn và điều này là một trong những nhiệm vụ, sứ mệnh của CTXH
1.2.2 Vai trò của dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư
Góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế -
xã hội Nguồn nhân lực ở đây là những nữ công nhân nhập cư đang trong độ tuổi lao động và sinh sản tại khu công nghiệp
Nâng cao chất lượng cuộc sống của nữ công nhân nhập cư Chất lượng cuộc sống của con người ngoài việc được đáp ứng đầy đủ vật chất còn phải được thoả mãn đầy đủ về nhu cầu tinh thần Để có một cơ thể khoẻ mạnh, tinh thần lành mạnh, những nữ công nhân nhập cư cần được chăm sóc sức khoẻ đúng cách, trong đó có chăm sóc SKSS
Góp phần nâng cao chất lượng dân số, cải tạo nòi giống, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các thế hệ kế tiếp và tương lai
Góp phần giữ vững ổn định xã hội, củng cố hạnh phúc gia đình Dịch
vụ CTXH trong chăm sóc SKSS đối với nữ công nhân nhập cư với các hoạt động tuyên truyền, vận động, các dịch vụ khám chữa bệnh sẽ góp phần phòng
Trang 24- Hoạt động tham vấn, tư vấn chăm sóc sức khoẻ: tư vấn phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản; các bệnh lây truyền qua đường tình dục; HIV/AIDS; các biện pháp KHHGĐ; cách phòng tránh thai; quan hệ tình dục an toàn; phòng chống xâm hại tình dục; vệ sinh ngày đèn đỏ phù hợp,…
- Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức: nhằm mục đích nâng cao nhận thức của nữ công nhân nhập cư về quyền SKSS thông qua các hình thức như tập huấn với các chuyên gia, dán tờ rơi, áp phích quảng bá, truyền thanh qua loa,…
- Hoạt động vận động kết nối nguồn lực: phối hợp với các ban ngành dân số, Liên đoàn lao động tỉnh, trung tâm y tế dự phòng tỉnh, các doanh nghiệp trên đia bàn tỉnh để cung cấp các dịch vụ chăm sóc SKSS đối với công nhân nhập cư
1.3 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.3.1 Tháp nhu cầu của Maslow
Abraham Maslow (1908 – 1970) là nhà tâm lí học người Mỹ, sinh ra ở New York, ông quan tâm phân tích về hành vi của con người Giới nghiên cứu thừa nhận rằng, ông là một trong những lí thuyết gia xuất sắc về nhu cầu
và động cơ của con người trong lao động Ông là một trong những người tiếp tục con đường nghiên cứu của Elton Mayo và nổi tiếng với thang nhu cầu
Trang 2521
Sau khi quan sát và phân tích theo phương pháp lâm sàng nhu cầu và động cơ của người lao động, tác giả khám phá ra hai nguyên tắc:
• Nhu cầu của con người có thể được xếp thành thứ bậc;
• Nhu cầu bậc cao chỉ được đáp ứng khi nhu cầu bậc thấp đã được đáp ứng Trên cơ sở hai nguyên tắc đó, tác giả sắp xếp nhu cầu của con người theo năm bậc như sau:
• Bậc 1: Nhu cầu thể sinh lí hay nhu cầu tồn tại (ăn, uống, mặc, ngủ,
cá nhân đều có 5 bậc thang nhu cầu cơ bản nhất
Bảng 1.1: Phân cấp nhu cầu theo mức của Maslow
Nhu cầu về sự kính mến và lòng tự trọng Nhu cầu về quyền sở hữu và tình cảm (được yêu thương)
Nhu cầu về thể chất và sinh lí
Trang 2622
Nhu cầu cơ bản, nhu cầu sinh lí: Đây được coi là nhu cầu cơ bản nhất của con người, bởi lẽ để có thể duy trì được cuộc sống của con người như ăn, mặc, ở ) Maslow quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức cần thiết thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được con người
Nhu cầu về sự an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể của con người Con người luôn cần cảm giác được an toàn, nếu lúc nào cũng chỉ lo sợ cho sự an toàn của mình thì sẽ không làm được việc gì khác
Nhu cầu về xã hội hay nhu cầu được yêu thương: Con người là thành viên của toàn xã hội nên họ được và mong muốn người khác chấp nhận, được yêu thương gắn bó Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu để giao tiếp để có thể phát triển về mọi mặt cuộc sống
Nhu cầu được quý trọng: Khi con người bắt đầu được thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận trong xã hội thì họ muốn được người khác tôn trọng và quý trọng mình Nhu cầu này dẫn tới sự thỏa mãn như: quyền lực, địa vị, lòng tin Đây là mong muốn của con người khi nhận được sự chú ý, quan tâm và sự tôn trọng của mọi người xung quanh và hơn nữa mong muốn bản thân mình là một mắt xinh quan trọng trong sự phân công lao động xã hội Họ mong muốn mình sẽ trở thành một người có ích cho xã hội và cho toàn thể cộng đồng Chính
vì thế mà con người mong muốn được người khác tôn trọng và quý mến họ
Nhu cầu được thể hiện mình: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân tầng của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà môt người có thể đạt tới.Nghĩa là làm cho tiềm năng của người đó đạt mức tối đa
để có thể thực hiện được những mục tiêu cụ thể nào đó Đây có thể coi là khát vọng là mong muốn của con người
Đối với nữ công nhân nhập cư tại khu công nghiệp Samsung, họ sống
và làm việc tại nơi đất khách quê người Ở khu trọ, họ còn phải sinh sống cùng với những công nhân ở những nơi khác Vì vậy trong tất cả 5 nhu cầu
Trang 2723
theo thang nhu cầu của Maslow, nhu cầu ăn – mặc - ở và nhu cầu an toàn là nhu cầu được quan tâm nhất của nữ công nhân nhập cư Họ đến khu công nghiệp Samsung làm việc vì chế độ lương – thưởng cao, có nhiều cơ hội tăng
ca để kiếm thêm thu nhập Mong muốn của hầu hết nữ công nhân nhập cư là
đi làm dành dụm được nhiều tiền để gửi về phụ giúp gia đình hoặc có tiền tiết kiệm cho tương lai Vậy nên khi về đến khu trọ, họ mong muốn có một nơi có
an ninh an toàn để nghỉ ngơi, tiếp tục cho công việc ngày hôm sau Ngoài ra,
họ cũng mong muốn được chấp nhận và tôn trọng như những nữ công nhân không nhập cư khác
1.3.2 Thuyết hệ thống sinh thái
Con người không chỉ đơn giản thực hiện các chức năng cá nhân của riêng mình, mà con người còn được sống được tương tác với môi trường, sống trong một hệ thống Có thể hệ thống đó đang được hình thành, hoặc đã có hay đã mất đi.Thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được vận dụng phổ biến trong công tác xã hội.Khi thực hiện tiến hành giúp đỡ
cá nhân, nhân viên công tác xã hội cần phải chỉ ra thân chủ của mình đang thiếu và cần đến những hệ thống nào trợ giúp nào và giúp đỡ cá nhân đó có thể tiếp cận và tham gia các hệ thống.Lý thuyết này dựa trên giả thuyết rằng, mỗi cá nhân đều trực thuộc vào môi trường sống Cả cá nhân và môi trường được coi như một thể thống nhất mà trong đó các yếu tố liên hệ và ràng buộc nhau rất chặt chẽ Thuyết hệ thống trong công tác xã hội bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy.Thuyết này dựa trên quan điểm lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các hệ thống và đồng thời bản thân các tiểu hệ thống cũng là một phần của hệ thống lớn
Các cá nhân và môi trường bên ngoài cũng như hệ thống các môi trường bên ngoài sẽ có nhiều tương tác với nhau, bên cạnh đó để cá nhân
Trang 2824
được hoạt động hiệu quả hơn thì thuyết hệ thống được sử dụng rộng rãi trong công tác xã hội cá nhân vì thuyết này giúp cho nhân viên xã hội hiểu được cá nhân trong các hệ thống
Chúng ta có thể thấy rằng thuyết hệ thống giúp các nhà công tác xã hội
có những hiểu biết về các thể chế, sự tương tác của các hệ thống này với nhau.Với các cá nhân biết mọi cách thức mà mọi cá nhân tương tác với nhau, những nhân tố nào sẽ giúp hỗ trợ cho sự thay đổi sẽ tham gia vào tiến trình giúp đỡ này Mọi người trong mọi hoàn cảnh sống đều có những hoạt động và
có những phản ứng ảnh hưởng tới nhau vì thế khi tiến hành can thiệp hoặc giúp đỡ một người chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới những yếu tố xung quanh Vì thế khi thực hiện vai trò dựa trên hoạt động công tác xã hội chúng ta phải nhìn nhận vấn đề thay đổi trên nhiều phương diện và nhiều mức độ khác nhau trên
cả các hệ thống ví dụ như gia đình, nhà trường, cộng đồng, xã hội
Có ba hệ thống chính:
• Hệ thống phi chính thức ( hệ thống thân tình tự nhiên) như: gia đình,
họ hàng, người thân, bạn bè đồng nghiệp
• Hệ thống chính thức (hệ thống chính quy): Nhà trường, bệnh viện, trường học, cơ quan làm việc …
• Hệ thống xã hội: Đây là hệ thống lớn, vĩ mô.Các tổ chức xã hội như: Hội phụ nữ, hội người cao tuổi, hội Chữ Thập Đỏ …
Sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối vì đối với cá nhân này hệ thống trợ giúp có thể là hệ thống chính thức nhưng đối với các cá nhân khác
nó lại là hệ thống xã hội hay phi chính thức
Như vậy thông qua lý thuyết hệ thống, chúng ta thấy rằng đối với nữ công nhân nhập cư khu công nghiệp Samsung, các hệ thống có thể hỗ trợ được họ bao gồm: gia đình, bạn bè tại khu công nghiệp, doanh nghiệp trên địa bàn khu công nghiệp, cán bộ y tế, cán bộ công đoàn, các trung tâm dịch vụ
Trang 2925
công tác xã hội, liên đoàn lao động tỉnh Bắc Ninh, Trong quá trình tiếp xúc
và can thiệp, chúng ta cần phát huy hiệu quả sự hỗ trợ từ các hệ thống này
1.4 Luật pháp, chính sách hỗ trợ sức khỏe sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư
1.4.1 Luật pháp, chính sách đối với phụ nữ nói chung
Với việc đặt con người là vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển kinh tế - xã hội,
do đó Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và bảo vệ quyền con người, trong đó đặc biệt quan tâm đến quyền của người phụ nữ Những qui định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ được ghi nhận trong nhiều văn bản
pháp lý, trong đó có lĩnh vực lao động và chăm sóc sức khỏe sinh sản
Có thể thấy, người phụ nữ ngoài việc thực hiện nghĩa vụ lao động như nam giới họ còn phải đảm nhận chức năng làm mẹ và chăm sóc gia đình vì thế pháp luật lao động đã có những qui định ưu đãi đối với lao động nữ nhằm giúp họ hoàn thành công việc và đảm bảo thực hiện tốt thiên chức của mình
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động trong đó có lao động nữ, từ những năm 90 của thế kỉ XX, Nhà nước
ta đã thể chế hóa nhiều nội dung về việc làm bằng Hiến pháp, các đạo luật và nhiều văn bản pháp luật khác, cụ thể:
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ sung mới) [16] đã hiến định rằng công nhân nam và nữ bình đẳng về mọi mặt, Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới, có chính sách tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội và nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới (Điều 26,Chương II)
Bộ Luật lao động 2012 đã dành hẳn chương X qui định riêng cho người lao động nữ [15] gồm các vấn đề như tuyển dụng, học nghề, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, làm
Trang 3026
cơ sở cho các bên khi tham gia quan hệ lao động như đảm bảo quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ Khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà Có biện pháp tạo việc làm, cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ nhằm giúp lao động nữ phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sống lao động và cuộc sống gia đình
Có chính sách giảm thuế đối với người sử dụng lao động có sử dụng nhiều lao động nữ theo qui định của pháp luật về thuế Mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ có thêm nghề dự phòng và phù hợp với đặc điểm về
cơ thể, sinh lý và chức năng làm mẹ của phụ nữ Nhà nước có kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ
Đối với chế độ thai sản của lao động nữ, Bộ luật đã điều chỉnh về thời gian nghỉ thai sản Cụ thể, từ ngày 01/05/2013, thời gian nghỉ trước và sau khi sinh con của lao động nữ được tăng lên 06 tháng thay vì 04 tháng như qui định hiện hành Trường hợp nữ lao động sinh đôi trở lên thì tinh từ con thứ 2 trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng Trong thời gian nghỉ thai sản, lao động nữ được hưởng chế độ thai sản theo qui định của pháp luật
và bảo hiểm xã hội Trường hợp có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
có thẩm quyền và được người sử dụng lao động, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất 04 tháng Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo qui định của pháp luật về bảo hiểm xã hội
Luật việc làm 2013 đã có những qui định cụ thể về dạy nghề và việc làm đối với lao động nữ [18] Theo đó Nhà nước đảm bảo, tạo điều kiện tối đa cho lao động nữ được lựa chọn, tư vấn và học nghề, làm việc theo khả năng,
Trang 3127
sức khỏe của mình; cơ sở dạy nghề, tổ chức dạy nghề phải đảm bảo điều kiện dạy nghề, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng những lao động nữ có đủ tiêu chuẩn
Luật Giáo dục nghề nghiệp [17] có các qui định hỗ trợ giáo dục nghề nghiệp đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong đó có lao động nữ
Luật Bình đẳng giới [19] đã có những qui định về việc nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, bảo đảm bình đẳng giới trong các lĩnh vực về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và gia đình; hỗ trợ
và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển, bảo vệ,
hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình
Nghị định số 85/2015/NĐ-CP ngày 01/01/2015 của Chính phủ qui định chi tiết một số điều của Bộ Luật lao động về chính sách đối với lao động nữ Theo đó lao động nữ có những quyềnlợi như sau: được cải thiện điều kiện lao động (Điều 6, Chương II), được hưởng các điều kiện chăm sóc sức khỏe (Điều 7, Chương II), được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động mang thai (Điều 8, Chương II) Được người sử dụng lao động hỗ trợ trong việc xây dựng nhà trẻ, lớp mẫu giáo hoặc được hỗ trợ một phần chi phí gửi trẻ, mẫu giáo (Điều 9, Điều 10, Chương II), được hưởng những chính sách ưu đãi về nhà ở…
Những văn bản chính sách liên quan đến SKSS/SKTD và phòng chống HIV cho phụ nữ bao gồm:
Luật phòng chống HIV/AIDS (Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/06/2006); Nghị định 08/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật phòng, chống HIV; Nghị định 69/2011/NĐ-CP qui định về xử phạt hành chính trong phòng, chống HIV; chỉ thị 61/2008/CT-
Trang 3228
BGD&ĐT về tăng cường phòng chống HIV; Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 (Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 17 tháng 3 năm 2004): Các giải pháp thực hiện mục tiêu chiến lược được đề cập đến bao gồm “phát huy tính chủ động tham gia của người nhiễm HIV/AIDS và chống phân biệt đối xử”, “bảo đảm các chính sách về bình đẳng giới, các chính sách đặc thù cho từng nhóm đối tượng”,
“ triển khai và nâng cao chất lượng hiệu quả chương trình đào tạo về dự phòng lây nhiễm HIV, giáo dục giới tính, giáo dục SKSS và kĩ năng sống”
Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 (Thủ tướng chính phủ phê duyệt ngày 22 tháng 12 năm 2000): Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ với các nội dung và hình thức phù hợp trong khuôn khổ chăm sóc sức khỏe ban đầu, tiến tới thỏa mãn nhu cầu của người dân về SKSS/KHHGĐ, hạn chế đến mức thấp nhất có thai ngoài ý muốn, giảm mạnh nạo thai, hút thai, góp phần nâng cao chất lượng dân số
Quyết định phê duyệt đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/3/2010 nhằm phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viện và cộng tác viên CTXH đủ về
số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai các hoạt động trợ giúp xã hội đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội, trong đó bao gồm có vấn đề về giáo dục SKSS cho nữ công nhân
Như vậy chúng ta thấy rằng, việc giáo dục chăm sóc SKSS cho nữ công nhân có cả 1 hệ thống các văn bản pháp lý khá đồng bộ và chặt chẽ, các chương trình hành động, các mục tiêu giải pháp và sự phân định trách nhiệm các tổ chức cơ quan nhà nước trong việc thực hiện Các văn bản pháp lý này
Trang 33có thể giải quyết được nhiều vấn đề cấp bách mang tính xã hội nói chung trong đó có việc giáo dục SKSS cho nữ công nhân nói riêng mà ở đó các hoạt động CTXH đều dựa trên các chính sách, pháp luật của nhà nước
1.4.2 Chỉ đạo của ban lãnh đạo khu công nghiệp Samsung đối với chế độ chăm sóc sức khoẻ sinh sản với nữ công nhân
Tại khu công nghiệp Samsung, ban chỉ đạo công ty có nhiều ưu đãi đối với nữ công nhân trong chế độ thai sản, cụ thể:
- Phụ nữ có con nhỏ dưới 1 tuổi được nghỉ một giờ làm việc mỗi ngày nhưng vẫn được nhận đủ số lương khi không làm đủ số giờ làm việc
- Phụ nữ có con nhỏ dưới 1 tuổi không được tăng ca theo qui định của công ty
- Phụ nữ có con nhỏ dưới 1 tuổi không phải làm ca đêm
- Phụ nữ được nghỉ thai sản 6 tháng và được hưởng chế độ trợ cấp thai sản tuỳ theo thâm niên làm việc của nữ công nhân tại công ty
Trang 3430
Tiểu kết chương 1
Ở chương 1 chúng ta đã cùng làm rõ những khái niệm liên quan đến SKSS, nữ công nhân nhập cư, nhu cầu của họ và vai trò của CTXH trong việc giáo dục SKSS cho nữ công nhân nhập cư này Ở khái niệm được phân tích, SKSS được hiểu là tình trạng khoẻ mạnh, thoải mái của một cá nhân về mặt tâm lý, tinh thần và thể chất liên quan đến bộ máy sinh sản Chứ không bó hẹp ở bộ phận sinh dục như cách hiểu thông thường Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, SKSS nhằm cung cấp những kiến thức liên quan đến vấn đề sức khoẻ tình dục, tình dục an toàn, nhận thức về tác hại của các vấn đề quan hệ tình dục không an toàn, từ đó mỗi cá nhân được ý thức tự chủ, tự bảo vệ sức khoẻ của chính bản thân mình
Việc một cá nhân có đầy đủ kiến thức, kỹ năng để ứng phó với những vấn đề liên quan đến SKSS mang một ý nghĩa quan trọng, không chỉ giúp cá nhân đó bảo vệ bản thân một cách lành mạnh mà còn ngăn chặn các hậu quả, các hệ luỵ ảnh hưởng tới gia đình, xã hội như: nạo phá thai, con mồ côi, trẻ bị
bỏ rơi, trẻ lang thang,…
Tuy nhiên với những nữ công nhân nhập cư, đặc trưng công việc của
họ thường bận rộn và ít được quan tâm chăm sóc SKSS thì việc cần được chăm sóc SKSS là một nhu cầu bức thiết, đặc biệt trong thời kì bùng nổ công nghệ thông tin, ranh giới giữa tình yêu – tình dục trở nên dễ dàng bị phá vỡ và người phải chịu hậu quả lớn nhất là người phụ nữ Vì vậy họ cần được quan tâm chăm sóc, được nâng cao năng lực, có kỹ năng, kiến thức để có thể dễ dàng ứng phó với những tình huống xảy ra Và CTXH là một nghề, một dịch
vụ xã hội với vai trò cung cấp dịch vụ, hỗ trợ kết nối nguồn lực, giáo dục nâng cao nhận thức và thay đổi con người theo chiều hướng tích cực Với tất
cả những người yếu thế trong xã hội, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em chính là đối
Trang 3531
tượng ưu tiên quan tâm của CTXH Nữ công nhân nhập cư, với những thiếu thốn của mình, họ cũng là một đối tượng cần quan tâm của CTXH Với sứ mệnh, vai trò tích cực của mình, CTXH tin tưởng sẽ là một tác nhân hỗ trợ nữ công nhân nhập cư trong vấn đề cung cấp kiến thức, giáo dục, chăm sóc SKSS cho họ
Trang 3632
Chương 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHOẺ SINH SẢN ĐỐI VỚI NỮ CÔNG NHÂN NHẬP CƯ TẠI KHU CÔNG NGHIỆP
SAMSUNG, TỈNH BẮC NINH
2.1 Đặc điểm địa bàn, khách thể nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Tập đoàn Samsung là một tập đoàn đa quốc gia của Hàn Quốc có tổng hành dinh đặt tại Samsung Town, Seoul Tập đoàn có nhiều công ty con, hầu hết hoạt động dưới thương hiệu Samsung, là tập đoàn thương mại lớn nhất
Hàn Quốc
Samsung được sáng lập bởi Lee Byung – Chul năm 1938, khởi đầu là một công ty buôn bán nhỏ Ba thập kỉ sau, tập đoàn Samsung đa dạng hóa các ngành nghề bao gồm chế biến thực phẩm, dệt may, bảo hiểm, chứng khoán và bán lẻ.Samsung tham gia vào lĩnh vực công nghiệp điện tử vào cuối thập kỉ
60, xây dựng và công nghiệp đóng tàu vào giữa thập kỉ 70 Sau khi Lee Byung mất năm 1987, Samsung tách ra thành 4 tập đoàn : tập đoàn Samsung, tập đoàn Shinsegae, tập đoàn CJ, tập đoàn Hansol Từ thập kỉ 90, Samsung
mở rộng hoạt động trên qui mô toàn cầu, tập trung vào lĩnh vực điện tử, điện thoại di động và chất bán dẫn, đóng góp vào doanh thu của tập đoàn
Samsung Electronics là một trong những chi nhánh quan trọng của Samsung, đây là công ty điện tử lớn nhất thế giới theo doanh thu và lớn thứ 4 thế giới theo giá trị thị trường năm 2012 Công ty TNHH Samsung Electronics Vietnam(SEV) trụ sở tại KCN Yên Phong I, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh là nhà máy sản xuất điện thoại di động đầu tiên với qui mô hoàn chỉnh tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại SEV là nhà máy sản xuất điện thoại di đông thứ 7 của Samsung trên Thế giới và Việt Nam là
Trang 3733
quốc gia thứ 5 có cơ sở sản xuất của Samsung, bên cạnh Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn độ và Brazil Được coi là một đối thủ cạnh tranh mạnh của Nhật Bản, Đài Loan và các doanh nghiệp nội địa, SEV càng ngày càng mở rộng sản xuất nhằm trở thành nhà cung cấp bộ nhớ Ram động (DRAM), tủ lạnh, bộ nhớ flash, đầu DVD lớn nhất thế giới và trở thành một trong 20 doanh nghiệp hàng đầu toàn cầu vào năm 2010 Hiện tại SEV đã là một trong những nhà sản xuất dẫn đầu thế giới về màn hình plasma và điện thoại di động Sản phẩm của SEV xuất khẩu sang 50 quốc gia và vùng lãnh thổ Giải quyết việc làm cho hơn 39.400 người lao động trong và ngoài tỉnh, SEV đã xây dựng khu kí túc xá dành cho nhân viên sản xuất với 14 tòa nhà, sức chứa 6.500 công nhân Sống trong kí túc, công nhân được hỗ trợ rất nhiều, họ chỉ phải trả 50 ngàn đồng/tháng tiền trọ (không tính tiền điện, nước), mỗi bữa ăn là 10 ngàn đồng
Hiện nay công ty SEV có rất nhiều chính sách đãi ngộ nhằm thu hút nguồn lao động như mức lương hấp dẫn, được trợ cấp tiền ăn trưa, được tham gia các loại bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, tạo điều kiện cho công nhân tăng
ca và hỗ trợ bữa ăn miễn phí khi công nhân làm thêm Hơn nữa, các loại tiền thưởng các dịp Lễ, tết cũng rất hấp dẫn đối với công nhân nhập cư khu công nghiệp Samsung Ngoài hỗ trợ làm thêm giờ, tăng ca làm đêm, chỗ ở,…Trong trường hợp công nhân làm thêm ca tối, ca đêm (lương sẽ bằng 150% ngày công), hai ngày cuối tuần (200% ngày công) và các ngày nghỉ Lễ, tết (300% ngày công) Các nữ công nhân còn được hỗ trợ tiền nuôi con nhỏ bằng việc đưa ra hàng loạt các chính sách mới phù hợp với tâm lí nữ công nhân lao động trong công ty, ví dụ như được về sớm 1 tiếng khi con nhỏ dưới 1 tuổi, không phải làm ca đêm khi nữ công nhân đang trong giai đoạn cho con bú, Chính vì có rất nhiều chính sách đãi ngộ tốt, nên doanh nghiệp đã thu hút được nguồn lao động dồi dào từ nhiều tỉnh thành phục vụ cho mục đích sản
Trang 38kể, cô vẫn còn may mắn hơn nhiều công nhân khác vì được sống trong kí túc
và ăn uống trong căng tin Hiện kí túc đã hết chỗ nên nhiều công nhân vào sau
sẽ phải tìm chỗ gần nhà máy để trọ.“Phòng trọ rẻ nhất ở đây khoảng 1 triệu/tháng, có thể ở ghép 2 người để giảm chi phí Nhưng nếu ăn uống bên ngoài thì rất tốn kém Nhà máy ở cách khu chợ, quán ăn khoảng 2 km Mỗi lần muốn ăn bên ngoài, chúng em đều phải đi xe ôm Mỗi lượt xe ôm giá 30 ngàn, bữa trưa trung bình từ 25-35 ngàn Tính ra thì mỗi lần đi ăn sẽ tốn gần
100 ngàn Nếu cả tháng ăn bên ngoài thì tiền lương cũng không đủ trả tiền ăn uống”.Theo lãnh đạo công ty Samsung Việt Nam, nhu cầu nhà ở sẽ tăng lên rất lớn vì có gần 400 doanh nghiệp vệ tinh của Samsung từ Hàn Quốc và Trung Quốc kéo theo đầu tư vào Bắc Ninh Thêm nữa, kí túc xá của công ty Samsung hiện tại chưa có chủ trương cho thuê nhà đối với các đối tượng là công nhân nhập cư ở theo cặp vợ chồng và có thêm con cái
Vấn đề bất cập tiếp theo được nhiều nữ công nhân nhập cư phản ánh, là việc nghỉ trưa quá ngắn tại công ty Mỗi ngày nữ công nhân nhập cư có 50 phút để nghỉ trưa tuy nhiên theo họ quãng thời gian 50 phút bao gồm cả ăn trưa và nghỉ trưa là quá ngắn bởi riêng việc xếp hàng chờ lấy đồ ăn đã mất từ 10-15 phút, ăn trưa 10 phút thì thời gian nghỉ ngơi còn lại cũng chẳng được
Trang 3935
bao nhiêu Thời gian nghỉ trưa ngắn ngủi nhưng công nhân lại không được phép mang chăn gối vào nhà máy để nghỉ ngơi Do số lượng lao động lớn nên công nhân nhập cư chỉ có duy nhất một lựa chọn là ngồi ngủ gục tại chỗ ăn
2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu
Những nữ công nhân nhập cư đang làm việc tại khu công nghiệp Samsung có tuổi đời còn rất trẻ, phần lớn có độ tuổi từ 18-27 tuổi Họ xuất thân
từ nhiều vùng miền khác nhau, chủ yếu là ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Bắc Giang, Lạng Sơn,…Mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau nhưng những nữ công nhân nhập cư đều có một điểm chung là gặp khó khăn về kinh tế
Qua điều tra cho thấy số lao động nhập cư đa phần có trình độ học vấn thấp, 83% số công nhân nhập cư điều tra có trình độ học vấn tốt nghiệp Trung học phổ thông Họ chưa có tác phong làm việc công nghiệp, chưa thấy cần phải nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu công việc Cũng do trình độ học vấn thấp nên những nữ công nhân nhập cư chưa hiểu rõ được quyền lợi của người lao động; chưa thực hiện đúng và đầy đủ việc sử dụng trang thiết bị bảo
hộ lao động cấp phát
Trong 200 khách thể nghiên cứu là những nữ công nhân nhập cư thì có
42 người đã lập gia đình (39 người đã có con, 3 người đang có bầu bé đầu tiên)
và 158 người chưa lập gia đình Hàng ngày, những nữ công nhân nhập cư đều phải gắn bó với 4 bức tường ở nhà máy suốt 8 tiếng đồng hồ (nếu không tăng ca).Vào thời tiết nóng như mùa hè hơi nóng toát ra từ điện tử, cộng thêm số lượng lớn công nhân làm việc trong nhà máy khiến không khí trở nên rất ngột ngạt Mỗi ca làm việc, công nhân đều được nghỉ giải lao 2 lần, mỗi lần 10 phút Ca ngày bắt đầu từ 8h sáng đến 17h chiều, ca đêm bắt đầu từ 20h tối đến 5h sáng Mỗi tháng chưa kể tăng ca, thu nhập bình quân của các chị dao động
ở mức 4.000.000 đến 5.000.000 đồng tuỳ vào thâm niên gắn bó với khu công nghiệp Trừ chi phí tiền trọ và sinh hoạt phí, mỗi tháng tiết kiệm cộng với thu
Trang 4036
nhập tăng ca, các chị cũng để dành được khoảng 2.000.000 – 3.000.000 đồng Trước khi đến với khu công nghiệp, đa phần các chị tốt nghiệp trung học phổ thông và chưa đi làm gì Số ít các chị học lên trung cấp và cao đẳng, sau đó đi làm với công việc không đúng chuyên ngành học
Đặc điểm hình thái sinh lý của nữ giới cho thấy, sức khỏe thể lực của
nữ công nhân nhập cư có phần hạn chế hơn nam giới Thêm vào đó, do điều kiện lao động hiện nay còn nhiều yếu tố độc hại về tiếng ồn, hóa chất, chất phóng xạ, bụi,… ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động nói chung và nữ lao động nhập cư nói riêng
2.2 Thực trạng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản đối với nữ công nhân nhập cư
SKSS đóng vai trò không chỉ quan trọng đối với bản thân nữ công nhân nhập cư mà còn có ý nghĩa đối với cả gia đình và xã hội SKSS có tốt, không chỉ giúp nữ công nhân nhập cư có thể duy trì khả năng sinh sản mà còn có thể giúp các chị có một cơ thể khoẻ mạnh về thể chất lẫn tinh thần Chăm sóc SKSS giúp nữ công nhân nhập cư có thể chuẩn bị về kiến thức, tâm lý đúng cho cuộc sống tình dục vợ chồng, phát hiện và điều trị sớm (nếu có) một số bệnh tật có thể ảnh hưởng đến vấn đề tình dục, mang thai, sinh đẻ về sau Vì vậy, việc chăm sóc SKSS là một việc cực kì quan trọng, không những trong việc xây dựng, giữ gìn hạnh phúc gia đình mà còn góp phần giảm hậu quả xấu
về mặt sức khoẻ cho xã hội
2.2.1 Thực trạng hoạt động tham vấn, tư vấn về sức khoẻ sinh sản
Tham vấn là một quá trình trợ giúp tâm lý, trong đó nhà tham vấn sử dụng kiến thức, kĩ năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp để thiết lập mối quan hệ tương tác tích cực với thân chủ nhằm giúp họ nhận thức được hoàn cảnh vấn đề để thay đổi cảm xúc, suy nghĩ và hành vi