Bài giảng cung cấp những kiến thức cơ bản về địa lý tự nhiên khu vực, khái quát về các lục địa trên Trái Đất và nội dung chi tiết về các lục địa các yếu tố hình thành tự nhiên, đặc điểm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI NÓI ĐẦU viii
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1
1.1 VỊ TRÍ CỦA ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC 1
1.1.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC 1
1.1.1.1 Thời Cổ đại (trước thế kỷ V) 1
1.1.1.2 Thời Trung đại (thế kỷ V – XV) 1
1.1.1.3 Giai đoạn thế kỷ XV – XVII 2
1.1.1.4 Thời hiện đại 3
1.1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC 3
1.1.2.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.1.2.2 Nhiệm vụ của địa lý khu vực 3
1.1.3 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 3
1.1.3.1 Phương pháp luận phổ biến 3
1.1.3.2 Phương pháp luận cụ thể 4
1.1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC 4
1.1.4.1 Phương pháp khảo sát thực địa 4
1.1.4.2 Phương pháp địa vật lý 4
1.1.4.3 Phương pháp địa hóa học 4
1.1.4.4 Phương pháp toán học 4
1.1.4.5 Phương pháp cổ địa lý 5
1.1.4.6 Phương pháp bản đồ 5
1.1.4.7 Phương pháp ảnh viễn thám 5
1.1.4.8 Phương pháp phân tích hệ thống 5
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CÁC LỤC ĐỊA TRÊN TRÁI ĐẤT 5
1.2.1 SỰ HÌNH THÀNH CÁC LỤC ĐỊA 5
1.2.1.1 Các thuật ngữ liên quan 5
1.2.1.2 Sự thay đổi các phần đất nổi trên bề mặt Trái Đất 6
1.2.1.3 Các chu kỳ tạo núi chính 8
1.2.2 SỰ PHÂN CHIA VÀ PHÂN BỐ CÁC LỤC ĐỊA 8
1.2.2.1 Sự phân chia các lục địa 8
1.2.2.2 Sự phân bố các lục địa 9
1.2.3 MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN 9
CHƯƠNG 2 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA Á – ÂU 11
2.1 CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA Á - ÂU 11
2.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, GIỚI HẠN VÀ TIẾP GIÁP 11
2.1.1.1 Vị trí địa lý và giới hạn 11
2.1.1.2 Tiếp giáp 11
2.1.2 HÌNH DẠNG VÀ KÍCH THƯỚC 12
2.1.2.1 Về hình dạng 12
2.1.2.2 Kích thước 12
2.1.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN 12
2.1.3.1 Thời kỳ Tiền Cambri 12
2.1.3.2 Đại Paleozoi - Pz 12
2.1.3.3 Đại Mesozoi – Mz 13
Trang 3ii
2.1.3.4 Đại Kainozoi – Kz 13
2.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA Á - ÂU 14
2.2.1 ĐỊA HÌNH 14
2.2.1.1 Địa hình bị chia cắt thẳng đứng rất mạnh 14
2.2.1.2 Các dạng địa hình phân bố không đều 14
2.2.1.3 Hướng núi gồm hai hướng chính 14
2.2.2 KHOÁNG SẢN 14
2.2.2.1 Các mỏ mạch 15
2.2.2.2 Các mỏ trầm tích 15
2.2.3 KHÍ HẬU 15
2.2.3.1 Các yếu tố hình thành khí hậu 15
2.2.3.2 Đặc điểm khí hậu 16
2.2.3.3 Các đới khí hậu 17
2.2.4 THỦY VĂN 19
2.2.4.1 Sông ngòi 19
2.2.4.2 Hồ 21
2.2.4.3 Băng hà 21
2.2.5 SINH VẬT 22
2.2.5.1 Giới thiệu khái quát 22
2.2.5.2 Các đới sinh vật 22
2.3 CÁC KHU VỰC ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA Á - ÂU 25
2.3.1 BẮC Á 25
2.3.1.1 Tây Siberia 25
2.3.1.2 Trung Siberia 25
2.3.1.3 Đông Siberia và Nam Siberia 25
2.3.2 TÂY Á - ÂU 26
2.3.2.1 Bắc Âu 26
2.3.2.2 Đông Âu 26
2.3.2.3 Tây và Trung Âu 27
2.3.2.4 Nam Âu 27
2.3.3 TRUNG Á VÀ NỘI Á 28
2.3.3.1 Đồng bằng Trung Á 28
2.3.3.2 Miền núi Thiên Sơn và Pamia -Antai 28
2.3.3.3 Đồng bằng Nội Á 29
2.3.3.4 Sơn nguyên Tây Tạng 29
2.3.4 ĐÔNG Á 29
2.3.4.1 Kamchatka 29
2.3.4.2 Amua - Triều Tiên 30
2.3.4.3 Quần đảo Nhật Bản 30
2.3.4.4 Đông Trung Hoa 30
2.3.5 TÂY NAM Á - ÂU 31
2.3.5.1 Caucasus - Crum 31
2.3.5.2 Tiền Á 31
2.3.5.3 Tây Nam Á 32
2.3.6 NAM Á VÀ ĐÔNG NAM Á 32
2.3.6.1 Miền núi Hymalaya 32
2.3.6.2 Đồng bằng Ấn - Hằng 32
Trang 42.3.6.3 Bán đảo Ấn Độ và Srilanca 33
2.3.6.4 Bán đảo Trung Ấn 33
2.3.6.5 Quần đảo Mã Lai 34
CHƯƠNG 3 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA PHI 35
3.1 CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA PHI 35
3.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, GIỚI HẠN VÀ TIẾP GIÁP 35
3.1.1.1 Vị trí địa lý và giới hạn 35
3.1.1.2 Tiếp giáp 35
3.1.2 HÌNH DẠNG VÀ KÍCH THƯỚC 35
3.1.2.1 Về hình dạng 35
3.1.2.2 Kích thước 35
3.1.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN 36
3.1.3.1 Thời kỳ Tiền Cambri 36
3.1.3.2 Đại Paleozoi - Pz 36
3.1.3.3 Đại Mesozoi – Mz 36
3.1.3.4 Đại Kainozoi – Kz 36
3.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA PHI 37
3.2.1 ĐỊA HÌNH 37
3.2.1.1 Địa hình bề mặt đơn giản, ít bị cắt xẻ 37
3.2.1.2 Địa hình phân hóa thành hai khu vực rõ rệt 37
3.2.2 KHOÁNG SẢN 38
3.2.2.1 Các mỏ mạch 38
3.2.2.2 Các mỏ trầm tích 38
3.2.3 KHÍ HẬU 38
3.2.3.1 Các yếu tố hình thành khí hậu 38
3.2.3.2 Đặc điểm khí hậu 39
3.2.3.3 Các đới khí hậu 40
3.2.4 THỦY VĂN 41
3.2.4.1 Sông ngòi 41
3.2.4.2 Hồ 42
3.2.5 SINH VẬT 42
3.2.5.1 Giới thiệu khái quát 42
3.2.5.2 Các đới sinh vật 43
3.3 CÁC KHU VỰC ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA PHI 45
3.3.1 BẮC PHI 45
3.3.1.1 Miền núi Atlas 45
3.3.1.2 Hoang mạc Sahara 45
3.3.1.3 Xứ Sudan 45
3.3.2 ĐÔNG PHI 46
3.3.2.1 Sơn nguyên Somalia 46
3.3.2.2 Sơn nguyên Ethiopia 46
3.3.2.3 Sơn nguyên Đông Phi 46
3.3.3 TRUNG VÀ NAM PHI 46
3.3.3.1 Guinea Thượng 47
3.3.3.2 Congo 47
3.3.3.3 Nam Phi 47
3.3.3.4 Madagascar 47
Trang 5iv
CHƯƠNG 4 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA BẮC MỸ 48
4.1 CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA BẮC MỸ 48
4.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, GIỚI HẠN VÀ TIẾP GIÁP 48
4.1.1.1 Vị trí địa lý và giới hạn 48
4.1.1.2 Tiếp giáp 48
4.1.2 HÌNH DẠNG VÀ KÍCH THƯỚC 48
4.1.2.1 Về hình dạng 48
4.1.2.2 Kích thước 48
4.1.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN 49
4.1.3.1 Thời kỳ Tiền Cambri 49
4.1.3.2 Đại Paleozoi (Pz) 49
4.1.3.3 Đại Mesozoi (Mz) 49
4.1.3.4 Đại Kainozoi (Kz) 49
4.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA BẮC MỸ 50
4.2.1 ĐỊA HÌNH 50
4.2.1.1 Các dạng địa hình cao chiếm ưu thế 50
4.2.1.2 Địa hình phân hóa rõ nét hướng tây - đông 50
4.2.1.3 Hướng núi chính là bắc - nam 51
4.2.2 KHOÁNG SẢN 51
4.2.2.1 Các mỏ mạch 51
4.2.2.2 Các mỏ trầm tích 51
4.2.3 KHÍ HẬU 51
4.2.3.1 Các yếu tố hình thành khí hậu 51
4.2.3.2 Đặc điểm khí hậu 52
4.2.3.3 Các đới khí hậu 53
4.2.4 THỦY VĂN 54
4.2.4.1 Sông ngòi 54
4.2.4.2 Hồ 55
4.2.5 SINH VẬT 55
4.2.5.1 Giới thiệu khái quát 55
4.2.5.2 Các đới sinh vật 56
4.3 CÁC KHU VỰC ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA BẮC MỸ 57
4.3.1 BẮC BẮC MỸ 57
4.3.1.1 Đảo Greenland 57
4.3.1.2 Quần đảo Bắc Cực Canađa 58
4.3.1.3 Sơn nguyên Laurensia 58
4.3.2 ĐÔNG BẮC MỸ 58
4.3.2.1 Đồng bằng Trung Tâm 58
4.3.2.2 Đồng bằng Lớn 58
4.3.2.3 Núi Appalachian 58
4.3.2.4 Đồng bằng Duyên Hải 58
4.3.3 TÂY BẮC MỸ 58
4.3.3.1 Coocdiee Alaska 58
4.3.3.2 Coocdiee Canađa 58
4.3.3.3 Coocdiee Hoa Kỳ 58
4.3.3.4 Sơn nguyên Mêhicô 59
4.3.3.5 Trung Mỹ và Caribe 59
Trang 6CHƯƠNG 5 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA NAM MỸ 60
5.1 CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA NAM MỸ 60
5.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, GIỚI HẠN VÀ TIẾP GIÁP 60
5.1.1.1 Vị trí địa lý và giới hạn 60
5.1.1.2 Tiếp giáp 60
5.1.2 HÌNH DẠNG VÀ KÍCH THƯỚC 60
5.1.2.1 Về hình dạng 60
5.1.2.2 Kích thước 60
5.1.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN 60
5.1.3.1 Thời kỳ Tiền Cambri 60
5.1.3.2 Đại Paleozoi - Pz 61
5.1.3.3 Đại Mesozoi – Mz 61
5.1.3.4 Đại Kainozoi – Kz 61
5.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA NAM MỸ 61
5.2.1 ĐỊA HÌNH 61
5.2.1.1 Địa hình phân hóa rõ nét hướng tây - đông 61
5.2.1.2 Các dạy địa hình theo một hướng chung gần với hướng bắc - nam 62 5.2.2 KHOÁNG SẢN 62
5.2.3 KHÍ HẬU 62
5.2.3.1 Các yếu tố hình thành khí hậu 62
5.2.3.2 Đặc điểm khí hậu 63
5.2.3.3 Các đới khí hậu 64
5.2.4 THỦY VĂN 66
5.2.4.1 Sông ngòi 66
5.2.4.2 Hồ 66
5.2.5 SINH VẬT 66
5.2.5.1 Giới thiệu khái quát 66
5.2.5.2 Các vành đai sinh vật 66
5.3 CÁC KHU VỰC ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA NAM MỸ 68
5.3.1 ĐÔNG NAM MỸ 68
5.3.1.1 Guyana - Orinoco 68
5.3.1.2 Đồng bằng Amazon 68
5.3.1.3 Sơn nguyên Brazin 68
5.3.1.4 Đồng bằng Nội Địa 68
5.3.1.5 Patagonia 68
5.3.2 TÂY NAM MỸ 69
5.3.2.1 Bắc Andes 69
5.3.2.2 Trung Andes 69
5.3.2.3 Nam Andes 69
CHƯƠNG 6 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA ÚC VÀ CÁC ĐẢO THUỘC THÁI BÌNH DƯƠNG 70
6.1 CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH TỰ NHIÊN 70
6.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, GIỚI HẠN VÀ TIẾP GIÁP 70
6.1.1.1 Vị trí địa lý và giới hạn 70
6.1.1.2 Tiếp giáp 70
6.1.2 HÌNH DẠNG VÀ KÍCH THƯỚC 70
6.1.2.1 Về hình dạng 70
Trang 7vi
6.1.2.2 Kích thước 70
6.1.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN 70
6.1.3.1 Thời kỳ Tiền Cambri 70
6.1.3.2 Đại Paleozoi - Pz 71
6.1.3.3 Đại Mesozoi – Mz 71
6.1.3.4 Đại Kainozoi – Kz 71
6.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA 71
6.2.1 ĐỊA HÌNH 71
6.2.1.1 Địa hình lục địa Úc 71
6.2.1.2 Địa hình các khu vực đảo 72
6.2.2 KHOÁNG SẢN 72
6.2.3 KHÍ HẬU 73
6.2.3.1 Các yếu tố hình thành khí hậu 73
6.2.3.2 Đặc điểm khí hậu 73
6.2.3.3 Các đới khí hậu 74
6.2.4 THỦY VĂN 75
6.2.4.1 Sông ngòi 75
6.2.4.2 Hồ 75
6.2.5 SINH VẬT 75
6.2.5.1 Giới thiệu khái quát 75
6.2.5.2 Các vành đai sinh vật 76
6.3 CÁC KHU VỰC ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 77
6.3.1 ÚC 77
6.3.1.1 Miền núi Trường Sơn Úc 77
6.3.1.2 Đồng bằng Trung Tâm 77
6.3.1.3 Sơn nguyên Tây Úc 77
6.3.1.4 Đảo Tasmania 78
6.3.2 MELANESIA 78
6.3.3 MICRONESIA 79
6.3.4 POLYNESIA 80
CHƯƠNG 7 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA NAM CỰC 82
7.1 CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA NAM CỰC 82
7.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, GIỚI HẠN VÀ TIẾP GIÁP 82
7.1.1.1 Vị trí địa lý và giới hạn 82
7.1.1.2 Tiếp giáp 82
7.1.2 HÌNH DẠNG VÀ KÍCH THƯỚC 82
7.1.2.1 Về hình dạng 82
7.1.2.2 Kích thước 82
7.1.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN 82
7.1.3.1 Thời kỳ Tiền Cambri 82
7.1.3.2 Đại Paleozoi - Pz 83
7.1.3.3 Đại Mesozoi – Mz 83
7.1.3.4 Đại Kainozoi – Kz 83
7.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA NAM CỰC 83
7.2.1 ĐỊA HÌNH VÀ KHOÁNG SẢN 83
7.2.1.1 Địa hình 83
7.2.1.2 Khoáng sản 83
Trang 87.2.2 KHÍ HẬU 84
7.2.2.1 Các yếu tố hình thành khí hậu 84
7.2.2.2 Đặc điểm khí hậu 84
7.2.3 BĂNG HÀ 85
7.2.4 THỰC – ĐỘNG VẬT 85
7.2.4.1 Thực vật 85
7.2.4.2 Động vật 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 0
Trang 9viii
LỜI NÓI ĐẦU
Bài giảng “Địa lý tự nhiên các lục địa” được biên soạn dựa trên cơ sở
những giáo trình có liên quan của các trường bạn và tài liệu tác giả thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau
Bài giảng cung cấp những kiến thức cơ bản về địa lý tự nhiên khu vực, khái quát về các lục địa trên Trái Đất và nội dung chi tiết về các lục địa (các yếu tố hình thành tự nhiên, đặc điểm tự nhiên và các khu vực địa lý tự nhiên) của các lục địa: Á – Âu, Phi, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Úc và các đảo thuộc Thái Bình Dương, Nam Cực) cho sinh viên ngành Địa lý học, chuyên ngành Địa lý
du lịch được đào tạo tại Trường Đại học Quảng Bình
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều để nội dung bài giảng đáp ứng được yêu cầu của chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo, song chắc chắn không tránh khỏi những sai sót Kính mong nhận được sự chỉ bảo của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp, cùng sự góp ý của các bạn sinh viên khi sử dụng bài giảng này
Trân trọng cảm ơn tập thể Bộ môn Địa lý – Việt Nam học – Công tác xã hội, Trường Đại học Quảng Bình đã đọc và góp nhiều ý kiến bổ ích
NGƯỜI BIÊN SOẠN
Trang 10CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 VỊ TRÍ CỦA ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC
1.1.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC
1.1.1.1 Thời Cổ đại (trước thế kỷ V)
Kiến thức được truyền miệng là chính cho tới thế kỷ V Tr CN Các lò văn minh Trung Hoa, India, ven Địa Trung Hải (đến thế kỷ V): các đặc tính riêng lẻ của một vài yếu tố trong không gian được thu thập sau nhưng chuyến đi dài ven biển hay trên đất liền Những nghiên cứu về hình dạng và kích thước Trái Đất đã được thực hiện Aristotel (thế kỷ IV Tr CN) đã đưa ra các bằng chứng về dạng cầu của Trái Đất dựa vào các hiện tượng: bóng Trái Đất khi nguyệt thực, bầu trời sao thay đổi khi đi theo hướng bắc – nam, chân trời mở rộng khi người quan sát đứng càng cao, con tàu càng đi xa, ống khói càng thấp dần Erastothen (thế kỷ III – IV Tr CN) đã đo được chu vi Trái Đất là 39.500km (chính xác nhất cho đến TK VIII) và đưa ra được khái niệm Địa lý học cho môn học nghiên cứu Trái Đất Ptoleme (thế kỷ II) đã tìm ra hệ thống địa tâm biểu diễn vũ trụ và Trái Đất và thành lập bản đồ thế giới đầu tiên
Bên cạnh đó, các nghiên cứu về tự nhiên một khu vực cụ thể cũng đã được hình thành Herodote (thế kỷ V Tr CN) đã mô tả các vùng đất và biển khu vực biển Đen, Tiểu
Á, Lưỡng Hà, Ai Cập, ven Địa Trung Hải Straborn (thế kỷ I Tr CN – I) đã xuất bản hai
bộ sách Tự nhiên đại cương và 15 bộ Tự nhiên khu vực Ngoài ra, còn có nhiều nhà khoa học khác cũng đã tích luỹ nhiều tài liệu về địa lý tự nhiên khu vực xung quanh các lò văn minh và nhận thực được mối quan hệ chặt chẽ giữa hai hướng nghiên cứu trên
Như vậy, ngay từ cổ đại các nghiên cứu địa lý tự nhiên khu vực đã xuất hiện Nó được nghiên cứu trong mối tương quan với địa lý tự nhiên đại cương Tuy nhiên, trong thời kỳ này, việc nghiên cứu địa lý khu vực chỉ mới ở giai đoạn sơ khai, chủ yếu là các dạng ghi chép ở những khu vực lân cận chứ chưa được nghiên cứu một cách quy mô, trên một diện rộng
1.1.1.2 Thời Trung đại (thế kỷ V – XV)
Sự phát triển của khoa học nói chung và địa lý học nói riêng bị các quan niệm tôn giáo cổ hủ kìm hãm Nhiều thành tựu trước đây bị phủ nhận Trái Đất được cho là phẳng dạng đĩa, bản đồ định hướng về phương đông, bầu trời thuỷ tinh, thời tiết do các vị thần điều khiển Tuy nhiên, tại những khu vực nằm ngoài ảnh hưởng của nhà thờ, địa lý học vẫn tiếp tục phát triển Người Ả Rập đo lại chu vi Trái Đất = 40.680km, mô tả nhiều vùng đất họ đánh chiếm được Buruni (thế kỷ XI) đo kích thước Trái Đất và đưa ra ý niệm nhật tâm (trước cả Copecnic) Người Normandi và các cuộc vượt biển táo bạo tới biển Trắng, biển Đen, Địa Trung Hải, Iceland, bán đảo Labrado dọc theo bờ biển phía đông Mỹ Gia đình Marco Polođến Trung Hoa, Mông Cổ bằng đường bộ sau đó vòng quanh Nam Á và Tiểu Á bằng đường biển để lại nhiều tài liệu quý giá
Nhưng về sau, uy tín của nhà thờ bị giảm sút, quan hệ buôn bán được mở rộng, tiền
tệ xuất hiện, các cuộc săn lùng hàng hoá và thị trường ngày một ráo riết Đế quốc Thổ xuất hiện ở Tiểu Á cắt đứt con đường thuỷ bộ sang phương đông Nhu cầu có con đường buôn bán mới thúc đẩy sự phát triển của địa lý học Quá trình thăm dò thám hiểm này vô tình tìm ra nhiều kết luận và quy luật địa lý mới
Các công cuộc phát kiến chính ra đời mà khởi đầu là cuộc phát kiến của Cristoforo Colombo và cuộc hành trình sang châu Mỹ năm 1492 – 1502 Sau đó là của người Bồ Đào Nha sang Ấn Độ bằng cách vòng quanh Phi và từ Ấn Độ đến Indonesia, ngược lên Trung Hoa và Nhật Bản sang Brasil; của người Tây Ban Nha vượt eo đất Panama sang Thái Bình Dương, dọc bờ đông Mỹ để đi xuống Nam Mỹ; cuộc thám hiểm vòng quanh
Trang 11Trái Đất của Magellan đã phát hiện ra rằng: đại dương nối liền nhau đồng thời tìm ra các miền đất mới ở phương nam (châu Đại Dương)
Như vậy, trong giai đoạn này đã có những tiến bộ vượt bậc Việc khảo sát địa lý tự nhiên khu vực đã thoát ra khỏi những không gian chật hẹp, bắt đầu đã có những nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, địa lý tự nhiên khu vực giai đoạn này vẫn chưa được nghiên cứu quy mô với phương pháp hoàn chỉnh
1.1.1.3 Giai đoạn thế kỷ XV – XVII
Điều kiện hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển, cách mạng khoa học kỹ thuật và nhiều thành tựu trong công nghệ ra đời đã làm cho nhu cầu thị trường, nguồn nguyên liệu, nhân công ngày càng cao Các cuộc thám hiểm đòi hỏi quy mô, nguồn tài trợ lớn Sự ra đời của các hiệp hội, các cơ quan chức năng ở nhiều nước
Giáo lý của nhà thờ dần bị phủ định Thuyết tiến hoá (Darwin), các định luật Newton và giả thuyết về nguồn gốc của Trái Đất (Kant–Laplace) ra đời
Địa lý học bước đầu có sự phân dị thành các nhóm địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế – xã hội Trong đó các ngành địa lý tự nhiên phân hoá thành các ngành khí hậu, địa lý thủy văn, địa mạo, địa lý thổ nhưỡng, địa sinh vật, địa sinh thái, Địa lý khu vực cũng
có nhiều chuyển biến, hình thành nên các hướng nghiên cứu chính:
* Nghiên cứu các đại dương
J Cook đi vòng quanh Trái Đất ba lần, tìm ra châu Đại Dương, một số đảo Nam Cực Belinhauxen, Lazarev tìm ra châu Nam Cực (1820) Hoạ đồ ranh giới biển, đại dương, đảo, quần đảo chính được xây dựng Đặc tính đáy biển một số khu vực được nghiên cứu
* Nghiên cứu các lục địa
Lục địa Phi, Mỹ được quan tâm đặc biệt do giàu tài nguyên Trong đó: Alexander von Humboldt đã thực hiện cuộc thám hiểm đến Nam Mỹ và Trung Mỹ (1799 – 1804).Ông là người đầu tiên tìm hiểu và mô tả vùng đất “mới” này theo quan điểm khoa học thực sự Ông cũng là một trong những người đầu tiên đề ra giả thuyết cho rằng hai bờ Đại Tây Dương (ở phía Mỹ Latinh và phía Phi) đã từng gắn liền với nhau Đến 1829, Humboldt lại tiếp tục thực hiện chuyến thám hiểm tại vùng nội địa nước Nga (Ural, Altai) Về cuối đời, Von Humboldt đã xuất bản bộ sách 5 tập Kosmos trong nỗ lực thống nhất các nhánh kiến thức khác nhau của Trái Đất
David Livingstone đã thực hiện cuộc thám hiểm đến Nam Phi và Trung Phi, tiến sâu vào nội địa Phi và hành trình nối hai bờ biển của lục địa, khởi hành từ Luanda tại cửa sông Zambezi và kết thúc ở bờ biển phía đông (1852 – 1856), mở đường cho người Anh xâm nhập vào Phi G.Stanley đã thực hiện việc thám hiểm đến khu vực xích đạo Phi Nhiều hội địa lý lớn ra đời, tài trợ cho các cuộc thám hiểm trung tâm các lục địa lớn (Siberia)
* Nghiên cứu các xứ ở cực
Đoàn Nordensen (Nga) đã đi vòng quanh rìa bắc lục địa Á – Âu theo con đường hàng hải Đông Bắc (1878 – 1879) Đoàn của Amunxen (Anh) quay lại mở đường hàng hải Tây Bắc từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương (1906) Trong khi đó, việc thám hiểm Nam Cực đã được tiến hành nhiều lần nhưng kết quả không được như ý (chỉ đến được vĩ độ 86o14’Nam) nhưng các tài liệu thu thập được lại có giá trị cao Việc thám hiểm Nam Cực chỉ thật sự rầm rộ sau chuyến đi của Bellingshausen
Như vậy, trong giai đoạn này, địa lý khu vực đã có những bước tiến vượt trội theo hướng chuyên môn rõ rệt Vấn đề nghiên cứu về các lục địa đã được tách thành một mảng riêng và có những đầu tư bài bản hơn so với trước đây
Trang 121.1.1.4 Thời hiện đại
Hiện nay, việc nghiên cứu địa lý nói chung và địa lý khu vực nói riêng đã được tiến hành trên quy mô rộng lớn với mức độ chuyên môn cao Địa lý hiện đại mang tính liên ngành bao gồm tất cả những hiểu biết trước đây về Trái Đất và tất cả những mối quan hệ phức tạp giữa các yếu tố đó
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu địa lý khu vực ngày càng có ý nghĩa trong việc
sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên theo từng khu vực, là cơ sở cho việc phát triển bền vững trước áp lực dân số ngày càng tăng nhanh, nhất là ở các quốc gia nghèo như hiện nay
1.1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC
1.1.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Địa lý tự nhiên khu vực được xem là một bộ phận của địa lý tự nhiên, nghiên cứu
về các đặc điểm, phân bố và tổ chức không gian của các vấn đề về tự nhiên tại một khu vực được giới hạn cụ thể
Sự khác biệt cơ bản giữa địa lý tự nhiên khu vực và địa lý tự nhiên đại cương ở chỗ: Địa lý tự nhiên đại cương phân tích và nghiên cứu quy luật phân bố không gian của các vấn đề tự nhiên ở góc độ tổng thể Trong khi đó, địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu
về một khu vực cụ thể trên Trái Đất Do đó, địa lý tự nhiên khu vực chú ý đến đặc điểm độc đáo về các vấn đề tự nhiên của một vùng cụ thể mà trong địa lý tự nhiên đại cương không phản ánh được Các vấn đề về tự nhiên thuộc về nhóm địa lý tự nhiên bao gồm: Địa mạo học, Khí tượng và khí hậu học, Địa lý thuỷ văn, Địa lý thổ nhưỡng, Địa lý sinh vật, Địa lý cảnh quan học và Cổ địa lý
Từ những nhận thức trên, có thể xác định được đối tượng nghiên cứu của địa lý tự
nhiên khu vực chính là hệ thống lãnh thổ tự nhiên trong một khu vực cụ thể Hệ thống
này bao gồm nhiều bộ phận có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau như những cơ quan chức năng Các yếu tố tự nhiên trong hệ thống bao gồm: vị trí địa lý, hình dạng lãnh thổ, địa chất, khoáng sản, địa hình, khí hậu, sinh vật, … Giữa các yếu tố này có sự gắn kết với nhau theo những quy luật tự nhiên nhất định Sự thay đổi của một yếu tố này sẽ kéo theo
sự thay đổi của các yếu tố khác trong hệ thống
1.1.2.2 Nhiệm vụ của địa lý khu vực
Nhiệm vụ của địa lý tự nhiên khu vực được xác định bao gồm:
– Nghiên cứu các hệ thống sinh thái khu vực và kiểm soát quá trình phát triển của chúng
– Phân bố tài nguyên và vấn đề sử dụng tài nguyên tại một khu vực cụ thể
– Phát triển bền vững khu vực trong mối liên hệ với toàn cầu
– Xây dựng các mô hình tối ưu cho các hoạt động sản xuất kinh tế – xã hội tại một khu vực
1.1.3 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Phương pháp luận là học thuyết về phương pháp nhận thức khoa học và cải tạo thế
giới Phương pháp luận bao gồm nhiều mức độ khác nhau: phương pháp luận phổ biến, phương pháp luận cụ thể, quan điểm, hệ phương pháp
Vì địa lý tự nhiên khu vực là một bộ phận của địa lý tự nhiên nên địa lý tự nhiên khu vực cũng sử dụng các phương pháp luận chung của địa lý tự nhiên
1.1.3.1 Phương pháp luận phổ biến
Cũng như các ngành khoa học khác, phương pháp luận phổ biến là chủ nghĩa duy vật biện chứng Phương pháp luận phổ biến trong Địa lý học nói chung và Địa lý tự nhiên khu vực nói riêng được thể hiện như sau:
– Các sự vật hiện tượng không riêng rẽ mà có quan hệ chặt chẽ với nhau
– Thiên nhiên và lớp vỏ địa lý luôn vận động
Trang 13– Quá trình phát triển của vật chất là sự phát triển tiến lên từ đơn giản đến phức tạp, không đơn thuần là sự chồng chất về số lượng Sự biến đổi về lượng sau khi vượt qua những ngưỡng nhất định sẽ chuyển thành biến đổi về chất
– Mọi quá trình phát triển mang tính thời gian và không gian
1.1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC
1.1.4.1 Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa là phương pháp cổ điển, không thể thiếu trong nghiên cứu địa lý
tự nhiên khu vực Phương pháp khảo sát thực địa thường được kết hợp với phương pháp
mô tả, so sánh Vì đối tượng nghiên cứu của địa lý tự nhiên khu vực là hệ thống lãnh thổ
tự nhiên trong một khu vực cụ thể, muốn nắm rõ đặc tính phân bố của các thành phần, xác
định chính xác mối quan hệ giữa các thành phần với nhau cần phải khảo sát thực địa Trong các giai đoạn lịch sử phát kiến địa lý, các nhà thám hiểm đã thực hiện rất nhiều chuyến khảo sát thực địa khác nhau Phương pháp khảo sát thực địa giúp bổ sung các dữ liệu trống về địa bàn khu vực cụ thể mà các phương pháp nội nghiệp không thể giải quyết được Khảo sát thực địa còn có ý nghĩa kiểm chứng, loại bỏ các lập luận chưa chuẩn xác
về khu vực nghiên cứu
1.1.4.3 Phương pháp địa hóa học
Các phương pháp địa hóa học được sử dụng để nghiên cứu địa chất như tính hoạt động của đứt gãy kiến tạo hiện đại, tốc độ xói mòn, bồi lắng, tìm kiếm khoáng sản; nghiên cứu đặc điểm môi trường, …
– Địa hoá các quá trình địa chất: bao gồm địa hoá các quá trình nội sinh (magma, biến chất, các quá trình quặng hoá nội sinh); địa hoá các quá trình ngoại sinh và các quá trình quặng hóa ngoại sinh
– Địa hoá đồng vị: sử dụng đồng vị phóng xạ trong xác đinh tuổi tuyệt đối của các đối tượng địa chất, sử dụng đồng vị để nghiên cứu nguồn gốc và bản chất các quá trình thành tạo các đối tượng địa chất
1.1.4.4 Phương pháp toán học
Phương pháp toán học được sử dụng để nghiên cứu các hệ thống động lực phức tạp – sự thay đổi trạng thái của các sự vật theo thời gian và không gian trên cơ sở các quan hệ thuận và các quan hệ nghịch
Trang 141.1.4.5 Phương pháp cổ địa lý
Nhằm giải quyết vấn đề về tuổi, xác định các giai đoạn trong lịch sử phát triển của yếu tố địa lý Trên cơ sở đó để dựng lại địa lý cổ và xác định các điều kiện tồn tại, phát triển của các yếu tố địa lý của khu vực nghiên cứu trong quá khứ
1.1.4.6 Phương pháp bản đồ
Phương pháp này được sử dụng để ghi nhận, mô tả, phân tích, tổng hợp và nhận thức các hiện tượng thực tại)cũng như dự báo sự phát triển của chúng thông qua việc thành lập và sử dụng bản đồ Đây là một phương pháp nhận thức, thể hiện ở ba hình thái: – Thành lập bản đồ cơ sở như những mô hình không gian của thế giới vật chất; – Thành lập bản đồ dẫn xuất từ các bản đồ cơ sở với quá trình biến đổi hình biểu thị của bản đồ và tổng quát hoá bản đồ;
– Sử dụng bản đồ để mô tả, phân tích tổng hợp và nhận thức thực tại
Dựa theo phương pháp sử dụng, nguồn tài liệu và mục đích sử dụng, hình thành các hướng sử dụng bản đồ sau: nghiên cứu bản đồ ở dạng nguyên bản; biến đổi hình biểu thị bản đồ; tách hình biểu thị trên bản đồ thành các hình biểu thị thành phần; đối sánh bản đồ phản ánh đối tượng ở các thời điểm khác nhau; nghiên cứu kết hợp các bản đồ có các chủ
đề hoặc đối tượng khác nhau; nghiên cứu, đối sánh các bản đồ – tương đương (cùng chủ đề), được thành lập cho các vùng khác nhau; phân tích kết hợp bản đồ cùng chủ đề, cùng lãnh thổ nhưng ở tỷ lệ khác nhau
1.1.4.7 Phương pháp ảnh viễn thám
Viễn thám cho phép nghiên cứu việc đo đạc, thu thập thông tin về một đối tượng, sự vật bằng cách sử dụng thiết bị đo qua tác động một cách gián tiếp (ví dụ như qua các bước sóng ánh sáng) với đối tượng nghiên cứu Viễn thám không chỉ tìm hiểu bề mặt của Trái Đất hay các hành tinh mà nó còn có thể thăm dò được cả trong các lớp sâu bên trong các hành tinh Trên Trái Đất, người ta có thể sử dụng máy bay dân dụng, chuyên dụng hay các vệ tinh nhân tạo để thu phát các ảnh viễn thám Trong nghiên cứu địa lý tự nhiên khu vực, việc sử dụng viễn thám giúp tiết kiệm thời gian, chi phí thực địa cũng như công sức đi lại, đặc biệt tại các khu vực địa hình hiểm trở Đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợp cần quan sát tổng quát một khu vực mà việc khảo sát thực địa tỏ ra kém hiệu quả
1.1.4.8 Phương pháp phân tích hệ thống
Phân tích hệ thống là việc tách rời các thành phần trong hệ thống ra thành những bộ phận riêng biệt Trong nghiên cứu địa lý khu vực, phương pháp này có ý nghĩa trong việc loại trừ bớt các yếu tố tác động gây nhiễu Từ đó, ta có thể dễ dàng xem xét được sự thay đổi theo không gian của đối tượng mà ta cần khảo sát Coi vỏ Trái Đất bao gồm những tổng thể địa lý tự nhiên, hoạt động như nhưng cơ quan chức năng, duy trì những quá trình trao đổi vật chất năng lượng (Ví dụ: chu trình đá, chu trình nước)
1.2 KHÁI QUÁT VỀ CÁC LỤC ĐỊA TRÊN TRÁI ĐẤT
1.2.1 SỰ HÌNH THÀNH CÁC LỤC ĐỊA
1.2.1.1 Các thuật ngữ liên quan
Các thuật ngữ châu lục, lục địa, đảo có mối quan hệ với nhau, tuy nhiên giữa chúng
vẫn có những sự khác biệt nhất định Hiện nay, các thuật ngữ này còn chưa được hiểu và
sử dụng một cách thống nhất
Lục địa, đại lục và đảo là các khái niệm của địa lý tự nhiên Tùy theo các quan niệm
khác nhau mà ngoại diên của các khái niệm này cũng không giống nhau
- Quan niệm thứ nhất dựa vào yếu tố diện tích để phân biệt lục địa và đảo Lục địa
và đảo nói chung là những mảng đất nổi tự nhiên nằm trên bề mặt lớp vỏ của Trái Đất, bị nước bao quanh Như vậy, đường bờ biển được xem là giới hạn của các lục địa và đảo Lục địa (đôi khi thường được thay thế bởi thuật ngữ đại lục) thường được xem là các
Trang 15vùng đất nổi có diện tích lớn hơn so với các đảo Tuy nhiên, nếu theo diện tích thì lục địa
và đảo lại không có chuẩn phân biệt rõ ràng
- Quan niệm thứ hai dựa vào vị trí so với thềm lục địa để phân biệt lục địa vào đảo Lục địa gắn với một mảng nền riêng biệt nhưng đảo chỉ là một bộ phận nổi nằm trên cùng một mảng với lục địa Theo đó, lục địa không dừng lại ở đường bờ biển, nó có thể kéo dài liên tục ra bên ngoài đường bờ biển đến khu vực nước nông gần kề (gọi là thềm lục địa) Như vậy, rìa của thềm lục địa mới là rìa thực sự của lục địa Và các bộ phận đất nổi trên thềm lục địa sẽ được gọi là các đảo thuộc về lục địa chính đó Ví dụ: Greenland với diện tích 2.166.086km² hay Madagascar với diện tích 587.040km² chỉ được gọi là các đảo (dù
có diện tích rất lớn) vì Greenland chỉ là một bộ phận của lục địa Bắc Mỹ còn Madagascar
là bộ phận của lục địa Phi
Trong khi đó, châu lục là khái niệm được sử dụng chủ yếu trong địa chính trị, dựa vào quá trình phát kiến đất đai Châu lục là tổ hợp lớn về đất đai, trên đó có nhiều quốc gia với các phần diện tích thuộc cả đại lục lẫn các đảo xung quanh
1.2.1.2 Sự thay đổi các phần đất nổi trên bề mặt Trái Đất
Hình dạng và sự phân bố các châu lục đã trải qua lịch sử hình thành lâu dài Từ khi
vỏ Trái Đất mới hình thành vào cách đây 3,5 tỷ năm trên bề mặt Trái Đất, nước bao phủ phần lớn diện tích Các vật liệu phân hủy của đất đá lắng đọng dần dưới những lớp nước sâu, qua hàng triệu năm tạo nên những tầng đá trầm tích dày hàng nghìn mét Do nội lực (sức ép của các lực bên trong Trái Đất) các lớp đá trầm đó uốn nếp rồi nổi dần lên trên mặt nước, tạo thành vùng núi uốn nếp Nhưng rồi do tác động của ngoại lực (nhiệt độ, mưa, gió, sông ngòi, băng hà, …) những vùng núi cao đó bị phá hủy, bào mòn dần qua hàng triệu năm và cuối cùng biến thành những mặt bằng Các quá trình tạo núi sau này không thể làm cho các mặt bằng rắn chắc đó tiếp tục uốn nếp nữa mà chỉ có thể nâng chúng lên hoặc hạ xuống, đứt gãy, đổ vỡ Đó là những vùng tương đối ổn định nhất của
vỏ Trái Đất mà được gọi là nền lục địa Trên các biển ở rìa các nền lục địa đó lại tiếp tục hình thành những hệ thống núi trẻ và những lục địa mới lại xuất hiện
Bên cạnh những vùng nền lục địa vững chắc, tương đối ổn định lại có những vùng bất ổn, vận động tạo núi còn đang tiếp diễn, với những trận động đất và núi lửa phun trào đang xảy ra Nhiều vùng trước kia là đất liền thì nay là biển (vùng biển Manchess ở châu
Âu, vùng biển Đông Nam Á) Ngược lại có những vùng biển trước kia giờ lại là đất liền (đồng bằng Tây Siberia, đồng bằng Đông Âu)
Ngay cả khí hậu cũng có những biến đổi lớn Ngày nay, người ta tìm thấy những mẫu thực vật nhiệt đới đã hóa thạch và những san hô ở đồng bằng châu Âu, ở Anh, ở bán đảo Scandinavia Điều đó chứng tỏ trước kia ở đây là những vùng có khí hậu nóng Những lòng sông cạn ở hoang mạc Sahara chứng tỏ trước đây là vùng khí hậu ẩm
Ngày nay, trên các lục địa vẫn có những vùng đang được nâng lên và có những vùng đang tiếp tục hạ xuống, có những đồng bằng hàng năm lấn ra biển hàng trăm mét,
và có những vùng đang bị biển nhấn chìm dần Có những dòng sông vẫn tiếp tục đào sâu thêm và mở rộng các thung lũng, trong khi đó có nhiều dòng sông đang bị bồi lấp mà cạn dòng Nói tóm lại, mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên vẫn đang thay đổi, và đó cũng là quy luật của tự nhiên
Theo thuyết kiến tạo mảng do các nhà địa vật lý: J Morgan, Z Le Pichon, B Issack, J Oliver, … đưa ra (1968) thì bề mặt Trái Đất được chia thành các mảng kiến tạo, chúng di chuyển từ từ trên bề mặt Trái Đất trong hàng triệu năm qua Khoảng 71% bề mặt Trái Đất được bao phủ bởi các đại dương nước mặn, phần còn lại là các phần đất nổi bao gồm các lục địa và các đảo
Dựa vào vị trí hiện tại của các mảng, vị trí cực quay, phương hướng và tốc độ dịch chuyển của các mảng trong quá khứ cũng như trong tương lai Từ đó đưa ra sự thay đổi
Trang 16về các phần đất nổi trên Trái Đất qua các niên đại địa chất khác nhau Từ khi Trái Đất hình thành đến nay, các phần đất nổi trên bề mặt Trái Đất đã liên tục thay đổi hình dạng của chính nó dưới dạng các lục địa hình thành và phân rã Các lục địa di chuyển trên bề mặt, đôi khi kết hợp với nhau để tạo thành một siêu lục địa
Khoảng 1,1 tỷ năm trước, siêu lục địa Rodinia đã ra đời Hiện nay, siêu lục địa Rodinia được coi là siêu lục địa xuất hiện đầu tiên trên Trái Đất Tuy nhiên, đây cũng chỉ
là giả thuyết và hiện nay vẫn còn được tiếp tục nghiên cứu bổ sung Khoảng 750 triệu năm trước, siêu lục địa Rodinia đã bắt đầu chia tách thành các lục địa: Đông Gondwanaland (EG), Laurentia (LA), Tây Gondwanaland (WG), Khối Niger (NI), Baltica (BA), Craton Siberian (SB), Khối Baikal (BK), Cordilleran (CO), Tây Ả Rập (WA), Craton Rio De La Plata (RP)
Khoảng 10 lục địa bị chia tách từ Rodinia sau đó đã liên kết lại thành một siêu lục địa gọi là Pannotia vào cách đây 600 triệu năm
Đến cách đây 540 triệu năm thì siêu lục địa Pannotia lại bắt đầu chia tách thành các lục địa: Gondwanaland (GON), Laurentia (LA), Baltica (BA), Craton Siberian (SB), Cordilleran (CO), Khối Baikal (BK)
Và sau đó các lục địa bị chia tách từ Pannotia lại liên kết thành một siêu lục địa
là Pangaea (cách đây 300 triệu năm) Bên cạnh siêu lục địa là các tiểu lục địa như: Iran, Bắc Trung Hoa, Nam Trung Hoa, Đông Nam Á, Bắc Terranes, Khối Baikal phân bố thành cách dải nằm dọc theo bờ biển Tethys
Siêu lục địa Pangaea lại tách thành hai siêu lục địa là Laurasia (LAU) và Gondwana (GON) vào 200 triệu năm trước Laurasia nằm ở phía bắc, bao gồm lục địa Laurentia (phần lớn lục địa Bắc Mỹ hiện nay), Eurasia (phần lớn lục địa Á – Âu hiện nay) Gondwana nằm ở phía nam bao gồm phần lớn các lục địa ngày nay của bán cầu Nam: Nam Cực, Nam Mỹ, Phi, Madagasca, Ấn Độ, Ả Rập, Úc – New Guinea và New Zealand Siêu lục địa Gondwana bắt đầu tách thành hai phần từ kỷ Jura sớm (khoảng 184 triệu năm trước): Đông Gondwana (gồm Nam Cực, Úc, New Guinea, New Zealand, Madagascar, Ấn Độ ngày nay); Tây Gondwana (gồm Phi và Nam Mỹ ngày nay) Trong khoảng thời gian này, tiểu lục địa Baikal, Bắc Trung Hoa, Nam Trung Hoa đang dần tiếp xúc với nhau Các tiểu lục địa Đông Nam Á, Bắc Terranes, Iran chuyển động dần dần về phía tây bắc
Siêu lục địa Laurasia bắt đầu tách thành hai phần vào đầu kỷ Creta (khoảng 140 triệu năm trước): Laurentia (phần lớn lục địa Bắc Mỹ ngày nay) và Eurasia (phần lớn lục địa Á – Âu ngày nay)
Tây Gondwana cũng bắt đầu chia tách ra thành lục địa Phi và lục địa Nam Mỹ vào đầu kỷ Creta (khoảng 130 triệu năm trước) Lục địa Nam Mỹ dần tách ra xa và bắt đầu trôi chậm về phía tây, còn lục địa Phi trôi chậm về phía bắc và xoay góc ngược chiều kim đồng hồ Tuy nhiên, sau đó phần cực nam của Nam Mỹ lại kết nối trở lại với phần phía tây Nam Cực ngày nay
Sau đó, Đông Gondwana cũng bắt đầu chia tách vào giai đoạn đầu của kỷ Creta (khoảng 120 triệu năm trước) với sự kiện tiểu lục địa Madagascar – Ấn Độ tách ra khỏi Đông Gondwana và di chuyển dần về phía bắc Sau đó, tiểu lục địa Madagascar – Ấn Độ phân rã ra thành hai phần riêng biệt Trong thời gian này, tiểu lục địa Trung Hoa (Bắc Trung Hoa và Nam Trung Hoa) tiếp xúc với lục địa Á – Âu Các tiểu lục địa Đông Nam
Á, Bắc Terranes, Iran tiếp tục chuyển động dần dần về phía tây bắc hướng về phía lục địa
Á – Âu
Vào thế Eocen thuộc kỷ Paleogen (55 triệu năm trước), lục địa Úc – New Guinea cũng bắt đầu từ từ tách ra khỏi Đông Gondwana và chuyển động về phía bắc Trong thời
Trang 17gian này, tiểu lục địa Ấn Độ tiếp tục di chuyển về phía bắc và gần tiếp xúc với lục địa Á – Âu
Sau đó, vào thế Eocen thuộc kỷ Paleogen (45 triệu năm trước), New Zealand và Tasmania (phần cực nam của Úc ngày nay) cũng đã tách ra khỏi Đông Gondwana Các tiểu lục địa Đông Nam Á, Bắc Terranes, Iran và Ấn Độ từ phía nam trôi lên đã tiếp xúc với lục địa Á – Âu Sự tiếp xúc của tiểu lục địa Ấn Độ đã làm cho lớp vỏ Trái Đất lồi lên, tạo ra dãy núi Hymalaya
Vào thế Miocen (khoảng 15 triệu năm trước), New Guinea bắt đầu va chạm với phần phía nam của lục địa Á – Âu, một lần nữa làm cao lên các ngọn núi, và Nam Mỹ bắt đầu kết nối với Bắc Mỹ qua khu vực bây giờ là eo đất Panama Diện mạo các lục địa và các đảo tại thời điểm về cơ bản đã gần giống với hiện nay Tuy nhiên, các vận động của các lục địa vẫn tiếp tục diễn ra
1.2.1.3 Các chu kỳ tạo núi chính
Chu kỳ tạo núi đã được nhà địa chất học người Pháp là M Bertrand (1887, 1894) đưa ra lần đầu tiên M Bertrand cho rằng sự tiến hóa của vỏ Trái Đất trải qua 4 chu kỳ kiến tạo quan trọng: Huroni, Caledonia, Hercynia, Alpide Trong đó, ngày nay 3 chu kỳ Caledonia, Hercynia, Alpide được sử dụng phổ biến hơn cả trong khi chu kỳ Huroni ngày nay hầu như không được sử dụng nhiều Các nhà nghiên cứu sau này bổ sung nhiều chu
kỳ kiến tạo mang tính chất địa phương: Belomori, Careli, Baicali, Indosini, Kimmeri, Các chu kỳ kiến tạo (theo Bertrand) biểu thị sự mở và đóng các bể đại dương nhỏ, các quá trình sụt lún – nâng hoặc địa máng – uốn nếp Sau này, học giả người Đức WH Shi Dile đã xác định thời gian cụ thể xảy ra của mỗi chu kỳ kiến tạo: Huroni (Tân Nguyên sinh), Caledonia (đầu Paleozoi), Hercynia (cuối Paleozoi), Alpide (cuối Mesozoi, đầu Kainozoi)
– Chu kỳ tạo núi Caledonia
Đây là một thời kỳ tạo núi đã xảy ra ở phần phía bắc đảo Anh, tây Scandinavia, Svalbard, đông Greenland, các phần thuộc phía bắc khu vực trung tâm châu Âu, bắc và đông châu Á, phía đông lục địa Úc Vận động tạo núi Caledonia bao gồm các sự kiện xảy
ra từ kỷ Ordovic đến kỷ Devon (cách đây khoảng 390 – 490 triệu năm) Nó là nguyên nhân làm khép lại đại dương Iapetus khi các lục địa và địa thể thuộc Laurentia, Baltica và Avalonia va chạm vào nhau
– Chu kỳ tạo núi Hercynia (Variscan)
Đây là một thời kỳ tạo núi đã xảy ra ở Nam Ireland, Anh khu vực phía nam của Tây
và Trung Âu, bắc và đông Á, phía đông Bắc Mỹ, cực nam Nam Mỹ, phía đông lục địa
Úc, … xảy ra ở giữa và cuối Paleozoi (khoảng kỷ Carbon đến kỷ Pecmi)
– Chu kỳ tạo núi Alpide
Đây là một thời kỳ tạo núi đã xảy ra ở Nam Âu, Tây và Trung Âu, Bắc Phi, Tây Á, Nam Á, hình thành nên các dãi núi: Atlas, Pyrenees, Alp, Dinaric Alps, Hellenides, Carpathians, Balkan, Taurus, Caucasus, Alborz, Zagros, Hindu Kush, Pamir, Karakoram
và Hymalaya Vận động tạo núi Alpide bao gồm các sự kiện xảy ra từ kỷ Creta đến kỷ Paleogen, cách đây khoảng 25 – 146 triệu năm, tuy nhiên các chính tạo núi bắt đầu từ thế Paleocen đến thế Eocen Hiện tại, quá trình này vẫn đang tiếp diễn ở một vài nơi trong dãi núi Alps
1.2.2 SỰ PHÂN CHIA VÀ PHÂN BỐ CÁC LỤC ĐỊA
1.2.2.1 Sự phân chia các lục địa
Trải qua lịch sử hình thành phức tạp, nhiều biến động nên có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại lục địa Mô hình 7 lục địa (Phi, Âu, Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Cực, Úc) thường được giảng dạy ở Trung Hoa, Ấn Độ, một vài phần ở Tây Âu và hầu hết các nước nói tiếng Anh, bao gồm cả Úc và Anh Mô hình 6 lục địa (Phi, Á – Âu, Bắc Mỹ,
Trang 18Nam Mỹ, Nam Cực, Úc) được các cộng đồng địa lý học, Nga, Đông Âu, và Nhật Bản đề cập Do ảnh hưởng từ Nga và Đông Âu, hiện nay Việt Nam cũng áp dung mô hình 6 lục địa này Trong khi đó, một kiểu mô hình 6 lục địa khác (Phi, Âu, Á, Mỹ, Nam Cực, Úc) được dùng ở các quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha và một vài phần của châu Âu bao gồm
Hy Lạp
Ngoài ra còn có mô hình 5 (Phi, Á – Âu, Mỹ, Nam Cực, Úc) và 4 lục địa (Phi -Á –
Âu, Mỹ, Nam Cực, Úc) được sử dụng tại một số quốc gia khác Tuy nhiên, các mô hình này ít phổ biến
Tổng diện tích toàn bộ đất nổi trên Trái Đất là 149.420.000km², chiếm khoảng 29,1% diện tích bề mặt Trái Đất Với quan điểm phân chia thành 6 lục địa thì: lớn nhất là
Á - Âu (54.363.000km2), thứ hai là Phi (30.370.000 km2), kế tiếp là Bắc Mỹ (24.130.000km2), Nam Mỹ (18.200.000km2), Nam Cực (13.720.000km2) và nhỏ nhất là
Úc (7.010.000km2) Ngoài ra, còn có các đảo trong Thái Bình Dương với diện tích khoảng 2.000.000km2
1.2.2.2 Sự phân bố các lục địa
Nếu lấy xích đạo để phân chia bề mặt Trái Đất thành hai nửa cầu thì ta có: bán cầu Bắc và bán cầu Nam Mặt khác, nếu lấy kinh tuyến 0o (Greenwich – đi ngang qua Đài thiên văn Hoàng gia Anh) và kinh tuyến 180o chia bề mặt Trái Đất thành hai nửa cầu thì
ta có bán cầu Tây và bán cầu Đông Có thể hình dung sự phân bố của các lục địa trên Trái Đất như sau:
Á - Âu nằm phần lớn ở bán cầu Bắc (chỉ có một phần nhỏ các đảo ở Đông Nam Á nằm ở bán cầu Nam) và chủ yếu thuộc về bán cầu Đông (chỉ có 1 phần bán đảo Iberich thuộc về bán cầu Tây)
Phi nằm ở phía tây nam Á – Âu, trải đều trên hai nửa cầu: bán cầu Bắc và bán cầu Nam (đường xích đạo đi qua khoảng giữa của Phi) và phần lớn Phi nằm ở bán cầu Đông, một bộ phận nhỏ hơn nằm ở bán cầu Tây
Úc nằm ở bán cầu Nam và bán cầu Đông, phía đông lục địa Úc là các đảo thuộc Thái Bình Dương
Bắc Mỹ nằm hoàn toàn ở bán cầu Tây bán cầu Bắc, trong khi đó Nam Mỹ nằm ở chủ yếu ở bán cầu Nam (có đường xích đạo đi qua ở phía bắc của lục địa Nam Mỹ) Nam Cực nằm ở vùng cực của bán cầu Nam, trải toàn bộ trên cả bán cầu Đông và bán cầu Tây Điểm cực Nam của Trái Đất nằm trên Nam Cực
Bao quanh các lục địa là năm đại dương: Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương, Đại Tây Dương, Nam Đại Dương và Thái Bình Dương Trong đó Thái Bình Dương là đại dương lớn nhất Trái Đất
1.2.3 MỐI LIÊN HỆ GIỮA CÁC THÀNH PHẦN TỰ NHIÊN
Các lục địa có những đặc điểm riêng về vị trí địa lý, địa chất, khoáng sản, địa hình, khí hậu, sông ngòi – hồ, thực và động vật Những yếu tố này kết hợp lại với nhau, tác động và quyết định lẫn nhau, tạo nên bộ mặt độc đáo cho mỗi châu lục
Ví dụ trường hợp phần phía tây của lục địa Á - Âu là một lãnh thổ nhỏ, nằm gần như hoàn toàn ở các vĩ độ ôn đới, lại có bờ biển cắt xẻ mạnh, biển ăn sâu vào đất liền Những đặc điểm đó làm cho khu vực này có khí hậu ôn hòa, không lạnh lắm và cũng không nóng lắm Các dãy núi phần lớn lại chạy theo hướng tây – đông nên gió Tây ôn đới dễ dàng vào sâu nội địa, mang theo khí ấm và hơi ẩm từ Đại Tây Dương làm cho mùa đông đỡ lạnh, mùa hạ bớt nóng, phân bố mưa đều hơn Chế độ nước của sông ngòi ít thay đổi Cũng nhờ điều kiện khí hậu như vậy mà khu vực này có nhiều rừng, trong khi đó lại
ít hoang mạc, đài nguyên Trong khi đó lục địa Nam Cực nằm hoàn toàn ở vùng cực Nam của Trái Đất, bao xung quanh là hệ thống dòng biển lạnh, bờ biển lại ít chia cắt Những
Trang 19đặc điểm đó làm cho Nam Cực có khí hậu cực, bề mặt luôn luôn bị bao phủ bởi lớp băng dày Với đặc điểm đó, thực – động vật của Nam Cực rất nghèo nàn
Rõ ràng là vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, … của một lục địa không hề tách rời nhau
mà phải được xem xét trong mối quan hệ với nhau và chính các mối quan hệ đó đã tạo nên tổng thể tự nhiên lục địa
Trang 20CHƯƠNG 2 ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA Á – ÂU
2.1 CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA Á - ÂU
2.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, GIỚI HẠN VÀ TIẾP GIÁP
2.1.1.1 Vị trí địa lý và giới hạn
Lục địa Á - Âu nằm hoàn toàn ở bán cầu Bắc Điểm cực bắc: mũi Sêliuxkin (trên bán đảo Taimưa): 77o44’B Điểm cực nam: mũi Piai (trên bán đảo Malacca): 1o
16’B Nếu tính cả đảo thì điểm cực bắc nằm trên quần đảo Phranxa Iosip: 82oB và điểm cực nam là mũi Pamana trên đảo Rôti (Nam Indonesia): 11o
N Như vậy, từ cực bắc đến nam dài hơn
76o vĩ tuyến, tương đương 8.500km
Theo phương đông – tây, điểm cực đông: mũi Diegionep (trên bán đảo Chucot):
169o40’T; điểm cực tây: mũi Roca (trên bán đảo Pirênê): 9o34’T Như vậy, từ cực đông đến cực tây: 180o kinh tuyến Bộ phận lục địa mở rộng nhất nằm trên các vĩ độ cận nhiệt
và ôn đới (từ 35o
B đến 50oB): hơn 12.000km
2.1.1.2 Tiếp giáp
* Tiếp giáp với 3 lục địa
- Phía tây nam, Á - Âu tiếp giáp với lục địa Phi, phân cách với nhau bởi Địa Trung Hải và biển Đỏ
- Phía đông bắc, Á - Âu phân cách với Bắc Mỹ bởi một eo biển hẹp - eo Bering:
rộng 34km, sâu 42m, mới được hình thành vào cuối Kainozoi
- Phía đông nam, Á - Âu tuy cách xa lục địa Úc nhưng lại có mối liên hệ chuyển tiếp nhờ quần đảo Mã Lai với các biển hẹp
* Tiếp giáp với 4 đại dương
- Phía bắc, Á - Âu tiếp giáp với các biển của Bắc Băng Dương: Nauy, Baren, Cara, Laptep, Đông Siberia và Chucot Trừ biển Nauy là biển sâu (>3.000m), các biển khác đều nằm trên thềm lục địa, sâu dưới 300m Các biển được phân cách bởi các quần đảo: Spitberghen, Đất Phransa Iosip, Novaia Demlia, Severonaia Demlia và Novosiberia Phía bắc các biển là các vực biển sâu
- Phía đông, Á - Âu tiếp giáp Thái Bình Dương Dọc theo bờ lục địa, đáy đại dương
có cấu tạo phức tạp, tạo nên nhiều bán đảo, nhiều đảo và chuỗi đảo vòng cung, nhiều biển nhỏ (Bering, Okhot, Nhật Bản, Hoàng Hải, Hoa Đông, …) và nhiều vực biển sâu
- Phía đông nam, nơi tiếp giáp giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương có các bán đảo, đảo, quần đảo, biển và vịnh biển phức tạp, đó là khu vực Đông Nam Á, gồm bán đảo Trung Ấn và các quần đảo (Philippines, Sunda Lớn, Sunda Nhỏ và Molucca, gọi chung là quần đảo Mã Lai) Nằm giữa các bán đảo và quần đảo có nhiều biển lớn như: Đông, Java, Sulu, Sulavedi, Banda Biển Đông là biển lớn nhất trong các biển này, có tên quốc tế là Nam Trung Hoa
- Phía nam, Á - Âu tiếp giáp với Ấn Độ Dương Bờ lục địa bị chia cắt, tạo thành ba bán đảo lớn là Trung Ấn, Ấn Độ và Ả Rập Nằm giữa các bán đảo này là các biển và vịnh biển mở rộng ra đại dương (Anđaman, Ả Rập, Pecxích, )
- Phía tây, Á - Âu tiếp giáp với Đại Tây Dương, có các biển Baltica, biển Bắc và Địa
Trung Hải Trong đó, Địa Trung Hải là một biển kín (chỉ nối liền với Đại Tây Dương qua
eo Gibranta ở phía tây) nhưng lớn, đáy biển sâu, cấu tạo phức tạp, đường bờ biển bị chia cắt mạnh tạo thành nhiều biển nhỏ như Tirênê, Adriatic, Ioni, Egie, biển Đen và biển Azop; các bán đảo Apennin, Bankan, Tiểu Á; các đảo Cooc, Sacdenher, Xixilia, Creat, Như vậy, các biển và đại dương bao quanh lục địa Á - Âu không những làm giới hạn
tự nhiên của lục địa, mà còn có ảnh hưởng lớn tới điều kiện tự nhiên Đặc biệt, khối lục địa rộng nằm bên cạnh các đại dương lớn tạo nên sự tương phản giữa biển và lục địa, là
Trang 21nhân tố hình thành hoàn lưu không khí giữa biển và lục địa theo mùa, làm cho hoàn lưu gió mùa ở lục địa Á - Âu phân bố rộng hơn các lục địa khác
Tuy bờ biển bị chia cắt khá mạnh, nhưng do diện tích lục địa rộng, vịnh và biển không ăn quá sâu vào đất liền nên sự chia cắt bề mặt theo chiều ngang vẫn không đáng
kể Các vùng trung tâm lục địa vẫn nằm cách bờ biển rất xa, có nơi tới 2.500 km
2.1.2.2 Kích thước
Á - Âu là lục địa rộng nhất Trái Đất, có diện tích lục địa chính là 50,7 triệu km2 Xung quanh lục địa chính có nhiều đảo và quần đảo lớn Diện tích các đảo và quần đảo với diện tích gần 2,8 triệu km2 Tổng diện tích lục địa gần 53,5 triệu km2
Lục địa Á - Âu được chia thành hai phần: Á và Âu Ranh giới bắt đầu từ dãy Ural (Nga), đến đông nam thì không thống nhất, có thể coi là sông Ural hoặc sông Emba Từ
đó ranh giới này kéo đến hồ Caspian (thường gọi là biển Caspian), sông Kuma và Manych hoặc dãy Caucasus rồi kéo đến biển Đen, biển Marmara và Địa Trung Hải Theo ranh giới này, Á rộng 43,5 triệu km2, Âu rộng trên 10 triệu km2
Tóm lại, Á - Âu là lục địa có vị trí kéo dài từ vùng cực cho tới xích đạo, có kích
thước lớn, có bề mặt dạng khối Đó là những điều kiện cơ bản đầu tiên quyết sự hình thành khí hậu của lục địa Do vậy, lục địa Á - Âu có đủ tất cả các đới, các kiểu khí hậu
nên thiên nhiên lục địa Á - Âu rất phong phú, đa dạng
2.1.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN
2.1.3.1 Thời kỳ Tiền Cambri
Cơ sở cấu thành nên lục địa Á – Âu hiện nay bao gồm khoảng 6 nền cổ chính:
- Nền Siberia: nằm trên khu vực giữa 2 sông Lena và Enitxay Hiện nay, lộ ra hai
khiên tuổi Archean: Anabar và Aldan (thứ tự bắc xuống nam)
- Nền Baltica: còn gọi là nền Đông Âu hay nền Nga, chiếm toàn bộ đồng bằng Đông
Âu, vùng biển Baltica và phần lớn bán đảo Scandinavia hiện nay Trên nền Âu, thấy được
4 khiên lớn tuổi Archean: Kola, Karelia,Volga – Uralia và Ukraina
- Nền Bắc Trung Hoa: nằm trên vị trí của bắc Trung Hoa và Triều Tiên hiện nay, là
vùng nền kém ổn định nhất
- Nền Nam Trung Hoa: nằm trên vị trí của nam Trung Hoa hiện nay, cũng là vùng
nền kém ổn định
- Nền Tây Ả Rập: Bộ phận của nền Phi, tách ra khỏi nền Phi vào cuối Mesozoi và
thành một bộ phận của lục địa Á - Âu
- Nền Ấn Độ: Có quá trình phát triển tương tự như nền Tây Ả Rập
Trong thời kỳ Tiền Cambri, do vận động kiến tạo, các nền trên đã trải qua nhiều lần hợp nhất thành siêu lục địa (Rodinia – 1,1 tỷ, Pannotia – 600 triệu năm trước) và chia tách (750 triệu, 540 triệu năm trước) Vào lần chia tách cuối Proterozoi, nền Baltica và Siberia tách ra nhau, trong khi đó, các nền Bắc Trung Hoa, Ấn Độ, Tây Ả Rập vẫn còn dính vào một khối trong lục địa Gondwana
2.1.3.2 Đại Paleozoi - Pz
Sau sự phân rã của lục địa Pannotia, trong đại Paleozoi, các nền cổ tiếp tục di chuyển, xô húc và tách giãn, làm xảy ra 2 vận động tạo núi lớn: Caledonia (cuối kỷ Silua, đầu Devon) và Hercynia (kỷ Carbon) Các vận động này bao gồm uốn nếp, vận động
Trang 22thẳng đứng và đứt gãy Vận động uốn nếp đã hình thành miền núi Scandinavia, quần đảo Anh - Ireland, tây Spitsbergen (Na Uy), Zemlya Frantsa–Iosifa (Nga), các khối núi Trung
Âu, các dãy núi: Sajan, Alatau, ven Baikan (phía bắc); Thiên Sơn, Altay, Đại Hưng An (phía nam); Ural (tây bắc) bao quanh nền cổ Siberia kéo dài từ bắc Tây Tạng đến đông bắc Baikan Những dãy núi này đã bị bào mòn nhiều nhưng phần lớn được nâng lên trong các đại sau
Sự xô húc đã nối liền nền cổ Batica với Siberia và nối với các nền khác (Tây Ả Rập,
Ấn Độ) hình thành siêu lục địa Pangea (Toàn lục) cách đây 300 triệu năm Từ khi hình thành Pangea, giới sinh vật phát triển mạnh, đặc biệt xuất hiện thực vật lộ trần rồi đến hạt kín Lúc này Bắc Trung Hoa, Nam Trung Hoa, Đông Nam Á là các nền nhỏ tách rời
2.1.3.3 Đại Mesozoi – Mz
Vào cuối kỷ Trias, lục địa Pangea bắt đầu bị nứt vỡ, hình thành nên 2 lục địa: Laurasia và Gondwana do sự tách vỡ dọc bờ biển Caribe và mở rộng biển Tethys (từ biển Caribe qua Địa Trung Hải, sang Nam Á và kéo về phía đông) Hiện tượng nứt vỡ và tách dãn đầu tiên là sự hình thành eo Môdămbich, tách Madagasca, Ấn Độ, Úc và Phi rời nhau Nền Ấn Độ trôi dần về phía bắc để gắn với Á - Âu ở cuối đại Kainozoi
Vào kỷ Kreta, Bắc Trung Hoa và Nam Trung Hoa tiếp xúc với lục địa Á – Âu Cũng trong thời gian này bắt đầu có hiện tượng biển tiến tràn ngập nhiều vùng rộng như Đông
Âu, Siberia, Trung Hoa, …
Bên cạnh đó, sự xô húc giữa Á – Âu (ở phía đông) với nền Bắc Mỹ đã sinh ra vận động tạo núi Mesozoi (Kimeri) kéo dài suốt 3 kỷ nhưng chủ yếu ở kỷ Jura và kỷ Kreta hình thành các cấu trúc uốn nếp phát triển trên một diện rộng lớn, bao gồm vùng Đông Siberia, sau đó tiếp tục kéo dài sang Alaska, miền núi Coocdie (Bắc Mỹ), duyên hải Viễn Đông, cận Amua (Nga) và Đông Dương
- Hệ thống núi thứ hai kéo dài từ Kamchatka, Viễn Đông (Nga) qua Nhật Bản, Đài Loan, Philippines tới Indonesia gồm hệ thống núi đảo, các máng đại dương rất sâu như các máng Aleut - Kuril, Nhật Bản, Philippines, Marian và Xonda ở tây Thái Bình Dương thuộc phía đông Á - Âu là do sự xô húc của nền Thái Bình Dương và Ấn Độ với Á - Âu
Bên cạnh sự hình thành các núi uốn nếp do sự xô húc của các mảng, ở rìa các mảng tiếp giáp với đới uốn nếp bị lún xuống, được bồi trầm tích và hình thành các đồng bằng: trung và hạ lưu sông Đanuyp, Lưỡng Hà và vịnh Pecxich, Ấn - Hằng, …
Cuối Kainozoi, khí hậu bắc Á - Âu bị hoá lạnh, băng hà phủ một diện tích rộng ở Bắc Âu và Bắc Á, tiêu diệt toàn bộ động - thực vật, phá huỷ thổ nhưỡng, thay đổi địa hình và mạng lưới sông ngòi Sự tồn tại của băng hà Neogen suốt thời kỳ Pleitoxen với nhiều băng kỳ khác nhau Trong các kỳ băng hà phát triển, mực nước biển giảm, lục địa
mở rộng, nhiều đảo, quần đảo và lục địa nối liền nhau Sau thời kỳ băng hà Neogen, mực nước biển dâng lên, lục địa có hình dạng và kích thước như hiện nay Trên các lãnh thổ trước đây bị băng hà phủ, địa hình, sông hồ, thổ nhưỡng, động - thực vật phát triển trở lại Tóm lại, trong giai đoạn Kainozoi, vận động tạo núi Anpide - Hymalaya và hiện tượng băng hà Neogen có vai trò rất lớn trong sự hình thành và phát triển tự nhiên, từ đó quyết định các đặc điểm tự nhiên ngày nay trên lục địa
Trang 232.2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA Á - ÂU
2.2.1 ĐỊA HÌNH
2.2.1.1 Địa hình bị chia cắt thẳng đứng rất mạnh
Trên lục địa Á - Âu có đầy đủ các kiểu địa hình trên bề mặt Trái Đất: núi cao, sơn nguyên và cao nguyên, đồng bằng, bồn địa, … với quy mô lớn Các kiểu địa hình đó xen
kẽ nhau làm bề mặt lục địa bị chia cắt mạnh
- Các hệ thống núi và sơn nguyên cao thường nằm bên cạnh các đồng bằng rộng và phẳng, cao trung bình không quá 300m như: dãy Ural nằm cạnh đồng bằng Đông Âu, sơn nguyên Trung Siberia nằm cạnh đồng bằng Tây Siberia, khối núi Pamir trên 7.000m được coi là “nóc nhà của Trái Đất” nằm cạnh đồng bằng Turan, Mêdôpôtami, dãy Hymalaya:
“xứ sở của Chúa Tuyết” với đỉnh Chomolungma cao nhất Trái Đất (8.848m) nằm cạnh đồng bằng Ấn - Hằng, …
- Trong các vùng núi và sơn nguyên cao có các bồn địa thấp xen giữa làm tính chất chia cắt của bề mặt rõ hơn Các bồn địa này thường có dạng bầu dục nằm trên những độ cao khác nhau Đặc biệt ở trung tâm lục địa, các bồn địa sâu và hẹp kẹp giữa các dãy núi rất cao, tạo thành kiểu địa hình “cấu trúc tổ ong” Ví dụ: bồn địa Tarim cao trung bình 800m nằm giữa các dãy Thiên Sơn và Côn Luân cao 5.000 - 7.000m; bồn địa Dungari cao 400 - 600m nằm giữa Thiên Sơn và Antai; bồn địa Tuocphan là bồn địa hẹp và sâu nhất lục địa, có đáy sâu -154m, kẹp giữa các nhánh núi phía đông Thiên Sơn
2.2.1.2 Các dạng địa hình phân bố không đều
- Các hệ thống núi trung bình và núi cao rải ra trên các bộ phận của lãnh thổ: dãy Pirene, Alps, Carpatha, Bankan (Trung và Nam Âu); Caucasus, Enbuoc (Tây Nam Á); Scandinavi (Bắc Âu); Veckhoian, Columa, Antai (Đông Bắc Á); Xkhote Alin, Đại Hưng
An, Tần Lĩnh, … (Đông Á) Các hệ thống này cao trung bình 2.000 - 3.000m
- Các núi và sơn nguyên cao nhất (5.000 - 7.000m) tập trung gần trung tâm, tạo thành một miền núi cao, đồ sộ và hiểm trở nhất Trái Đất Ở đây, khối Pamir là điểm nút,
từ đó toả ra ba cánh cung lớn Cánh đông bắc: hệ thống Thiên Sơn, Antai, Xaian và tiếp tục tới đông bắc Siberia Cánh tây: Hinđu Cúc và các núi trên sơn nguyên Iran, Tiểu Á và Nam Âu Cánh đông nam: các núi thuộc khối Tây Tạng, Hymalaya và ở Đông Nam Á
- Ba cánh núi này chia bề mặt lục địa thành ba phần: phần bắc ưu thế gồm đồng bằng, sơn nguyên và núi thấp Bộ phận này hình thành chủ yếu trên nền Tiền Cambri và Paleozoi nên thấp nhất lục địa Phần đông gồm núi cao, sơn nguyên, cao nguyên cao và núi trung bình xen đồng bằng thấp Đây là bộ phận hình thành chủ yếu trên nền Trung Hoa, các đới uốn nếp Paleozoi, Mesozoi được nâng mạnh nên cao, hiểm trở, đồ sộ nhất Các núi và sơn nguyên thấp dần từ vùng nội địa ra biển Phần nam và tây nam gồm núi uốn nếp trẻ, sơn nguyên, đồng bằng xen kẽ Địa hình bị chia cắt mạnh hơn phần bắc
2.2.1.3 Hướng núi gồm hai hướng chính
- Hướng đông - tây hoặc gần với đông - tây: bao gồm các hệ thống núi kéo dài từ Nam Âu qua Tiểu Á đến Hymalaya và các núi vùng Trung Á và Nội Á
- Hướng bắc - nam hoặc gần với bắc - nam: gồm các núi chạy theo bờ Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á, Nam Âu và các dãy Uran, Scandinavi ở phía bắc
2.2.2 KHOÁNG SẢN
Nguồn khoáng sản của lục địa Á - Âu rất phong phú và có trữ lượng lớn Các loại giàu nhất là dầu mỏ, than đá, sắt và các kim loại màu như đồng, chì, kẽm thiếc và bôxít Nguồn gốc hình thành và sự phân bố các mỏ quặng tuy phức tạp, nhưng trong mỗi đới kiến tạo cũng như trong từng khu vực đều có tập trung một số loại chính có liên quan mật thiết đối với các quá trình địa chất
Trang 24Ở Trung Hoa và Trung Siberia có nhiều vônfram, kim cương, vàng, bôxit
Trong đới uốn nếp Paleozoi có nhiều kim loại màu như đồng, chì, thiếc, kẽm Các loại này có nhiều ở Kazakhstan và vùng núi Nam Siberia
Trong đới uốn nếp Mesozoi, thiếc là kim khoáng quan trọng nhất Ở đây, thiếc thường kèm vônphram hoặc chì, kẽm, vàng Các vùng nhiều thiếc nhất là vùng núi Đông Siberia và Đông Nam Á Thiếc Đông Nam Á tập trung trong một dải kéo dài từ cao nguyên Vân Quý qua bán đảo Trung Ấn đến các đảo Bangka và Billiton thuộc Indonesia, chiếm tới 70% trữ lượng Trái Đất
Trong đới uốn nếp Kainozoi, có nhiều kim loại khác nhau như đồng, chì, kẽm, bauxit và sau đó là sắt, mangan và thuỷ ngân Ngoài ra, ở Tiểu Á và Iran còn có nhiều crom và molopden
2.2.2.2 Các mỏ trầm tích
Các mỏ trầm tích nằm trong các vỉa trầm tích, các miền võng trên nền, võng trước
và giữa núi Các vùng than có trữ lượng lớn gọi là bồn địa than có nhiều ở Trung Hoa, Ấn
Độ, Mông Cổ, Trung Siberia (Nga) và Rua (Đức)
Các mỏ dầu và khí đốt tập trung nhiều ở đồng bằng Tây Siberia, Trung Á, thềm lục địa phía Nam Biển Đông, ở Indonesia, Myanma và đồng bằng Ấn – Hằng, vùng đồng bằng Lưỡng Hà và ven vịnh Ba Tư, đảo Sakhalin, Nhật Bản, bồn địa Tarim, Xaidam, Dungari, Tứ Xuyên và cao nguyên Gobi (Trung Hoa)
2.2.3 KHÍ HẬU
2.2.3.1 Các yếu tố hình thành khí hậu
* Vị trí địa lý, hình dạng và kích thước
Lục địa Á – Âu kéo dài từ vùng cực cho tới xích đạo, trải ra trên tất cả các đới địa lý khác nhau Do đó, lượng bức xạ Mặt Trời phân bố trên lục địa không đồng đều, giảm dần
từ nam lên bắc Mặt khác, tuỳ theo vị trí gần hay xa biển, tổng bức xạ năm có khác nhau Lượng bức xạ phân bố không đồng đều là nguyên nhân chủ yếu làm cho điều kiện nhiệt nói riêng, điều kiện khí hậu nói chung, thay đổi từ nam lên bắc và khác nhau giữa vùng nội địa với các miền duyên hải
Diện tích rất rộng lớn của lục địa cùng với dạng khối vĩ đại đã làm cho các vùng nội địa bị khối khí lục địa khô quanh năm thống trị, dễ bị sưởi nóng và hoá lạnh theo mùa
Đó là điều kiện hình thành các trung tâm khí áp thay đổi theo mùa
Khối lục địa Á - Âu rộng lớn nằm bên cạnh các đại dương nên xuất hiện sự tương phản về khí áp giữa lục địa và biển theo mùa, làm cho hoàn lưu gió mùa phát triển rất mạnh, đặc biệt dọc theo duyên hải phía đông và phía nam lục địa
* Địa hình
- Địa hình chi phối sự phân bố nhiệt trên lục địa khá rõ Các mạch núi đông - tây ngăn các khối khí khô, lạnh phía bắc không xâm nhập xuống phía nam và các khối khí nóng ẩm phía nam không lan xa về phía bắc Các bồn địa xen vào giữa các dãy núi và sơn nguyên cao sinh ra các giá trị nhiệt độ biến động nhạy theo mùa Về mùa đông, không khí bồn địa hoá lạnh nhanh hơn và nằm yên tại chỗ vì thế nhiệt độ thấp hơn xung quanh Về mùa hạ, không khí trong bồn địa được sưởi nóng mạnh, nhiệt độ cao hơn lân cận Ở các
Trang 25vùng núi và sơn nguyên cao: Alps, Caucasus, Pamir, Hymalaya, Tây Tạng, … càng lên cao nhiệt độ càng giảm và đến độ cao 3.000 - 5.000m bắt đầu đới băng tuyết vĩnh viễn
- Địa hình làm cho sự phân bố mưa trên lục địa không đồng đều Các núi chạy theo hướng bắc – nam: có tác dụng ngăn các khối khí ẩm từ phía đông và tây đi sâu vào lục địa nên trên sườn đón gió có mưa nhiều Các núi chạy hướng đông - tây: có tác dụng ngăn các khối khí ẩm từ phía nam lên, làm cho sườn nam các núi có mưa khá lớn
* Các dòng biển
Dòng biển cũng có ảnh hưởng khá quan trọng đến khí hậu các vùng lân cận Trong
số các dòng biển chảy gần bờ lục địa Á- Âu, quan trọng nhất là dòng nóng Bắc Đại Tây Dương (chảy ven bờ Tây Âu và Bắc Âu) và dòng lạnh Kuril-Kamchatka (chảy ven bờ phía đông bắc lục địa Á – Âu)
Do sự hoá lạnh của không khí như vậy, trên lục địa hình thành một vùng áp cao gọi
là áp cao Siberia, nó nối liền với áp cao Azores tạo thành một dải, phân cách với áp cao Bắc Phi bởi khu áp thấp Địa Trung Hải Áp thấp Iceland phát triển mạnh, trùm lên phần bắc và tây bắc lục địa, áp thấp Aleut cũng phát triển mạnh, bao phủ gần toàn bộ phần bắc của đại dương và lan sang bờ đông Á Ở phía nam lục địa là áp thấp xích đạo Trên bắc Thái Bình Dương, áp cao Hawaii vẫn tồn tại và thường tác động tới vùng đông nam Trung Hoa, bán đảo Trung Ấn
- Gió
Toàn bộ phần nam lục địa về mùa đông có gió Đông Bắc từ lục địa thổi xuống Ở các bán đảo phía nam, do ảnh hưởng của địa hình, gió Đông Bắc ở các khu vực này thực chất là gió Mậu Dịch từ áp cao cận nhiệt thổi về xích đạo Gió Đông Bắc mang theo khối khí nhiệt đới lục địa khô nên không có mưa, thời tiết trong sáng, ổn định và tương đối nóng
Ngoài ra, về mùa đông dọc theo đới cận nhiệt (từ Địa Trung Hải tới đông Trung Hoa) thường xuyên có gió Tây và khí xoáy nên thời tiết thường bị nhiễu loạn, có mưa
Ở phía bắc lục địa có gió Tây Nam thổi từ nội địa về phía bắc, gây ra thời tiết khô và rất lạnh Miền duyên hải Đông Á có sự chênh lệch về khí áp giữa lục địa và biển rất lớn, tạo thành gió mùa Tây Bắc khô và rất lạnh
+ Tháng 7
- Nhiệt độ
Toàn bộ lục địa được sưởi nóng và có nhiệt độ dương Càng về phía nam, nhiệt độ càng tăng dần Nhiệt độ trung bình từ 240C - 300C Ở các vùng hoang mạc Trung Á và Tây Nam Á, nhiệt độ trung bình trên 300C
- Khí áp
Áp cao Siberia yếu đi, ở Nam Á hình thành áp thấp Iran Áp thấp Iran còn phối hợp với áp thấp Bắc Phi và đới áp thấp xích đạo, tạo thành một đới áp thấp liên tục bao phủ phần lớn lục địa Phi và Nam Á
Ở phía tây, áp cao Azores phát triển và dịch lên phía bắc, bao trùm vùng Trung Âu
và Địa Trung Hải
Ở phía đông, áp hạ Aleut suy yếu và áp cao Hawaii phát triển, chiếm phần bắc Thái Bình Dương lan sang tận bờ Đông Á
Trang 26Ở bán cầu Nam, các khu áp cao Nam Phi, Nam Ấn Độ Dương và Úc cũng phát triển thành một đới áp cao liên tục
Ở Bắc Á và Nội Á có gió Bắc hoặc Đông Bắc Gió này đem theo không khí cực và
ôn đới xuống phía nam nhưng bị biến tính
Địa Trung Hải nằm dưới áp cao cận nhiệt và gió Mậu Dịch nên thời tiết ổn định, khô nóng và mưa rất ít
Tây Nam Á thống trị bởi gió Tây Bắc, thực chất là gió Mậu Dịch, gây nên thời tiết khô và nóng Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á, có gió Tây Nam và Đông Nam từ biển thổi vào lục địa
* Mưa
Sự phân bố mưa trên lục địa nhìn chung không đồng đều Nam Á và Đông Nam Á là các vùng mưa nhiều nhất Lượng mưa trung bình ở đây từ 1.500 - 2.000mm/năm (ở đồng bằng) và từ 2.000 - 3.000mm/năm (ở miền núi) Các vùng Tây Âu và Đông Á lượng mưa tuy có giảm nhưng vẫn còn khá lớn, trung bình từ 500 - 1.000mm/năm Các vùng Trung
Á, Nội Á và Bắc Á có lượng mưa thấp, trung bình < 300mm/năm Khu vực Tây Nam Á
là nơi mưa ít nhất, dưới 100mm/năm
2.2.3.3 Các đới khí hậu
* Đới khí hậu xích đạo
Đới khí hậu xích đạo bao gồm phần nam đảo Sri Lanka, nam bán đảo Malacca và
phần lớn quần đảo Sunda Lớn và Sunda Nhỏ (Indonesia)
Trong đới này, đa phần là kiểu khí hậu xích đạo ẩm Ở đây nhiệt độ trung bình trên
25oC, biên độ nhiệt giữa các mùa thấp hơn và lượng mưa cao hơn so với vùng xích đạo của lục địa Phi Biên độ nhiệt hàng năm ở đây từ 1 – 2oC Lượng mưa trung bình đạt từ
2.000 - 4.000mm/năm Riêng khu vực từ nửa đảo Java về phía đông thuộc kiểu phụ khí hậu xích đạo gió mùa bán cầu Nam nên có đặc điểm khí hậu mang tính chất mùa rõ rệt
* Đới khí hậu nhiệt đới
Đới khí hậu nhiệt đới từ vĩ tuyến 5o đến hai chí tuyến Bắc và Nam Khí hậu nhiệt đới có đặc trưng là nhiệt độ cao quanh năm và có một thời kỳ khô hạn, chia làm 2 kiểu:
- Kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa còn được gọi là cận xích đạo gió mùa Đới này bao gồm khu vực Nam Á, bán đảo Trung Ấn, Nam Trung Hoa và quần đảo Philippines
Trong kiểu khí hậu này, mùa hạ có gió mùa từ biển vào, nóng, ẩm và có mưa nhiều, thường có bão xâm nhập làm cho thời tiết nhiễu loạn gây mưa lớn Do ảnh hưởng của địa hình nên sự phân bố mưa không đồng đều: trên các sườn đón gió mưa trung bình từ 2.000 - 4.000mm/năm, còn ở đồng bằng từ 1.000 - 2.000mm/năm Đây là nơi có mưa nhiều nhất lục địa Mùa đông có gió mùa Đông Bắc từ lục địa thổi ra, thời tiết khô ráo Ngoại trừ bắc Ấn Độ, phía bắc và đông bắc bán đảo Trung Ấn thời tiết tương đối lạnh và có mưa do ảnh hưởng của khí xoáy
- Kiểu khí hậu nhiệt đới khô: kiểu này không tạo thành một dải liên tục, mà chỉ
chiếm phần Tây Nam Á, gồm bán đảo Ả Rập, nam sơn nguyên Iran đến vùng tây bắc Ấn
Độ Các khu vực này quanh năm bị thống trị bởi khối khí nhiệt đới lục địa và gió Mậu Dịch Vì thế, mùa hạ rất khô nóng, mùa đông khô và hơi lạnh Lượng mưa thấp, trung bình dưới 100mm/năm (ở đồng bằng) và từ 300 - 400mm/năm (ở miền núi) Do không khí khô nên khả năng bốc hơi lớn gấp hàng chục lần lượng mưa nên thiếu ẩm gay gắt Nhiệt
Trang 27độ trung bình tháng 7 từ 28 – 32oC, và tháng 1 từ 12 – 20oC Biên độ nhiệt giữa các mùa
và giữa ngày đêm rất lớn
* Đới khí hậu cận nhiệt
Chiếm một dải rộng từ bờ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương, có 4 kiểu:
- Kiểu khí hậu cận nhiệt Địa Trung Hải: Hình thành trong khu vực Địa Trung Hải và
các vùng lân cận Đặc điểm nổi bật của kiểu khí hậu này là mùa hạ khô nóng, thời tiết ổn định, trong sáng Mùa đông, do ảnh hưởng của gió Tây và hoạt động của khí xoáy nên thời tiết hay thay đổi, mát và mưa nhiều Nhiệt độ trung bình tháng 1 từ 4 – 12oC, tháng 7 từ
25 – 28oC Lượng mưa trung bình từ 500 - 600mm/năm
- Kiểu khí hậu cận nhiệt lục địa: Hình thành trong các miền nội địa như phần nam
đồng bằng Trung Á, Nội Á, sơn nguyên Iran Mùa hạ chịu ảnh hưởng của khối khí nhiệt đới lục địa khô nóng, nhiệt độ trung bình tháng 7 tới 30o
C, độ ẩm tương đối thấp, mưa rất hiếm Mùa đông, chịu ảnh hưởng của khối khí ôn đới lục địa, thời tiết lạnh, do hoạt động của khí xoáy trên frông ôn đới nên có mưa Nhiệt độ trung bình tháng 1 từ 0 đến -1oC Lượng mưa không đáng kể, từ 100 - 300mm/năm
- Kiểu khí hậu cận nhiệt núi cao: Là một biến dạng đặc biệt của kiểu khí hậu cận
nhiệt lục địa Hình thành trên các sơn nguyên và núi cao từ 3.500 - 4.000m trở lên, chủ yếu
ở Pamir và Tây Tạng Khí hậu vẫn mang tính lục địa: mùa đông rất lạnh và khô, mùa hạ mát Biên độ nhiệt giữa các mùa lớn, thời tiết trong ngày luôn thay đổi Lượng mưa trung bình thấp nên xuất hiện hoang mạc núi cao
- Kiểu khí hậu cận nhiệt gió mùa: Nằm ở phía đông lục địa như đông Trung Hoa, nam
Triều Tiên và Nhật Bản Ở đây, mùa hạ có gió mùa Đông Nam từ biển thổi vào, thời tiết nóng và mưa nhiều Lượng mưa mùa hạ chiếm tới 60% - 75% lượng mưa cả năm Về mùa đông, gió mùa Tây Bắc từ lục địa thổi ra, khô và lạnh Lượng mưa trung bình từ 1.000 - 1.500mm/năm Đây là miền ẩm nhất của đới khí hậu cận nhiệt
* Đới khí hậu ôn đới
Trên lục địa Á - Âu, vòng đai ôn đới chiếm một dải rộng lớn nhất, diện tích khoảng 27,6 triệu km2, tức khoảng hơn 70% diện tích toàn bộ vòng đai ôn đới của các lục địa gồm một dải rộng lớn nhất Đường ranh giới phía nam từ 45oB ở Tây Âu đến 40oB ở Trung Á và 35oB ở Triều Tiên và Nhật Bản Trên toàn đới tuy quanh năm chịu ảnh hưởng của khối khí ôn đới, nhưng khí hậu thay đổi từ duyên hải vào nội địa nên được chia thành 4 kiểu sau:
+ Kiểu khí hậu ôn đới hải dương: Hình thành một dải hẹp dọc theo duyên hải phía
tây lục địa Ở khu vực này quanh năm có gió Tây từ Đại Tây Dương thổi vào, mang theo khối khí ôn đới hải dương ấm ẩm nên khí hậu rất điều hoà Mùa đông thời tiết ấm dịu, không có băng giá, nhưng thường có mưa nhiều, gió mạnh và thỉnh thoảng có sương mù dày đặc Nhiệt độ trung bình tháng 1 từ 1 – 6oC Mùa hạ mát, mưa nhiều và ít khi nóng bức Nhiệt độ trung bình tháng 7 từ 12 – 18oC Mưa phân bố tương đối đều trong năm và lượng mưa trung bình từ 500 - 600mm/năm
+ Kiểu khí hậu ôn đới chuyển tiếp: Nằm tương đối sâu trong nội địa, bao gồm phần
châu Âu ôn đới cho tới dãy Ural Trong khu vực này, không khí hải dương dần dần bị biến tính nên càng đi sâu vào nội địa mùa đông càng lạnh, mùa hạ càng nóng, dao động nhiệt
độ giữa hai mùa càng lớn, lượng mưa càng giảm, thời gian băng giá càng dài Nhiệt độ trung bình tháng 1 từ 0 đến – 15oC còn tháng 7 từ 12 – 24oC theo hướng tây - đông Lượng mưa cũng giảm từ tây sang đông, 600 - 300mm/năm
+ Kiểu khí hậu ôn đới lục địa: nằm ở vùng trung tâm lục địa, bao gồm khu vực từ dãy
Ural cho tới dãy Đại Hưng An Quanh năm thống trị bởi khối khí ôn đới lục địa nên mùa đông rất khô và lạnh; mùa hạ ấm ẩm ở phía bắc, khô nóng ở phía nam Nhiệt độ trung bình tháng 1 từ - 4 đến – 40oC; còn tháng 7 từ 15 – 28oC Mưa rơi chủ yếu vào mùa hạ Lượng
Trang 28mưa giảm dần từ bắc xuống nam, phía nam lượng mưa dưới 250mm/năm
+ Kiểu khí hậu ôn đới gió mùa: Hình thành trong miền duyên hải phía đông Mùa
đông, gió Tây Bắc từ lục địa thổi ra rất khô lạnh Mùa hạ có gió Đông Nam từ biển thổi vào
ấm ẩm Mưa rơi chủ yếu vào mùa hạ, chiếm 60% - 70% lượng mưa cả năm Về mùa hạ thỉnh thoảng có bão từ phía Đông Nam lên, làm thời tiết nhiễu loạn
C
Đới khí hậu cận cực được chia thành 3 kiểu:
+ Kiểu khí hậu cận cực hải dương phía tây: có mùa đông tương đối dịu, mùa hạ mát
và ẩm
+ Kiểu khí hậu cận cực lục địa: có mùa đông rất lạnh và biên độ nhiệt giữa hai mùa lớn nhất Trái Đất
+ Kiểu khí hậu cận cực hải dương phía đông: tương tự như kiểu phía tây, nhưng có
mùa đông lạnh hơn và thường có gió Bắc hoặc Đông Bắc; mùa hạ có gió Đông Nam
* Đới khí hậu cực đới
Gồm các đảo, quần đảo và một dải hẹp dọc theo duyên hải phía bắc lục địa Giới hạn phía nam của đới gần trùng với vĩ tuyến 71oB
Do nằm trên những vĩ độ cao nên quanh năm thống trị khối khí cực khô lạnh Về mùa đông, ở đây có đêm địa cực kéo dài nên nhiệt độ rất thấp Nhiệt độ trung bình tháng 1
từ - 22 đến – 34oC Mùa đông thường có gió mạnh và bão tuyết, thời tiết rất giá buốt Mùa
hạ có ngày liên tục kéo dài, độ nắng phong phú, song do cường độ bức xạ rất yếu nên nhiệt độ mùa hạ vẫn thấp Nhiệt độ trung bình tháng ấm nhất vẫn không vượt 5oC, thường có gió Bắc, thời tiết lạnh, hay có sương mù và mưa tuyết Lượng mưa trung bình
từ 100 - 200mm/năm
2.2.4 THỦY VĂN
2.2.4.1 Sông ngòi
* Đặc điểm của sông ngòi lục địa Á - Âu
- Lục địa Á - Âu có nhiều hệ thống sông lớn vào bậc nhất Trái Đất
Hàng năm, các sông đổ ra biển một khối lượng nước khổng lồ: 15.694 km3 (tức 2/3 khối lượng dòng chảy của tất cả các lục địa) Sự phát triển các hệ thống sông lớn là do lục địa rộng, các sơn nguyên và cao nguyên cao tập trung ở gần trung tâm lục địa Trên các núi và sơn nguyên cao có băng hà tạo nguồn cung cấp nước quan trọng Đây là nơi bắt nguồn của tất cả các sông lớn Các sông lại chảy qua nhiều sơn nguyên và đồng bằng rộng, phẳng, có khí hậu ẩm nên phát triển thuận lợi
- Do ảnh hưởng của khí hậu, sự phân bố mạng lưới sông không đều
Các vùng có mưa nhiều như Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á; các khu vực có khí hậu ôn đới ẩm như tây Bắc Âu, Bắc Á mạng lưới sông rất phát triển, các sông có nhiều nước quanh năm Các vùng khí hậu khô hạn, lượng mưa hàng năm ít, lượng bốc hơi cao như Ả Rập, Iran, Trung Á, Nội Á, thì mạng lưới sông rất thưa, thậm chí nhiều khu vực hoàn toàn không có dòng chảy
- Chế độ sông phụ thuộc vào chế độ mưa và nguồn cung cấp nước
Theo chế độ sông, có thể phân thành 5 kiểu chính sau: Sông chảy trong các miền khí hậu xích đạo và ôn đới hải dương: có nguồn cung cấp nước chủ yếu do mưa Lượng mưa phân bố đều trong năm nên sông có nhiều nước và đầy nước thường xuyên; Sông chảy trong
Trang 29các miền khí hậu gió mùa: có mưa chủ yếu về mùa hạ nên nước sông lớn vào hạ - thu; cạn vào đông – xuân; Sông chảy trong miền khí hậu cận nhiệt Địa Trung Hải: có mưa mùa đông nên nước sông lớn vào mùa đông, khô cạn vào mùa hạ; Sông chảy trong các miền khí hậu cận cực, ôn đới và nhiệt đới lục địa: có nguồn cung cấp nước chủ yếu do tuyết và mưa nên có nước lớn vào cuối xuân và đầu hạ Mùa đông các sông đóng băng một thời gian dài; Sông chảy trong miền khí hậu khô hạn: nguồn cung cấp nước chủ yếu do tuyết
và băng tan nên có nước lớn vào cuối xuân
* Các lưu vực sông ở lục địa Á - Âu
- Lưu vực Bắc Băng Dương
Gồm các sông chảy trên vùng đông bắc đồng bằng Nga và miền Siberia Các sông chính là Dvina Bắc, Petsora, Obi-Ietuso, Enitxay, Lena, Indigisca và Columa
Các sông thuộc lưu vực này có đặc điểm chung là bắt nguồn từ các vùng núi hoặc đất cao ở phía nam và chảy về phía bắc, qua các miền khí hậu ngày càng lạnh dần Nguồn cung cấp nước chủ yếu của các sông là tuyết tan và mưa mùa hạ Mạng lưới sông khá dày thể hiện ở mật độ sông ở phần bắc đồng bằng Nga từ 0,4 - 0,8 km/km2; đồng bằng Tây Siberia và Trung Siberia từ 0,35 - 0,5 km/km2 Tất cả các sông có thời kỳ nước lớn vào cuối xuân và đầu hè Đặc biệt, các sông lớn phần trung và thượng lưu vào cuối xuân hay
có lũ lớn do tuyết và băng vùng thượng nguồn tan sớm hơn các vùng hạ lưu Mùa đông, các sông bị đóng băng một thời gian dài Sang mùa hạ, nhờ có mưa và nước ngầm nên sông vẫn đầy nước
- Lưu vực Thái Bình Dương
Gồm các sông chảy trên miền Đông Á, bán đảo Đông Dương, quần đảo Mã Lai và các đảo dọc theo bờ đông lục địa Các con sông lớn là Amua, Hoàng Hà, Trường Giang,
Mê Công, Mê Nam
Phần lớn các sông chịu ảnh hưởng của chế độ mưa gió mùa nên có nước lớn về mùa
hạ và cạn về mùa đông Tuy nhiên, do điều kiện khí hậu và nguồn cung cấp nước của từng miền, từng sông có khác nhau nên chế độ các sông không đồng nhất trên toàn bộ lưu vực + Các sông miền duyên hải bắc Viễn Đông và Kamchatka: có nước lớn nhất vào cuối xuân do tuyết tan từ trên núi
+ Các sông vùng Đông Á: có chế độ nước không giống nhau nhưng đa số các sông nhiều nước vào cuối hạ và cạn vào cuối đông - xuân
+ Các sông trên bán đảo Trung Ấn: mực nước lớn nhất thường vào cuối hạ và cạn nhất vào cuối đông, đầu xuân
+ Các sông trên quần đảo Mã Lai: sông nhiều nước quanh năm, chế độ nước sông rất điều hòa
- Lưu vực Ấn Độ Dương
Gồm các sông thuộc vùng Tây Nam Á, Nam Á và phần tây bán đảo Trung Ấn
Ở Tây Nam Á, mạng lưới sông rất thưa Trong đó, nhiều vùng rộng không có dòng chảy thường xuyên Có 2 sông lớn nhất khu vực là Tigro và Ophrat chảy từ sơn nguyên Acmeni xuống Nguồn cung cấp nước là tuyết và mưa Các sông ở đây có 2 thời kỳ nước lớn, một vào mùa xuân do tuyết tan trên núi, một vào mùa đông do mưa trên đồng bằng Mùa hạ khô và nóng, nước bốc hơi mạnh nên mực nước rất thấp và lưu lượng càng về hạ lưu càng giảm
Các sông thuộc những khu vực còn lại đều chịu ảnh hưởng của chế độ mưa gió mùa nên có những đặc điểm chung tương tự như các sông của bán đảo Đông Dương Các sông đáng chú ý là Ấn, Hằng, Bramaput, Saluen và Iraoadi
- Lưu vực Đại Tây Dương
Gồm các sông chảy trên phần Âu đổ vào Địa Trung Hải, biển Bắc Hải và Baltica Mạng lưới sông thuộc lưu vực này khá phát triển, nhưng do kích thước lục địa nhỏ và bị
Trang 30chia cắt, đa số các sông đều ngắn và có diện tích lưu vực không đáng kể
Sông của lưu vực này được phân thành 3 nhóm:
+ Các sông Bắc Âu: Phần lớn bắt nguồn từ dãy núi Scandinavi và đổ vào biển Baltica theo hướng tây bắc – đông nam Nguồn cung cấp nước chủ yếu do tuyết và băng tan, còn mùa đông bị đóng băng từ 6 - 7 tháng
+ Các sông ở Trung Âu và quần đảo Anh: Đa số chảy trên các miền đồi núi thấp và đồng bằng bằng phẳng Nguồn cung cấp nước chủ yếu do mưa (đối với các sông miền duyên hải phía tây) và do mưa cùng với tuyết (đối với các sông vùng nội địa)
+ Các sông thuộc lưu vực Địa Trung Hải: Phần lớn là những sông ngắn, lòng sông dốc, có nhiều thác ghềnh Nguồn cung cấp nước chủ yếu do mưa, vì thế sông đầy nước về mùa đông và cạn về mùa hạ
- Lưu vực nội lưu
Chiếm một diện tích rộng lớn, gồm các vùng trung tâm bán đảo Ả Rập, sơn nguyên Iran, đồng bằng Trung Á và Nội Á
+ Vùng trung tâm bán đảo Ả Rập hoàn toàn không có dòng chảy thường xuyên mà chỉ
có các thung lũng khô, tương tự như các uađi ở Sahara Các uađi có thể dài tới hàng trăm
km nhưng chỉ có nước vào thời kỳ mưa lớn
+ Các vùng còn lại, các sông tồn tại được là nhờ có nước tuyết và băng tan từ trên núi cao xuống Một số sông tương đối lớn chảy vào các hồ như Vonga, Uran; còn một số nhỏ thường bị mất dần trong các hoang mạc cát
2.2.4.2 Hồ
Lục địa Á - Âu có khá nhiều hồ, nhưng phân bố không đồng đều Đa số các hồ lớn không nằm trong vùng ẩm ướt mà lại ở trong các vùng khô hạn: Tiểu Á, Trung Á và Nội Á
Về nguồn gốc phát sinh, các hồ có nhiều loại khác nhau, nhưng đa số các hồ lớn đều
do kiến tạo hoặc kiến tạo - băng hà phối hợp tạo thành Các hồ thuộc nguồn gốc khác phân bố rải rác ở nhiều nơi, nhưng diện tích không đáng kể Lục địa Á - Âu có 2 khu vực tập trung nhiều hồ nhất là:
+ Khu vực Bắc Âu: các hồ trong khu vực này có nguồn gốc kiến tạo và băng hà phối hợp nên có độ sâu khá lớn Đáng chú ý là các hồ Ladoga, Onega và Vanen
+ Khu vực khô hạn Tiểu Á, Trung Á và Nội Á: có nhiều hồ lớn và đa số có nguồn gốc kiến tạo như: Caspian, Aral, Balkhash, Các hồ khu vực này là rất sâu, mực nước một số hồ nằm thấp hơn mực đại dương, một số hồ có nồng độ muối cao tạo thành các hồ mặn, tiêu biểu nhất là hồ Chết
Ngoài ra, khu vực Bắc Á còn có hồ Baikan là hồ nước ngọt sâu nhất Trái Đất cũng do nguồn gốc kiến tạo (đứt gãy) mà thành
2.2.4.3 Băng hà
Lục địa Á - Âu có nhiều núi và sơn nguyên cao nằm trên các vĩ độ cận nhiệt và ôn
đới, đó là điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các băng hà núi hiện đại Nhiều vùng núi
cao của lục địa hiện nay vẫn là những trung tâm băng hà núi lớn nhất Trái Đất như Hymalaya, Tây Tạng, Thiên Sơn, Pamir, Tuy nhiên, các vùng núi này do nằm sâu trong lục địa, có khí hậu khô hạn nên sự phát triển của băng hà bị hạn chế so với điều kiện khí hậu
ẩm của các núi gần biển Đường giới hạn tuyết vĩnh viễn trên các núi này thường ở độ cao trên 5.000m, các sườn phía bắc còn cao hơn nữa Đa số các băng hà có chiều dài vài km Các băng hà núi có vai trò lớn trong việc cung cấp nước cho các sông, nhất là các sông thuộc lưu vực nội lưu
- Các đảo ở phía bắc, do nằm trong đới khí hậu cực và cận cực, có băng hà kiểu lục địa, tạo thành các lớp phủ băng dày và rộng Đáng chú ý là băng hà trên các đảo Novaia
Demlia, Sevecnaia Demlia, Spitsbergen và Iceland
Trang 312.2.5 SINH VẬT
2.2.5.1 Giới thiệu khái quát
Sự phân hóa về điều kiện vị trí địa lý, địa hình, khí hậu đã tạo ra sự phân hóa đa dạng về sinh vật cho lục địa Á – Âu từ các loài thực vật lá kim ở phía bắc (Bắc Á) đến các cách rừng cận nhiệt đới ở Đông Á, rừng nhiệt đới ẩm ở Đông Nam Á và Nam Á là các loại rừng giàu nhất thế giới Trong rừng có nhiều loại gỗ tốt, cũng như loài động vật quý hiếm Trong khi đó, nhiều khu vực nằm sâu trong nội địa, lượng mưa thấp, nhiệt độ cao đã dẫn đến sự khô hạn, hình thành các hoang mạc, bán hoang mạc với hệ động – thực vật nghèo nàn
Ngày nay, trừ rừng lá kim, đa số các loại rừng khác và savan, thảo nguyên đã bị con người khai phá, biến thành đất nông nghiệp, các khu dân cư và khu công nghiệp Các khu rừng tự nhiên còn lại rất ít
2.2.5.2 Các đới sinh vật
* Rừng xích đạo ẩm thường xanh
Còn được gọi là rừng mưa nhiệt đới, phát triển trong điều kiện khí hậu xích đạo
(nhiệt độ trung bình 25 – 27oC, lượng mưa lớn: 2.000 – 2.500mm) và chịu ảnh hưởng sâu
sắc của biển nên rừng xích đạo ẩm thường xanh chỉ chiếm diện tích nhỏ, gồm phần nam
bán đảo Malacca và các đảo Sumatra, Calimantan, Sulavedi và phần tây đảo Java
Rừng xích đạo ẩm thường xanh ở Á - Âu có diện mạo và cấu trúc như ở Phi, nhưng thành phần loài phong phú hơn và có nhiều loài địa phương hơn Rừng thường có 5 tầng: vượt tán, tán, dưới tán, bụi và cỏ quyết Ngoài các loài cây gỗ lớn và quý, còn có rất nhiều cây họ dừa, tre nứa và dương xỉ thân gỗ Động vật cũng rất phong phú, gồm cả loài sống trên cây và dưới đất, loài ăn thực vật và ăn thịt
* Rừng nhiệt đới ẩm thường xanh
Phát triển trong các khu vực có lượng mưa và độ ẩm cao Ở các khu vực này, có lượng mưa trên 1.500 mm/năm, lại nằm gần biển nên độ ẩm không khí quanh năm cao trên 80% Rừng mọc rất rậm, có nhiều loài, phân thành nhiều tầng tán nhưng không bằng rừng xích đạo ẩm thường xanh Trong rừng có nhiều loại gỗ quý như chò nâu, sao đen, lim, sến, táu, lát hoa, nhiều cây họ dừa, nhiều dây leo, phong lan, chuối, dương xỉ và các cây khác Dưới rừng hình thành đất feralit đỏ vàng Đất tuy ít mùn, nhưng giàu các khoáng dinh dưỡng
* Rừng nhiệt đới gió mùa, rừng thưa, savan và savan - cây bụi
Phân bố trong các đồng bằng, thung lũng nội địa có lượng mưa dưới 1.500mm/năm
Ở những nơi có mưa trên 1.000mm/năm, hình thành rừng nhiệt đới gió mùa Trong rừng
gió mùa, cấu trúc rừng cũng nhiều tầng tán nhưng phần lớn các cây rụng lá vào mùa khô
Ở những nơi mưa ít hơn (600 - 1.000mm/năm), rừng gió mùa chuyển thành rừng thưa và savan Những nơi lượng mưa ít hơn (dưới 600mm/năm), phát triển kiểu savan - cây bụi
Dưới rừng gió mùa là đất feralit đỏ, dưới rừng thưa là đất nâu đỏ, còn ở savan và savan cây bụi là đất nâu xám Giới động vật nói chung phong phú và đa dạng Trong rừng nhiệt đới ẩm thường xanh và rừng gió mùa có nhiều loài ăn lá, ăn hoa quả Trong các rừng thưa và savan, savan - cây bụi có nhiều động vật ăn cỏ và ăn thịt Các loài chim, rắn, côn trùng phân bố trong tất cả các đới
* Bán hoang mạc, hoang mạc nhiệt đới
Chiếm toàn bộ bán đảo Ả Rập, phần nam sơn nguyên Iran và đồng bằng sông Ấn Ở đây có tổng bức xạ năm lớn nhất lục địa, nhưng lượng mưa lại thấp nhất lục địa Sự thừa
nhiệt và thiếu ẩm gay gắt là nguyên nhân hình thành nên đới bán hoang mạc và hoang mạc nhiệt đới
Trong các đới này, phổ biến là những cánh đồng cát hoặc các bãi đá rộng Thực vật phổ biến là các loài cỏ hoà thảo cứng và các loài cây bụi gai Chỉ có các thung lũng hoặc
Trang 32những nơi thấp có nước ngầm lộ ra mới có thực vật phong phú Thực vật phổ biến là chà
là Trên các sườn núi phía tây và nam của Ả Rập và Iran, nhờ có lượng mưa khá lớn, tới 500mm/năm, phát triển rừng thưa, cây bụi Động vật trong các đới này cũng rất nghèo, các loài thường gặp là các loài bò sát, một vài loài ăn cỏ và ăn thịt
* Rừng và cây bụi lá cứng cận nhiệt
Phân bố chủ yếu ở các vùng ven bờ Địa Trung Hải Trong đới này, mùa mưa và mùa nhiệt không trùng nhau Về mùa đông, thời tiết ấm và ẩm, có mưa nhiều; nhưng đến mùa
hạ lại nóng và ít mưa nên bốc hơi mạnh, gây thiếu ẩm gay gắt Thổ nhưỡng dưới tán rừng
và cây bụi lá cứng cận nhiệt là đất nâu và nâu xám
Thực vật ở đây thường có lá cứng và xanh bóng, có lớp lông hoặc lớp sáp che phủ, thân cây có lớp vỏ xốp và dày hoặc có gai Lớp phủ thực vật ở đây được chia thành 2 kiểu
chính: Rừng phát triển trên các sườn phía tây, có lượng mưa tương đối nhiều, tạo thành kiểu rừng lá cứng thường xanh Truông cây bụi phát triển trên các sườn phía đông hoặc ở
những nơi khuất gió, lượng mưa thấp Động vật phổ biến là các loài bò sát, chim, …
* Bán hoang mạc, hoang mạc cận nhiệt
Phân bố ở khu vực Trung Á, Nội Á và các sơn nguyên Tiểu Á, Iran Đây là nhưng nơi có lượng mưa hàng năm ít Mùa đông lạnh, khô; mùa hạ nóng, khô Bồn địa là những
nơi khô hạn nhất, phát triển cảnh quan hoang mạc
Trong hoang mạc cận nhiệt, lớp phủ thực vật rất nghèo Mặt đất trơ trụi và buồn tẻ
Các vùng chân núi và các sườn núi quanh các bồn địa có độ ẩm khá hơn, phát triển bán hoang mạc và thảo nguyên núi Thực vật phổ biến là các loài cỏ hoà thảo, tập đoàn cây
bụi, bán cây bụi chịu hạn Trên sơn nguyên Tây Tạng và các vùng núi cao khác, khí hậu
khô và lạnh, phát triển thảo nguyên và hoang mạc núi cao
* Rừng hỗn hợp cận nhiệt gió mùa
Hình thành trong khu vực khí hậu cận nhiệt gió mùa ở phía đông lục địa, gồm các vùng đông Trung Hoa, nam Triều Tiên và Nhật Bản Nhờ điều kiện khí hậu nóng ẩm về mùa hạ, hơi lạnh về mùa đông nên thực vật ở đây phát triển thuận lợi Rừng gồm các loại cây lá rộng, lá kim mọc xen nhau Động vật có các đại diện là khỉ, báo, gấu Hymalaya, lợn rừng Dưới tán rừng là đất feralit
* Rừng hỗn hợp và rừng lá rộng ôn đới
Điều kiện khí hậu trong các đới này ấm, ẩm và ôn dịu Về mùa đông, nhiệt độ trung bình khoảng 0oC, còn mùa hạ dưới 20oC Mưa hàng năm 500 - 1.000mm/năm và phân bố tương đối đều trong năm
Rừng hỗn hợp và rừng lá rộng tuy là 2 đới, nhưng ranh giới giữa chúng không rõ rệt Các đới này phát triển trong điều kiện khí hậu ôn đới hải dương và chuyển tiếp nên chỉ thấy phân bố ở Trung Âu và vùng duyên hải Đông Á Trong đới rừng hỗn hợp, thực vật gồm các cây lá nhọn mọc hỗn hợp với cây lá rộng Rừng hỗn hợp là nơi có động vật phong phú Các cây lá rộng càng xuống phía nam càng tăng dần, và sau đó chiếm ưu thế hoàn toàn, tạo thành đới rừng lá rộng
* Thảo nguyên - rừng và thảo nguyên
Đây là 2 đới nằm kề nhau thành một dải rộng kéo dài từ dãy Cartpath đến dãy Antai Trong đó dải phía bắc là thảo nguyên - rừng, còn phía nam là thảo nguyên Trong các đới này, điều kiện khí hậu mang tính lục địa khá rõ: mùa đông lạnh và dài, nhiệt độ trung bình tháng 1 từ - 50C đến - 200C Mùa hạ tương đối nóng, nhiệt độ trung bình tháng 7 từ 170C -
230C Lượng mưa trung bình từ 250 - 400mm/năm
Sự thiếu ẩm làm cho thực vật cỏ ưa khô phát triển hơn cây thân gỗ Vì thế, càng đi
về phía nam, đồng cỏ dần dần thay thế rừng Trong thảo nguyên rừng thường có sồi, dẻ rừng, phong và bạch dương Còn trong thảo nguyên, thống trị là cỏ hoà thảo Thổ nhưỡng của 2 đới này là đất rừng xám, đất đen rửa trôi, đất đen và đất hạt dẻ Giới động vật của 2
Trang 33đới có sự khác nhau khá rõ: ở đới thảo nguyên - rừng có các động vật rừng như chồn, sóc, thỏ nâu và các loại chim Ở thảo nguyên, có nhiều loài gậm nhấm và loài ăn cỏ; đáng chú
ý là sơn dương, chuột và dê
* Bán hoang mạc và hoang mạc ôn đới
Phân bố trong các vùng Trung Á, Nội Á và đông nam đồng bằng Nga Đây là những vùng khí hậu khô hạn và mang tính lục địa gay gắt nhất Trong đới bán hoang mạc, lượng mưa từ 150 - 250mm/năm; còn trong đới hoang mạc giảm xuống dưới 150mm/năm Độ bốc hơi rất lớn, gấp từ 4 - 9 lần lượng mưa Do bốc hơi mạnh, dòng chảy trên mặt trong các đới này rất hiếm Thổ nhưỡng điển hình của đới bán hoang mạc là đất hạt dẻ sáng và đất xôlônhét, còn ở đới hoang mạc là đất xám, đất tacưa và đất xôlônsác
Lớp phủ thực vật của bán hoang mạc và hoang mạc rất nghèo Trong bán hoang mạc
và hoang mạc thường gặp quần hệ hoà thảo - ngải cứu, ngải cứu - cỏ muối Giới động vật
ở đây rất nghèo; phổ biến là các loài gậm nhấm và bò sát
* Rừng lá kim (rừng taiga)
Chiếm một dải rộng, kéo dài từ tây sang đông tới hàng vạn km, từ bắc xuống nam tới hàng nghìn km Đới này phát triển trong các vùng khí hậu ôn đới lục địa lạnh với mùa đông băng giá kéo dài và băng kết vĩnh cửu còn phổ biến
Rừng taiga Á - Âu nghèo về thành phần và có cấu trúc đơn, phổ biến là vân sam, thông, tùng rụng lá, phân biệt thành 2 kiểu: taiga tối và taiga sáng Đới rừng lá kim có đầm lầy phát triển, chiếm tới gần 50% diện tích của đới Dưới rừng, phát triển đất đầm lầy
và đất pôtdôn Nhờ nguồn thức ăn phong phú, trong rừng lá kim có nhiều động vật khác nhau như nai sừng dẹt, gấu nâu, mèo rừng, sóc, chồn đen và nhiều loài chim như gà rừng,
gà thông, chim gõ kiến, cú và quạ biển
Càng đi về phía bắc, điều kiện khí hậu lạnh hơn (nhiệt độ trung bình tháng 7 là
14oC), rêu phát triển xen kẽ với cây lá kim gọi là kiểu rừng lá kim – đồng rêu Dưới rừng
lá kim là các đồng cỏ, còn ở những chỗ thấp phát triển đầm lầy Ở đới này, trong đất đã bắt đầu xuất hiện quá trình rửa trôi, tạo thành đất pôtdôn glây Động vật mang tính chuyển tiếp giữa đới đồng rêu và rừng lá kim
* Đồng rêu
Chiếm một dải hẹp ven bờ phía bắc lục địa, từ bán đảo Scandinavi ở phía tây đến bán đảo Trucôtxki ở phía đông Trong đới đồng rêu, về mùa hạ ấm nhưng nhiệt độ trung bình tháng 7 không quá 11oC Ở đây, nhiệt độ quanh năm thấp, thời gian tuyết phủ dài (từ
200 – 260 ngày), băng kết vĩnh cửu phát triển và bốc hơi rất yếu
Trong điều kiện đó, chỉ có rêu và địa y là 2 loài thực vật chủ yếu Đất đồng rêu bị glây mạnh, nghèo chất dinh dưỡng và rất chua Giới động vật cũng nghèo và có nhiều loài sống ở đới hoang mạc cực, đại diện là tuần lộc, chó sói đỏ, cú trắng Về mùa hạ có nhiều chim nước từ phương nam di cư lên
* Hoang mạc cực
Phát triển trên các đảo và quần đảo phía bắc như Spitsbergen, Phran Ioxip, Novaia Demlia, Sevecnaia Demlia và một dải hẹp ven bờ phía bắc lục địa Trong đới này, các tháng mùa hạ nhiệt độ trung bình vẫn không vượt quá 50C Thời tiết thường xuyên u ám,
có gió mạnh, nhất là vào thời kỳ đêm địa cực Phần lớn bề mặt bị băng và tuyết phủ quanh năm
Giới sinh vật nghèo, nhưng động vật vẫn phong phú hơn thực vật, điển hình như chuột lemmút, chồn bắc cực và gấu trắng Dọc theo bờ biển và trên các băng trôi có nhiều thú chân vịt Trên sườn núi đá ven bờ, về mùa hạ có nhiều chim biển
Trang 342.3 CÁC KHU VỰC ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN LỤC ĐỊA Á - ÂU
2.3.1 BẮC Á
2.3.1.1 Tây Siberia
Xứ Tây Siberia chiếm toàn bộ đồng bằng Tây Siberia Đây là miền đồng bằng bồi tụ thấp, rộng và bằng phẳng vào bậc nhất thế giới Đồng bằng rộng trên 3 triệu km2, hình thành trên nền uốn nếp Hercynia bị lún và phủ trầm tích nằm ngang rất dày Sự chênh lệch về độ cao trên đồng bằng không đáng kể: vùng trung tâm cao trung bình: 50 - 150m, còn rìa có nơi tới 250m
Về điều kiện khí hậu, tuy nằm trong ô Bắc Á, song do chịu ảnh hưởng của gió Tây nên Tây Siberia là xứ ấm và ẩm hơn các xứ khác của ô
Tây Siberia là xứ có nguồn nước ngầm và nước trên mặt rất phong phú Toàn bộ lãnh thổ là một bồn nước phun Mạng lưới sông và đặc biệt là đầm lầy rất phát triển Sông lớn và quan trọng nhất là sông Obi
Cảnh quan tự nhiên đồng bằng Tây Siberia phân hoá theo đới rất rõ Từ bắc xuống nam: đồng rêu, đồng rêu rừng, rừng lá kim, thảo nguyên rừng và thảo nguyên
Đồng bằng Tây Siberia là xứ có tài nguyên phong phú: đất secnôdiom tốt, đồng cỏ tốt, rừng giàu, nhiều khoáng sản, sông có giá trị về giao thông và thuỷ điện
2.3.1.2 Trung Siberia
Xứ Trung Siberia là khu vực nằm giữa 2 sông lớn: Enitxay và Lena Phần lớn lãnh thổ được hình thành trên nền Siberia với nền đá kết tinh và biến chất tuổi Tiền Cambri ở dưới và các lớp đá trầm tích tuổi Paleozoi, Mesozoi Địa hình bề mặt toàn xứ không cao, phổ biến là các cao nguyên, đồng bằng đồi và các núi thấp nhưng có nhiều thung lũng chia cắt sâu
Tuy Trung Siberia nằm trên cùng vĩ độ với Tây Siberia, song mức độ giá buốt và tính lục địa gay gắt hơn Mùa đông lạnh hơn Tây Siberia, còn mùa hạ lại ấm hơn
Hệ thống sông ở Trung Siberia rất phát triển, có nhiều sông lớn và trên các sông thường có nhiều thác ghềnh Sông lớn nhất là sông Lena
Các đới cảnh quan tự nhiên của Trung Siberia tuy thay đổi từ bắc xuống nam (từ đới hoang mạc cực đến đới rừng lá kim), song đặc điểm của các đới không hoàn toàn giống với các đới ở Tây Siberia, nhất là đới rừng lá kim Đới rừng lá kim ở Trung Siberia thuộc kiểu rừng lá kim sáng Đầm lầy kém phát triển Giới động vật của Trung Siberia phong phú hơn Tây Siberia
Nguồn tài nguyên của Trung Siberia phong phú nhất ô Bắc Á: có nhiều loại khoáng sản quý và có trữ lượng lớn; nguồn thuỷ năng dồi dào; diện tích rừng lớn
2.3.1.3 Đông Siberia và Nam Siberia
Trang 35Nam Siberia có nhiều khoáng sản quan trọng Các sông có nguồn dự trữ về thuỷ năng tương đối lớn Rừng có nhiều gỗ Các thảo nguyên và các đồng cỏ núi có giá trị về chăn nuôi
+ Miền đồng bằng phía đông và đông nam: là bộ phận nằm trên khiên Baltica, được
nâng lên yếu nên thực chất là một miền đồi lượn sóng, gồm các đất cao xen các đất thấp, cao trung bình từ 200 - 600m
+ Miền núi Scandinavi: là các nếp uốn Hercynia, được nâng lên mạnh, nên có độ cao
trung bình từ 1.200 - 1.400m Trên núi còn để lại các bề mặt san bằng rộng (người địa phương gọi là các phenđơ)
Bắc Âu nằm ở phía bắc đới khí hậu ôn đới và tiếp giáp với các biển và đại dương, Bắc Âu thuộc miền khí hậu ôn đới lạnh và ẩm nhất của Tây Á - Âu
Mạng lưới sông hồ phức tạp Mật độ các hồ ở đây dày bậc nhất thế giới Các hồ được nối liền với các sông Các sông mới được hình thành nên còn rất trẻ, có nhiều thác ghềnh Đầm lầy phát triển
Phần lớn lãnh thổ Bắc Âu phát triển rừng lá kim Rừng ở đây mọc rất tốt, rậm và tối Nguồn tài nguyên phong phú nhất của Bắc Âu là khoáng sản, gỗ và nguồn thuỷ năng Đồng bằng là những nơi để trồng trọt và chăn nuôi
Xứ Đông Âu nằm chủ yếu trong đới khí hậu ôn đới chuyển tiếp nhưng do kích thước rộng lớn nên có sự khác nhau giữa các vùng Nhìn chung, trên toàn bộ xứ, càng về phía nam khí hậu càng ấm, càng về phía đông và đông nam tính lục địa càng tăng dần, còn đi
về phía tây tính hải dương càng rõ
Mạng lưới sông ngòi của Đông Âu khá dày đặc, có nhiều sông lớn và nhiều nước bậc nhất châu Âu Các sông đáng chú ý nhất là Vônga, sông Đôn, sông Đniép Phụ thuộc vào điều kiện nhiệt ẩm khác nhau, cảnh quan tự nhiên trên đồng bằng thay đổi từ bắc xuống nam, tạo thành một hệ thống các đới: đồng rêu - rừng (đài nguyên -
Trang 36rừng), rừng lá kim, rừng hỗn hợp, rừng lá rộng, thảo nguyên
Đồng bằng Nga là xứ có nhiều khoáng sản quan trọng Nguồn tài nguyên đất và rừng phong phú Các sông trên đồng bằng thuận lợi cho việc phát triển giao thông, tưới tiêu, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản và khai thác thuỷ điện
2.3.2.3 Tây và Trung Âu
Tây - Trung Âu là một xứ tự nhiên rộng lớn nhưng trong sự phân hoá thiên nhiên, có thể phân chia thành hai miền khác nhau
* Đồng bằng - núi thấp Tây và Trung Âu
Miền này bao gồm các nước Anh, Ailen, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Đức, Ba Lan và Séc Toàn miền được hình thành trên đới uốn nếp Paleozoi, chịu quá trình san bằng lâu dài nên
có bề mặt tương đối bằng phẳng Đến cuối Kainozoi, toàn miền được nâng lên và bị đứt gãy, làm cho địa hình bị chia cắt mạnh
Các khu vực nâng mạnh nhất tạo thành các núi trung bình và núi thấp; các vùng nâng lên yếu tạo thành các vùng đất cao Các chỗ lún xuống được bồi trầm tích biển, tạo thành nhiều đồng bằng có dạng bồn địa
Miền đồng bằng và núi thấp Trung - Tây Âu nằm tiếp cận với Đại Tây Dương nên khí hậu quanh năm ấm và ẩm ướt
Điều kiện khí hậu mát và ẩm, rất thuận lợi cho rừng và đồng cỏ phát triển Dưới rừng và đồng cỏ hình thành đất rừng xám nâu rửa trôi
Xứ này có nguồn khoáng sản giàu có Ở các đồng bằng ven biển và đồng cỏ là những nơi thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi
* Miền núi cao Alps - Carparth - Bankan
Là một xứ tự nhiên rộng lớn, gồm các dãy núi cao và các đồng bằng bồi tụ nằm xen
kẽ với nhau như: dãy Alps, đồng bằng sông Pô, dãy Carparth, dãy Bankan, đồng bằng trung và hạ lưu sông Danuyp
Tất cả các đơn vị trên đều được hình thành trong giai đoạn tạo núi Kainozoi nên các dãy núi là bộ phận được nâng lên mạnh, còn các đồng bằng là những miền võng trước và giữa núi, được bồi trầm tích dày với nguồn gốc và tuổi khác nhau
Xứ Alps - Carparth - Bankan nằm hoàn toàn trong đới khí hậu ôn đới, với cảnh quan rừng lá rộng trên các sườn núi và trên các đồng bằng ở phía tây; thảo nguyên rừng và thảo nguyên ở phía đông và đông bắc Cảnh quan còn phân hoá theo đai cao Xứ này gồm 2 miền: miền Alps và miền Carparth
Nhờ có mưa nhiều và nguồn nước băng tuyết, mạng lưới sông của xứ khá phát triển
và có nhiều nước Sông có nhiều thác ghềnh nên nguồn dự trữ thuỷ năng tương đối lớn, tiêu biểu có sông Danuyp
Nguồn tài nguyên rất phong phú, đất đai phì nhiêu, nguồn gỗ giàu có và thuỷ năng khá lớn Trong lòng đất có nhiều khoáng sản quan trọng
2.3.2.4 Nam Âu
Xứ Nam Âu gồm 3 bán đảo lớn ở phía nam Âu là Pirene (hay Iberich), Apennin (hay Italia) và Bankan Xứ này cũng được hình thành trong giai đoạn tạo núi Kainozoi như xứ Alps - Carparth nói trên, song về mặt cấu trúc lại phức tạp hơn nhiều
Ở Nam Âu, địa hình núi chiếm đại bộ phận diện tích, còn các đồng bằng rất nhỏ bé
và phân bố dọc theo các miền duyên hải Trong các vùng núi, các dạng địa hình caxtơ phát triển ở khắp nơi, tạo thành nhiều phong cảnh đẹp
Nam Âu nằm trong đới khí hậu cận nhiệt địa trung hải, với mùa đông ấm và ẩm; còn mùa hạ khô và khá nóng
Cảnh quan cũng có sự phân hoá tương ứng: các vùng phía B, thực vật rừng gồm nhiều loài ôn đới rụng lá theo mùa; còn ở phía N có nhiều loài nhiệt đới thuộc loại xanh quanh năm Trên các sườn phía tây và tây bắc, mưa nhiều nên phát triển rừng cận nhiệt
Trang 37thường xanh; còn các vùng mưa ít và nóng, phát triển cảnh quan truông cây bụi
Nhờ có khí hậu ấm áp và đất đai tốt, xứ Nam Âu có lợi thế để phát triển trồng trọt và chăn nuôi, có nguồn khoáng sản phong phú, có nhiều phong cảnh đẹp, thuận lợi để tổ chức các khu nghỉ mát và du lịch
2.3.3 TRUNG Á VÀ NỘI Á
2.3.3.1 Đồng bằng Trung Á
Là xứ đồng bằng và đất cao nằm giữa hồ Caspian ở phía tây và các hệ thống núi cao Antai, Thiên Sơn, Pamir ở phía đông Phía bắc giáp với đồng bằng Tây Siberia; phía nam
là các dãy núi cao thuộc sơn nguyên Iran
Toàn xứ gồm hai bộ phận chính: Phần bắc gồm các cao nguyên, vùng đất cao, có độ cao trung bình từ 300 - 500m Phần nam địa hình thấp và bằng phẳng hơn, cao trung bình
từ 150 - 300m
Điều kiện khí hậu và cảnh quan của đồng bằng Trung Á có phân biệt giữa bắc và nam rõ rệt Phần bắc nằm trong đới khí hậu ôn đới có mùa đông lạnh, lượng mưa từ 200 - 350mm/năm; phát triển thảo nguyên và bán hoang mạc Phần nam thuộc đới khí hậu cận nhiệt có mùa hạ nóng và lượng mưa rất thấp (dưới 150mm/năm) nên thống trị bởi cảnh quan hoang mạc
Ở đồng bằng Trung Á, tuy khí hậu khô hạn nhưng có một số sông và hồ lớn Các sông tồn tại được nhờ nguồn nước tuyết và băng cung cấp Các sông lớn nhất là Amudaria, Xuadaria, Ili, … Các sông có nước lớn vào cuối xuân và hạ
Xứ này có nguồn tài nguyên phong phú, đặc biệt là các khoáng sản Đới thảo nguyên
là nơi thuận lợi cho nông nghiệp
2.3.3.2 Miền núi Thiên Sơn và Pamia -Antai
Miền này gồm 2 hệ thống núi lớn nằm ở trung tâm lục địa là Thiên Sơn và Pamir, cùng các núi phụ cận của chúng Các hệ thống núi cao này nổi lên giữa các đồng bằng hoang mạc rộng lớn, gây nên sự tương phản sâu sắc trong thiên nhiên của khu vực này
*Hệ thống núi Thiên Sơn
Địa hình gồm nhiều dãy song song với nhau theo hướng tây- đông, kéo dài trên 2.500km Độ cao trung bình của toàn hệ thống khoảng 5.000m
Núi Thiên Sơn nằm hoàn toàn trong miền khí hậu ôn đới Tuy nhiên có sự khác nhau theo độ cao và hướng sườn Ở đây có nhiều sông và hồ khá lớn
Cảnh quan tự nhiên ở đây cũng thay đổi theo đai cao: Dưới 900m là bán hoang mạc
và thảo nguyên khô Từ 900 - 1.200m là vành đai thảo nguyên núi Từ 1.200 -1.700m là vành đai thảo nguyên rừng Trên 1.700m là đai rừng lá kim, rồi đến đồng cỏ núi cao anpi
và sau đó là đới tuyết và băng vĩnh viễn
Nguồn tài nguyên của núi Thiên Sơn khá phong phú: có nhiều loại khoáng sản, nguồn thuỷ năng cũng tương đối khá, rừng và đồng cỏ rộng lớn, tươi tốt
* Hệ thống núi Pamir - Antai
Hai núi này làm thành một hệ thống nằm giữa thung lũng Phécgana ở phía bắc và thung lũng thượng nguồn Amuđaria ở phía nam Toàn bộ hệ thống gồm nhiều khối núi xen với các thung lũng theo nhiều hướng khác nhau Độ cao trung bình vùng núi trung tâm Pamir khoảng 5.000 - 6.000m
Pamir và Antai nằm trong miền khí hậu cận nhiệt lục địa Khí hậu và cảnh quan ở đây cũng thay đổi theo đai cao và theo hướng sườn Ở phía tây và tây bắc: Từ chân núi tới
độ cao 1.500m: khí hậu khô và nóng tương tự như các vùng bán hoang mạc lân cận Từ 1.500 - 3.800m: do khí hậu mát và ẩm, lượng mưa khá nhiều, trung bình từ 1.000 - 1.500mm/năm nên lần lượt phát triển các đai thảo nguyên, thảo nguyên rừng, rừng lá rộng rồi đến đồng cỏ núi cao Lên cao hơn là đới tuyết vĩnh viễn Phía đông: điều kiện khí hậu khô và lục địa hơn, lượng mưa < 100mm/năm nên phát triển cảnh quan hoang mạc núi
Trang 38Đai này phát triển tới độ cao 4.200m Lên cao hơn là đai thảo nguyên núi và đồng cỏ tạp núi cao Từ 5.000m trở lên là đai băng tuyết vĩnh viễn
Vùng núi Pamir là một trong những trung tâm băng hà núi lớn nhất trên thế giới Ở đây có hơn 1.000 băng hà lớn nhỏ, chiếm khoảng 10% diện tích toàn bộ lãnh thổ Các băng hà là nguồn cung cấp nước cho các sông và hồ
Vùng núi Pamir - Antai có nhiều khoáng sản, có nhiều suối nước khoáng, các đồng
cỏ núi có diện tích lớn và tươi tốt để phục vụ chăn nuôi
2.3.3.4 Sơn nguyên Tây Tạng
Là khối sơn nguyên rộng lớn và đồ sộ nhất thế giới, được nâng mạnh vào cuối Kainozoi Tây Tạng được bao bọc bởi các hệ thống núi cao: dãy Côn Luân và Nam Sơn ở phía bắc; hệ thống Alps Tứ Xuyên ở phía đông, dãy Caracorum và Hymalaya ở phía nam
và tây nam
Về cấu tạo địa hình, có độ cao trung bình 4.500m, gồm có nhiều dãy núi chạy song song theo hướng đông - tây, cách nhau bới các thung lũng rộng và phẳng Phần đông Tây Tạng là nơi bắt nguồn các nhiều sông lớn như Hoàng Hà, Trường Giang, Mê Công, … Điều kiện khí hậu của Tây Tạng mang tính chất lục địa gay gắt; do ảnh hưởng của
độ cao và địa hình lòng chảo, nên thời tiết quanh năm khô và lạnh Lượng mưa trung bình
từ 100 - 300mm/năm
Phần lớn Tây Tạng có khí hậu khô và lạnh nên phát triển thảo nguyên và hoang mạc núi Lớp phủ thực vật rất nghèo Giới động vật của Tây Tạng chỉ có một số loài thích nghi với điều kiện khí hậu lạnh núi cao như bò Iắc, gấu đen Hymalaya…
Xứ Kamchatka có một số mỏ khoáng sản quan trọng Các vùng đồng rêu, đồng rêu rừng và đồng cỏ ẩm có thể sử dụng để chăn nuôi tuần lộc và săn thú lấy lông Các vùng
Trang 39biển xung quanh có nhiều cá, có giá trị về khai thác hải sản
2.3.4.2 Amua - Triều Tiên
Các vùng Nam Viễn Đông (Nga), đông bắc Trung Hoa, bán đảo Triều Tiên và đảo Sakhalin gộp lại, tạo thành một xứ tự nhiên rộng lớn, gọi chung là xứ Amua - Triều Tiên Trừ đảo Sakhalin là bộ phận mới được hình thành trong đới uốn nếp Kainozoi, toàn
bộ lãnh thổ phần lục địa được hình thành trên nền Trung Hoa và các nếp uốn Mesozoi Các dạng địa hình phổ biến ở đây là núi thấp, núi trung bình xen với các đồng bằng bồi tụ thấp và bằng phẳng
Xứ Amua - Triều Tiên nằm trong 2 đới khí hậu: khí hậu ôn đới chiếm phần lớn lãnh thổ phía bắc và khí hậu cận nhiệt đới chiếm phần nam bán đảo Triều Tiên
Mạng lưới sông ở đây khá dày, các sông có nhiều nước, nhưng chế độ sông thay đổi theo mùa Amua là con sông lớn nhất
Cảnh quan tự nhiên có phân hoá phức tạp Trên các các vùng đồng bằng và sườn núi phía đông, phát triển rừng hỗn hợp và rừng lá rộng Các vùng phía bắc phổ biến rừng lá kim; phía nam phát triển rừng lá rộng cận nhiệt đới Trên các vùng mưa ít hơn, phát triển thảo nguyên rừng và thảo nguyên
Xứ Amua - Triều Tiên có nguồn tài nguyên khá phong phú: khí hậu, đất đai, đồng cỏ thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi, rừng có nhiều gỗ và các sông có nguồn thuỷ năng tương đối dồi dào, nguồn khoáng sản có trữ lượng khá lớn
2.3.4.3 Quần đảo Nhật Bản
Quần đảo Nhật Bản nằm trong hệ thống các chuỗi đảo vòng cung ở Đông Á, với khoảng > 1.040 đảo lớn nhỏ, tạo thành một vòng cung lớn kéo dài từ bắc xuống nam dài > 3.500km Có 4 đảo chính là Hocaido, Honsu, Sicocu và Kiuxiu
Quần đảo Nhật Bản được nổi lên trong giai đoạn tạo núi Kainozoi, là khu vực mà các hoạt động kiến tạo vẫn còn tiếp diễn cho tới ngày nay Các sản phẩm phun trào của núi lửa tạo nên các khối núi cao, các cao nguyên rộng
Quần đảo Nhật Bản nằm kéo dài từ bắc xuống nam khoảng hơn 21o vĩ tuyến dọc theo bờ đông lục địa Do đó, điều kiện khí hậu và cảnh quan thiên nhiên của Nhật Bản phân hoá từ bắc xuống nam Phía bắc cho tới khoảng 36oB thuộc đới khí hậu ôn đới Còn phần phía nam thuộc đới khí hậu cận nhiệt Lượng mưa trung bình từ 1.000 - 3.000mm/năm
Ở Nhật Bản, mạng lưới sông cũng khá phát triển nhưng do địa thế hẹp và núi cao nên các sông ngắn và có nhiều thác ghềnh
Cảnh quan tự nhiên phân hoá rất phức tạp, từ bắc – nam có thể phân biệt thành các đới: rừng lá kim, rừng hỗn hợp, rừng lá rộng ôn đới và rừng hỗn hợp cận nhiệt ẩm
Nhờ khí hậu tương đối ôn dịu, đất đai tốt nên hầu hết các miền đồng bằng cũng như các vùng núi thấp đều được khai phá để trồng trọt và chăn nuôi Nhật Bản còn có nhiều khoáng sản quan trọng và suối nước nóng
2.3.4.4 Đông Trung Hoa
Xứ Đông Trung Hoa là một bậc chuyển tiếp giữa sơn nguyên Tây Tạng và đồng bằng Nội Á với các thềm lục địa của Thái Bình Dương Toàn bộ lãnh thổ nằm trong phạm vi của nền Trung Hoa: phía bắc đến 41o Bắc, phía nam đến phía bắc Việt Nam Nền Trung Hoa là vùng nền kém ổn định, bị biến đổi mạnh trong giai đoạn tạo núi Mesozoi Vì vậy ngày nay trong cấu tạo địa chất và địa hình có thành phần và nguồn gốc khá phức tạp Tuy nhiên, địa hình Đông Trung Hoa có thể phân thành 2 bộ phận chính: miền đồng bằng thấp Hoa Bắc và miền núi trung bình, núi thấp ở phía tây và tây nam
Xứ Đông Trung Hoa nằm trong 2 đới khí hậu chính là cận nhiệt và cận xích đạo, chỉ
có một phần nhỏ phía B thuộc đới ôn đới
Mạng lưới sông ngòi ở Đông Trung Hoa khá phát triển Sông lớn có Hoàng Hà,
Trang 40Trường Giang Trong đó, Hoàng Hà là sông có chế độ kém điều hoà nhất
Lãnh thổ Đông Trung Hoa gồm 3 đới cảnh quan chính: đới thảo nguyên rừng ở phía B, đới rừng cận nhiệt ở miền trung và đới rừng nhiệt đới ẩm ở phía nam
Đông Trung Hoa có nhiều khoáng sản Các đồng bằng và phần lớn các miền đất cao đều thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Các sông có nguồn thuỷ năng phong
phú và phần lớn thuận lợi cho giao thông
2.3.5 TÂY NAM Á - ÂU
2.3.5.1 Caucasus - Crum
Dãy Caucasus cùng với vùng núi Crum làm thành một xứ tự nhiên được gọi là xứ Caucasus - Crum Được hình thành trong giai đoạn tạo núi Kainozoi, Cápca là một xứ núi uốn nếp trẻ cao và khá đồ sộ Độ cao trung bình của dãy Caucasus từ 4.000 - 5.000m Thuộc xứ Caucasus còn có các đồng bằng Cubang và đồng bằng Cherech - Cuma ở phía bắc, đồng bằng Cônkhít và đồng bằng Cura ở phía nam
Các núi của xứ Caucasus- Crum chạy theo hướng gần với tây – đông trở thành ranh giới khí hậu quan trọng Các đồng bằng và sườn núi phía bắc thuộc đới khí hậu ôn đới, có mùa đông hơi lạnh, còn mùa hạ hơi nóng
Do lượng mưa khá lớn, lại có nước của các băng hà cung cấp, mạng lưới sông của
xứ Cápca khá phát triển Các sông tuy ngắn nhưng có nhiều nước và chảy rất xiết
Là một xứ miền núi, lại nằm trên ranh giới của các đới khí hậu, thiên nhiên của Cápca thay đổi khá phức tạp Trên các đồng bằng và chân núi phía bắc: phát triển thảo nguyên và thảo nguyên rừng Trên các đồng bằng và vùng chân núi phía nam: phát triển rừng cận nhiệt ẩm, sau đó lên cao là rừng lá rộng kiểu ôn đới rồi đến rừng lá kim
Xứ Caucasus – Crum có nguồn khoáng sản phong phú Nguồn thuỷ năng và nguồn
gỗ cũng rất lớn Ở đây đất đai tốt, khí hậu ấm thuận lợi cho nông nghiệp Ngoài ra, còn có nhiều phong cảnh đẹp là điều kiện thuận lợi cho du lịch
2.3.5.2 Tiền Á
Xứ Tiền Á gồm 3 sơn nguyên rộng: Tiểu Á, Acmenia và Iran Toàn xứ kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam, từ bờ biển Egie phía tây tới đồng bằng sông Ấn phía đông Cấu tạo địa hình của Tiền Á có đặc điểm là: các núi cao bao quanh các sơn nguyên thấp ở giữa, tạo thành kiểu địa hình bồn địa Có 2 sơn nguyên kiểu bồn địa lớn là Tiểu Á
và Iran, xen vào giữa là sơn nguyên Acmeni
Tiền Á tuy nằm trong hai đới khí hậu khác nhau (cận nhiệt và nhiệt đới), nhưng đều
có một đặc điểm chung là khí hậu lục địa gay gắt: mùa hạ khô nóng kéo dài, còn mùa đông tuy mát và ẩm hơn nhưng lại rất ngắn ngủi
Đặc điểm địa hình và vị trí địa lý của 3 bộ phận nói trên là cơ sở phân hoá thiên nhiên toàn xứ thành 3 miền khác nhau:
+ Sơn nguyên Tiểu Á là bộ phận nằm ở phía tây, ba mặt tiếp giáp với Địa Trung Hải
và biển Đen nên có nhiều nét giống với các miền Địa Trung Hải Vì thế phát triển rừng lá rộng cận nhiệt ẩm rất rậm Lên cao hơn là rừng hỗn hợp, rồi đến rừng lá kim Từ 2.000m trở lên bắt đầu đới rừng cây lùn, rồi đến đồng cỏ cận Alps và Alps
+ Sơn nguyên Acmeni là miền có khí hậu lạnh nhất của Tiểu Á Các cảnh quan tự
nhiên của Acmeni cũng thay đổi theo hướng sườn và độ cao Trên các sườn đón gió phía tây bắc, nhờ có mưa nhiều nên rừng mọc rất rậm Trên các sườn khuất gió phía đông, ở dưới thấp phát triển rừng thưa cây bụi hoặc thảo nguyên khô Lên cao hơn, chuyển thành thảo nguyên núi và đồng cỏ tạp núi cao Cuối cùng là đới băng tuyết vĩnh viễn
+ Sơn nguyên Iran là bộ phận phía đông của Tiền Á, do chịu ảnh hưởng của khối khí
lục địa Trung Á nên khô hạn gay gắt nhất nên ở đây cảnh quan hoang mạc chiếm ưu thế Mạng lưới sông ngòi của xứ kém phát triển: ít sông và sông ít nước
Nguồn tài nguyên quan trọng nhất ở xứ Tiền Á là khoáng sản, sau đó là các