1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)

79 422 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HẢI ANH

BẢO HIỂM TỬ TUẤT THEO PHÁP LUẬT

BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HẢI ANH

BẢO HIỂM TỬ TUẤT THEO PHÁP LUẬT

BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh Tế

Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Như Phát

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT 5

1.1 Khái quát về chế độ tử tuất 5

1.2 Nội dung và nguyên tắc thực hiện pháp luật về chế độ tử tuất 10

1.3 Quá trình hình thành và phát triển của chế độ tử tuất 13

Kết luận chương 1 24

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT Ở VIỆT NAM TỪ KHI THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI THEO LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 26

2.1 Thực trạng bảo hiểm xã hội về tử tuất 26

2.2 Thực trạng thực hiện bảo hiểm xã hội về tử tuất 41

2.3 Đánh giá thực trạng về chế độ tử tuất 49

Kết luận Chương 2 58

Chương 3: ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH VỀ PHÁP LUẬT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT 59

3.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật về chế độ tử tuất 59

3.2 Đề xuất hoàn thiện về tổ chức thực hiện chế độ tử tuất 65

Kết luận Chương 3 69

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nếu không đúng như trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về

đề tài của mình

Người cam đoan

Lê Hải Anh

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BLĐTBXH Bộ lao động Thương binh xã hội

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Đối tượng tham gia BHXH qua các năm

Bảng 2.2 Đối tượng giải quyết qua các năm

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong những năm gần đây, khi đời sống của người dân ngày càng được

cải thiện, cùng với đó là sự phát triển của nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập của nước ta thì những vấn đề về an sinh xã hội là vấn đề cấp thiết cần được nhà nước quan tâm và bảo đảm Sự ra đời của bảo hiểm xã hội (BHXH)

là tất yếu của nền kinh tế thị trường, nó là xương sống của hệ thống thống an sinh xã hội, nhằm đảm bảo cho mỗi cá nhân được hưởng những quyền lợi của mình khi những rủi ro xảy ra Bên cạnh việc quy định các chế độ ưu việt cho người trực tiếp tham gia, thì BHXH còn góp phần hỗ trợ, ổn định đời sống đối với đối tượng thụ hưởng gián tiếp; là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội Chế độ tử tuất là một trong những chế độ bảo hiểm được Nhà nước bảo đảm để trợ cấp đối với nhân thân, gia đình người tham gia BHXH đã mất nhằm mục đích hỗ trợ một phần chi phí mai táng, trợ cấp cho những người mà khi còn sống, người tham gia BHXH

có trách nhiệm, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng Việc quy định chế độ tử tuất nằm trong hệ thống bảo hiểm xã hội đã phát huy nhiều mặt tích cực, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân Xuất phát từ những vấn đề pháp lý và thực tiễn, Luật Bảo hiểm xã hội 2014 ra đời thay thế Luật Bảo hiểm xã hội 2006 đã quy định cụ thể hơn về chế độ tử tuất, bộ luật đã tiếp thu, sửa đổi những hạn chế, bất cập trong Luật Bảo hiểm xã hội 2006 Tuy nhiên, trong tình hình xã hội hiện nay không tránh khỏi những bất cập và khó khăn trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội về tử tuất

Việc nghiên cứu về chế độ tử tuất không chỉ là một chế độ nằm trong

hệ thống các chế độ BHXH mà còn dưới góc độ khoa học, nhằm đánh giá một

Trang 8

cách toàn diện, thống nhất về chế độ này là rất cần thiết Để có cơ sở khoa học

và thực tiễn nhằm hoàn thiện chế độ tử tuất trong mối tương quan với các chế

độ trợ cấp khác, đảm bảo sự công bằng cho người lao động, góp phần vào hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ tử tuất,

tôi lựa chọn đề tài: “Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt

Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những năm qua, nhiều đề tài khoa học đã tập trung nghiên cứu các chế

độ trợ cấp ốm đau, chế độ hưu trí nhưng hiện nay trên thực tế, công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện về chế độ tử tuất vẫn chưa nhiều Chế

độ này mới chỉ được nghiên cứu như là một thành tố nằm trong hệ thống các

chế độ BHXH như: cuốn sách “Pháp luật an sinh xã hội - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Tiến sĩ Nguyễn Hiền Phương; Luận văn thạc sĩ của Phạm Lan Hương “Pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc và thực tiễn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Lan Hương “Pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ ở Việt Nam hiện nay”; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hà “Pháp luật về Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay”; Chuyên đề nghiên cứu khoa học của Chu Văn Tùy “Nghiên cứu và khảo sát chế độ tử tuất trên địa bàn thành phố Hà Nội thực trạng và kiến nghị” hoặc đề tài này mới chỉ được đề cập đến một số bài viết, chuyên đề của

các nhà khoa học trên các tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành như Tạp chí Bảo hiểm xã hội, Tạp chí Luật học, Tạp chí Lao động – Xã hội, một số các báo cáo, chuyên đề tại các hội thảo chuyên ngành Lao động – Thương binh và

Xã hội, Bảo hiểm xã hội…

Các bài báo, tạp chí, công trình nói trên mặc dù đã đề cập đến một số nội dung liên quan đến chế độ tử tuất, nhưng nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở những mức độ cơ bản, chưa toàn diện và thống nhất; chưa đưa ra được cách

Trang 9

khái quát chung nhất về thực trạng của chế độ tử tuất, chưa có những phương hướng giải pháp mang tính thực tiễn cao để điều chỉnh vấn đề tử tuất Do vậy,

việc lựa chọn đề tài:“Bảo hiểm tử tuất theo pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” là một lựa chọn đúng đắn, phù hợp với lý luận và thực tiễn

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống hóa các vấn đề mang tính lý luận về chế độ tử tuất trong hệ thống các chế độ BHXH; sự điều chỉnh của pháp luật về chế độ tử tuất ở pháp luật quốc tế và bài học nhìn về thực tiễn nước ta

- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về chế độ tử tuất, thực trạng thực hiện các quy định này trong thực tiễn, đưa ra một số nhận xét về chế độ tử tuất Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ tử tuất, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện trong thực tiễn chế độ tử tuất

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu quy định pháp luật về chế độ tử tuất, tình hình thực hiện chế độ tử tuất trong thực tiễn ở Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung vào các vấn đề lý luận của pháp luật về chế độ tử tuất được quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội 2014, và các văn bản hướng dẫn

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin

- Các phương pháp khác: trên cơ sở phương pháp luận, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so

Trang 10

sánh, phương pháp thống kê và một số phương pháp khác để tiếp cận, nghiên cứu những vấn đề thuộc nội dung của đề tài

- Luận văn cũng kế thừa, tham khảo một số tài liệu, một số cuộc khảo sát, các báo cáo liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài từ năm 2010 đến năm 2014

6 Những đóng góp của đề tài

Luận văn đã nghiên cứu một cách đầy đủ các vấn đề lý luận về chế độ

tử tuất như khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật đối với chế độ tử tuất; nghiên cứu chế độ tử tuất qua các thời kỳ và thực tiễn thực hiện bảo hiểm tử tuất ở Việt Nam Luận văn cũng đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về chế độ tử tuất hiện nay, thực tiễn thực thi các quy định

đó và từ đó đưa ra các đề xuất mới mang tính xây dựng, góp phần hoàn thiện, tăng cường đưa pháp luật về chế độ tử tuất được thực thi tối đa trong thực tiễn, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước và đảm bảo an ninh xã hội trong thời gian tới

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho tất cả cán bộ, công chức làm việc trong hệ thống cơ quan Bảo hiểm xã hội, ngành Lao động – Thương binh và Xã hội trên phạm vi toàn quốc Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu hoặc bất kỳ ai quan tâm đến lĩnh vực này

7 Cơ cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 phần:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về chế độ tử tuất

Chương 2: Thực trạng về chế độ tử tuất ở Việt Nam từ khi thực hiện

Luật Bảo hiểm xã hội theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

Chương 3: Đề xuất hoàn thiện quy định về pháp luật và tổ chức thực

hiện chế độ tử tuất

Trang 11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT 1.1 Khái quát về chế độ tử tuất

1.1.1 Khái niệm chế độ tử tuất

Con người muốn tồn tại và phát triển, trước hết phải lao động Lao động là điều kiện cơ bản tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Trong thực tế cuộc sống, không phải NLĐ nào cũng có đủ điều kiện về sức khoẻ, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụ lao động Ngược lại, không mấy ai tránh khỏi những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay già yếu, chết hoặc thiếu việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác Khi rơi vào hoàn cảnh bất thường đó, những nhu cầu thiết yếu cần thiết cho con người không vì thế mà mất đi, trái lại, có thể còn tăng lên, thậm chí xuất hiện thêm nhu cầu mới Để khắc phục những rủi ro, giảm bớt khó khăn cho NLĐ và gia đình, ngoài việc NLĐ phải tự khắc phục, họ cần được

sự bảo trợ của cộng đồng và xã hội Sự giúp đỡ của cộng đồng, xã hội, ngoài động viên thăm hỏi còn phải bằng những bảo trợ vật chất cần thiết, nhằm góp phần phục hồi khả năng làm việc, giảm bớt những khó khăn của NLĐ và gia đình NLĐ khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, khó khăn khi về già, chết Trên cơ sở đó, các quốc gia đã xây dựng các loại hình BHXH Bảo hiểm xã hội là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động do gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ được tập trung từ sự đóng góp của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội Bảo hiểm xã hội là trụ cột chính trong hệ

thống an sinh xã hội ở mỗi nước.[13, tr 24]

Trang 12

Ở Việt Nam, trong thời kỳ Pháp thuộc, tuy không thực hiện nhiều chế

độ BHXH, nhưng cũng đã thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí cho NLĐ Tuy nhiên, đối tượng áp dụng chế độ này còn rất hạn hẹp, chủ yếu là những người tham gia phục vụ cho chính quyền cai trị của Pháp Ở miền Nam Việt Nam sau này, chính quyền Sài Gòn cũng đã áp dụng một số chế độ BHXH trong đó

có chế độ hưu bổng, song cũng mới chỉ dừng lại ở đối tượng là các công chức

và quân nhân chuyên nghiệp

Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngay sau khi giành được chính quyền cũng đã quan tâm đến chế độ BHXH, trong đó có chế độ bảo hiểm tử tuất đối với NLĐ Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, nền kinh tế còn nghèo nàn nên chính sách BHXH ban hành trong thời kỳ này nói chung

và chế độ hưu trí, tử tuất nói riêng còn rất hạn chế Sau hoà bình lập lại, ngày 27/01/1961, Chính phủ đã ban hành Điều lệ BHXH tạm thời kèm theo Nghị định số 218/CP về BHXH cho công nhân viên chức nhà nước trong đó có chế

độ hưu trí và chế độ tuất Tiếp đến, ngày 18/9/1985 cùng với việc cải tiến chế

độ tiền lương, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 236/HĐBT sửa đổi, bổ sung một số chế độ, chính sách về thương binh xã hội, trong đó có trợ

Trang 13

theo quy định của pháp luật Trường hợp người đang tham gia lao động hoặc hưởng BHXH hoặc chờ hưởng BHXH mà bị chết thì thân nhân được hưởng tiền mai táng và trợ cấp tuất

Có thể hiểu một cách khái quát về chế độ tử tuất như sau: Chế độ tử tuất là một trong những chế độ bảo hiểm được Nhà nước bảo đảm để trợ cấp đối với nhân thân, gia đình người tham gia bảo hiểm xã hội đã mất nhằm mục đích hỗ trợ một phần chi phí mai táng, trợ cấp cho những người mà khi còn sống, người tham gia bảo hiểm xã hội có trách nhiệm, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng Theo đó, người lao động đang làm việc có đóng BHXH hoặc

đang bảo lưu thời gian đóng BHXH, đang hưởng lương hưu, khi chết, thân nhân được xét nhận trợ cấp tử tuất hàng tháng hoặc một lần

1.1.2 Đặc điểm của chế độ tử tuất

Chế độ tử tuất là một trong các chế độ của BHXH, do đó mang đầy đủ các đặc điểm của bảo hiểm xã hội nói chung Xuất phát từ bản chất của bảo hiểm xã hội là quá trình tổ chức đền bù hậu quả của những rủi ro xã hội hoặc các sự kiện bảo hiểm (sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung, hình thành do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội và các nguồn thu hợp pháp khác của quỹ bảo hiểm

xã hội; nhằm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng; nhằm góp phần bảo đảm an toàn kinh tế cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội), có thể thấy bảo

hiểm xã hội nói chung có một số đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, NLĐ khi tham gia BHXH được đảm bảo thu nhập (bảo hiểm)

cả trong và sau quá trình lao động Nói cách khác, khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm xã hội và đảm bảo các điều kiện luật định, NLĐ được bảo hiểm cho tới lúc chết

Trang 14

Thứ hai, các sự kiện bảo hiểm trong BHXH tự nguyện liên quan đến

thu nhập của NLĐ bao gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết…

Thứ ba, NLĐ khi tham gia BHXH có quyền được hưởng trợ cấp

BHXH, tuy nhiên quyền này chỉ có thể thực hiện được khi họ thực hiện đầy

đủ nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội

Bên cạnh những đặc điểm chung nêu trên, chế độ tử tuất còn mang những nét đặc trưng riêng như:

- Đối tượng được hưởng bảo hiểm tử tuấtbao gồm NLĐ đang đóng BHXH; NLĐ đang bảo lưu thời gian đóng BHXH; người đang hưởng lương hưu, hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hàng tháng đã nghỉ việc Sau khi những đối tượng kể trên chết thì thân nhân của họ được hưởng trợ cấp tử tuất

- Chế độ tử tuất được áp dụng cho cả hai loại hình BHXH là BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện

- Bảo hiểm tử tuất còn có tính linh hoạt trong chế độ, cách thức đóng phí phù hợp với nhu cầu, điều kiện thực tế của người tham gia

- Quỹ tử tuất là một phần của quỹ BHXH, là nguồn kinh phí để chi trả các trợ cấp liên quan đến tử tuất Quỹ tử tuất hình thành do sự đóng góp của NLĐ, sự hỗ trợ của Nhà nước, từ hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ và các nguồn thu khác

1.1.3 Chế độ tử tuất trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội

Chính sách BHXH là một trong những chính sách cơ bản nhất của mỗi quốc gia Nó là những quy định chung, rất khái quát về cả đối tượng, phạm vi, các mối quan hệ, những giải pháp lớn nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra đối với BHXH Việc ban hành chính sách BHXH phải dựa vào điều kiện kinh

tế - xã hội của đất nước từng thời kỳ và xu hướng vận động khách quan của

Trang 15

toàn bộ nền kinh tế Chế độ BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hệ thống các quy định cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, sắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với NLĐ Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật hóa về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp cho từng trường hợp BHXH cụ thể

Theo quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tại Công ước số

102 về các chế độ BHXH thông qua ngày 28/6/1952, để đảm bảo mức tối thiểu thì trong BHXH các nước thành viên cần lựa chọn ít nhất là ba trong chín chế độ sau: chăm sóc y tế; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp hưu trí; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp thai sản; trợ cấp tàn tật; trợ cấp tiền tuất Trong đó, phải có ít nhất một trong các chế độ: bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật và tiền tuất Tuy nhiên không phải nước nào cũng thực hiện đầy đủ được những chế độ trên, bởi vì điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước khác nhau, thậm chí trong một nước những điều kiện đó cũng khác nhau giữa các thời kỳ nên việc thực hiện được cả 9 chế độ nêu trên là rất khó

Tại Việt Nam, hiện BHXH bắt buộc đã thiết kế được sáu chế độ bảo hiểm bao gồm: chế độ ốm đau; chế độ thai sản; chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; chế độ hưu trí; chế độ tử tuất Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm: chế độ hưu trí và tử tuất

Chế độ tử tuất là một trong những chế độ BHXH mang tính nhân đạo nhất Có thể thấy, chế độ tử tuất có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người tham gia BHXH Nếu như các chế độ BHXH khác dành cho những người trực tiếp tham gia bảo hiểm thì chế độ tử tuất lại dành cho những thân nhân của

họ Điều này có vai trò hết sức quan trọng đối với những người thân mà khi còn sống họ có nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng như cha, mẹ, vợ, chồng đã hết tuổi lao động hoặc con chưa đến tuổi lao động Đồng thời có vai trò quan

Trang 16

trọng đối với xã hội và cộng đồng, đảm bảo ổn định đối với từng người, từng

gia đình

Với vai trò đó, chế độ tử tuất đã góp phần nâng cao vai trò của BHXH NLĐ tham gia BHXH không những được đảm bảo thu nhập trong quá trình lao động, sau quá trình lao động mà ngay cả khi họ mất đi, người thân của họ

vẫn được hỗ trợ để lo việc tang lễ và hưởng bảo hiểm

1.2 Nội dung và nguyên tắc thực hiện pháp luật về chế độ tử tuất

1.2.1 Nội dung của chế độ tử tuất

* Trợ cấp mai táng

Chế độ này nhằm mục đích trợ giúp một phần cho những phí tổn mà người thân của NLĐ phải chi phí trong việc lo tang lễ, chôn cất NLĐ chết Mặt khác, không phải NLĐ nào khi mất đi cũng có con cháu hoặc người thân

lo liệu Vì vậy, khoản trợ cấp mai táng phí sẽ là nguồn kinh phí tối thiểu để giúp cho thân nhân hoặc cơ quan, tổ chức địa phương tổ chức mai táng cho

NLĐ chết

* Chế độ trợ cấp tuất

Khi NLĐ qua đời thì những mất mát đối với gia đình và người thân của

họ là không gì có thể bù đắp được Vì vậy, chế độ tử tuất với mục đích chia sẻ một phần gánh nặng về mặt tài chính đối với người thân và gia đình của NLĐ

Thông thường có hai hình thức là trợ cấp tuất tháng và trợ cấp tuất một lần:

- Trợ cấp tử tuất hàng tháng

Thân nhân của NLĐ được hưởng tiền tuất hàng tháng thông thường phải là những người thân thích ruột thịt của NLĐ, mà khi còn sống NLĐ có

trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng

Mức trợ cấp tuất hàng tháng cho các thân nhân của NLĐ được tính trên

cơ sở của mức lương tối thiểu chung do Nhà nước ban hành

- Trợ cấp tử tuất một lần

Trang 17

Là trợ cấp khi NLĐ hoặc thân nhân không đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất tháng Mức trợ cấp tuất một lần được xác định tùy thuộc vào việc NLĐ trước khi chết đang còn tham gia quan hệ lao động hay không còn tham gia quan hệ lao động Điều này phù hợp với nguyên tắc thực hiện BHXH mức hưởng dựa trên mức đóng

Trên cơ sở đó Luật BHXH đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 Trong

đó với nhiều quy định mới về chế độ tử tuất: Điều kiện hưởng, mức hưởng, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, trợ cấp BHXH một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu, về mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ tính lương hưu, trợ cấp một lần, quy định về tạm dừng hưởng lương hưu, trợ

cấp BHXH hằng tháng

1.2.2 Quan điểm, nguyên tắc thực hiện chế độ tử tuất

Những vấn đề về quan điểm kinh tế, xã hội ở Việt Nam trong tương lai

liên quan đến chế độ hưu trí, tử tuất gồm các quan điểm chính sau đây:

Quan điểm nhân văn: Đòi hỏi việc đề ra chính sách tử tuất luôn coi trọng yếu tố con người, lấy con người nói chung và nhóm NLĐ nói riêng làm đối tượng tác động, nhằm hoàn thiện và phát triển con người Mục tiêu cuối cùng và cao nhất của BHXH nói chung, của bảo hiểm hưu trí, tử tuất nói riêng

là ổn định xã hội, đảm bảo sự công bằng giữa NLĐ làm việc ở trong các khu

vực kinh tế khác nhau, vì sự tiến bộ xã hội

Quan điểm lịch sử: Chính sách bảo hiểm hưu trí, tử tuất cũng như các chính sách khác đều là sản phẩm của Nhà nước trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Vì vậy, chính sách bảo hiểm tử tuất ra đời chỉ phát huy tác dụng và

có hiệu lực trong một giai đoạn nhất định của từng thời kỳ lịch sử Khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi và những nhiệm vụ mới đặt ra cần phải xây dựng chính sách bảo hiểm tử tuất mới để thay thế hoặc thay đổi các quy định

Trang 18

cũ Điều này, đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu xây dựng chính sách bảo hiểm tử tuất, phải phân tích, đánh giá đúng điều kiện lịch sử cụ thể, đồng thời

phải vận dụng những kinh nghiệm quý giá mà lịch sử để lại

Quan điểm hệ thống: Chính sách bảo hiểm hưu trí, tử tuất khi ra đời không thể tồn tại một cách độc lập mà phải hòa chung vào các chính sách kinh tế - xã hội khác Bản thân chính sách bảo hiểm, tử tuất cũng có mối quan

hệ mật thiết, hữu cơ với nhiều chính sách khác như chính sách tiền lương, chính sách việc làm, chính sách dân số… Do đó, khi xây dựng chính sách bảo hiểm hưu trí, tử tuất phải có cái nhìn tổng thể trong mối quan hệ với các chính

sách khác

Quan điểm gắn lý luận với thực tiễn: Chính sách bảo hiểm tử tuất một mặt phải được xây dựng trên cơ sở lý luận khoa học, đồng thời phải bám sát thực tiễn xã hội Xây dựng chính sách bảo hiểm tử tuất phải bám sát yêu cầu thực tiễn, mục tiêu, công cụ, giải pháp thực hiện chính sách phải phù hợp với

điều kiện kinh tế - xã hội

Mặt khác, trong điều kiện đất nước ta đang hội nhập kinh tế quốc tế, khi xây dựng chính sách bảo hiểm hưu trí, tử tuất phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế và thực hiện các điều ước quốc tế đã ký kết

Chế độ tử tuất cũng tuân thủ theo các nguyên tắc chung của BHXH: Mọi NLĐ đều có quyền tham gia và hưởng BHXH; mức hưởng trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng và chia sẻ cộng đồng; Nhà nước thống nhất quản lý

BHXH

Đối với chế độ tử tuất có nguyên tắc đặc thù đó là mức hưởng của thân nhân người tham gia BHXH phụ thuộc vào mối quan hệ của các thân nhân trong với người tham gia BHXH, trách nhiệm nuôi dưỡng của người tham gia

BHXH khi còn sống đối với các thành viên và thu nhập của các thành viên đó

Trang 19

Tuy nhiên, việc đề xuất sửa đổi chính sách hiện hành về chế độ hưu trí

và tử tuất là rất cần thiết nhằm pháp điển hoá các quy định hiện hành và bổ sung các chính sách BHXH cho phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo NLĐ, bảo đảm an sinh xã hội và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

1.3 Quá trình hình thành và phát triển của chế độ tử tuất

* Thời kỳ trước khi có Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước (trước ngày 01/01/1962)

Tháng 08/1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Tháng 12/1946, Hiến pháp đầu tiên đã xác định quyền được trợ cấp của người tàn tật và người già Ngay từ khi thành lập chính quyền nhân dân và trong thời kỳ kháng chiến, dù gặp nhiều khó khăn về mọi mặt, song Chính phủ đã luôn chăm lo cải thiện đời sống của nhân dân lao động nói chung và riêng đối với công nhân, viên chức Nhà nước Ngoài việc ban hành chế độ tiền lương, Chính phủ đã ban hành các chế độ phụ cấp, trợ cấp xã hội mà thực chất là các chế độ BHXH như: trợ cấp ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, trợ cấp già yếu,

trợ cấp cho cá nhân và gia đình công nhân, viên chức khi chết

Về mặt luật pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký các Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947; số 76/SL ngày 20/5/1950 về "Quy chế công chức" và số 77/SL ngày 22/5/1950 về quy chế “Trong thời kỳ kháng chiến công nhân giúp

việc Chính phủ”

Nhìn chung giai đoạn này các chế độ BHXH chưa được quy định một cách toàn diện, quỹ BHXH chưa được hình thành Tuy nhiên, các chế độ trợ cấp, phụ cấp mang tính chất BHXH trong giai đoạn đầu thành lập nước, trong kháng chiến và những năm đầu hoà bình lập lại đã có tác dụng rất to lớn, giải quyết một phần những khó khăn trong sinh hoạt của công nhân viên chức Nhà

Trang 20

nước và gia đình họ, củng cố thêm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Chính phủ và làm cho mọi người an tâm, phấn khởi đẩy mạnh công tác, sản xuất, thu

hút lực lượng lao động vào khu vực kinh tế Nhà nước

* Thời kỳ thực hiện điều lệ BHXH tạm thời (từ tháng 01/1962 đến hết tháng 12/1994)

Quyền của NLĐ được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, mất sức lao động, bệnh tật[16, tr.3] Ngày 14/12/1961, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn và ngày 27/12/1961 Chính phủ đã ký Nghị định số 218/CP ban hành kèm theo Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước Nội dung của chế độ hưu trí, tử tuất tại Điều lệ được tóm tắt như

sau:

Về đối tượng áp dụng

Công nhân, viên chức Nhà nước ở các cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường, kể cả cán bộ, công nhân hoạt động ở các cơ quan của các đoàn thể nhân dân, không phân biệt dân tộc, nam, nữ, quốc tịch, trừ những người làm việc tạm thời, theo thời vụ, theo hợp đồng trong một thời gian ngắn Công nhân, viên chức ở làm việc ở những xí nghiệp công tư hợp

doanh đã áp dụng chế độ tiền lương như xí nghiệp quốc doanh

Về điều kiện và mức đãi ngộ đối với chế độ tử tuất

Khi công nhân, viên chức chết, thì thân nhân được hưởng một khoản tiền chi phí về chôn cất và tiền tuất, ngoài ra còn được trợ cấp một số tiền căn

cứ vào thời gian đã công tác liên tục của người chết, cứ mỗi năm bằng 50% của một tháng lương, mức cao nhất không quá 2 tháng lương, kể cả phụ cấp

và trợ cấp con (nếu có) Nếu người chết chưa đủ thời gian công tác liên tục để

hưởng tiền tuất thì cứ mỗi năm công tác được trợ cấp một tháng lương

Công nhân, viên chức chết vì tai nạn lao động thì khoản trợ cấp này được tính cứ mỗi năm công tác liên tục bằng một tháng lương, mức thấp nhất

Trang 21

bằng hai tháng lương, cao nhất không quá 4 tháng lương, kể cả phụ cấp và trợ

cấp con (nếu có)

Khi công nhân, viên chức Nhà nước chết, ngoài khoản trợ cấp tuất nêu trên, nếu đã công tác liên tục từ 5 năm trở lên và tổng số thu nhập của gia đình bị sụt từ 60% trở lên thì thân nhân mà người đó khi còn sống phải nuôi

dưỡng được hưởng tiền tuất hàng tháng như sau:

a) Công nhân, viên chức có mức lương từ 40 đồng trở xuống bị chết:

- Gia đình có một người phải nuôi dưỡng, được trợ cấp 9 đồng;

- Gia đình có 2 người phải nuôi dưỡng, được trợ cấp 16 đồng;

- Gia đình có 3 người phải nuôi dưỡng, được trợ cấp 21 đồng;

- Gia đình có 4 người trở lên, được trợ cấp 24 đồng

b) Công nhân, viên chức có mức lương cao hơn 40 đồng, ngoài khoản

tiền nêu trên, gia đình còn được hưởng thêm 5% của phần tiền lương cao hơn

c) Công nhân, viên chức chết vì tai nạn lao động, gia đình còn được

thêm 10% của tổng số tiền trợ cấp tại điểm a và b nêu trên

Thân nhân của công nhân, viên chức chết được hưởng tiền tuất hàng tháng là người không có sức lao động, kể cả người dưới 16 tuổi (nếu còn đang

đi học thì đến hết 18 tuổi) mà trước khi chết NLĐ phải nuôi dưỡng

Những người nói trên được hưởng tiền tuất tới khi có khả năng tự giải

quyết được đời sống, hay có người đảm nhiệm nuôi dưỡng hoặc tới khi chết

Khi công nhân, viên chức chết vì tai nạn lao động thì dù chưa đủ 5 năm

công tác liên tục, thân nhân cũng được hưởng tiền tuất hàng tháng

Công nhân, viên chức đã về hưu trí hay về an dưỡng do bị tai nạn lao động mà chết thì thân nhân được hưởng tiền tuất hàng tháng căn cứ vào trợ

cấp hưu trí hay trợ cấp thương tật để tính

Về chế độ tử tuất đối với quân nhân

Trang 22

Điều lệ tạm thời đối với quân nhân được ban hành theo Nghị định số 161-CP ngày 30/10/1964 quy định về các chế độ đãi ngộ đối với quân nhân,

quân nhân dự bị và dân quân tự vệ

- Về đối tượng áp dụng: Toàn thể cán bộ và chiến sỹ trong Quân đội

nhân dân, Công an nhân dân vũ trang, quân nhân dự bị và dân quân tự vệ:

- Sỹ quan, hạ sỹ quan, binh sỹ chuyên nghiệp hưởng tất cả các chế độ;

- Hạ sỹ quan, binh sỹ làm nghĩa vụ quân sự hưởng các chế độ trợ cấp

khi ốm đau; bị thương, mất sức lao động và khi chết;

- Quân nhân dự bị và dân quân tự vệ hưởng các chế độ đãi ngộ khi ốm

đau, bị thương hoặc chết trong khi làm nhiệm vụ quân sự

- Về điều kiện đối với chế độ tử tuất:

Khi quân nhân chết, cơ quan, đơn vị chi một khoản tiền chôn cất và

thân nhân được xét trợ cấp tiền tuất khi quân nhân thuộc một trong 3 loại sau:

+ Chết được xác định là liệt sỹ;

+ Chết vì tai nạn trong tập luyện quân sự, trong công tác, trong học tập,

trong lao động xây dựng và sản xuất;

+ Chết vì ốm đau hoặc tai nạn rủi ro

- Mức hưởng trợ cấp tuất:

Khi quân nhân chết, nếu đủ điều kiện quy định dưới đây thì thân nhân

được hưởng tiền tuất hàng tháng như sau:

* Quân nhân có lương chính hoặc sinh họat phí từ 40 đồng trở xuống: a) Quân nhân chết được xác định là liệt sỹ:

- Gia đình có 1 người phải nuôi dưỡng, được trợ cấp 10 đồng;

- Gia đình có 2 người phải nuôi dưỡng, được trợ cấp 18 đồng;

- Gia đình có 3 người phải nuôi dưỡng, được trợ cấp 24 đồng;

- Gia đình có 4 người phải nuôi dưỡng, được trợ cấp 30 đồng

Trang 23

b) Quân nhân hưởng tiền lương (kể cả công nhân, viên chức làm nghĩa

vụ quân sự), chết vì tai nạn trong tập luyện quân sự, công tác, học tập, lao động xây dựng và sản xuất, tổng số thu nhập của gia đình bị sụt từ 60% trở lên hoặc gia đình thuộc diện trợ cấp khó khăn của Nhà nước thì thân nhân

được hưởng trợ cấp như sau:

- Gia đình có 1 người phải nuôi dưỡng, được trợ cấp 9 đồng;

- Gia đình có 2 người phải nuôi dưỡng, được trợ cấp 16 đồng;

- Gia đình có 3 người phải nuôi dưỡng, được trợ cấp 21 đồng;

- Gia đình có 4 người phải nuôi dưỡng, được trợ cấp 24 đồng

c) Quân nhân hưởng tiền lương (kể cả công nhân, viên chức làm nghĩa

vụ quân sự), đã công tác liên tục từ 5 năm trở lên, chết vì ốm đau hoặc tai nạn rủi ro, tổng số thu nhập của gia đình bị sụt từ 60% trở lên hoặc gia đình thuộc diện trợ cấp khó khăn của Nhà nước thì thân nhân được hưởng trợ cấp như

quy định ở Điểm b

* Quân nhân có lương chính hoặc sinh hoạt phí cao hơn 40 đồng, khi chết thì thân nhân được trợ cấp như đã quy định ở Điểm a hoặc b nêu trên, ngoài ra còn được trợ cấp thêm 5% của phần tiền lương hoặc sinh hoạt phí

cao hơn 40 đồng

* Quân nhân chết được xác định là liệt sỹ hoặc chết vì tai nạn trong tập luyện, công tác, học tập, lao động xây dựng và sản xuất thì thân nhân được trợ cấp như đã quy định ở các điểm a, b,c nêu trên, ngoài ra còn được trợ cấp

thêm 10% của tổng số tiền trợ cấp đó

* Quân nhân đã về hưu, thương binh đã về gia đình hoặc vào nhà an dưỡng, trại thương binh, khi chết, nếu thân nhân được hưởng tiền tuất hàng

tháng, tiền tuất sẽ căn cứ vào lương hưu hoặc trợ cấp thương tật để tính

* Khi quân nhân chết, thân nhân còn được trợ cấp khoản tiền một lần:

Trang 24

+ Quân nhân chết được xác định là liệt sỹ, cứ mỗi năm công tác liên tục, trợ cấp bằng 1 tháng lương hoặc sinh hoạt phí, kể cả phụ cấp và trợ cấp

con (nếu có); thấp nhất bằng 3 tháng và cao nhất không quá 5 tháng

+ Quân nhân hưởng tiền lương (kể cả công nhân, viên chức làm nghĩa

vụ quân sự) chết vì tai nạn trong tập luyện quân sự, công tác, học tập, lao động xây dựng và sản xuất thì trợ cấp theo cách tính như Khoản 1 trong điều

này; thấp nhất bằng 2 tháng và cao nhất không quá 4 tháng

+ Quân nhân hưởng tiền lương (kể cả công nhân, viên chức làm nghĩa

vụ quân sự), chết vì ốm đau hoặc vì tai nạn rủi ro thì thân nhân được trợ cấp

bằng 2 tháng lương hoặc sinh hoạt phí, kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có)

Thân nhân được hưởng tiền tuất hàng tháng là người không có sức lao động, gồm cả người 16 tuổi trở xuống (nếu còn đi học thì đến hết 18 tuổi) mà quân nhân khi còn sống phải nuôi dưỡng Những thân nhân vì già yếu hoặc mất sức lao động được hưởng tiền tuất hàng tháng cho đến khi có khả năng tự

giải quyết được đời sống hoặc có người nuôi dưỡng hoặc đến khi chết

Khi quân nhân chết, nếu thân nhân không đủ điều kiện hưởng tiền tuất

thì được hưởng trợ cấp một lần:

* Quân nhân hưởng tiền lương (kể cả công nhân, viên chức làm nghĩa

vụ quân sự) thì trợ cấp số tiền căn cứ vào thời gian công tác liên tục của quân nhân chết, cứ mỗi năm bằng 1 tháng lương, kể cả phụ cấp và trợ cấp con (nếu có), cao nhất không quá 5 tháng, nhưng nếu 5 tháng không bằng 270 đồng thì được trợ cấp 270 đồng Đối với liệt sỹ, mức trợ cấp là 6 tháng lương, nếu 6

tháng lương đó không bằng 300 đồng thì được trợ cấp 300 đồng

* Hạ sỹ quan và binh sỹ nghĩa vụ quân sự chết vì tai nạn trong tập luyện quân sự, công tác, học tập, lao động xây dựng và sản xuất, chết vì ốm đau hoặc tai nạn rủi ro thì thân nhân được trợ cấp một lần bằng 270 đồng Quân nhân chết được xác định là liệt sỹ thì thân nhân được trợ cấp 300

Trang 25

đồng.Thân nhân được hưởng trợ cấp là vợ hoặc chồng, con, cha, mẹ; nếu không còn vợ hoặc chồng, con hoặc cha mẹ thì phải là người đã có công nuôi

dưỡng quân nhân đó

Nghị định 218/CP được coi là văn bản gốc của chính sách BHXH được thực hiện trong hơn 30 năm Tuy nhiên, để phù hợp với tình hình đất nước trong từng giai đoạn, các quy định trong Điều lệ đã qua 8 lần sửa đổi, bổ sung với 233 văn bản hướng dẫn thực hiện, đặc biệt là tại Nghị định số 236/HĐBT

ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)

Trong giai đoạn này, tuy qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nhưng xét về

bản chất thì BHXH vẫn giữ nguyên những đặc trưng cơ bản sau:

- Tồn tại trong cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, mọi vấn đề kinh tế xã

hội nói chung, BHXH nói riêng đều do Nhà nước đảm bảo

- Nhà nước quy định và trực tiếp thực hiện BHXH bằng bộ máy hành

chính từ ngân sách Nhà nước;

- Mọi người khi đã vào biên chế Nhà nước thì đương nhiên được đảm

bảo việc làm, thu nhập và BHXH;

- Do ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, thường xuyên mất cân đối, vì vậy đối tượng tham gia BHXH chưa được mở rộng, trợ cấp tính trên lương

nên chưa đảm bảo cho cuộc sống và không kịp thời;

- Chính sách, chế độ BHXH còn đan xen chính sách xã hội khác như ưu

đãi xã hội, cứu trợ xã hội, an dưỡng, điều dưỡng, kế hoạch hoá gia đình

Thời kỳ từ ngày 01/01/1995 đến trước ngày Luật BHXH (năm 2006) có hiệu lực

Đại hội Đảng lần thứ VI với chủ trương đổi mới quản lý Nhà nước từ nền kinh tế kế hoạch hoá, tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách BHXH cũng được xem xét, nghiên

Trang 26

cứu thay đổi cho phù hợp không những so với tình hình đổi mới kinh tế của đất nước mà dần hoà nhập với những quy định, những nguyên tắc của BHXH

thế giới và nhất là các nước trong nền kinh tế chuyển đổi

Bộ luật Lao động được ban hành, có hiệu lực thực hiện từ ngày 01/01/1995, dành 01 chương về BHXH, đối tượng được mở rộng, hình thành quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước do sự đóng góp của NLĐ, người SDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước; thành lập cơ quan chuyên trách để quản lý quỹ BHXH và thực hiện các chế độ BHXH Ngày 16/02/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP thành lập BHXH Việt Nam, trên cơ sở thống nhất chức năng, nhiệm vụ về BHXH của BLĐTBXH và Tổng Liên đoàn Lao động

Việt Nam

Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP kèm theo Điều lệ BHXH áp dụng cho cán bộ, công nhân, viên chức và NLĐ làm việc trong các thành phần kinh tế, đổi mới cơ bản và khắc phục được những nhược điểm, tồn tại

của Điều lệ BHXH tạm thời, trong đó về chế độ tử tuất gồm những nội dung:

- Về đối tượng áp dụng BHXH bắt buộc mở rộng hơn, bao gồm:

+ NLĐ làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước;

+ NLĐ làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên;

+ NLĐ Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp; trong các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác;

+ NLĐ làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc cơ quan

hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể;

+ NLĐ làm việc trong các doanh nghiệp, các tổ chức dịch vụ thuộc lực

lượng vũ trang;

Trang 27

+ Người giữ chức vụ dân cử, bầu cử làm việc trong các cơ quan quản lý

Nhà nước, Đảng, đoàn thể từ Trung ương đến cấp huyện;

+ Công chức, viên chức Nhà nước làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp; người làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể từ Trung

tiền lương tối thiểu

Trợ cấp tuất hàng tháng

NLĐ đã có thời gian đóng BHXH đủ 15 năm trở lên; NLĐ nghỉ việc chờ giải quyết chế độ hưu trí hàng tháng; người đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng và NLĐ đang làm việc

bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp bị chết thì những thân nhân do họ

trực tiếp nuôi dưỡng sau đây được hưởng tiền tuất hàng tháng:

+ Con chưa đủ 15 tuổi (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú được pháp luật công nhận, con đẻ mà khi người chồng chết người vợ đang mang thai) Nếu con còn đi học thì được hưởng tiền tuất hàng tháng đến

khi đủ 18 tuổi

+ Bố, mẹ (cả bên vợ và bên chồng); vợ hoặc chồng; người nuôi dưỡng

hợp pháp đã hết tuổi lao động (nam đủ 60 tuổi trở lên, nữ đủ 55 tuổi trở lên)

Mức hưởng và số thân nhân hưởng trợ cấp tuất hàng tháng:

Trang 28

+ Mức tiền tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 40% mức tiền lương tối thiểu; trường hợp thân nhân không có nguồn thu nhập nào khác và không còn người thân trực tiếp nuôi dưỡng thì mức tiền tuất hàng tháng bằng

70% mức tiền lương tối thiểu

+ Số thân nhân được hưởng tiền tuất hàng tháng không quá 4 người và được hưởng kể từ ngày NLĐ chết Trường hợp đặc biệt do BLĐTBXH xem

xét giải quyết

Trợ cấp tuất một lần

NLĐ đang làm việc; NLĐ nghỉ việc chờ giải quyết chế độ hưu trí; NLĐ đang hưởng lương hưu hoặc trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng và NLĐ đang làm việc bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp chết

mà không có thân nhân thuộc diện hưởng tiền tuất hàng tháng thì gia đình

được nhận tiền tuất một lần

Mức hưởng tuất một lần

+ Mức tiền tuất một lần đối với NLĐ đang làm việc hoặc NLĐ nghỉ việc chờ giải quyết chế độ hưu trí chết tính theo thời gian đã đóng BHXH, cứ mỗi năm tính bằng ½ tháng mức bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ

đóng BHXH nhưng tối đa không quá 12 tháng

+ Mức tiền tuất một lần đối với NLĐ đang hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hàng tháng chết thì tính theo thời gian đã hưởng lương hưu hoặc trợ cấp, nếu chết trong năm thứ nhất thì tính bằng 12 tháng lương hưu hoặc trợ cấp đang hưởng, nếu chết từ năm thứ 2 trở đi thì

mỗi năm giảm đi 1 tháng, tối thiểu bằng 3 tháng

Ngày 15/07/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 45/CP kèm theo Điều lệ BHXH đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ

quân đội nhân dân và công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu như sau:

Trang 29

- Về đối tượng áp dụng: Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ Quân đội nhân dân và sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ Công an

nhân dân

- Về điều kiện và mức hưởng chế độ tử tuất:

Quân nhân, công an nhân dân tại ngũ; quân nhân, công an nhân dân chờ giải quyết chế độ hưu trí; quân nhân, công an nhân dân đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp hàng tháng khi

chết người lo mai táng được nhận tiền mai táng là 8 tháng tiền lương tối thiểu

Trợ cấp tuất hàng tháng: Quân nhân, công an nhân dân tại ngũ (kể cả trường hợp xuất ngũ chờ giải quyết chế độ hưu trí) chết do ốm đau, tai nạn rủi

ro đã có thời gian đóng BHXH đủ 15 năm trở lên; quân nhân, công an nhân dân chết khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, quân nhân, công an nhân dân đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp hàng tháng chết, thì những thân nhân do họ trực tiếp nuôi

dưỡng sau đây được hưởng tiền tuất hàng tháng:

+ Con chưa đủ 15 tuổi (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú được pháp luật công nhận, con đẻ mà khi người chồng chết người vợ đang

mang thai) Nếu con còn đi học thì hưởng tiền tuất hàng tháng đến khi đủ 18 tuổi

+ Bố, mẹ (cả bên vợ và bên chồng); vợ hoặc chồng; người nuôi dưỡng

hợp pháp đã hết tuổi lao động (nam đủ 60 tuổi trở lên, nữ đủ 55 tuổi trở lên)

Mức hưởng tuất hàng tháng đối với mỗi thân nhân bằng 40% mức tiền lương tối thiểu Trong trường hợp thân nhân không còn người thân trực tiếp nuôi dưỡng và không có nguồn thu nhập nào khác thì mức tiền tuất hàng

tháng bằng 70% mức tiền lương tối thiểu

Số thân nhân được hưởng tiền tuất hàng tháng không quá 4 người và được hưởng từ ngày quân nhân, công an nhân dân chết Trường hợp đặc biệt

do BLĐTBXH xem xét giải quyết

Trang 30

Tuất một lần: Quân nhân, công an nhân dân tại ngũ (kể cả trường hợp xuất ngũ chờ giải quyết chế độ hưu trí) chết, quân nhân, công an nhân dân đang hưởng chế độ hưu trí, chế độ trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp hàng tháng chết mà không có thân nhân đủ điều kiện hưởng tiền tuất hàng tháng; những quân nhân, công an nhân dân chết mà thời gian đóng

BHXH chưa đủ 15 tuổi thì gia đình được nhận tiền tuất một lần

Mức hưởng tuất một lần

+ Trường hợp quân nhân, công an nhân dân tại ngũ (kể cả trường hợp xuất ngũ chờ giải quyết chế độ hưu trí) chết, tính cứ mỗi năm tính bằng một nửa (½) tháng mức bình quân gia quyền của tiền lương tháng làm căn cứ đóng

BHXH trong 5 năm cuối trước khi chết nhưng tối đa không quá 12 tháng

+ Trường hợp quân nhân, công an nhân dân hưởng sinh hoạt phí (không có lương) thì tính theo mức lương ấn định bằng 2 lần lương tối thiểu,

nhưng mức trợ cấp thấp nhất cũng bằng 6 tháng tiền lương tối thiểu

+ Trường hợp đang hưởng lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp hàng tháng, nếu chết trong năm thứ nhất thì tính bằng 12 tháng lương hưu hoặc trợ cấp đang hưởng; nếu chết từ năm thứ hai trở đi thì

cứ mỗi năm giảm đi 1 tháng, tối thiểu bằng 3 tháng lương hưu hoặc trợ cấp

Kết luận chương 1

Chế độ tử tuất là một trong những chế độ bảo hiểm xã hội được Nhà nước bảo đảm để thân nhân của NLĐ đang tham gia lao động hoặc đã tham gia quan hệ lao động, đang hưởng bảo hiểm, đang chờ hưởng bảo hiểm mà bị chết được hưởng bảo hiểm nhằm trợ giúp một phần tiền tang lễ và trợ giúp cho thân nhân của NLĐ khi mất đi người trụ cột trong gia đình Bảo hiểm tử tuất có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với người lao động nói riêng và đối với xã hội nói chung, góp phần phát triển bền vững các chế độ an ninh xã hội Nếu ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm,…là những sự

Trang 31

kiện rủi ro có thể hoặc không thể xảy ra với người lao động thì ngược lại, tuổi già là một quy luật tất yếu của tuổi già Pháp luật điều chỉnh về chế độ tử tuất bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về đối tượng tham gia, các chế độ được hưởng,… tạo ra hành lang pháp lý quan trọng trong việc hình thành và phát triển chế độ bảo biểm xã hội này

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ CHẾ ĐỘ TỬ TUẤT Ở VIỆT NAM

TỪ KHI THỰC HIỆN LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

THEO LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI NĂM 2014 2.1 Thực trạng bảo hiểm xã hội về tử tuất

Tử tuất là khoản tiền quỹ BHXH chi trả cho thân nhân chủ chốt (cha,

mẹ, vợ chồng, con…) của NLĐ đã chết Theo đó, NLĐ đang làm việc có đóng BHXH hoặc đang bảo lưu thời gian đóng BHXH, đang hưởng lương hưu, khi chết thân nhân được xét nhận trợ cấp tuất hàng tháng hoặc một lần Tuy nhiên do quy định không rõ ràng, còn nhiều bất cập dẫn đến các tranh chấp, khiếu kiện xảy ra và là kẽ hở để các đối tượng lạm dụng, trục lợi chính sách BHXH

2.1.1 Quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội

Quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản luật mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị xã hội đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước ủy quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật

Chưa có khái niệm cụ thể hoặc định nghĩa chính xác về quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, song từ việc làm rõ các khái niệm của phần trên cùng với một số văn bản có đề cập đến quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH, ta có thể đưa ra những đặc trưng cơ bản của quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH như sau:

Trang 33

- Quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH là quá trình nhà nước sử dụng trong phạm vi quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều chỉnh vào các quan hệ nảy sinh trong hoạt động BHXH nhằm đảm bảo cho hoạt động BHXH diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, và thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của BHXH

- Quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH là một quá trình từ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về BHXH; tuyên truyền, phổ biến chế độ chính sách pháp luật về BHXH; tổ chức thực hiện chiến lược chế độ, chính sách về BHXH đến việc tổ chức bộ máy thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra về chấp hành BHXH

Từ khái niệm quản lý nhà nước nêu trên ta có thể nêu ra một số đặc điểm riêng của quản lý nhà nước trong hoạt động BHXH như sau:

Nhà nước là chủ thể tổ chức và quản lý các hoạt động BHXH trong nền kinh tế thị trường

Xuất phát từ tính phức tạp, năng động và nhạy cảm của nền kinh tế thị trường đòi hỏi mang tính quyền lực nhà nước để tổ chức và điều hành các hoạt động BHXH Chủ thể ấy chính là nhà nước mà cụ thể hơn là các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền Để hoàn thành

sứ mệnh của mình nhà nước phải xây dựng, tổ chức và quản lý các hoạt động BHXH

Pháp luật là cơ sở và là công cụ quản lý hàng đầu, công cụ không thể thay thế do xuất phát từ nhu cầu khách quan trong nền kinh tế thị trường để nhà nước tổ chức và quản lý các hoạt động BHXH nói riêng và hoạt động kinh tế xã hội nói chung

Trong nền kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế nói chung, các quan hệ BHXH nói riêng diễn ra phức tạp và đa dạng đòi hỏi sự quản lý của nhà nước

Để quản lý được nhà nước phải sử dụng đến hệ thống các công cụ như: luật,

Trang 34

các văn bản luật, các công cụ cưỡng chế… Luật và các văn bản luật nhà nước ban hành mang tính chuẩn mực Những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung được nhà nước sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhất và không thể thiếu trong việc quản lý các hoạt động kinh tế xã hội cũng như BHXH

Sự quản lý của nhà nước đối với hạt động BHXH đòi hỏi có một bộ máy thực hiện các hoạt động BHXH mạnh, có hiệu lực và hiệu quả và một hệ thống pháp luật về BHXH đồng bộ và hoàn chỉnh

2.1.2 Chế độ tử tuất theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014

Với mục đích hỗ trợ một phần chi phí tang lễ và trợ giúp cho thân nhân NLĐ khi mất đi NLĐ trụ cột trong gia đình, chế độ bảo hiểm tử tuất bao gồm hai nội dung là chế độ mai táng phí và chế độ tiền tuất

Chế độ tử tuất được quy định trong Luật BHXH được Quốc hội khoá

XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20/11/2014, có hiệu lực áp dụng kể từ ngày 01/01/2016 Các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật BHXH bao gồm các

nhánh chính như sau:

- Về BHXH bắt buộc khối dân sự (thực hiện 05 chế độ):

+ Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ

hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc;

+ Các Thông tư của BLĐTBXH gồm: Thông tư số BLĐTBXH ngày 29 tháng 12 năm 2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc; Thông tư số 58/2015/TT-BLĐTBXH ngày 15/02/2016 Quy định mức điều chỉnh tiền lương và thu nhập đã đóng BHXH; Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH ngày 04/4/2016 Quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Điều 76 của Luật Bảo hiểm xã hội và một số Điều của Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của

59/2015/TT-Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện;

Trang 35

- Về BHXH bắt buộc khối lực lượng vũ trang (gồm 05 chế độ):

+ Nghị định số 33/216/NĐ-CP ngày 10/5/2016 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân

+ Thông tư liên tịch số 101/2014/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH ngày 04/8/2014của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, BLĐTBXH đã được sửa đổi bổ sung tại Thông tư liên tịch số 105/2016/TTLT/BQP-BCA-BLĐTBXH ngày

30/6/2016

- Về BHXH tự nguyện

+ Nghị định số 134/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/12/2015

hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện;

+ Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH ngày 18/02/2016 của BLĐTBXH

Quỹ tử tuất

Trong đời sống kinh tế - xã hội, người ta thường nói đến rất nhiều loại quỹ khác nhau như: quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lương, quỹ tiền thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ tiết kiệm… Tất cả các loại quỹ này đều có một điểm chung là tập hợp các phương tiện tài chính hay vật chất khác cho những hoạt động nào đó theo mục tiêu định trước Quỹ tài chính BHXH cũng vậy Quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng,

nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ

sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển

Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc dàn trải rủi ro được thực hiện ở cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết

Trang 36

kiệm chi cho cả ngân sách Nhà nước và ngân sách gia đình Quỹ tử tuất là một phần của quỹ BHXH, là nguồn kinh phí để chi trả các trợ cấp liên quan dến tử tuất

Quỹ tử tuất bắt buộc được hình thành từ các nguồn sau:

- Tiền đóng BHXH của NLĐ theo mức quy định;

- Tiền đóng BHXH của người SDLĐ theo mức quy định;

- Kinh phí được Nhà nước chuyển từ ngân sách vào quỹ BHXH do các nguyên nhân khác nhau (bảo đảm trả đủ lương hưu, trợ cấp BHXH đối với

người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH trước ngày 01/01/1995 );

- Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ;

- Hỗ trợ của Nhà nước;

- Các nguồn thu hợp pháp khác

Quỹ tử tuất tự nguyện được hình thành từ các nguồn sau đây:

- Do NLĐ đóng theo quy định của Luật BHXH;

- Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ;

- Hỗ trợ của Nhà nước;

Trang 37

- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ,

công chức;

- NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên theo quy định của pháp luật về lao động kể cả cán bộ quản lý, NLĐ làm việc trong hợp tác xã, Liên hiệp hợp

tác xã hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên;

- NLĐ là công nhân quốc phòng, công nhân công an làm việc trong các

doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang;

- NLĐ đã tham gia BHXH bắt buộc, chưa nhận BHXH một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng với doanh nghiệp Việt

Nam trúng thầu, nhận thầu, công trình ở nước ngoài

Các đối tượng trên, hàng tháng có mức đóng BHXH vào quỹ tử tuất

lương, tiền công tháng đóng BHXH;

+ Từ tháng 01/2014 trở đi mức đóng bằng 8% mức tiền lương, tiền

công tháng đóng BHXH

* NLĐ hưởng tiền lương, tiền công theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì mức đóng BHXH hàng tháng cũng theo quy định trên nhưng phương thức

đóng thực hiện hàng tháng, hàng quý hoặc sáu tháng một lần

Trang 38

* Những NLĐ đã tham gia BHXH bắt buộc mà chưa nhận BHXH một lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì mức đóng

và phương thức đóng vào quỹ tử tuất như sau:

+ Từ tháng 01/2007 đến tháng 12/2009 mức đóng bằng 16% mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của NLĐ trước khi đi làm việc ở nước

ngoài;

+ Từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2011 mức đóng bằng 18% mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của NLĐ trước khi đi làm việc ở nước

ngoài;

+ Từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2013 mức đóng bằng 20% mức tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH của NLĐ trước khi đi làm việc ở nước

ngoài;

+ Từ tháng 01/2014 trở đi mức đóng bằng 22% mức tiền lương, tiền công

tháng đóng BHXH của NLĐ trước khi đi làm việc ở nước ngoài

Phương thức đóng được thực hiện hằng quý hoặc 6 tháng hoặc 12 tháng một lần hoặc đóng trước một lần theo thời hạn ghi trong hợp đồng đưa NLĐ

đi làm việc ở nước ngoài Doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài thu nộp BHXH cho NLĐ và đăng ký phương thức đóng với

tổ chức BHXH hoặc NLĐ đóng qua cơ quan, tổ chức, đơn vị mà NLĐ đã tham gia BHXH hoặc đóng trực tiếp với tổ chức BHXH nơi cư trú của NLĐ

trước khi đi làm việc ở nước ngoài

Trường hợp NLĐ được gia hạn hợp đồng hoặc ký hợp đồng mới ngay tại nước tiếp nhận lao động thì thực hiện đóng BHXH theo phương thức quy

định tại Điều này hoặc truy nộp cho tổ chức BHXH sau khi về nước

Mức đóng và phương thức đóng của người SDLĐ trong BHXH bắt buộc

Trang 39

Hàng tháng, người SDLĐ đóng trên quỹ tiền lương, tiền công tháng

đóng BHXH của NLĐ theo các mức đóng vào quỹ và tử tuất như sau:

SDLĐ đăng ký với tổ chức BHXH

Mức đóng và phương thức đóng của NLĐ trong BHXH tự nguyện

Mức đóng của NLĐ tham gia BHXH tự nguyện như sau:

- Mức đóng hàng tháng bằng 16% mức thu nhập mà NLĐ lựa chọn để đóng BHXH; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến

khi đạt mức đóng là 22 %

- Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng BHXH được thay đổi tuỳ theo khả năng của NLĐ ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu

chung và cao nhất bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung

- NLĐ được chọn một trong các phương thức đóng phí BHXH tự

nguyện sau đây: hàng tháng, hàng quý, sáu tháng một lần

Tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội và tử tuất bắt buộc

- NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là mức tiền lương theo ngạch, bậc và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối

thiểu chung tại thời điểm đóng

Ngày đăng: 08/11/2017, 16:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w