1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá Chành dục (Channa gachua Hamilton, 1822)

203 345 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 3,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1 Giới thiệu Với hơn 750.000 ha diện tích mặt nước nuôi thủy sản, hằng năm Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cung cấp cho thị trường khoảng 70% sản lượng thủy sản nuôi (2.471.327 tấn/3.532.246 tấn) của cả nước (Tổng cục thống kê, 2016), gồm những đối tượng chủ lực như: cá tra, cá basa, cá điêu hồng, cá rô phi, .. Tuy nhiên nghề nuôi các đối tượng trên đang gặp một số khó khăn nhất định về giá cả thị trường cũng như dịch bệnh ... Do đó, đa dạng hóa đối tượng nuôi mới, đặc biệt là các loài cá bản địa là một trong những giải pháp cấp thiết hiện nay góp phần phát triển nghề nuôi thủy sản bền vững. Đồng thời, việc nghiên cứu thuần hóa thành công một loài cá hoang dã còn góp phần giảm áp lực khai thác, bảo vệ nguồn lợi của chúng trong tự nhiên. Trong các loài cá nước ngọt, họ cá lóc Channidae (thuộc Bộ Perciformes), được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm do chúng có kích thước lớn, thịt ngon và sức sống cao. Nhiều loài đã được nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm sinh học, sản xuất giống và phát triển công nghiệp nuôi quan trọng ở các nước trong khu vực như Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Phillipines, Ấn Độ và Malaysia (Muntaziana et al., 2013). Ở ĐBSCL họ cá lóc có 04 loài trong cùng một giống Channa, gồm cá lóc đen Channa striata, cá lóc bông C. micropeltes, cá dầy C. lucius và cá chành dục Channa gachua (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Trần Đắc Định và ctv., 2013). Trong đó, cá lóc đen và cá lóc bông đã được nghiên cứu nhiều và phát triển nghề nuôi do chúng có kích cỡ lớn và giá trị kinh tế cao (Nguyễn Huấn và Dương Nhựt Long, 2008). Gần đây, cá dầy cũng đã được nghiên cứu sinh học và sản xuất giống (Tiền Hải Lý, 2016). Riêng loài cá chành dục do kích thước nhỏ nên chưa được quan tâm, các nghiên cứu ban đầu mới chỉ dừng lại ở đặc điểm hình thái phân loại và phân bố (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Nguyễn Văn Hảo và ctv., 2011; Trần Đắc Định và ctv., 2013). Cá chành dục là loài cá địa phương của đồng bằng Nam bộ, chúng cũng phân bố tự nhiên ở một vài nước lân cận như Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, Myanmar, Thái lan, Lào, Campuchia (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Trần Đắc Định và ctv., 2013; Kottelat, 1998, 2001). Cá có màu màu sắc đẹp ở vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi với nền màu xanh (con đực), viền ngoài màu đỏ hồng hoặc đỏ cam. Màu sắc hấp dẫn của cá chành dục đã được sự chú ý của thị trường cá cảnh, đặc biệt là thị trường cá cảnh ngoài nước. Như vậy, cá chành dục là đối tượng nuôi tiềm năng đáp ứng được nhu cầu đa dạng hóa các loài vật nuôi và bảo vệ nguồn lợi tự nhiên các loài cá bản địa. Để phát triển nghề nuôi cá chành dục, rất cần thiết phải có những thông tin cơ bản về đặc điểm sinh học cũng như khả năng sản xuất giống nhân tạo của loài cá này. Chính vì vậy, đề tài “Đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá chành dục Channa gachua (Hamilton, 1822)” được thực hiện.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Mã Ngành: 62 62 03 01

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ i

TÓM TẮT ii

ABSTRACT iv

TRANG CAM KẾT KẾT QUẢ vi

MỤC LỤC vii

DANH SÁCH HÌNH xii

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Giới thiệu 1

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

1.3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học 2

1.4 Ý nghĩa của luận án 3

1.5 Điểm mới của luận án 3

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Giới thiệu tổng quan về họ cá lóc Channidae 4

2.1.1 Vị trí phân loại và thành phần loài của họ cá lóc Channidae 4

2.1.2 Đặc điểm hình thái chung của họ cá lóc Channidae 6

2.1.3 Đặc điểm hình thái của cá chành dục (Channa gachua Hamilton, 1822) 7

2.2 Ứng dụng kỹ thuật di truyền trong phân loại và định danh các loài cá9 2.3 Đặc điểm dinh dưỡng của họ cá lóc Channidae 11

2.3.1 Cấu tạo ống tiêu hóa ở cá 12

2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng 14

2.4 Đặc điểm sinh trưởng của họ cá lóc Channidae 15

2.5 Đặc điểm sinh học sinh sản của họ cá lóc Channidae 16

2.6 Sự phát triển noãn sào 18

2.6.1 Sự phát triển của noãn sào ở cá 18

2.6.2 Sự phát triển của tinh sào 20

2.7 Kỹ thuật sinh sản 21

2.7.1 Nguyên lý trong kích thích sinh sản nhân tạo cá 21

2.7.2 Các kích thích tố sử dụng trong sản xuất giống cá 21

2.7.3 Các nghiên cứu sản xuất giống các loài họ cá lóc Channidae 24

2.7.4 Các nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng của cá bột 27

2.7.5 Ương cá giai đoạn bột 28

2.7.6 Các loại thức ăn sử dụng trong ương nuôi cá 32

Trang 3

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Thời gian, địa điểm và vật liệu nghiên cứu 35

3.1.1 Thời gian 35

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 35

3.1.3 Vật liệu nghiên cứu 35

3.2 Phương pháp nghiên cứu 36

3.2.1 Sơ đồ nghiên cứu 36

3.2.2 Đặc điểm sinh học của cá Chành dục 37

3.2.3 Kỹ thuật sản xuất giống cá chành dục 43

3.2.4 Xử lý số liệu 52

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 53

4.1 Đặc điểm hình thái và cấu trúc di truyền 53

4.1.1 Định loại cá chành dục bằng phương pháp ty thể 53

4.1.2 Đặc điểm hình thái và chỉ tiêu sinh trắc 55

4.2 Đặc điểm sinh trưởng của cá chành dục 58

4.3 Đặc điểm dinh dưỡng của cá chành dục 60

4.3.1 Hình thái các cơ quan thuộc hệ tiêu hóa của cá chành dục 60

4.3.2 Tương quan giữa chiều dài ruột và chiều dài thân 63

4.3.3 Phổ thức ăn của cá chành dục tự nhiên 65

4.4 Đặc điểm sinh sản của cá chành dục 67

4.4.1 Phân biệt cá đực và cá cái 67

4.4.2 Quá trình phát triển tuyến sinh dục của cá chành dục 70

4.4.3 Hệ số thành thục (GSI) 74

4.4.4 Độ béo Fulton, Clark và nhân tố điều kiện 76

4.4.5 Mùa vụ sinh sản 77

4.4.6 Chiều dài thành thục đầu tiên 78

4.4.7 Sức sinh sản tuyệt đối (SSS tuyệt đối) 79

4.5 Nuôi vỗ thành thục cá chành dục 82

4.5.1 Các yếu tố môi trường trong quá trình nuôi vỗ thành thục 82

4.5.2 Nuôi vỗ thành thục cá bằng các loại thức ăn khác nhau 83

4.6 Kích thích cá chành dục sinh sản bằng HCG, não thùy và LHRHa+DOM 86

4.6.1 Kích thích cá chành dục sinh sản bằng HCG 86

4.6.2 Kích thích sinh sản cá chành dục bằng HCG kết hợp não thùy 87

4.6.3 Kích thích sinh sản cá chành dục bằng LHRH-a+Domperidone 90

4.6.4 Thảo luận chung 92

4.7 Đặc điểm dinh dưỡng của cá bột 98

4.7.1 Tỷ lệ chiều dài ruột và chiều dài thân của cá chành dục 98

4.7.2 Sự biến đổi kích thước miệng cá 99

Trang 4

4.7.3 Thành phần động vật phiêu sinh trong môi trường nước ương 100

4.7.4 Thành phần phiêu sinh trong ruột cá 101

4.7.5 Hệ số lựa chọn thức ăn 104

4.8 Ương cá bột lên cá hương 30 ngày tuổi 107

4.8.1 Ương cá chành dục từ nguồn cá bố mẹ tự nhiên và nuôi vỗ 107

4.8.2 Ương cá chành dục ở các mật độ khác nhau 110

4.8.3 Ương cá chành dục bằng các loại thức ăn khác nhau 113

CHƯƠNG 5 118

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 118

5.1 Kết luận 118

5.2 Đề xuất 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 119

PHỤ LỤC 132

Trang 5

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 2.1: Thành phần các loài thuộc họ cá lóc Channidae (Walter and James,

2004; Nguyễn Văn Thường, 2004) 5

Bảng 2.2: Các chỉ tiêu hình thái của C gachua (Mai Đình Yên và ctv., 1992; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Nguyễn Văn Hảo và ctv., 2011) 8

Bảng 2.3: Các tham số tăng trưởng (L, K, to ) của 3 loài cá lóc 16

Bảng 3.1: Mẫu cá dùng trong các nghiên cứu 35

Bảng 3.2: Các nghiệm thức và thông số liên quan được bố trí trong thí nghiệm 44

Bảng 3.3: Các nghiệm thức thí nghiệm 50

Bảng 4.1: Các chỉ tiêu hình thái của cá chành dục (n=226) 56

Bảng 4.2: Chiều dài ruột, chiều dài tổng và RLG của cá chành dục (n=640)64 Bảng 4.3: Phổ dinh dưỡng của cá chành dục theo phương pháp thể tích của Biswas (1993) 66

Bảng 4.4: Sức sinh sản (SSS) tuyệt đối và tương đối của cá chành dục 80

Bảng 4.5: Tỷ lệ (%) cá chành dục cái có buồng trứng ở các giai đoạn với các nghiệm thức thức ăn 83

Bảng 4.6: Biến động hệ số thành thục (cá cái) và tỷ lệ sống của cá qua các tháng nuôi vỗ 84

Bảng 4.7: Hiệu quả kích thích sinh sản cá chành dục bằng HCG 86

Bảng 4.8: Hiệu quả kích thích sinh sản cá bằng HCG kết hợp não thùy 88

Bảng 4.9: Hiệu quả kích thích sinh sản cá bằng LHRH-a+Dom 90

Bảng 4.10: Sự phát triển phôi của cá chành dục ở nhiệt độ 26,4-28,1oC 95

Bảng 4.11: So sánh hiệu quả kích thích sinh sản cá sử dụng 3 loại kích thích tố 96

Bảng 4.12: Tỷ lệ chiều dài ruột và chiều dài thân cá bột chành dục 99

Bảng 4.13: Sự biến đổi kích thước miệng cá 100

Bảng 4.14: Tỷ lệ % thành phần loài động vật phiêu sinh tìm thấy trong ruột cá ở các thời điểm thu mẫu 103

Bảng 4.15: Hệ số lựa chọn các loài động vật phiêu sinh của cá chành dục giai đoạn 30 ngày tuổi 105

Bảng 4.16: Nhiệt độ, pH và oxy trong quá trình ương 107

Bảng 4.17: Tốc độ tăng trưởng của cá chành dục sau 28 ngày ương 109

Bảng 4.18: Tỷ lệ sống và sự phân đàn của cá chành dục sau 28 ngày ương 109 Bảng 4.19: Nhiệt độ, pH và oxy trong quá trình ương 110

Bảng 4.20: Tốc độ tăng trưởng của cá chành dục sau 28 ngày ương 111

Trang 6

Bảng 4.21: Tỷ lệ sống và sự phân hóa sinh trưởng của cá chành dục sau

28 ngày ương 112Bảng 4.22: Nhiệt độ, pH và oxy trong quá trình ương 113Bảng 4.23: Tốc độ tăng trưởng của cá chành dục sau 28 ngày ương 115Bảng 4.24: Tỷ lệ sống và sự phân hóa sinh trưởng của cá chành dục sau

28 ngày ương 115

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1: Hình dạng ngoài của cá chành dục 7

Hình 3.1: Sơ đồ nghiên cứu của đề tài 36

Hình 4.1: Quan hệ di truyền của cá chành dục phân bố ở một số quốc gia châu Á theo trình tự gen cytochrome b 54

Hình 4.2: Hình dạng ngoài của cá chành dục 57

Hình 4.3: Tương quan chiều dài và khối lượng thân của cá chành dục 59

Hình 4.4: Răng của cá chành dục (mũi tên) 61

Hình 4.5: Ống tiêu hóa của cá chành dục 62

Hình 4.6: Tần số xuất hiện các thành phần thức ăn trong ống tiêu hóa cá chành dục (C gachua) 65

Hình 4.7: Màu sắc vây lưng và vây đuôi của cá chành dục đực (A) và cái (B); Hình dạng đầu của cá chành dục đực và cái (C) 68

Hình 4.8: Tỷ lệ chiều dài đầu và chiều cao đầu của cá chành dục đực và cái (n=148) 69

Hình 4.9: A: Mô học tế bào buồng trứng giai đoạn 1, B: Hình thái buồng trứng cá giai đoạn 1 70

Hình 4.10: A: mô học tế bào buồng trứng giai đoạn 2, N: Nhân, YG: noãn hoàng; B: Hình thái buồng trứng cá giai đoạn 2 (10,5 mm) 71

Hình 4.11: A Mô học tế bào buồng trứng giai đoạn 3, N: Nhân, YG: noãn hoàng (H&E 10X); B: Hình thái buồng trứng cá giai đoạn 3 (13-15 mm) 72

Hình 4.12: A: Mô học tế bào buồng trứng giai đoạn 4 N: Nhân, YG: noãn hoàng (H&E 10X; B: Hình thái buồng trứng cá giai đoạn 4 72

Hình 4.13: A: Mô học tế bào buồng tinh cá giai đoạn 3, SC: tinh bào,

ST: tinh tử (H&E 40X) ; B: Hình thái buồng tinh cá giai đoạn 3 74

Hình 4.14: Hệ số thành thục của cá chành dục cái qua các tháng 75

Hình 4.15: Biến động độ béo của cá chành dục cái qua các tháng 77

Hình 4.16: Biến động nhân tố điều kiện ở cá chành dục cái qua các tháng 77

Hình 4.17: Biến động hệ số thành thục và độ béo của cá chành dục cái qua các tháng (n=94) 78

Hình 4.18: Chiều dài thành thục đầu tiên của cá chành dục cái 79

Hình 4.19: Tương quan khối lượng với SSS tuyệt đối của cá chành dục 80

Hình 4.20: Tương quan chiều dài với SSS tuyệt đối của cá chành dục 80

Hình 4.21: Cá chành dục đực ngậm trứng trong miệng 94

Hình 4.22: Tỷ lệ động vật phiêu sinh trong môi trường ương 101

Hình 4.23: Tỷ lệ động vật phiêu sinh trong ống tiêu hóa cá bột 102

Hình 4.24: Tăng trưởng của cá giai đoạn bột ở 2 nghiệm thức ương 108

Hình 4.25: Tăng trưởng của cá giai đoạn cá bột ở 3 nghiệm thức ương 111

Hình 4.26: Tăng trưởng của cá bột ở 3 nghiệm thức ương 114

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

A : Số tia vi hậu môn

Ccd : chiều cao cuống đuôi

CF : nhân tố điều kiện

D : Số tia vi lưng

ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long

ĐLC : độ lệch chuẩn

GSI : hệ số thành thục

H : chiều cao thân

Hđ : chiều cao đầu

L : chiều dài tổng cộng

L.1 : vẩy đường bên

Lo : chiều dài chuẩn

Trang 9

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu

Với hơn 750.000 ha diện tích mặt nước nuôi thủy sản, hằng năm Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cung cấp cho thị trường khoảng 70% sản lượng thủy sản nuôi (2.471.327 tấn/3.532.246 tấn) của cả nước (Tổng cục thống kê, 2016), gồm những đối tượng chủ lực như: cá tra, cá basa, cá điêu hồng, cá rô phi, Tuy nhiên nghề nuôi các đối tượng trên đang gặp một số khó khăn nhất định về giá cả thị trường cũng như dịch bệnh Do đó, đa dạng hóa đối tượng nuôi mới, đặc biệt là các loài cá bản địa là một trong những giải pháp cấp thiết hiện nay góp phần phát triển nghề nuôi thủy sản bền vững Đồng thời, việc nghiên cứu thuần hóa thành công một loài cá hoang dã còn góp phần giảm áp lực khai thác, bảo vệ nguồn lợi của chúng trong tự nhiên Trong các loài cá nước ngọt, họ cá lóc Channidae (thuộc Bộ Perciformes), được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm do chúng có kích thước lớn, thịt ngon và sức sống cao Nhiều loài đã được nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm sinh học, sản xuất giống và phát triển công nghiệp nuôi quan trọng ở các nước trong khu vực như Việt Nam, Thái Lan,

Campuchia, Phillipines, Ấn Độ và Malaysia (Muntaziana et al., 2013) Ở

ĐBSCL họ cá lóc có 04 loài trong cùng một giống Channa, gồm cá lóc đen

Channa striata, cá lóc bông C micropeltes, cá dầy C lucius và cá chành dục

Channa gachua (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Trần Đắc

Định và ctv., 2013) Trong đó, cá lóc đen và cá lóc bông đã được nghiên cứu

nhiều và phát triển nghề nuôi do chúng có kích cỡ lớn và giá trị kinh tế cao (Nguyễn Huấn và Dương Nhựt Long, 2008) Gần đây, cá dầy cũng đã được nghiên cứu sinh học và sản xuất giống (Tiền Hải Lý, 2016) Riêng loài cá chành dục do kích thước nhỏ nên chưa được quan tâm, các nghiên cứu ban đầu mới chỉ dừng lại ở đặc điểm hình thái phân loại và phân bố (Trương Thủ Khoa

và Trần Thị Thu Hương, 1993; Nguyễn Văn Hảo và ctv., 2011; Trần Đắc Định

và ctv., 2013)

Cá chành dục là loài cá địa phương của đồng bằng Nam bộ, chúng cũng phân bố tự nhiên ở một vài nước lân cận như Ấn Độ, Sri Lanka, Bangladesh, Myanmar, Thái lan, Lào, Campuchia (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu

Hương, 1993; Trần Đắc Định và ctv., 2013; Kottelat, 1998, 2001) Cá có màu

màu sắc đẹp ở vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi với nền màu xanh (con đực), viền ngoài màu đỏ hồng hoặc đỏ cam Màu sắc hấp dẫn của cá chành

Trang 10

dục đã được sự chú ý của thị trường cá cảnh, đặc biệt là thị trường cá cảnh ngoài nước

Như vậy, cá chành dục là đối tượng nuôi tiềm năng đáp ứng được nhu cầu đa dạng hóa các loài vật nuôi và bảo vệ nguồn lợi tự nhiên các loài cá bản địa Để phát triển nghề nuôi cá chành dục, rất cần thiết phải có những thông tin cơ bản về đặc điểm sinh học cũng như khả năng sản xuất giống nhân tạo của loài cá này Chính vì vậy, đề tài “Đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất

giống cá chành dục Channa gachua (Hamilton, 1822)” được thực hiện

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu này nhằm cung cấp những cơ sở khoa học về đặc điểm sinh học và một số yếu tố kỹ thuật trong sản xuất giống cá chành dục, góp phần vào việc phát triển kỹ thuật sản xuất giống và nuôi đối tượng này trong tương lai, đồng thời góp phần bảo vệ nguồn lợi loài cá bản địa thuộc giống Channa ở ĐBSCL

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Xác định các đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học sinh trưởng, dinh dưỡng và sinh sản của cá chành dục làm cơ sở khoa học cho việc phát triển kỹ thuật sản xuất giống và ương nuôi loài cá này

Xác định loại và liều lượng chất kích thích sinh sản thích hợp trong sinh sản nhân tạo cá chành dục và một số yếu tố kỹ thuật gồm mật độ và loại thức

ăn thích hợp trong ương nuôi cá chành dục giai đoạn từ cá mới nở đến 30 ngày tuổi

1.3 Nội dung nghiên cứu

1.3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học

 Hình thái và định danh cá chành dục bằng phương pháp phân tích gen trên ty thể (gen cytochrome b)

 Đặc điểm sinh học sinh trưởng

 Đặc điểm sinh học dinh dưỡng

 Đặc điểm sinh học sinh sản

1.3.2 Kích thích sinh sản và ương nuôi cá bột

Trang 11

 Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục cá chành dục bằng các loại thức ăn khác nhau

 Sử dụng HCG, não thùy và LHRH-a + Dom kích thích cá chành dục sinh sản

 Ương cá chành dục với các mật độ và thức ăn khác nhau giai đoạn từ cá

bột lên cá hương

1.4 Ý nghĩa của luận án

Luận án đã bổ sung những kiến thức cơ bản về đặc điểm hình thái, sinh học dinh dưỡng và sinh học sinh sản của loài cá chành dục Đồng thời, luận án cũng xác định được một số yếu tố kỹ thuật cơ bản trong sản xuất giống (loại

và và liều lượng của hormone HCG và LHRHa dùng kích thích sinh sản) và ương nuôi cá chành dục giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi (thức ăn, mật độ) Kết quả của nghiên cứu là cơ sở khoa học quan trọng trong việc thuần hóa loài

cá này và góp phần phát triển kỹ thuật sản xuất giống và ương nuôi cá chành dục

1.5 Điểm mới của luận án

Luận án cung cấp dữ liệu mới về đặc điểm hình thái và đặc điểm gen cytochome b của cá chành dục, góp phần định danh chính xác loài cá này Luận án xác định được đặc điểm cơ bản trong sinh học dinh dưỡng và sinh học sinh sản của cá chành dục gồm: phổ dinh dưỡng (tép nhỏ, cá con, giun, thân mềm, ), kích thước cá thành thục lần đầu (11,85 mm), sức sinh sản tuyệt đối trung bình (1.709 trứng/cá thể) và mùa vụ sinh sản (tháng 7-10) Luận án xác định được một số yếu tố kỹ thuật quan trọng trong sản xuất giống cá chành dục Đó là, trong nuôi vỗ cá, nguồn thức ăn là tép sông cho hiệu quả thành thục cao (GSI=2,88%); Phương pháp sinh sản tự nhiên hoặc sử dụng kích thích tố HCG (với liều 2.000 IU cá đực và 500 IU cá cái) kết hợp với não thùy (5 mg) cho hiệu quả sinh sản cao; Trong giai đoạn ương cá từ mới nở đến 30 ngày tuổi, mật độ ương 5 con/L và thức ăn sử dụng là moina kết hợp với trùn chỉ cho kết quả tăng trưởng và tỉ lệ sống của cá tốt

Các kết quả đạt được có thể ứng dụng vào thực tế sản xuất giống loài cá chành dục, chủ động cung cấp con giống, thúc đẩy sự đa dạng hóa đối tượng nuôi thủy sản

Trang 12

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu tổng quan về họ cá lóc Channidae

Họ cá lóc (Channidae) là họ cá nước ngọt có cơ quan hô hấp khí trời,

phân bố rộng khắp thế giới Họ Channidae có 2 giống là Channa và

Parachanna Hệ thống phân loại họ Channidae gồm có 26 loài thuộc giống Channa và 3 loài thuộc giống Parachanna (Walter and James, 2004) Một vài

loài có kích thước nhỏ khoảng 17 cm nhưng một số khác thì kích thước rất lớn

có thể lên đến 1,8 m Tất cả các loài thuộc họ Channidae đều là loài cá ăn động vật điển hình

Tại nhiều quốc gia, một số loài thuộc giống Channa được đánh giá cao

về giá trị thực phẩm đặc biệt là ở Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Quốc Từ rất lâu, chúng đã trở thành đối tượng quan trọng trong nghề đánh bắt cá và trong những thập kỷ gần đây, một số loài đã được đưa vào nuôi phổ biến như cá lóc

đen (Channa striata), cá lóc bông (Channa micropeltes) ở Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Campuchia, cá chành dục (Channa gachua) ở Trung Quốc và Đông Nam Á, cá lóc Channa argus ở Trung Quốc (Pantulu, 1976;

Wee, 1982)

2.1.1 Vị trí phân loại và thành phần loài của họ cá lóc Channidae

2.1.1.1 Vị trí phân loại

Theo Kottelat et al (1993), Lee và Ng (1991), họ cá lóc Channidae có vị

trí phân loại như sau:

Trang 13

2.1.1.2 Thành phần loài của họ cá lóc (Channidae)

Họ Channidae gồm 2 giống là Channa và Parachanna, giống Channa với

26 loài phân bố chủ yếu ở khu vực châu Á, trong khí đó giống Parachanna chỉ

có 3 loài phân bố ở châu Phi Đa phần các loài có kích thước lớn, giá trị kinh

tế cao và quan trọng đối với nghề nuôi và khai thác trong khu vực châu Á (Walter and James, 2004; Nguyễn Văn Thường, 2004) Tên chi tiết các loài cá được trình bày trong Bảng 2.1

Bảng 2.1: Thành phần các loài thuộc họ cá lóc Channidae (Walter and James, 2004; Nguyễn Văn Thường, 2004)

STT Tên khoa học Tên tiếng Anh

Giống Channa

1 Channa amphibeus (McClelland, 1845) Chel snakehead

3 Channa asiatica (Linnaeus, 1758) Chinese snakehead

4 Channa aurantimaculata Musikasinthorn, 2000 -

5 Channa bankanensis (Bleeker, 1852) Bangka snakehead

6 Channa baramensis (Steindachner, 1901) Baram snakehead

7 Channa barca (Hamilton, 1822) Barca snakehead

9 Channa burmanica Chaudhuri, 1919 Burmese snakehead

10 Channa cyanospilos (Bleeker, 1853) Bluespotted snakehead

11 Channa gachua (Hamilton, 1822) Dwarf snakehead

12 Channa harcourtbutleri (Annandale, 1918) Inle snakehead

13 Channa lucius (Cuvier, 1831) Splendid snakehead

14 Channa maculata (Lacepède, 1802) Blotched snakehead

15 Channa marulioides (Bleeker, 1851) Emperor snakehead

16 Channa marulius (Hamilton, 1822) Bullseye snakehead

17 Channa melanoptera (Bleeker, 1855) Blackfinned snakehead

18 Channa melasoma (Bleeker, 1851) Black snakehead

19 Channa micropeltes (Cuvier, 1831) Giant snakehead

20 Channa nox Zhang and Watanabe, 2002 Night snakehead

21 Channa orientalis Schneider, 1801 Ceylon snakehead

22 Channa panaw Musikasinthorn, 1998 Panaw snakehead

23 Channa pleurophthalma (Bleeker, 1851) Ocellated snakehead

24 Channa punctata (Bloch, 1793) Spotted snakehead

25 Channa stewartii (Playfair, 1867) Golden snakehead

26 Channa striata (Bloch, 1793) Chevron snakehead Giống Parachanna

1 Parachanna africana (Steindachner, 1879) Niger snakehead

2 Parachanna insignis (Sauvage, 1884) Congo snakehead

3 Parachanna obscura (Gunther, 1861) African snakehead

Trong đó, giống Channa khu vực sông Mekong có 6 loài (Rainboth, 1996; Nguyễn Văn Thường, 2004) là:

Trang 14

Channa lucius (Cuvier, 1831)

Channa marulius (Hamilton, 1822)

Channa melasoma (Bleeker, 1851)

Channa micropeltes (Cuvier, 1831)

Channa orientalis (Schneider, 1801)

Channa striata (Bloch, 1793)

Riêng ở Việt Nam, các tỉnh phía Bắc họ cá lóc Channidae có 4 loài (Mai Đình Yên, 1978):

Cá xộp (C striata) phân bố rộng trong cá thuỷ vực miền núi, đồng

bằng và nước lợ có nồng độ muối thấp Kích thước tối đa 90 cm

Cá chuối suối (C gachua) sống ở miền núi các tỉnh phía Bắc Việt

Nam Loài này có vi bụng nhỏ Kích thước tối đa 20 cm

Cá chuối (C maculata) phân bố tương tự cá xộp Kích thước tối đa

20 cm

Cá chèo đồi (C asiatica) phân bố ở các tỉnh phía Bắc Loài này

không có vi bụng Kích thước tối đa 20 cm

Vùng ĐBSCL, cá lóc Channidae có 4 loài (Trương Thủ Khoa và Trần

2.1.2 Đặc điểm hình thái chung của họ cá lóc Channidae

Các loài cá thuộc họ Channidae thường có tên tiếng anh là Snakehead do các loài cá này có cơ thể hình trụ, thon dài, phần sau dẹp bên, đầu dẹp đứng,

to, có vẩy bao phủ giống đầu rắn Gốc vi lưng và vi hậu môn dài, không có gai cứng, vi đuôi tròn Toàn thân phủ vẩy, mắt to ở phía trước đầu, miệng rộng, rạch miệng xiên dài, hàm trên và hàm dưới có răng sắc nhọn, một số có hoặc không có răng hầu (Nelson, 1994) Cá có thể hô hấp khí trời bằng màng nhầy

ở xoang miệng hầu với lớp màng nhầy có nhiều mao mạch nhỏ để trao đổi oxy trong không khí (Walter and James, 2004)

Ở ĐBSCL có 4 loài được nhận dạng theo các khóa phân loại của Trương

Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993); Mai Đình Yên và ctv (1992)

Trang 15

C micropeltes: Vẩy nhỏ, đường bên không bị gẫy đột ngột mà chỉ bị

uốn cong Vẩy đường bên: 82-95; răng khẩu cái, răng lá mía có dạng răng chó

C gachua: Vẩy lớn vừa, đường bên bị gẫy đột ngột và thụt xuống 1

hoặc 2 hàng vẩy Vẩy đường bên: 41-56; răng khẩu cái, răng lá mía không có dạng răng chó Rìa vi lưng, vi đuôi, vi hậu môn có màu đỏ

C striata: Đường bên bị gẫy đột ngột tại một điểm và bị thụt xuống

hai hàng vẩy Vẩy đường bên: 55-58; xương khẩu cái, xương lá mía không có răng nanh

C lucius: Vẩy đường bên: 62-68, xương khẩu cái, xương lá mía có

Hình 2.1: Hình dạng ngoài của cá chành dục

Loài này được xem là loài cá lóc có kích thước nhỏ trong họ Channidae, chiều dài có thể đạt 17 cm (Kottelat, 1998) và hiếm khi vượt quá 20 cm (Lee and Ng, 1991) Cá có màu sắc rất đẹp với vi lưng, vi đuôi và vi hậu môn có màu xanh óng ánh và phần rìa màu đỏ tươi hoặc màu cam Vi ngực cũng rất đặc trưng với các vân vòng cung đồng tâm màu xanh đậm đến màu đen Màu

Trang 16

sắc phong phú của loài này có thể có một vai trò trong việc thu hút con cái vì ở các cá thể đực màu sắc bao giờ cũng sặc sỡ hơn Ngoài ra màu sắc của loài cá này cũng có thể bị ảnh hưởng bởi chất lượng của nước

Loài C gachua phân bố Java, Sumatra, Borneo, Đông và Tây Pakistan

Ấn độ, Sri Lanka, Bangladesh, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Indonesia và Việt Nam (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Water and James, 2004) Ở Việt Nam, cá sống nước ngọt, hiện diện ở

ao, kênh rạch, đồng ruộng, có tập tính làm tổ sinh sản, chăm sóc và bảo vệ con (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993)

Tại Việt Nam, theo những ghi nhận của các tác giả Trương Thủ Khoa,

Trần Thị Thu Hương (1993), Trần Đắc Định và ctv (2013) cá chành dục C

gachua là loài cá có kích thước nhỏ (139 - 176 mm) Đầu to, rộng, dẹp bằng,

mõm ngắn Miệng rộng hướng lên, rạch miệng xiên, kéo dài quá đường thẳng đứng kẻ từ bờ sau của mắt Có răng ở hàm dưới, xương khẩu cái, xương lá mía, răng hàm trên mịn hơn Không có râu, lỗ mũi trước mở ra bằng một ống ngắn Mắt tròn nằm lệch về nửa trên của đầu và chót mõm hơn gần điểm cuối xương nắp mang Phần trán giữa hai mắt phẳng, rộng và lớn hơn hai lần đường kính mắt

Cá có màu xám đen ở mặt lưng và nhạt gần xuống bụng, bụng có màu trắng Rìa vi lưng, vi hậu môn, vi đuôi có màu đỏ cam đến đỏ huyết Mặt lưng

và hông có vân dạng cẩm thạch mờ (Mai Đình Yên và ctv., 1992)

Bảng 2.2: Các chỉ tiêu hình thái của C gachua (Mai Đình Yên và ctv.,

1992; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Nguyễn Văn Hảo và

Trang 17

Những kết quả đo, đếm các chỉ tiêu hình thái của C gachua được các tác giả Mai Đình Yên và ctv (1992) và Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), Nguyễn Văn Hảo và ctv (2011) ghi nhận cho thấy có sự tương

đồng với nhau, trong khi đó ghi nhận về khu vực phân bố thì khác nhau Theo

Nguyễn Văn Hảo và ctv (2011) thì loài C gachua phân bố ở miền Bắc còn loài C orientalis phân bố ở miền Nam

Theo các tác giả Ng and Lim (1990), Roberts (1989), Talwar and Jhingran (1992), Rainboth (1996) (trích của Walter and James, 2004) thì loài

C gachua được xem là tên đồng danh của C orientalis Ở Việt Nam, việc

định loại hai loài cá này chưa được thống nhất và quan điểm rất khác nhau

Các tác giả Mai Đình Yên và ctv (1992), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu

Hương (1993), và Kottelat (2001) cho rằng ở Việt Nam từ Bắc vào Nam chỉ

thấy có 1 loài là C gachua Căn cứ theo tài liệu của Rainboth (1996), khi

nghiên cứu về cá nước ngọt Việt Nam và nghiên cứu về cá nước ngọt Tây Nguyên của các tác giả Nguyễn Văn Hảo (1993, 2005) và Nguyễn Thị Thu Hè

(2000) ghi nhận ở nước ta có 1 loài là C orientalis, còn loài C gachua là tên

đồng danh (synonym) của nó Trong khi đó, Lee (2004) nghiên cứu về khu hệ

cá ở vùng nước ngọt Việt Nam ghi nhận có cả 2 loài C orientalis và C

gachua, nhưng không ghi rõ vùng phân bố và cũng không nêu các đặc trưng

khác biệt giữa 2 loài nên rất khó khăn cho việc sử dụng tài liệu

2.2 Ứng dụng kỹ thuật di truyền trong phân loại và định danh các loài cá

Việc phân loại dựa vào hình thái để phân biệt các loài cá đem lại nhiều

dữ liệu có giá trị Tuy nhiên, công tác định danh các loài cá dựa vào các chỉ tiêu bên ngoài cho độ chính xác nhất định do những biến đổi về môi trường sống của loài Vì vậy, việc phát triển các chỉ thị di truyền phân tử (DNA marker) có ý nghĩa rất lớn trong việc hỗ trợ định danh các loài cá trên toàn cầu

Các kỹ thuật phân tử được sử dụng rộng rãi trong phân tích mối quan hệ phả hệ và định danh hoặc định phân loại (Avise, 2000 trích của Thái Thanh Bình và Ngô Thái Anh, 2012) Kỹ thuật được sử dụng phổ biến nhất là giải trình tự DNA bởi vì nó chứa đựng nhiều thông tin nucleotide và mối quan hệ

huyết thống (Harrison, 1989; Kuhner et al 2000 trích của Thái Thanh Bình và

Ngô Thái Anh, 2012)

Trang 18

DNA ty thể (mtDNA) được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu phân loại

và phả hệ vì nó di truyền theo dòng mẹ, không bị trộn lẫn qua các thế hệ và tiến hóa nhanh (gấp 10 lần so với DNA trong nhân) (Avise, 1994 trích của Thái Thanh Bình và Ngô Thái Anh, 2012) Hơn nữa phương pháp phân tích

đơn giản, sẵn có (Kuhner et al 2000; Nei and Kumar, 2000; Swofford and

Olsen, 1996 trích của Thái Thanh Bình và Ngô Thái Anh, 2012) và đã được nghiên cứu rất lâu trên nhiều đối tượng nên có nhiều loại đoạn mồi phổ biến

đã được thiết kế cho các mtDNA, chúng có thể dùng cho nhiều loài với hệ

thống phân loại khác nhau (Phạm Thanh Liêm và ctv., 2015)

Phân tích trình tự gen mtDNA thường được áp dụng trong phân loại, tìm hiểu mối quan hệ di truyền giữa các loài (cây phân loại) Các gen thường được

sử dụng như cytochrome b, cytochrome c subunit (ký hiệu là COI hoặc COX), NADH dehydrogenase subunit (ND), … Nghiên cứu trên các loài cá lóc ở

Malaysia (Abol-Munafi et al., 2007), gen cytochrome b được khuếch đại nhờ cặp mồi phổ biến L14841 và H151149 (Kocher et al., 1989) Sau khi khuếch

đại, sản phẩm PCR được giải trình tự Trình tự gen của các mẫu/loài nghiên cứu sẽ được so sánh phân tích nhờ vào các chương trình phân tích trình tự gen

như MEGA 6.0 (Tamura et al., 2013 trích của Phạm Thanh Liêm và ctv.,

2015)

Để đánh giá mối quan hệ di truyền của loài cá song (Epinephelus spp.)

nuôi thả tại các vùng ven biển Việt Nam thông qua xác định trình tự gen cytochrome b ty thể của 8 loài cá song có giá trị kinh tế của việt Nam, phân tích tỷ lệ tương đồng và mối quan hệ phả hệ với 16 chủng của thế giới thuộc

nhiều loài khác nhau Nguyễn Anh và ctv (2007) nghiên cứu thực hiện trên 8

mẫu cá song nuôi thả trên các bờ biển Việt Nam (Hải Phòng, Nha Trang và Đồng Nai) tách chiết DNA, thu nhận gen mã hóa cytochrome b ty thể và giải trình tự Kết quả, có 8 sai khác amino acid giữa 8 mẫu cá nghiên cứu ở Việt Nam Sáu mẫu EpHp, EpS1, EpS2, EpS5, EpS9 và EpS10 có mức độ đồng

nhất 100% với các trình tự cá song Epinephelus coioides (Trung Quốc), 2 mẫu

còn lại EpS3 và EpS8 có chỉ số tương đồng thấp Phân tích phả hệ cho thấy, 6 mẫu cá trên của Việt Nam thuộc cùng một nhóm với loài cá song chấm cam

(E coioides) và 2 mẫu còn lại nằm trong phả hệ khác và có thể là loài cá song

thuộc giống E.fuscoguttatus

Hơn nữa, việc ứng dụng trình tự DNA ty thể vùng gen D-loop rất hiệu quả trong đánh giá đa dạng di truyền, phả hệ và phân loại cá chép đỏ Việt Nam (Thái Thanh Bình và Ngô Thái Anh, 2012) Các mẫu cá chép đỏ được thu ở Cao Bằng, Yên Bái, Bắc Kạn, Quảng Bình và Đắk Lắk được giải trình tự

Trang 19

DNA ty thể vùng gen D-loop (745bp) Kết quả phân tích phả hệ cho thấy cá chép đỏ Việt Nam có quan hệ gần gũi với cá chép vàng Indonesia nhưng khác với cá chép đỏ Trung Quốc, cá chép Koi Nhật Bản và cá chép vảy Hungary Kết quả của nghiên cứu bước đầu cung cấp thông tin quan trọng cho việc định hướng bảo tồn các dòng cá chép đỏ bản địa

Theo Nguyen and Duong (2016), nghiên cứu so sánh đặc điểm hình thái

và trình tự gen Cytochrome C oxidase sub-unit I (COI) của cá lóc C striata ở

những kiểu hình khác nhau (cá lóc đầu nhím, cá lóc đầu vuông và có lóc

hoang dã) Kết quả, cá lóc đầu nhím và cá lóc đầu vuông thuộc loài C striata,

điều này thể hiện sự đa dạng trong giới hạn loài cả về hình thái và trình tự gen COI

Ngoài ra, sự kết hợp cùng một lúc các gene càng làm tăng độ tin cậy của kết quả định danh hệ thống phân loại của cá rô đồng, cá rô đầu vuông dựa trên việc so sánh trình tự gene COI và Cytochrome b trên DNA ti thể và gene Rhodposin (Rho) trong nhân giữa cá rô đầu vuông và cá rô tự nhiên ở các vùng sinh thái khác nhau (Rừng U Minh Hạ - Cà Mau, vườn quốc gia Tràm Chim, Tam Nông – Đồng Tháp và Châu Thành A - Hậu Giang) Kết quả, trình

tự các gene của các mẫu cá rô có mức độ tương đồng đạt rất cao, 99 -100% và

tương đồng trên 99% với cá rô Anabas testudineus có sẵn ở cơ sở dữ liệu của

Genbank và hệ thống BOLD (www.boldsystem.org) Kết quả, cá rô đầu vuông cùng loài với cá rô đồng thường (Dương Thúy Yên, 2014)

2.3 Đặc điểm dinh dưỡng của họ cá lóc Channidae

Tính ăn của các loài trong họ cá lóc thay đổi theo kích thước cơ thể Giai đoạn cá nhỏ (1-2 ngày tuổi) cá dinh dưỡng chủ yếu bằng noãn hoàng, sau đó chuyển sang ăn phiêu sinh động vật Đối với cá lóc ở giai đoạn cá con thức ăn gồm: giáp xác nhỏ, rotifer, phytoplankton Số ngày tuổi tăng thì tỉ lệ giáp xác nhỏ giảm trong khi giáp xác lớn tăng Hầu hết cá lóc đều có khả năng sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau nhưng chủ yếu là động vật Giai đoạn trưởng thành các loài cá này chuyển sang ăn ấu trùng côn trùng, giáp xác nhỏ và các loài cá khác (Walter and James, 2004)

Theo Bhuiyan et al (2006) thì cá lóc Channa punctatus là loài cá ăn thịt

Thành phần thức ăn được tìm thấy trên 119 mẫu cá thu được bao gồm giáp xác (17,65%), côn trùng (9,25%), động vật thân mềm (12,75%), cá (56,69%), thực vật (2,02%), mùn bã hữu cơ (16,43%) Cá thay đổi thành phần thức ăn và thói

Trang 20

quen ăn theo mùa Tỷ lệ chiều dài ống tiêu hóa và chiều dài tổng của cơ thể ở giai đoạn nhỏ và trưởng thành tương ứng là 0,36 và 0,28

Theo Uwem et al (2011), loài cá lóc Channa obscura phân bố ở Nigeria

Thức ăn trong ống tiêu hóa của cá gồm động vật, thực vật (tảo) Kết quả tần số xuất hiện của các thành phần thức ăn giun nhiều tơ, thực vật, tôm lần lượt là 15,97%; 13,31%; 10,95%

Theo Qin and Fast (1997) thì cá lóc có sự lựa chọn thức ăn khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển và thức ăn của cá thay đổi khi kích cỡ cá tăng Cá bột

cá lóc đen có chiều dài 6-7 mm, độ mở của miệng là 0,55 mm sẽ chọn thức ăn

là ấu trùng Artemia và không ăn thức ăn chế biến Khi cá đạt chiều dài 15-20

mm thì nhóm giáp xác râu ngành và giáp xác chân chèo chiếm 96% lượng thức ăn Khi chiều dài cơ thể cá từ 30-40 mm thì thức ăn là động vật nổi giảm đáng kể và tăng lượng thức ăn là động vật đáy

2.3.1 Cấu tạo ống tiêu hóa ở cá

2.3.1.1 Miệng

Miệng là điểm xuất phát đầu tiên của ống tiêu hóa của bất kỳ loài cá nào

và là cơ quan bắt mồi quan trọng của cá Dựa vào vị trí của miệng có thể phân

cá thành các nhóm: (i) Cá miệng trên: Cá có dạng miệng này thường bắt mồi ở tầng mặt như cá mè trắng, cá mè hoa, cá thiểu, cá trích; (ii) Cá miệng giữa: Cá

có dạng miệng này thường bắt mồi ở tầng giữa Tuy nhiên, cá cũng có thể bắt mồi ở tầng mặt và tầng đáy; (iii) Cá miệng dưới: Cá có dạng miệng này thường bắt mồi ở đáy như cá trôi, cá trê, cá hú, cá ngát

2.3.1.2 Răng

Khi phân loại và dự đoán tính ăn của các loài cá, cấu tạo của răng và cách sắp xếp vị trí của chúng là một chỉ tiêu quan trọng thể hiện tính ăn của

loài: cá ăn thực vật, ăn động vật hay ăn tạp

Với các loài cá xương thì răng lại thường phân bố ở hai hàm, vòm miệng

và vùng hầu Hình dạng và kích thước của răng phản ánh chính xác tính ăn của từng loài cá như: (i) Cá ăn lọc: thường không có răng hoặc những cấu trúc dạng phiến sụn trên vùng xoang miệng hầu; (ii) Cá ăn động vật kích thước nhỏ: Răng nhỏ, mịn phân bố ở 2 hàm, xoang miệng; (iii) Cá ăn động vật kích thước lớn: Răng to, bén, thường có răng nanh và răng chó phân bố khắp 2

Trang 21

hàm, vùng hầu còn có nhiều hàng răng nhỏ hơn và sắc bén (Nelson, 1994; Walter and James, 2004)

2.3.1.3 Lưỡi

Lưỡi ở các loài cá chỉ là cơ quan phụ, ít có giá trị trong dự đoán tính ăn của cá Cá miệng tròn: Lưỡi cử động được do cơ lưỡi phát triển Trên lưỡi có nhiều răng bén Cá sụn và cá xương: Lưỡi không cử động được (Nelson, 1994)

2.3.1.4 Lược mang

Lược mang ở cá xương hoặc cá sụn có nhiệm vụ lọc và giữ lại các mồi nhỏ Bằng cách ngăn chặn các hạt thức ăn thoát khỏi không gian giữa các vòm mang, nó cho phép lưu giữ các thức ăn nhỏ trong khi ăn bằng cách lọc Đối với các loài cá dữ ăn động vật, lược mang biến thành những núm có nhiều gai sắc bén để hỗ trợ cá bắt giữ con mồi và ngăn không cho chúng làm tổn hại các

tia mang (Walter and James, 2004)

Cấu trúc và khoảng cách của lược mang ở cá xác định kích thước của các hạt thức ăn bị giữ lại và tương quan với tập tính bắt mồi của cá Phần lớn sự thay đổi trong hình thái lược mang được cho là do thích ứng để tối ưu hóa việc tiêu thụ các thức ăn khác nhau

2.3.1.5 Thực quản

Thực quản là cơ quan nối tiếp miệng với dạ dày của cá, tiếp sau xoang miệng hầu Thực quản có dạng hình ống, dài ngắn tùy theo tính ăn từng loài cá: Cá ăn thực vật có thực quản tương đối dài hơn các loài cá ăn động vật Chức năng của thực quản là tham gia chọn lọc thức ăn (Karachle and Stergiou, 2012)

2.3.1.6 Dạ dày

Đối với các loài cá có dạ dày, dạ dày có dạng hình túi hoặc ống dài tùy theo tính ăn từng loài, nằm nối tiếp sau thực quản Hình dạng dạ dày thay đổi theo tính ăn của cá: (i) Dạ dày thẳng với lumen mở rộng: các loài cá ăn phiêu sinh thực vật như cá măng; (ii) Dạ dày hình chữ U với lumen mở rộng: các loài cá ăn động vật như cá lóc; (iii) Dạ dày có hình dạng giống như chữ Y: loài

cá ăn tạp thiên về động vật như cá ngát Dạ dày có chức năng chứa thức ăn, tiết men tiêu hoá tham gia quá trình tiêu hoá thức ăn

Trang 22

2.3.1.7 Manh tràng

Ở một số loài cá ăn động vật, điển hình là cá lóc có sự hiện diện rõ rệt của manh tràng Đây là cấu trúc gắn vào ống tiêu hoá ở nơi tiếp giáp giữa dạ dày và ruột có dạng hình ống và một đầu bịt kín Vách manh tràng cũng gồm 3 lớp ngoài là màng bao bằng mô liên kết, giữa là lớp cơ trơn và trong cùng là lớp màng nhầy Manh tràng của các loài khác thay đổi đáng kể về kích cỡ, trạng thái phân nhánh và cách kết nối ruột Chức năng: tiết một số men tiêu hóa như trypsin và thẩm thấu (Karachle and Stergiou 2012; Ng and Lim, 1999)

2.3.1.8 Ruột

Ruột là phần nối tiếp sau dạ dày với dạng hình ống dài thẳng, gấp khúc hoặc cuộn tròn tùy theo tính ăn từng loài cá Ruột giữ nhiệm vụ tiết ra men tham gia quá trình tiêu hoá, tiếp nhận men tiêu hoá do các tuyến tiêu hoá khác chuyển đến và hấp thu vật chất dinh dưỡng giúp cá tăng trưởng (Karachle and Stergiou, 2012)

Theo Alikunhi and Rao (1951) (trích của Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) thì chiều dài ruột của các loài cá phụ thuộc vào loại thức ăn tự nhiên mà chúng tiêu thụ Chiều dài ruột tăng theo sự gia tăng tỉ lệ các loại thức

ăn thực vật trong khẩu phần ăn của cá Giá trị RLG (Relative Length of Gut) được tính bằng tỉ lệ giữa chiều dài ruột và chiều dài thân (Al-Hussainy, 1949) Khi chỉ số RLG nhỏ hơn 1, cá thuộc nhóm ăn động vật; chỉ số này lớn hơn 1

cá thiên về nhóm ăn thực vật; giá trị RLG dao động quanh giá trị trung bình cá thuộc nhóm ăn tạp

Theo Smith (1991), chiều dài ruột của cá phụ thuộc vào tuổi và loại thức

ăn tự nhiên mà chúng tiêu thụ, chiều dài ruột gia tăng theo sự gia tăng tỉ lệ các loại thức ăn thực vật trong khẩu phần thức ăn của cá Girgis (1952) (trích của Phạm Thanh Liêm và Trần Đắc Định, 2004) cũng cho rằng giá trị RLG thấp ở giai đoạn cá hương và cao ở giai đoạn cá trưởng thành Trong quá trình tăng trưởng, ống tiêu hóa của cá sẽ gia tăng về chiều dài và gia tăng các nếp gấp để tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất

2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng

Hiện nay, có nhiều phương pháp để phân tích thức ăn trong ống tiêu hóa của cá và có thể nhóm lại thành 3 phương pháp chính (Biswas, 1993) đó là

Trang 23

phương pháp số lượng (numerical), thể tích (volumetric) và khối lượng (gravimetric)

- Phương pháp số lượng: Phương pháp này được thực hiện bằng cách đếm các loại thức ăn hiện diện trong ruột cá và được tính toán theo 4 cách khác nhau: (1) Phương pháp tần số xuất hiện (occurrence method); (2) Phương pháp số lượng (number method); (3) Phương pháp tính nhóm thức ăn ưu thế (dominance method), (4) Phương pháp đếm điểm (Points method)

- Phương pháp thể tích: Phương pháp này thường được xem là thỏa mãn

và chính xác hơn trong việc phân tích dạ dày Trong thực tế có 3 cách phân tích: (1) Phương pháp ước lượng bằng mắt, (2) Phương pháp tính điểm, (3) Phương pháp thay thế Phương pháp này tính trên cơ sở thể tích của mỗi loại thức ăn được đo bằng thể tích nước bị thay thế bởi thể tích thức ăn trong một ống đong Phương pháp thể tích thích hợp trong việc phân tích dạ dày của các loài cá ăn thịt Thể tích của mỗi loại thức ăn cũng được tính thành phần trăm trên tổng thể tích dạ dày

- Phương pháp khối lượng: Phương pháp này cũng tương tự phương pháp thể tích Tuy nhiên, thay vì việc xác định thể tích thức ăn thì xác định khối lượng khô của mẫu và của mỗi loại thức ăn, sau đó tính ra tỉ lệ phần trăm trên tổng khối lượng mẫu quan sát

2.4 Đặc điểm sinh trưởng của họ cá lóc Channidae

Họ cá lóc rất đa dạng về thành phần loài, mỗi loài có những đặc điểm sinh trưởng rất khác nhau do kích thước cơ thể khác nhau Một vài loài có kích thước nhỏ khoảng 17 cm nhưng một số khác thì kích thước rất lớn có thể lên

đến 180 cm Loài Channa marulius được ghi nhận là loài lớn nhất trong họ

Channidae với tổng chiều dài tối đa 180 cm, cân nặng 30 kg; nhiều nghiên cứu

ghi nhận C marulius có thể đạt đến chiều dài 120-122 cm Kế đến là loài

Channa argus được ghi nhận kích thước lớn nhất là gần 150 cm chiều dài

(Nina Bogutskaya, 2002 trích của Walter and James, 2004) và loài C

micropeltes có thể đạt 150 cm chiều dài (Ng, 2003 trích của Walter and James,

2004) Trong khi đó, họ Channidae cũng có những loài có kích thước nhỏ hơn,

chẳng hạn như loài C gachua và C orientalis có chiều dài tương đối nhỏ

khoảng 17 cm (Walter and James, 2004)

Theo Devaraj (1973) nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng của 3 loài

cá lóc với các tham số tăng trưởng (L, K, to ) như sau:

Trang 24

Bảng 2.3: Các tham số tăng trưởng (L, K, to ) của 3 loài cá lóc

Với L∞: Chiều dài tiệm cận cực đại; K: Hệ số tăng trưởng; to : thời điểm cá có chiều dài bằng 0

2.5 Đặc điểm sinh học sinh sản của họ cá lóc Channidae

Chiều dài thành thục đầu tiên, tuổi thành thục, mùa vụ sinh sản, sức sinh sản và tập tính đẻ trứng là những đặc trưng sinh học quan trọng của các loài cá trong nghiên cứu sinh học sinh sản

Kiến thức về chiều dài thành thục đầu tiên rất quan trọng trong việc ước lượng kích thước quần thể (Neja, 1992) Chiều dài thành thục đầu tiên có liên kết chặt chẽ với sức sinh sản trong vòng đời của cá (Stearns,1992; Bernardo, 1993) Thông số chiều dài thành thục đầu tiên rất quan trọng trong khai thác

quần thể (Marshall et al., 1998; Murawski et al., 2001)

Tuổi thành thục, theo Phạm Văn Khánh (2003) thì cá lóc đen (C striata)

dễ thành thục và thành thục sớm lúc 10-12 tháng tuổi, trong khi đó cá lóc bông

(C micropeltes) thành thục vào 23-24 tháng tuổi Mùa vụ thành thục trong tự

nhiên từ tháng 3-4 và kéo dài đến tháng 9-10

Mùa vụ sinh sản, mỗi loài cá lóc có những khoảng thời gian sinh sản khác nhau tùy thuộc vào vùng địa lý và khí hậu mà chúng phân bố Cá lóc đen

C striata sinh sản suốt trong thời gian có gió mùa trong các ao, ruộng lúa

ngập nước trong mùa lũ và cá sinh sản quanh năm (Ali, 1999) Trong khi đó, ở

Việt Nam, cá lóc đen (C striatus) đẻ rộ vào những tháng đầu mùa mưa lớn, tập trung nhất tháng 5 đến tháng 7, cá lóc bông (C micropeltes) mùa vụ sinh

sản kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, tập trung vào tháng 6-7 dương lịch (Phạm Văn Khánh, 2003) Một số loài đẻ trứng hai, ba hoặc nhiều lần mỗi năm, loài

cá lóc C argus có khả năng sinh sản năm lần trong năm (Walter and James,

2004)

Trong khi đó, theo Senguttuvan and Sivakumar (2016) thì cá lóc C

striata sinh sản quanh năm nhưng tập trung trong khoảng tháng 1 đến tháng 7

và chỉ đẻ một lần trong mùa sinh sản Giá trị GSI và yếu tố điều kiện cao nhất

trong suốt thời gian cá sinh sản tập trung Loài C striata cá cái thành thục sớm

hơn cá đực Tỷ lệ giữa kích thước thành thục lần đầu (Lm/L) đối với con đực

Trang 25

là 0,3345 và con cái là 0,3299 Hệ số tương quan (R) giữa chiều dài cơ thể cá

và sức sinh sản là 0,9643, giữa khối lượng cơ thể và sức sinh sản là 0,9704 và giữa khối lượng buồng trứng và sức sinh sản là 0,9883 Tỷ lệ giới tính đực:cái lệch 1:1 trong tất các tháng trong năm ngoại trừ tháng 7, 8 và tháng 9

Tập tính sinh sản, nhiều nghiên cứu đã ghi nhận, các loài cá lóc có tập

tính làm tổ ở nơi có thực vật thủy sinh, đẻ trứng và bảo vệ cá con Cá lóc (C

striata và C micropeltes) đực và cái tự ghép đôi khi thành thục và đẻ Cá đực

thường có kích thước nhỏ hơn cá cái cùng lứa Cá thường chọn nơi có cây cỏ thủy sinh để đẻ và thụ tinh Sau khi đẻ cá đực và cá cái cùng canh giữ tổ trứng

và cá con cho đến khi cá con bắt đầu có thể sinh sống độc lập (Phạm Văn

Khánh, 2003) Một số loài như C gachua và C orientalis được ghi nhận là có

tập tính ấp trứng trong miệng và cá đực đảm nhận vai trò này

Sức sinh sản, hiện có ít thông tin về sức sinh sản của các loài cá lóc họ Channidae trong tự nhiên trừ những loài có tầm quan trọng về kinh tế Mối tương quan chung được nhiều nghiên cứu ghi nhận đó là sức sinh sản tăng tỷ

lệ thuận với chiều dài và khối lượng cơ thể Sức sinh sản của loài C striata

dao động trong khoảng 16.330-56.467 trứng với kích thước cá bố mẹ dao động

trong khoảng 34,2-51,5 cm (Rahman et al., 2012) Cá lóc bông (C

micropeltes) lượng trứng có thể đạt từ 7.000-15.000 trứng (Phạm Văn Khánh,

2003) Những loài cá lóc nhỏ như C gachua và C orientalis, sức sinh sản khá

thấp chỉ khoảng 20 trứng/cá thể khi thành thục sinh dục lần đầu tiên và sau đó

có thể lên đến 200 trứng/cá thể Sức sinh sản thấp là một quy luật chung của các loài cá có tập tính ấp trứng trong miệng (Breder and Rosen, 1966 trích của Walter and James, 2004)

Bhuiyan and Rahman (1983) ghi nhận sức sinh sản của 30 con cá chành

dục (C gachua) trong tự nhiên dao động 487-4.482 trứng với chiều dài cá dao

động khoảng 94-164 mm, trung bình 2.307 trứng/con ở cá có chiều dài trung bình 132 mm Nghiên cứu của Mishra (1991) cho thấy đường kính trứng của

cá chành dục cao nhất ở giai đoạn 5 dao động từ 2,1 - 2,6 mm vào tháng 7 từ những loài thu được ở Berhampur, Orissa, Ấn Độ Hệ số thành thục của cá là 6,8 và xảy ra vào tháng 6 Sức sinh sản dao động từ 2.539 - 7.194 trứng ở cá

có chiều dài từ 134 - 172 mm

Nhìn chung, đường kính trứng của các loài cá lóc họ Channidae được ghi nhận dao động trong khoảng 1-2 mm Thời gian nở phụ thuộc rất nhiều vào

nhiệt độ của môi trường nước Đối với cá lóc đen C striatus đường kính trứng

dao động từ 1,2-1,4 mm, thời gian ấp 23-24 giờ ở nhiệt độ 29±1°C, tỷ lệ nở

Trang 26

80-85%, cá con mới nở có chiều dài 3,4±0,2 mm và tiêu thụ hết noãn hoàng

sau khi nở 3 ngày Cá lóc C punctata, thời gian ấp 54 giờ ở nhiệt độ 16-26 ºC

và 30 giờ ở nhiệt độ 28-33 ºC (Kahn, 1924) Đối với cá lóc C argus, thời gian

ấp 28 giờ ở nhiệt độ 31 ºC, 45 giờ ở 25 ºC và 120 giờ 18 ºC Nhìn chung, cá con mới nở có chiều dài khoảng 3,0-3,5 mm tùy loài

2.6 Sự phát triển noãn sào

2.6.1 Sự phát triển của noãn sào ở cá

Qúa trình phát triển noãn sào ở cá xương từ những noãn nguyên bào đến lúc chín và thành thục trải qua nhiều giai đoạn Hiện nay, sự phát triển của noãn sào cá xương thường được chia theo bậc thang 6 giai đoạn (Nikolski, 1963; Xakun và Buskaia, 1968)

Giai đoạn I:

Về tổ chức học: tế bào sinh dục là những noãn nguyên bào - những tế bào hình tròn, có kích thước tương đối nhỏ, mắt thường không nhìn thấy được Các noãn nguyên bào phân chia nguyên nhiễm tạo nên nguồn dự trữ tế bào sinh dục cho cá sau khi cá đẻ Các noãn nguyên bào có những biến đổi đặc trưng và tăng lên về kích thước, biến thành những noãn bào Thời kỳ này được gọi là thời kỳ sinh trưởng nguyên sinh chất

Về ngoại hình: Tuyến sinh dục là những dải mỏng, trong suốt, có khi có màu hơi vàng hay hơi hồng, mắt thường không phân biệt được tế bào sinh dục

Ở đa số các loài cá, theo ngoại hình bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực hay cá cái trong giai đoạn này

Giai đoạn II:

Về tổ chức học: Noãn sào xuất hiện những noãn bào đã kết thúc sinh trưởng về nguyên sinh chất, kích thước của chúng đã lớn đến mức có thể quan sát bằng mắt thường hoặc dưới kính lúp Ngoài ra, noãn sào còn có noãn nguyên bào và những noãn nguyên bào ở những phase đầu tiên của thời kỳ sinh trưởng nguyên sinh chất, chúng là nguồn dự trữ

Về ngoại hình: Giống như ở giai đoạn I, noãn sào vẫn còn trong suốt Dọc theo noãn sào là một mạch máu lớn có những nhánh nhỏ, qua kính lúp thấy rõ ràng từng hạt trứng, chúng trong suốt và hầu như không màu Vào giai đoạn này, noãn sào cá thường có nhiều mô mỡ và mất dần ở các giai đoạn sau

Trang 27

Giai đoạn III:

Về tổ chức học: Các noãn bào tăng kích thước không chỉ nhờ sự tăng thể tích nguyên sinh chất mà còn nhờ sự tích lũy của các chất dinh dưỡng (chất noãn hoàng) dưới dạng những giọt mỡ và hạt noãn hoàng được tăng lên về kích thước và số lượng Song song với quá trình tích lũy chất noãn hoàng có

sự hình thành vỏ trứng Đến cuối thời kỳ sinh trưởng nguyên sinh chất, noãn bào có vỏ hình phóng xạ gồm nhiều lớp tế bào làm nhiệm vụ sản xuất estrogen

và đưa các chất dinh dưỡng (vitellogenin) vào trong noãn bào Các tế bào này hình thành một cái túi hay nang được gọi là tế bào nang trứng, bên ngoài nang trứng là lớp mô liên kết Lớp vỏ nang trứng và lớp mô liên kết được hình thành trong thời kỳ sinh trưởng nguyên sinh chất của noãn bào

Về ngoại hình: Noãn sào có sự tăng trưởng mạnh về kích thước từng hạt trứng cũng như cả noãn sào Các hạt trứng không còn trong suốt mà chuyển sang màu đục Màu của noãn sào cũng đậm hơn so với các giai đoạn trước đó Giai đoạn IV:

Về tổ chức học: Trong noãn sào có những noãn bào kết thúc quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và những trứng này sẽ được đẻ ra trong vụ sắp đến Nhân tế bào di chuyển về phía lỗ noãn làm cho tế bào phân cực Cực động vật

có nhân và phần căn bản nguyên sinh chất; cực thực vật có noãn hoàng Sau

đó các hạt noãn hoàng và các giọt mỡ hòa tan vào nhau, tạo thành một khối đồng nhất làm cho các noãn bào trở nên trong suốt

Về ngoại hình: Noãn sào to, chiếm phần lớn xoang thân Kích thước hạt trứng đạt cực đại

Giai đoạn V:

Về tổ chức học: Giai đoạn này xảy ra rất ngắn Trong giai đoạn này, việc chuẩn bị của trứng cho quá trình thụ tinh được hoàn tất, quá trình giảm phân bước vào phase kết thúc Màng nhân biến mất và bắt đầu sự phân bào giảm nhiễm lần hai Sự tan biến của túi mầm và sự trong suốt của noãn bào là tiêu chuẩn của sự chín Trứng thoát ra khỏi nang và màng mô liên kết Trứng sẽ rụng vào xoang thân hoặc xoang noãn sào tùy theo loài

Về ngoại hình: Buồng trứng mềm, chỉ cần vuốt nhẹ ở bụng là trứng có thể chảy ra Các trứng đã rụng được phóng thích ra ngoài

Giai đoạn VI:

Trang 28

Về tổ chức học: Trong noãn sào có mặt những nang trứng đã vỡ, thành phần các tế bào trứng ở các pha phát triển giống như noãn sào ở giai đoạn II

Về ngoại hình: Các noãn sào xẹp xuống, nhão, màu đỏ bầm do sự xuất huyết khi nang trứng vỡ

2.6.2 Sự phát triển của tinh sào

Cũng tương tự như noãn sào, sự phân chia các giai đoạn phát triển của tinh sào khác nhau tùy theo đặc điểm của từng loài Ở nước ta, bậc thang phát triển tinh sào của cá xương đều dựa theo các tác giả Nikolski (1963) và Xakun

& Buskaia (1968) Theo tác giả, quá trình phát triển của tinh sào chia làm 6 giai đoạn

Giai đoạn I: Ở giai đoạn này, về mặt tổ chức học, tinh bào vẫn chưa phát triển Tuyến sinh dục là những dải mỏng, trong suốt, chưa phân biệt được giới tính Mạch máu ở đa số các loài cá còn kém phát triển

Giai đoạn II: Đặc trưng của giai đoạn này là sự có mặt của những tế bào sinh dục ở giai đoạn đầu của quá trình tạo tinh trong trạng thái sinh sôi Kết quả của quá trình này là tinh sào lớn lên về mặt kích thước, không trong suốt

mà trở nên đục Tinh sào ở giai đoạn này có những dải tròn hay mảnh, thường

có màu xám hay hồng rất nhạt, ở một số loài, tinh sào có máu đỏ vì có nhiều mạch máu phân bố

Giai đoạn III: Trong tinh sào có các tinh nguyên bào, tinh bào cấp I, cấp

II và tinh tử Cuối giai đoạn này đã xuất hiện một số tinh trùng chín muồi Ở giai đoạn này, tinh sào tăng lên về thể tích, các ống chứa tinh có đầy các bào nang với những tế bào tinh đang ở những giai đoạn phát triển khác nhau Khoảng trống giữa các ống sinh tinh trở nên hẹp hơn, vì vậy tinh sào tương đối chắc và đàn hồi

Giai đoạn IV: Đặc trưng của giai đoạn này là sự kết thúc quá trình tạo tinh Trong các ống sinh tinh chỉ có những tinh trùng chín muồi đi ra khỏi các bào nang và những tinh nguyên bào lớn là nguồn dự trữ cho vụ sau

Giai đoạn V: Đây là giai đoạn thể hiện tình trạng đang sinh sản của cá đực Ở giai đoạn này, tinh dịch được tạo ra làm loãng khối tinh trùng và làm cho chúng chảy ra Tinh sào màu trắng sữa, sờ vào bụng thấy mềm và nếu vuốt nhẹ sẽ thấy tinh dịch chảy ra ngoài

Trang 29

Giai đoạn VI: Đây là giai đoạn sau khi cá đực tham gia sinh sản, tinh dịch chảy ra hết, tinh sào co lại có dạng như một dải mỏng Mạch máu nở rộng nên tinh sào màu hồng hay nâu Nếu cắt tinh sào hay vuốt bụng thì có ít nước đục và loãng hay có thể có nước màu vàng chảy ra Sau giai đoạn này, tinh sào trở về giai đoạn II, III tùy theo loài

2.7 Kỹ thuật sinh sản

2.7.1 Nguyên lý trong kích thích sinh sản nhân tạo cá

Theo Phạm Quốc Hùng (2014), việc sử dụng hormone là rất cần thiết không chỉ áp dụng cho những loài không sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt,

mà còn cho cả những đối tượng có thể đẻ tự nhiên trong điều kiện nhân tạo nhằm đạt được tối đa sức sinh sản thực tế cũng như hạn chế cá đẻ rải rác, khó quản lý Ở một số loài cá, khi quá trình tích lũy noãn hoàng kết thúc, tuyến sinh dục không tiếp tục phát triển để đạt đến trạng thái thành thục và đẻ trứng, buồng trứng sau đó bị thoái hóa và cá có thể chết trước mùa sinh sản Vì vậy, việc dùng hormone kích thích cá đẻ có thể hạn chế tỷ lệ tử vong Một số loài

cá có sự lệch pha về độ thành thục giữa các cá thể và giới tính nên dùng hormone có thể thúc để thu được sản phẩm sinh dục đồng thời trong điều kiện thụ tinh nhân tạo là cần thiết nhằm thu sản phẩm sinh dục đúng thời gian yêu cầu Vì vậy việc sử dụng hormone trong sinh sản nhân tạo đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý đàn cá bố mẹ và ngay cả những loài hoàn toàn đã được thuần hóa

2.7.2 Các kích thích tố sử dụng trong sản xuất giống cá

Não thùy thể

Não thùy hay tuyến yên là cơ quan nội tiết trung tâm tham gia điều khiển nhiều hoạt động sống của cơ thể, trong có hoạt động sinh sản thông qua việc kích thích tổng hợp steroid và tạo giao tử của tuyến sinh dục Não thùy thể hay tuyến yên cá xương tạo ra 2 loại kích dục tố và được định danh là Gonadotropin Hormone 1 (GtH I) tương đương với FSH và Gonadotropin

Hormone II (GtHII) tương đương với LH (Swanson et al., 2003; Yaron et al.,

2003 trích của Phạm Quốc Hùng, 2014)

Theo Phạm Quốc Hùng (2014), não thùy được sử dụng như liều sơ bộ (10-20%) và liều quyết định sau đó 12-24 giờ Liều lượng tiêm có hiệu quả là

trong khoảng 2-10 mg não thùy/kg cá Trong sinh sản cá leo (Wallago attu

Schneider), liều não thùy cá chép là 10 mg/kg cho hiệu quả cao nhất, sức sinh

Trang 30

sản đạt 120.852 trứng/kg, tỷ lệ thụ tinh đạt 89%, tỷ lệ nở đạt 94% Não thùy đôi khi được dùng kết hợp với HCG với liều lượng 4000 IU/kg + 3mg não thùy cá chép/kg (Dương Nhựt Long và Nguyễn Hoàng Thanh, 2008 trích của Phạm Quốc Hùng, 2014)

HCG (Human Chorionic Gonadotropin)

HCG (kích dục tố màng đệm hoặc kích dục tố nhau thai), là loại kích thích tố được sử dụng phổ biến nhất trong sinh sản nhân tạo cá vì nó đã được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn đơn vị quốc tế (International Unit, IU) và hoạt tính sinh học của HCG cũng giống với LH của cá (Lam, 1952; Donaldson & Hunter, 1983 trích của Phạm Quốc Hùng, 2014)

HCG thường được tiêm 01 lần duy nhất với liều lượng dao động

100-4.000 IU/kg khối lượng thân tùy loài Ở cá giò (Rachycentron canadum) với

liều thấp (275 IU/kg) đủ để kích thích cá rụng trứng khi các noãn bào đã kết

thúc thời kỳ tích lũy chất noãn hoàng (Caylor et al., 1994 trích của Phạm Quốc

Hùng, 2014) Cũng trên đối tượng là cá giò, HCG được sử dụng với 3 liều 250 IU/kg, 500 IU/kg và 750 IU/kg cho cá cái, cá đực được tiêm ½ liều so với cá

cái đều kích thích cá sinh sản (Nguyễn Anh Tuấn và ctv., 2014)

Việc sử dụng HCG trong sản xuất giống cũng bộc lộ một số trở ngại nhất định HCG là một glycoprotein và khi được tiêm vào cơ thể cá nó có thể phát triển các kháng thể chống lại (Lam, 1952; Donaldson & Hunter, 1983; Zohar, 1989a trích của Phạm Quốc Hùng, 2014) Như vậy, để kích thích cá đẻ trứng thì cần phải tiêm liều cao hơn cho những lần sau

GnRH và GnRHa (Gonadotropin Releasing Hormone)

GnRH là một loại hormone trong não bộ của động vật có vú được phát hiện vào đầu những năm 1970, nó có vai trò phóng thích kích dục tố của tuyến yên (Schally, 1978 trích của Phạm Quốc Hùng, 2014) Chất tương tự GnRH tự

nhiên được tổng hợp gọi là GnRH analog (GnRHa) (Fujino et al., 1972 trích

của Phạm Quốc Hùng, 2014) Sau đó GnRHa được sử dụng rộng rãi trong sinh sản nhân tạo vì GnRHa làm tăng hiệu quả đáng kể so với GnRH Một số loài

cá không thành thục trong điều kiện nuôi nhốt vẫn có thể tổng hợp và tiết kích dục tố nội sinh nếu được tiêm GnRHa với liều lượng thích hợp Điều này khẳng định tính hiệu quả cao của GnRHa trên các loài cá nuôi (Phạm Quốc Hùng, 2014)

Vấn đề sử dụng kích thích tố cho cá sinh sản

Trang 31

Việc sử dụng kích tố kích thích cá sinh sản đúng với tiến trình thành thục của cá sẽ đem lại hiệu quả cao và ngược lại có thể đem lại kết quả âm Do đó, nguyên tắc cơ bản của vấn đề kích thích cá sinh sản nhân tạo là phải sử dụng đúng chủng loại kích thích tố, đúng liều lượng và thứ tự có trước có sau theo bản chất tác dụng của kích tố Trong sinh sản nhân tạo cá, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà có số lần tiêm kích thích tố cho cá khác nhau Nhưng biện pháp tiêm nhiều lần với liều lượng thấp phù hợp với từng giai đoạn thành thục của tế bào trứng được coi là nguyên tắc chung khi kích thích cá sinh sản (Nguyễn Tường Anh, 1999; Nguyễn Văn Kiểm, 2011)

Kết hợp hai (hoặc hơn hai) loại kích thích tố

Theo Nguyễn Văn Kiểm (2011), trong quá trình kích thích cá sinh sản bằng kích tố thường kết hợp hai kích thích tố với nhau Mục đích của sự kết hợp này là làm tăng hoạt tính và bổ sung cho sự khiếm khuyết một yếu tố nào

đó của kích thích tố Từ đó sẽ làm tăng khả năng rụng trứng và đẻ trứng của

cá Ngoài ra sự kết hợp kích thích tố cũng có khả năng tiết kiệm một loại kích thích tố nào đó

Kết hợp giữa HCG với não thùy:

Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy ở đầu vụ sinh sản, do tính nhạy cảm của nang trứng chưa cao đặc biệt là sự tiếp nhận của nang trứng đối với yếu tố gây chín và rụng trứng (LH) Vấn đề này có liên quan đến sự thành thục của noãn bào do yếu tố FSH điều khiển Do đó ở đầu mùa sinh sản nếu chỉ sử dụng HCG đơn thuần thì tỷ lệ cá đẻ thường thấp (do HCG không tham gia vào quá trình thành thục của trứng), trong khi đó nếu kết hợp với não thuỳ thì tỷ lệ cá rụng trứng và đẻ trứng có thể tăng thêm 10-15% (do trong não thùy

có yếu tố thúc đẩy trứng thành thục thêm một bước là FSH) Tỷ lệ não thuỳ là 30% so với tổng liều lượng (Nguyễn Văn Kiểm, 2011)

Sử dụng GnRHa và GnRHa kết hợp với domperidone (DOM)

Khi nghiên cứu sâu hơn về sinh sản của cá đã phát hiện ra cơ chế ngăn cản sự tổng hợp và phóng thích GnRH của não thuỳ đó là cơ chế kháng Dopamine Chính cơ chế này đã hạn chế tác dụng của GnRHa đối với

sự hoạt động tiết kích thích tố của não thuỳ từ đó làm ảnh hưởng tới quá trình sinh sản của cá Để làm mất cơ chế này, chất kháng Dopamine, đó là một chất khi dùng kết hợp với GnRHa có tác dụng ức chế sự tiết Dopamine, thúc đẩy quá trình giải phóng GnRH và quá trình tiết GtH xảy ra theo chiều (+) Chất kháng dopamin hiện nay sử dụng kết hợp với GnRHa là domperidon hoặc

Trang 32

pimozide Motilium là một trong những sản phẩm thương mại của

domperidone (Phạm Quốc Hùng, 2014)

2.7.3 Các nghiên cứu sản xuất giống các loài họ cá lóc Channidae

2.7.3.1 Nuôi vỗ thành thục họ cá lóc Channidae

Nguyễn Thanh Phương (2008) nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến sự

thành thục của cá lóc bông nuôi trong giai Cá bố mẹ (10-12 tháng tuổi, có

khối lượng từ 1-2 kg) được nuôi vỗ bằng 3 nghiệm thức thức ăn (i) 100% cá tạp, (ii) 50% cá tạp và 50% thức ăn chế biến (TACB) 35% đạm, (iii) 100% TACB 35% đạm Kết quả, tỷ lệ thành thục sinh dục của cá tăng dần qua các tháng 4, 5, 6 lần lượt là 12,5%, 67% và 100%; hệ số thành thục đạt cao nhất (0,090) vào tháng 6 ở nghiệm thức 100% cá tạp, kế đến là 50% cá tạp+50% TACB với hệ số thành thục là 0,082 Như vậy, cá lóc bông được nuôi vỗ bằng

cá tạp hay cá tạp kết hợp TACB là tốt nhất

Tiền Hải Lý (2016), nghiên cứu nuôi vỗ thành thục cá dày C.lucia bằng

02 loại thức ăn: 100% cá tạp xay và 100% thức ăn công nghiệp (TACN) trong giai Cá bố mẹ có khối lượng 90,0-115 g/con, mật độ nuôi vỗ là 30 cặp/giai đặt trong ao đất Sau 4 tháng nuôi vỗ (tháng 3 DL), tỷ lệ cá cái thành thục đều tăng ở cả 2 nghiệm thức thức ăn là 75 và 72,7% Theo đó hệ số thành thục của

cá cũng tăng cao ở cả 2 nghiệm thức thức ăn, với giá trị là 3,61 (100% cá tạp)

và 3,54 (100% TACN) Như vậy, cá dày có thể thành thục sinh dục tốt khi được nuôi vỗ bằng cá tạp hay TACN 39% đạm

2.7.3.2 Sản xuất giống họ cá lóc Channidae

Cá lóc đen C striatus

Haniffa et al (2000) nghiên cứu kích thích cá lóc đen C striatus sinh sản

bằng 4 nghiệm thức kích thích tố: não thùy, HCG, LHRHa và Ovaprim Kết quả ghi nhận, thời gian hiệu ứng đối với kích thích tố LHRHa và ovaprim dài hơn các nghiệm thức tiêm não thùy thể (24 giờ) và HCG (26 giờ) Ở nghiệm thức tiêm não thùy cho tỷ lệ thụ tinh thấp nhất (60-68%) và thời gian trứng nở dài nhất (39-43 giờ), theo sau là thời gian nở ở nghiệm thức HCG là 36-38 giờ, LHRHa: 34- 36 giờ và ovaprim: 21-23 giờ Xét về tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở thì ovaprim cho kết quả tốt hơn (95% và 98%) Về đường kính trứng, đạt kích thước to nhất là nghiệm thức tiêm ovaprim (1,34-1,45 mm), tiếp theo là HCG (1,22-1,30 mm) và não thùy (1,21-1,27 mm) Đường kính trứng thấp nhất (1,07-1,09 mm) được quan sát thấy ở nghiệm thức tiêm LHRHa

Trang 33

Hossain et al (2008), kích thích cá lóc C striatus sinh sản trong ao ở

Bangladesh bằng não thùy cá chép Cá lóc cái và đực sau khi tiêm được vuốt

và cho thụ tinh Mỗi nghiệm thức liều tiêm được lập lại 6 lần với cá cái được tiêm 2 lần, lần thứ 1: 40 mg/kg và 45 mg/kg, lần 2: 80 mg/kg và 90 mg/kg tiêm cách lần nhất 7 giờ Cá lóc đực chỉ tiêm 1 lần với 3 nghiệm thức liều tiêm

40, 45 và 60 mg/kg và tiêm cùng lúc với tiêm lần 2 ở cá cái Kết quả, ở những

cá cái nhận liều tiêm thứ nhất là 45 mg/kg và liều tiêm thứ 2 là 80 mg/kg cho kết quả tốt Thời gian rụng trứng từ 9-12 giờ sau khi tiêm liều 2, sức sinh sản tương đối trung bình 17.273 (9.696-22.787) trứng/kg, tỷ lệ thụ tinh từ 35-80% Thời gian nở khoảng 28-48 giờ sau khi thụ tinh ở nhiệt độ 25-29oC, tỷ lệ nở khoảng 45- 82%, trung bình 62,33%

Nghiên cứu của Paray et al (2013) khảo sát hành vi sinh sản của cá lóc

C striatus trong điều kiện nuôi nhốt Ba cặp cá bố mẹ chiều dài 29-34 cm và

khối lượng 710-890 g được tiêm HCG với liều 6000 IU/kg khối lượng để quan sát hành vi sinh sản và sự chăm sóc của bố mẹ Sau khi tiêm hormone 6 giờ, các hoạt động kích thích của cá đực bắt đầu xuất hiện và tiếp diễn đến 22-30 giờ sau khi tiêm Sự rụng trứng ở cá cái diễn ra trong khoảng 26 giờ sau khi tiêm hormone và trứng được cá đực thụ tinh Trứng thụ tinh có màu vàng và tạo thành 1 mảng có đường kính 10-15 cm, trứng không thụ tinh có màu trắng, rời rạc và nằm rải rác Sau 24 giờ thụ tinh trứng nở thành cá bột tiếp tục được

cá bố mẹ bảo vệ Kết quả ghi nhận, trứng thụ tinh được cá bố mẹ chăm sóc và bảo vệ thường không bị nhiễm nấm và cho tỷ lệ nở cao

Paray et al (2014), nghiên cứu kích thích cá lóc đen C striatus ở Ấn Độ

sinh sản bằng hormone LHRHa với 3 nghiệm thức liều tiêm 50 µg/kg, 60 µg/kg và 70 µg/kg khối lượng cơ thể Cá lóc bố mẹ được tuyển chọn từ nguồn

tự nhiên có chiều dài 27-36 cm và khối lượng khoảng 680-790g Kết quả nghiên cứu ghi nhận, ở liều lượng hormone thấp nhất (50 µg/kg) thì thời gian hiệu ứng dao động khoảng 23,3 giờ và tỷ lệ thụ tinh trong khoảng 45,6%, tỷ lệ

nở 60,4% Trong khi đó, với liều lượng LHRHa cao hơn (60 µg/kg) thì thời gian hiệu ứng 24,5 giờ và tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở cũng cũng cao hơn lần lượt là 65,5% và 69,3% Tuy nhiên, ở nghiệm thức liều tiêm cao nhất (70 µg/kg), thời gian hiệu ứng lại thấp hơn so với nghiệm thức liều tiêm 60 µg/kg Theo đó, thời gian hiệu ứng dao động khoảng 22,4 giờ, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở đạt giá trị cao nhất, lần lượt là 80,2% và 78,7%

Yulintine et al (2017) nghiên cứu kích thích cá lóc C striatus (24 cặp)

sinh sản trong giai bằng kích thích tố Ovaprim với 4 nghiệm thức liều tiêm: 0 ml/kg (đối chứng), 0,3 ml/kg, 0,5 ml/kg và 0,7 ml/kg Kết quả, 2 nghiệm thức

Trang 34

liều tiêm 0,3 ml/kg, 0,5 ml/kg thì cá sinh sản với thời gian hiệu ứng lần lượt là 30-37 giờ và 4-5 ngày Thời gian nở khoảng 25-29 giờ ở nhiệt độ 27-29oC và

tỷ lệ trứng nở khoảng 23,5-28,2%

Cá lóc bông C micropeltes

Ở Việt Nam cá lóc bông (C micropeltes) trước đây thường vớt ngoài tự

nhiên, nguồn giống cung cấp cho nghề nuôi chủ yếu khai thác từ Campuchia Một số nghiên cứu thử nghiệm sản xuất giống cá lóc bông đã được thực hiện

và ứng dụng thành công vào sản xuất

Nghiên cứu của Nguyễn Huấn và Dương Nhựt Long (2008), kích thích sinh sản cá lóc bông bằng hormone HCG Kết quả phân tích cho thấy cá có tập tính làm tổ sinh sản, trung bình cá sinh sản từ 5-6 lần/năm Đường kính trứng cá lóc bông tương đối lớn (1,2 -1,9 mm), sức sinh sản thực tế thấp, dao động từ 2.000- 2.500 trứng/kg cá Trong điều kiện nhiệt độ nước từ 27-29,5oC

cá lóc bông rụng trứng đồng loạt ở liều HCG 500 IU/kg và 1.500 IU/kg có kết hợp với 1 não thùy, thời gian cá rụng trứng ở liều 1.500 IU/kg dao động từ 24-

27 giờ Tuy nhiên trứng cá sau khi rụng hoàn toàn không thụ tinh ở liều 1.500 IU/kg cá Đối với liều HCG 500 IU/kg cá cái, phương pháp tiêm 2 lần cho tỉ lệ thụ tinh đạt 67 % và tỉ lệ cá nở là 71,2 %

Nghiên cứu của Bùi Minh Tâm và ctv (2008), khảo sát ảnh hưởng của

liều lượng và phương pháp tiêm HCG đến quá trình kích thích sinh sản của cá

lóc bông C micropeltes Cá cái thí nghiệm có khối lượng từ 1,3-2,05 kg và cá

đực có khối lượng từ 1,35-1,9 kg được bố trí vào trong các bể composite với mật độ 1 cặp/bể Thí nghiệm 1 được thực hiện theo cách truyền thống với liều lượng HCG 1.000 và 1.500 IU/kg cá cái Kích dục tố kích thích cá rụng trứng

và trứng không thụ tinh Trong thí nghiệm thứ 2, cá đực được tiêm 1.000, 2.000 and 3.000 IU/kg chia ra làm 24, 48 và 72 giờ trước khi tiêm cá cái 500 IU/kg Sức sinh sản thực tế tương ứng với 3 nghiệm thức liều tiêm là 1.302, 2.080 và 1.504 trứng/kg Ở nghiệm thức 1.000 IU/kg thì trứng không thụ tinh Trong thí nghiệm cuối rút ngắn thời gian bằng cách tiêm cá đực ở liều lượng 2.000 và 3.000 IU/kg cá đực và 500 IU/kg cá cái Cá đực tiêm trước 2-3 ngày trước khi tiêm cá cái Sức sinh sản thực tế dao động 5.651-5.292 trứng/kg Tỉ

lệ thụ tinh và tỉ lệ nở dao động 78-79% và 94-95% Nghiên cứu kết luận để

kích thích cá lóc C micropeltes sinh sản, kích dục tố HCG được tiêm

2.000-3.000 IU/kg cho cá đực và 500 IU/kg cho cá cái và tiêm cá đực trước khi tiêm

cá cái, để đạt hiệu quả sinh sản cao nhất

Trang 35

2.7.4 Các nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng của cá bột

2.7.4.1 Sự lựa chọn thức ăn của cá bột

Nhằm mục đích là bắt mồi và hấp thụ chất dinh dưỡng, mỗi loài cá sẽ phát triển những đặc tính ăn và xu hướng chọn lựa những loại thức ăn phù hợp nhất với hoạt động của chúng Phần lớn các loài cá đều sử dụng thức ăn là động vật phù du khi mới nở, ở giai đoạn trưởng thành thì tùy loài sẽ thay đổi tập tính ăn nhất định Vì thế, nghiên cứu tính ăn và sự chọn lựa thức ăn của cá bột có vai trò rất quan trọng trong một quy trình sinh sản giống nhân tạo của một loài cá nhất định

Sau khi nở, ấu trùng cá sẽ nhanh chóng hoàn thiện các cơ quan để phục

vụ cho quá trình sống của chúng Khi mới nở, tùy thuộc vào những đặc tính của các cơ quan mà cá bột sẽ có những hành vi bắt mồi và khả năng nhận biết lựa chọn con mồi khác nhau Nghiên cứu của Nguyễn Phú Hòa (2006) trên cá bống tượng cho thấy loài cá này có đặc tính chọn lựa thức ăn Kết quả khảo sát cho thấy cá bống tượng lựa chọn thức ăn là cá mồi (sử dụng cá mè trắng) nhiều hơn tép bò Lượng cá mồi ăn vào hàng ngày khoảng 25,5 g so với 15,3 g tép bò đã được cá sử dụng

Sự lựa chọn thức ăn phù hợp với loài có ý nghĩa rất quan trọng trong sự sinh tồn của cá Trần Sương Ngọc và Vũ Ngọc Út (2013), nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống của cá bống tượng giai đoạn mới nở đến 10

ngày tuổi cho thấy, luân trùng Brachionus angularis kích thước nhỏ là nguồn

thức ăn quan trọng không thể thiếu cho cá trong giai đoạn này

Hơn nữa, việc cung cấp thức ăn ưa thích của loài cũng góp phần nâng

cao tỷ lệ sống của cá bột Theo Lý Văn Khánh và ctv (2011), trong ương ấu trùng cá nâu (Scatophagus argus) hỗn hợp thức ăn gồm Chlorella + rotifer +

thức ăn chế biến (TACB) cho cá có tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao nhất, lần lượt là 3,6 mm và 15,7% sau 15 ngày ương

2.7.4.2 Kích cỡ miệng

Trong giai đoạn ấu trùng, kích cỡ của miệng đóng vai trò rất quan trọng trong tập tính lựa chọn thức ăn khi cá bắt đầu bắt mồi Chakrabarti and Jana (1991) thì tập tính lựa chọn thức ăn ưa thích của ấu trùng các loài cá chép phụ thuộc nhiều vào kích thước miệng Theo đó, các ấu trùng của loài cá chép có miệng tương đối nhỏ (1,1-2 mm), nên giới hạn kích thước của các loại thức ăn

mà chúng bắt được Các sinh vật phù du cỡ nhỏ như động vật nguyên sinh và

Trang 36

luân trùng với kích thước dao động khoảng 100-600 µm, có thể dễ dàng được

cá bột bắt lấy và sử dụng Trong khí đó, Dabrowski and Bardega (1984) cho

rằng ấu trùng cá chép (Cyprinus carpio) có khả năng mở miệng lớn hơn so với

kích thước con mồi ưa thích, vì thế ấu trùng có thể bắt được các loại thức ăn khác khi điều kiện con mồi hạn chế để duy trì sự sinh tồn của chúng

Karpouzi and Stergiou (2003) khảo sát trên 18 loài cá biển ghi nhận mối quan hệ giữa hình thái, độ rộng miệng với tính ăn của các loài cá này Theo kết quả ghi nhận được cho thấy, 18 loài cá được nghiên cứu phân chia thành 2 nhóm là nhóm cá ăn tạp thiên về động vật và nhóm cá ăn động vật Nhóm cá

ăn tạp thiên về động vật có kích thước miệng trung bình khoảng 158,1 mm2

thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm cá ăn động vật với kích thước miệng trung bình là 785,7 mm2 Chính vì sự khác nhau đó mà nhóm cá ăn tạp thiên về động vật thường sử dụng các loại ấu trùng giáp xác nhỏ, hai mảnh vỏ

và copepod Trong khi đó, nhóm cá ăn động vật với kích thước miệng lớn thường bắt các con mồi là ấu trùng cá, cephalopoda và decapoda làm thức ăn

2.7.5 Ương cá giai đoạn bột

Việc cung cấp thức ăn trong suốt giai đoạn ấu trùng là yếu tố quan trọng

để đạt được tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cao Khi cung cấp không đủ thức

ăn ấu trùng cá sẽ chết (Houde, 1978) Những loài khác nhau sẽ đòi hỏi thức ăn khác nhau trong suốt giai đoạn ấu trùng Hầu hết, cá nước ngọt thức ăn đầu

tiên là rotifer và Moina (Tarnchalanukit et al., 1982; Tawaratmanikul et al., 1988) Ấu trùng cá lóc C striatus cũng không ngoại lệ, thức ăn dùng cho ương

nuôi ấu trùng cá lóc đen là Moina và thức ăn viên công nghiệp tương tự như các loài cá khác nhưng thời gian cho ăn thì khác nhau Cá lóc 3-15 ngày tuổi, giai đoạn này được phân chia là ấu trùng (Chiều dài tổng 6,08-10,86 mm) tiêu

thụ Moina Ấu trùng 12-15 ngày tuổi (chiều dài tổng trung bình 10,79-14,61 mm) ăn được cả Moina và thức ăn viên công nghiệp Khi cá đạt trên 16 ngày

tuổi, được phân chia giai đoạn cá con và tiêu thụ được thức ăn viên công

nghiệp (Amornsakun et al., 1997) Sự phân chia giai đoạn này tương tự trên cá

rô đồng, giai đoạn 3-15 ngày tuổi (chiều dài tổng trung bình 3,02-12,6 mm)

được gọi là giai đoạn ấu trùng, ấu trùng cá ăn được rotifer và Moina Tuy

nhiên, trên cá bống tượng, từ 3-27 ngày tuổi được phân chia là giai đoạn ấu

trùng ăn động vật phiêu sinh như rotifer và Artemia, từ 30-45 ngày tuổi được phân chia là giai đoạn ấu niên, khi đó cá ăn Moina và cá nghiền (Amornsakun

et al., 2003a; 2003b)

Trang 37

Theo Amornsakun et al., (2011), nghiên cứu khả năng bắt mồi hàng ngày của ấu trùng C striatus đối với Moina trên bể kính 15 L (thể tích nước 10 L)

ương 1.000 ấu trùng cá lóc, mật độ Moina cung cấp là 10 cá thể/ml Khả năng bắt mồi của ấu trùng cá được tính toán dựa trên những thay đổi mật độ thức ăn trong bể kính có và không có ấu trùng cá ở mỗi 2 giờ Tác giả ghi nhận ấu

trùng cá 3-15 ngày tuổi tiêu thụ Moina Số lượng Moina được hấp thu trong

ống tiêu hóa của ấu trùng cá ở các ngày tuổi 3, 6, 9, 12 và 15 lần lượt là 28,7, 115,7, 162,27, 195,30 và 227,30 cá thể/ấu trùng cá ở nhiệt độ nước 25-28 oC

2.7.5.1 Ương cá giai đoạn bột với các mật độ

Ương nuôi cá bột là một trong những khâu quan trọng trong quy trình sản xuất giống một loài cá Tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá bột sẽ quyết định hiệu quả kinh tế của một quy trình sản xuất giống cá Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận, bố trí mật độ ương phù hợp sẽ góp phần gia tăng tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng tối đa của đàn cá Đặc biệt điều này có ảnh hưởng quan trọng hơn trong trường hợp ương các loài cá thuộc họ cá dữ, ăn động vật, và có tập tính

ăn lẫn nhau Do đó, việc bố trí ương với một mật độ phù hợp sẽ hạn chế sự ăn lẫn nhau của cá bột, giúp gia tăng tỷ lệ sống của đàn cá ương (Rahman and Awal, 2016)

Pangni et al (2008) cho rằng mật độ ương ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ sống

và tăng trưởng của ấu trùng cá Chrysichthys nigrodigitatus Nghiên cứu thực

hiện ương cá với 5 mật độ khác nhau gồm: 5, 6, 7, 8, 9 ấu trùng/L Các nghiệm thức đều được bố trí ngẫu nhiên và được chăm sóc trong cùng một điều kiện môi trường Ấu trùng cá được cho ăn thức ăn viên 45% đạm và cho ăn 3 lần/ngày Kết quả, mật độ 6 con/L cho hiệu quả ương cao nhất về tăng trưởng (4,3 mg/L và 6,15 %/ngày) và tỷ lệ sống (95,91%)

Ảnh hưởng của mật độ ương đến quá trình ương cũng được ghi nhận trên

loài cá trê phi Heterobranchus longifilis Atse et al (2009) nghiên cứu ảnh

hưởng của các mật độ 1, 2, 5, 10, 15, 20 và 25 con/L lên khả năng tăng trưởng

và tỷ lệ sống của ấu trùng cá Thức ăn được sử dụng trong thí nghiệm là ấu trùng Artemia và cá được chăm sóc trong môi trường nuôi thích hợp nhất Kết quả phân tích khối lượng và chiều dài cá cho thấy, tăng trưởng tuyệt đối và tăng trưởng tương đối của ấu trùng cá giảm theo sự gia tăng mật độ nuôi Ở mật độ 15 con/L ấu trùng đạt mức tăng trưởng 3,2 mg/ngày và tỷ lệ sống đạt

mức cao nhất 88,4% Các kết quả thu được đã cho thấy, cá H longifilis ương ở

mật độ 15 con/L cho kết quả ương nuôi tốt hơn các mật độ còn lại

Trang 38

Trong ương nuôi cá lóc đen C striatus thì việc bố trí mật độ ương thích hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả ương nuôi Điều này đã được Mollah et al (2009) thực hiện ương ấu trùng cá lóc C striatus với 3 mật độ: 2, 4 và 6

con/L Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm là trùn chỉ tươi sống và cho cá ăn 2 lần/ngày Kết quả sau 21 ngày ương, ở mật độ ương 2 con/L sự tăng trưởng khối lượng và chiều dài của ấu trùng cá cao hơn có ý nghĩa thống kê so với 2 nghiệm thức mật độ còn lại Theo đó, giá trị khối lượng, chiều dài và tỷ lệ sống của cá lần lượt là 552,66 mg, 32,08 mm, 80% Từ kết quả thu được, có

thể thấy, cá lóc C striatus ương ở mật độ 2 con/L sẽ cho kết quả tốt hơn

2.7.5.2 Ương nuôi cá bột bằng các loại thức ăn khác nhau

Bên cạnh mật độ ương, thì thức ăn sử dụng trong ương cá bột cũng đóng vai trò quyết định đến sự thành công của quy trình sản xuất giống cá Đặc biệt điều này có ảnh hưởng quan trọng hơn trong ương các loài thuộc họ cá lóc Channidae, vì đây là loài cá dữ, ăn động vật, và có tập tính ăn lẫn nhau Cung cấp thức ăn phù hợp sẽ hạn chế sự ăn lẫn nhau của cá bột, giúp gia tăng tỷ lệ sống của đàn cá ương, mặc khác còn giúp đảm bảo môi trường nước sạch, hạn

chế dịch bệnh xảy ra trong quá trình ương (Rahman et al., 2005; Walter and

James, 2004) Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận, việc cung cấp thức ăn phù hợp

sẽ góp phần gia tăng tỷ lệ sống cũng như tốc độ tăng trưởng tối đa của đàn cá

Kumar et al (2008) nghiên cứu loại thức ăn tự nhiên thích hợp trong ương nuôi cá lóc C striatus Ấu trùng cá lóc C striatus sau khi hết noãn

hoàng được bố trí cho ăn với các nghiệm thức thức ăn tự nhiên gồm: ấu trùng ruồi nhuế (Chironomidae), ấu trùng muỗi và động vật phiêu sinh (Copepods, Rotifers và Cladocerans) Kết quả sau 28 ngày ương, tỷ lệ sống ấu trùng cá lóc

C striatus cao nhất và có ý nghĩa thống kê ở nghiệm thức ấu trùng muỗi

(96,66%), kế đến Chironomus (90%) và động vật phiêu sinh (86,66%) Tương

tự, tăng trưởng tuyệt đối của cá cao nhất ở nghiệm thức ấu trùng muỗi, kế đến

là Chironomus và thấp nhất là động vật phiêu sinh, lần lượt là 4,91%, 4,44%

và 3,62% Có thể thấy, ấu trùng muỗi là loại thức ăn thích hợp cho ấu trùng cá

lóc C striatus đạt được tỷ lệ sống và tăng trưởng cao

Tiếp theo đó, Sarowar et al (2010) nghiên cứu ảnh hưởng thức ăn tươi sống lên hiệu quả của việc ương cá lóc C striatus Cá lóc được cho ăn 3 loại

thức ăn gồm: cá chép giống xay nhỏ, thức ăn viên công nghiệp và trùn chỉ Kết quả sau 28 ngày ương, nghiệm thức cho ăn bằng thức ăn viên công nghiệp cho hiệu quả ương nuôi thấp nhất trong các nghiệm thức còn lại Mức độ tăng trưởng chiều dài khoảng 9,73% và khối lượng khoảng 236 %, tỷ lệ sống chỉ

Trang 39

đạt 58% Trong khi đó, nghiệm thức thức ăn trùn chỉ sống thì mức tăng trưởng

về chiều dài và khối lượng của cá lóc đạt cao nhất và cao hơn có ý nghĩa so với các nghiệm thức thức ăn khác Sau 28 ngày ương, cá lóc tăng 54,3 % về chiều dài và 911 % về khối lượng, tỷ lệ sống đạt mức 90% Các kết quả này một lần nữa cho thấy, thức ăn tươi sống ảnh hưởng đáng kế đến hiệu quả ương

cá lóc C striatus

Kết quả tương tự, Muntaziana et al (2013) nghiên cứu thử nghiệm các loại thức ăn tươi sống trong ương cá hương C striatus Các loại thức ăn gồm: trùn chỉ, cá tạp và ruốc (Acetes indicus) và được cho cá ăn theo nhu cầu Kết quả sau 25 ngày ương cho thấy, sự tăng trưởng của cá C striatus cao nhất có ý

nghĩa thống kê (p<0,05) về phần trăm khối lượng đạt được, tốc độ tăng trưởng tương đối đối với thức ăn là cá tạp, kế đến ruốc và sau cùng là trùn chỉ Với mức tăng trưởng về khối lượng đạt 376,5%, tăng trưởng tương đối đạt 6,24

%/ngày và tỷ lệ sống đạt 98,67%

Không chỉ đối với cá lóc, các loài cá khác cũng tăng trưởng phụ thuộc rất

nhiều vào thức ăn cung cấp phù hợp Theo Abdullah et al (2015), thì sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng của cá Labeo bata chênh lệch rõ rệt khi

ương với các loại thức ăn khác nhau Ấu trùng cá sau khi tiêu hết noãn hoàng được bố trí cho ăn các loại thức ăn: động vật phù du, thức ăn viên công nghiệp

và thức ăn chế biến, thí nghiệm được thực hiện trong phòng thí nghiệm Sau

35 ngày ương, tăng trưởng về chiều dài và khối lượng của cá ở nghiệm thức ăn động vật phù du đạt 1,56 cm và 0,18 g cao hơn có ý nghĩa so với các nghiệm thức thức ăn khác Ngoài ra tỷ lệ sống của cá cũng đạt giá trị cao (75%) Từ

các kết quả cho thấy, quá trình ương cá L bata sẽ đạt hiệu quả tối ưu khi sử

dụng thức ăn tươi sống là động vật phù du

Bên cạnh hiệu quả mang lại của việc sử dụng thức ăn tự nhiên và thức ăn

tươi sống trong ương cá lóc C striatus, thì thức ăn chế biến cũng được áp

dụng khá thành công nhằm thay thế nguồn thức ăn tươi sống khó kiểm soát

nguồn gốc trong ương loài cá này Theo Srivastava et al (2012), hiệu quả của

thức ăn chế biến với 3 công thức (F1, F2, F3) trong ương cá lóc đen Kết quả sau 12 tuần ương, cá lóc được cho ăn thức ăn F2 có tỷ lệ sống (82%) cao hơn

có ý nghĩa so với thức ăn F1 và F3 (khoảng 72%) Ngoài ra, mức tăng trưởng

về chiều dài và khối lượng, tăng trưởng tuyệt đối cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức thức ăn khác, lần lượt là 204,1%, 147,5% và

9,31 %/ngày Từ kết quả thí nghiệm cho thấy, ương cá lóc C striatus bằng

thức ăn chế biến cũng có thể mang lại hiệu quả tốt và đạt mức tốt nhất khi cho

ăn thức ăn có 38,64% đạm

Trang 40

2.7.6 Các loại thức ăn sử dụng trong ương nuôi cá

2.7.6.1 Thức ăn tự nhiên

(i) Rotifer

Rotifer thuộc về lớp động vật đa bào nhỏ nhất Trong số hơn 1000 loài

đã được nhận biết, có tới 90% loài sống ở môi trường nước ngọt Rotifer nước

ngọt thường dùng trong nuôi ấu trùng nước ngọt là các loài Brachionus

calyciflorus và Brachionus rubens

Rotifer rất giàu protein (52-59% CP) và chất béo (13% EFA), đặc biệt là các HUFA (3,1% n-3 HUFA) Rotifer là thức ăn lý tưởng của ấu trùng tôm và

cá vì chúng có kích thước nhỏ, bơi chậm, sinh trưởng với mật độ cao và sinh

sản nhanh (Lê Đức Ngoan và ctv, 2009; Malla and Banik, 2015)

(ii) Giáp xác chân chèo (Copepod)

Kích thước của copepod phụ thuộc vào loài và sự phát triển của cá thể Nhờ kích thước khác nhau mà đảm bảo được thức ăn cho ấu trùng tôm cá

trong tất cả các giai đoạn phát triển Harpacticoid Tsibe holothuriae ở giai

đoạn nauplii chỉ có kích thước 55 micron đến khi trưởng thành thì có kích

thước 180 µ Schizopera elatensis có kích thước 50-500 µ, Tisbenta elongata

có kích thước từ150 đến hơn 750 micron

Ấu trùng copepod (nauplii, copepodite) thường được sử dụng cho ấu trùng cá Chuyển động zic-zac của copepod có tác dụng kích thích thị giác của nhiều loài cá Hàm lượng dinh dưỡng của Copepod cao (protein 44-52%), tỷ lệ acid amin cân đối trừ methionine và histidine Hàm lượng enzyme tiêu hóa cao

(Lavens and Sorgeloos, 1996; Lê Đức Ngoan và ctv, 2009; Malla and Banik,

2015)

(iii) Cladocera (Daphnia và Moina)

Daphnia thuộc về phân bộ Cladocera sống hầu như duy nhất ở nước ngọt Giá trị dinh dưỡng của Daphnia phụ thuộc nhiều vào chất lượng của nguồn thức ăn Daphnia chứa một phổ rộng enzyme tiêu hóa như protease, peptidase, lipase và cellulase, là nguồn enzyme ngoại sinh tốt trong ruột của

ấu trùng cá (Kumar et al., 2005; Malla and Banik, 2015)

Moina cũng thuộc phân bộ Cladocera, nhiều đặc điểm sinh học

giống như Daphnia Moina nhỏ hơn Daphnia nhưng có hàm lượng protein

Ngày đăng: 08/11/2017, 14:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w