1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)

103 237 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 451,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TÔ KIM NGỌC

Hà Nội, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làhoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ côngtrình nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn vàcác thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng năm 2017

Tác giả luận văn

NGUYỄN XUÂN BẮC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn: Hội đồng khoa học Học viện Khoa học – Xãhội Việt Nam, các giảng viên của chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng đã tận tìnhgiảng dạy và hướng dẫn trong quá trình học tập và nghiên cứu Xin cảm ơn cácphòng, ban liên quan đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện, đóng gópnhiều ý kiến cho nội dung nghiên cứu của đề tài

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Tô Kim Ngọc,người đã tận tình bồi dưỡng kiến thức, năng lực tư duy, phương pháp nghiên cứu vàtrực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này Mặc dù đã có nhiều cốgắng trong quá trình thực hiện, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếusót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, trao đổi của thầy cô, cácbạn đồng nghiệp và độc giả để luận văn được hoàn thiện và đề tài có giá trị thựctiễn cao hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 2017

Tác giả luận văn

NGUYỄN XUÂN BẮC

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI 8

1.1 Bản chất, chức năng và vai trò hoạt động bảo hiểm tiền gửi 8

1.2 Nội dung hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi 16

1.3 Yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi 20

1.4 Kinh nghiệm thực hiện hoạt động chi trả bảo hiểm iền gửi của một số nước và bài học rút ra cho Việt Nam 30

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BHTG CỦA CHI NHÁNH BHTG VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 36

2.1 Tổng quan về Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội 36

2.2 Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội 44

2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội 48

Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA CHI NHÁNH BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 67

3.1 Định hướng hoạt động của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội 67

3.2 Các giải pháp hoàn thiện hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội 69

3.3 Kiến nghị 76

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 84

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Viết đầy đủ

BHTG Bảo hiểm tiền gửi

CAMELS Nhóm tiêu chuẩn giám sát

CNTT Công nghệ thông tin

FDIC Tổng Công ty Bảo hiển tiền gửi Liên Bang Hoa Kỳ

FSMIMS Dự án Hệ thống thông tin quản lý và hiện đại hóa hoạtđộng ngân hàng

HMCT Hạn mức chi trả

IADI Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế

NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHTM Ngân hàng thương mại

MATTC Mạng an toàn tài chính

QTDND Quỹ tín dụng nhân dân

TCTD Tổ chức tín dụng

Trang 6

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ HÌNH, SƠ ĐỒ

Bảng 1.1: Chức năng nhiệm vụ của các mô hình hệ thống BHTG 12

Bảng 1.2 Trở ngại thường gặp trong quá trình chi trả BHTG 21

Bảng 2.1 Tổng hợp tình hình chi trả BHTG của Chi nhánh đến nay 48

Bảng 2.2 Cơ cấu cán bộ Chi nhánh theo trình độ chuyên môn 64

Biểu đồ 2.1 Số lượng các tổ chức tham gia BHTG trên địa bàn thuộc Chi nhánh phụ trách 43

Biểu đồ 2.2 Mối quan tâm khi gửi tiền vào ngân hàng của người gửi tiền 54

Biểu đồ 2.3 Kết quả Cuộc thi tìm hiểu về BHTG 54

Biểu đồ 2.4 Diễn biến tỉ lệ hạn mức chi trả BHTG/thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam 58

Biểu đồ 2.5 Cơ cấu tiền gửi ở Việt Nam theo số tiền 60

Hình 1.1 Mô hình chi trả hiệu quả 19

Hình 1.2 Mô hình chi trả truyền thống 20

Hình 2.1 Hạn mức chi trả/GDP bình quân đầu người 59

Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức của BHTG Việt Nam 38

Sơ đồ 2.2 Bộ máy tổ chức của Chi nhánh BHTG Việt Nam tại TP Hà Nội 40

Sơ đồ 2.3 Quy trình chi trả BHTG 46

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động của các tổ chức trong hệ thống tài chính ngân hàng luôn tiềm ẩnnhững rủi ro, đặc biệt là rủi ro mất khả năng thanh toán Khi một tổ chức gặp rủi romất khả năng thanh toán thì có thể dẫn đến hiện tượng đổ vỡ dây chuyền trong hệthống, làm giảm niềm tin của công chúng và các nhà đầu tư đối với hệ thống ngânhàng nói riêng và nền kinh tế nói chung, và gây khó khăn cho các tổ chức ngânhàng trong việc huy động vốn và sử dụng vốn, gây bất ổn nền kinh tế Vì vậy, việcthành lập tổ chức BHTG là một giải pháp hữu hiệu giúp ngăn ngừa và xử lý khinguy cơ này xảy ra

Cùng với xu hướng thành lập mô hình BHTG trên thế giới và sự hội nhậpkinh tế quốc tế mạnh mẽ ở nước ta thời kì đó, việc thành lập tổ chức BHTG là vôcùng cần thiết Trong bối cảnh đó, BHTG Việt Nam đã được thành lập theo Quyếtđịnh số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức

đi vào hoạt động từ ngày 07/07/2000 và là tổ chức duy nhất thực hiện chính sáchBHTG nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của NGT; hỗ trợ các TCTD gặp khó khăn;kiểm soát và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Mỗi quốc gia, tổ chức BHTG có mô hình hoạt động khác nhau, với các chứcnăng chính như: Thu phí, kiểm tra, giám sát, chi trả BHTG… Trong đó, hoạt độngchi trả BHTG như là “chốt chặn” đảm bảo cho sự an toàn của hệ thống tài chínhngân hàng Nghiệp vụ chi trả BHTG được thực hiện càng nhanh, càng chính xác thì

sẽ giúp hạn chế được hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống, thể hiện rõ vai trò,hiệu quả của tổ chức BHTG

Tại Việt Nam, sau hơn 17 năm thành lập và phát triển, BHTG Việt Nam đãtriển khai có hiệu quả chính sách BHTG Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã chi trả cho1.793 người gửi tiền tại 39 tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là QTDND trên địabàn 11 tỉnh, thành phố với tổng số tiền chi trả là hơn 26.778 triệu đồng [2, tr71],góp phần ngăn ngừa đổ vỡ hệ thống, đảm bảo an sinh xã hội và không dùng ngânsách nhà nước để chi trả cho người gửi tiền

Trang 8

Tuy nhiên, hoạt động chi trả của BHTG Việt Nam nó chung, Chi nhánhBHTGVN tại thành phố Hà Nội nói riêng mới chỉ thực hiện chi cho người gửi tiền ởmột số QTDND Nay với sự cho phép, về nguyên tắc, phá sản các ngân hàng yếukém, rõ ràng nghiệp vụ chi trả tiền BHTG có sẽ phải đẩy mạnh hơn với quy môngười thụ hưởng rất lớn Nếu không đảm bảo được tính nhanh chóng và chính xác,thì rất có khả năng xảy ra hiện tượng rút tiền hàng loạt ở các ngân hàng khác, có thểgây ra hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền do ngân hàng mất khả năng chi trả.

Mặt khác, việc xác định đối tượng được bảo hiểm trong quá trình chi trả cònthực hiện thủ công, nên thời gian hoàn thành thủ tục chi trả không được nhanhchóng và có thể bỏ sót nếu khối lượng khách hàng rất lớn như ở các NHTM Chính

vì vậy, hiện nay hoạt động chi trả tiền BTHG là vấn đề còn nhiều nội dung cần hoànthiện để phù hợp với thực tế

Với những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng của

mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài luận văn, tác giả đã tìm đọc một

số tài liệu, đề tài nghiên cứu khoa học về hoạt động BHTG và chi trả BHTG như:

Trung tâm Thông tin khoa học, Viện nghiên cứu lập pháp (2009), Kinh nghiệm quốc tế về tổ chức BHTG hiệu quả, Trên những năm vừa qua chưa có một

mô hình tổ chức BHTG thống nhất áp dụng cho tất cả các quốc gia Để đảm bảo antoàn hệ thống ngân hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống BHTG, Ủyban Basel về giám sát ngân hàng và Hiệp hội BHTG quốc tế đã tiến hành khảo sát,nghiên cứu và ban hành tài liệu “Các nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTGhiệu quả” Kết quả hướng dẫn khẳng định, điều kiện tiên quyết cho hệ thống BHTGhiệu quả gồm: cơ sở pháp lý đầy đủ, hoạt động độc lập, quản trị minh bạch, chứcnăng nhiệm vụ đầy đủ và cơ chế phối hợp chặt chẽ với các thành viên tham giaMATTC quốc gia Đây là căn cứ để các quốc gia vận dụng xây dựng hoặc cải cách

hệ thống BHTG phù hợp với đặc thù phát triển kinh tế xã hội và cấu trúc hệ thống

Trang 9

tài chính Tài liệu đã xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động BHTG, phân tích các

mô hình tổ chức và cơ chế quản lý đối với hệ thống BHTG Tìm hiểu về cơ cấuquản trị và điều hành tổ chức BHTG, cơ chế phối hợp giữa tổ chức BHTG và các cơquan khác trong MATTC [32]

Nguyễn Duy Toàn (2011), Pháp luật về tổ chức BHTG ở Việt Nam, Luận văn

thạc sĩ Luật, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Trình bày một số vấn đề lý luận

về BHTG và tổ chức BHTG như: sự hình thành, phát triển, khái niệm, bản chất,mục đích của BHTG và vai trò của tổ chức BHTG Nghiên cứu thực trạng pháp luật

về hoạt động của tổ chức BHTG ở Việt Nam.Trên cơ sở phân tích các nhu cầu và cơ

sở hoàn thiện pháp luật về tổ chức BHTG, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng caohiệu quả của pháp luật về tổ chức BHTG ở Việt Nam [31]

Nguyễn Đình Hảo (2013), Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTG Việt Nam trên địa bàn Bắc Trung Bộ, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh,

Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Tác giả luận văn đãnghiên cứu tổng quan lý luận chung về BHTG, các quy định hiện hành của Phápluật Nhà Nước về BHTG; những thông lệ quốc tế về BHTG, bài học kinh nghiệmcho Việt Nam; Qua việc phân tích, đánh giá tổng quan, cơ cấu tổ chức, các hoạtđộng chính của BHTG Việt Nam và phân tích thực trạng hoạt động tại Chi nhánhkhu vực Bắc Trung Bộ, đánh giá những kết quả đạt được, các thành tựu và chỉ ranhững tồn tại, hạn chế và vướng mắc cũng như nguyên nhân của chúng; Đề xuất giảipháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTG Việt Nam trên địabàn khu vực Bắc Trung Bộ [11]

Vũ Thị Mỹ Hương (2011), Hoàn thiện chính sách BHTG trong MATTC quốc gia, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện hành chính quốc gia Tác

giả đã hệ thống hóa và bổ sung những lý luận về chính sách về BHTG Phân tíchthực trạng các chính sách BHTG ở Việt Nam.Trên cơ sở quan điểm của Đảng vàNhà nước về chính sách tài chính quốc gia đề xuất các định hướng và giải pháphoàn thiện các chính sách BHTG của Việt Nam trong thời gian qua [14]

Trang 10

Chu Thị Thanh Hương (2013), Điều chỉnh HMCT BHTG tại tổ chức BHTG Việt Nam- DIV, Luận văn thạc sĩ TC-NH, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí

Minh Tác giả luận văn đã hệ thống hóa các lý luận liên quan đến hoạt động BHTG

và chi trả BHTG.Phân tích thực trạng các hoạt động này từ đó rút ra kết luận nhữngthành công và hạn chế liên quan Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp

và kiến nghị liên quan đến hoạt động BHTG nói chung và việc điều chỉnh HMCTBHTG nói riêng [13]

Ngoài ra, tác giả đề tài cũng tìm đọc và nghiên cứu một số tài liệu khác liên

quan đến đề tài nghiên cứu như: Đặng Duy Cường (2007), “Mô hình tổ chức BHTG giảm thiểu rủi ro”, Thông tin BHTG [9, tr5]; Lê Thị Thúy Sen (2008), Quy chế pháp lý về BHTG, Viện Nhà nước và Pháp luật [24]; Bùi Khắc Sơn (2007), “Xây dựng Luật BHTG - Yêu cầu tất yếu và cấp thiết khi Việt Nam gia nhập WTO”,

Thông tin BHTG [26]…Các đề tài khoa học và luận văn trên đều có nghiên cứu liênquan đến hoạt động BHTG Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp vềhoạt động chi trả BHTG ở Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các lý luận và thực trạng hoạt động chi trả BHTG, đềxuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG tạithành phố Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

i Làm sáng tỏ các khái niệm liên quan và hệ thống hóa các lý luận liên quanđến hoạt động chi trả BHTG

ii Đánh giá thực trạng hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG tạithành phố Hà Nội, chỉ ra những thành công và hạn chế của hoạt động này

iii Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị hoàn thiện hoạt động chi trả BHTGcủa Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội trong thời gian tới

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG

tại thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: Đề tài nghiên cứu hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh

BHTG tại thành phố Hà Nội dưới góc độ của chuyên ngành Tài chính – Ngân hàngvới các nội dung như cơ sở pháp lý của hoạt động, nguyên tắc, quy trình, phươngpháp chi trả BHTG…

Về không gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh

BHTG tại thành phố Hà Nội, khảo sát điều tra cán bộ nhân viên Chi nhánh BHTGtại thành phố Hà Nội và BHTG Việt Nam

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh

BHTG tại thành phố Hà Nội từ năm 2002, đề xuất các giải pháp đến năm 2025

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chung xuyên suốt cả đề tài là phương pháp duy vậtbiện chứng Áp dụng phương pháp này, hoạt động chi trả BHTG được xem nhưluôn biến đổi, vận động nên cần được quan tâm đổi mới, đồng thời sử dụng phươngpháp duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh

để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu

5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu

5.2.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp.

Nguồn dữ liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu đề tài luận văn gồm có:

- Các giáo trình, các luận văn, luận án, công trình khoa học khác có liên quanđến đề tài luận văn để hệ thống và xây dựng khung lý thuyết cho đề tài nghiên cứucủa luận văn;

- Các báo cáo tổng hợp liên quan đến hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánhBHTG thành phố Hà Nội, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội của cácphòng ban chức năng của Chi nhánh BHTG thành phố Hà Nội, thời gian từ năm

Trang 12

2002 đến năm 2016 làm cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội.

- Kế thừa, sử dụng kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước,các thông tin liên quan đến đề tài trên sách báo, tạp chí khoa học, các trang web

5.2.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp

Để có thông tin đầy đủ cho mục đích nghiên cứu, tác giả sử dụng phươngpháp điều tra bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn

Để có thêm thông tin nhằm đưa ra các nhận xét, đánh giá và các kết luận vềthực trạng hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội thờigian qua, tác giả thực hiện khảo sát ý kiến của các đối tượng là các cán bộ quản lýcủa chi nhánh, khách hàng tham gia BHTG Cụ thể:

- Với cán bộ của Chi nhánh BHTG thành phố Hà Nội và BHTG Việt Nam,lựa chọn 50 cán bộ để khảo sát

- Với các tổ chức, cá nhân tham gia BHTG tác giả lựa chọn 50 người đề khảosát

Trên cơ sở phiếu điều tra đã được thiết kế, tiến hành lập danh sách cần điềutra và phát phiếu điều tra dưới hình thức: gửi phiếu điều tra trực tiếp hoặc qua email Thời gian điều tra được tiến hành từ tháng 01/06/2017 đến tháng 30/06/2017

5.3 Phương pháp xử lý dữ liệu:

Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu khảo sát đảmbảo chính xác và độ tin cậy cao Từ đó, tác giả định lượng kết quả nghiên cứu vàcác nhận xét, đánh giá khoa học Trong luận văn này, tác giả sẽ chủ yếu áp dụngcông thức trong phần mềm excel để tính tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình

Ngoài ra, đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để phân tích dữ liệu khảo sát điều tra

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận giải một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về hoạt động chi trả BHTG, những khái niệm liên quan…

Trang 13

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Phân tích, đánh giá tình hình tham gia BHTG, thực trạng hoạt động chi trảBHTG của Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội Xây dựng và đề xuất một sốgiải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánhBHTG tại thành phố Hà Nội cho giai đoạn đến năm 2025

Kết quả nghiên cứu giúp cá nhân có thêm kỹ năng, phương pháp giải quyếtvấn đề thuộc lĩnh vực của mình từ góc độ tiếp cận Tài chính – Ngân hàng Luận văn

có thể là tài liệu tham khảo trong học tập và nghiên cứu về lĩnh vực Tài chính –Ngân hàng

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung chính được cơ cấu thành 3 chương:

Chương 1: Nội dung cơ bản về hoạt động chi trả BHTG của tổ chức BHTG Chương 2: Thực trạng hoạt động chi trả bảo hiểm của Chi nhánh BHTG Việt

Nam tại thành phố Hà Nội

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh

BHTG Việt Nam tại thành phố Hà Nội

Trang 14

Chương 1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI

CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI

1.1 Bản chất, chức năng và vai trò hoạt động bảo hiểm tiền gửi

1.1.1 Bản chất của hoạt động bảo hiểm tiền gửi

1.1.1.1 Sự ra đời của hoạt động bảo hiểm tiền gửi

Sự ra đời của hoạt động BHTG gắn liền với việc chuyển từ hình thức “bảo vệngầm”, một cam kết không công khai trước công chúng của Chính phủ về việc bảo

vệ tiền gửi của NGT, sang hình thức bảo vệ công khai Theo đó NGT sẽ được chitrả một phần hoặc toàn bộ tiền gửi cùng với tiền lãi nhập gốc trên tài khoản tiền gửikhi ngân hàng đổ bể theo hợp đồng hoặc cam kết công khai

Việc bảo vệ tiền gửi công khai đầu tiên được thực hiện ở New York năm

1829 với tên gọi “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, đối tượng baogồm tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi Từ năm 1831 đến năm

1858, năm bang gồm: Vermont, Indiana, Michigan, Ohia, Iowa đã thành lập tổ chứcBHTG với sự tham gia tự nguyện của các ngân hàng nhằm: bảo vệ cộng đồng khi cóngân hàng đổ bể, bảo vệ NGT cá nhân và người gửi các công cụ huy động tiền gửi.Mặc dù các tổ chức này hoạt động khá hiệu quả trong thời gian đầu nhưng cuốicùng vẫn phải đóng cửa do: (i) Sự ra đời của chính sách ngân hàng tự do ở Mỹ năm

1830 đã tạo điều kiện cho một số lượng lớn các ngân hàng có thể rút ra khỏi tổ chứcBHTG; (ii) Sự thành lập hệ thống ngân hàng quốc gia năm 1886 cho phép cácNHNN các bang chuyển thành ngân hàng quốc gia và có thể rút ra khỏi tổ chứcBHTG; (iii) Các tác động xấu của cuộc suy thoái kinh tế 1929 - 1933 làm nhiềungân hàng phải đóng của dẫn dến sự tan rã của các tổ chức BHTG

Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, để ứng phó với tình huống và nhanh chóng

ổn định tình hình kinh tế, chính trị, Chính phủ cần đứng ra bảo vệ quyền lợi củangười dân gửi tiền Vì vậy, năm 1933, Tổng công ty BHTG liên bang Mỹ (FederalDeposit Insurance Corporation - FDIC) được thành lập và bắt đầu hoạt động từ

Trang 15

ngày 1/1/1934 Đây cũng được xem là mô hình tổ chức BHTG công khai đầu tiêntrên thế giới Trước sự thành công của FDIC, mô hình BHTG đã được thành lập vàphát triển ở rất nhiều nước như Na Uy (1961), Ấn Độ (1963), Philippines (1963),Đức (1966), Canada (1967), Phần Lan (1969), Nhật Bản (1971), Bỉ (1974), Hà Lan

có gần 130 tổ chức BHTG công khai trên thế giới, trong đó có 83 tổ chức là thànhviên của IADI Do bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp cả về kinh tế,chính trị, xã hội và khoa học công nghệ, tổ chức BHTG có xu hướng gia tăng

1.1.1.2 Bản chất và đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi

Theo Điều 4, Luật BHTG 2012 thì BHTG là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửicho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTGlâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho NGT hoặc phá sản [23]

Theo thông lệ quốc tế, hiện nay trên thế giới có 2 xu hướng tham gia BHTG,

đó là các Tổ chức tham gia BHTG có thể tham gia BHTG một cách bắt buộc hoặc

tự nguyện Điều này tùy thuộc vào chính sách TC-NH của mỗi quốc gia Tuy nhiên,qua nghiên cứu ở các nước, cho thấy xu hướng phổ biến hiện nay là tham giaBHTG bắt buộc

BHTG cũng mang bản chất của các loại hình bảo hiểm nói chung, tức là hoạtđộng theo nguyên lý lấy số đông bù số ít nhưng bên cạnh đó nó còn mang tính chấtđặc thù, đó là: Hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ công, có nghĩa làBHTG là công cụ được sử dụng để thực hiện chính sách công của từng quốc gia

Trang 16

Hoạt động của tổ chức BHTG thông thường không vì mục tiêu lợi nhuận.Chính phủ các quốc gia thành lập tổ chức BHTG nhằm mục đích để thực hiện chínhsách công Bởi trong thực tế, hoạt động TC-NH là hoạt động nhạy cảm, gắn với tínhlan truyền rất cao; đồng thời sự đổ vỡ của hệ thống TC-NH sẽ ảnh hưởng đến toàn

bộ nền kinh tế và gây ra những bất ổn về mặt xã hội Do đó Chính phủ các quốc gia

đã sử dụng công cụ tài chính là BHTG nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển antoàn, lành mạnh của hệ thống TC-NH và ổn định xã hội

1.1.1.3 Sự khác biệt so với các loại hình bảo hiểm khác

BHTG và các và các loại hình Bảo hiểm thương mại khác bên cạnh nhữnggiống nhau điểm giống nhau thì hoạt động BHTG có những điểm khác biệt, điều đóđược thể hiện như sau:

Thứ nhất, về tính chất hoạt động: Cũng giống như các loại hình bảo hiểm

thương mại khác, hoạt động BHTG mang tính chất chung của hoạt động bảo hiểmtức là dựa trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít Tuy nhiên, đây là một loại hìnhmang tính chất đặc thù vì BHTG là công cụ thực hiện chính sách công với vai trò cơbản là bảo vệ NGT, góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn và lành mạnh của hệthống tài chính quốc gia Tính đặc thù của BHTG so với các loại hình bảo hiểmthương mại khác được thể hiện ở các khía cạnh như cơ chế bảo hiểm, chủ thể thamgia bảo hiểm, đối tượng nộp phí, đối tượng được hưởng các quyền lợi bảo hiểm

Thứ hai, về cơ chế bảo hiểm: Ở các loại hình bảo hiểm thương mại khác khi

chủ thể tham gia bảo hiểm sẽ xuất hiện mối quan hệ trực tiếp giữa một bên là đốitượng bảo hiểm và một bên là đối tượng được bảo hiểm Còn ở BHTG thì khác, mặc

dù NGT là người được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách BHTG nhưng không xuấthiện mối quan hệ trực tiếp về BHTG giữa NGT và tổ chức BHTG trừ trường hợpkhi xẩy ra đổ vỡ của TCTD

Thứ ba, về chủ thể tham gia BHTG: Theo quy định, bất cứ một TCTD hoặc

không phải là TCTD nhưng có hoạt động huy động tiền gửi của dân cư thì phảitham gia BHTG một cách bắt buộc Trách nhiệm đóng phí thuộc về tổ chức thamgia BHTG

Trang 17

Thứ tư, đối tượng được hưởng các quyền lợi bảo hiểm: Mặc dù người được

hưởng các quyền lợi trực tiếp từ chính sách BHTG là NGT, nhưng NGT không phảitrực tiếp tham gia BHTG Theo đó trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG bị giảithể hoặc phá sản thì tổ chức BHTG sẽ thay mặt Chính phủ đứng ra chi trả tiền gửiđược bảo hiểm cho NGT theo quy định của Pháp luật mỗi quốc gia Số tiền vượtquá HMCT tiền gửi được bảo hiểm cho mỗi khoản tiền gửi của cá nhân ở NGT sẽđược nhận trong quá trình thanh lý tổ chức tham gia BHTG, với thứ tự ưu tiên về vịtrí chủ nợ theo quy định của pháp luật về giải thể hoặc phá sản.Tổ chức tham giaBHTG được hưởng lợi gián tiếp từ việc tham gia BHTG: Được giám sát bởi một cơquan Nhà nước, huy động vốn từ dân cư sẽ dễ dàng hơn do ở NGT biết họ sẽ đượcbảo hiểm khi gửi tiền tại tổ chức đã tham gia BHTG

Thứ năm, về đối tượng tham gia BHTG: Là các TCTD hoặc không phải là tổ

chức tín nhưng có hoạt động ngân hàng Đối tượng tham gia của các loại hình bảohiểm thương mại là các tổ chức hoặc cá nhân

Thứ sáu, cơ chế tham gia bảo hiểm: Cơ chế tham gia BHTG là bắt buộc Tất

cả các TCTD hoặc không phải là TCTD được phép thực hiện một số hoạt độngngân hàng theo quy định của pháp luật mà có nhận tiền gửi của tổ chức hoặc cánhân (gọi tắt là tổ chức tham gia BHTG) phải tham gia BHTG bắt buộc, còn đối vớicác loại hình khác thì có thể thỏa thuận

Thứ bảy, hình thức pháp lý tham gia: Ở BHTG đó là sự bắt buộc của các tổ

chức tham gia BHTG mà không thông qua hợp đồng bảo hiểm Sở dĩ không xuấthiện hợp đồng BHTG giữa tổ chức BHTG và các tổ chức tham gia BHTG vì hợpđồng phải dựa trên cơ sở thỏa thuận, còn mối quan hệ giữa các chủ thể tham giaBHTG là theo hình thức bắt buộc Còn ở các loại hình bảo hiểm thương mại khácthì thông thường phải thông qua hợp đồng bảo hiểm

Thứ tám, nội dung bảo hiểm: Nội dung BHTG theo quy định của phát luật và

là sự bắt buộc, còn ở các loại hình bảo hiểm khác thì có thể do sự lựa chọn, thỏathuận của chủ thể về nội dung tham gia bảo hiểm

Trang 18

1.1.2 Chức năng của bảo hiểm tiền gửi

Chức năng cơ bản của BHTG là việc đảm bảo an toàn và hoàn trả Hoạt độngBHTG trên thế giới hiện nay được tổ chức triển khai theo ba mô hình BHTG: Môhình giảm thiểu rủi ro, Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng và Mô hình chi trả.Chức năng nhiệm vụ của các mô hình hệ thống BHTG được so sánh qua Bảng 1.1

Bảng 1.1: Chức năng nhiệm vụ của các mô hình hệ thống BHTG

Chức năng nhiệm vụ Chi trả

Chi trả với quyền hạn

mở rộng

Giảm thiểu rủi ro

Can thiệp vào hoạt động của tổ chức tham

Nguồn: Hiệp hội BHTG quốc tế - IADI

Tùy vào mục đích và mô hình tổ chức BHTG của từng quốc gia mà nội dungBHTG được tổ chức BHTG thực hiện thông qua những nghiệp vụ cụ thể khác nhau.Tuy nhiên, nhìn chung các tổ chức BHTG trên thế giới đều thực hiện các nhómnghiệp vụ cơ bản là: Bảo hiểm tài chính cho NGT, giám sát hoạt động của các tổchức tham gia BHTG, hỗ trợ tổ chức tham gia BHTG

Trang 19

1.1.2.1 Bảo hiểm tài chính cho người gửi tiền

BHTG thực hiện cam kết thanh toán cho NGT thuộc đối tượng được bảohiểm, bao gồm cả gốc lẫn lãi, theo một mức độ nhất định tùy thuộc quy đinh vềHMCT tiền bảo hiểm tại mỗi quốc gia Việc chi trả được thực hiện khi tổ chức thamgia BHTG chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán

Để bảo vệ quyền lợi cho NGT khi đổ vỡ ngân hàng, Tổ chức BHTG tạo lậpquỹ BHTG thông qua hình thức thu phí đối với các tổ chức tham gia BHTG PhíBHTG là khoản tiền mà tổ chức tham gia BHTG phải nộp cho tổ chức BHTG để bảohiểm cho tiền gửi của người được BHTG tại tổ chức tham gia BHTG Hiện nay, trênthế giới có 2 phương thức thu phí chủ yếu: đồng hạng và theo mức độ rủi ro Với cáchtính phí đồng hạng, số tiền phí phải nộp được tính theo một tỷ lệ phí đồng nhất ápdụng cho tất cả các tổ chức tham gia BHTG Cách tính phí theo mức độ rủi ro với các

tỷ lệ phí khác nhau, có phân biệt áp dụng cho từng nhóm tổ chức tham gia BHTG theonguyên tắc tổ chức có rủi ro cao hơn phải nộp phí cao hơn và ngược lại

Sau khi chi trả, tổ chức BHTG thường có vai trò trong việc quản lý các mốiquan hệ tài chính của tổ chức tham gia BHTG Điều này được thể hiện qua hoạtđộng thanh lý tài sản …Các hoạt động này giúp tổ chức BHTG thu hồi một phầnvốn khi thực hiện công tác chi trả

1.1.2.2 Giám sát hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

Giám sát hoạt động hay giám sát từ xa của tổ chức BHTG đối với các tổchức tham gia BHTG là quá trình theo dõi, phân tích, đánh giá tình hình hoạt động

và mức độ rủi ro của tổ chức tham gia BHTG từ các nguồn thông tin về tổ chứctham gia BHTG mà tổ chức BHTG có được Hoạt động này được tiến hành thườngxuyên, định kỳ nhằm đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về BHTG vàcác quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng, từ đó đưa ra cảnh báo,

đề xuất biện pháp chấn chỉnh kịp thời, giúp tổ chức tham gia BHTG hoạt động đúngpháp luật, an toàn và hiệu quả Đây còn là cơ sở để tiến hành hoạt động kiểm tra tổchức tham gia BHTG theo phương thức chọn mẫu nhằm giảm gánh nặng về tàichính và nhân lực cho tổ chức BHTG

Trang 20

1.1.2.3 Hỗ trợ tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi

Hỗ trợ tài chính của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG đượcthực hiện thông qua hình thức cho vay hỗ trợ khi các tổ chức này gặp khó khăn vềkhả năng thanh khoản và thanh toán; mua lại các tài sản có, đặc biệt là tài sản cóchưa đến hạn thanh toán; bảo lãnh để tổ chức tham gia BHTG đi vay vốn tại đơn vịkhác Hoạt động này nhằm giúp tổ chức BHTG vượt qua giai đoạn khủng hoảng vềtính thanh khoản, khôi phục hoạt động, từ đó duy trì sự ổn định, an toàn của toàn hệthống ngân hàng của quốc gia Tuy nhiên, các quyết định hỗ trợ tài chính cần đượctính toán chi tiết, thận trọng và lập kế hoạch kỹ càng trước khi thực hiện nhằm tránhviệc tốn kém chi phí mà không giải quyết được triệt để vấn đề và làm gia tăng rủi rođạo đức

Song song với hoạt động hỗ trợ tài chính, tổ chức BHTG cũng thực hiện cácphương án hỗ trợ về tổ chức và nâng cao năng lực quản lý bằng cách đưa ra cáckhuyến cáo về đổi mới cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động và triển khai nghiệp vụ,tìm kiếm đối tác liên kết… nhằm giúp tổ chức tham gia BHTG nhanh chóng vượtqua khó khăn, khôi phục hoạt động bình thường, tránh ảnh hưởng đến hoạt độngcủa các tổ chức lân cận

1.1.3 Vai trò của hoạt động bảo hiểm tiền gửi

Vì BHTG là sản phẩm của nền kinh tế thị trường và chỉ xuất hiện trong nềnkinh tế thị trường nên vai trò của BHTG xuất phát từ bản chất của hoạt động tàichính luôn gắn liền yếu tố niềm tin, mang tính nhạy cảm và có tính lan truyền cao

1.1.3.1 Chia sẻ rủi ro cho người gửi tiền và các tổ chức tham gia bảo hiểm

BHTG có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ NGT, nâng cao niềm tin củacông chúng đối với hệ thống TC-NH Bởi lẽ, trong nền kinh tế thị trường, bảo vệngười tiêu dùng nói chung và NGT nói riêng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi Chínhphủ Bảo vệ người tiêu dùng là đảm bảo cân bằng giữa sự phát triển và đảm bảoquyền lợi của người dân trong xã hội dân sự Do đó BHTG là một công cụ tài chínhhữu hiệu được hầu hết các Chính phủ sử dụng để bảo vệ NGT Đặc biệt là những

Trang 21

người có những hạn chế nhất định trong việc tiếp cận các thông tin về điều hành và hoạt động của TCTD nơi họ gửi tiền.

Tổ chức BHTG có nhiệm vụ thay mặt Chính phủ bảo vệ tiền gửi của ngườidân và trong trường hợp TCTD bị đổ vỡ thì tổ chức BHTG phải có trách nhiệm chitrả toàn bộ hoặc một phần tiền gửi cho NGT Điều đó làm giảm gánh nặng về mặttài chính cho NGT cũng như các tổ chức tham gia BHTG

1.1.3.2 Góp phần bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng

BHTG giúp xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thốngTC-NH và đó là yêu cầu đặt ra với bất kỳ Chính phủ nào trên thế giới Hơn nữa, nếungười dân không tin tưởng vào hệ thống ngân hàng nói chung và TCTD nói riêng,lập tức người dân sẽ có hành động rút tiền ra khỏi hệ thống ngân hàng Trường hợpnày vô cùng nguy hiểm nếu hiện tượng này xẩy ra hàng loạt và điều đó có thể dẫnđến đổ vỡ ngân hàng gây nguy hại đến toàn bộ nền kinh tế Lịch sử hoạt động TC-

NH đã xẩy ra khá nhiều vụ rút tiền ồ ạt, gây ra sự tê liệt và đổ vỡ của các ngân hàngnhư ở Mỹ vào những năm 1920, 1930 hay ở châu Á năm 1997 và gần đây nhất là ởAnh, Mỹ (Ngân hàng Northem Rock của Anh và ngân hàng Contrywide của Mỹ)

BHTG xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngânhàng thông qua các hoạt động như: Cung cấp đầy đủ cho công chúng thông tin vềcác ngân hàng; Thực hiện các nghiệp vụ kiểm tra, giám sát rủi ro đối với các tổchức tham gia BHTG; Hỗ trợ các tổ chức tham gia BHTG khi gặp khó khăn về tàichính nhằm phục hồi hoạt động của các tổ chức đó; Xử lý TCTD đổ vỡ; BHTG tạo

sự cạnh tranh bình đẳng giữa các TCTD; Góp phần thúc đẩy đảm bảo an toàn, lànhmạnh của hoạt động ngân hàng từ khi cấp phép cho đến khi chấm dứt hoạt động

1.1.3.3 Góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Hoạt động BHTG góp phần phát triển kinh tế và ổn định xã hội Hệ thốngngân hàng được xem là kênh huy động và phân phối vốn chủ yếu của nền kinh tế.Bên cạnh đó, tiền tiết kiệm của dân cư cũng là nguồn vốn đầu tư tiềm năng và bềnvững Tổ chức BHTG thực hiện tốt hai vai trò nêu trên chính là góp phần thúc đẩyhuy động vốn cho đầu tư phát triển Mặt khác, sự hình thành của hệ thống BHTG

Trang 22

giúp phân tán, chia xẻ rủi ro trong hoạt động TC-NH cho nhiều bên liên quan, giảmgánh nặng tài chính cho Chính phủ trong trường hợp xử lý đổ vỡ của TCTD, đồngnghĩa với việc giảm gánh nặng đóng thuế cho người dân từ đó góp phần duy trì trật

tự và ổn định xã hội

1.2 Nội dung hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi

1.2.1 Khái niệm hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi

Chi trả tiền bảo hiểm là một trong những chức năng cơ bản của các hệ thốngBHTG, không phân biệt ngầm hay công khai, cấp vốn trước hay cấp vốn sau Theođịnh nghĩa về chi trả BHTG của IADI: “Chi trả tiền bảo hiểm là một trong nhữngnhiệm vụ chính của tổ chức BHTG Theo đó, tổ chức BHTG phải có trách nhiệmchi trả tiền bảo hiểm kịp thời cho NGT khi một ngân hàng bị cơ quan chức năngtuyên bố đóng cửa.” Từ bảng so sánh chức năng nhiệm vụ của các mô hình hệ thốngBHTG (Bảng 1.1), dễ dàng nhận thấy, chi trả tiền bảo hiểm là hoạt động cơ bảnnhất của tất cả các mô hình tổ chức BHTG trên thế giới

Chi trả BHTG được hiểu là việc thực hiện cam kết thanh toán khoản tiền gửiđược bảo hiểm bao gồm tiền gốc và tiền lãi của tổ chức BHTG cho NGT thuộc đốitượng được bảo hiểm trong HMCT [24, tr20]

Chi trả tiền bảo hiểm cho NGT gắn chặt với hai yếu tố chính là thời gian và

sự thuận tiện Chi trả kịp thời và chính xác giúp duy trì niềm tin công chúng, tránhtâm lý hoảng loạn của NGT dẫn đến rút tiền hàng loạt; giảm thiểu hiệu ứng

“domino” lây lan từ ngân hàng này sang ngân hàng khác và ảnh hưởng đến kinh tế.NGT sẽ thay đổi hành vi nếu biết được chi trả kịp thời và đáp ứng mong đợi của họ.Quá trình chi trả bị trì hoãn có thể ảnh hưởng đến niềm tin vào BHTG, tác động đến

sự ổn định

Từ khái niệm trên có thể thấy đối tượng hưởng BHTG là NGT thuộc đốitượng bảo hiểm có các khoản tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTGkhi tổ chức này đổ vỡ, phá sản và mất khả năng thanh toán Số tiền bảo hiểm đượchưởng bằng số tiền gốc và lãi của các khoản tiền gửi được bảo hiểm, tối đa khôngvượt quá HMCT BHTG

Trang 23

1.2.2 Nội dung hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi

1.2.2.1 Xác định hạn mức chi trả

HMCT “là khoản tiền tối đa mà tổ chức BHTG sẽ thanh toán cho NGT thuộcđối tượng được BHTG tại các tổ chức tham gia BHTG khi phát sinh nghĩa vụ trả

tiền bảo hiểm” (Nguồn: www.div.gov.vn).

Đối với NGT, họ luôn muốn nhận lại toàn bộ khoản tiền gửi tại tổ chức thamgia BHTG bị phá sản, đồng nghĩa với HMCT BHTG là 100% số dư tiền gửi đượcbảo hiểm Tuy nhiên, không có tổ chức BHTG nào thực hiện điều này vì làm giatăng nguy cơ rủi ro đạo đức, họ chỉ thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định

Kinh nghiệm của các nước cho thấy, cơ sở để xây dựng HMCT gồm các chỉtiêu: Quy mô trung bình của các khoản tiền gửi của cá nhân, cơ cấu tiền gửi và cácyếu tố khác có liên quan như thu nhập bình quân đầu người, sự phát triển của cáccông cụ tài chính mới, lạm phát, lãi suất, những ảnh hưởng của các yếu tố trên lêncấu trúc và quy mô tiền gửi Do đó, các nước phát triển sẽ có HMCT cao, tại Mỹhiện nay là 250.000 USD, các nước thành viên Liên minh châu Âu là 20.000 EUR(khoảng 26.000 USD), Hàn Quốc là 50 triệu KRW (khoảng 48.454 USD)

1.2.2.2 Đối tượng chi trả bảo hiểm tiền gửi

Đối tượng thụ hưởng của chính sách BHTG là “NGT thuộc đối tượng bảohiểm” Cụ thể, đó là các khách hàng cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước có tiềngửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG theo quy định của từng quốc gia trongtừng giai đoạn Trong đó, tiền gửi được bảo hiểm là các khoản tiền gửi của khách hàngtại tổ chức tham gia BHTG được tổ chức BHTG cam kết thanh toán trong trường hợp

tổ chức tham gia BHTG đổ vỡ, phá sản

Để đảm bảo mục tiêu của chính sách BHTG là bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp cho số đông NGT, thông thường, có một số loại tiền gửi mà các nước có thểloại trừ khỏi danh mục các khoản tiền gửi được bảo hiểm, bao gồm: Tiền gửi củacác ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác; Tiền gửi của các cơ quan chính quyềntrung ương, khu vực và địa phương; Tiền gửi của tổ chức, doanh nghiệp; Tiền gửicủa Hội đồng quản trị, cổ đông, Ban điều hành, Ban kiểm soát của TCTD đó; Tiền

Trang 24

gửi của người thân các thành viên thuộc Hội đồng quản trị, cổ đông, Ban điều hành,Ban kiểm soát của TCTD hoặc các bên thứ ba đại diện của họ; Tiền gửi phát sinh từcác giao dịch có liên quan tới một tiền án đối với hành vi rửa tiền; Tiền gửi dướihình thức chứng khoán nợ hoặc “quỹ riêng” của các TCTD; Tiền gửi ngoại tệ.

Các khoản tiền gửi kể trên có thể không được bảo hiểm hoặc bảo hiểm hạnchế, có điều kiện tùy theo chính sách của từng quốc gia

Hầu hết tổ chức BHTG trên thế giới đều bảo hiểm cho các khoản tiền gửi cánhân và hạn chế việc BHTG của pháp nhân, đặc biệt là tiền gửi của doanh nghiệpnước ngoài tại các chi nhánh ngân hàng nước ngoài

1.2.2.3 Nguyên tắc chi trả bảo hiểm tiền gửi

Trong tài liệu tài liệu tham vấn “Các nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thốngbảo hiểm tiền gửi hiệu quả” được sửa đổi vào tháng 11/2014, khuyến nghị liên quantới thanh toán cho người gửi tiền được nói đến trong nguyên tắc số 15: “Hệ thốngBHTG cần hoàn trả tiền gửi được bảo hiểm cho NGT một cách nhanh chóng nhằmđóng góp vào sự ổn định tài chính Cần khởi động quá trình chi trả cho NGT thuộcđối tượng bảo hiểm một cách rõ ràng và minh bạch” [39, tr39]

Nội dung các tiêu chuẩn thiết yếu đối với chi trả BHTG là: “Tổ chức BHTG

có khả năng hoàn trả cho hầu hết NGT được bảo hiểm trong vòng 7 ngày làm việc.Nếu hiện tại tổ chức BHTG chưa thể thực hiện mục tiêu này, tổ chức BHTG cần cómột kế hoạch tại chỗ đáng tin cậy để thực hiện mục tiêu tương tự” [39, tr39]

Việc thực hiện theo tiêu chuẩn mới giúp các tổ chức BHTG thực hiện tốt hơnvai trò ổn định tâm lý NGT, tuy nhiên nó yêu cầu cao hơn đối với các tổ chứcBHTG về năng lực giám sát, kiểm tra, phối hợp với các cơ quan liên quan và tổchức quản lý trước khi thực hiện chi trả BHTG

IADI cũng khuyến nghị mở rộng thẩm quyền của tổ chức BHTG nhằm đápứng yêu cầu giúp NGT nhanh chóng tiếp cận với tiền gửi được bảo hiểm của họ

1.2.2.4 Quy trình chi trả bảo hiểm tiền gửi

Chi trả tiền BHTG là một công việc phức tạp, đòi hỏi tổ chức BHTG cần thiếtlập các nền tảng cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực ngay khi dự đoán một TCTD có khả

Trang 25

Cơ sở pháp lý

Tiếp cận thông tin

Chiến lược và nguyên tắc

Chuẩn bị chi trả Chi trảBHTG

Hoạt động liên tục Can thiệp Thanh lý Thời gian

năng bị phá sản Quy trình chi trả BHTG gồm 2 bước cơ bản là: chuẩn bị trước chi trả

và thực hiện chi trả BHTG Theo IADI, hiện nay quá trình chi trả có thể xây dựng theo

2 mô hình: mô hình chi trả hiệu quả và mô hình chi trả truyền thống

Đối với cả hai mô hình, việc chuẩn bị trước chi trả đều rất quan trọng vàquyết định phần lớn hiệu quả của quá trình chi trả Cụ thể như sau: phối hợp với các

cơ quan liên quan; đánh giá quỹ BHTG và các nguồn tài trợ khi cần thiết; rà soát,thu thập, đối chiếu thông tin NGT; xác định đối tượng được bảo hiểm, tổng số tiềnchi trả; xây dựng kế hoạch chi trả, thời gian chi trả mục tiêu; tổ chức nguồn nhânlực thực hiện việc chi trả; thiết lập các phương thức thanh toán và xác định các đốitác phối hợp trong việc chi trả BHTG; xây dựng chiến lược truyền thông để ứng phóvới sự phá sản của tổ chức tham gia BHTG

Tuy nhiên, mỗi mô hình có cường độ và thời gian thực hiện chuẩn bị trước

và trong quá trình chi trả khác nhau

Hình 1.1 Mô hình chi trả hiệu quả

Nguồn: [37, tr13]Trong mô hình chi trả hiệu quả, tổ chức BHTG tập trung nhiều hơn vào hoạtđộng chuẩn bị ngay từ khi dự đoán tổ chức tham gia BHTG có khả năng bị phá sản(Hình 1.1) Tổ chức BHTG luôn thu thập đầy đủ thông tin về NGT, từ khi tổ chức

đó hoạt động bình thường Việc này giúp cho tổ chức BHTG có thể chủ động hơn khixảy ra vấn đề chi trả Mô hình này được IADI khuyến khích tổ chức BHTG cácnước

Trang 26

Chuẩn bị chi trả Chi trả BHTG

Hoạt động liên tục Can thiệp Thanh lý Thời gian

thực hiện Tuy nhiên, hiện nay số lượng các tổ chức BHTG có khả năng triển khai theo mô hình này là rất ít, do hạn chế về khả năng tiếp cận và chuẩn hóa thông tin

Hình 1.2 Mô hình chi trả truyền thống

Nguồn: [37, tr13]Trong mô hình chi trả truyền thống thì tổ chức BHTG chỉ tập trung khi

TCTD đã thực sự mất khả năng thanh toán và bị đặt vào tình trạng kiểm soát, cókhả năng phá sản (Hình 1.2) Đây là mô hình đang được hầu hết các TC BHTG trênthế giới thực hiện Theo mô hình chi trả này dễ gây áp lực lớn cho tổ chức BHTGkhi phải thực hiện cùng lúc nhiều công việc đòi hỏi tính chính xác cao và nhanhchóng Vì vậy, có thể dẫn tới sai sót, nhầm lẫn trong quá trình tính toán và chi trả.Với mô hình này, tổ chức BHTG sẽ gặp khó khăn về thời gian hoàn thành chi trảcũng như kiểm soát gian lận BHTG

1.3 Yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi

1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi

Hoạt động chi trả BHTG không những phải đảm bảo các yêu cầu mà cònchịu tác động của nhiều nhân tố, tác giả tổng hợp và phân tích 9 yêu cầu và nhân tốchủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động này

1.3.1.1 Khung pháp lý

Các hệ thống BHTG sẽ không thể hoạt động hiệu quả nếu các điều luật liênquan không tồn tại hoặc cơ chế pháp lý hiện tại không phù hợp Một khung pháp lýđược xây dựng hợp lý phải bao gồm một hệ thống luật doanh nghiệp, trong đó cóquy định về việc thành lập, phá sản, hợp đồng, bảo vệ người tiêu dùng và luật sởhữu tư nhân Những điều luật này phải được thực thi một cách nhất quán và có thể

Trang 27

cung cấp một cơ chế xử lý tốt các tranh chấp pháp lý Ngoài ra, khung pháp lý phải

là cơ sở cung cấp những quyền hạn cần thiết để tổ chức BHTG thực hiện các nhiệm

vụ của mình

Những yếu tố cần được xem xét bao gồm: một cơ chế pháp lý có thể hỗ trợviệc can thiệp hay đóng cửa kịp thời các ngân hàng có vấn đề; các điều khoản rõràng quy định về việc thanh lý một cách minh bạch và có trật tự các loại tài sảncũng như công tác xử lý khiếu nại của NGT; và phải đảm bảo các tổ chức thànhviên MATTC cũng như những cá nhân làm việc trong các tổ chức thành viên phảiđược bảo vệ về mặt pháp lý

1.3.1.2 Khả năng tiếp cận thông tin về đối tượng được bảo hiểm

Thu thập, xử lý thông tin, dữ liệu về tiền gửi được bảo hiểm là việc làm đầutiên và quan trọng nhất trong quy trình chi trả Bảng 1.2 là kết quả khảo sát củaIADI về 6 trở ngại quan trọng thường gặp đối với một quá trình chi trả BHTG, từ

đó dễ dàng nhận thấy rằng những vấn đề liên quan đến việc tiếp cận thông tin vềNGT là trở ngại lớn nhất đến hoạt động trả tiền bảo hiểm

Để quá trình chi trả BHTG có hiệu quả, việc tiếp cận thông tin về NGT phảiđược tiến hành trước khi TCTD đổ vỡ Cấp quyền truy cập, kiểm soát dữ liệu tiềngửi trước khi TCTD đóng cửa giúp làm giảm nguy cơ sai lạc thông tin, đảm bảo quátrình chi trả của tổ chức BHTG diễn ra nhanh chóng thuận lợi Ngược lại, nó sẽ làmảnh hưởng đến chất lượng những chứng từ kế toán liên quan đến tiền gửi của đốitượng bảo hiểm do tổ chức tham gia BHTG cung cấp, gây nên sự trì hoãn trong việcthanh toán cho NGT và tăng nguy cơ sai xót dữ liệu do chỉnh sửa của TCTD, dẫnđến những hạn chế của tổ chức BHTG khi thực hiện nghĩa vụ chi trả của mình

Bảng 1.2 Trở ngại thường gặp trong quá trình chi trả BHTG

(tỷ lệ %)

1 Thiếu tiếp cận với hồ sơ tiền gửi trước khi ngân hàng phá sản 56

2 Thông tin về NGT tại ngân hàng phá sản thiếu tính chính xác 52

3 Ngân hàng không có khả năng cung cấp các hồ sơ tiền gửi

Trang 28

STT Tên trở ngại

Tỷ lệ thường gặp

(tỷ lệ %)

6 Hệ thống CNTT không đáp ứng được yêu cầu của kế hoạch chi

Nguồn: [38, tr 14] 1.3.1.3 Hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi

HMCT BHTG là biểu hiện cụ thể mức độ bảo vệ của tổ chức BHTG tiền gửiđối với mỗi NGT, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chi trả Nếu HMCT thấp sẽlàm giảm mức độ hài lòng của NGT đối với chính sách BHTG, có thể làm gia tăngviệc khiếu nại, tố tụng khi thực hiện chi trả, gây khó khăn và kéo dài thời gian chitrả Ngược lại, HMCT cao làm gia tăng tổng số tiền chi trả tại mỗi TCTD phá sản,gây nên sức ép đối với quỹ BHTG, tăng rủi ro đối với sự phát triển bền vững của tổchức BHTG Vì vậy, việc xác định và điều chỉnh HMCT hợp lý luôn là vấn đề nhạycảm và có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi hệ thống BHTG

Theo IADI, việc xác định HMCT cần đồng thời đảm bảo 2 mục tiêu cơ bảncủa chính sách BHTG là bảo vệ số đông NGT, những người có những hạn chế nhấtđịnh trong việc tiếp cận thông tin về TCTD đồng thời điều chỉnh hành vi của NGT,đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống BHTG, góp phần ổn định của hệ thốngtài chính, ngân hàng Việc xác định HMCT phải được quy định rõ trong luật hoặccác văn bản dưới luật cùng với định nghĩa về những khoản tiền gửi được bảo hiểm.HMCT được xác định phải đủ lớn để bảo hiểm được cho đa số NGT nhằm đáp ứngcác mục tiêu chính sách công của hệ thống và phải phù hợp với các đặc điểm thiết

kế khác của hệ thống BHTG

Thông thường, HMCT được thiết lập dựa trên 2 nguyên tắc: (i) HMCT phải

đủ cao để bảo vệ cho số đông NGT thuộc đối tượng được bảo hiểm, từ đó duy trì vànâng cao niềm tin của NGT vào hệ thống ngân hàng, khuyến khích; (ii) HMCT phải

đủ thấp để không làm nảy sinh tâm lý chủ quan, bất cẩn của NGT, qua đó kiểm soátrủi ro đạo đức, tránh tình trạng mạo hiểm trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

Trang 29

Việc quy định những khoản tiền gửi nào được bảo hiểm được xem xét trên cơ

sở tầm quan trọng của các loại hình tiền gửi khác nhau (bao gồm tiền gửi ngoại tệ, vàtiền gửi của người không cư trú) đối với mục đích chính sách công của hệ thống

HMCT nên được giới hạn và có thể thiết lập thông qua việc xem xét các tàiliệu có liên quan như các số liệu thống kê mô tả về sự phân bố của các khoản tiềngửi tại các ngân hàng Điều này giúp cho các nhà lập pháp đưa ra các đánh giákhách quan, chẳng hạn như tỉ lệ những NGT được bảo hiểm, để đánh giá mức độđáp ứng của của từng mức bảo hiểm Tất cả các ngân hàng trong cùng một hệ thốngBHTG nên có cùng hạn mức bảo hiểm

Hiện nay hệ thống BHTG trên thế giới chủ yếu áp dụng cơ chế HMCT tiềngửi được bảo hiểm công khai, một số quốc gia chấp nhận việc bảo hiểm toàn bộ tạmthời, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính

1.3.1.4 Tài chính và nguồn tài trợ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

Có cơ chế cấp vốn vững mạnh là điều rất cần thiết để một hệ thống BHTGhoạt động hiệu quả Một hệ thống BHTG phải có sẵn tất cả các kênh cấp vốn cầnthiết và cả các kênh huy động hỗ trợ khác để đảm bảo chi trả kịp thời cho NGT

Phí BHTG là nguồn bổ sung vốn chủ yếu cho tất cả các tổ chức BHTG trênthế giới Hiện nay có 2 mức phí được áp dụng ở các quốc gia là phí đồng hạng vàphí theo mức độ rủi ro

Dù áp dụng bất kỳ hệ thống thu phí nào thì các tổ chức tham gia BHTG sẽphải chịu trách nhiệm trong việc trả phí BHTG, vì họ và khách hàng là đối tượngđược hưởng lợi trực tiếp từ BHTG Tuy nhiên, trong các trường hợp đặc biệt nhưkhủng hoảng toàn hệ thống khi mà sự bình ổn của hệ thống tài chính đang bị lunglay thì đây có thể không phải là phương án khả thi Vì vậy, tổ chức BHTG cần cócác nguồn tài chính dự phòng bổ sung khi cần thiết bao gồm vay từ Chính phủ,Ngân hàng trung ương, vay trên thị trường hoặc tiếp nhận tài trợ từ các tổ chứctrong và ngoài nước Ngoài ra, Quỹ BHTG cần có chính sách và quy trình thủ tụcđầu tư nhằm bổ sung nguồn vốn cho tổ chức BHTG mà vẫn đảm bảo được khả năngthanh khoản nhanh và an toàn của ngồn vốn

Trang 30

1.3.1.5 Nguồn nhân lực

Hiệu quả của quá trình chi trả phụ thuộc phần lớn vào mức độ thực hiện côngtác chuẩn bị của tổ chức BHTG trước khi tổ chức tham gia BHTG phá sản Điềunày đòi hỏi nguồn nhân lực có chuyên môn, kinh nghiệm trong việc thực hiện cácnghiệp vụ Việc thuê thêm nhân sự bên ngoài hoặc sử dụng các nhà cung cấp dịch

vụ có thể được cân nhắc phụ thuộc vào quy mô, số lượng của số tiền chi trả

Bên cạnh đó, liên quan đến kỹ năng nguồn nhân lực, các bài tập mô phỏngtình huống giúp xác định mức độ các nguồn lực, hành động cần thiết cho mỗitrường hợp chi trả với quy mô, tính chất nhất định, đồng thời, đánh giá khả nănglàm việc và phối hợp của các nguồn nhân lực trong và ngoài tổ chức BHTG trongkhoảng thời gian hạn chế Mục tiêu chính của các bài tập mô phỏng nói chung làđảm bảo rằng các nhân viên tham gia vào quá trình chi trả được đào tạo đầy đủ,hiểu và thực hành một cách thuần thục từ đó có thể đưa ra những ý kiến để cải tiếnthủ tục và quy trình

1.3.1.6 Hệ thống công nghệ thông tin

Thiếu một hệ thống CNTT phù hợp đáp ứng quá trình chi trả cho các TCTD

bị phá sản có quy mô khác nhau cũng là một trong sáu trở ngại thường gặp trongquá trình chi trả BHTG (Bảng 1.2) Việc thực hiện một cách thủ công một lượnglớn các thông tin về NGT, các tài khoản, chứng từ kế toán, lãi suất, các khoản thanhtoán bù trừ… trong quá trình trả tiền bảo hiểm sẽ kéo dài thời gian chi trả đồng thờilàm tăng nguy cơ sai sót trong quá trình thực hiện Vì vậy, các tổ chức BHTG cầnxây dựng một hệ thống CNTT thích hợp phục vụ quá trình chi trả

Hiện nay, việc sử dụng CNTT để hỗ trợ cho chi trả bảo hiểm tiền gửi đượccác tổ chức BHTG trên thế giới sử dụng khá linh hoạt và hiệu quả Ví dụ, BHTGHàn Quốc được quyền kiểm tra phần mềm của TCTD, được quyền yêu cầu cácTCTD phải tuân thủ các định dạng về chứng từ và các ghi chép kế toán liên quanđến đối tượng được bảo hiểm MDIC và FSCS yêu cầu các ngân hàng phải nộp các

dữ liệu theo chuẩn, trong đó tập hợp đầy đủ các khoản tiền gửi và nghĩa vụ nợ củamột khách hàng Cơ quan BHTG Hồng Kông và cơ quan BHTG Bungari sử dụng

Trang 31

chính hệ thống công nghệ của TCTD bị đỗ vỡ để tính toán các khoản tiền bảo hiểm phải chi trả.

1.3.1.7 Sự phối hợp của các cơ quan thành viên trong mạng an toàn tài chính quốc gia

Thông thường MATTC ở các nước gồm 4 cơ quan là: Ủy ban Giám sát tàichính, Bộ Tài chính, NHNN và tổ chức BHTG Khi chỉ có một tổ chức duy nhấtthực hiện tất cả các chức năng của MATTC, giải pháp an toàn cho mối lo ngại tiềm

ẩn là xác định rõ ràng chức năng và chế độ giải trình phù hợp của các phòng ban.Tuy nhiên, khi các chức năng được phân bổ cho các tổ chức khác nhau, các vấn đềliên quan tới chia sẻ thông tin, phân bổ quyền hạn và trách nhiệm, và việc phối hợphành động giữa các chức năng trở nên phức tạp hơn và cần phải được xác định rõràng và công khai Vì vậy, việc quản lý tốt các cơ quan trong MATTC sẽ giúp củng

cố cấu trúc của hệ thống tài chính và đóng góp trực tiếp cho sự ổn định của hệthống Có bốn yếu tố cấu thành chất lượng quản lý tốt là: độc lập, trách nhiệm, minhbạch và công khai, hợp nhất Bốn yếu tố này có vai trò quan trọng ngang nhau và cótác dụng củng cố lẫn nhau trong việc tăng cường chất lượng quản lý

Một MATTC được cơ cấu tốt sẽ đóng góp tích cực cho sự ổn định của hệthống tài chính Tuy nhiên, nếu không được cơ cấu tốt, nó có thể làm gia tăng rủi ro,đặc biệt là rủi ro đạo đức

1.3.1.8 Nhận thức của công chúng

Nhận thức của công chúng về hệ thống BHTG, sự tồn tại và hình thức hoạtđộng (bao gồm HMCT, phạm vi và thủ tục bồi hoàn diễn ra thế nào) đóng vai tròquan trọng trong việc xây dựng một hệ thống BHTG hiệu quả

Tất cả các tổ chức BHTG nên đẩy mạnh việc nâng cao nhận thức công chúng

về hệ thống BHTG một cách thường xuyên để duy trì và củng cố niềm tin của côngchúng và phải nhất quán với những mục tiêu của chính sách công và sứ mạng của

cơ quan BHTG

Khi thiết kế một chương trình nâng cao nhận thức công chúng, tổ chứcBHTG nên xác định rõ các nhóm công chúng chủ yếu cần nhắm đến (công chúng,

Trang 32

NGT, các ngân hàng thành viên), từ đó xác định công cụ, kênh thông tin có thể giúpđảm bảo thông điệp của tổ chức BHTG được truyền đạt một cách hiệu quả nhấtđồng thời xây dựng kế hoạch tài chính cho các chương trình nâng cao nhận thứccông chúng nên dựa trên mức độ thể hiện và mức độ nhận thực mong muốn đạtđược đối với các nhóm đối tượng mục tiêu Ngoài ra, tổ chức BHTG nên thườngxuyên thực hiện đánh giá độc lập về mức độ nhận thức của công chúng để đưa racác điều chỉnh kịp thời.

Các thành viên khác trong MATTC đều có vai trò trong việc nâng cao nhậnthức công chúng về BHTG Tuy nhiên, tổ chức BHTG nên đóng vai trò là ngườitrách nhiệm chính và liên kết chặt chẽ với các thành viên và để đảm bảo tính nhấtquán trong việc cung cấp thông tin

1.3.1.9 Gian lận trong chi trả bảo hiểm tiền gửi

Theo tài liệu nghiên cứu và hướng dẫn của IADI: “Gian lận trong chi trảBHTG được hiểu là một hoặc nhiều hành động gây ra tình trạng thanh toán bất hợppháp cho người không thuộc đối tượng BHTG hoặc thanh toán vượt quá HMCTBHTG đã được thiết lập” [40, tr 20]

Các đối tượng thực hiện hành vi gian lận theo nhiều cách thức, để nhận đượctiền BHTG, bất chấp việc vi phạm các quy định pháp luật hiện hành và hạn mức chitrả BHTG Tình trạng này có liên quan mật thiết đến các tình huống trong đó phạm

vi bảo hiểm loại trừ một số đối tượng NGT cụ thể, như: một số loại hình pháp nhân,các đối tác liên kết hoặc những người nắm được tình hình nội bộ tổ chức tham giaBHTG bị đổ vỡ Những hành vi gian lận này dựa trên thông tin nội bộ về tình hìnhhoạt động ngân hàng, họ cố tình tạo các hợp đồng tiền gửi giả để được BHTG chitrả Trên thực tế cho thấy, các hành vi gian lận thông thường do cấu kết giữa nhânviên ngân hàng và một số đối tượng khác

Dựa trên kết quả khảo sát của IADI, có thể phân loại các gian lận trong chitrả BHTG như sau:

- Thay đổi chủ sở hữu tiền gửi (NGT không thuộc đối tượng bảo hiểm gianlận để được bảo hiểm) Ví dụ: trước khi ngân hàng bị tuyên bố đóng cửa, nhân viên

Trang 33

ngân hàng có thể ghi thêm các bút toán giả mạo chuyển tiền từ tài khoản không được bảo hiểm sang tài khoản được bảo hiểm.

- Thực hiện chia nhỏ số tiền gửi vượt quá HMCT và chuyển các phần tiềngửi đó tới các tài khoản được bảo hiển của các cá nhân khác hoặc tới tài khoản kháccủa cùng một người trong trường hợp giới hạn bảo hiểm dựa trên các loại tài khoảnkhác nhau của chủ tài khoản, như tài khoản đồng sở hữu, tài khoản uỷ thác, … Đểphát hiện các hình thức gian lận này và có căn cứ rõ ràng thì cần có sự hỗ trợ trừphía nhân viên của tổ chức tham gia BHTG bị phá sản

- Bao hàm cả NGT giả mạo, tiền gửi trong sổ nghĩa vụ nợ của người có tiềngửi được bảo hiểm hoặc không bao gồm nghĩa vụ nợ của NGT đối với ngân hàngkhi khấu trừ Hình thức gian lận này có thể được thực hiện bởi các cơ quan hoặc cánhân phụ trách biên soạn sổ đăng ký và trình lên cơ quan BHTG để thực hiện cáckhoản thanh toán cho NGT được bảo hiểm

- Hạch toán khống các khoản tiền gửi trong sổ sách của ngân hàng bị phá sảnnhằm mục đích trục lợi BHTG Nhân viên tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ hoặcngười quản lý được chỉ định, người nhận uỷ thác phá sản có thể thực hiện hành vinày

- Nhân viên của tổ chức tham gia BHTG làm giả giấy tờ hoặc lấy danh tínhgiả để được thanh toán tiền BHTG

- Không ghi chép vào sổ sách tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ các khoảntiền gửi nhận từ người gửi tiền hợp pháp, nhằm mục đích giảm số phí BHTG cho tổchức BHTG hoặc lấy cắp tiền gửi của khách hàng

Các yếu tố làm gia tăng gian lận trong BHTG bao gồm việc loại trừ một sốnhóm đối tượng khỏi phạm vi bảo hiểm, thiếu cơ chế xử lý các hành động gian lận,công chúng thiếu nhận thức về các trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi phạm tộinày, sự chậm trễ phi lý khi đóng cửa ngân hàng

Trang 34

1.3.2 Tiêu chí đánh giá hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi

1.3.2.1 Thời gian hoàn thành chi trả.

Theo “Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả” của IADInăm 2014 thì: “Tổ chức BHTG có thể chi trả phần lớn NGT được bảo hiểm trongvòng 7 ngày làm việc Nếu hiện chưa đạt được mục tiêu này, tổ chức BHTG cần có

kế hoạch đáng tin cậy để đạt được mục tiêu đó.” (nguồn IADI)

Như vậy, Công tác chi trả được thực hiện càng nhanh chóng thì sẽ giúp làm

ổn định tâm lý NGT, hạn chế hiệu ứng rút tiền tại các TCTD khác

1.3.2.2 Kế hoạch chi trả đáng tin cậy phải đảm bảo

Tổ chức BHTG phải có kế hoạch chi trả, có quy định thời gian thực hiện rõràng, được hỗ trợ bởi luật, quy định, hệ thống, quy trình liên quan, có kết quả rõràng và đo lường được

Trong trường hợp đã bắt đầu chi trả nhưng có sự chậm trễ kéo dài, tổ chứcBHTG có thể thực hiện tạm ứng chi trả, chi trả tạm thời hoặc thanh toán từng phầnkhẩn cấp

Khi có kế hoạch chi trả cụ thể, tổ chức BHTG sẽ thực hiện đúng định hướng

và dễ dàng đối phó với các tình huống phát sinh khi chi trả BHTG, có thể hoạchđịnh được thời gian hoàn thành chi trả, có thể điều chỉnh khi cần thiết

1.3.2.3 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có nguồn lực và khả năng thực hiện quá trình chi trả kịp thời

Các tiêu chí đánh giá bao gồm: có đủ nguồn lực và cán bộ được huấn luyện(cán bộ nội bộ hoặc thuê theo hợp đồng) để thực hiện chức năng chi trả và được hỗtrợ bởi tài liệu và hướng dẫn chi trả; hệ thống thông tin nhằm xử lý thông tin NGTmột cách hệ thống và chính xác; các hoạt động trước sau khi đóng cửa được quyđịnh trong tài liệu hoặc sổ tay hướng dẫn thủ tục đóng cửa ngân hàng và lên kịchbản và tập dượt, bao gồm tập dượt ngân hàng đóng cửa giả định với sự tham gia củacác cơ quan có liên quan, tiến hành các biện pháp xử lý

Nếu áp dụng cơ chế bù trừ tiền gửi được bảo hiểm với các các khoản nợ đếnhạn trước đó và các khoản nợ đến hạn, thì việc áp dụng phải được tiến hành kịp thời

Trang 35

và không làm chậm trễ việc chi trả kịp thời cho NGT được bảo hiểm hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng.

Tổ chức BHTG phải có sẵn các cơ chế hoặc thỏa thuận làm việc với các cơquan thanh toán và tổ chức thanh lý để đảm bảo séc đang trong quá trình nhờ thuđược xử lý một cách phù hợp, thống nhất và kịp thời

1.3.2.4 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có cảnh báo kịp thời khi tổ chức tín dụng sắp phá sản không

Tổ chức BHTG phải cảnh báo các tổ chức khi có nguy cơ bị phá sản, thôngqua giám sát từ xa và phối hợp với kiểm tra đột xuất khi cần thiết Điều này giúpcho tổ chức BHTG có đủ thời gian để lên kế hoạch cho việc chi trả, đảm bảo tínhkịp thời và nguồn lực tài chính sẵn sàng chi trả

Tuy nhiên, việc phát hiện ra TCTD gặp vấn đề và có nguy cơ phá sản đòi hỏi

tổ chức BHTG phải có nghiệp vụ giám sát và kiểm tra chặt chẽ, vì nó phụ thuộc vào

độ chính xác của nguồn báo cáo, trình độ, năng lực của nhân viên, phương thứcgiám sát và kiểm tra, mô hình đánh giá trong công tác giám sát …

1.3.2.5 Công tác thu phí bảo hiểm tiền gửi có đầy đủ và đúng quy định hay không

Phí BHTG là nguồn vốn quan trọng đóng góp vào quỹ tài chính của tổ chứcBHTG và được dùng khi phát sinh nghĩa vụ chi trả cho các tổ chức tham gia BHTG

Do vậy, nếu tổ chức đó không nộp phí BHTG đầy đủ thì sẽ làm tổn thất nguồn lựcdùng cho việc chi trả Việc thu phí BHTG cần phải được kiểm soát chặt chẽ, đảmbảo việc tính phí BHTG đúng đối tượng, giảm thiểu sự gian lận trong việc tính phí

và chi trả BHTG

1.3.2.6 Việc thông báo đến khách hàng có kịp thời, hiệu quả không

Khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản, tổ chức BHTG thông báo cho NGTbằng hình thức nào và có hiệu quả hay không cũng là nhân tố đánh giá hiệu quả củacông tác chi trả Chỉ tiêu này có thể được đánh giá bằng số phiếu phản hồi củakhách hàng xác minh thông tin về tiền gửi của họ

Số lượng khách hàng nhận được đầy đủ thông tin càng cao thì việc chi trả càngđạt hiệu quả Việc này giúp bảo vệ quyền và lợi ích của NGT một cách tốt nhất

Trang 36

1.3.2.7 Tỷ lệ tiền gửi được chi trả thực tế/Tổng số dư tiền gửi trong HMCT

Tổ chức BHTG thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền lợi cho NGT khi tỷ lệ nàyđạt ở mức cao Để có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chi trả, tổ chức BHTG cần đảmbảo đầy đủ nguồn lực tài chính để chi trả Nếu cần chi trả theo nhiều đợt, thì phảiđảm bảo thời gian chi trả giữa các đợt chi trả là nhanh nhất Để đảm bảo sự côngbằng giữa những NGT, tổ chức BHTG có thể chi trả theo một tỷ lệ nhất định, đảmbảo mỗi NGT đều được chi trả một phần tiền gửi trong đợt chi trả đầu tiên

1.3.2.8 Tỷ lệ khách hàng được chi trả toàn bộ tiền gửi/Tổng số NGT

Tỷ lệ này phụ thuộc vào HMCT BHTG trong mỗi thời kỳ HMCT càng caothì tỷ lệ này càng cao Theo khuyến nghị của IADI, tỷ lệ này khoảng 80 – 90% làtốt nhất Tuy nhiên, cũng không nên để HMCT quá cao, nhằm hạn chế việc lợi dụngkhi tổ chức sắp phá sản hoặc cố tình hoạt động yếu kém để NGT được chi trả

1.3.2.9 Tình trạng an ninh trật tự trong quá trình chi trả.

Hoạt động chi trả phải được diễn ra trong trật tự và an toàn Để làm đượcnhư vậy, tổ chức BHTG cần phải phối hợp tốt với các cơ quan như: Công an,NHNN, UBND địa phương …

1.3.2.10 Tình trạng đột biết rút tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác.

Niềm tin của NGT sẽ giảm khi có một TCTD nào đó bị phá sản Điều này cóthể gây ra hiệu ứng lan truyền sang những ngân hàng khác, làm cho NGT không tintưởng vào việc gửi tiền vào ngân hàng nữa, họ có thể sẽ rút tiền ra để đầu tư vào cáckênh khác Số lượng NGT đến rút tiền quá nhiều sẽ dẫn đến hiện tượng đột biến rúttiền gửi và có thể dẫn đến tình trạng phá sản

Hoạt động chi trả đạt hiệu quả khi NGT được chi trả kịp thời để tránh tìnhtrạng gây hiệu ứng lan truyền, đột biến rút tiền gửi tại các TCTD khác trên địa bàn,làm mất khả năng thanh khoản của TCTD

1.4 Kinh nghiệm thực hiện hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của một

số nước và bài học rút ra cho Việt Nam

1.4.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia

1.4.1.1 Hoạt động bảo hiểm tiền gửi và chi trả bảo hiểm tiền gửi ở Hoa Kỳ

Trang 37

Công ty BHTG liên bang Hoa Kỳ, ra đời ngày 1/1/1934, nơi triển khai hoạtđộng BHTG đầu tiên, là tổ chức điển hình trong triển khai đồng bộ ba loại nghiệp

vụ và phát huy tối đa hiệu quả của chính sách BHTG trong bảo vệ quyền lợi củaNGT, kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng, là mô hình được nhiều nước trênthế giới tham khảo để thành lập và cải tiến hoạt động BHTG Thành công của chínhsách BHTG ở Hoa Kỳ có thể được tóm tắt ở một số điểm nổi bật như sau:

Thứ nhất, sự ra đời và triển khai chính sách BHTG ở Hoa Kỳ đã khẳng định

năng lực kiểm soát rủi ro ngân hàng của chính sách BHTG theo mô hình chức năngđầy đủ là rất lớn: Trong giai đoạn có khủng hoảng tiết kiệm và cho vay ở Hoa Kỳtrong những năm 1980, FDIC đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp kịpthời sản phẩm hỗ trợ tài chính để giảm đi phần nào sự đổ vỡ không đáng có củanhiều ngân hàng Trong giai đoạn 1982-1991 ở Hoa Kỳ có hơn 1.400 ngân hànglâm vào tình trạng nguy kịch, có thể dẫn đến đóng cửa, nhờ sự hỗ trợ tài chính củaFDIC, 131 ngân hàng trong số các ngân hàng đó đã vượt qua được khó khăn và duytrì được hoạt động

Thứ hai, quyền lợi của NGT được bảo vệ kịp thời, giảm tổn thất cho NGT,

ngân hàng và nền kinh tế: Năm 1934 đến 1997, ở Hoa Kỳ có 2.192 ngân hàng đổ

vỡ, đã được FDIC giải quyết nhanh gọn, giảm thiểu tối đa ảnh hưởng tới hệ thốngngân hàng Hoa Kỳ

Thứ ba, nguồn lực để triển khai chính sách BHTG ở Hoa Kỳ được đầu tư rất

lớn: có cơ sở pháp lý cao (Luật BHTG) ngay từ đầu và được điều chỉnh kịp thờitrong quá trình triển khai; có nguồn tài chính lớn và có cơ chế huy động tài chínhthích ứng với đặc thù và vai trò quan trọng của chính sách BHTG trong giải quyếtrủi ro của lĩnh vực tài chính - ngân hàng; có nguồn nhân lực lớn đáp ứng yêu cầutriển khai của chính sách (nhân lực của FDIC vào thời điểm tháng 3/2005 là 4.993người)

1.4.1.2 Hoạt động bảo hiểm tiền gửi và chi trả bảo hiểm tiền gửi ở Nhật Bản

Công ty BHTG Nhật Bản (DICJ) được thành lập năm 1971, với bề dày hoạtđộng trên 40 năm đã và đang ngày càng khẳng định vị trí và vai trò của mình trong

Trang 38

MATTC Nhật Bản Mục tiêu chính của hệ thống BHTG Nhật Bản là bảo vệ nhữngNGT và các bên liên quan trong trường hợp tổ chức tài chính không có khả năng chitrả tiền gửi, và góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính thông qua nhiềucông cụ nghiệp vụ trong đó có nghiệp vụ tiếp nhận và xử lý.

Cơ chế xử lý tổ chức tài chính bị đổ vỡ tại Nhật Bản: Ban đầu, khi hệ thống

BHTG mới được thành lập, cơ chế bảo vệ NGT khi xử lý tổ chức bị đổ vỡ chỉ cóphương pháp chi trả BHTG Sau đó, phương pháp hỗ trợ tài chính đã được bổ sung

và quy định trong Luật BHTG sửa đổi năm 1986

Phương pháp chi trả bảo hiểm: Khi một tổ chức tài chính bị đổ vỡ, DICJ sẽ

tiến hành chi trả bảo hiểm cho NGT được bảo hiểm tại tổ chức đó dựa trên yêu cầuthanh toán của NGT Nguồn chi trả sẽ được lấy từ nguồn thu phí bảo hiểm hàngnăm từ các TCTD theo quy định của pháp luật Hiện nay, mức bảo hiểm tối đa màDICJ áp dụng là 10 triệu yên (bao gồm gốc và tiền lãi)

Phương pháp hỗ trợ tài chính: Xử lý đổ vỡ bằng phương pháp hỗ trợ tài

chính là việc dùng một tổ chức tài chính vững mạnh (tổ chức tiếp nhận) tiếp quảncác chức năng tài chính của tổ chức tài chính bị đổ vỡ Việc tiếp nhận này phải đảmbảo rằng tổ chức tài chính tiếp nhận phải được tiếp nhận các tài sản có tương ứngvới trách nhiệm nợ tiếp nhận Nhưng trên thực tế thì hầu như trong mọi trường hợp,tài sản có và tài sản nợ của tổ chức tài chính bị đổ vỡ là không cân bằng

1.4.1.3 Hoạt động bảo hiểm tiền gửi và chi trả bảo hiểm tiền gửi ở Đài Loan

Ngày 9/1/1985, Luật BHTG Đài Loan được thông qua và ngày 27/9/1985Tổng công ty BHTG Trung ương Đài Loan (CDIC) khai trương hoạt động Mặc dầutriển khai chậm hơn nhiều nước trên thế giới, chính sách BHTG ở Đài Loan đãkhẳng định được vai trò to lớn trong kiểm soát rủi ro hoạt động ngân hàng, đặc biệt

có tác dụng kiểm soát hiện tượng hoảng loạn và đột biến rút tiền gửi ồ ạt ở quốc gianày Thành công của chính sách BHTG Đài Loan có thể được thể hiện ở các khíacạnh sau:

Nghiên cứu có hiệu quả kinh nghiệm của các quốc gia đi trước về lĩnh vựcBHTG, nhờ vậy đã đạt được kết quả cao trong xây dựng các nội dung của chính

Trang 39

sách BHTG trong thời gian ngắn và phát huy hiệu quả cao, nhờ học tập một cáchsáng tạo kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Canada v.v… Sau 5 năm hoạt động, Đài Loan làquốc gia đầu tiên ở châu Á áp dụng thành công phí BHTG theo mức độ rủi ro.CDIC đã xây dựng hệ thống cảnh báo sớm tình hình tài chính của các tổ chức thamgia BHTG một cách xuất sắc và được Bộ Tài chính ủy quyền phát triển và xây dựngthành công Hệ thống cảnh báo sớm tài chính quốc gia.

Hoạt động nghiệp vụ BHTG (giám sát, kiểm tra, xử lý ngân hàng có vấn đề,quan hệ công chúng…) được triển khai bài bản, có hiệu quả cao, có đóng góp to lớntrong đảm bảo an toàn và ổn định hoạt động ngân hàng ở đất nước này Mặc dầucho tới nay, ở Đài Loan chưa có tổ chức tham gia BHTG nào bị đóng cửa và phảichi trả từ quỹ BHTG của CDIC, từ tháng 6/1990 đến tháng 4/2004, CDIC đã hỗ trợgiải quyết thành công khó khăn của 54 tổ chức huy động tiền gửi bị hoảng loạn vàđột biến rút tiền CDIC đã làm nổi bật vai trò quan trọng của chính sách BHTG theo

mô hình chức năng đầy đủ đối với hoảng loạn ngân hàng

1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

Tại các nền kinh tế có hệ thống BHTG phát triển, tổ chức BHTG đều có quyđịnh pháp luật về thời gian chi trả, tiêu biểu là FDIC với khả năng chi trả ngay trong

2 ngày làm việc, CDIC là 3 ngày Để việc chi trả được hiệu quả và nhanh chóng, tổchức BHTG cần phối hợp với các cơ quan liên quan lên kế hoạch chi trả, rà soát cácquy định hiện hành, dự kiến ngân sách, khung thời gian chi trả, đánh giá nhu cầuvốn và khả năng huy động vốn, sắp xếp nguồn nhân lực, rà soát hệ thống ngân hàng

và thông tin NGT, xây dựng phương thức chi trả, chiến lược truyền thông trong chitrả để ổn định tâm lý NGT

Về mô hình hoạt động: Tổ chức BHTG cần hoạt động một cách độc lập,minh bạch có uy tín và không bị tác động bởi hệ thống chính trị và khu vực tàichính ngân hàng

Các vấn đề xuyên quốc gia: Trước hết phải đảm bảo tính bảo mật tất cả cácthông tin liên quan phải được trao đổi giữa các tổ chức BHTG trong phạm vi quyđịnh của pháp luật khác nhau, và có thể được trao đổi giữa tổ chức BHTG và các

Trang 40

thành viên MATTC của nước khác khi thích hợp Trong trường hợp có nhiều tổchức BHTG khác nhau có trách nhiệm thực hiện bảo hiểm, điều quan trọng là phảixác định tổ chức BHTG nào sẽ có trách nhiệm đối với việc chi trả Khi xác định sốtiền thu phí bảo hiểm, cần phải tính tới việc các tổ chức đã được BHTG tại chínhquốc (home country).

Bắt buộc tham gia BHTG: Cần áp dụng cơ chế BHTG bắt buộc đối với tất cảcác tổ chức tài chính nhận tiền gửi để tránh vấn đề lựa chọn đối nghịch

Chuyển từ hệ thống đảm bảo toàn phần sang áp dụng hệ thống BHTG có hạnmức: Khi một nước quyết định chuyển từ hệ thống đảm bảo toàn phần sang áp dụng

hệ thống BHTG có giới hạn, hoặc thay đổi hệ thống đảm bảo toàn phần hiện có,việc chuyển giao này nên được thực hiện nhanh chóng ngay khi các điều kiện củanước đó cho phép Đảm bảo toàn phần có thể gây ra nhiều tác động xấu nếu được

áp dụng lâu dài, đặc biệt là rủi ro đạo đức Các nhà hoạch định chính sách cần phảiđặc biệt chú ý tới thái độ và kỳ vọng của công chúng trong giai đoạn chuyển giaonày

Nâng cao nhận thức: Để một hệ thống BHTG hoạt động hiệu quả, côngchúng nhất thiết phải được biết đến lợi ích cũng như hạn chế của hệ thống BHTG

Bảo vệ pháp lý: Tổ chức BHTG và nhân viên làm việc cho cơ quan này phảiđược bảo vệ trước các vụ kiện liên đới tới quyết định và hành động của họ “vớithiện ý” trong khi thực hiện sứ mệnh Tuy nhiên, họ có trách nhiệm phải tuân thủđúng các quy định liên quan đến xung đột lợi ích và hành vi ứng xử nhằm đảm bảo

họ luôn có trách nhiệm Việc bảo vệ pháp luật phải được xác định rõtrong các quytrình lập pháp và hành pháp, và trong những trường hợp nhất định, phải bao gồm cảviệc trang trải chi phí pháp lý đối với những người được bồi thường theo luật định

Ứng phó với các bên gây ra đổ vỡ ngân hàng: Một tổ chức BHTG, hoặc một

cơ quan chức năng, phải được trao quyền yêu cầu các bên gây ra đổ vỡ ngân hàngbồi thường theo luật định

Chi trả cho NGT: Hệ thống BHTG phải hỗ trợ được NGT tiếp cận nhanhchóng với tiền gửi được bảo hiểm của họ Do vậy, tổ chức BHTG cần sớm thông

Ngày đăng: 08/11/2017, 12:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w