1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh thanh hóa tt

27 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 612,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó còn có một số bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, các nghiên cứu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dưới góc độ tội phạm học hay dưới góc độ luật hình

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn khoa học:

TS PHẠM MINH TUYÊN

Phản biện 1: PGS.TS HỒ SỸ SƠN

Phản biện 2: PGS.TS BÙI MINH THANH

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học Viện Khoa học Xã hội vào lúc: 13 giờ, ngày 18 tháng 10 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Thư viên Học viện Khoa học Xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thời gian gần đây tình hình kinh tế, xã hội của nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, phù hợp với sự phát triển chung trong khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh những mặt trái Tội phạm ngày một gia tăng, tính chất mức độ hành vi phạm tội ngày càng nguy hiểm, tinh vi hơn Trong các loại tội phạm thì tội phạm xâm hại đến quyền sở hữu chiếm tỉ lệ lớn

Đối với Thanh Hóa là một tỉnh có diện tích lớn thứ 5 và số dân đông thứ 3 trong cả nước với 27 đơn vị hành chính cấp huyện, thị

xã và thành phố trực thuộc tỉnh Thanh Hóa nằm ở vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam và nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Vị trí địa lý trở thành một trong những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Đi đôi với sự phát triển thì tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh cũng có nhiều diễn biến phức tạp Trong đó, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (LDTNCĐTS) là một trong những tội phạm xảy ra khá phổ biến gây ra những hậu quả nguy hiểm cho các quan hệ xã hội Thực tiễn việc xét xử loại tội phạm này vẫn còn nhiều vướng mắc trong việc xác định tội danh, quyết định hình phạt, vấn đề "hình sự hóa" hoặc “phi hình sự hóa” các quan hệ dân sự, quan hệ kinh tế của các cơ quan áp dụng pháp luật trong hoạt động tố tụng có lúc còn tỏ ra lúng túng, không thống nhất đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử và là nguyên nhân dẫn đến oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm Nhận thấy vai trò và tầm quan trọng của vấn đề này, nhằm góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và pháp lý trong định tội danh, quyết định hình phạt, bảo đảm tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật đối với tội danh này trong tình hình hiện nay Học viên đã mạnh dạn

Trang 4

chọn đề tài “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp

luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài

nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tội LDTNCĐTS không phải là vấn đề mới và đã có khá nhiều công trình khoa học, các bài viết đề cập đến loại tội phạm này, như:

TS Nguyễn Ngọc Chí, Chương VI - Các tội xâm phạm sở hữu,

trong: “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam” phần các tội phạm; tập

thể tác giả do GS TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản – Một số vướng mắc trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện”; Tác giả Hoàng Thị Hạnh với công trình nghiên cứu “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự” Bên cạnh đó

còn có một số bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, các nghiên cứu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dưới góc độ tội phạm học hay dưới góc độ luật hình sự Tuy nhiên, chưa có bất

kì một công trình nghiên cứu về thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội LDTNCĐTS trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao

có hiệu quả của công tác áp dụng pháp luật đối với loại tội phạm

LDTNCĐTS trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu, phân tích các quy định của Bộ Luật hình sự và làm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội LDTNCĐTS Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử đối với tội này, làm rõ những khó khăn, vướng mắc, bất cập khi định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội này Đề xuất các giải pháp khắc phục

Trang 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lí luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm

đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ năm 2012 - 2016

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về lí luận: Điều 140 BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009,

so sánh với những quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 175 BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; làm rõ lí luận về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

- Về mặt thực tiễn: nghiên cứu thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn từ năm 2012 - 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, văn bản pháp luật của Nhà nước về các vấn đề tội phạm và hình phạt, về đấu tranh phòng, chống tội phạm; lý luận về tội phạm học, Luật hình sự và tố tụng hình sự

Phương pháp nghiên cứu của luận văn: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu bản án, logic, quy nạp, diễn dịch, mô tả và các phương pháp nghiên cứu của khoa học hình sự

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ hơn lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Về thực tiễn: Có thể là nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Một số đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp

Trang 6

những luận cứ khoa học phục vụ cho hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến tội LDTNCĐTS, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội này ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay và thời gian tới

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Chương 2: Định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về tội LDTNCĐTS

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LẠM

DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

1 1 Lịch sử hình thành và phát triển quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.1.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm

1954

Sau khi Hiến pháp năm 1946 được thông qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để bảo vệ các quyền sở hữu, đặc biệt là sở hữu XHCN: Sắc lệnh số 26/SL (25/02/1946) trừng trị các tội phá hoại tài sản; Sắc lệnh số 233/SL (17/11/1946) trừng trị các tội phù lạm, biển thủ công quỹ…

1.1.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến trước khi ban hành Bộ luật

hình sự năm 1985

Trang 7

Thủ tướng chính phủ ban hành Thông tư 442/TTg ngày 19/11/1955, Sắc lệnh 27/SL ngày 28/02/1946

Ngày 15/6/1956, Chủ tịch nước công bố Sắc lệnh số 267/SL Ngày 21/10/1970 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của nhân dân Thông tư số 213/NCPL ngày 05/5/1973 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an; Chỉ thị số 14/TATC ngày 12/7/1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 228 của Bộ chính trị…

Ngày 15/3/1976 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Sắc luật số 03/SL-1976, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi đó được quy định tại điểm b Điều 4 của Sắc luật này với tên gọi “Bội tín” Tháng 4/1976 Bộ tư pháp đã ra Thông tư số 03/TTB/TT hướng dẫn thi hành Sắc lệnh này

1.1.3 Giai đoạn Bộ luật hình sự năm 1985 có hiêu lực thi hành

Ngày 17/6/1985 BLHS đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1986, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lúc bấy giờ được quy định tại Điều 135 và Điều 158 Do phải đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình đất nước phát triển, BLHS năm 1985 tiếp tục có bốn lần sửa đổi vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997

1.1.4 Giai đoạn bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành

Ngày 21/12/1999 Quốc hội khóa X nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua BLHS năm 1999 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 Các tội trong chương xâm phạm sở hữu XHCN và chương xâm phạm sở hữu của công dân đã được nhập lại thành một chương duy nhất: “Các tội xâm phạm sở hữu” Ngày 19/6/2009, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ

Trang 8

họp thứ 5 đã họp và thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 Theo đó, kể từ ngày 01/01/2010 giá trị tài sản bị chiếm đoạt tại khoản 1 Điều 140 BLHS năm 1999 đã được thay đổi

từ mức một triệu đồng lên bốn triệu đồng

1.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1.1.1 Khái niệm

Tội LDTNCĐTS là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật hình sự đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích bằng các hình thức hợp đồng rồi sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả lại tài sản hoặc dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó

1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý

* Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Khách thể của tội LDTNCĐTS là quan hệ sở hữu Chủ thể của quan hệ sở hữu trong tội LDCĐTS bao gồm Nhà nước, các tổ chức

và công dân Hành vi gây thiệt hại cho các quan hệ sở hữu là hành vi xâm phạm đến các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu

* Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm

do Luật hình sự quy định, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Nội dung mặt khách quan của tội phạm bao gồm: hành vi phạm tội, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

Trang 9

* Chủ thể của tội phạm

Theo quy định tại Điều 12 BLHS 2015 thì chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ là người đã đủ 16 tuổi trở lên

và có năng lực TNHS

* Mặt chủ quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, thể hiện diễn biến tâm lý của bị cáo đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà bị cáo thực hiện, bao gồm: lỗi (cố ý hoặc vô ý), động cơ, mục đích phạm tội

1.3 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với các giao dịch dân sự, kinh tế và một số tội phạm có liên quan

1.2.1 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với các giao dịch dân sự, kinh tế

Tội LDTNCĐTS và các giao dịch dân sự, kinh tế đều có những điểm giống nhau đó là: các bên đã giao kết xác lập một giao dịch dân

sự, kinh tế hoàn toàn ngay thẳng, hợp pháp dưới hình thức hợp đồng Tuy nhiên, để phân biệt tội LDTNCĐTS với các giao dịch dân sự, kinh tế, phải chứng minh được yếu tố chiếm đoạt hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp, dùng thủ đoạn gian dối, hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả, bỏ trốn để nhằm chiếm đoạt tài sản đó

1.2.2 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội danh khác

* Phân biệt tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đạt tài sản:

Điểm khác nhau cơ bản nhất giữa hai tội này là mục đích chiếm đoạt xuất hiện trước hay sau khi nhận được tài sản

Ở tội LDTNCĐTS, người phạm tội nhận được tài sản một cách ngay thẳng hợp pháp thông qua một giao dịch dân sự, kinh tế; lúc đó người phạm tội chưa có ý thức chiếm đoạt, chỉ sau khi nhận được tài

Trang 10

sản thì họ mới có ý thức chiếm đoạt Còn ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, việc thông qua các hợp đồng dân sự, kinh tế, chỉ là một dạng của hành vi lừa đảo và người phạm tội có mục đích chiếm đoạt tài sản từ trước

* Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội

tham ô tài sản

Điểm khác biệt đó là: Chủ thể tội LDTNCĐTS là bất kỳ cá nhân nào có đầy đủ các dấu hiệu chủ thể của tội phạm hình sự Còn chủ thể của tội tham ô tài sản phải là người có chức vụ, quyền hạn và tại thời điểm thực hiện tội phạm, người đó đang có trách nhiệm quản

lý đối với tài sản bị chiếm đoạt Và khách thể của tội phạm LDTNCĐTS là quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ bao gồm tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức và tài sản của Nhà nước Nhưng tội tham ô tài sản, hành vi chỉ xâm phạm tới tài sản của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước

* Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều

280 BKHS 1999 và Điều 355 BLHS 2015):

Tội LDTNCĐTS với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân giống nhau ở chỗ: Đều xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân; đều là tội cố ý trực tiếp; đều lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân, đều cấu thành vật chất Khác nhau đó là: ở tội LDTNCĐTS thì người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản mình được giao trên cơ sở hợp đồng; còn tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân thì người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản của công dân bằng thủ đoạn lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình

Trang 11

1.4 Quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong sự so sánh với Bộ luật hình sự năm 2015

Quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của

BLHS năm 2015, điều 175 so với điều 140 BLHS năm 1999:

Một là, thay đổi về nội hàm của khái niệm “hành vi lạm dụng

tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Điều 175 BLHS năm 2015 quy định thêm hành vi “đến thời hạn trả lại tài sản, mặc dù có điều kiện, khả năng trả nhưng cố tình không trả” là dấu hiệu khách quan của tội LDTNCĐTS

Hai là, thay đổi về các dấu hiệu định khung hình phạt:

BLHS năm 2015 cụ thể hóa một số dấu hiệu định khung điểm

e khoản 2, điểm b khoản 3, điểm b khoản 4 BLHS năm 1999 là sử dụng các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” làm tình tiết định khung hình phạt Điều 175 còn bổ sung thêm dấu hiệu định khung hình phạt mới, đó là tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, điểm b, khoản 2; tình tiết gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, điểm b, khoản 3; đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án

về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172,

173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại (khoản 1 điều 175 BLHS năm 2015)

Ba là, thay đổi về các mức hình phạt

BLHS năm 2015, điều 175 bỏ hình phạt tù chung thân trong một số tội, trong đó có tội “ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Các mức hình phạt quy định tại các khoản 3, 4, 5 điều 175 BLHS năm 2015 đều theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội so với các khoản 3, 4, 5 điều 140 BLHS năm 1999

Trang 12

Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH

SỰ VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN

TỈNH THANH HÓA

2.1 Định tội danh đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

2.1.1.Khái quát lý luận về định tội danh

Định tội danh (ĐTD) là một quá trình nhận thức logic, là hoạt động tư duy do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện, là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cụ thể hóa hình phạt một cách khách quan chính xác, là việc xác định hành vi cụ thể đã thực hiện đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm cụ thể tương ứng do Bộ luật hình sự quy định và xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nhất định với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội Định tội danh bao gồm các quá trình sau:

- Xác định đầy đủ, chính xác, khách quan các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện trên thực tế Quá trình này bao gồm các hoạt động chứng minh và các biện pháp tố tụng khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

- Nhận thức đúng đắn quy định của BLHS và cấu thành tội phạm tương ứng bao gồm các các yếu tố chủ quan và khách quan của tội phạm

Trang 13

- Xác định phù hợp giữa hành vi phạm tội cụ thể được thực hiện và cấu thành tội phạm tương ứng

2.1.2 Cơ sở pháp lý của việc định tội danh

Pháp luật hình sự là cơ sở pháp lý của việc định tội, vì văn bản này quy định cấu thành tội phạm mà nhờ đó ta xác định được sự phù hợp của các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể được coi là cơ sở thực tế của việc định tội Điều 2 Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định nguyên tắc “Chỉ người nào phạm tội đã được luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”

2.1.3 Thực trạng việc định tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

* Khái quát tình hình định tội danh “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Từ năm 2012 đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã xảy ra 10.187 vụ phạm tội với 19.105 bị cáo, trong đó, vụ phạm tội LDTNCĐTS là 173 vụ (chiếm 1.69%) với 192 bị cáo (chiếm 1,05%);

số vụ phạm tội LDTNCĐTS có năm tăng, có năm giảm, nhưng nhìn chung là có xu hướng gia tăng Nếu so với năm 2012 thì năm 2016 số

vụ phạm tội tăng 1,03%

* Định tội danh theo cấu thành tội phạm cơ bản

Thực tiễn định tội danh theo cấu thành tội phạm cơ bản tội LDTNCĐTStừ 2012 – 2016 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa chỉ diễn ra

ở các cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện với 116 vụ án, không có

vụ án nào diễn ra ở cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh Phần lớn các

vụ án được định tội danh theo điểm a khoản 1 Điều 140 BLLHS năm

1999 Số ít vụ án có hành vi cấu thành tội phạm tại điểm b khoản 1 Điều 140 BLHS

Ngày đăng: 08/11/2017, 12:01

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w