1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trách nhiệm xã hội của trường đại học công nghệ thông tin và truyền thông trong giai đoạn hiện nay

87 200 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những suy nghĩ trên, tác giả nghiên cứu vấn đề trách nhiệm xã hội cụ thể tại một trường đại học với đề tài “Trách nhiệm xã hội của Trường đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HÀ VĂN VƯƠNG

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HÀ VĂN VƯƠNG

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ

MÃ SỐ: ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Nguyễn Mạnh Quân

Hà Nội - 2017

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 0

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

PHẦN NỘI DUNG 12

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ ĐẠI HỌC VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC 12

1.1.Giáo dục đại học 12

1.1.1 Khái niệm giáo dục đại học 12

1.1.2 Vai trò của giáo dục đại học 15

1.1.3 Xu hướng phát triển của giáo dục đại học hiện đại 16

1.2 Trách nhiệm xã hội 18

1.2.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội 18

1.2.2 Mục đích của trách nhiệm xã hội 20

1.2.3 Nội dung của trách nhiệm xã hội 20

1.3 Trách nhiệm xã hội của trường đại học 23

1.3.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của trường đại học 23

1.3.2 Mục đích của việc đảm bảo trách nhiệm xã hội của trường đại học 25

1.3.3 Nội dung trách nhiệm xã hội của trường đại học 26

1.4 Điều kiện bảo đảm thực hiện trách nhiệm xã hội của trường đại học 32

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 35

2.1 Khái quát về Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông 35

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Nhà trường 35

2.1.2 Sứ mạng và chiến lược của Nhà trường 36

2.1.3 Những cam kết trong hoạt động của Nhà trường 37

2.2 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông 38

Trang 4

2.2.1 Thực trạng thực hiện TNXH của Nhà trường đối với cơ quan quản lý

nhà nước 39

2.2.2 Thực trạng thực hiện TNXH của Nhà trường đối với người học 40

2.2.3 Thực trạng thực hiện TNXH của Nhà trường đối với giảng viên 46

2.2.4 Thực trạng thực hiện TNXH của Nhà trường đối với người sử dụng lao động 48

2.2.5 Thực trạng thực hiện TNXH của Nhà trường đối với cộng đồng địa phương 50

2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông 52

2.3.1 Kết quả Nhà trường đã đạt được 52

2.3.2 Những vấn đề còn hạn chế 54

Chương 3 XU HƯỚNG CỦA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT BẢO ĐẢM THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 57

3.1 Xu hướng của trách nhiệm xã hội trong trường đại học hiện nay 57

3.2 Một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện trách nhiệm xã hội của Trường ĐH CNTT&TT 59

3.2.1 Đổi mới văn hóa tổ chức theo hướng đảm bảo TNXH 59

3.2.2 Tăng học phí để đầu tư cho dịch vụ giáo dục 60

3.2.3 Đổi mới chương trình đào tạo theo hướng gọn nhẹ, thúc đẩy tinh thần tự học của sinh viên 61

3.2.4 Tinh giản đội ngũ nhân sự trong Nhà trường 62

3.2.5 Bảo đảm các chế độ phúc lợi đối với cán bộ, giảng viên 63

3.3 Một số khuyến nghị nhằm thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của Trường ĐH CNTT&TT 63

3.3.1 Nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước 63

3.3.2 Nhiệm vụ của lãnh đạo Nhà trường 64

3.3.3 Nhiệm vụ của giảng viên 66

3.3.4 Nhiệm vụ của sinh viên 67

3.3.5 Nhiệm vụ của các nhà tuyển dụng 68

Trang 5

3.3.6 Nhiệm vụ của cộng đồng địa phương 68

PHẦN KẾT LUẬN 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 76

Trang 6

NCKH : NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CTĐT : CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO

ĐBCLGD : ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

ĐHTN : ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Hình 1.1 Tháp cấp độ trách nhiệm xã hội 21 Hình 1.2 Các đối tượng hữu quan của trường đại học 27 Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trường ĐH CNTT&TT 36 Bảng 2.1 Mức độ thực hiện báo cáo, giải trình của Nhà trường với cơ quan quản lý cấp trên 39 Bảng 2.2 Nội dung công khai tài chính của Nhà trường từ 2007 – 2016 40 Bảng 2.3 Mục đích công khai thông tin của Nhà trường 44 Bảng 2.4 Sự hài lòng của người học đối với việc thực hiện TNXH của Trường ĐH CNTT&TT 46 Bảng 2.5 Sự hài lòng của CBGV đối với việc thực hiện TNXH của 48 Trường ĐH CNTT&TT 48 Bảng 2.6 Sự hài lòng của nhà tuyển dụng đối với việc thực hiện TNXH của Trường ĐH CNTT&TT 50 Bảng 2.7 Sự hài lòng của cộng đồng địa phương đối với việc thực hiện TNXH của Trường ĐH CNTT&TT 52

Trang 8

xã hội hóa giáo dục; vì yêu cầu của các nhà tài trợ nguồn lực cho nhà trường ; vì phải đáp ứng quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh trong kinh tế thị trường Vai trò của trách nhiệm xã hội đã được xã hội nhận thức và ngày càng quan tâm Tuy nhiên, trên thực tế hầu hết các tổ chức, doanh nghiệp đều không thực hiện tốt được vấn đề trách nhiệm xã hội như cam kết Các trường đại học cũng không ngoại lệ Một phần là do điều kiện kinh tế đất nước còn chưa phát triển, đầu tư tài chính cũng như khả năng tài chính của các trường đại học yếu kém, buộc phải có những hành động nhất thời để duy trì hoạt động Phần nữa, cũng phải thừa nhân là việc không trung thành với cam kết, vi phạm cam kết của các vị lãnh đạo, quản lý trường đại học đã không thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của nhà trường

Với những suy nghĩ trên, tác giả nghiên cứu vấn đề trách nhiệm xã hội cụ thể

tại một trường đại học với đề tài “Trách nhiệm xã hội của Trường đại học Công

nghệ Thông tin và Truyền thông trong giai đoạn hiện nay” mong muốn tìm

hiểu, nghiên cứu bản chất của trách nhiệm xã hội, trách nhiệm xã hội của trường đại học cần phải thực hiện, ý nghĩa, vai trò của nó đối với tổ chức và xã hội, đồng thời nghiên cứu xu hướng của nó trong môi trường biến đổi hiện nay, tạo cơ sở cho các hoạt động nghiên cứu tiếp theo

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

 Tình hình nghiên cứu quốc tế

Trang 9

đó là giá trị chuẩn mực, giá trị đạo đức của mình, bắt buộc phải thực hiện chứ không phải chờ đợi cơ chế của nhà nước

Hội thảo giáo dục Á – Âu lần thứ 2 (2011) được tổ chức bởi Quỹ Châu Á và

Châu Âu (The Asia-Europe Foundation's) với chủ đề “Knowledge Societies: Universities and their social responsibilities” do Chripa Schneller and Erich Thoni

biên tập cũng đã thảo luận rất nhiều câu hỏi xoay quanh vấn đề TNXH của trường đại học Các học giả cho rằng các trường đại học như là trụ cột cho sự phát triển của con người, phải có trách nhiệm về mặt xã hội đối với sản phẩm của mình (những người tốt nghiệp) và các bên liên quan tiềm năm tác động đến tương lai của kinh tế – xã hội Nhưng làm thế nào để áp dụng TNXH của doanh nghiệp (CSR) vào các trường đại học Hội thảo cũng đề xuất một khuôn khổ quản lý chiến lược TNXH của trường đại học (USR) nhằm cân bằng việc quản lý TNXH của các bên liên quan

cả bên trong và bên ngoài trường học thông qua quá trình tạo ra giá trị

 Tình hình nghiên cứu trong nước

Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề trách nhiệm xã hội của trường đại học và đã đặt nền tảng về mặt lý luận và thực tiễn cho vấn đề này Tuy nhiên, TNXH của trường đại học ở nước ta vẫn còn là vấn để mới cả về cả phương diện lý luận và thực tiễn

Tiếp cận ở góc độ quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm, tác giả Lê Đức Ngọc

với đề tài “Bàn về quyền tụ chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học” (2009) cho rằng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đại học đã

Trang 10

được thiết lập, nhưng vẫn còn nhiều bất cập trong khâu triển khai Ông cho rằng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hô ̣i của mô ̣t cơ sở giáo dục đại học chỉ có thể thực hiê ̣n mô ̣t cách đầy đủ và phát huy được cơ chế vâ ̣n hành ưu viê ̣t này khi mà đồng thời vừa phân đi ̣nh được rõ ràng trách nhiệm và giới hạn của quản lý nhà nước và bản thân từng cơ sở đào ta ̣o đại học phải có đủ năng lực và môi trường để thực hiện quyền tự chủ và TNXH của mình và một cơ chế giám sát hữu hiệu đối với cả cơ quan nhà nước và cơ sở đào tạo đại học thực hiê ̣n cơ chế này

Tiếp cận ở cơ chế chính sách của nhà nước, tác giả Phan Huy Hùng cho rằng nhà nước giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm trách nhiệm xã hội của trường đại

học trong đề tài “Bảo đảm trách nhiệm xã hội của trường đại học” (2010) Nhà

nước cần đổi mới phương thức phân bổ tài trợ công cho trường đại học, áp dụng chính sách đầu tư và phân bổ tài trợ công tích cực để tăng hiệu quả sử dụng hiệu quả nguồn lực Nhà nước có thể áp dụng chính sách đặt hàng đào tạo và nghiên cứu đối với trường đại học để thúc đẩy trách nhiệm chi phí Thực hiện chính sách tài trợ kinh phí cho phía cầu, tức là thay vì hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho trường đại học là nhà sản xuất, nhà nước áp dụng phương thức hỗ trợ tài chính gián tiếp thông qua người ho ̣c và ngư ời sử dụng sản phẩm nghiên cứu hay cho “khách hàng”, để thúc đẩy cải thiện chất lượng và chi phí hợp lý và nhất là tạo sự lựa cho ̣n ch ủ động cho người ho ̣c

Tác giả Nguyễn Thị Gấm với đề tài “Trách nhiệm xã hội của tổ chức khoa học và công nghệ - Nghiên cứu trường hợp tại Trường đại học kỹ thuật Lê Quý Đôn” (2011) tiếp cận vấn đề trách nhiệm trong hoạt động của một trường đại học cụ

thể Việc thực hiện TNXH của một trường đại học thể hiện trên các hoạt động của trường đại học đó như: đào tạo, nghiên cứu, hành chính và sử dụng nhân lực Tác giả nghiên cứu TNXH của trường đại học dựa trên quan điểm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Tác giả Ngô Thị Tuyết Mai với đề tài “Làm thế nào để thực thi có hiệu quả quyền tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội của các trường đại học Việt Nam” (2011)

cho rằng trách nhiệm của nhà nước là trao quyền tự chủ cho các trường đại học, về

Trang 11

phía các trường đại học cần thực hiện TNXH bằng việc công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và khuyến khích sự tham gia của xã hội vào quá trình hoạt động của trường học

Tác giả Lê Thanh Tâm với đề tài “Cơ sở khoa học về quản lý trường đại học thuộc Bộ Công thương theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội” (2014) cho rằng

trách nhiệm xã hội chính là việc nhà trường đại học tự đánh giá và giám sát việc thực hiện các quy định của Nhà nước, sẵn sàng giải trình, công khai minh bạch các hoạt động của nhà trường và chịu trách nhiệm về các kết quả hoạt động của mình, sẵn sàng giải trình trước tập thể nhà trường, trước Nhà nước và trước xã hội nhằm đảm bảo lợi ích của chính bản thân nhà trường, của Nhà nước, của các bên liên quan

Tác giả Đoàn Văn Dũng với đề tài “Quản lý nhà nước về chất lượng giáo dục đại học” (2015) cho rằng TNXH của một trường đại học được thể hiện ở ba phương

diện: trách nhiệm với người học, với xã hội; trách nhiệm với Nhà nước; trách nhiệm với chính cơ sở giáo dục đại học Muốn nâng cao chất lượng đào tạo của trường đại học thì nhà nước ta cần phải thay đổi chính sách quản lý bằng cách trao quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các trường đại học

Nghiên cứu của các tác giả đi trước đã đặt nền tảng về mặt lý luận và thực tiễn cho vấn đề này Tuy nhiên, TNXH của trường đại học ở nước ta vẫn còn là vấn để mới cả về cả phương diện lý luận và thực tiễn Các tác giả chủ yếu tiếp cận trách nhiệm xã hội của trường theo cơ chế quản lý của nhà nước, chưa có nghiên cứu theo hướng tiếp cận lợi ích Mặt khác bản chất TNXH của trường đại học vẫn chưa được làm rõ Các tác giả thường nhầm lẫn giữa TNXH với tự chịu trách nhiệm Đây là hai khái niệm không đồng nhất Khái niệm tự chịu trách nhiệm dùng để chỉ một trường đại học phải chịu trách nhiệm về những gì mình đã làm, còn TNXH là khái niệm dùng để chỉ những việc cần làm của một trường đại học Chính vì vậy, tác giả tiếp tục kế thừa lý luận của tác giả đi trước, tiếp tục nghiên cứu vấn đề TNXH của trường đại học theo hướng tiếp cận lợi ích, xuất phát từ yêu cầu của xã hội trong

Trang 12

thời kỳ mới, ý nghĩa vai trò của TNXH đối với bản thân mỗi trường đại học trong giai đoạn hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu:

- Mục tiêu tổng quát: Đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện TNXH của Trường

ĐH CNTT&TT

- Mục tiêu cụ thể:

+ Làm rõ bản chất, nội dung TNXH của trường đại học;

+ Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện TNXH của Trường ĐH CNTT&TT; + Đầ xuất giải pháp nhằm thực hiện tốt TNXH tại Trường ĐH CNTT&TT

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Thực trạng thực hiện TNXH của Trường ĐH CNTT&TT

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2011 – 2016

- Phạm vi không gian: Tại Trường ĐH CNTT&TT

5 Mẫu khảo sát

Khảo sát 300 phiếu đối với các đối tượng hữu quan của Trường ĐH CNTT&TT (bao gồm: sinh viên, giảng viên, cơ quan quản lý cấp trên, nhà tuyển dụng, cộng đồng địa phương)

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Trường ĐH CNTT&TT thực hiện TNXH đối với các bên hữu quan như thế nào?

- Giải pháp nào để bảo đảm thực hiện TNXH trong Trường ĐH CNTT&TT hiện nay?

- Xu hướng TNXH của trường đại học hiện nay đang vận động như thế nào?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Trường ĐH CNTT&TT chưa bảo đảm thực hiện tốt TNXH của mình đối với các bên hữu quan

- Đổi mới văn hóa trường học, chương trình đào tạo, thay đổi chính sách tài chính, chính sách nhân sự, bảo đảm chế độ phúc lợi cho người lao động, là những giải pháp chính để thực hiện tốt trách TNXH của Trường ĐH CNTT&TT hiện nay

Trang 13

- Các trường đại học ngày càng trú trọng việc bảo đảm thực hiện TNXH của mình

8 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu giáo trình, các nguồn tư liệu

sẵn có về các vấn đề của TNXH và TNXH của cơ sở giáo dục đại học qua các đề tài nghiên cứu, báo chí, tạp chí, website… Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, cung cấp cơ sở lý luận của đề tài

- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Thực hiện khảo sát 300 phiếu đối với các

đối tượng hữu quan của Trường ĐH CNTT&TT (bao gồm: sinh viên, giảng viên, cơ quan quản lý cấp trên, nhà tuyển dụng, cộng đồng địa phương) để nghiên cứu thực trạng thực hiện TNXH của Trường ĐH CNTT&TT

9 Kết cấu củ Luận văn

Kết cấu của luận văn gồm các phần sau:

- Phần mở đầu

- Phần nội dung: Gồm có 3 chương:

+ Chương 1 Lý luận về đại học và trách nhiệm xã hội của trường dại học + Chương 2 Thục trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông

+ Chương 3 Xu hướng của trách nhiệm xã hội trong trường đại học và một số

đề xuất bảo đảm thực hiện trách nhiệm xã hội của Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông trong giai đoạn hiện nay

- Phần kết luận

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 LÝ LUẬN VỀ ĐẠI HỌC VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1.Giáo dục đại học

1.1.1 Khái niệm giáo dục đại học

Giáo dục là một hiện tượng của xã hội đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người Sự đặc biệt của giáo dục được thể hiện ở sự truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử

xã hội qua các thế hệ, tạo ra sự phát triển của cá nhân và xã hội

Giáo dục bắt đầu xuất hiện từ khi con người biết lao động và có ngôn ngữ Ban đầu nó mang tính tự phát, đơn giản theo kiểu bắt chước trực tiếp, truyền đạt kinh nghiệm săn bắt, hái lượm, cao hơn là các nghi lễ, tập tục của cộng đồng Qua thời gian, cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất, các giai đoạn phát triển của xã hội loài người, hoạt động giáo dục cũng phát triển liên tục với các mục đích khác nhau Sau một thời gian phát triển, xã hội xuất hiện một bậc học mang tính hàn lâm, đặc trưng cho văn minh của một thời đại, chỉ dành riêng cho con em giai cấp thống trị, đó là giáo dục đại học Giáo dục đại học lúc này trở thành công cụ quan trọng của giái cấp thống trị, trước tiên nhằm đào tạo họ trở thành những người có năng lực duy trì nền thống trị, sau đó là tuyên truyền tính chất quy thuận, phục tùng đối với tất cả những tầng lớp bị trị

Đại học là một trong ít các định chế của xã hội tồn tại lâu đời nhất trong lịch

sử nhân loại, lâu hơn cả các vua chúa, lãnh chúa phong kiến, không những không tàn lụi đi mà ngày càng phát triển mạnh mẽ thêm Hầu hết các đại học thời Trung cổ vẫn còn hiện hữu tại vị trí cũ của chúng Ý tưởng giáo dục châu Âu đã có từ khoảng

2500 năm trước tại Hy Lạp cổ đại Hàn lâm viện của Platon có thể được xem là hạt nhân của học thuật đầu tiên của châu Âu, hội tụ đầy đủ các tính chất học thuật: đi tìm cái tốt, cái chân lý, bằng khoa học, bằng sự đối thoại trong không khí tự do, bằng sự tự nguyện, thầy và trò bình đẳng nhau, thầy và trò tìm đến nhau Đó thực tế

là những hạt giống ý tưởng đại học của các nhà cải cách đại học Đức Fichte, Humboldt và Schleiermacher sau này Nhưng đại học có tổ chức và tinh thần gần gũi với đại học chúng ta ngày nay chỉ xuất hiện vào thế kỷ thứ 12 tại Tây Âu, với các đại học đầu tiên là Bologna, Paris và Oxford Mục tiêu của đại học là mối quan tâm học thuật, khoa học, mong muốn đạt đến nhận thức và tri thức, hơn là từ lý do kinh tế (Nguồn gốc của đại học – Nguyễn Xuân Xanh)

Trang 15

Ở Việt Nam, Quốc Tử Giám xây dựng ở thế kỷ XI (1075) đánh dấu sự ra đời của giáo dục đại học Đây được coi là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng trình độ cao nhất của Nho học suốt hàng ngàn năm trong xã hội phong kiến Mục đích của Quốc

Tử Giám lúc này là đạo tạo sĩ tử, phát triển nhân tài để tham gia vào bộ máy quản lý nhà nước phong kiến khi đó Từ khi thành lập nên Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 trở về sau, giáo dục đại học ở Việt Nam có sự phát triển nhanh chóng với sự ra đời nhiều trường Đại học, Cao đẳng, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Chính sách đổi mới giáo dục của Chính phủ từ những thập niên 80 theo hướng xã hội hóa giáo dục đã làm gia tăng nhanh số lượng các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam từ 120 trường (1990), 157 trường (1998), 191 trường (2002), 311 trường (2006) lên tới 472 trường (2014) Sự phát triển nhanh chóng của mạng lưới các trường cao đẳng, đại học đã góp phần quan trọng thực hiện xã hội hóa giáo dục, cung cấp nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Nhưng, bên cạnh những thành tựu ấy cũng để lại nhiều hệ lụy đó là chất lượng giáo dục đại học đi xuống, sự gia tăng không kiểm soát được số lượng các trường cao đẳng, đại học (theo Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, đến năm 2020 Việt Nam sẽ 460 trường cao đẳng, đại học) Việc giảm sút của chất lượng đào tạo cùng với sự dễ dãi trong tuyển sinh đã khiến cho giáo dục đại học mất dần đi cái giá trị vốn có của nó

Trang 16

Vậy giáo dục đại học là gì?

Trong một xã hội đầy ắp những khác biệt, với nhiều hệ tư tưởng và ý kiến đa dạng, cụm từ “giáo dục đại học” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Ở mỗi thời

kỳ, mỗi giai đoạn, tùy thuộc vào mục đích của nó mà giáo dục đại học được hiểu theo một khía cạnh Xét về cấp bậc, giáo dục đại học bao gồm việc giảng dạy và học tập ở cao đẳng và đại học nhằm giúp sinh viên đạt được một tấm bằng của bậc đại học Giáo dục đại học truyền cho người học những kiến thức và hiểu biết sâu sắc nhằm giúp họ đạt tới những giới hạn mới của tri thức trong từng lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống – các lĩnh vực chuyên sâu

Quan điểm của Ronald Barnett trong “Improving Higher Education: Total Quality Care” (1992), có 4 khái niệm thông dụng nhất về giáo dục đại học:

- Giáo dục đại học là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân lực đạt chuẩn Theo quan điểm này, giáo dục đại học là một quá trình trong đó người

học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động Như vậy, GDĐH thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng của thương mại và công nghiệp

- Giáo dục đại học là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứu Theo cách nhìn

này, giáo dục đại học là thời gian chuẩn bị để tạo ra những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến thức mới Chất lượng ở đây hướng về việc tạo ra các công bố khoa học và tinh thần làm việc nghiêm nhặt để thực hiện các nghiên cứu có chất lượng

- Giáo dục đại học là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả Rất

nhiều người cho rằng giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục Do vậy, các cơ sở giáo dục đại học thường chú trọng quản lý một cách hiệu quả các hoạt động dạy và học bằng cách nâng cao chất lượng giảng dạy và nâng cao tỷ lệ kết thúc khóa học của sinh viên

- Giáo dục đại học là mở rộng ra các cơ hội trong cuộc sống cho người học Theo cách tiếp cận này, giáo dục đại học được xem như một cơ hội để người

Trang 17

cơ bản cấu thành giáo dục đại học, đó là giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng

Trong từ điển giáo dục của tác giả Bùi Hiền, giáo dục đại học được hiểu là bậc học đào tạo trình độ học vấn chuyên môn cao, có mục tiêu đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đực, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương ứng với trình đồ đào tạo, có sức khỏe đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc [8; tr.122]

Ở Việt Nam hiện nay, chưa có định nghĩa chính thức về giáo dục đại học, và được hiểu đó là bậc giáo dục sau bậc Trung học phổ thông với các trình độ: cao đẳng, đại học, sau đại học Nhưng cũng giống như các nước khác trên thế giới, sứ mạng chính yếu của giáo dục đại học Việt Nam ở tất cả các giai đoạn phát triển là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế và đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội Mục tiêu của giáo dục thay đổi dựa vào chính sách phát triển kinh tế - xã hội của chính phủ đặt ra cho từng giai đoạn phát triển của đất nước

1.1.2 Vai trò của giáo dục đại học

Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh: bất cứ xã hội nào muốn tồn tại

và phát triển tiến bộ thì phải thực hiện giáo dục liên tục đối với các thế hệ con người Giáo dục đại học luôn gắn liền với chế độ chính trị cùng với sự phát triển và tiến bộ của xã hội Thực tiễn của Hoa Kỳ và châu Âu, trường đại học nói chung được hiểu như là cộng đồng của những người theo đuổi tri thức, tức là giảng viên và sinh viên Nó được coi là “nơi cung cấp kiến thức”, “ngôi đền của tri thức”, “trung tâm của quyền lực trí tuệ”, “nơi bảo vệ quyền lực của mọi loại tri thức” và là một

“trung tâm sáng tạo tri thức, chuyển giao và ứng dụng tri thức, xem lại mọi tri thức, phổ biến tri thức, chuyển giao và ứng dụng tri thức” Chức năng cơ bản của trường

Trang 18

đại học là truyền tải văn hóa, kiến tạo tri thức, và theo đuổi chân lý thông qua việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu Ủy ban Kothari (1996) đã liệt kê những vai trò của các trường đại học như sau:

- Tìm kiếm và trau dồi tri thức mới, không ngừng nghỉ và không chùn bước trong quá trình kiếm tìm chân lý, thường xuyên xem xét lại ý nghĩa của những kiến thức và niềm tin cũ dưới ánh sáng của những nhu cầu mới và khám phá mới

- Nắm giữ vai trò lãnh đạo phù hợp trong mọi lĩnh vực của đời sống, phát hiện những con người có tài năng và giúp họ phát triển tối đa tiềm năng của mình bằng cách trau dồi sức khỏe, phát triển năng lực trí tuệ, bồi dưỡng các mối quan tâm, các thái độ, các giá trị đạo đức cũng như giá trị tinh thần đúng đắn

- Cung cấp cho xã hội những con người được đào tạo trong các lĩnh vực nông nghiệp, nghệ thuật, y dược, khoa học và công nghệ cũng như những ngành nghề khác; những người này sẽ là những cá nhân đầy đủ năng lực và có ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng

- Nỗ lực thúc đẩy chất lượng sống và công bằng xã hội, giảm thiểu những khác biệt về văn hóa - xã hội thông qua việc phổ cập giáo dục

- Nuôi dưỡng và khích lệ ở cả giảng viên và sinh viên, những thái độ và giá trị cần thiết cho sự phát triển bền vững, tốt đẹp của cá nhân và xã hội, và từ đó nhân rộng những thái độ và giá trị này ra cho cả cộng đồng

“Ở Việt Nam trong những năm qua, giáo dục đại học tạo ra kiến thức giá trị và hình thành thái độ đối với con người mới, góp phần: phát triển nguồn nhân lực, xóa đói, giảm nghèo; mở rộng khả năng thích ứng nhu cầu nguồn nhân lực với thị trường lao động và khả năng hội nhập quốc tế; góp phần tạo lập sự công bằng trong

xã hội” [22, tr.24]

1.1.3 Xu hướng phát triển của giáo dục đại học hiện đại

Trong giai đoạn hiện nay và tương lai, các quan điểm giáo dục liên tục, giáo dục suốt đời, giáo dục cộng đồng, giáo dục kỹ năng sống, phát triển cá nhân v.v đã

và đang trở thành các quan điểm chủ đạo chi phối xu hướng và quy định những đặc trưng cơ bản của nền giáo dục hiện đại nói chung cũng như chất lượng giáo dục và

Trang 19

mô hình phát triển nhà trường đại học hiện đại nói riêng Định hướng phát triển trên bảo đảm mối liên kết khoa học – công nghệ – văn hóa – xã hội – phát triển cá nhân trong toàn bộ quá trình vận động và phát triển của nhà trường đại học hiện đại Giáo dục đại học ở các nước đã và đang phải đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức to lớn đặc biệt là vấn đề giải quyết các mối quan hệ giữa quy mô – chất lượng và hiệu quả đào tạo; giữa đào tạo và nghiên cứu, dịch vụ; giữa nhu cầu và nguồn lực cho phát triển.v.v Để giải quyết các yêu cầu đó giáo dục đại học ở các nước đã và đang thực hiện các cuộc đổi mới và cải cách sâu rộng với các xu hướng sau:

- Xu hướng đại chúng hóa: Chuyển từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục đại chúng và phổ cập Quy mô giáo dục đại học tăng nhanh Xu hướng đại chúng hóa của giáo dục đại học đã dần thay đổi quan niệm giáo dục đại học là lợi ích công thuần túy sang một phần là lợi ích tư Quan niệm này cho rằng văn bằng đại học mang về lợi ích cho người học nhiều hơn là cho xã hội, do đó người được hưởng lợi ích tư phải chi trả để đạt được lợi ích đó, và các trường đại học tư cần được thành lập để bán dịch vụ giáo dục đại học Và đó là lý do ngày càng bùng nổ các trường đại học tư như hiện nay

- Xu hướng đa dạng hoá: Phát triển nhiều loại hình trường với cơ cấu đào tạo

đa dạng về trình độ và ngành nghề theo hướng hàn lâm hoặc nghề nghiệp và công nghệ, nặng về thực hành

- Tư nhân hoá: Trước đây, trường đại học công lập là chủ trốt, được tổ chức và

và vận hành dưới sự quản lý của nhà nước Tuy nhiên, trường công lập thường không nhận được đầu tư lớn về tài chính, không có tính cạnh tranh thị trường do đó nếu chỉ tồn tại loại hình trường công lập sẽ không đạt hiệu quả Do vậy, để tăng hiệu quả đào tạo và thu hút nhiều nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học nhiều nước như Mỹ, Nhật Bản, Philipin v.v…phần lớn các trường đại học

là đại học tư Ở Việt Nam hiện nay, đại học công lập vẫn giữ vai trò chủ đạo, nhưng cũng hình thành nhiều trường cao đẳng, đại học tư thục, trường có vốn đầu tư nước ngoài Sự gia tăng số lượng các trường cao đẳng, đại học như hiện nay đã để lại nhiều hệ lụy, tuy nhiên nó lại tạo nên một cuộc ganh đua khốc liệt chưa bao giờ có

Trang 20

như lúc này trong khu vực giáo dục đại học Điều đó buộc các trường cao đẳng, đại học rằng muốn tồn tại và phát triển bền vững thì phải thay đổi, phải đáp ứng được yêu cầu của xã hội, phải phát triển đi trước xã hội và hội nhập quốc tế

- Bảo đảm chất lượng và nâng cao khả năng cạnh tranh Tập đoàn hoá và công nghiệp hoá hệ thống giáo dục đại học

- Đẩy mạnh các loại hình dịch vụ đào tạo nhân lực quốc tế và khu vực: Các trường đại học trở thành các cơ sở dịch vụ đào tạo nhân lực thu hút vốn đầu tư vào đào tạo từ nhiều nước đặc biệt là các nước đang phát triển có nhu cầu tiếp cận với công nghệ hiện đại Việc quốc tế hoác giáo dục đại học không chỉ là phương thức nâng cao chất lượng đào tạo, học hỏi lẫn nhau mà còn nhằm thực hiện toàn cầu hóa lực lượng lao động tiến tới toàn cầu hóa mọi mặt đời sống xã hội

Tại Việt Nam, giáo dục đại học đang được xây dựng theo chủ trương của Nghị quyết 14 của Chính phủ về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học giai đoạn

2006 – 2020 Qua đó phát triển các chương trình giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu và định hướng nghề nghiệp – ứng dụng; mở rộng quy mô đào tạo, khoảng 70 – 80% tổng số sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp – ứng dụng và khoảng 40% tổng số sinh viên thuộc các cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập… Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học theo hướng bảo đảm quyền

tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở GDĐH, sự quản lý của nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với giáo dục đại học

1.2 Trách nhiệm xã hội

1.2.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội

Vấn đề TNXH đã được thế giới quan tâm và đề cập đến từ thập niên 70 của thế kỷ XX Ban đầu, các khía cạnh TNXH còn đề cập ít và khá đơn giản như việc làm từ thiện, hỗ trợ người nghèo, sau đó là bảo vệ môi trường Sau đó, nội hàm của TNXH được mở rộng hơn rất nhiều Nó không chỉ là những vấn đề phúc lợi xã hội nữa, mà tập trung hơn vào hoạt động của cá nhân, tổ chức TNXH được nhìn nhận thông qua quá trình hoạt động, các quyết định quản lý, chất lượng sản phẩm và mối quan hệ của tổ chức với các bên hữu quan

Trang 21

Theo tác giả Nguyễn Văn Thức, TNXH bao gồm ba nội dung cơ bản đó là: Quan hệ giữa người với người cùng chung sống, hợp tác khoan dung với nhau trong

xã hội; sự gắn bó giữa cá nhân với cộng đồng; trách nhiệm phải đóng góp vào sự bảo vệ và phát triển bền vững của xã hội, nó thể hiện ở ba mức độ là tự nhiên, tự nguyện và nghĩa vụ

Trong “Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty”, tác giả Nguyễn Mạnh Quân

cho rằng, TNXH của tổ chức, doanh nghiệp chính là thể hiện vấn đề đạo đức của tổ chức, doanh nghiệp đó Khi xử lý các vấn đề đạo đức ấy, có thể sắp xếp tất cả các nghĩa vụ của một tổ chức hay doanh nghiệp cần phải thực hiện khi thực hành trách nhiệm đối với xã hội thành bốn nhóm: Các nghĩa vụ kinh tế, các nghĩa vụ pháp lý, các nghĩa vụ đạo lý và các nghĩa vụ nhân văn TNXH thể hiện qua việc thực hiện các nghĩa vụ ấy với các bên hữu quan của mỗi tổ chức, doanh nghiệp Nó cần xuất phát từ đạo đức trong kinh doanh và bản sắc văn hóa của tổ chức chứ không phải mang tính hình thức hay mục đích kinh tế

Khái niệm TNXH được đề cập trong ISO 26000: 2010 như sau “Trách nhiệm

xã hội của tổ chức là trách nhiệm của tổ chức đó đối với những tác động của các quyết định và hoạt động của nó đối với xã hội và môi trường, thông qua hành vi minh bạch và có đạo đức mà: góp phần vào sự phát triển bền vững, bao gồm cả sức khỏe và phúc lợi xã hội; có tính đến sự mong đợi của các bên liên quan; phù hợp với luật pháp hiện hành và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế của hành vi; được tích hợp trong tổ chức và thực hành trong các mối quan hệ của nó”

Trang 22

Như vậy, một tổ chức bất kỳ được coi là có TNXH phải có những hành vi minh bạch và có đạo đức Những quyết định và hành vi của tổ chức phải xem xét dựa trên những lợi ích chung và lợi ích các bên liên quan TNXH có những phần bắt buộc phải tuân theo những quy định của pháp luật, thông lệ quốc tế và sự tự nguyện của tổ chức đó Khái niệm TNXH trên đã khái quát cho mọi loại hình tổ chức, từ tổ chức chính trị – xã hội hay tổ chức giáo dục, sản xuất, kinh doanh TNXH hiện nay

đề cập đến bốn khía cạnh: kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn TNXH của mỗi tổ chức khác nhau là khác nhau, tùy theo đặc thù ngành nghề và bản thân tổ chức Các

tổ chức khi thực hiện tốt TNXH của mình sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng

và cho chính mình

1.2.2 Mục đích của trách nhiệm xã hội

Các tổ chức nhận ra rằng nếu như họ không quan tâm đến việc đảm bảo rằng những hoạt động kinh doanh của mình đang được vận hành trong phạm vi những chuẩn mực trách nhiệm xã hội, thì họ sẽ mất ưu thế so với đối thủ cạnh tranh; vì vậy, ngày càng có nhiều tổ chức tìm kiếm các giải pháp để họ có thể hiểu sâu hơn

bề rộng của những trách nhiệm xã hội mà họ cần quan tâm Đây là một vấn đề phức tạp để có thể áp dụng với tất cả các tổ chức Không phân biệt về quy mô tổ chức hay phạm vi kinh doanh, loại hình dịch vụ, các tổ chức cần đảm bảo tất cả các quy định xã hội đều được thực hiện Thực hiện tốt vấn đề TNXH sẽ giúp cho các tổ chức có thể:

- Duy trì văn hóa tổ chức, chuẩn mực đạo đức;

- Nâng cao giá trị của tổ chức;

- Thu hút lao động giỏi;

- Bảo vệ quyền lợi cho người lao động;

- Vì lợi ích cộng đồng

1.2.3 Nội dung của trách nhiệm xã hội

Trong giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty”, tác giả Nguyễn

Mạnh Quân nhận định rằng việc TNXH chính là việc bảo đảm thực hiện các nghĩa

vụ của tổ chức, doanh nghiệp đối với các bên hữu quan Các nghĩa vụ ấy thể thiện

Trang 23

khía cạnh với cấp độ từ thấp lên cao: nghĩa vụ kinh tế, nghĩa vụ pháp lý, nghĩa vụ đạo đức, nghĩa vụ nhân văn Đối với từng đối tượng hữu quan thì sẽ có các nghĩa vụ khác nhau Các nghĩa vụ ấy cần phải được đo lường căn cứ trên khả năng phúc lợi của mỗi tổ chức, doanh nghiệp

Trang 24

chuyên môn, được hưởng mức thù lao tương xứng, được hưởng môi trường lao động an toàn và vệ sinh, được đảm bảo quyền riêng tư, cá nhân ở nơi làm việc [21; tr.90 – 91]

- Nghĩa vụ pháp lý: Khía cạnh pháp lý trong TNXH đòi hỏi tổ chức, công ty tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật như một yêu cầu tối thiểu trong hành vi

xã hội của một tổ chức, tập thể hay cá nhân Việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý quy định trong các bộ luật chưa phải là căn cứ đầy đủ để đánh giá tính cách đạo đức của một con người hay tập thể Nhưng nó cũng là những yêu cầu tối thiểu của mỗi cá nhân, tổ chức cần thực hiện trong mối quan hệ xã hội Về cơ bản, trách nhiệm về pháp lý thể hiện ở các yếu tố như: điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, an toàn và bình đẳng, khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái [21; tr.92]

- Nghĩa vụ đạo đức: Khía cạnh đạo đức trong TNXH liên quan đến những hành vi hay hành động được các thành viên trong tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi hay không mong đợi nhưng không được thể chế hóa thành luật Nghĩa vụ đạo đức trong trách nhiệm xã hội của một tổ chức được thể hiện thông qua các tiêu chuẩn, chuẩn mực hay kỳ vọng phản ánh mối quan tâm của các đối tượng hữu quan chủ yếu như người tiêu dùng, người lao động, các đối tác, chủ sở hữu, cộng đồng Nói cách khác những chuẩn mực này phản ánh quan niệm của các đối tượng hữu quan về đúng sai, công bằng, quyền lợi cần được bảo vệ của họ… Nghĩa vụ đạo đức của một tổ chức được thể hiện rõ thông qua những nguyên tắc và giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứ mệnh và chiến lược của một tổ chức Thông qua những tuyên bố trong những tài liệu này về quan điểm của tổ chức trong việc sử dụng các nguồn lực và con người để đạt được mục tiêu, sứ mệnh, những nguyên tắc

và giá trị đạo đức trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗi thành viên và những người hữu quan [21; tr.98]

- Nghĩa vụ nhân văn: Nghĩa vụ nhân văn trong trách nhiệm xã hội của tổ chức liên quan đến những đóng góp cho cộng đồng và xã hội Những đóng góp của tổ chức có thể trên bốn phương diện: nâng cao chất lượng cuộc sống, san sẻ bớt gánh

Trang 25

nặng cho chính phủ, nâng cao năng lực cho nhân viên và phát triển nhân cách đạo đức cho người lao động… Giúp đỡ những người bất hạnh hay yếu thế cũng là một lĩnh vực nhân đạo được các tổ chức quan tâm Những người bị bệnh luôn mong muốn được chữa bệnh nhưng đôi khi họ không có khả năng tiếp cận các nguồn dược liệu cần thiết hay tránh khỏi bệnh tật vì họ nghèo Đây là một khía cạnh trách nhiệm được điều chỉnh bởi lương tâm [21; tr.100]

Như vậy, có thể thấy rằng TNXH chính là các nghĩa vụ mà mỗi tổ chức, doanh nghiệp trong việc tạo ra các tác động xã hội tích cực, trong khi gây ra ít nhất những hậu quả xã hội bất lợi Các nghĩa vụ kinh tế liên quan tới các đối tượng hữu quan chính như người tiêu dùng, người lao động, chủ đầu tư Các nghĩa vụ pháp lý được

xã hội yêu cầu nhằm loại trừ những hành vi không mong muốn Các nghĩa vụ đạo đức quan tâm tới vấn đề công bằng và công lý ngoài các vấn đề thuộc nghĩa vụ pháp

lý Các nghĩa vụ nhân văn quan tâm tới việc nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển cộng đồng

1.3 Trách nhiệm xã hội của trường đại học

1.3.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội của trường đại học

Hiện nay, trách nhiệm xã hội của trường đại học vẫn là một khái niệm còn nhiều tranh luận, và chưa có một khái niệm đồng nhất

Tác giả Phạm Phụ cho rằng TNXH của trường đại học là trách nhiệm của nhà trường đối với sinh viên, cha mẹ sinh viên, người sử dụng lao động, công chúng nói chung và Nhà nước Trách nhiệm này bao gồm: việc đảm bảo chất lượng đào tạo, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thông tin minh bạch và trách nhiệm báo cáo giải trình công khai với công chúng, đem lại sự thỏa mãn cho sinh viên và cộng đồng Tác giả Phan Huy Hùng cho rằng TNXH của trường đại học là trách nhiệm báo cáo hay giải thích kết quả hoạt động một cách ngay thẳng và trung thực cho các bên liên quan trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục đại học và sử dụng nguồn lực Nói như thế, TNXH ở đây được hiểu là trách nhiệm giải trình với hai vấn đề đặt ra là: trách nhiệm với ai và trách nhiệm về nội dung gì Tuy nhiên không đề cập tới trách nhiệm phải thực hiện bảo đảm cam kết, trách nhiệm kinh tế đối với chính bản

Trang 26

tự đánh giá và giám sát việc thực hiện các quy định của Nhà nước, sãn sàng giải trình, công khai minh bạch các hoạt động của nhà trường và chịu trách nhiệm về các kết quả hoạt động của mình nhằm đảm bảo lợi ích của chính bản thân nhà trường và các bên liên quan

Thu hẹp hơn trong cách tiếp cận, tác giả Lê Đức Ngọc cho rằng TNXH của trường đại học là bảo đảm thỏa mãn tiêu chí hiệu quả cao qua các nội hàm chính: chất lượng cao (khả năng phát triển chiếm lĩnh đỉnh cao của kiến thức và kỹ năng của khoa học kỹ thuật hiện đại); hiệu suất cao (khả năng khai thác triệt để nguồn lực

để sản xuất); phù hợp với bối cảnh xã hội (trong điều kiê ̣n và hoàn cảnh xã hội xác

đi ̣nh) và công bằng xã hội (bình đẳng về cơ hội học tập và đánh giá kết quả học tập của người học)

Có thể thấy rằng, các tác giả đi trước đã tiếp cận vấn đề trách nhiệm xã hội của trường đại học ở các góc độ khác nhau Vấn đề trách nhiệm xã hội ở đây đều hướng tới một mục tiêu đó là cung cấp dịch vụ giáo dục tốt nhất, nhằm thỏa mãn yêu cầu của xã hội Tuy nhiên, các tác giả đã không phân biệt rõ ràng giữa các khái niệm tự chịu trách nhiệm và TNXH của một trường đại học mà gần như đồng nhất giữa TNXH với trách nhiệm giải trình Có thể hiểu trách nhiệm giải trình là việc một trường đại học phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ báo cáo, giải thích và chứng minh về những việc mình đã làm Còn trách nhiệm xã hội là những việc mà họ phải làm đối với các bên hữu quan trong mối quan hệ lợi ích Việc thực hiện các nghĩa

vụ ấy không chỉ xất phát từ việc tuân thủ luật pháp, mà còn xuất phát từ giá trị đạo đức và nhân văn Do vậy, trong đề tài nghiên cứu này, tác giả đưa ra một quan điểm

Trang 27

họ cung cấp

TNXH dần được xem như là một trong những động lực của sự phát triển xã hội Nâng cao trách nhiệm xã hội trong mọi lĩnh vực, ở mọi khía cạnh là một đòi hỏi bức thiết của xã hội hiện đại để có thể phát triển bền vững Cũng như bất kỳ loại hình tổ chức nào, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội đối với trường đại học sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng và chính bản thân tổ chức, góp phần tạo lên sự phát triển bền vững Một trường đại học nếu thực hiện tốt được TNXH sẽ tạo ra được nguồn nhân lực có chất lượng, khẳng định được vị thế của tổ chức, ổn định nhân lực

tổ chức, tiến tới phát triển lâu dài Bảo đảm TNXH của trường đại học còn góp phần giảm thất thoát tài chính của nhà nước, sử dụng hiệu quả nguồn tài chính của tổ chức và mang lại hiệu quả kinh tế nhất định

1.3.2 Mục đích của việc đảm bảo trách nhiệm xã hội của trường đại học

Một trường đại học liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới nhiều thực tể, xã hội nói chung (các thành viên đại diện trong hội đồng trường); chính phủ (chính quyền các cấp, đại diện cho lợi ích toàn xã hội, cấp kinh phí cho trường đại học); khách hàng (người sử dụng lao động, sinh viên và gia đình, những người muốn có kiến thức); cựu sinh viên (những người ủng hộ quan trọng của trường đại học); giảng viên (nhân tố quan trọng); nội dung của ngành học Các thực thể này là đối tượng

mà bản thân mỗi trường đại học phải thực hiện nghĩa vụ của mình Mục đích của việc bảo đảm trách nhiệm xã hội của trường đại học nhằm:

- Tạo nên sự công bằn trong tiếp cận giáo dục đại học;

- Bảo đảm chất lượng đào tạo và nghiên cứu;

- Gắn liền lý thuyết với thực tiễn;

Trang 28

- Đóng góp cho phát triển kinh tế của vùng miền;

- Sự sử dụng hiệu quả nguồn lực công;

- Bảo đảm năng lực tài chính để duy trì các tiêu chuẩn đặt ra

TNXH của trường đại học mà tác giả muốn đề cập đến trong đề tài này, ngoài trách nhiệm giải trình, còn phải có trách nhiệm trong quá trình hoạt động, bảo đảm thực hiện đúng cam kết, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng cho các bên liên quan TNXH của trường đại học là phải luôn quan tâm đến lợi ích, nhu cầu của các bên liên quan và đáp ứng tốt nhất những lợi ích đó; đào tạo được đội ngũ nhân lực chất lượng cao, phát triển toàn diện về mọi mặt; bảo đảm an ninh môi trường, trật tự

xã hội, góp phần kiến tạo xã hội tiến tới phát triển bền vững

1.3.3 Nội dung trách nhiệm xã hội của trường đại học

Như đã phân tích ở trên, vấn đề TNXH cũng là vấn đề đạo đức của mỗi tổ chức, doanh nghiệp Tác giả Nguyễn Mạnh Quân nhận định rằng để đảm bảo thực hiện tốt TNXH của trường đại học cần trả lời được 3 câu hỏi: Đối tượng của TNXH

ở đây là ai? Nghĩa vụ với họ là gì? Đo lường việc thực hiện nghĩa vụ đó bằng cách nào? Đồng tình với quan điểm này, tác giả xác định các đối tượng mà TNXH của trường đại học hướng tới ở đây là người học, giảng viên, cơ quan quản lý nhà nước, người sử dụng lao động và cộng đồng địa phương Đối với từng đối tượng ấy, nhà trường cần có trách nhiệm cụ thể Trường đại học phải có trách nhiệm bảo đảm chất lượng đào tạo như đã cam kết, công khai các hoạt động và sử dụng nguồn tài chính, hợp tác với các bên liên quan trong việc cung cấp một dịch vụ giáo dục chất lượng, hiện đại, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thời đại Đánh giá việc thực hiện các TNXH

ấy phải dựa trên kết quả đo lường, mục tiêu đo lường ở đây là phúc lợi, là mức độ chất lượng dịch vụ của nhà trường Kết quả thực hiện nghĩa vụ ấy được đo lường bằng sự hài lòng của các bên hữu quan, khả năng phúc lợi của nhà trường Các phương pháp đo lường kết quả bằng việc: đánh giá sự tương xứng của chất lượng đào tạo với những cam kết chuẩn đầu ra của nhà trường đối với sinh viên; vấn đề tuân thủ các quy định của nhà nước trong hoạt động đào tạo, chế độ chính sách với người lao động, người học; vấn đề trung thực trong sử dụng tài chính thông qua các

Trang 29

đợt kế toán, kiểm toán và giải trình với cơ quan cấp trên; sự hài lòng của người học đối với các dịch vụ của nhà trường…

Hình 1.2 Các đối tượng hữu quan của trường đại học

1.3.3.1 Trách nhiệm đối với nhà nước và cơ quan quản lý cấp trên

Trách nhiệm đối với Nhà nước và cấp trên là việc thực hiện các nghĩa vụ của đối với Nhà nước và cấp trên, là việc đảm bảo mọi hoạt động của nhà trường theo

sứ mạng, chuẩn đầu ra đã công bố và trong khuôn khổ của pháp luật; trách nhiệm sử dụng kinh phí đầu tư của nhà nước một cách hiệu quả và minh bạch; trách nhiệm báo cáo và chịu sự giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước Trong cơ chế tự chủ, các tổ chức hội ngành, nghề, hội khoa học sẽ đóng vai trò các cơ quan giám sát

về chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường Các tổ chức kiểm định chất lượng sẽ giúp Bộ Giáo dục & Đào tạo kiểm định chất lượng và xếp hạng, phân loại các trường đại học bảo đảm chính xác, công khai và minh bạch Kết quả

đo lường việc thực hiện trách nhiệm này là các kết quả báo cáo, giải trình trung thực

Trang 30

1.3.3.2 Trách nhiệm đối với người học

Các nghĩa vụ của trường đại học đối với người học đó là việc đảm bảo chất lượng như cam kết; trách nhiệm sử dụng hiệu quả và minh bạch kinh phí, đóng góp của người học và của xã hội; cung cấp dịch vụ giáo dục tốt nhất tương xứng với học phí mà người học phải chi trả Trong một thị trường dịch vụ giáo dục có định hướng đúng đắn và cạnh tranh lành mạnh, mỗi trường phải chủ động xây dựng chiến lược

và mục tiêu phù hợp, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và cơ sở vật chất

đủ về lượng và chất để cạnh tranh thu hút sự đầu tư từ Nhà nước cũng như từ các nguồn khác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu của người học và nguồn nhân lực của xã hội Thông qua cơ chế công khai, người học có điều kiện giám sát việc thực hiện các cam kết của các trường về mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu

ra, chương trình đào tạo và các nguồn lực đảm bảo chất lượng đào tạo Kết quả đo lường việc thực hiện trách nhiệm này đó là chất lượng dịch vụ giáo dục mà người học được hưởng; các chế độ chính sách và quyền lợi chính đáng của người học; môi trường học tập năng động, sáng tạo, an toàn và lạnh mạnh, bảo đảm cho người học được phát triển toàn diện văn – thể – mĩ

Một trong những trách nhiệm chung đối với tất cả các bên liên quan của

trường đại học đó là công khai, minh bạch các hoạt động và sử dụng nguồn lực của nhà trường Nội dung công khai hiện nay được quy định trong “3 công khai” trên

website của mỗi trường đại học Nội dung công khai của các cơ sở giáo dục đại học:

- Công khai cam kết chất lượng giáo dục: Công khai đối tượng tuyển sinh,

chương trình đào tạo, chất lượng sản phẩm đào tạo: kiến thức, kỹ năng, trình độ

Trang 31

ngoại ngữ của người tốt nghiệp và khả năng đáp ứng, thích ứng được với vị trí việc làm sau tốt nghiệp

- Công khai chất lượng giáo dục thực tế: Công khai kết quả tốt nghiệp theo

trình độ đào tạo và ngành đào tạo, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm và học lên trình độ cao hơn sau một năm ra trường; các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất thử và tư vấn; kiểm định cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục Công khai điều kiện cơ bản đảm bảo chất lượng giáo dục: cơ sở vật chất - kỹ thuật; số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và nhân viên; mục tiêu và nội dung các chương trình đào tạo

- Công khai hoạt động tài chính: Công khai tình hình hoạt động tài chính gồm

các nguồn thu và các khoản chi tiêu; mức thu học phí và các nguồn thu từ các hợp đồng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, sản xuất, tư vấn; chính sách học bổng và kết quả thực hiện học bổng; thực hiện niêm yết các biểu mẫu công khai dự toán, quyết toán thu chi tài chính; kết quả kiểm toán

Việc đánh giá một trường đại học có thực hiện trách nhiệm của mình đối với người học hay không được thể hiện qua sự hài lòng của người học đối với trường đại học đó Sự hài lòng ở đây thể hiện đối với chất lượng dịch vụ giáo dục như: cơ

sở vật chất đáp ứng nhu cầu học tập hay không, năng lực giảng viên có đạt chất lượng hay không, các quyền và nghĩa vụ của người học có được thực hiện đầy đủ hay không Khi người học cảm thấy hài lòng về những vấn đề đó, có nghĩa là trường đại học đã thực hiện tốt trách nhiệm của mình

1.3.3.3 Trách nhiệm đối với giảng viên

Các nghĩa vụ của trường đại học đối với giảng viên là trách nhiệm trọng việc bảo đảm môi trường làm việc văn hóa, an ninh, lành mạnh; bồi dưỡng phát triển năng lực và bảo đảm chế độ phúc lợi cao Về môi trường làm việc, cần bảo đảm các quyền dân chủ trong trường học; công khai minh bạch trong tuyển dụng, đào tạo và phát triển giảng viên, quy hoạch cán bộ Về nhu cầu học tập và nghiên cứu, trường đại học cần có các kế hoạch phát triển nhân lực dài hạn, có các chính sách khuyến khích CBGV học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, và nghiên cứu khoa

Trang 32

học Về chế độ phúc lợi, cần bảo đảm các chế độ lương, thưởng theo pháp luật, ngoài ra cần có các chế độ khác nhằm bảo đảm ổn định cuộc sống cho CBGV; thực hiện có trách nhiệm các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn; hỗ trợ nơi ăn ở, ổn định cuộc sống để CBGV yên tâm công tác Kết quả đo lường việc thực hiện trách nhiệm này đó là thực hiện tốt chế độ phúc lợi của trường đại học đối với CBGV; cung cấp môi trường làm việc và nghiên cứu lành mạnh, dân chủ, chuẩn mực đao đức

Thực hiện đầy đủ trách nhiêm công khách, minh bạch các hoạt động và sử dụng nguồn nhân lực của nhà trường để toàn thể CBGV trong trường đều được biết

- Công khai các quy trình giải quyết công việc;

- Công khai các quy định, chế độ khen thưởng, kỷ luật;

- Công khai các báo cáo tài chính, kế hoạch thu – chi ngân sách…

TNXH của trường đại học đối với giảng viên được được đo lường bởi sự hài lòng của toàn bộ CBGV trong nhà trường về các yếu như: chế độ chính sách, chế độ phúc lợi, môi trường làm việc, khả năng phục vụ, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy

và nghiên cứu Việc thực hiện đầy đủ các quyền và lợi ích đối với họ theo quy định của pháp luật; việc giữ chân người lao động ở lại và tâm huyết với nghề

1.3.3.4 Trách nhiệm đối với người sử dụng lao động

Người sử dụng lao động ở đây chính là các công ty, doanh nghiệp nơi sử dụng nguồn nhân lực – sản phẩm đào tạo của trường đại học Trường đại học, cao đẳng là nơi chủ yếu tạo ra nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật, nghiệp vụ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mặt khác, các doanh nghiệp lại chính là các nhà đầu tư tài chính, hợp tác hỗ trợ trong đào tạo, phát triển nhà trường

Do vậy, trách nhiệm của trường đại học với các nhà tuyển dụng đó là: phải sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính do họ hỗ trợ; đảm bảo chất lượng đầu ra theo cam kết chuẩn đầu ra của sinh viên như đã công bố; tiếp thu ý kiến đóng góp và đổi mới chương trình đào tạo theo nhu cầu của xã hội…

Thực hiện trách nhiệm công khai các hoạt động của nhà trường để các doanh nghiệp – đối tượng vừa là nhà đầu tư vừa là người sử dụng lao động có điều kiện

Trang 33

giám sát các hoạt động của nhà trường, vừa làm căn cứ để các doanh nghiệp hợp tác đầu tư đào tạo nguồn nhân lực Nội dung công khai được thể hiện trong quy chế “3 công khai” trên website của mỗi trường đại học Nội dung công khai của các cơ sở giáo dục đại học gồm: Công khai cam kết chất lượng giáo dục; công khai chất lượng giáo dục thực tế; công khai hoạt động tài chính

Kết quả đo lường việc thực hiện trách nhiệm này đó là sự hài lòng của các nhà tuyển dụng về sản phẩm đào tạo của trường đại học Sinh viên sau tốt nghiệp đáp ứng được yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng tin học và ngoại ngữ, có thể làm được việc ngay theo nhu cầu của doanh nghiệp Bên cạnh đó, TNXH của trường đại học còn thể hiện ở khả năng gắn kết giữa nhà trường với cộng đồng doanh nghiệp trong việc tổ chức đào tạo gắn với thực tế, thực tập, định hướng nghề nghiệp và giải quyết việc làm cho người học sau khi ra trường; hợp tác với các doanh nghiệp trong

tổ chức đào tạo, quản lý và xây dựng chiến lược phát triển của trường đại học

1.3.3.5 Trách nhiệm với cộng đồng địa phương

Sứ mệnh của các trường đại học là đào tạo – nghiên cứu và phục vụ xã hội Để góp phần vào phát triển tri thức và kinh tế – xã hội nói chung thì trước tiên bản thân mỗi trường đại học phải có trách nhiệm với địa phương nơi mình hoạt động Trách nhiệm này bao gồm: trách nhiệm trong việc ứng dụng kết quả nghiên cứu của nhà trường vào đời sống; hỗ trợ phát triển năng lực các đơn vị ở địa phương các lĩnh vực chuyên môn của mình; tham gia đóng góp phát triển kinh tế địa phương; giữ gìn an ninh trật tự, an toàn giao thông cho người học và người dân cư trú gần trường Kết quả đo lường việc thực hiện trách nhiệm này đó là uy tín của nhà trường trước cộng đồng, mức độ đóng góp của nhà trường đối với sự phát triển kinh

tế – xã hội ở địa phương

Kết quả đo lường việc thực hiện tốt TNXH của trường đại học với cộng đồng địa phương thông qua khả năng đóng góp sản phẩm KHCN vào thực tiễn; thúc đẩy phát triển dịch vụ; tích cực tham gia công cuộc xóa đói giảm nghèo tại địa phương Đồng thời, kết quả của việc thực hiện TNXH còn được thể hiện ở giá trị niềm tin

Trang 34

1.4 Điều kiện bảo đảm thực hiện trách nhiệm xã hội của trường đại học

Để các trường đại học thực hiện TNXH đạt hiệu quả cao và bảo đảm lâu dài, cần có các điều kiện sau:

- Thực hiện trách nhiệm cần xuất phát từ sự tự nguyện của mỗi trường đại học: Thực tế cho thấy, chúng ta chỉ có thể thực hiện tốt một công việc nào đó nếu

xuất phát từ nhu cầu và sự tự nguyện hơn là thực hiện bởi quy định ràng buộc Do vậy, để thực hiện tốt TNXH bản thân mỗi trường đại học cần phải xác định được đó

là yếu tố sống còn của mình và xuất phát từ sự tự nguyện Có như vậy, mới đạt được hiệu quả tốt và bảo đảm thực hiện lâu dài

Trang 35

- Được sự ủng hộ, phối hợp của các bên hữu quan:

+ Cần có cơ sở pháp lý đủ mạnh để ràng buộc các trường đại học phải thực hiện trách nhiệm của mình Việc nhà nước ban hành một khung trách nhiệm mang tính pháp lý sẽ thúc đẩy bản thân mỗi trường đại học thực hiện TNXH tốt hơn nếu không muốn bị lên án và tự đào thải trong điều kiện cạnh tranh thị trường Bên cạnh

đó cũng cần có quy định rõ trách nhiệm của cá nhân, tập thể và chế tài xử lý vi phạm đủ mạnh trong hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục đại học cũng như trong hoạt động của trường đại học

+ Giảng viên và sinh viên có trách nhiệm cao trong hoạt động đào tạo: Yếu tố quan trọng nhất để đánh giá một trường đại học đó chính là chất lượng đào tạo Không thể nói rằng một trường đại học là uy tín nếu như sản phẩm đầu ra không đáp ứng được yêu cầu của xã hội Mặt khác, cho dù nhà trường cung cấp một dịch

vụ giáo dục đầy đủ và hiện đại mà sinh viên không có tinh thần tự giác trong học tập thì cũng không mang lại kết quả cao Do đó, để đảm bảo thực hiện TNXH của trường đại học, trước tiên giảng viên và sinh viên phải xác định được vai trò của mình, quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của nhà trường

+ Cần có sự hợp tác tích cực của các doanh nghiệp, phía người sử dụng lao động để cung cấp nhu cầu thự tế của xã hội về nguồn nhân lực Đó là cơ sở để trường đại học nghiên cứu, điều chỉnh hoạt động đào tạo cho phù hợp

+ Cần có sự ủng hộ, phối hợp của cộng đồng địa phương trong việc giám sát hoạt động và đánh giá chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học Để làm được điều này, cũng cần có những quy chế phối hợp, nêu ra vai rò và quyền được giám sát của các lực lượng trong xã hội, tạo cơ sở buộc các trường đại học chấp nhận công khai và chịu sự giám sát đó

Vấn đề TNXH và vai trò của TNXH đã được đề cập từ những năm 70 của thế

kỷ XX, cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau về TNXH nhưng theo cách tiếp cận của ISO 26000:2010 là khái niệm tổng quan và chung nhất cho mọi loại hình tổ chức Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm TNXH theo tiếp cận của

Trang 36

ISO26000:2010 Một tổ chức có TNXH là luôn mong muốn đem lại những giá trị lợi ích tốt đẹp cho xã hội và các bên liên quan, đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội TNXH của mỗi tổ chức khác nhau là khác nhau, tùy theo đặc thù ngành nghề và bản thân tổ chức Các tổ chức khi thực hiện tốt TNXH của mình sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng và cho chính mình Giáo dục đại học có vai trò to lớn trong kiến tạo xã hội, tri nhân loại có được phong phú hay hạn chế là nhờ vào khả năng đóng góp của giáo dục đại học TNXH của trường đại học là quan tâm đến quyền và lợi ích của các bên hữu quan, đáp ứng những yêu cầu và lợi ích đó Thực hiện tốt TNXH sẽ giúp cho các trường đại học hoạt động hiệu quả, chất lượng giáo dục đại học được nâng cao, duy trì những giá trị cốt lõi của đại học Những nội dung trên là cơ sở lý luận để tác giả đánh giá thực trạng và vận dụng lý luận liên hệ vào thực tiễn, kiến nghị giải pháp để thực hiện tốt hơn vấn đề TNXH của trường đại học mà tác giả nghiên cứu thực tế

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 2.1 Khái quát về Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Nhà trường

Trường ĐH CNTT&TT là đơn vị trực thuộc Đại học Thái Nguyên có tiền thân

là Khoa Công nghệ thông tin (2001) được thành lập ngày 30/3/2011 theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ Ngay từ khi thành lập Nhà trường đã tuyên bố sứ mạng

“Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học; NCKH&CGCN thuộc lĩnh vực

CNTT&TT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Trên cơ sở

chương trình khung của Bộ GD&ĐT, trường đã xây dựng khung chương trình đào tạo phù hợp với thực tế, bao gồm các loại hình chính quy, vừa học vừa làm và liên thông Từ năm học 2008 – 2009, trường đã chuyển đào tạo từ niên chế sang tín chỉ Hiện nay, trường có 17 ngành đào tạo đại học, 2 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và 01chuyên ngành đào tạo tiến sĩ

Về cơ cấu tổ chức Trường hiện có: Ban giám hiệu; 10 Phòng chức năng; 06 Khoa chuyên môn; 02 Bộ môn trực thuộc trường; 08 Trung tâm/ Học viện, ngoài ra còn có các tổ chức Đảng uỷ, Công Đoàn, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên, Hội cựu chiến binh

Với truyền thống 15 năm xây dựng và phát triển, Nhà trường đã khẳng định được vị thế trong ĐHTN cũng như khu vực trung du miền núi phía Bắc Với nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất (phòng học, giảng đường, phòng thực hành thí nghiệm ) và năng lực đội ngũ hiện có của Nhà trường đảm bảo yêu cầu để thực hiện sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực CNTT&TT Định hướng phát triển là trở thành trường đại học điện tử trong tương lai, Nhà trường đã chú trọng ký kết phối hợp về đào tạo, NCKH với các viện như: Viện công nghệ thông tin thuộc Viện hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa thuộc Bộ Công thương; Viện công nghệ thông tin thuộc Đại học Quốc gia Hà

Trang 38

Nội Từ đó, nhà trường đã huy động được tối đa lực lượng nhà khoa học có trình độ cao của các Viện tham gia giảng dạy và nghiên cứu tại Trường

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trường ĐH CNTT&TT

2.1.2 Sứ mạng và chiến lược của Nhà trường

Sứ mạng của Trường ĐH CNTT&TT đó là “Là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học; nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực Công nghệ thông tin và Truyền thông phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Chiến lược của Trường ĐH CNTT&TT đó là “Phát huy sức mạnh tổng hợp với tinh thần NĂNG ĐỘNG, SÁNG TẠO, HIỆU QUẢ, tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng và các doanh nghiệp trong và ngoài

Trang 39

nước; gắn đào tạo với thực tiễn, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội về lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, góp phần phát triển kinh tế – xã hội khu vực Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam” Mục tiêu phát triển của nhà trường đã được xác định trong Văn kiện Đại

hội Đảng bộ trường lần thứ IV, nhiệm kỳ 2015 – 2020: “xây dựng Trường ĐH CNTT&TT theo mô hình trường đại học điện tử, trung tâm đào tạo, nghiên cứu chất lượng cao trong lĩnh vực CNTT&TT, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước”

Có thể khẳng định sứ mạng của nhà trường đã công bố đã phù hợp và gắn kết với chiến lược phát triển của ĐHTN, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên và của cả nước Cụ thể, Hội đồng nhân dân Tỉnh Thái Nguyên đã đề

ra nhiệm vụ và các giải pháp phát triển ngành, lĩnh vực xã hội tại Nghị quyết số 21/2013/NQ-HĐND ngày 12/12/2013 như sau: “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực KHCN, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ mục tiêu phát triển”; Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 01/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 và Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT&TT”

đã định hướng về nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực CNTT&TT đến năm 2020; Văn kiện Đại hội XI của Đảng nêu rõ quan điểm phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 là “chú trọng phát triển CNTT, Công nghệ sinh học ”

Sứ mạng và mục tiêu của Nhà trường được xây dựng trên cơ sở chủ trương của Bộ GD&ĐT, ĐHTN, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên; nhu cầu xã hội và nguồn lực của Nhà trường Cho đến nay, có thể thấy sứ mạng và chiến lược hoạt động của Nhà trường là phù hợp với nhiệm vụ và định hướng phát triển kinh tế -

xã hội của địa phương và của cả nước

2.1.3 Những cam kết trong hoạt động của Nhà trường

Bắt đầu từ 2011, Nhà trường đã thực hiện các hoạt động 3 công khai, các hoạt động đánh giá và tự đánh giá kiểm định chất lượng cơ sở đào tạo, công khai cam kết

Trang 40

chất lượng giáo dục của Nhà trường ở các trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học Các nội dung trong cam kết chất lượng giáo dục của Nhà trường như:

- Điều kiện cơ sở vật chất;

- Đội ngũ giảng viên;

- Các hoạt động hỗ trợ học tập cho người học;

- Chuẩn đầu ra theo các ngành đào tạo và trình độ đào tạo;

- Vị trí việc làm sau tốt nghiệp ở các trình độ

Qua các nội dung cam kết này tạo cơ sở để các doanh nghiệp quyết định lựa chọn đầu tư, hợp tác; những người có nhu cầu học tập và nghiên cứu cũng như xã hội đánh giá lựa chọn Tổng kết năm học 2015 – 2016, đồng chí Nguyễn Văn Tảo –

Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng Nhà trường đã trình bày các nhiệm vụ trọng tâm trong năm học 2016 – 2017 và các năm tiếp theo Các nội dung tập trung vào việc: tăng cường nhận thức về yêu cầu tự chủ của đơn vị; hình thành văn hóa chất lượng, chuẩn hóa mọi hoạt động của nhà trường; nâng cao năng lực đội ngũ theo hướng đáp ứng chuẩn; điều chỉnh chương trình đào tạo để đạt được chuẩn đầu ra; lấy nhiệm vụ NCKH và chuyển giao công nghệ làm trọng tâm; quan tâm hơn nữa đến việc chăm sóc người học và nâng cấp cơ sở hạ tầng để đảm bảo đáp ứng tốt cho công tác đào tạo, quản lý của nhà trường Đây cũng là những định hướng hoạt động

để Nhà trường tiếp tục hoàn thiện, bảo đảm chất lượng giáo dục theo sứ mạng và cam kết của Nhà trường trong tương lai để xứng đáng là một trường đại học đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng quốc gia

2.2 Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của Trường đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông

Nhằm bảo đảm thực hiện TNXH, tháng 10/2016 Trường ĐH CNTT&TT đã thành lập Hội đồng trường theo quy định của nhà nước và quyết định của Đại học Thái Nguyên Hội đồng trường gồm 15 thành viên, bao gồm lãnh đạo nhà trường, nhà khoa học, giảng viên, cán bộ quản lý do đồng chí Trương Hà Hải – Trưởng Khoa Khoa học cơ bản làm Chủ tịch Nhiệm vụ của Hội đồng trường là quyết nghị những vấn đề lớn của Nhà trường, giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ, báo

Ngày đăng: 08/11/2017, 11:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w