ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HOÀNG HỒNG ĐÌNH NGUYỆT HUANG HONG TING YUE NGHIÊN CỨU CÁCH DỊCH LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT SANG TIẾNG HÁN ----Trên tư liệu m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG HỒNG ĐÌNH NGUYỆT (HUANG HONG TING YUE)
NGHIÊN CỨU CÁCH DỊCH LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT
SANG TIẾNG HÁN Trên tư liệu một số bản dịch song ngữ Việt - Trung
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG HỒNG ĐÌNH NGUYỆT (HUANG HONG TING YUE)
NGHIÊN CỨU CÁCH DỊCH LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT
SANG TIẾNG HÁN Trên tư liệu một số bản dịch song ngữ Việt - Trung
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 60 22 02 40
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Ngọc Hàm
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả khảo sát trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố ở bất cứ tài liệu nào
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền
đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi tới PGS.TS Phạm Ngọc Hàm lời cảm
ơn chân thành nhất Cảm ơn thầy đã dành nhiều thời gian để chỉ đảo tận tình, hướng
dẫn cách làm và đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn một
cách thuận lợi Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn thầy
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, các anh chị em trong lớp K60 đã
động viên và giúp đỡ tôi trong những lúc tôi gặp khó khăn
Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2017
Hoàng Hồng Đình Nguyệt (Huang Hongtingyue)
Trang 51
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của luận văn 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 9
1.1 Loại từ tiếng Việt 9
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về loại từ tiếng Việt 9
1.1.2 Chính danh của loại từ tiếng Việt 10
1.1.3 Phân loại loại từ tiếng Việt hiện đại 12
1.1.4 Đặc điểm của loại từ tiếng Việt 15
1.2 Lượng từ tiếng Hán 17
1.2.1Tình hình nghiên cứu hiện nay về lượng từ tiếng Hán 17
1.2.2 Chính danh của lượng từ tiếng Hán 18
1.2.3 Phân loại lượng từ tiếng Hán hiện đại 20
1.2.4 Đặc điểm của lượng từ tiếng Hán 26
1.3 So sánh đối chiếu sự tương đồng và khác biệt giữa loại từ tiếng Việt và tiếng Hán 28
1.3.1 So sánh đối chiếu về mặt ngữ nghĩa 28
Trang 62
1.3.2 So sánh đối chiếu về mặt đặc điểm ngữ pháp 30
1.3.3 So sánh đối chiếu về mặt ngữ dụng 31
1.4 Khái quát về dịch thuật 32
1.4.1 Định nghĩa của dịch thuật 32
1.4.2 Bản chất của dịch thuật 34
1.4.3 Phương pháp dịch thuật 34
1.4.4 Tầm quan của việc sử dụng ngôn ngữ học so sánh đối chiếu trong dịch thuật 35
1.4.5 Tình hình tác phẩm song ngữ hiện nay 36
1.5 Tiểu kết 37
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT DỊCH LOẠI TỪ TỪ TIẾNG VIỆT SANGTIẾNG HÁN TRONG HAI TÁC PHẨM“TƯỚNG VỀ HƯU” VÀ “HAI NGƯỜI ĐÀN BÀ XÓM TRẠI” 39
2.1 Thực tiễn dịch thuật loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán trong tác phẩm “Tướng về hưu” 40
2.1.1 Trường hợp đặc biệt: Loại từ “个 cá” 40
2.1.2 Trường hợp thứ 1: nguyên tác có mặt loại từ, bản dịch cũng có 43
2.1.3 Trường hợp thứ 2: nguyên tác có mặt loại từ, bản dịch không có 48
2.1.4 Trường hợp thứ 3: nguyên tác không có loại từ, bản dịch có 54
2.1.5 Trường hợp thứ 4: dịch sai 63
2.2 Thực tiễn dịch thuật loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán trong tác phẩm “Hai người đàn bà xóm trại” 64
2.2.1 Trường hợp đặc biệt 65
2.2.2 Trường hợp thứ 1: nguyên tác có mặt loại từ, bản dịch cũng có 68
2.2.3 Trường hợp thứ 2: nguyên tác có mặt loại từ, bản dịch không có 71
Trang 73
2.2.4 Trường hợp thứ 3: nguyên tác không có loại từ, bản dịch có 77
2.2.5 Trường hợp thứ 4: dịch sai 81
2.3 Tiểu kết 83
CHƯƠNG 3CÁC THỦ PHÁP CHUYỂN DỊCH LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT SANGTIẾNG HÁN 85
3.1 Những trường hợp đặc biệt trong chương 2 85
3.1.1 Loại từ vay mượn và loại từ lâm thời 85
3.1.2 Loại từ bất định 86
3.2.3 Loại từ lặp lại 87
3.1.4 Quy tắc tỉnh lược 88
3.1.5 Loại từ cá thể “个”trong tiếng Hán 88
3.1.6 Hiện tượng đặc biệt về thời gian và địa điểm 91
3.1.7 Sự khác biệt thường gặp trong tiếng Việt và tiếng Hán 91
3.2 Phân tích các thủ pháp chuyển dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán 93
3.2.1 Dịch thẳng 94
3.2.2 Dịch nghĩa 95
3.3 Kiến nghị với người học khi sử dụng các loại từ tiếng Hán 100
3.3.1 Về mặt yếu tố bên trong 101
3.3.2 Về mặt yếu tố bên ngoài 103
3.4 Tiểu kết 106
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC
Trang 84
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ phân chia loại từ tiếng Việt……….……… 14
Bảng 1.1 Bảng so sánh đối chiếu phương thức kết hợp thường dùng……… ……30
Bảng 2.1 Bảng đối ứng nguyên tác về loại từ “个 cá” (Tướng về hưu) …….…… 41
Bảng 2.2 Bảng đối ứng nguyên tác về loại từ “个 cá” (Hai người đàn bà xóm
trại) ……….……….……….……… …….65
Bảng 3.1 Bảng so sánh đối chiếu loại từ vay mượn và loại từ lâm thời…….…… 85
Trang 9Loại từ là một bộ phận hết sức quan trọng trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt
và tiếng Hán, là những từ không thể thiếu được trong quá trình giao tiếp Ngoài ra, trong tiếng Việt và tiếng Hán đều tồn tại hệ thống loại từ hết sức phong phú và có nhiều điểm giống nhau Lý thuyết phân tích so sánh đối chiếu ngôn ngữ của Robert Lado cho rằng: “Hai ngôn ngữ trên bề mặt có nhiều điểm giống nhau, sự sai khác nhỏ sẽ gây ra hiểu lầm lớn, độ chính xác càng khó nắm được.” Loại từ tiếng Việt và tiếng Hán cũng như vậy
Trong đề tài này, chúng tôi sẽ nêu một số ví dụ cụ thể để chứng minh loại từ rất quan trọng và phức tạp Điều này được thể hiện rõ nét thông qua các tác phẩm văn học- nghệ thuật hoặc ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày Tuy tiếng Việt và tiếng Hán đều thuộc loại hình đơn lập, nhưng khi sử dụng loại từ không chính xác sẽ gây ra nhiều vấn đề Chẳng hạn: các loại từ thường dùng nhất như: “con”, “cái”, “chiếc” “Con”
là đơn vị nhỏ nhất biểu thị con vật, trong tiếng Việt chỉ dùng “con”, mà trong tiếng Hán có 4, 5 loại từ chỉ ý nghĩa tương tự Ví dụ như: 头,只,尾,条,匹 Ví dụ: Một con bò 一头牛(头,đơn vị chỉ động vật), Một con gà 一只鸡(只, đơn vị chỉ động vật, thường chỉ động vật chỉ có 2 chân), Một con ngựa 一匹马(匹,đơn vị chỉ ngựa, lạc đà, con la, lừa),Một con rắn 一条蛇(条,đơn vị chỉ động vật hoặc độ vật hình dài), Một con cá 一尾鱼(尾,đơn vị chỉ con cá, khẩu ngữ dùng 只,条)v.v
Trang 10Sở dĩ chúng tôi điểm qua một chút về những khác nhau của loại từ của tiếng Việt và tiếng Hán là vì tuy chỉ là mấy loại từ thông thường hay được sử dụng trong hai ngôn ngữ nhưng tồn tại nhiều điểm khác biệt Vì thế, nghiên cứu về cách dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán là hết sức có ý nghĩa và cần thiết Với những lý do trên, tôi chọn vấn đề “nghiên cứu cách dịch từ loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán (Trên tư liệu một số bản dịch song ngữ Việt - Trung)” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Ngôn ngữ học của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Luận văn này trên cơ sở tổng kết lại những điểm giống nhau và khác nhau của loại từ trong hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hán, tiến hành khảo sát và phân tích, đánh giá cách dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán thông qua hai tác phẩm văn học Việt Nam đã được chuyển dịch sang tiếng Hán Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm
ra quy tắc dịch và đưa ra ý kiến và kiến nghị về việc sử dụng, nhất là chuyển dịch loại từ, góp phần làm rõ hơn về sự khác biệt và quy tắc dịch thuật của loại từ cho người học tiếng Việt và tiếng Hán sau này
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn này chủ yếu nghiên cứu cách dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Điểm lại các vấn đề lý thuyết và lịch sử nghiên cứu liên quan đến loại từ tiếng Việt
và tiếng Hán cũng như lí luận có liên quan đến đối dịch Việt - Hán
- Thống kê và phân tích thực tế chuyển dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán qua
Trang 117
hai bài tiểu thuyết ngắn đã được chuyển dịch sang tiếng Hán
- Tổng kết, đánh giá kết quả khảo sát và phân tích, chỉ ra ưu điểm và hạn chế của bản dịch trên phương diện loại từ Trên cơ sở đó rút ra quy tắc dịch thuật loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán
Luận văn này chỉ nghiên cứu về thực tiễn dịch loại từ từ truyện ngắn tiếng Việt sang tiếng Hán, không đi sâu khảo sát cấu trúc, ý nghĩa ngữ dụng và ngữ pháp của loại từ trong câu hoặc trong toàn văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn này chủ yếu nghiên cứu cách chuyển dịch của loại từ trong 2 cuốn truyện ngắn Từ đó tổng kết, đánh giá cách dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dự kiến sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp mô tả Mô tả những vấn đề lý thuyết và lịch sử nghiên cứu liên quan đến loại từ tiếng Việt và tiếng Hán
- Phương pháp phân tích dùng để phân tích thực trạng chuyển dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán trên ngữ liệu đã xác định
- Phương pháp so sánh đối chiếu dùng để so sánh đối chiếu loại từ tiếng Việt và loại
từ tiếng Hán
- Phương pháp thống kê, đối chiếu chuyển dịch Lấy ngữ liệu nghiên cứu so sánh đối chiếu loại từ tiếng Việt khi dịch sang tiếng Hán, thống kê tất cả loại từ có mặt xuất hiện trong ngữ liệu đã chọn Dựa vào từng ngữ cảnh từng lượt dịch sang tiếng Hán thành từ nào, mỗi một loại từ có loại từ đối ứng hay không, một từ có mấy
Trang 128
đối ứng hoặc trong trường hợp nào là ngoại lệ Tần suất xuất hiện của loại từ tiếng
Việt như thế nào, trong tiếng Hán tần suất có phải giống với tiếng Việt hay không
6 Cấu trúc của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo ra, bao gồm ba
chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Khảo sát dịch loại từ tiếng từ tiếng Việt sang tiếng Hán trong hai tác
phẩm “Tướng về hưu” và “Hai người đàn bà xóm trại”
Chương 3: Các thủ pháp chuyển dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Hán
Trang 13Cho đến nay, mặc dù chưa có các tác phẩm chuyên môn nghiên cứu về loại từ tiếng Việt, nhưng vấn đề loại từ trong tiếng Việt được đặt ra từ rất sớm trong các công trình nghiên cứu có liên quan đến tiếng Việt Những nghiên cứu liên quan đến loại từ tiếng Việt chủ yếu tập trung vào những vấn đề như sau: vấn đề phân loại loại
từ, đặc trưng ngữ nghĩa của loại từ, chức năng ngữ pháp của loại từ và hình thức ngữ pháp của loại từ v.v Trong đó, những nhà nghiên cứu tiêu biểu và thành quả nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề loại từ phải kể đến Nguyễn Tài Cẩn (1975) với “Từ loại trong danh từ tiếng Việt hiện đại”; Nguyễn Kim Thản (1963) với “Nghiên cứu
về ngữ pháp tiếng Việt”; Đinh Văn Đức (1986,2001,2015) với “Ngữ pháp tiếng Việt
- Từ loại”; Phan Ngọc (1988) với “Thử trở lại câu chuyện loại từ”; Cao Xuân Hạo (1998, 1999) với “Tiếng Việt, mấy vấn đề về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa” và
“Nghĩa của loại từ”; Nguyễn Phú Pong (2000) với “Những vấn đề về ngữ pháp tiếng Việt - Loại từ và chỉ thị từ” v.v
Những tác phẩm này đều thảo luận về vấn đề loại từ tiếng Việt Ngoài ra, còn có nhiều học giả khác từng nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, do thời lượng có hạn, nên trong luận văn này chỉ điểm lại các tác giả và tác phẩm tiêu biểu, điển hình nhất Tuy những nghiên cứu về loại từ tiếng Việt cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình tầm cỡ và mang tính toàn diện, hệ thống, nhưng trong quá trình nghiên cứu và thảo luận của các nhà Việt ngữ học đã đạt những thành tựu nhất định Có thể nói tất
cả các nhà Việt ngữ từng nghiên cứu về vấn đề này đều có những đóng góp đáng kể
Trang 14+ Về việc đặt tên loại từ cũng tồn tại nhiều khác biệt, có nhà Việt ngữ học gọi là
“tiền danh từ”, có người gọi là “phó danh từ”, “danh từ đơn vị” v.v Hiện nay, giới Việt ngữ học nhìn chung đã thống nhất cách gọi là “loại từ”
+ Tính không cân đối trong nội bộ nghiên cứu của loại từ
Trong những tác phẩm nghiên cứu về loại từ, phần lớn là nghiên cứu về danh loại
từ, ít có những công trình nghiên cứu về động loại từ
Sở dĩ phân loại và gọi tên của loại từ tiếng Việt vẫn chưa thống nhất là vì các nhà nghiên cứu đã tiếp cận loại từ tiếng Việt từ các góc độ khác nhau và trên các tiêu chuẩn có phần khác nhau Sự khác biệt nêu trên cũng chứng minh rằng: loại từ tiếng Việt hiện vẫn trong quá trình phát triển và dần dần hoàn thiện
1.1.2 Chính danh của loại từ tiếng Việt
Thuật ngữ “classifier” trong tiếng Việt gọi là “loại từ”, trong tiếng Hán gọi là “量词”
lượng từ Chính vì thuật ngữ “loại từ” trong tiếng Việt hiện nay đã từng có những
tên gọi khác nhau Do đó, quá trình chính danh của loại từ tiếng Việt cũng là vấn đề cần quan tâm Về nghiên cứu vấn đề loại từ tiếng Việt, do các nhà Việt ngữ học đã tiếp cận loại từ từ các góc độ khác nhau và theo những tiêu chuẩn khác nhau, cho nên cho đến hiện nay vẫn tồn tại hai khuynh hướng lớn về quy loại loại từ khác nhau:
+ Khuynh hướng thứ nhất: Xem loại từ thuộc phạm trù loại danh từ, coi chúng là một nhóm từ khá đặc biệt trong từ loại danh từ
Trang 15và đại từ chỉ thị”, Lưu Văn Lăng (1997) trong “Một số vấn đề loại từ tiếng Việt” đều gọi là “Loại từ” Những học giả theo ý kiến thứ hai gồm: Phan Khôi (1955) trong “Việt ngữ nghiên cứu” gọi là “ Tiền danh từ” Nguyễn Lân (1955) trong “Ngữ pháp Việt Nam”, Nguyễn Kim Thản (1963) trong “Nghiên cứu về vấn đề tiếng Việt”
và Nguyễn Minh Thuyết ( 1995) trong “Quanh cái tên người” gọi là “Phó danh từ” Nguyễn Tài Cẩn (1975) trong “Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại” và Cao Xuân Hạo (1982) trong “Tính đếm được và hai loại danh từ trong tiếng Việt” gọi là
“Danh từ chỉ đơn vị” Hồ Lê (1983) trong “Cần tháo gỡ những rắc rối về khái niệm lượng từ” gọi là “Danh từ đơn vị đối tượng” Nguyễn Hữu Quỳnh (2001) trong
“Ngữ pháp tiếng Việt” gọi là “Danh từ chỉ loại”
Về việc quy loại loại từ tiếng Việt, hiện nay vẫn tồn tại hai khuynh hướng đã nêu trên Khuynh hướng thứ nhất coi loại từ là một nhóm từ thuộc từ loại danh từ Những nhà Việt ngữ học như Trương Văn Chình, Diệp Quang Ban, Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Hồ Lê đều nhất trí với quan điểm này Nguyễn Tài Cẩn cho rằng, loại từ là một bộ phận của nhóm danh từ chỉ đơn vị “Đây là một nhóm không có ý nghĩa từ vựng rõ ràng và chuyên dùng để phục vụ việc đếm từng cá thể, từng đơn vị
tự nhiên của sự vật cũng như phục vụ cho việc phân chia sự vật thành các loại.” Ông lại coi loại từ và danh từ thành danh ngữ, danh ngữ là một tập hợp thể gồm có
2 vị trí (T1 và T2) Ví dụ: một anh sinh viên Trong đó, anh: T1, sinh viên:T2 Một cuốn sách Trong đó, cuốn:T1, sách: T2 Ông lý giải T1 và T2 là hai bộ phận của một trung tâm ghép, T1 là trung tâm về mặt ngữ pháp, T2 là trung tâm về mặt ý
Trang 1612
nghĩa từ vựng
Khuynh hướng thứ hai xem loại từ là một tiểu loại từ loại của nó Các nghiên cứu
về loại từ là một tiểu loại từ loại tồn tại độc lập bên cạnh các từ loại khác, có chức năng bổ trợ cho danh từ Những nhà Việt ngữ học như: Emeneau, Phan Khôi, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Lưu Văn Lăng ủng hộ quan điểm này Trong đó, Lưu Văn Lăng (1997) trong “Một số vấn đề loại từ tiếng Việt” tuy không thừa nhận gọi loại từ thành danh từ, nhưng ông cũng khẳng định “loại từ vốn là danh từ đơn vị”
1.1.3 Phân loại loại từ tiếng Việt hiện đại
1.1.3.1 Tóm tắt lịch sử phân loại loại từ tiếng Việt
Do các nhà Việt ngữ học có những tiêu chuẩn khác nhau về quy loại và chính danh loại từ tiếng Việt, dẫn tới nhận thức về thuộc tính và đặc trưng của loại từ có
sự khác biệt, cho nên đối với phân loại loại từ còn tồn tại sự bất đồng lớn Phân loại theo góc độ khác nhau cũng sẽ có những kết quả khác nhau Ví dụ, trong lịch sử phân loại loại từ tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học đã chia thành 2 loại, 3 loại, thậm chí là 4 loại
- Phương pháp phân chia thành hai loại:
+ Nguyễn Tài Cẩn căn cứ vào chức năng và cách dùng, chia loại từ thành hai loại:
gồm “Những loại từ chuyên nghiệp”, như đứa, thằng, con, cái “Những loại từ lâm thời”, như người , anh, chị, cây, quả…
+ Phan Ngọc cũng chia loại từ thành hai loại: “Loại từ thực thụ” như: cái, con, bộ,
bức, hòn, cuộc, tờ và “Loại từ giả hiệu”, như: người, anh, em, hộp, chai, lọ, giờ, phút, đồng [19]
- Phương pháp phân chia ba loại:
+ Nguyễn Tài Cẩn dựa vào đặc điểm và nội dung lại chia loại từ thành ba loại:
“Loại từ chỉ người” như: đứa, thằng “Loại từ chỉ đồ đạc” như: cái, chiếc “Loại từ chỉ động vật, thực vật” như: con, cây, quả.” [2, tr123]
+ Hồ Lê chia loại từ tiếng Việt thành ba loại: “Danh từ chỉ đơn vị đối tượng” như:
con, cái, cây, ngôi, giọt, ông, vị, dãy, trái, ly “Danh từ chỉ đơn vị hành động” như:
Trang 1713
giấc, cú, lần, lượt và “Danh từ chỉ số lượng” như: chục, nghìn, vạn, triệu
+ Trương Văn Chính, Nguyễn Hiến Lê dựa vào chức năng của loại từ chia loại từ
thành ba loại: “Loại từ phổ thông” như: cái, con, chiếc “Loại từ chuyên biệt” như:
cuốn, quyển, mớ, kẻ, thằng “Loại từ đồng hóa” như: anh, chị, nỗi, niềm, sự, cuộc
[9]
+ Trần Đại Nghĩa chia loại từ thành hai loại: “loại từ chỉ loài chung” như: con, cái
Và “Loại từ chỉ loại riêng” như: bức, quyển, đứa, vị, thằng
- Phương pháp phân chia bốn loại:
+ Nguyễn Phú Phong chia loại từ thành 4 loại, gồm: loại từ cá thể, loại từ đo lường, loại từ tập thể và loại từ động từ
Sở dĩ loại từ được phân chia thành nhiều tiểu loại khác nhau như vậy là vì các nhà Việt ngữ học đã tiếp cận nó từ các góc độ khác nhau và từ các cách lý giải có phần khác nhau
1.1.3.2 Phân loại loại từ tiếng Việt trong những năm gần đây
Sau khi đọc những luận văn và luận án có liên quan đến loại từ trong những năm gần đây, chúng tôi đã đúc rút được những phương pháp phân loại loại từ trong tiếng Việt như sau:
- Trong luận văn của tác giả Vũ Thị Huệ, loại từ tiếng Việt hiện nay cũng được chia thành hai loại lớn: danh loại từ và động loại từ Ở lớp thứ hai lại chia danh loại từ thành loại từ chuyên dùng và loại từ lâm thời Sau đó tiếp tục chia loại từ chuyên dùng thành loại từ đo lường người, loại từ đo lường động vật và loại từ đo lường đồ vật (gồm thực vật) Loại từ lâm thời được chia thành loại từ đồ chứa, loại từ đính kèm và loại từ vay mượn xưng hô thân tộc
- Tác giả Liêu Nhược Vũ trong luận văn của mình đã chia loại từ thành ba nhóm: + Loại từ chỉ đơn vị sự vật Đó là loại từ làm chức năng chỉ đơn vị tự nhiên, chẳng
hạn: con, cái, bức, tấm, người, em
+ Loại từ chỉ đơn vị động tác Đó là loại từ này có những từ chuyên dùng như: lần,
lượt, chuyến, phát, trận, nhát, cái
Trang 1814
+ Loại từ “bổ trợ” Đó là loại từ này gồm: cái, sự, cuộc, nỗi, niềm, mối các từ này
có chức năng danh hóa động từ, tính từ và cũng biểu hiện sự đánh giá tình thái
- Tác giả Phạm Thị Thủy Hồng trong luận án tiến sỹ của mình chia loại từ tiếng Việt như sau:
Sơ đồ 1.1 phân chia loại từ tiếng Việt
Dựa vào sơ đồ trên, tác giả chia loại từ tiếng Việt thành các loại như sau:
+ Loại từ chỉ người Tác giả cho rằng, dựa vào chức năng có thể chia loại từ thành loại từ chuyên dụng và loại từ lâm thời Loại từ chỉ người chuyên dụng có thể kể
đến các đơn vị như: thằng, đứa, con, tên, kẻ, vị Loại từ lâm thời chỉ người là các
đơn vị có nguồn gốc từ chỉ quan hệ họ hàng
+ Loại từ chỉ động vật Tác giả cho rằng, danh sách loại từ chỉ động vật rất khiêm
tốn so với các loại loại từ khác Loại từ chỉ động vật chỉ bao gồm: con, bầy, đàn
+ Loại từ chỉ thực vật Nhóm loại từ này có một ý niệm về cây cối, thực vật Loại từ
chỉ thực vật bao gồm như: bờ, bông, bụi, cái, cây, dóng
Loại từ
Loại từ chuyên dụng
Loại từ chỉ khái niệm
Loại từ chỉ hành động
Loại từ chỉ dáng thể
Loại từ chỉ
sự vật theo quy ước
Trang 1915
+ Loại từ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiên Nhóm loại từ rất phong phú, đa dạng về nghĩa biểu hiện Các tham tố nghĩa thường thấy trong nhóm loại từ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiên đó là hình dáng, kích thước, số lượng, chiều hay một vài đặc điểm nào đó của sự vật mà giác quan có thể thu nhận được
Ở đây chúng tôi xin trình bày thêm phân loại về động loại từ, động loại từ biểu thị đơn vị của hành động hoặc số lần thay đổi liên quan đến động tác Có thể chia thành động loại từ chuyên dụng và động loại từ lâm thời
+ Động loại từ chuyên dụng
Số lượng của động loại từ chuyên dụng không nhiều, bình thường không thể lại chia nhỏ hơn nữa Chẳng hạn:Lần, lượt, chuyến, đợt, bữa
+ Động loại từ lâm thời
Những hành động hành vi những danh từ và động từ của công cụ, máy móc, bộ máy
cơ thể có thể vay mượn lâm thời thành động loại từ để biểu thị hành động và hành
vi Chẳng hạn:Roi, gậy, đập, đạp, đấm v.v
Do các nhà Việt ngữ học dựa trên những tiêu chuẩn khác nhau về phân loại và chính danh loại từ tiếng Việt, cho nên đối với chính danh và phân loại loại từ còn tồn tại nhều bất đồng lớn Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi đồng ý với cách phân loại của tác giả Vũ Thị Huệ và tác giả Phạm Thị Thủy Hồng, chia loại từ thành hai loại lớn: danh loại từ và động loại từ Ở lớp thứ hai lại chia danh loại từ thành loại từ chuyên dùng và loại từ lâm thời Ở các lớp tiếp theo lại chia thành những loại nhỏ hơn
1.1.4 Đặc điểm của loại từ tiếng Việt
Đặc điểm loại từ phải được xem xét từ các bình diện ngữ nghĩa, quan hệ ngữ pháp, chức năng cú pháp của nó Tiếp thu các ý kiến của những nhà nghiên cứu hàng đầu về ngữ pháp từ loại tiếng Việt, chúng tôi xin nêu khái quát các đặc điểm của loại từ tiếng Việt như sau:
- Loại từ tiếng Việt thường có vị trí ổn định, loại từ luôn luôn đi kèm trước danh từ
và sau số từ Chẳng hạn: một con bò, hai cái bút, ba cuốn sách, bốn bình nước
Trang 2016
Khi danh từ đứng trước số từ thì loại từ cũng không thể vắng mặt Chẳng hạn:
nhà cô ấy nuôi hai con mèo, một con chó, năm con chim vàng
- Loại từ tiếng Việt không độc lập làm thành phần câu, nhưng nếu đặt vào ngữ cảnh
cụ thể thì có thể thực hiện được các chức năng chính của danh từ Chẳng hạn: + Một cái 25 nghìn đồng ( từ “một cái” ở đây làm chủ ngữ)
+ Quyền sách này tôi đã xem mấy lần rồi (Từ “mấy lần” ở đây làm động từ là bổ ngữ của từ “xem”)
- Loại từ tiếng Việt có khả năng kết hợp với số từ Tiếng Việt giống với tiếng Hán, đều có một công thức là: số từ + loại từ biểu thị lượng và tính chất của sự vật, hành
động Chẳng hạn: Một con cá rô-phi, hai bài tiểu luận, một trăm bức thư, hai mươi
nghìn chiếc mũi tên
- Loại từ tiếng Việt có khả năng kết hợp với từ ngữ chỉ xuất, như “này”, “ấy” và
“kia” Chẳng hạn: Chị công nhân này, vị giáo sư ấy, dòng sông kia, chiếc áo này…
- Loại từ tiếng Việt có thể làm trung tâm ngữ, nghĩa là loại từ tiếng Việt thường đứng giữa số từ và danh từ, tạo thành kết cấu “số + loại +danh” Nhưng có khi trực
tiếp kết hợp với danh từ, loại từ thì có thể làm trung tâm Chẳng hạn: Chị ấy vẽ bức
tranh thủy mặc hay Anh ấy mua quyển sách
- Loại từ tiếng Việt không có khả năng láy âm như danh từ đơn âm tiết kiểu như:
“ngày” thành “ngày ngày”; “Ngành” thành “ngành ngành”; “Nơi” thành “nơi nơi”
Nhưng loại từ không thể láy Nghĩa là không tồn tại cách nói cái cái, con con, chiếc
chiếc, tấm tấm, cây cây, cuộc cuộc, lần lần, thứ thứ
- Loại từ tiếng Việt sử dụng rất linh hoạt Loại từ tiếng Việt chịu những yếu tố như màu sắc tình cảm, màu sắc hình tượng, màu sắc ngữ thể chi phối để lựa chọn đối tượng Chẳng hạn: trong tiếng Việt có nhiều loại từ có thể dùng để chỉ con người, ví
dụ: người, vị, tên, thằng, viên, anh, chị, ông, bọn, tên, kẻ Một loại từ có thể kết hợp với một danh từ hoặc mấy danh từ khác nhau Ví dụ: một con kiến, một con voi,
một con cá, một con ngựa Ngoài ra, từ “con” này cũng có thể kết hợp với danh từ
thực thể mang tính vận động, ví dụ: một con dao, một con sông [48,tr.29]
Trang 21mẻ, độc đáo, tạo cho việc tiếp cận nghiên cứu “lượng từ” được thấu đáo và khoa học hơn
+ Những năm gần đây, việc nghiên cứu lượng từ đã đạt được những thành tựu như sau: (a) Về việc định nghĩa và chính danh lượng từ đã được xác định và thừa nhận; (b) Lĩnh vực nghiên cứu ngày càng mở rộng và đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu
về lượng từ từ những góc nhìn mới và mang tính đa dạng; (c) Phạm trù nghiên cứu lượng từ đã mở rộng nhiều hơn so với trước đây
1.2.1.2 Những vấn đề tồn tại
+ Cách phân loại lượng từ vẫn chưa được xác định và đi đến thống nhất Tuy có nhiều cuộc tranh luận về vấn đề này, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một tiêu chuẩn phân loại chung được tất cả mọi người thừa nhận
+ Tính không cân bằng trong nội bộ nghiên cứu của lượng từ Trong những bài văn nghiên cứu về lượng từ, phần lớn là nghiên cứu về danh lượng từ, chỉ có một phần nhỏ nghiên cứu về động lượng từ
+ Những chênh lệch về quan điểm cũng như phân loại về lượng từ dẫn đến một số
Trang 2218
vấn đề tồn tại trong công tác dạy học lượng từ Một mặt, hiện tượng thuật ngữ không thống nhất vẫn tồn tại Mặt khác, hiện tượng không cân bằng cũng tồn tại trong dạy học lượng từ, đối với động lượng từ nhiều sách giáo khoa, giáo trình chỉ giới thiệu phân loại và chức năng, phần lớn vẫn là giới thiệu về danh lượng từ.[30]
1.2.2 Chính danh của lƣợng từ tiếng Hán
Lượng từ tiếng Hán được phân chia và đặt tên cuối cùng trong bảng danh sách
11 từ loại của tiếng Hán Lượng từ là một đặc điểm lớn của tiếng Hán, được ra đời
từ rất sớm Nhìn từ lịch sử về ghi chép văn tự, trong chữ giáp cốt đã thấy xuất hiện lượng từ, nhưng thực tế thì lượng từ đã xuất hiện trước đó trong khẩu ngữ Cùng với
sự phát triển của thời gian, từ vài lượng từ đã phát triển lên đến hơn chục lượng từ trong văn học Tiên Tần, và đến nay đã có tới hơn 600 lượng từ Ngày nay, số lượng lượng từ vẫn có xu hướng không ngừng tăng lên Trải qua quá trình phát triển gần
3000 năm, đến tiếng Hán hiện đại, lượng từ đã trở thành một từ loại quan trọng có quy luật ngữ pháp đặc biệt và được sự dụng phổ biến trong tiếng Hán Việc được xác lập về loại và đặt tên chính thức của lượng từ là bước đột phá lớn của nghiên cứu từ loại tiếng Hán
Cuối thế kỷ 19, Mã Kiến Trung(马建忠)lấy ngữ pháp học phương tây làm cơ
sở, từ đó lần đầu tiên xây dựng được hệ thống ngữ pháp tiếng Hán “Mã Thị Văn Thông 马氏文通” (1898) đã đặt bố cục cơ bản cho hệ thống từ loại tiếng Hán Trong cuốn sách này, tác giả chia từ loại tiếng Hán thành 9 loại, trong đó không có loại lượng từ Ông cho rằng: “故凡物之公名有别称以记数者,如车、乘、马之类,必先之。”[41, tr.34] Cố phàm vật chi công danh hữu biệt xưng dĩ ký số giả, như xa,
thừa, mã chi loại, tất tiên chi.(nghĩa là: nếu tên chung của sự vật có tên khác (lượng
từ) để đếm, như xe, ngựa, chắc chắn sẽ có số từ đứng trước.)Ông là người đầu tiên
đề cập đến thí dụ từ của lượng từ, nhưng chỉ coi lượng từ là danh từ bình thường, là
“tên khác của đếm số”
Trang 23Sau Lê Cẩm Hi còn có những học giả tiếp tục định nghĩa về lượng từ Chẳng hạn: Vương Lực trong “Ngữ pháp hiện đại Trung Quốc 中国现代语法” cho rằng, lượng từ là “danh từ đơn vị”, lượng từ thuộc một loại của danh từ Lã Thúc Tương cũng đồng ý quan điểm của Vương Lực, cũng gọi lượng từ là “đơn vị từ” Sau đó,
Lã Thúc Tương trong cuốn sách “Ngữ pháp học tập 语法学习” (1953:6) vẫn coi lượng từ là đơn vị thuộc về phạm trù danh từ: “ Phó danh từ biểu thị đơn vị của sự vật và hành vi, gọi là “đơn vị từ” hoặc “lượng từ” Nó là danh từ, nhưng hơi khác với danh từ.” [39, tr.6]
Ngoài ra, còn có những học giả như Cao Danh Khải gọi lượng từ là “ số vị từ” Lục Chí Vĩ gọi lượng từ là “trợ danh từ” Trần Vọng Đạo gọi lượng từ là “Kế tiêu: tiêu chí để tính toán (计标)” và còn đưa ra khái niệm “lượng từ về đơn vị hành thể” Trương Chí Công và Đinh Thanh Thụ đều gọi lượng từ là “số lượng từ”
Cho đến cuối những năm 50 của thế kỷ 20, lượng từ mới được coi là một từ loại riêng và được đặt tên chính thức Trong cuốn “tóm tắt „tạm thiết kế hệ thống ngữ pháp dạy học tiếng Hán‟” đã chính thức đặt tên rõ cho lượng từ: “表示事物或动物的数量单位的词是量词,量词有两种:计算实体事物的是物量词,计算行为动作的是动量词。Từ loại biểu thị đơn vị số lượng của sự vật và động vật là lượng từ, lượng từ có hai loại: tính toán sự vật thật thể là vật lượng từ, tính toán hành vị động tác là động lượng từ.” Đến đây, từ loại của tiếng Hán hiện đại chia
Trang 24“ Tân thám tu từ ngữ pháp tiếng Hán 汉语语法修辞新探” Ông cho rằng: “我们并
量和非标准量的区别。Chúng tôi không phủ nhận hoàn toàn gọi là đơn vị từ, nhưng sau khi so với lượng từ, vẫn có chỗ là không thể bao quát hết Đây là sự khác biệt của tiêu chuẩn lượng và phi tiêu chuẩn lượng.”“„量词‟可以概括„单位词‟而„单位
词‟则不能概括„量词‟,这是明显的事实 „Lượng từ‟ có thể bao quát „đơn vị từ‟ nhưng „đơn vị từ‟ không thể bao quát „lượng từ‟, đây là sự thực rõ ràng.” [52, tr.48]
1.2.3 Phân loại lƣợng từ tiếng Hán hiện đại
1.2.3.1 Tóm tắt lịch sử phân loại lƣợng từ tiếng Hán
Các nhà ngôn ngữ học khi định vị và phân loại lượng từ tiếng Hán đã dựa vào tiêu chuẩn khác biệt, do đó tri nhận về thuộc tính và đặc trưng của lượng từ khác biệt, dẫn tới việc phân loại lượng từ còn tồn tại sự bất đồng lớn Chung quy lại những phân loại của các học giả chủ yếu gồm những quan điểm như sau:
Thứ nhất, về phương pháp phân chia hai loại:
+ Phân chia lượng từ thành: vật lượng từ và động lượng từ hai loại Tiêu biểu là Trương Chí Công với “Dạy học ngữ pháp và ngữ pháp 语法和语法教学” 1957; Lưu Nguyệt Hoa với “Ngữ pháp tiếng Hán hiện đại thực dụng 实用现代汉语语法”
1983
+ Phân chia lượng từ thành lượng từ đơn thuần và lượng từ phức hợp Tiêu biểu là
Trang 2521
Hình Phúc Nghĩa với “Ngữ pháp học tiếng Hán 汉语语法学” 1979 và Tình Dung với “Lượng từ và tái phân loại lượng từ 量词及其再分类” 2004
+ Phân chia lượng từ thành lượng từ đo lường và lượng từ phi đo lường Tiêu biểu
là Trần Vọng Đạo với “Bàn về từ đơn vị và đơn vị trong tiếng Hán hiện đại 论现代汉语中单位和单位词”1980 Cao Danh Khải với “Bàn về ngữ pháp tiếng Hán 汉语语法论”1986
- Phương pháp phân chia ba loại:
+ Phân chia lượng từ thành danh lượng từ, động lượng từ và tính lượng từ Tiêu biểu là Lê Cẩm Hy và Lưu Thế Nho với “Giáo trình ngữ pháp tiếng Hán (bản thứ 2) 汉语语法教材(第二版)”1959; Hồ Dụ Thụ với “Tiếng Hán hiện đại 现代汉语” 1979; Quách Thiệu Ngu với “Tân thám tu từ ngữ pháp tiếng Hán(tập 1)”1979 + Phân chia lượng từ thành danh lượng từ, động lượng từ và lượng từ phức hợp Tiêu biểu là Quách Tiên Trân với “Sổ tay lượng từ tiếng Hán hiện đại”1987; Trương Vạn Khởi với “Thử luận lượng từ phức hợp tiếng Hán hiện đại” 1992; Học viện Dân tộc Trung ương với “Sổ tay lượng từ tiếng Hán hiện đại”1987; Trương Chí Công với “Tiếng Hán hiện đại”1982; Hoàng Bá Vinh và Liêu Tự Đông với “Tiếng Hán hiện đại (tập hạ)”1997; Phòng Ngọc Thanh với “Sử dụng ngữ pháp tiếng Hán hiện đại”1992
- Phương pháp phân chia nhiều loại Tiêu biểu cho quan điểm này có Triệu Nguyên Nhiệm với “Ngữ pháp khẩu ngữ tiếng Hán” 1979; Lã Thúc Tương với “800 từ trong tiếng Hán hiện đại” 1981 chia lượng từ thành 9 loại khác nhau; Chu Đức Hy với
“Dạy nghĩa tiếng Hán”1979 chia lượng từ thành 7 loại khác nhau
- Phương pháp phân chia bốn loại:
Đây là một loại phân loại mới nhất, quan điểm của Hà Kiệt trong cuốn sách
“Nghiên cứu lượng từ hiện đại (bản tăng biên soạn)” năm 2008 xuất bản, quan điểm
Trang 2622
của Hà Kiệt đã phân tích tổng hợp các quan điểm của các học giả và đưa ra một hệ thống phân loại lượng từ mới nhất Tác giả đã chia lượng từ thành 4 loại lớn, gồm danh lượng từ, động lượng từ, lượng từ kiêm chức và lượng từ phức hợp Dưới mỗi tầng lại bao gồm nhiều loại nhỏ
Tóm lại, lượng từ tiếng Hán từ thời Tiên Tần cho đến nay, đã phát triển với khối lượng khổng lồ, lên đến hơn 600 lượng từ Lượng từ trong từ loại tiếng Hán có
ý nghĩa đặc biệt nhất Những quan điểm đã nêu trên đều có tính hợp lý nhưng dù
nhiều hay ít cũng còn tồn tại một số bất cập
1.2.3.2 Phân loại lƣợng từ tiếng Hán trong những năm gần đây
Từ những quan điểm đã nêu trên, có thể thấy, trong tiếng Hán hiện đại tuy vẫn chưa có cách phân loại nào được mọi người thừa nhận, nhưng sau khi đọc các luận văn, luận án và theo quan điểm của cá nhân, chúng tôi cho rằng: phương pháp phân loại lượng từ của Hà Kiệt là được nhiều tác giả những năm gần đây thừa nhận Lượng từ có thể phân thành 4 loại lớn: danh lượng từ, động lượng từ, lượng từ kiêm chức và lượng từ phức hợp Trong đó, danh lượng từ lại chia thành 7 loại Theo quan điểm của Hà Kiệt [27], có một loại nhỏ là lượng từ chuyên dùng, nhưng chúng tôi cho rằng: loại lượng từ chuyên dùng này về chức năng ngữ pháp không khác với lượng từ cá thể, chỉ khi đối với danh từ đối ứng có khác về số lượng Do đó, trong luận văn này, chúng tôi quy lượng từ chuyên dùng vào lượng từ cá thể
Tầng lớp thứ nhất là: Danh lượng từ, động lượng từ, lượng từ kiêm chức và lượng từ phức hợp
- Danh lượng từ
Danh lượng từ đứng sau số từ, biểu thị lượng của con người và sự vật Chia thành 7 loại nhỏ: lượng từ cá thể, lượng từ tập hợp, lượng từ bộ phận, lượng từ đo lường, lượng từ vay mượn và lượng từ lâm thời.[27, tr.29]
+ Lượng từ cá thể
Lượng từ cá thể dùng với sự vật cá thể Lượng từ cá thể là chủ thể của danh lượng từ, phạm vi ứng dụng rộng rãi, chức năng tác dụng ở nhiều mặt, số lượng to
Trang 2723
lớn Chẳng hạn: Một vị tướng quân: 一位将军 nhất vị tướng quân;
Một con ngựa:一匹马 nhất sất mã; Một con mèo:一只猫 nhất chích miêu; Một cuốn sách:一本书 nhất bản thư; Một viên thuốc:一片药 nhất phiến dược
+ Lượng từ tập hợp
Lượng từ tập hợp dùng cho con người và sự vật thành đôi, thành cặp, thành nhóm Chia thành lượng từ định và lượng từ bất định
A Lượng từ định
Lượng từ định bao hàm số lượng, số lượng này là cố định, bất biến Ví dụ như:
“对 đối,双 song”(đôi) biểu thị hai cái, thành đôi, thành cặp Chẳng hạn như: Cặp vợ chồng này: 这对夫妻 nhất đối phu thê; Cặp oan gia này: 这对冤家 giá đối oan gia; Một đôi đũa: 一双筷子 nhất song khoái tử; Một đôi giầy:一双鞋 nhất song hài
“打”(tá)biểu thị mười hai cái, như: Một tá bia; 一打啤酒 nhất đả bi tửu; Một tá bút chì: 一打笔 nhất đả bút
B Lượng từ bất định
Lượng từ bất định biểu thị số lượng của con người và sự vật không xác định
Chẳng hạn: Một đàn cừu: 一群狼 nhất quần lang; Một hàng loạt vấn đề: 一系列问
题nhất hệ liệt vấn đề; Một bãi cỏ: 一片草地 nhất phiến thảo địa
+ Lượng từ vai mượn
Loại từ này là vay từ danh từ Khi sử dụng riêng là danh từ, chỉ khi thêm số từ
Trang 2824
hoặc đại từ đứng trước mới thể hiện ý nghĩa của lượng từ Loại từ này có thể kết
hợp số từ tự do, có thể lặp lại Chẳng hạn: Hai bát cơm: 两碗饭 lưỡng uyển phạn;
Ba thùng dầu ăn: 三桶食用油 tam thùng thực dụng du; Ba bình nước khoáng: 三
瓶矿泉水tam bình khoáng tuyền thủy
+ Lượng từ lâm thời
Lượng từ lâm thời trong ngữ cảnh cụ thể, để thỏa mãn nhu cầu biểu đạt, khiến
từ loại khác để làm lượng từ tạm thời, loại từ này chỉ có thể kết hợp với số từ “một”
và không thể lặp lại Chẳng hạn: Một đầu tóc bạc: 一头白发 nhất đầu bạch phát; Một khoang nhiệt huyết: 一腔热血 nhất thương nhiệt huyết
+ Lượng từ đo lường
Lượng từ đo lường là đơn vị dùng trong đo lường Chẳng hạn: Cân 公斤, mét
米, tấn 吨, đồng 元, mẫu 亩, ao-xơ 盎司, ca-lo-ri 卡路里…
Lượng từ chuyên dụng để biểu đạt lượng động tác và hành vi Những động
lượng từ thường dụng có: “次 thứ, 回 hồi, 趟 đảng, 遭 tao,下 hạ, 遍 biến, 顿 đốn,
番phiên, 阵 trận, 场 trường v.v ”Nó trong ý nghĩa và cách dụng lại có khác biệt,
ví dụ: “次 thứ,回 hồi, 趟 đảng, 遭 tao” là đo lường số lần của hành động Từ “次
thứ” thường dùng nhất Ví dụ: “他读了三次”,“两次会议都开得不错” Từ“回 hồi,
趟đảng, 遭 tao” phạm vi ứng dụng hẹp hơn từ “次 thứ” , thường dùng về đi lại,
như:“我去过三回”、“汽车运了两趟”、“到云南,我还是第一遭” Những chỗ sử
Trang 2925
dụng “回 hồi,趟 đảng,遭 tao”có thể dụng từ “次 thứ” thay thế, nhưng những chỗ sử
dụng “次 thứ” thì không nhất định có thể dụng từ “回 hồi, 趟 đảng, 遭 tao”thay thế
Từ “下 hạ, 遍 biến, 顿 đốn, 番 phiên, 阵 trận, 场 trường” có khác biệt trong trình
độ biểu đạt lượng động tác Trình độ của những từ này là từ nhẹ đến nặng
+ Động lượng từ vay mượn
Động lượng từ vay mượn chia thành vay mượn danh từ, vay mượn động từ,
vay mượn từ tố đứng sau của từ ly hợp hoặc vay mượn lặp lại của động từ.[27,
tr.44]
A Vay mượn danh từ
Lượng từ vay mượn danh từ, chẳng hạn như: Quất roi một cái/ hai cái/ ba cái: 抽一
鞭子/两鞭子/三鞭子; Cắn một cái: 咬一口; Lườm một cái: 瞪一眼; Đã nói đến
nửa đêm: 谈了半宿
B Vay mượn động từ
Lượng từ vay mượn động từ, chẳng hạn như: giật mình một lần: 受了一惊; Làm giật nẩy một lần: 吓了一跳
C Vay mượn từ tố đứng sau của từ ly hợp
Lượng từ Vay mượn từ tố đứng sau của từ ly hợp, chẳng hạn như: Gặp một lần/ hai
lần/ ba lần: 见一面/两面/三面; Ngủ một giấc/ hai giấc/ ba giấc: 睡一觉/两觉/三
觉 Trong trường hợp này, tiếng Việt dùng “lần” và “giấc”, tiếng Hán tương đương
dùng 面 diện (mặt) và 觉 giác (ngủ)
D Vay mượn lặp lại của động từ
Lượng từ vay mượn lặp lại của động từ, chẳng hạn như: Xem một lần: 看一看 khán
nhất khán; Nghe một lần: 听一听 thính nhất thính; Nghĩ một lần: 想一想 tưởng
Trang 3026
nhất tưởng; Thử ăn/ nếm một lần: 尝一尝 thường nhất thường
Đối với những từ đến nay vẫn tồn tại nhiều tranh luận, tác giả Hà Kiết cho rằng, chúng là động lượng từ, nhưng cũng có học giả cho rằng những từ này chỉ là lặp lại của động từ thôi
- Lượng từ kiêm chức
Lượng từ kiêm chức là lượng từ thuộc hai loại hoặc trên hai loại từ loại.[27,
tr.47] Chẳng hạn: Ba bữa cơm: 三顿饭 tam đốn phạn(danh lượng từ); bị nói cho một hồi: 被说了一顿 (động lượng từ); Một trận gió: 一阵风 nhất trận phong
(danh lượng từ); nói cười một hồi: 说笑一阵 thuyết tiếu nhất trận (động lượng
từ)…
Trong hai ví dụ sau:
1.Bài văn này tốt lắm 这篇文章很好
2 Cuốn sách này còn thiếu ba bài 这本书还差三篇文章
Trong câu 1 “bài” là lượng từ cá thể, “bài” trong câu hai là lượng từ bộ phận
- Lượng từ phức hợp
Lượng từ phức hợp là do hai lượng từ cấu tạo thành, biểu thị một đơn vị có
tính phức hợp Chẳng hạn: Lượt chiếc 架次 giá thứ; đời người 人年 nhân niên; lượt xe 车次 xa thứ, lượt người 人次 nhân thứ
1.2.4 Đặc điểm của lƣợng từ tiếng Hán
Mỗi loại từ loại đều có đặc điểm riêng, lượng từ cũng thế Lượng từ tiếng Hán
có những đặc điểm như sau:
- Lượng từ tiếng Hán đều biểu lượng
Tất cả lượng từ tiếng Hán đều biểu lượng, đây là đặc điểm và chức năng cơ bản nhất của nó Trong đó danh lượng từ biểu lượng của con người và sự vật, động lượng từ biểu lượng của động tác, hành động và sự vật vận động.[25] Chẳng hạn:
Trang 3127
一张纸nhất trương chỉ: một tờ giấy; 一包烟 nhất bao yên: một gói (bao) thuốc lá;
一件衬衣 Một chiếc áo sơ-mi; 三条船 tam điều thuyền: ba chiếc tàu; 五滴水 ngũ
chích thủy: năm giọt nước
- Lượng từ tiếng Hán có thể kết hợp tự do với số từ
Lượng từ chỉ biểu thị lượng của đơn vị, nếu cần đo lường chính xác đối với sự vật khách quan thì cần số từ tiến hành tính toán và thống kê [25] Cho nên, quan hệ
giữa hai loại từ này rất mật thiết Chẳng hạn: 三间房 tam gian phòng: ba gian phòng; 四杯奶 tứ bôi nãi: bốn cốc sữa; 两座楼 lưỡng tọa lâu: hai tòa nhà
- Lượng từ tiếng Hán không thể độc lập làm thành phần của câu
Lượng từ tiếng Hán không thể độc lập làm thành phần của câu, mà phải kết hợp với số từ hoặc đại từ chỉ thị tổ hợp thành cụm từ lượng từ mới có thể vận dụng trong câu, làm định ngữ, trạng ngữ, bộ ngữ, chủ ngữ hoặc thành phần của vị ngữ của câu
- Lượng từ tiếng Hán có thể lặp lại
Lượng từ trong tiếng Hán có phần lớn đều là đơn âm tiết, chúng có thể lặp lại Sau khi lặp lại tùy vào vị trí khác nhau trong câu sẽ có chức năng ngữ pháp và ý nghĩa khác nhau, tức là có nghĩa như:“mỗi một, nhiều, từng một” v.v…[25]
Chẳng hạn: Thua liên tiếp 节节败退 tiết tiết bại thoái; Đánh bước nào, củng cố bước ấy 步步为营 bộ bộ vi doanh; Vươn lên hàng ngày 天天向上 thiên thiên
Trang 3228
- Tính linh hoạt và tính tính hợp trong khi sử dụng lượng từ
Lượng từ tiếng Hán số lượng phong phú, cách sử dụng rất linh hoạt Lượng từ thường kết hợp với danh từ hoặc động từ Khi hai từ đi với nhau sẽ gây ra ý nghĩa khác nhau, cho nên lựa chọn lượng từ kết hợp với danh từ nào hoặc động từ nào là
việc rất quan trọng.[25] Chẳng hạn: Có thể nói “一只猫 nhất chích miêu: một con mèo”, nhưng không thể nói một “一条猫 nhất điều miêu,一匹猫 nhất sất miêu”
Có thể nói “一个人 nhất cá nhân: một con người”, nhưng không thể nói một “一只
人nhất chích nhân,一匹人 nhất sất nhân”
Ghi chú: để tiện cho việc trình bày ở phía sau, trong luận văn này, dưới đây chúng
tôi thống nhất ghi lượng từ thành loại từ
1.3 So sánhđối chiếu sự tương đồng và khác biệt giữa loại từ tiếng Việt và tiếng Hán
Tiếng Việt và tiếng Hán cùng loại hình ngôn ngữ đơn lập với các đặc điểm nổi trội như âm tiết tính, có thanh điệu, từ không biến đổi hình thái, không phân biệt căn tố và phụ tố Loại từ tiếng Việt và tiếng Hán đều được đánh giá là một hiện tượng ngôn ngữ phức tạp gây nhiều tranh cãi trong thời gian dài, đầu tiên là ở việc xác định tên gọi trong hệ thống từ loại của mỗi ngôn ngữ Trong khi đó, lượng từ tiếng Hán đã xác định được vị trí thực từ của mình trong hệ thống từ loại tiếng Hán, nhưng trong tiếng Việt vẫn chưa được chính thức xác định tên gọi, vị trí trong hệ thống từ loại do các nhà Việt ngữ học chưa tìm được tiếng nói chung
Trong luận văn này, chúng tôi sẽ xuất phát từ ba bình diện: ngữ nghĩa, ngữ dụng và ngữ pháp để so sánh đối chiếu sự tương đồng và khác biệt giữa loại từ tiếng Việt và lượng từ tiếng Hán
1.3.1 So sánh đối chiếu về mặt ngữ nghĩa
- Loại từ mang màu sắc tình cảm
Loại từ tiếng Việt và tiếng Hán có điểm giống nhau là tồn tại loại từ mang màu
Trang 3329
sắc tình cảm Ví dụ như loại từ chỉ con người, bất cứ tiếng Việt hay tiếng Hán đều tồn tại loại từ mang màu sắc tình cảm Trong tiếng Việt, loại từ “người” là loại từ trung tính, không khu biệt nam nữ, tên tuổi, tôn ti, nhưng trong tiếng Việt phần lớn loại từ chỉ con người đều mang ý nghĩa khu biệt nam nữ, tên tuổi (già, trung, thanh)
và tôn ti Trong tiếng Hán loại từ chỉ con người có : “个” cá (con), “位” vị (vị/ ngài) , “员” viên (viên), “名” danh (tên), “口” khẩu (khẩu), trong đó loại từ “位” vị
mang ý nghĩa tôn trọng Ví dụ như:
Một người khách (trung hòa)
Một bà bác sĩ (nữ, tuổi lớn, tôn trọng)
Một anh cảnh sát (nam, thanh niên, tôn trọng)
Một vị lãnh đạo (tôn trọng)
Một mụ bán thịt (nữ, tuổi trung niên/tuổi cao, khinh thường)
- Mượn danh từ để biểu lượng
Tiếng Việt và tiếng Hán đều tồn tại tình trạng là mượn danh từ để biểu lượng
Chẳng hạn: Một cốc nước chanh: 一杯柠檬水 nhất bôi ninh mông thủy; Một đĩa hoa quả; 一盘水果 nhất bàn thủy quả; Một bát cơm: 一碗饭 nhất uyển phạn… Những ví dụ nêu trên như “cốc, đĩa, bát” và “杯 bôi,盘 bàn,碗 uyển” đều là
danh từ, nhưng ở đây đều làm loại từ, để biểu lượng của danh từ
- Giữa loại từ tiếng Việt và tiếng Hán, quan hệ đối ứng tương đối chiếm tương đối nhiều, nhưng cũng tồn tại quan hệ đối ứng không tương đối
+ Một từ tiếng Việt đối ứng nhiều chữ Hán
Đơn vị nhỏ nhất biểu thị con vật, trong tiếng Việt chỉ dùng “con”, mà trong tiếng
Hán có 4, 5 loại từ chỉ ý nghĩa tương tự Ví dụ như: 头 đầu,只 chích,尾 vĩ,条
điều,匹 sất Trong đó, một con bò: 一头牛 nhất đầu ngưu(头 đầu,đơn vị chỉ động
vật, những con vật có đặc sắc trên đầu); một con gà: 一只鸡 nhất chích kê(只 chích,
Trang 3430
đơn vị chỉ động vật, thường chỉ động vật chỉ có 2 chân); một con ngựa: 一匹马
nhất sất mã(匹 sất,đơn vị chỉ ngựa, lạc đà, con la, lừa); một con rắn: 一条蛇 nhất điều sà(条 điều,đơn vị chỉ động vật hoặc độ vật hình dài ); một con cá: 一尾鱼 nhất vĩ ngư(尾 vĩ,đơn vị chỉ con cá, khẩu ngữ dùng 只 chích,条 điều)
+ Một từ tiếng Hán đối ứng với nhiều chữ Việt
Ví dụ như từ “封” phong, trong tiếng Việt có bốn loại từ đối ứng Tiếng Hán nói:
一封信nhất phong tín, tiếng Việt có thể nói: một bức thư, một lá thư, một phong
thư, một cánh thư Từ “瓶” bình trong tiếng Việt có ba loại từ đối ứng Tiếng Hán nói: 一瓶水 nhất bình thủy, tiếng Việt có thể nói: một bình nước, một chai nước, một lọ nước
1.3.2 So sánh đối chiếu về mặt đặc điểm ngữ pháp
1.3.2.1 So sánh đối chiếu khả năng kết hợp
Loại từ thường phải sử dụng kết hợp với những từ khác Đứng trước loại từ có số
từ, đứng sau loại từ có danh từ, đại từ chỉ thị Trong tiếng Việt và tiếng Hán, việc kết hợp loại từ với những từ khác cũng có những điểm giống và điểm khác nhau.[33,tr.15]
Bảng1.1 : Bảng so sánh đối chiếu phương thức kết hợp thường dùng
Trang 3531
察
“Hơn”+số+loại+danh Hơn 10 anh cảnh sát Số+“hơn”+loại+danh 十多个警察
“Hơn”+số+danh Hơn 10 cảnh sát
1.3.2.2 So sánh đối chiếu chức năng cú pháp
Loại từ tiếng Việt và tiếng Hán đều không thể làm thành phần cú pháp đơn độc, chắc phải kết hợp với những từ khác mới có thể làm thành phần câu.[33,tr.16] Chẳng hạn:
Trong loại từ tiếng Việt có thể tỉnh lược loại từ trong khi danh từ kết hợp với
số từ biểu thị con người hoặc sự vật, nhưng tiếng Hán không tỉnh lược được Ví dụ
Trang 3632
như: một học sinh, hai bác sĩ, ba dân tộc, ba quốc gia
Trong tiếng Hán những từ chỉ tiền mặt, thời gian và khu vực chắc chắn phải có
loại từ, ví dụ như: 三个星期 lưỡng cá tinh kỳ (ba tuần),两个小时 lưỡng cá tiểu
thời (hai tiếng đồng hồ),一个城市 nhất cá thành thị (một thành phố), nhưng tiếng
Việt thì không cần sử dụng loại từ
- Quy tắc láy loại từ
Trong loại từ tiếng Hán, phần lớn loại từ đơn âm tiết có thể láy được, hình thức láy là AA.[28, tr.16] Thường biểu thị ý nghĩa là “mỗi một” hoặc “nhiều” v.v Ví dụ như: 全场歌声阵阵。(Biểu thị ý nghĩa “nhiều”): Tiếng ca vang dậy phòng họp; 条条大路通罗马。(Biểu thị ý nghĩa “mỗi một”): Mỗi một con đường đều đến Rô-ma; 谁知盘中餐,粒粒皆辛苦。(Biểu thị ý nghĩa “mỗi một”): Có ai biết rằng bát cơm trong mâm, Mỗi hạt đều là đắng cay cực khổ?
Loại từ tiếng Việt không thể láy được, trong tiếng Việt nếu biểu thị ý nghĩa láy
“mỗi một” thường dùng: (1) Loại từ + nào + loại từ + nấy; (2) Loại từ + nào; (3) Từng + loại từ; (4) Mọi + loại từ Ví dụ: Mọi con phố ở đây đều hẹp
1.4 Khái quát về dịch thuật
1.4.1 Định nghĩa của dịch thuật
“Từ điển tiếng Hán hiện đại” định nghĩa dịch thuật là: Ý nghĩa chữ viết của một ngôn ngữ có thể biểu hiện qua chữ viết của một ngôn ngữ khác [51]
“Dịch thuật” trong Wikipedia tiếng Việt giải thích là một hoạt động bao gồm
Trang 3733
việc luận giải ý nghĩa của một đoạn văn trong một ngôn ngữ nào đó - văn nguồn -
và chuyển sang một ngôn ngữ khác thành một đoạn văn mới và tương đương - văn đích hay là bản dịch
Catford (1965) xem dịch thuật là sự thay thế một tài liệu văn bản ngôn ngữ gốc bằng tài liệu văn bản ngôn ngữ đích.[34, tr.51]
Nida (1975) xây dựng lý thuyết về sự tương đương “hình thức” và tương đương
“động”: trong khi sự tương đương hình thức chú ý vào thông điệp thực sự trong hình thức và nội dung, thì sự tương đương “động” lại nhằm vào hiệu ứng tương đương, nghĩa là mối quan hệ tương tự giữa người nhận và thông điệp trong cả hai ngôn ngữ Cả hai học giả nổi tiếng Catford và Nidaxuất sắc này đều nhận ra dịch bao hàm sự thương thỏa và bất cứ quan điểm nào về sự tương đương tuyệt đối đều phi lý
Có thể nói, dịch thuật tức là dùng ngôn ngữ khác “tương đương” hoặc “tái hiện”
ra những nội dung của nguyên tác muốn biểu đạt Mỗi ngôn ngữ đều có ngữ pháp, ngữ âm, lịch sử và thói quen biểu đạt riêng Bất cứ ngôn ngữ nào cũng có lịch sử ra đời và nảy sinh khác nhau, trong quá trình dịch thuật không thể dịch chính xác tuyệt đối so với ngôn ngữ nguyên tác, cho nên trong quá trình dịch cho dù sử dụng những
từ vựng có ý nghĩa rất gần nhau thì vẫn sẽ tồn tại sự khác biệt về tính vốn có Vì vậy, Waldrop Rosemarie từng nói: nguyên tác như cha mẹ, bản dịch như con cái Cũng là nói giữa nguyên tác và bản dịch chắc chắn tồn tại sự khác nhau về thời gian và văn hóa, cũng giống như sự khác nhau về thời đại giữa cha mẹ và con cái.[53, tr.17] Ngược lại, Anzilotti chỉ ra rằng: dịch thuật là một công việc phải nghiền ngẫm
ý muốn của tác giả nguyên tác, đồng thời chỉ ra “khái niệm lấy nội dung làm cơ sở”, bao gồm ba tiêu chuẩn, “tiêu chuẩn cú pháp luận” khi sử dụng ngôn ngữ nào đó,
“tiêu chuẩn ý nghĩa luận” của bối cảnh bao hàm văn hóa xã hội, “tiêu chuẩn ứng dụng thực tế” tức là hoạt động tâm lí của ngôn ngữ bao hàm Tức là tác dụng của người dịch đối với dịch thuật có ảnh hưởng không thể coi nhẹ giống sự khác biệt như thời đại
Trang 3834
Tóm lại, dịch thuật không chỉ là đơn thuần như sự biến đổi của hình thức ngôn ngữ từ đối từ, câu đối câu Mà còn là một công việc tái sáng tạo trên cơ sở giữ nguyên tư tưởng, ý đồ và văn thể v.v
1.4.2 Bản chất của dịch thuật
Mỗi một loại ngôn ngữ đều không chỉ đơn thuần là sự tổ hợp của từ, chữ, câu,
mà là trầm tích của các mặt như lịch sử, văn hóa thậm chí là tình cảm tâm lí của dân tộc sử dụng ngôn ngữ này Quá trình chuyển đổi thông tin từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác cũng không chỉ là sự chuyển đổi cứng nhắc giữa từ, chữ và câu, mà
là di truyền văn hóa và chuyển đổi văn hóa Các nền văn hóa luôn mang tính dân tộc, tính khu vực, tính thời đại Các nền văn hóa cần truyền bá và phát triển, không chỉ trong nội bộ của một nền văn hóa mà còn giữa các văn hóa khác nhau Vì vậy, giữa các nền văn hóa cần giao lưu, truyền bá thì không thể tách khỏi với dịch thuật Cho nên, bản chất của dịch thuật tức là truyền bá và giao lưu xuyên văn hóa Cũng có thể nói, truyền bá xuyên văn hóa là phát sinh căn bản của dịch thuật, dịch thuật là phương tiện và kết quả của truyền bá xuyên văn hóa Bản thân của dịch thuật là một nền văn hóa, là một hành vi truyền bá, giao lưu và giao tiếp của xuyên văn hóa, nó khiến những thông tin của ngôn ngữ này dùng ngôn ngữ khác để biểu đạt ra
Có thể nói, quá trình dịch thuật là đối thoại giữa văn hóa này với văn hóa khác, là quá trình truyền bá của văn hóa nguồn sang văn hóa đích Bản thân dịch thuật tức là văn hóa, cũng lại là hành vitruyền bá, cũng là quá trình truyền bá, là quá trình và hành vi truyền bá xuyên ngôn ngữ trong quá trình giao lưu giữa các ngôn ngữ
1.4.3 Phương pháp dịch thuật
Nói đến dịch thuật có hai phương pháp cơ bản được mọi người thừa nhận, tức
là dịch thẳng và dịch nghĩa Phương pháp chủ yếu dịch thuật nguyên tác của người dịch là dịch thẳng và dịch nghĩa Dịch thẳng là cơ bản, dịch nghĩa là bổ sung và phụ trợ đối với dịch thẳng mà không thể thiếu được
Dịch thẳng: khi chuyển đạt ý nghĩa của nguyên tác, hình thức biểu đạt và kết
Trang 3935
cấu cú pháp gần sát với nguyên tác, có thể đối ứng hoàn toàn thì đối ứng hoàn toàn, không thể đối ứng hoàn toàn cũng phải đại thể như nhau Tức là theo hạm ý thực tế của nguyên từ dịch thành thuật ngữ mục địch ngữ đối ứng
Dịch nghĩa: xuất phát từ ý nghĩa, chỉ cần chuyển đạt ý nghĩa của nguyên văn muốn biểu đạt đến mục đích ngữ, không cần câu nệ từ, cú pháp và phương pháp tu
từ của nguyên văn Tức là dịch nghĩa không nhu cầu “tương tự” chỉ nhu cầu “sinh động” Hai loại phương pháp đều có đặc điểm riêng của họ, đã không thể dịch cứng lại không thể xuyên tạc tùy ý
1.4.4 Tầm quan của việc sử dụng ngôn ngữ học so sánh đối chiếu trong dịch thuật
Dịch thuật là “从语义到文体在译语中最切近又最自然的对等语再现源语的信息。”(ngữ tương đương trong ngôn ngữ dịch từ ý nghĩa đến văn thể gần sát
nhất lại tự nhiên nhất tái hiện thông tin của ngôn ngữ nguồn.)[46, tr.10]
Từ những định nghĩa của dịch thuật có thể thấy, dịch thuật là một môn học liên quan với ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, ngữ nghĩa học và ngữ dụng học v.v Muốn có một bản dịch tốt thì người phiên dịch cần phải thông thạo ngôn ngữ nguồn
và ngôn ngữ đích Lưu Mật Khánh cho rằng: “So sánh đối chiếu là cơ sở lý thuyết quan trọng nhất, so sánh đối chiếu có thể giúp cho chúng tôi nhận thức rõ ràng hơn được điểm giống và điểm khác giữa hai ngôn ngữ, chỉ khi nhận thứcđược điều này mới có thể tránh được việc dịch một cách mù quáng.”[38, tr.3] Vì vậy, ngôn ngữ học so sánh có thể làm cơ sở lý thuyết quan trọng của dịch thuật, nó có thể chỉ đạo nghiên cứu dịch thuật và thực tiễn dịch thuật
Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu là một chi nhánh của ngôn ngữ học, nghiên cứu các đặc điểm tương đồng và khác biệt về mặt cấu trúc giữa các ngôn ngữ nhằm các mục đích lí thuyết và thực tiễn nhất định.[4] Ngôn ngữ là một loại kết cấu, ngữ
âm, ngữ pháp, từ vựng và tầng lớp của nó đều tồn tại quy luật riêng Trong quá trình
Trang 4036
giao lưu ngôn ngữ, mỗi tầng lớp đều có khả năng sản sinh trở ngại Vì vậy, hai loại ngôn ngữ so sánh trên các tầng lớp đối với chuyển đổi hữu hiệu của ngôn ngữ hay là tiến hành thuận lợi của giao lưu đều rất quan trọng Thông qua so sánh đối chiếu, chúng tôi sẽ nhận thức sâu hơn về hai ngôn ngữ, để chỉ đạo trong dịch thuật
1.4.5 Tình hình tác phẩm song ngữ hiện nay
Việt Nam và Trung Hoa vốn có quan hệ truyền thống từ lâu, là láng giềng hữu nghị, là bạn và là đối tác quan trọng của nhau Văn hóa Việt- Trung có sự giao lưu lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau Bất cứ người Trung Quốc nào dù là lần đầu tiên được tiếp xúc với tác phẩm văn học Việt Nam như tiểu thuyết “Lá thư miền Nam” Đây là một tác phẩm văn học rất chân thực về thời đại chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam Sau khi Việt Nam – Trung Quốc bình thường hóa quan hệ năm
1991, rất nhiều tác phẩm văn học Việt Nam được dịch sang tiếng Hán, ví dụ như cuốn sách 《越南当代短篇小说选》(田小华主编中国文联出版社 2012)“Tập truyện ngắn hiện đại Việt Nam” (Điền Tiểu Hoa chủ biên, Nxb Văn Liên Trung Quốc 2012), đây là một cuốn sách hội tụ những tác giả có ảnh hưởng nhất, cũng như những tác phẩm tiểu biểu nhất trong dòng văn học Việt Nam Ngược lại, những tác phẩm văn học nổi tiếng Trung Quốc cũng được dịch thành tiếng Việt như “Tây
Du Ký”, “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, “Thủy Hử”, “Hồng Lâu Mộng”, “Liêu Trai Chí Dị” v.v và rất nhiều tác phẩm văn học hiện đại và đương đại Trung Quốc Thậm chí là những tiểu thuyết ngôn tình Trung Quốc cũng được dịch sang tiếng Việt và bán chạy trong các hiệu sách Đặc biệt, gần đây, tác phẩm văn học nổi tiếng “Báu vật của đời” của nhà văn nổi tiếng Mạc Ngôn đã được dịch sang tiếng Việt và nhận được sự quan tâm của đông đảo đọc giả và giới nghiên cứu ngôn ngữ, văn học, văn hóa, dịch thuật Việt Nam
Là học viên Trung Quốc đang học tập tại Việt Nam, nhân dịp viết luận văn tốt nghiệp, chúng tôi chọn cuốn sách “Tập tiểu thuyết ngắn hiện đại Việt Nam” (Điền Tiểu Hoa chủ biên soạn Nxb Văn Liên Trung Quốc 2012) làm ngữ liệu nghiên cứu,