1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dấu ấn của truyện cổ tích trong chèo truyền thống

121 163 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu các hiện tượng cấu thành Chèo từ nội dung cốt truyện đến hình thức sân khấu của kịch bản Chèo đồng thời chỉ ra được mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của hiện tượng văn hóa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn do tôi thực hiện Những kết quả từ những tác giả trước mà tôi sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng, cụ thể Không có bất kỳ sự không trung thực nào trong các kết quả nghiên cứu

Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Học viên

Phạm Thị Hậu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo, PGS.TS Nguyễn Thị Nguyệt người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, chu đáovà luôn động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Sự chỉ bảo tận tâm của cô đã mang lại cho tôi hệ thống các phương pháp, kiến thức cũng như kỹ năng hết sức quý báu để có thể hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất

Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS - Nhà viết kịch Trần Đình Ngôn, các Đạo diễn, Trưởng phòng nghệ thuật và các nghệ

sĩ của Nhà hát chèo Việt Nam, Nhà hát chèo Hà Nội, Nhà hát chèo Thái Bình – những người đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian thực hiện luận văn Tôi cũng xin được cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, quý thầy giáo, cô giáo ở Phòng Đào tạo Sau đại học và thầy giáo, cô giáo khoa Văn học, trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là các thầy cô giáo bộ môn Văn học Dân gian, khoa Văn học – những người mà trong thời gian qua đã dạy dỗ, truyền thụ kiến thức khoa học, giúp tôi từng bước trưởng thành

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, gia đình và bạn bè – những người đã hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi có thể học tập đạt kết quả tốt và thực hiện thành công luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Phạm Thị Hậu

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc của luận văn 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 9

1.1 Truyện cổ tích 9

1.1.1 Khái niệm truyện cổ tích 9

1.1.2 Phân loại và đặc trưng của truyện cổ tích dân gian 10

1.1.3 Vài nét thi pháp của truyện cổ tích dân gian 12

1.2 Chèo truyền thống 15

1.2.1 Một số khái niệm 15

1.2.2 Một số đặc trưng cơ bản của nghệ thuật Chèo truyền thống 17

1.3 Mối quan hệ giữa truyện cổ tích và Chèo truyền thống 24

1.3.1 Truyện cổ tích là cơ sở hình thành nên kịch bản chèo truyền thống 24

1.3.2 Sự vận dụng yếu tố truyền thống và cách tân từ truyện cổ tích đến kịch bản Chèo truyền thống 27

Tiểu kết chương 1 31

CHƯƠNG 2 SỰ CHUYỂN THỂ TỪ CỐT TRUYỆN TRUYỆN CỔ TÍCH SANG KỊCH BẢN CHÈO TRUYỀN THỐNG 32

2.1 Sự chuyển thể về nội dung 32

2.1.1 Nội dung của truyện cổ tích 32

2.1.2 Nội dung của Chèo 33

2.2 Sự chuyển thể về cốt truyện 37

2.2.1 Vai trò của cốt truyện trong kịch bản Chèo 37

2.2.2 Cốt truyện trong kịch bản Chèo truyền thống 39

2.2.3 Một vài đặc điểm của cốt truyện trong kịch bản Chèo truyền thống 41

2.2.4 Cốt truyện trong truyện cổ tích 48

Trang 6

2.2.5 So sánh cốt truyện trong truyện cổ tích với cốt truyện trong kịch bản

Chèo truyền thống 50

Tiểu kết chương 2 55

CHƯƠNG 3 SỰ CHUYỂN THỂ VỀ ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT TRUYỆN CỔ TÍCH SANG KỊCH BẢN CHÈO TRUYỀN THỐNG (DẤU ẤN VỀ ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT) 56

3.1 Ngôn ngữ 56

3.1.1 Ngôn ngữ trong kịch bản Chèo 56

3.1.2 Ngôn ngữ trong truyện cổ tích 59

3.2 Nhân vật 61

3.2.1 Nhân vật truyện cổ tích 61

3.2.2 Nhân vật trong Chèo 62

3.3 Kết cấu 68

3.3.1 Kết cấu truyện cổ tích 68

3.3.2 Kết cấu Chèo 69

3.4 Phương pháp tự sự - kể chuyện 70

3.4.1 Phương pháp tự sự - kể chuyện trong cổ tích 70

3.4.2 Phương pháp tự sự - kể chuyện trong Chèo (kể - diễn xướng, kể bằng sân khấu, kể bằng thơ, kể kết hợp yếu tố trữ tình và kịch) 71

3.5 Khảo sát dấu ấn truyện cổ tích trong Chèo truyền thống qua một số tác phẩm tiêu biểu 73

3.5.1 Khảo sát dấu ấn truyện cổ tích trong Chèo truyền thống qua vở Chèo Thạch Sanh 73

3.5.2 Khảo sát dấu ấn truyện cổ tích trong Chèo truyền thống qua vở Chèo Tấm Cám 80

3.5.3 Khảo sát dấu ấn truyện cổ tích trong Chèo truyền thống qua vở Chèo Lọ nước thần 84

3.5.4 Khảo sát dấu ấn truyện cổ tích trong Chèo truyền thống qua vở Chèo Từ Thức 87

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Bảng thống kê các kịch bản Chèo được chuyển thể từ truyện cổ tích Thạch Sanh 74 Bảng 3.2: Bảng thống kê các kịch bản Chèo được chuyển thể từ truyện cổ tích Tấm Cám 81 Bảng 3.3: Bảng thống kê các kịch bản Chèo được chuyển thể từ truyện cổ tích Ai mua hành tôi 84 Bảng 3.4: Bảng thống kê các kịch bản Chèo được chuyển thể từ truyện cổ tích Sự tích động Từ Thức hay Từ Thức gặp tiên 87

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nghệ thuật sân khấu nói chung và nghệ thuật chèo nói riêng là sự tổng hòa của các thành phần sáng tạo từ kịch bản, đạo diễn, diễn viên cho đến mỹ thuật, âm nhạc… Trong số đó, cái quan trọng trước tiên phải nói đến đó là kịch bản bởi cổ nhân xưa đã có câu: “Có tích mới dịch nên trò” Bên cạnh đó, theo hai giáo sư Đinh

Gia Khánh và Chu Xuân Diên thì “Việc sáng tác một vở chèo thường được tiến hành như

sau: Dựa vào các sự tích hay một tích truyện nào đó vốn có trong các truyện (cổ tích, thần thoại, truyện lịch sử, truyện nôm…) mà dựng nên vở Cho nên, chèo có chủ đích diễn lại bằng hình thức sân khấu những truyện có từ trước” [38; tr 399]

Khi nói đến nghệ thuật chèo của nước ta, xưa nay người Việt vẫn luôn tự hào bởi có một nền tảng vững chắc là những bậc tiền bối uyên bác trong sáng tác kịch bản Những tích chèo cổ mẫu mực được xem như những “viên ngọc chèo toàn bích”, kết tinh tài năng, trí tuệ của ông cha và tỏa sáng trong lòng công chúng yêu

chèo qua biết bao thế kỷ như: Huyết Hồ, Lưu Bình Dương Lễ, Quan Âm Thị Kính,

Kim Nham, Chu Mãi Thần… Tuy nhiên, “trong giai đoạn bùng nổ của nhiều loại

hình giải trí như hiện nay thì Chèo đang mất dần chỗ đứng Chính vì vậy, việc sáng tác kịch bản chèo theo đề tài hiện đại là thật sự cần thiết nhưng để có tác phẩm đạt đến tầm cao thì không hề dễ Bởi kịch bản chèo hiện đang là một khoảng trống khó lấp đầy và ngay cả lực lượng sáng tác cũng vừa già vừa hiếm.” [7]

Một số ít tác giả viết kịch bản chèo chuyên nghiệp ở nước ta hiện nay tâm sự: “Viết chèo đề tài hiện đại rất khó vì nếu không có kiến thức về sân khấu chèo, không biết cách vận dụng, kết hợp một cách tinh tế và nhuần nhuyễn những nét đặc trưng

cơ bản của chèo truyền thống vào sáng tạo tác phẩm thì rất dễ sa vào dạng kịch nói có hát chèo hoặc mô phỏng theo những tuýp chèo cổ sẽ trở thành kệch cỡm…”

Hơn thế, đội ngũ những người viết kịch bản chèo ngày nay hiện không nhiều

mà đa phần đều đã cao tuổi Trong số đó, chỉ một số ít tác giả viết chuyên nghiệp, còn lại chủ yếu là những người viết nghiệp dư, thường chỉ có thể sáng tác được trích đoạn hoặc là hoạt cảnh chèo cho các đội văn nghệ quần chúng dưới cơ sở như đã thấy qua một số liên hoan, hội thi, hội diễn “Theo PTS Trần Đình Ngôn, người chuyên viết kịch bản cho sân khấu chèo chia sẻ: Hiện nay, các tác giả chuyên viết chèo đều đã cao tuổi, những tác giả trẻ tuổi có khả năng viết chèo, cũng như chuyển

Trang 9

thể chèo tuy có, nhưng không nhiều, các tác giả trẻ thành nghề lại càng hiếm Tuy

đã có xuất hiện một số cây bút trẻ, nhưng chưa có độ tin cậy, nhiều kịch bản không được dàn dựng… Cứ đà này, chỉ vài năm nữa, tình trạng thiếu kịch bản cho sân khấu chèo sẽ ngày càng trầm trọng, khiến những người trong nghề không khỏi lo lắng, trăn trở.” [30]

Vì vậy, giữa ngổn ngang những vấn đề nóng bỏng tiếp diễn phức tạp trong đời sống hàng ngày thì các tác giả kịch bản chèo hiện nay dường như vẫn đang loay hoay với câu hỏi, đâu là vấn đề công chúng thật sự quan tâm? Và để có được một

vở chèo đề tài hiện đại mà lôi cuốn, thu hút khán giả, nhất là khán giả trẻ nhưng vẫn giữ được “hơi chèo” thì phải làm thế nào?

Là người đã từng theo dõi thực tế nghệ thuật Chèo truyền thống, tôi nhận thấy rất rõ rằng, cần phải tiếp cận hiện tượng Chèo từ yếu tố nội dung cốt truyện trong kịch bản chèo mới có khả năng đi sâu thấu hiểu, thâm nhập vào ý nghĩa bên trong và các giá trị đích thực của đối tượng nghiên cứu (Chèo) Tìm hiểu các hiện tượng cấu thành Chèo từ nội dung cốt truyện đến hình thức sân khấu của kịch bản Chèo đồng thời chỉ ra được mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của hiện tượng văn hóa Chèo để từ cơ sở đó đi sâu vào những tác nhân kích thích sự phát triển của nghệ thuật Chèo trong xã hội hiện đại Bởi thế, việc nghiên cứu nghệ thuật Chèo thông qua nội dung cốt truyện của kịch bản chèo là một việc làm hết sức cần thiết đến cấp thiết

Việc tìm hiểu đề tài “Dấu ấn truyện cổ tích trong chèo truyền thống” ở một

khía cạnh nào đó giúp lý giải được sự thành công của các tác giả trong mảng đề tài dân gian nói chung và cụ thể là mảng đề tài về cổ tích nói riêng, đồng thời qua đó

để cho thấy các tác giả hiện đại vẫn có thể quay trở về khai thác, tìm cảm hứng từ cội nguồn văn hóa, văn học dân tộc - văn học dân gian khi mà sân khấu Chèo của chúng ta hiện nay đang gặp những khó khăn, khủng hoảng mà trước hết và quan

Trang 10

Thạch Sanh, Của Thiên trả Địa, Tấm Cám, Từ Thức, Tiếng hát Trương Chi, Lọ nước thần, Cây tre trăm đốt (cây tre trăm mắt), Định phúc Táo quân (Sự tích ba ông đầu rau)…để thấy được sự tương đồng và khác biệt giữa cốt truyện truyện cổ

tích và kịch bản Chèo khi chuyển thể

2.2 Về mặt nghiên cứu

2.2.1 Lược điểm lịch sử nghiên cứu Chèo

Suốt mấy chục năm nay, các nhà nghiên cứu, các học giả đã dày công vén bức màn phủ kín rêu phong thời gian để lần tìm về quá khứ của nghệ thuật độc đáo này Nói đến nguồn gốc và thời điểm hình thành nghệ thuật Chèo có nhiều thuyết khác nhau:

- Thuyết thứ nhất cho rằng Chèo có nguồn gốc du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam

- Thuyết thứ hai cho rằng Chèo có nguồn gốc được bắt nguồn từ các hình thức tôn giáo, tế lễ

- Thuyết thứ ba cho rằng Chèo phải bắt nguồn từ lao động Có người dự đoán thời điểm hình thành Chèo sớm nhất cũng phải từ thời Đinh Có người khẳng định Chèo hình thành từ thế kỷ đời Trần

Đến nay, vẫn chưa có quan điểm thống nhất về nguồn gốc và thời điểm hình

thành Tuy vậy, trong cuốn Tú Mỡ (1960), “Bước đầu viết chèo”, Nxb Phổ thông,

Hà Nội; Trần Việt Ngữ - Hoàng Kiều (1964), “Bước đầu tìm hiểu sân khấu chèo”, Nxb Văn hóa Nghệ thuật; Hà Văn Cầu (1977), “Mấy vấn đề trong kịch bản chèo”, Nxb Văn hóa, Hà Nội; Trần Bảng (1993), “Chèo - một hiện tượng sân khấu dân

tộc”, Nxb Sân khấu, Hà Nội và cuốn Trần Bảng (1999), “Khái luận về chèo”, Viện

sân khấu, Trường đại học Sân khấu - Điện ảnh, Hà Nội xuất bản hay các bài viết

“Xung quanh vấn đề nguồn gốc và lịch sử Chèo Việt Nam”, Phan Trọng Thưởng (1998), Tạp chí Văn học, (số 1), tr 66-72 và bài viết “Về một cội nguồn sân khấu

Chèo”, Lê Thanh Hiền (1995), Tạp chí văn hóa nghệ thuật, (số 10), tr 48-50… Các

tác giả đều đã nói về vấn đề nguồn gốc Chèo, việc nghiên cứu lịch sử về Chèo hay các vấn đề về mối quan hệ của Chèo với hiện tại và việc nghiên cứu thi pháp Chèo

Trong cuốn “Tìm hiểu cách viết một vở Chèo”, Trần Việt Ngữ (1984), Nxb Văn hóa, Hà Nội và “Tìm hiểu phương pháp viết Chèo”, Hà Văn Cầu (1964), Nxb

Trang 11

Văn hóa - nghệ thuật, hay bài viết “Về một Kịch bản văn học Chèo cổ cần viết lại

một số tích cũ”, Lộng Chương (1963), Tạp chí văn học, (số 2), tr 42-54; “Mấy vấn

đề trong kịch bản chèo”, Hà Văn Cầu (1997), Nxb Văn hóa, Hà Nội Các tác giả

cũng đã nêu ra hiện tượng các nhà viết kịch hiện đại Việt Nam vay mượn, sử dụng chất liệu truyện cổ tích dân gian trong các sáng tác Chèo của mình Người sáng tác, nhà viết kịch một mặt bảo tồn và trung thành với cốt truyện dân gian, mặt khác chỉ

sử dụng những kiểu dạng của truyện cổ tích dân gian, truyện kể truyền miệng nhưng lại được thể hiện theo nội dung mới

Chèo là loại hình nghệ thuật có từ xa xưa trong văn hóa Việt Nam và cũng là loại hình sân khấu truyền thống mang đặc điểm diễn kể dân gian, được cấu tạo bằng hai nhân tố cơ bản: tích và trò Tích là cốt truyện kể bằng văn học, còn trò là nghệ thuật diễn đạt cốt truyện đó trên sân khấu Nội dung của các vở Chèo lấy từ những truyện cổ tích, truyện Nôm; được nâng lên ở mức cao bằng nghệ thuật sân khấu

mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc Việc tìm hiểu đề tài “Dấu ấn của truyện

cổ tích trong chèo truyền thống” cho chúng ta hiểu về một góc của nền văn hóa dân

tộc đồng thời tìm hướng đi để gìn giữ, bảo tồn và phát triển nghệ thuật sân khấu Chèo truyền thống trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước ta hiện nay trong xu hướng toàn cầu hóa của nhân loại

2.2.2 Các công trình nghiên cứu về dấu ấn và ảnh hưởng của truyện cổ tích đối với chèo truyền thống

Việc nghiên cứu, tìm hiểu “Dấu ấn của truyện cổ tích trong Chèo truyền

thống” tuy chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống và

toàn diện về vấn đề này, nhưng trong hầu hết các công trình nghiên cứu của các giáo sư, các nhà nghiên cứu hàng đầu của làng Chèo như: GS Trần Bảng, PGS Hà Văn Cầu, Hoàng Kiều, TS Trần Đình Ngôn, PGS Trần Trí Trắc, Trần Việt Ngữ, Lộng Chương, Nguyễn Thị Nhung, Trần Huyền Trân, đều đã khẳng định tầm quan trọng của vấn đề kịch bản Chèo

Việc nghiên cứu “Dấu ấn của truyện cổ tích trong chèo truyền thống” từ góc

độ thi pháp cũng đem lại nhiều thành tựu Đặc biệt trong công trình nghiên cứu của

TS Trần Đình Ngôn (1996), “Yếu tố dân gian và yếu tố bác học trong kịch bản

chèo” đã cho chúng ta thấy sân khấu chèo thuở sơ khai hoàn toàn là sân khấu dân

Trang 12

gian được sáng tác ngẫu hứng, tập thể và truyền miệng theo phương thức sáng tác dân gian Yếu tố dân gian, yếu tố cổ tích được hình thành cùng với sự hình thành của kịch bản chèo và chiếm vị trí độc tôn làm nên kịch bản chèo “Trong thuở ban đầu này, sân khấu Chèo mà phần cốt lõi là kịch bản đã được cấu thành bởi một yếu

tố dân gian và chỉ một mà thôi”

Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu lý luận có giá trị về Chèo cũng đã

có phần nào tạo lên cái nhìn tổng quan, có hệ thống để thấy được sự vận động của

nghệ thuật Chèo truyền thống như: Trần Đình Ngôn (1997), “Yếu tố dân gian trong

Kịch bản Chèo”, Tạp chí văn hóa dân gian, H, (số 2), tr 50-55; Nguyễn Cát Điền

(1996), “Vai trò của văn học dân gian với sân khấu truyền thống”, luận án tiến sĩ Ngữ văn, 127 tr; Nguyễn Thị Thu Huyền (2010),“Văn học dân gian trong kịch bản

chèo của Trần Đình Ngôn”, Khóa luận tốt nghiệp, 85 tr Đáng kể nhất là các công

trình: “Chèo một hiện tượng sân khấu dân tộc” của GS Trần Bảng “Dù là một tác

phẩm nghiên cứu mang tính khái luận về Chèo về các vấn đề lý luận cơ bản của nghệ thuật Chèo, nhưng khi đề cập đến vấn đề Chèo tiếng nói tâm hồn dân tộc ông cũng khẳng định: Có thể nói rằng, thuộc về một loại sân khấu tổng thể (theatre total) nghệ thuật Chèo đã hội tụ ở nơi mình tinh hoa của cả nền văn hóa gốc gác lâu đời của lưu vực sông Hồng Xuất phát từ một nghệ thuật dân gian, Chèo đã nhanh chóng phát triển và phổ biến rộng rãi để trở thành một sân khấu dân tộc mang màu sắc đa dạng của từng chiếng Chèo khác nhau: Chèo Đông, Chèo Đoài, Chèo Kinh Bắc, Chèo Sơn Nam ” [1, tr 6]

Trong cuốn giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam” do GS Đinh Gia

Khánh, Chu Xuân Diên và Võ Quang Nhơn viết thì GS Đinh Gia Khánh cũng đã

nói rằng: “Việc sáng tác một vở Chèo thường tiến hành như sau Dựa vào một sự

tích nào đó (cổ tích, thần thoại, truyện lịch sử, truyện Nôm) người thưởng trò bàn bạc với các diễn viên để sắp xếp lớp lang của vở Chèo, dựng lên cái cốt của vở”

[36, tr 503]

Điểm qua lịch sử nghiên cứu về dấu ấn và ảnh hưởng của truyện cổ tích đối

với Chèo truyền thống, tôi nhận thấy “Dấu ấn của truyện cổ tích trong Chèo truyền

thống” tuy đã được nghiên cứu trong một số công trình về Yếu tố dân gian trong

kịch bản Chèo dưới góc độ văn hóa học hoặc dưới góc độ văn học Nhưng, hiện

Trang 13

chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, quy mô cũng như chưa có nhà nghiên cứu nào khảo sát một cách chi tiết, hệ thống Tuy vậy, tôi xem những thành quả nghiên cứu của những người đi trước là những ý kiến gợi mở, nguồn tham khảo

có giá trị để tôi thực hiện đề tài “Dấu ấn của truyện cổ tích trong chèo truyền

thống”

3 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài luận văn này, tôi mong muốn có thể tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu, phân tích xem truyện cổ tích nói riêng và văn học dân gian nói chung có vai trò, ảnh hưởng như thế nào trong quá trình chuyển thể sang các kịch bản Chèo truyền thống

Đề tài của tôi góp phần vào việc nghiên cứu tìm hiểu cái hay, cái đẹp trong nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống, từ đó tìm ra hướng đi để gìn giữ, bảo tồn và phát triển nghệ thuật sân khấu Chèo truyền thống Mặt khác, nó cũng mong góp phần giải quyết những bế tắc về phương hướng nghệ thuật trong quá trình sáng tạo

vở diễn mới ở các đoàn Chèo và góp phần vào việc tìm hiểu thêm một vấn đề cơ bản của sân khấu Chèo, vừa có ý nghĩa thực tiễn, cập nhật, phục vụ cho công cuộc chấn hưng nền sân khấu dân tộc

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài “Dấu ấn của truyện cổ tích trong chèo truyền thống” chỉ tập trung vào

nghiên cứu những kịch bản Chèo có nội dung truyền thống, được khai thác từ nguồn truyện cổ tích dân gian cho nên đối tượng nghiên cứu chủ yếu trong luận văn những tác phẩm Chèo có nội dung truyền thống và mang đậm dấu ấn cổ tích Dấu

ấn cổ tích (trong kịch bản chèo) là bộ phận tham gia cấu thành kịch bản chèo bao gồm các cốt truyện, sự kiện, tình tiết, nhân vật, tính cách nhân vật, ngôn ngữ đối thoại, ca từ được nhận thức, đánh giá, chọn lựa theo tư duy cổ tích dân gian chất phát, hồn nhiên, và luôn có xu hướng huyền thoại hóa hay kỳ ảo, lạ hóa

Trong phạm vi đề tài này, người viết tập trung tìm hiểu, nghiên cứu những

kịch bản Chèo khai thác từ truyện cổ tích chính như: Nàng chúa ong, Bài thơ treo

dải yếm đào, quả cau vàng, Tiếng hát Trương Chi… và đặc biệt là 4 vở chèo Tấm Cám, Thạch Sanh, Từ Thức và Lọ nước thần Chúng tôi chỉ khảo sát và khai thác ở

khía cạnh kịch bản văn học, cụ thể là khảo sát cốt truyện và ngôn ngữ trong các kịch

Trang 14

bản viết về đề tài truyện cổ tích chứ không chú ý đến việc mở rộng phạm vi ra sân khấu Chèo một loại hình tổng hợp mà ngoài văn học còn có các yếu tố thành phần khác như âm nhạc, mỹ thuật, múa và đặc biệt là nghệ thuật biểu diễn

* Các nguồn tư liệu chính

-Từ phim ảnh tư liệu (Nhà hát Chèo)

Cuối cùng cần phải kể đến là các tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam đã được sưu tập và sưu tầm bởi các cá nhân và tập thể đã được xuất bản từ trước đến nay ở

Việt Nam, đặc biệt là cuốn “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” (5 tập) do Nguyễn

Đổng Chi sưu tầm, biên soạn, khảo dị, nghiên cứu về 200 cốt truyện của người

Kinh, cuốn “Tuyển tập chèo cổ” do Hà Văn Cầu sưu tầm, chú thích và cuốn “Kịch

bản văn học” của Trần Đình Ngôn Đây là nguồn tài liệu cung cấp cho chúng tôi

các văn bản truyện cổ tích Việt Nam và các kịch bản chèo truyền thống để chúng tôi dùng làm tài liệu tham khảo và dẫn chứng cho nghiên cứu ứng dụng của chính mình

về đề tài luận văn “Dấu ấn của truyện cổ tích trong chèo truyền thống”

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn lựa chọn phương pháp phân tích - tổng hợp văn bản, phương pháp thống kê, phân loại, hệ thống hóa và phương pháp so sánh, đối chiếu làm phương pháp nghiên cứu chủ yếu Ngoài ra, trong quá trình triển khai thực hiện, luận văn kết hợp cả phương pháp nghiên cứu tiếp cận liên ngành (triết học, mỹ học, lịch sử, dân tộc học, xã hội học ) Luận văn cũng sử dụng phương pháp thực địa quan sát thực tế với những thao tác điền dã tại những địa điểm gắn với nghệ thuật Chèo

6 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa những tri thức cần thiết về dấu ấn của truyện cổ tích trong kịch bản chèo truyền thống, góp phần nào đó lý giải được sức sống của những tác phẩm Chèo có nội dung khai thác từ nguồn truyện cổ tích dân gian

Trang 15

- Phát hiện và khẳng định sự cần thiết phải có yếu tố cổ tích trong kịch bản Chèo để đảm bảo giữ được chất Chèo cho Chèo hiện đại Trong điều kiện sân khấu Chèo đang gặp những khó khăn, khủng hoảng (mà trước hết là vấn đề kịch bản) thì

đề tài luận văn này gợi mở ra một hướng đi khả dĩ cho các tác giả hiện đại đó là tìm

về với các giá trị truyền thống, kết hợp giữa truyền thống với hiện đại

Với việc đi sâu tìm hiểu những vấn đề cơ bản của Chèo và góp phần khẳng định phương hướng nghệ thuật của sân khấu Chèo hiện nay chúng tôi hy vọng những người làm Chèo thật sự vì nghệ thuật chèo mà trở lại với phương pháp sáng tác truyền thống từ khâu kịch bản, trong đó đặc biệt quan tâm đến yếu tố cổ tích

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về đề tài

Chương 2: Sự chuyển thể từ cốt truyện truyện cổ tích sang kịch bản chèo

truyền thống

Chương 3: Sự chuyển thể về đặc trưng nghệ thuật truyện cổ tích sang kịch

bản chèo truyền thống (dấu ấn về đặc trưng nghệ thuật)

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

1.1 Truyện cổ tích

1.1.1 Khái niệm truyện cổ tích

Truyện cổ tích là một thể loại thuộc loại hình tự sự dân gian, có quá trình phát sinh, phát triển lâu dài, bắt đầu từ cái “ngày xửa ngày xưa” và liên tục được tái tạo trong các thời đại sau Khái quát hiện thực xã hội, truyện cổ tích trình bày con người với tư cách “tổng hòa những quan hệ xã hội”, kể về số phận của các kiểu nhân vật, người mồ côi, người lao động giỏi, dũng sĩ thông minh… qua đó thể hiện

lý tưởng ước mơ của nhân dân Khác với truyền thuyết hướng các vấn đề có tính chất lịch sử thì cổ tích lại hướng vào đời thường phản ánh một cách trung thực với hình tượng nhân vật tích cực tiêu biểu cho đạo đức, trí khôn và sức mạnh tinh thần của nhân dân, với cốt truyện xây dựng trên những hành động có tính chất phiêu lưu của các nhân vật trung tâm Truyện cổ tích chứa đựng kinh nghiệm sống, ước mơ, niềm tin của nhân dân về công lý, công bằng dân chủ, cái thiện thắng cái ác và khát vọng tự do hạnh phúc

Truyện cổ tích có thể có yếu tố hoang đường, kỳ diệu hoặc không Truyện cổ tích trình bày với một phong cách thường kết hợp hiện thực với lãng mạn Một câu chuyện kết thúc đẹp đẽ, không giống với hiện thực được xem như là “truyện cổ tích”, Puskin đã nói “Truyện cổ tích là bịa đặt nhưng trong mỗi câu chuyện bịa đặt

đó có những bài học cho các cô cậu bé” Thế giới cổ tích là một sáng tạo độc đáo của trí tưởng tượng dân gian Ta đều biết là “trong mỗi truyện cổ tích, đều có những yếu tố của thực tế Nhưng những yếu tố của thực tế ấy đã được trí tưởng tượng dân gian cải biến thành một thứ vật liệu, đem nhào nặn trong một chất “phụ gia” đặc biệt gọi là hư cấu để xây dựng lên một thế giới khác với thế giới thực tại mà ta gọi bằng “thế giới truyện cổ tích”

Như vậy có thể hiểu một cách khái quát: “Truyện cổ tích là sáng tác dân gian thuộc loại hình tự sự, chủ yếu sử dụng yếu tố nghệ thuật kỳ ảo để thể hiện cái nhìn hiện thực của nhân dân với đời sống, bộc lộ quan niệm về đạo đức cũng như về công lý xã hội và ước mơ một cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân lao động” [77, tr 116]

Trang 17

1.1.2 Phân loại và đặc trưng của truyện cổ tích dân gian

1.1.2.1 Phân loại truyện cổ tích dân gian

Ở nước ta, từ trước đến nay có nhiều cách phân loại truyện cổ tích, Nguyễn Văn Ngọc chia truyện cổ tích làm hai loại chính: truyện cổ tích lịch sử và truyện cổ tích thế sự Nguyễn Đổng Chi trong phần nghiên cứu về truyện cổ tích đã đưa ra cách phân loại truyện cổ tích bao gồm: Truyện cổ tích thế sự, truyện cổ tích hoang đường và truyện cổ tích lịch sử Hiện nay, cách phân loại truyện cổ tích phổ biến nhất là phân chia ra làm ba tiểu loại: Truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt

và truyện cổ tích loài vật Cách phân loại này đã có từ năm 1865 ở Nga do Ô Mi Lơ

đề xuất đã được hầu hết các nước áp dụng Đây cũng là cách phân loại hợp lý

1.1.2.2 Đặc trưng của truyện cổ tích dân gian

Truyện cổ tích ra đời trong xã hội có phân chia giai cấp nên chức năng cơ bản của nó là phản ánh, quan tâm đến những cảnh đời Nó gợi lên trong lòng người đọc, người nghe những tình cảm yêu ghét mãnh liệt, đồng cảm với những số phận nghèo khổ, căm thù bọn bóc lột Hơn tất cả các thể loại khác của văn học dân gian, một xã hội công bằng, dân chủ và đạo đức Từ chức năng thể loại đó dẫn đến những đặc trưng cơ bản sau của truyện cổ tích:

- Truyện cổ tích xây dựng một thế giới hư cấu, kỳ ảo

- Truyện cổ tích là những truyện cổ đã hoàn tất

- Truyện cổ tích mang tính giáo huấn cao, mỗi câu chuyện là một bài học về đạo đức, ửng xử về lẽ công bằng, thưởng phạt công minh

 Truyện cổ tích là truyện hư cấu, kỳ ảo

Truyện cổ tích khác biệt cơ bản với các loại truyện khác ở phương diện người kể chuyện kể lại nó và người nghe thì tiếp nhận trước hết như một sự hư cấu thẩm mỹ, một trò chơi của trí tưởng tượng (trong hư cấu, tác giả có thể sử dụng các biện pháp cường điệu, khoa trương, thậm chí tưởng tượng, nhân cách hóa Trong giai đoạn đầu của nghệ thuật ngôn từ, hư cấu bộc lộ rõ rệt như một thế giới tưởng không gì kiềm chế nhưng nó lại chưa được ý thức ghi nhận và chỉ đến khi có sự ra đời của truyện cổ tích, hư cấu có ý thức mới thực sự xuất hiện

Truyện cổ tích là truyện hư cấu có chủ tâm và mang tính nghệ thuật “Một trong những đặc điểm của truyện cổ tích là những truyện không thể và không bao

Trang 18

giờ có thể xảy ra được, lại được kể bằng một phong cách, một giọng kể, điệu bộ, nét mặt làm như tất cả những điều được kể lại mặc dù có tính chất khác thường, lại dường như có thể xảy ra thật trong thực tế, tuy rằng cả người kể lẫn người nghe đều không tin vào câu chuyện” [77, tr 133] Trong truyện cổ tích Nga, kết thúc truyện thường có câu: Truyện thế là hết, không thể nói dóc hơn được nữa Trong ngôn ngữ hiện đại, từ “Truyện cổ tích”, đồng nghĩa với từ “chuyện bịa đặt” Truyện không thật, truyện bịa đặt, truyện nói dóc nhưng vì sao truyện cổ tích lại làm say mê trái tim người nghe bao thế hệ của mọi dân tộc, chỉ riêng điều đó cũng đủ nói lên sự tồn tại rất đỗi diệu kỳ của nó Yếu tố hư cấu, kỳ ảo trong truyện cổ tích là yếu tố có vai trò biến thực tế cuộc sống thành thế giới cổ tích Mặt khác nó có vai trò giải quyết các xung đột của truyện Yếu tố kỳ diệu trong truyện cổ tích xét cho kỹ không phải chủ yếu là sản phẩm của đầu óc mê tín mà là phương tiện cần thiết để cho tác giả dân gian có thể đưa sự phát triển tình tiết theo ý muốn của mình Thế giới truyện cổ tích hấp dẫn cũng chính ở sự sáng tạo kỳ ảo đó Những nhân vật Tiên, Phật, Bụt…

là nơi nhân dân lao động gửi gắm ước mơ, khát vọng về sự công bằng, đổi đời Qua truyện cổ tích, thế giới ước mơ đó chiếu rọi ánh sáng kỳ ảo, chói ngời hạnh phúc vào cuộc đời tối tăm, bất hạnh của con người, khiến họ yêu đời và sống mạnh mẽ hơn Gorki đã từng nói về cảm nhận của ông với truyện cổ tích như sau: “Trong truyện cổ tích, người ta bay trên không trung, ngồi lên tấm thảm biết bay, đi hài bảy dặm, phục sinh những người đã chết… nói chung truyện cổ tích đã mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ để trông vào cuộc sống khác - trong đó lực lượng tự do không biết sợ nào đó đang tồn tại và hoạt động, mơ tưởng đến cuộc đổi đời tốt đẹp hơn” [6, tr 201]

 Truyện cổ tích là những truyện kể đã hoàn tất

Kết cấu truyện cổ tích chặt chẽ, mạch lạc, theo thời gian tuyến tính, kết thúc truyện cổ tích thường có hậu Vì thế người ta có thể thay đổi về lời kể, thay đổi lời

mở đầu, lời miêu tả trong truyện nhưng cốt truyện của truyện kể vẫn phải được bảo lưu Truyện cổ tích ít nhiều phải thể hiện tính tư tưởng và tính nghệ thuật, để thực hiện điều đó, theo tư duy nghệ thuật của tác giả dân gian, truyện cổ tích luôn có hậu, luôn có thế lực thần kỳ xuất hiện để trợ giúp cho con người Trong xã hội cổ tích, người hiền gặp lành, kẻ ác bị trừng trị Vì vậy Thần, Phật, Tiên trong truyện cổ tích xuất hiện để ủng hộ cái thiện, ủng hộ lẽ phải, tiếp sức cho những kẻ chính nghĩa mà

Trang 19

không có thực lực Cũng chính vì thế những môtip tái sinh, môtip hóa thân… được xem là những môtip quen thuộc, bình thường trong truyện cổ tích

 Truyện cổ tích mang tính giáo huấn cao, mỗi câu chuyện là một bài học về đạo đức, ửng xử về lẽ công bằng, thưởng phạt công minh

Phần lớn truyện cổ tích nêu lên những bài học thực tiễn về cuộc sống trong

xã hội Tác giả dân gian tin ở phẩm chất cao quý của nhân dân, đề cao những mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người Truyện cổ tích thường miêu tả bọn địa chủ, phú ông như những kẻ gian ác nhưng lại ngu dốt, giàu có nhưng lại keo kiệt, hống hách nhưng lại hèn nhát, còn nông dân thì chất phát mà thông minh, nghèo nàn mà niêm khiết, hiền lành mà dũng cảm Mặt khác, truyện cổ tích còn nêu rõ quan điểm của nhân dân về công lí xã hội ví dụ như: trong hầu hết các truyện cổ tích, kẻ có tội

ác nhất định không tránh khỏi hình phạt thích đáng, bất kể y thuộc vào tầng lớp nào Nhưng trong xã hội cũ, đa số những kẻ gian ác thường thuộc các tầng lớp bóc lột, cho nên văn học dân gian thường giải quyết vấn đề công lí trong vấn đề đấu tranh giai cấp Hơn thế, truyện cổ tích còn vạch rõ những tội ác của giai cấp thống trị và

đề cao những nhân vật thuộc nhân dân lao động chống lại chúng, truyện cổ tích thường miêu tả cuộc đấu tranh giai cấp như là cuộc đấu tranh giữa thiện và ác Cái

ác lúc đầu bao giờ cũng mạnh hơn, cái thiện bao giờ cũng yếu hơn Nhưng trong quá trình biến diễn của truyện, cái ác suy yếu dần, cái thiện lớn mạnh dần và sau cùng đã chiến thắng cái ác Thiện phải chiến thắng và được khen thưởng, ác phải thất bại và chịu hình phạt Đó là kết cục của mỗi truyện cổ tích

1.1.3 Vài nét thi pháp của truyện cổ tích dân gian

Trong chương này, người viết chỉ xin trình bày một vài thi pháp cơ bản của truyện cổ tích như: môtip truyện cổ tích; thời gian và không gian nghệ thuật truyện

cổ tích Còn các yếu tố khác về thi pháp của truyện cổ tích như: (cốt truyện, ngôn ngữ, nhân vật, kết cấu, phương pháp tự sự - kể chuyện) người viết xin trình bày ở chương 2 và chương 3 của luận văn

1.1.3.1 Môtip truyện cổ tích

*Lý thuyết về môtip

Theo Từ điển Văn học thì thuật ngữ môtip là phiên âm từ tiếng Pháp, được bắt nguồn từ tiếng Latinh moveo có nghĩa là chuyển động Còn từ Hán Việt là mẫu

Trang 20

đề (do người Trung Quốc phiên âm chữ môtip trong tiếng Pháp) Về mặt nguồn gốc, thuật ngữ môtip gắn với văn hóa âm nhạc, lần đầu tiên được ghi trong Từ điển

âm nhạc (1703) của Brôxa (S.Brossard, 1655 - 1730), được Gớt đưa vào văn học (Về thi ca tự sự và thi ca kịch nghệ, 1797) Với tư cách một phạm trù của nghiên cứu văn học, nó được nghiên cứu từ đầu thế kỷ XX, nhất là trong các công trình của Vêxêlôpxki (1838 - 1906) và Prôp (1895 - 1970) - những học giả đã khảo sát môtip như yếu tố không thể phân chia nhỏ hơn của văn bản, ngôn bản; đó là những sự vật, hình ảnh, là đơn vị nhỏ nhất của cốt truyện dân gian

Bên cạnh đó, khái niệm môtip được Stith Thompson phát biểu như sau:

“Môtip truyện kể là khái niệm rất đơn giản, một môtip có thể đã là một mẩu kể ngắn

và đơn giản, một sự việc đầy đủ gây ấn tượng hoặc làm vui thích cho người nghe Môtip là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, là những thành tố để tạo nên cốt truyện Nó có kết cấu hoàn chỉnh và rất linh động, bởi trong truyện kể nó có thể tách rời ra hoặc lắp ghép lại được Khi nói đến môtip thì phải hiểu nó là một yếu tố khác thường, một yếu tố tạo nghĩa, một yếu tố gây ấn tượng Vì vậy, việc tìm hiểu môtip cũng chính là khám phá những tầng lớp văn hóa mang bản sắc của các tộc người khác nhau

Còn theo Nguyễn Tấn Đắc trong Nghiên cứu truyện dân gian Đông Nam Á

(bằng môtip và type) trích “Đề cương bài giảng Sau đại học 1998” thì “môtip có thể

là sản phẩm của trí tưởng tượng non trẻ, thơ ngây của loài người ở trước thời kỳ của

tư duy khoa học” Ví dụ như nồi cơm ăn không bao giờ hết, viên 34 ngọc ước, con người có thể nghe được tiếng nói của loài vật… “Hoặc môtip cũng có thể là sản phẩm của sự quan sát cuộc sống xã hội có thực nhưng nó phải bất thường, quá đáng” Chẳng hạn như người cha nghe lời mẹ ghẻ mang bỏ con mình, anh em ruột, chị em ruột hại nhau, sự bội ước và tráo trở của những kẻ có quyền thế… “Môtip cũng có thể là sản phẩm của sự ước mơ dân gian” như: người xấu xí, khổ sở trở nên xinh đẹp, giàu có, cô gái mô côi lấy được hoàng tử, đức vua… “Môtip cũng có thể

là sản phẩm của trí thông minh, sự khôn ngoan bất ngờ, thú vị của trí tuệ dân gian như trong các truyện ngụ ngôn, truyện cười”

Trang 21

*Các môtip truyện cổ tích

Có rất nhiều loại môtip:

- Môtip thách đố (truyện Sọ dừa, Lấy chồng dê, lấy vợ dê…)

- Môtip thách cưới (truyện Cây tre trăm đốt, Lấy chồng dê, Quân tử, Chàng

cóc lấy vợ tiên…)

- Môtip ở hiền gặp lành, ác giả ác báo (truyện Tấm Cám, Thạch Sanh, Cây khế…)

- Môtip trả ơn, trừng phạt (truyện Tấm Cám, Lọ nước thần, Sọ dừa…)

- Môtip chiếc giầy nhân duyên (truyện Tấm Cám)

1.1.3.2 Thời gian nghệ thuật của truyện cổ tích

Thời gian nghệ thuật truyện cổ tích là lớp thời gian quá khứ Sự thể hiện rõ nhất là cụm từ mở đầu truyện: “Ngày xưa,…” hay “Ngày xửa, ngày xưa,…” Quá khứ trong truyện cổ tích là quá khứ “phiếm chỉ”

Không chỉ có quá khứ “phiếm chỉ” mà thời gian trong truyện cổ tích còn là thời gian “mặc định” Nhân vật trong truyện cổ tích bao giờ cũng hành động trong hiện tại mặc dù mọi hành động của nhân vật, mọi diễn biến của sự kiện, tình tiết vận động, gói gọn trong thời gian quá khứ “ngày xửa, ngày xưa” ấy Thời gian của cổ tích là quá khứ nhưng hành động của nhân vật được kể luôn là hiện tại - một thứ hiện tại trong quá khứ Đó là thứ thời gian kéo dài và liên tục Khi nào sự kiện kết thúc thì thời gian mới dừng lại, chấm dứt Do vậy, thời gian của truyện cổ tích là thời gian “mặc định”

Nhân vật của truyện cổ tích khi đứng trước những biến cố có những hành động cụ thể, không quay lại để hồi tưởng, băn khoăn, không ưu tư, suy nghĩ… không có biểu hiện của tâm trạng

1.1.3.3 Không gian nghệ thuật của truyện cổ tích

Nếu thời gian nghệ thuật truyện cổ tích là thời gian “Phiếm chỉ” thì không gian nghệ thuật truyện cổ tích là không gian định lượng, không xác định, mơ hồ và phiếm chỉ Điều này dễ nhận thấy trong những yếu tố biểu thị không gian ở phần

mở đầu truyện đó là: … “tại một làng nọ”, … “vùng đất kia”, … “nhà kia”, …

Trang 22

Những yếu tố chỉ không gian này được nhắc đến như một khái niệm, một ý niệm về không gian chứ không được miêu tả một cách cụ thể Ngoài ra, công việc, hành động của nhân vật gợi cho chúng ta thấy được không gian của truyện cổ tích là không gian của làng quê nhưng cũng không được mô tả cụ thể Không gian này làm cho truyện cổ tích gần gũi, thân thuộc của người nghe, làm cho người nghe dễ đồng cảm với nhân vật bất hạnh trong câu chuyện

Truyện cổ tích còn có một lớp không gian nữa đó là lớp không gian thần kỳ,

kỳ ảo - không gian không cản trở Không gian này dung chứa các yếu tố thần kỳ của truyện cổ tích Không gian thần kỳ mang yếu tố hư ảo, xa lạ đối với con người

Nhân vật trong truyện cổ tích nhất là cổ tích thần kỳ, con người gần như không già đi, không ốm đau, không thất bại trước một thế lực phản diện nào, thậm chí họ còn có thể biến hóa vào thế giới của muôn loài

Trong truyện cổ tích hai lớp không gian hiện thực và không gian thần kỳ đan xen lẫn nhau Nhân vật cổ tích đi về giữa hai lớp không gian ấy, giữa hai cõi mơ và thực Chuyện của cổ tích luôn chuyển hóa linh hoạt giữa mơ và thực, thực và mơ

Từ những yếu tố không gian nghệ thuật của truyện cổ tích đã nêu, ta có thể khẳng định: không gian nghệ thuật cổ tích không có không gian tâm lý

1.2 Chèo truyền thống

1.2.1 Một số khái niệm

 Chèo cổ: là Chèo do các nghệ sĩ Chèo sáng tác và biểu diễn từ thế kỷ XIX

trở về trước, với nội hàm khái niệm như vậy, các vở Chèo được sáng tác và biểu diễn nửa đầu thế kỷ XX được xem là chèo thời kỳ cận đại và thuộc nửa sau thế kỷ

XX thì được xem là Chèo thời kỳ hiện đại

 Chèo truyền thống: là Chèo cổ được kế thừa và phát triển trên nguyên tắc bảo tồn những nguyên tắc cơ bản trong phương pháp nghệ thuật của Chèo cổ Các vở diễn Chèo truyền thống trước hết là các vở diễn theo các tích Chèo cổ được

tiếp nhận từ việc truyền nghề của các nghệ nhân, được chỉnh lý nâng cao qua diễn

xuất của các nghệ sỹ đương đại Các vở diễn Lưu Bình Dương Lễ, Quan Âm Thị

Kính, Trương Viên… mà người hôm nay được xem chỉ có thể gọi là Chèo truyền

thống, chứ không thể gọi là Chèo cổ được (chúng khác với tranh cổ, đồ cổ có niên

đại rõ ràng và chỉ có thể bị hư hại chứ không ai thêm bớt được)

Trang 23

Với nội hàm khái niệm trên, nghiên cứu “Dấu ấn của truyện cổ tích trong

chèo truyền thống” cũng chính là nghiên cứu các dấu ấn cổ tích trong Chèo cổ và

nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản trong phương pháp nghệ thuật của Chèo truyền thống cũng chính là nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản trong phương pháp nghệ thuật của Chèo cổ

 Chèo hiện đại:

+ Hiểu theo nghĩa hẹp: Chèo hiện đại là chèo đề tài hiện đại, phản ánh cuộc sống đương thời, nói về con người đương thời và phục vụ khán giả đương thời

+ Hiểu theo nghĩa rộng: Chèo hiện đại là Chèo do các nhà văn, nghệ sĩ ngày nay sáng tạo ra, nhằm phục vụ cho đời sống văn hóa của người đương thời Theo cách hiểu thứ hai thì phạm vi đề tài không bị hạn chế ở cuộc sống đương thời Nó bao gồm cả đề tài khai thác từ kho tàng truyện dân gian, dã sử, huyền thoại, lịch sử

và kể cả những truyện dân gian mới do các nhà soạn chèo tự sáng tác theo các môtip của truyện dân gian và đề tài hiện đại

Trong luận văn này, chúng tôi đồng ý với ý kiến và quan điểm của GS Trần Bảng và TS Trần Đình Ngôn về cách dùng danh xưng Chèo truyền thống Chính vì thế chúng tôi lại tiếp tục sử dụng nội hàm khái niệm về Chèo truyền thống của 2 tác

giả trên trong bài viết của mình Theo TS Trần Đình Ngôn trong cuốn Những

nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật Chèo đã nói: “Chèo bao gồm cả các tác phẩm

(vở diễn) từ xa xưa cho đến ngày nay mà trong đó các vở diễn Chèo mới (từ năm

1950 đến nay) còn khá nhiều vấn đề về phương pháp nghệ thuật, nhiều vở diễn không còn tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của hình thức sân khấu được gọi là Chèo của ông cha xưa Chúng tôi cũng không xác định đối tượng nghiên cứu công trình này là Chèo cổ bởi vì thực ra trong di sản còn để lại không có vở diễn Chèo cổ Kịch bản Chèo cổ thì có Đó là những kịch bản Chèo do các nghệ sĩ Chèo xưa sáng tác được lưu truyền còn nguyên dấu tích lịch sử của nó Các kịch bản Chèo cổ đã được sưu tầm và xuất bản sau khi các học giả sân khấu Chèo đã hiệu đính, lược bỏ những câu chữ mà các nghệ sĩ Chèo đầu thế kỷ XX đã thêm thắt vào theo cách nói, lời nói không phải của người xưa Chúng tôi cho rằng không có vở diễn Chèo cổ, hay nói một cách chính xác hơn là chúng ta không tiếp cận được các vở diễn Chèo

cổ bởi một lẽ rất đơn giản, đó là vì chúng ta là người thời nay còn các vở diễn Chèo

Trang 24

cổ đã hiện diện và chỉ hiện diện trong đời sống sân khấu thời xưa Lịch sử Chèo chỉ

để lại được kịch bản cổ, hay nói như cách của nghề Chèo là tích diễn cổ, chứ không thể để lại trò diễn cổ, vở diễn cổ, bởi lẽ các tích diễn cổ chỉ được tái diễn theo dòng thời gian qua sự tiếp nhận vốn cổ và đóng góp thêm phần sáng tạo của các nghệ sĩ biểu diễn hết thế hệ này đến thế hệ khác Các vở diễn theo tích cổ chỉ là những vở diễn “phục chế” Chèo cổ và “phục chế” không nguyên vẹn mà thôi Chính vì vậy, nếu xác định đối tượng nghiên cứu là sân khấu Chèo với các tác phẩm của nó là các

vở diễn và phải là các vở diễn (chứ không thể chỉ là kịch bản) thì chúng ta chỉ có thể tiếp cận với các vở diễn Chèo cổ được “phục chế không nguyên vẹn” và đã có phần “đánh bóng mạ kền” của các nghệ sĩ đương đại” [48, tr 86-87]

1.2.2 Một số đặc trưng cơ bản của nghệ thuật Chèo truyền thống

Chèo là hình thức sân khấu dân gian có lịch sử lâu đời, là “hình thức ca kịch dân gian cổ truyền thuần Việt phổ biến nhất ở đồng bằng Bắc Bộ” [34, tr 12] Chèo được coi là loại hình sân khấu độc đáo vào bậc nhất của sân khấu truyền thống, kết tinh những tinh hoa của dòng kịch hát dân tộc, chú trọng đến cả lời thơ, giọng ca và

vũ đạo Sự hình thành và phát triển của Chèo là cả một quá trình Cùng với những thăng trầm của lịch sử, những bể dâu của cuộc đời, nghệ thuật Chèo vẫn tồn tại và có tác động to lớn trong đời sống tinh thần của dân tộc, là một công cụ hữu ích để “nhận thức, khám phá và sáng tạo thực tại xã hội” (Phạm Văn Đồng), tất nhiên theo kiểu của Chèo, góp phần khẳng định bản lĩnh của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam

Đặc trưng của hiện tượng sân khấu dân tộc này đã được trình bày tương đối toàn diện và hệ thống trong nhiều công trình liên quan đến Chèo Chính vì vậy, khi

đề cập đến ngành nghệ thuật mang đậm chất dân gian này, mục đích của chúng tôi chỉ là trình bày những nét cơ bản nhất, những điểm cốt tử của sân khấu Chèo dựa trên sự tổng hợp, phân tích của các nhà nghiên cứu về nghệ thuật Chèo Các nhà nghiên cứu tâm huyết với sân khấu truyền thống của cha ông đã có nhiều kiến giải thú vị và sâu sắc về nghệ thuật Chèo Những khác biệt trong quan điểm của họ không phải là không có, nhưng về cơ bản, các nhà nghiên cứu đã thống nhất với nhau trên nhiều phương diện khi bàn về sân khấu Chèo với những đặc trưng của nó Dưới đây chúng tôi sẽ tổng thuật ý kiến của một số nhà nghiên cứu về vấn đề này

Trang 25

Trong “Cách viết một vở chèo và Về nghệ thuật chèo”, nhà nghiên cứu Trần

Việt Ngữ đã trình bày sáu đặc điểm cơ bản của sân khấu Chèo, đó là:

- Chèo thuộc loại sân khấu khuyến giáo đạo đức

- Chèo thuộc loại sân khấu kể chuyện

- Chèo thuộc loại sân khấu ước lệ và cách điệu

- Tính tổng hợp nghệ thuật của Chèo mang sắc thái độc đáo

- Sự kết hợp giữa cái bi và cái hài trở thành nguyên tắc kịch thuật của Chèo

- Đặc điểm đa dùng và chuyên dùng đã bộc lộ khá rõ quy luật phát triển của Chèo

Gs Trần Bảng trong giáo trình “Khái luận về chèo”đã trình bày khá tỉ mỉ về hiện tượng sân khấu dân tộc này Ông cho rằng sân khấu Chèo có những đặc điểm cần lưu ý như sau:

- Chèo - sân khấu tự sự

- Chèo - sân khấu ước lệ

- Chèo - nghệ thuật diễn ngẫu hứng

- Chèo - phương pháp xây dựng xử lý và chuyển hóa mô hình

Với những nhận định đó, nhà nghiên cứu đưa ra những ý kiến khá quan trọng

về vấn đề bảo tồn và phát triển nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc của cha ông

PGS TS Tất Thắng trong công trình “Sân khấu truyền thống từ chức năng

giáo huấn đạo đức” cũng như những bài giảng về thi pháp kịch đã đề cập đến đặc

trưng thể loại của Chèo về phương diện nội dung cũng như nghệ thuật

Về nội dung, theo ông Chèo là sân khấu khuyến giáo đạo đức Tính giáo huấn “mà trung tâm là giáo huấn đạo đức, là một đặc trưng nổi bật của sân khấu truyền thống Việt Nam” Đặc điểm này “nhiều khi bao trùm lên chi phối tất cả các yếu tố nội dung diễn tả và nghệ thuật diễn tả” [71, tr 160] Từ chức năng đặc thù

ấy, tác giả Tất Thắng đã xác định những biện pháp mỹ học chủ yếu của nghệ thuật Chèo, trong đó không thể không nhắc đến tính kể chuyện (tính tự sự), xu thế hài hước hóa và hệ thống động tác ước lệ vũ đạo Những đặc trưng này được tác giả

“Sân khấu truyền thống từ chức năng giáo huấn đạo đức” phân tích rất cụ thể với những hiểu biết sâu sắc trong nhiều công trình, bài viết khác nhau Đây cũng là những quan điểm tương đối nhất trí của một số nhà sân khấu học Việt Nam

Trang 26

Cũng là một trong những nhà nghiên cứu và sáng tác Chèo, tác giả Trần Đình Ngôn đã đóng góp nhiều cho việc bảo tồn và phát triển Chèo dựa trên những giá trị truyền thống Ông đã góp tiếng nói quan trọng khẳng định tính độc đáo của

nghệ thuật Chèo Đó là tư duy huyền thoại kết đọng ở tính kỳ lạ, bút pháp tả thần,

trò nhại và chèo hóa múa hát dân gian Ông coi đó là “bốn nguyên tắc lớn bốn

thành tố chính kết hợp với nhau, đan chéo vào nhau trong tổ chức kết cấu của Chèo, tạo ra đặc trưng ngôn ngữ của Chèo” [46, tr 48] Đồng thời nhà nghiên cứu cũng

xác định những thuộc tính phẩm chất của Chèo Đó là sự kết hợp hài hòa tuyệt diệu

giữa hiện thực và lãng mạn, giữa dân gian và bác học, giữa truyền thống và hiện đại, giữa cái bi và cái hài Những thuộc tính phẩm chất này được tạo nên do bốn

yếu tố thuộc về đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật Chèo Trên cơ sở đó, TS Trần Đình Ngôn tổng kết về những tính chất cơ bản của Chèo như tính tự sự, tính chất ước lệ

và tính chất cách điệu

Trên đây là một số nhận định khá quan trọng của giới nghiên cứu về đặc trưng nghệ thuật của Chèo Họ đã đem lại một cái nhìn tổng thể với những kiến giải khá thú vị về nghệ thuật Chèo, đã gợi mở ra nhiều vấn đề cơ bản của sân khấu Chèo Bản luận văn này không nhằm tổng kết, đánh giá công trình, tác phẩm của các nhà nghiên cứu mà chỉ trích dẫn một vài quan điểm mà chúng tôi thấy cần thiết cho việc tìm hiểu các kịch bản Chèo về truyện cổ tích

1.2.2.1 Chèo thuộc loại sân khấu khuyến giáo đạo đức

Đây là đặc điểm chính chi phối các mặt nghệ thuật từ thể loại đến phương pháp sân khấu của Chèo

Khi tìm hiểu các vở Chèo cổ, chúng ta thấy rằng nhân vật chính trong kịch bản thường là chàng thư sinh hoặc một viên quan phong kiến, hoặc một thục nữ lấy tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức làm đầu Qua những sự biến đổi xã hội, tình huống kịch thường đẩy những nhân vật này và những người thân của họ đến chỗ phải đối phó, khắc phục, làm cho bộc lộ được khía cạnh đạo đức của mình, nhằm nêu gương cho người xem, để họ noi theo hoặc răn ngừa họ tránh xa Chèo xây dựng những hình tượng nhân vật lấy đó làm mẫu mực mà xử sự trong cuộc sống như Thị Phương, Thị Kính, Châu Long…

Trang 27

Các tích trò phải có đầu đuôi rõ ràng, các sự kiện cần được khai thác đủ mức, nhằm chứng minh tâm lý người tốt dù phải chịu bao cay đắng, gian khổ nhưng rồi cuối cùng cũng sẽ đạt được hạnh phúc, còn kẻ xấu thì sẽ bị trừng phạt Mọi tích Chèo đều xoay quanh cái trục bĩ cực thái lai, ở hiền gặp lành… Do đó Chèo thường

đi sâu vào những chuyện nói đến quan hệ vợ chồng, anh em, bạn bè, thầy tớ, dì ghẻ con chồng, mẹ chồng nàng dâu… Đây là những vấn đề va chạm chủ yếu đến cuộc sống hàng ngày của những người dân bình thường, trong một xã hội nông nghiệp Qua đó đề cao một khía cạnh đạo đức mà câu chuyện khai thác đề cập tới Ví dụ như:

…Tiết nghĩa ai bằng nàng Thị Phương Thờ chồng, nuôi mẹ trọn đôi đường (Giáo đầu vở Trương Viên)

Bên cạnh đó còn có những lớp phụ được thể hiện sắc sảo, nhiều khi lấn lướt

cả tuyến chuyện chính chẳng hạn như cái ghen tuông của Đào Huế hoặc mối tình nồng nhiệt đến quá trớn của Thị Màu…) làm cho cả nội dung lẫn hình thức vở diễn thêm súc tích, phong phú, hấp dẫn và tính xã hội của tiết mục ngày thêm đậm đà, gắn bó với cuộc sống

1.2.2.2 Chèo thuộc loại sân khấu kể chuyện

Chèo là một loại hình sân khấu tổng hợp nên khi nhắc đến Chèo là người ta nghĩ ngay đến một hình thức sân khấu kể chuyện bằng trò diễn, trong đó tích diễn trên sân khấu giữ vai trò hết sức quan trọng, vai trò ấy đã được nhân dân ta đúc kết qua câu tục ngữ “có tích mới dịch nên trò”

Tích diễn được biểu diễn trên sân khấu theo một trình tự thời gian và không gian, có phát sinh, phát triển và kết thúc Điều này đồng nghĩa với việc Chèo thuộc dòng sân khấu tự sự Do đó trong Chèo, cụ thể hơn là trong kịch bản Chèo, cốt truyện có một vai trò hết sức quan trọng, nó là thành tố nền tảng để tạo nên một kịch bản Chèo

Trong mỗi vở Chèo, nghệ nhân tự nhận việc kể lại câu chuyện đã xảy ra bằng trò diễn của mình để khán giả vừa khách quan nhận xét những sự hay dở, phải trái trong cách suy nghĩ và xử sự của nhân vật, vừa thưởng thức tài nghệ người diễn, từng lúc thông cảm hoặc xúc động với tình huống của sự việc mà nhân vật đang gặp phải, lấy đấy làm bài học cho mình

Trang 28

Sau các lớp giáo đầu tiếp đến là “Tôi xin dẫn trò này tích cũ” hay “Nhớ xưa

tích cũ…” Nghệ nhân ra chiếu diễn là dễ dàng xưng danh, nói rõ tên tuổi, gia thế

với tính nết bản thân cho khán giả biết trước nhân vật thuộc loại người nào

Tiếp đó là những sự biến xảy đến tuần tự, làm cớ cho nhân vật bộc lộ tâm trạng và hành động Những sự kiện này được đặt theo trật tự do kịch bản quy định nhằm chứng minh đạo đức của nhân vật, thể hiện dần dần, từ mỏng đến dày, kỳ tới khi đạt được yêu cầu giáo dục mà người viết đòi hỏi Đa phần các sự kiện được sắp xếp theo thứ tự thời gian nên Chèo còn được gọi là loại sân khấu kể chuyện

1.2.2.3 Chèo thuộc loại sân khấu ước lệ và cách điệu

Tích Chèo thường là một câu chuyện kể lại cả một cuộc đời hoặc quãng đời quan trọng nhất của nhân vật, thông qua từng sự biến đánh dấu các bước ngoặt trong đời họ, ở những thời điểm khác nhau Vậy nên địa điểm kịch thường thay đổi luôn, lớp này đến lớp khác, nhiều khi ở những không gian và thời gian rất xa nhau

Chỉ khi những người nghệ sĩ ra xưng danh, biểu diễn thì người xem mới biết sân khấu ấy là nơi nào, vào lúc nào Ví dụ: Nghe nhân vật Thiện Sĩ xưng danh, nói

đấy là nhà mình, qua vài câu nói lối, rằng đã tới “ngõ mận vườn đào”, người xem

cần hiểu là anh ta đang đứng trước nhà Mãng Ông…

Hoặc khi nghe nhân vật hát:

…Bây giờ đã hồ sang trống một, Chim bay về sườn núi Lịch San…

thì biết rằng trời đã tối

Cảnh tấm liếp ngăn đôi căn buồng chỉ do Châu Long nói bằng lời, rồi lại thấy Chàng Lưu năn nỉ: “nàng mở cửa ra cho anh…” cũng khiến người xem tưởng tượng ra Những động tác giả định này kết hợp hài hòa với hát, múa tạo nên đặc điểm ước lệ và cách điệu cho Chèo

Ngoài ra, Chèo còn khoa trương khái quát các sự kiện, đồng thời mô phỏng các nét tính cách thuộc về bản chất nhân vật cốt sao cho phù hợp với những khuôn diễn trên Ví dụ như chọn những Hương câm, Đồ điếc, Thầy mù, với cặp Xã trưởng

- Mẹ Đốp đặt chung vào khung cảnh một vụ ngả vạ, để thể hiện bộ mặt thối nát của chính quyền trong xã hội cũ…

1.2.2.4 Tính tổng hợp nghệ thuật của Chèo mang sắc thái độc đáo

Trang 29

Tính tổng hợp của nghệ thuật Chèo thể hiện ở chỗ các mặt văn học, âm nhạc, múa, diễn xuất đã kết hợp chặt chẽ với nhau, cùng nhằm thể hiện tính cách hình tượng Vào chiếu diễn, tùy nơi, tùy lúc, tùy người mà khi lấy hát làm chính, khi lại dùng múa hoặc chỉ bằng diễn xuất Nhiều khi dùng cả hát, múa kết hợp với lời thơ trau chuốt, nhằm thể hiện hình tượng một cách hoàn chỉnh

Các tính cách nhân vật Chèo được xây dựng bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật

có đặc tính khác nhau nhưng chúng đã thông qua nghệ thuật diễn xuất mà khuôn mình vào phong cách của vở diễn, của kịch chủng Như hội họa khi thể hiện thành trang phục phải làm sao cho màu sắc, kiểu cách quần áo nhân vật ăn nhập với ánh sáng

và diễn xuất, còn khi thành cảnh trí thì ngoài bút pháp thích hợp với Chèo, làm chỗ dựa cho diễn xuất, phải dành khoảng trống thích đáng cho nhân vật hành động… Như âm nhạc, khi vào Chèo đã được dùng từng lúc gây không khí cho tích truyện, đệm hát đỡ giọng cho nghệ nhân và nhất là miêu tả những tâm tư sâu kín, lắt léo…

Ngoài ra, tính tổng hợp nghệ thuật của Chèo còn góp phần chứng minh một phương pháp sân khấu độc đáo, gây không khí thoải mái, nhẹ nhàng cho người

xem, khi thì bằng những tiếng đế vô cùng sinh động như trong các lớp Lên chùa,

Giả dại… khi thì bằng những bài hát dí dỏm…

1.2.2.5 Sự kết hợp giữa cái bi và cái hài trở thành một nguyên tắc của nghệ thuật Chèo

Đây cũng là một đặc điểm, một nguyên tắc quan trọng của nghệ thuật Chèo Trong các vở Chèo cổ cái bi và cái hài luôn xen kẽ nhau Khi thì kết hợp giữa cái bi

và cái hài để nhấn thêm vào cái bi của bản trò như lớp Đánh ghen của vở Chu Mãi

Thần, khi thì dùng tiếng cười để chê trách nhẹ nhàng hay đả kích lấp lửng những

hành vi, thói tật xấu xa nhan nhản trong xã hội đương thời (như những lớp Hề mồi,

Hề theo thầy Mẹ Đốp - Xã trưởng…), cũng có khi người diễn không đồng tình với

tư tưởng chủ đề của bản trò, họ đã dùng tiếng cười để cố xóa bớt hoặc phá rối hiệu quả sân khấu mà người viết mong muốn

Về mặt nội dung, cái bi thường diễn tả nỗi oan trái hay sự hi sinh cao cả của những người tốt như những tấm gương sáng ngời về phẩm hạnh, đạo đức còn cái hài thiên về phê phán, cười cợt, chế giễu những thói hư tật xấu

Trang 30

Sự kết hợp đan xen giữa cái bi và cái hài trong các vở Chèo cũng xuất phát

từ kết cấu của mỗi vở Chèo Bởi trong mỗi vở Chèo bao giờ cũng bao gồm tích diễn

và ứng diễn Tích diễn thường mang tính bi, nhằm nêu gương hoặc răn đe và hay dùng những thủ pháp ước lệ Còn ứng diễn thì thường mang tính hài và hay dùng những động tác cách điệu

1.2.2.6 Đặc điểm đa dùng và chuyên dùng bộc lộ quy luật phát triển của Chèo

Nghe và xem biểu diễn có thể thấy mỗi loại nhân vật Chèo đều có ít nhất một bài hát kèm theo bộ múa, khuôn diễn dành riêng, kết hợp với những lời xưng danh

để nói lên thân thể, tính cách bản thân, tạo thành một khuôn hình nghệ thuật có những nét chung đậm đà Như nhân vật lão ở tầng lớp dưới có hát múa bình tửu với giọng nói lè nhè, chân nam đá chân chiêu, đi đứng xiêu vẹo, hay nhân vật mụ có hát hoài thai, kể công sinh dưỡng con cái với hình ảnh bà cụ lưng còng, chống gậy…

Những khuôn hình này khi đem áp dụng cho một nhân vật cụ thể, nghệ nhân

sẽ tùy tích trò đòi hỏi mà có diễn xuất thích đáng để vẽ lên những ông Mãng, lão Mốc… hoặc Kim Nham hay Chu Mãi Thần… Đứng về từng loại nhân vật thì những bình tửu, hoài thai… mang tính chuyên dùng, nhưng xét từng mảng nghệ thuật tạo thành vở diễn tức là cả khuôn hình diễn xuất của nhân vật đó thì chúng lại mang tính đa dùng

Có những làn điệu như hát sắp, hát sa lệch, đường trường… dùng cho nhiều loại nhân vật và tình huống cụ thể mà có diễn xuất đúng mức Có khi dùng nguyên như cũ chỉ thay đổi cách thể hiện chút ít, có khi cải tiến hoặc phát triển cho ăn khớp với nội dung mới lồng vào bằng cách thêm trổ, thêm câu dẫn tới hình thành những

hệ thống làn điệu và những làn điệu này mang tính đa dùng

Mặt khác, còn có những làn điệu kết hợp chặt chẽ với động tác cách điệu hoặc động tác múa, tạo thành những khuôn hình diễn xuất sắc sảo, dùng thể hiện cho riêng một nhân vật nhất định như nói lệch, hát múa, hát cấm giá dành riêng cho Thị Màu, hát lới lơ, gà rừng dành riêng cho Súy Vân… Những làn điệu độc đáo này mang tính chuyên dùng

Mỗi khi soạn các vở trò mới, người viết phải căn cứ vào yêu cầu thể hiện của tích trò mà một mặt sử dụng những thủ pháp cũ bao gồm làn điệu, bộ múa, khuôn diễn còn khả năng miêu tả, ở tình trạng nguyên dạng, với sự tăng cường nhất định

Trang 31

về diễn xuất Khi nào thấy có chỗ không thích hợp nghệ nhân sẽ linh động cải tiến hoặc phát triển sao cho ăn khớp với nội dung mới đưa vào Hơn nữa, do đòi hỏi thể hiện tốt những tính cách nhân vật mới, nghệ nhân đã phải sáng tạo thêm những làn điệu, bộ múa, khuôn diễn thích hợp dẫn tới sự ra đời của những làn điệu, những khuôn hình, những lớp trò chuyên dùng độc đáo cho từng vở

Điều này chứng minh nguyên lý cơ bản của nghệ thuật Chèo là nội dung mới, đòi hỏi phải có hình thức thích hợp Tuy nhiên, đây không phải là đổi mới đồng loạt, đổi mới ngay lập tức mà là việc đổi mới tuần tự, tiếp nối trong đó tính kế thừa kết hợp hữu cơ với tính phát triển nhằm tiến tới một kết cấu về hình thức đủ sức thể hiện phần nội dung và làm sáng tỏ tư tưởng chủ đề do bản trò quy định và đòi hỏi

1.3 Mối quan hệ giữa truyện cổ tích và Chèo truyền thống

Mối quan hệ giữa truyện cổ tích và Chèo truyền thống trong thực tế là mối quan hệ hai chiều, tức là có sự tương quan tác động ảnh hưởng lẫn nhau Song truyện cổ tích bao giờ cũng đóng vai trò làm cơ sở, làm chất liệu trong quá trình xây dựng và phát triển kịch bản Chèo truyền thống

1.3.1 Truyện cổ tích là cơ sở hình thành nên kịch bản Chèo truyền thống

Đầu tiên, chúng ta phải trả lời được câu hỏi: “Vì sao lại chọn truyện cổ tích

để chuyển thể thành chèo?”

Thứ nhất về mặt mục đích, chúng ta nhận thấy rằng, các nghệ sĩ chèo xưa và nay đã chọn truyện cổ tích để chuyển thể sang chèo bởi vì bản thân truyện cổ tích thường có tính giáo huấn đạo đức mà trên thực tế chèo cổ hay chèo truyền thống khi được xây dựng thì mục đích chủ yếu của chúng đều là nhằm khuyến giáo đạo đức

và tính giáo huấn đạo đức của chèo được coi như là một đặc trưng thể loại về mặt nội dung

Thứ hai, từ xưa đến nay, trong kho tàng tục ngữ của nước ta vẫn có câu “Có tích mới dịch nên trò” “Tác giả chèo (thường là tác giả tập thể) dựa vào các sự tích vốn có trong các truyện cổ tích, truyện Nôm… mà dựng nên vở Cho nên, Chèo có chủ đích diễn lại bằng hình thức sân khấu những truyện có từ trước.” [38, tr 509] Thật đúng vậy, bởi lẽ truyện cổ tích bản thân nó đã có tích truyện và những tích truyện này có nội dung tư tưởng chứa đựng tính giáo huấn đạo đức Mặt khác,

Trang 32

truyện cổ tích còn có nhiều tình tiết, sự kiện, xung đột, hành động… thể hiện mối quan hệ giữa các nhân vật và hàm chứa tính cách nhân vật Đó là cơ sở để trở thành trò diễn cho nên người nghệ sĩ chèo đã chọn truyện cổ tích làm chất liệu để sáng tác kịch bản chèo truyền thống

GS Đinh Gia Khánh trong cuốn giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam” cũng đã nói: “Nếu xét đến nội dung tư tưởng của các vở Chèo chúng ta thấy rằng

nội dung đó chính là nội dung tư tưởng của các truyện cổ tích, các truyện Nôm, nâng lên một mức cao hơn bằng nghệ thuật sân khấu Chèo cũng như thần thoại, truyện cổ tích…có một hiện thực rõ rệt Chèo là tấm gương phản ánh xã hội ta ngày trước, xã hội nông nghiệp Việt Nam thời phong kiến Chèo đã vạch rõ hiện thực sâu sắc nhất của xã hội đó là mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân, giữa chính quyền và nhân dân” [38, tr 506] Ví dụ, trong vở Chèo “Quan Âm Thị Kính”, không phải

ngẫu nhiên mà Thị Kính là con nhà nghèo mà Sùng Ông, Sùng Bà lại giàu có, không phải ngẫu nhiên mà Thị Màu lại là con gái Phú ông Rõ ràng ở đây có hai phe: phe nông dân gồm có Mãng Ông, Thị Kính, anh Nô, mẹ Đốp và tuần phiên Còn phe địa chủ là Sùng Ông, Sùng Bà, Phú ông, Thị Màu, Hương lí… Phe nông dân bị áp bức, bị oan khuất Nhưng phe nông dân cũng có những cái “đá ngược lên” như mẹ Đốp đã dùng lí sự hóm hỉnh để bắt xã trưởng phải chịu thua, như anh Nô đã dọa khéo phú ông khi tên này đã ở thế bí mà còn định nạt nộ anh Vở Chèo này lại

là biểu hiện của một sự thực nữa là sự lục đục trong chính quyền phong kiến thối nát, sự tranh ngôi thứ, tranh ăn, tranh ngồi của bọn chúng Vở Chèo còn miêu tả một cách rất hiện thực một loại tay sai của phong kiến đó là các thứ thầy trong xã hội cũ như: Thầy phù thủy, thầy đồ gàn…

“Cũng giống như truyện cổ tích, truyện dân gian, Chèo quan niệm người nghèo khổ, lương thiện là những người có phẩm chất tốt nhưng lại hay gặp chông gai ở trong một xã hội đầy bất công Tuy vậy, dù gặp gian nan, họ vẫn giữ vững chí khí kiên quyết và lương tâm trong sạch Phẩm chất tốt đẹp của họ lại càng biểu lộ rõ nét qua các cơn thử thách đòi hỏi nhiều hi sinh, nhiều chiến đấu.” [38, tr 507] Ví

dụ như: Thị Phương, Thị Kính, Châu Long… là những nhân vật gặp nhiều thử thách trên đường đời nhưng không bao giờ họ đi chệch cái hướng chính nghĩa Không những thế, Chèo còn miêu tả hiện thực với một thái độ minh bạch, dứt khoát, Chèo

Trang 33

đứng về phía nhân dân, vạch trần những mặt trái của bọn thống trị, đả kích một cách sâu cay vào bọn chúng

Nếu như các truyện cổ tích, truyện dân gian thường có kết thúc “có hậu” thì Chèo cũng như vậy Trong Chèo, những người lương thiện sau cùng bao giờ cũng được sung sướng và được hưởng hạnh phúc hoặc có chết đi nữa thì họ cũng được hiển danh Ví dụ chàng Thạch Sanh trong vở Chèo cùng tên cuối cùng được kết duyên cùng công chúa Quỳnh Nga và được nhà Vua truyền ngôi cho, nàng Thị

Phương trong vở Chèo Trương Viên cuối cùng được sáng mắt lại và được đoàn tụ cùng chồng hay nàng Thị Kính trong Chèo Quan Âm Thị Kính cuối cùng được Phật

Tổ độ về cõi cực lạc… Ngoài ra, trong Chèo cũng như trong truyện cổ tích, những tên độc ác gian giảo, bất nhân thường là ở tầng lớp quyền quý, giàu có như: mẹ con

Lí Thông, Sùng Ông, Sùng Bà, tên quan Tể Tướng… Tuy nhiên, bọn chúng lúc ban đầu thì đều đắc thế, nhưng sau cùng thì tất cả bọn chúng đều bị trừng phạt tùy theo tội ác của mình

Có thể nói rằng, nếu truyện cổ tích đề cao lòng yêu mến con người, đề cao phẩm chất con người thì trong Chèo những tính chất trên cũng được đề cập Trong Chèo, tinh thần nhân đạo chủ nghĩa được đẩy lên một cách cao độ, điều này thể hiện

rõ rệt ở chỗ: Chèo nêu rõ sự cao quý ở những con người mà giai cấp phong kiến coi

là thấp hèn Cụ thể, ở trong Chèo hay trong truyện cổ tích, truyện dân gian nói chung, nhân vật người phụ nữ được nâng lên địa vị cao quý mà ý thức hệ phong kiến không bao giờ công nhận Đề cao phụ nữ là một mặt quan trọng của tinh thần nhân đạo chủ nghĩa trong Chèo cũng như trong truyện cổ tích Các nhân vật phụ nữ trong truyện cổ tích và Chèo được biểu hiện một cách trung thực như Tấm, Thị Phương, Thị Kính, Châu Long… Họ đều là những người có đạo đức, có bản lĩnh kiên định và tinh thần làm chủ cuộc đời mình Họ tiêu biểu cho những người phụ nữ lao động Việt Nam, là người bị áp bức nhất trong những kẻ bị áp bức Nhưng họ không phải là người phụ nữ chịu bó mình uốn theo lễ giáo phong kiến Họ không hề thụ động trước vận mệnh do thần quyền, phụ quyền chi phối

Cuối cùng, chúng ta có thể thấy rằng: Truyện cổ tích là tác phẩm văn học truyền khẩu cho nên nghệ thuật của truyện cổ tích bị hạn chế trong điều kiện của tác phẩm truyền khẩu Hình thức truyện cổ tích thường uốn theo những khuôn khổ do

Trang 34

tập quán lâu đời tạo nên Nó thường có tính chất đơn điệu Kết cấu và nhất là ngôn ngữ truyện cổ tích thường không cố định Vì vậy, bên cạnh những thành tựu về nghệ thuật, bên cạnh những phần trau truốt mĩ lệ, truyện cổ tích lại chứa đựng những phần mới chỉ là nguyên liệu của nghệ thuật Tuy nhiên, kho tàng truyện cổ tích của chúng ta cũng có rất nhiều châu báu ngọc ngà có thể sử dụng để xây dựng những tác phẩm nghệ thuật lớn, từ truyện, tiểu thuyết đến kịch bản chèo…Tóm lại, chính vì truyện cổ tích có những đặc điểm, chức năng phù hợp với Chèo cho nên các tác giả Chèo mới chọn truyện cổ tích làm chất liệu cho việc sáng tác kịch bản Chèo truyền thống

1.3.2 Sự vận dụng yếu tố truyền thống và cách tân từ truyện cổ tích đến kịch bản Chèo truyền thống

Chèo vốn là một loại hình sân khấu bắt nguồn từ dân gian, ngay từ đầu các nghệ sĩ dân gian đã biết tận dụng kho tàng truyện kể dân gian, kho tàng truyện cổ tích, kho tàng ca dao, tục ngữ… vô cùng phong phú trong văn học dân gian để sáng tác ra những bản trò đầy hấp dẫn mà cho đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị Cũng chính vì khai thác từ kho tàng văn học dân gian, kho tàng cổ tích nên Chèo mang đậm tính dân gian - một trong những tính chất chủ đạo của Chèo Bởi theo GS

Đình Quang: “Chèo hiện nay hoạt động theo phương thức chuyên nghiệp, bác học

nhưng vẫn đậm màu sắc dân gian Do đó mà chất dân gian trong Chèo vẫn là chủ đạo, bản chất” [63, tr 108]

Kịch bản Chèo truyền thống mang đậm tính chất dân gian đặc biệt là ở những kịch bản khai thác từ truyện cổ tích Thật đúng thế, trong quá trình khai thác những truyện cổ tích thì tác giả đã giữ lại những tình tiết, sự kiện, tuyến nhân vật chính, những chi tiết làm nền trong cốt truyện cổ tích và hầu như không đảo lộn trật

tự sắp xếp của các sự kiện, vẫn giữ theo kết cấu đường thẳng như trong truyện cổ

tích Chẳng hạn như trong kịch bản Tấm Cám những sự kiện chính vẫn được tác giả

giữ nguyên như việc Cám lừa Tấm xuống đầm tắm rồi trút hết giỏ tôm tép của Tấm chỉ còn chừa lại con cá bống nhỏ, Tấm được bụt giúp đỡ đi xem hội và gặp gỡ Hoàng Tử và được chàng cưới làm vợ, Tấm bị mẹ con Cám ghen ghét hãm hại hết lần này đến lần khác, trải qua bao kiếp nạn cuối cùng Tấm vẫn gặp lại được Hoàng

Tử và trở về cung vua Trong kịch bản Từ Thức mạch chính của truyện cổ tích vẫn

Trang 35

được giữ nguyên trong kịch bản: việc nàng Giáng Hương xuống trần vãn cảnh chùa chẳng may làm gãy cành hoa quý trong chùa và bị các sư trong chùa trói vào chịu phạt, rồi nàng được quan Từ Thức cứu giúp và nàng mời Từ Thức đến thăm nhà của mình, sau đó hai người kết duyên chung sống ở động tiên nhưng cuối cùng Từ Thức thấy nhớ cha mẹ, quê nhà, chàng đòi trở về quê cũ thì tất cả những người xưa đã mất, cảnh vật đã thay đổi, không ai còn nhận ra chàng, Từ Thức đau buồn bỏ vào

rừng và từ đó biệt tích Hay trong kịch bản Lọ nước thần là chuyện chàng nông dân

cứu được rồng thần và được rồng trả ơn cho một lọ nước thần, trở về nhà vợ chàng lấy lọ nước này ra tắm và trở lên xinh đẹp lạ thường, chàng vẽ tranh người vợ mang theo đi làm đồng, bức tranh bị quạ cắp đến thả vào cung vua, tên vua tham lam cho người đi tìm đến nhà bắt vợ chàng và cuối cùng nhờ mưu trí chàng đã giành lại được người vợ xinh đẹp và lên làm vua thay thế tên vua độc ác kia Hoặc trong kịch

bản Tiếng đàn kỳ diệu tác giả Chèo truyền thống cũng vẫn giữ được mạch chính của

cốt truyện cổ tích như việc Lý Thông lừa Thạch Sanh đi canh miếu thần thay mình, Thạch Sanh giết được trăn tinh, cứu được công chúa, đuổi được quân giặc và được làm phò mã, Lý thông thì bị trừng phạt đích đáng…

Ngoài ra, khi khai thác truyện cổ tích làm nội dung kịch bản Chèo thì các tác giả Chèo truyền thống cũng rất chú ý đến việc miêu tả số phận, tâm trạng, phẩm chất của những người phụ nữ, đăt họ vào những hoàn cảnh éo le, đầy thử thách, xây dựng họ thành mẫu người lý tưởng theo quan điểm và thẩm mỹ truyền thống (như

Tấm trong Tấm Cám, Tuyết Mai trong Quả cau vàng, Mai trong Nàng chúa ong, Thị Trinh trong Trinh phụ hai chồng…) Tuy là những câu chuyện cổ tích nhưng

cho đến nay chúng vẫn được nhiều thế hệ độc giả yêu thích tìm đọc, và con người hiện đại vẫn có thể soi thấy bóng dáng mình trong những câu chuyện ấy

Bên cạnh đó, kịch bản Chèo truyền thống còn vận dụng tư duy huyền thoại vào trong tác phẩm Tư duy huyền thoại ở đây được kết đọng ở những chi tiết, sự kiện, tính cách nhân vật mang tính kỳ lạ Và khi khai thác từ những truyện cổ tích, những chi tiết, sự kiện mang tính kỳ lạ hay được huyền thoại hóa trong truyện dân gian đã được tác giả giữ lại như tiếng hát Trương Chi trong kịch bản cùng tên, cây

đàn đã có từ ngàn xưa trong Tiếng đàn kỳ diệu:

“Cây đàn ấy đã có từ lâu lắm

Trang 36

Mấy ngàn năm truyền lại đến hôm nay Đàn làm nên từ muôn hạt ngọc trai Sợi tơ của con tằm sống nghìn năm nhả kén Một người thợ tấm lòng trong sáng

Tạc đàn song cũng vừa trọn cuộc đời Tiếng đàn kêu là tiếng của muôn người Đàn lên tiếng là đất trời vang động Nghe tiếng đàn, bao đức tốt của con người thức dậy

Và thói gian tà ác độc phải tiêu vong…”

Tư duy huyền thoại kết đọng ở tính kỳ lạ là một nguyên tắc trước sau không đổi, là một trong những nguyên tắc mang đậm phong cách dân gian của Chèo Mặt khác, trong kịch bản Chèo truyền thống, các tác giả đã mượn nguyên lời một số câu

ca dao, tục ngữ để đưa vào ngôn ngữ đối thoại của nhân vật Những câu thành ngữ, tục ngữ vốn có tính chất ngắn gọn, ví von, vần vè… là những kinh nghiệm, những bài học của ông cha được đúc từ cuộc sống lao động sản xuất đã được tác giả đưa vào ngôn ngữ đối thoại của nhân vật một cách trực tiếp Các nhân vật đã sử dụng chúng như lời ăn tiếng nói hàng ngày, đã dùng rất tự nhiên và rất phù hợp với hoàn

cảnh đối thoại Đó là những câu tục ngữ nói về quan hệ gia đình như: giỏ nhà ai

quai nhà ấy, của đau con xót; nói về phương châm xử thế như: một nhịn chín nhường; phản ánh, nhận thức về đời sống xã hội, về con người như: cá lớn nuốt cá

bé, đói cho sạch rách cho thơm, tò vò nuôi nhện, cố đấm ăn xôi, học tài thi phận, cái kim trong bọc lâu ngày cũng ra, lệnh ông không bằng cồng bà, đổi trắng thay đen… Trong khi đó ca dao lại được các tác giả vận dụng trực tiếp để đưa vào những

đoạn đối đáp, tìm hiểu của các chàng trai cô gái, để bộc lộ tình cảm, tâm trạng của

nhân vật như: Thạch Sanh và công chúa Quỳnh Nga trong Thạch Sanh, Tấm và Hoàng tử trong Tấm Cám, anh Ba và chị Ba trong Lọ nước thần, Từ Thức và Giáng Hương trong Từ Thức… và đặc biệt là các tác giả còn thường xuyên sử dụng những biện

pháp nghệ thuật được sử dụng trong ca dao như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa và sáng tạo lời thoại theo những thể thơ dân tộc mà tiêu biểu là thể thơ lục bát

Bên cạnh việc giữ lại cốt truyện cổ tích, giữ lại những tuyến sự kiện, nhân vật chính thì cũng có những yếu tố cách tân thể hiện qua việc thêm bớt, biến đổi, hư

Trang 37

cấu một số chi tiết, sự kiện cho phù hợp với đặc thù của loại hình nghệ thuật này như để phù hợp với thời gian biểu diễn, làm cho tích truyện dày thêm, hay để làm sáng tỏ thêm chủ đề tư tưởng của tác phẩm, để góp phần phát triển và khắc họa sâu hơn những nét tính cách, bản chất của nhân vật chính… Tính cách các nhân vật vì thế mà “sống động” hơn so với các nhân vật trong truyện cổ tích Không những thế, trong kịch bản Chèo truyền thống còn sáng tạo thêm những lớp và có sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực với lãng mạn thể hiện qua việc đan xen các tình tiết sự kiện trong hiện thực cuộc sống với những chi tiết, sự kiện có tính chất huyền ảo, kỳ diệu… làm cho cốt truyện thêm sinh động, hấp dẫn, giúp cho người xem tiếp nhận một cách nhẹ nhàng, thoải mái

Việc sáng tạo thêm những màn, những lớp mới này đã giúp cho cốt truyện trong kịch bản Chèo truyền thống phản ánh được bối cảnh của xã hội đương thời, gắn với thời đại khi tác phẩm ra đời Vì thế mà cái “không khí thời đại” hay “tính thời sự” đã đi vào các vở diễn một cách ngọt ngào và hòa quyện ngay với tính truyền thống đã có sẵn và luôn luôn thoáng mở để tiếp nhận hơi thở mới Bên trong cái vở của những tích truyện xa xưa kỳ lạ lại là những truyện đời gần gũi, gắn bó với số phận con người hôm nay

Không chỉ cách tân về mặt cốt truyện, Chèo truyền thống còn cách tân về mặt ngôn ngữ Các tác giả Chèo truyền thống một mặt sử dụng trực tiếp kho tàng tục ngữ, ca dao để đưa vào ngôn ngữ đối thoại của nhân vật, mặt khác các tác giả cũng đã thêm bớt và sáng tạo thêm lời thoại trong kịch bản của mình thể hiện qua hai cấp độ đó là biến đổi, thêm bớt hoặc đảo trật tự của ca dao, tục ngữ và sáng tạo thêm lời mới theo lối nói vần vè của tục ngữ, theo phong cách của ca dao, dân ca bằng cách vận dụng những thủ pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, sử dụng những thể thơ truyền thống… để đưa vào kịch bản Cách vận dụng, sáng tạo này khiến cho ngôn ngữ đối thoại trong kịch bản Chèo truyền thống trở nên mềm mại, uyển chuyển hơn, giữ được tính bình dị, hồn nhiên, trong sáng và là phương tiện hữu ích để thể hiện tính cách, tâm tư, tình cảm của nhân vật Đồng thời nó cũng gần gũi với quan điểm, cảm nhận của người Việt

Sự kết hợp vận dụng giữa yếu tố truyền thống và cách tân, hiện đại trong việc sáng tạo kịch bản Chèo truyền thống từ cốt truyện cổ tích đã tạo ra những tiếng

Trang 38

nói vừa mới mẻ vừa đậm đà màu sắc truyền thống cho Chèo Mặt khác, cho thấy lịch sử phát triển của Chèo không chỉ đơn thuần là quá trình sáng tạo ra những cái hoàn toàn mới mà còn là quá trình phát hiện ra những giá trị mới trong cái cũ (cụ thể ở đây là kịch bản Chèo truyền thống đã khai thác được rất nhiều tích truyện cổ tích cũ)

Tiểu kết chương 1

Truyện cổ tích và Chèo truyền thống có mối quan hệ hai chiều, tác động ảnh hưởng lẫn nhau Song truyện cổ tích bao giờ cũng đóng vai trò làm cơ sở, làm chất liệu trong quá trình xây dựng và phát triển kịch bản Chèo truyền thống

Chèo truyền thống vốn là một loại hình sân khấu bắt nguồn từ dân gian, ngay

từ đầu các nghệ sĩ dân gian đã biết tận dụng kho tàng truyện kể dân gian, kho tàng truyện cổ tích, kho tàng ca dao, tục ngữ… vô cùng phong phú trong văn học dân gian để sáng tác ra những bản trò đầy hấp dẫn mà cho đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị Cũng chính vì khai thác từ kho tàng văn học dân gian, kho tàng cổ tích nên Chèo truyền thống mang đậm tính dân gian - một trong những tính chất chủ đạo của Chèo Mặt khác, cũng chính vì truyện cổ tích có những đặc điểm, chức năng phù hợp với Chèo cho nên các tác giả Chèo mới chọn truyện cổ tích làm chất liệu cho việc sáng tác kịch bản Chèo truyền thống

Bên cạnh đó, kịch bản Chèo truyền thống mang đậm tính chất dân gian đặc biệt là ở những kịch bản khai thác từ truyện cổ tích Trong quá trình khai thác những truyện cổ tích thì tác giả đã giữ lại những tình tiết, sự kiện, tuyến nhân vật chính, những chi tiết làm nền trong cốt truyện cổ tích và hầu như không đảo lộn trật

tự sắp xếp của các sự kiện, vẫn giữ theo kết cấu đường thẳng như trong truyện cổ tích Tác giả Chèo truyền thống đã chú ý kết hợp một cách hài hòa, khéo léo giữa yếu tố truyền thống và cách tân Việc kết hợp này giúp cho các kịch bản Chèo truyền thống vừa giữ được cái hồn Chèo, vừa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, cách tân Chèo trong bối cảnh hiện đại ngày nay

Trang 39

CHƯƠNG 2 SỰ CHUYỂN THỂ TỪ CỐT TRUYỆN TRUYỆN CỔ TÍCH

SANG KỊCH BẢN CHÈO TRUYỀN THỐNG 2.1 Sự chuyển thể về nội dung

2.1.1 Nội dung của truyện cổ tích

- Những xung đột cơ bản trong gia đình và xã hội

Truyện cổ tích phản ánh và lý giải những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình Những mâu thuẫn này mang tính chất riêng tư nhưng lại phổ biến trong toàn

xã hội có giai cấp: xung đột giữa anh em trai (Cây khế, Hầm vàng hầm bạc), xung đột giữa chị em gái (Sọ Dừa, Chàng Dê) xung đột giữa dì ghẻ con chồng, giữa chị

em cùng cha khác mẹ (Tấm Cám),xung đột giữa con ruột và con nuôi (Thạch Sanh), xung đột có tính bi kịch về hôn nhân, gia đình (Trầu cau, Ba ông Bếp, Sao hôm -

sao mai, Ðá vọng phu)

Những xung đột xã hội diễn ra bên ngoài gia đình được phản ánh muộn hơn,

ít tập trung hơn Do vậy ít tác phẩm tiêu biểu hơn (Cái cân thủy ngân, Của trời trời

lại lấy đi, Diệt mãng xà) Một số truyện chứa đựng cả xung đột gia đình và xung đột

Truyện cổ tích có khuynh hướng ca ngợi, bênh vực nhân vật bề dưới, đàn

em, lên án nhân vật “bề trên”, “đàn anh” (trong thực tế không phải người em, người con nào cũng tốt, người mẹ ghẻ, người anh trưởng nào cũng xấu) nghĩa là chống cái bất công, vô lý của xã hội phụ quyền nói chung (không đi vào từng số phận riêng), thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả

- Lý tưởng xã hội thẩm mỹ của nhân dân

Truyện cổ tích cho thấy sự bế tắc của tầng lớp nghèo khổ trong xã hội cũ Nhân vật đàn em, bề dưới càng có đạo đức bao nhiêu, càng thật thà bao nhiêu thì càng thiệt thòi bấy nhiêu Ðây là thực trạng của xã hội có giai cấp và có áp bức giai cấp

Trang 40

Tác giả dân gian trong cổ tích đã giải quyết vấn đề bằng tưởng tượng Họ nhờ vào lực lượng thần kỳ và nhân vật đế vương Lực lượng thần kỳ là phương tiện nghệ thuật giúp tác giả dân gian đạt tới một xã hội lý tưởng, một xã hội có đạo lý và công lý Lực lượng thần kỳ đứng về phía thiện, trợ giúp cho nhân vật đau khổ, đưa

họ tới hạnh phúc Trong quá trình đó, lực lượng thần kỳ cũng giúp nhân vật cải tạo

xã hội Nhân vật đế vương vừa là phương tiện nghệ thuật vừa là biểu tượng cho lý tưởng xã hội của nhân dân Vua Thạch Sanh, hoàng hậu Tấm là hiện thân của một

xã hội tốt đẹp, xã hội lý tưởng

- Triết lý sống, đạo lý làm người và ước mơ công lý của nhân dân

Triết lý sống của tác giả dân gian trong truyện cổ tích trước hết là chủ nghĩa lạc quan Tinh thần lạc quan trong cổ tích chính là lòng yêu thương quý trọng con người, từ đó mà yêu đời, tin vào cuộc đời (cho dù cuộc sống hiện tại đầy khổ đau, người ta vẫn luôn hướng về cuộc sống ngày mai tốt đẹp)

Kết thúc có hậu là biểu hiện dễ thấy của tinh thần lạc quan, nhưng không phải là biểu hiện duy nhất

Kết thúc bi thảm vẫn chứa đựng tinh thần lạc quan Nhân vật chính chết hoặc

ra đi biệt tích Nhưng cái chết hoặc ra đi của nó để lại niềm tin vào phẩm giá con người, niềm tin vào cuộc đời

Hầu hết truyện cổ tích đều gián tiếp hoặc trực tiếp nêu lên vấn đề đạo đức Ðạo đức luôn gắn với tình thương, lấy tình thương làm nền tảng (Ðứa con trời đánh, Giết chó khuyên chồng )

Niềm tin ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác vừa là triết lý sống lạc quan vừa là đạo

lý, ước mơ công lý của nhân dân trong cổ tích

2.1.2 Nội dung của Chèo

Không giống tuồng chỉ ca tụng hành động anh hùng của các giới quyền quý, chèo còn miêu tả cuộc sống bình dị của người dân nông thôn Nhiều vở chèo còn thể hiện cuộc sống vất vả của người phụ nữ sẵn sàng hy sinh bản thân vì người khác Nội dung của các vở chèo lấy từ những truyện cổ tích, truyện Nôm; được nâng lên một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng sâu sắc Trong chèo, cái thiện luôn thắng cái ác, các sỹ tử tốt bụng, hiền lành, luôn

đỗ đạt, làm quan còn người vợ thì tiết nghĩa, cuối cùng sẽ được đoàn tụ với chồng

Ngày đăng: 08/11/2017, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w