1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch trên tạp chí văn nghệ 1948 1954

86 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 692,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này cho thấy một đặc trưng của văn học giai đoạn này khá nổi bật và được các nhà nghiên cứu không chỉ trong lĩnh vực văn học chú ý tới – tính chức năng, tính minh họa của nền văn họ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Phạm Thị Thu Hương

HÀ NỘI,2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, tài liệu trích dẫn, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và nghiêm túc

NGƯỜI VIẾT

Khuất Thị Hoa

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU…… ………

Chương 1: DIỆN MẠO CỦA TRUYỆN NGẮN, TIỂU THUYẾT VÀ KỊCH TRÊN TẠP CHÍ VĂN NGHỆ GIAI ĐOẠN 1948 – 1954

1.1 Đời sống văn chương 1948 – 1954 và Tạp chí Văn nghệ………

1.2 Thống kê và phân loại truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch trên Tạp chí Văn nghệ giai đoạn 1948 – 1954………

1.3 Đánh giá khái quát về diện mạo của truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch trên Tạp chí Văn nghệ giai đoạn 1948 – 1954………

Tiểu kết chương 1………

Chương 2: TRUYỆN NGẮN, TIỂU THUYẾT TRÊN TẠP CHÍ VĂN NGHỆ GIAI ĐOẠN 1948 – 1954

2.1 Truyện ngắn trên Tạp chí Văn nghệ giai đoạn 1948 -1954………

2.2 Tiểu thuyết trên Tạp chí Văn nghệ giai đoạn 1948 – 1954………

Tiểu kết chương 2………

Chương 3: KỊCH TRÊN TẠP CHÍ VĂN NGHỆ GIAI ĐOẠN 1948 – 1954 … 3.1 Về nội dung tư tưởng………

3.2 Về nghệ thuật biểu hiện………

Tiểu kết chương 3………

KẾT LUẬN………

TÀI LIỆU THAM KHẢO………

1

10

10

25

20

31

33

34

46

60

61

62

71

75

76

79

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Thế kỉ XX có thể coi là một thế kỉ bước ngoặt với những biến động lớn lao như vũ bão của lịch sử dân tộc Việt Nam Cuộc xâm lược của thực dân Pháp và cùng với đó là sự va chạm văn hóa với các nước phương Tây làm thay đổi không chỉ về lịch sử, chính trị mà còn là mọi mặt của đời sống nhân dân Sau năm 1945 khi chúng ta giành được thắng lợi trong cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám, làm nên một nước Việt Nam mới, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân cả nước bước vào một thời kỳ mới của lịch sử Giai đoạn lịch sử 1945 – 1954 là một giai đoạn lịch sử khá đặc biệt, hai miền Bắc – Nam chung một nhiệm vụ kháng Pháp, là thời kỳ chiến đấu dưới ánh sáng của Đảng, thống nhất đường lối lãnh đạo, chỉ đạo chung Nằm trong dòng chảy chung của lịch sử văn học cũng có những thay đổi, vận động không ngừng để hòa nhịp vào đời sống của dân tộc, những thay đổi của lịch sử đã được phản ánh sâu sắc một phần trong văn học

Có thể nói văn học thời kỳ này mang những nét đặc trưng rất riêng.Nếu giai đoạn trước đó văn học Việt Nam bước vào quá trình hiện đại hóa với tốc

độ mau lẹ, nhanh chóng, phát triển với nhiều bộ phận, xu hướng khác nhau thì văn học thời kỳ này ngày càng hướng tới đại chúng, sáng tác với những chức năng nhiệm vụ nhất định, văn chương cũng trở thành một mặt trận chung sức vào cuộc kháng chiến của toàn dân Nền văn học được cách mạng hóa đã thể hiện được vai trò của mình trong sự nghiệp đấu tranh đánh đuổi ngoại xâm

Sự thay đổi về đường lối chỉ đạo, khiến các nhà văn cần một thời gian nhập cuộc, cần thời gian để “nhận đường”, để thích nghi và hòa mình vào không khí chung, sức sáng tạo không phải lúc nào cũng duy trì được ổn định so với giai đoạn trước, phong cách không phải ngay lập tức đã có thể được kế thừa

và phát triển để tạo ra những tác phẩm xuất sắc như ở thời kỳ trước và không phải nhà văn nào cũng có thể hòa mình, tái sáng tác ngay Dù lực lượng tác giả được bổ sung, một lớp nhà văn chiến sĩ xuất hiện, nhưng những tên tuổi lớn của thời kỳ trước đến giai đoạn đầu của thời kỳ này không phải ai cũng có

Trang 5

2

thể bắt nhịp trở lại ngay Phải chăng vì vậy văn học thời kỳ này vừa có những thành tựu vừa có những hạn chế thể hiện rất rõ những dấu ấn lịch sử của thời đại.Chính điều này đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn toàn diện và khách quan hơn, với tinh thần cởi mở hơn để có những đánh giá chính xác một giai đoạn văn học đặc biệt

1.2 Các công trình nghiên cứu về văn học kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1948 – 1954 đã khá nhiều, phong phú và đầy đủ Là một giai đoạn lớn của lịch sử văn học dân tộc, văn học thời kỳ này được nghiên cứu ở nhiều bình diện Từ cái nhìn của văn học sử tổng kết lại các đặc điểm, hệ thống lại các sáng tác, đến cái nhìn cụ thể vào các tác giả, các tác phẩm, các thể loại, các giai đoạn,… đều đã được các nhà nghiên cứu chú ý Trong đó có một nhánh nghiên cứu khá được quan tâm đó là sự tác động của tư tưởng, đường lối chỉ đạo của Đảng tới sự phát triển của văn hóa, văn học thời kỳ này Điều này cho thấy một đặc trưng của văn học giai đoạn này khá nổi bật và được các nhà nghiên cứu không chỉ trong lĩnh vực văn học chú ý tới – tính chức năng, tính minh họa của nền văn học.Tuy nhiên để tập trung làm rõ những hạn chế, những khúc quanh, đánh giá toàn diện những chỉ đạo về mặt tư tưởng đối với hoạt động của văn nghệ sĩ giai đoạn này lại chưa nhiều và thiếu tính hệ thống.Mặt khác các công trình nghiên cứu dù về cả giai đoạn hay về tác giả, tác phẩm của giai đoạn này đều chủ yếu nghiên cứu ở trạng thái tĩnh mà ít chú

ý tới sự vận động so với các giai đoạn trước và sau nó

1.3 Bên cạnh thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch là những thể loại lớn làm nên diện mạo của một nền văn học Sự vận động của các thể loại này phản ánh sự vận động và những đặc điểm riêng biệt của mỗi phân kì văn học

Ở mỗi giai đoạn sự vận động của từng thể loại này có đặc điểm riêng cần được nhìn nhận thấu đáo hơn Giai đoạn 1945 – 1954 có thể coi là giai đoạn đầu của nền văn học cách mạng nước ta Mặc dù trước đó đã có dòng văn học bất hợp pháp nhưng phải đến giai đoạn này văn học cách mạng mới được công khai, được chỉ đạo thống nhất do đó sự vận động của các thể loại trong dòng văn học này có những biến đổi rất đáng lưu tâm.Như vậy có thể nhận

Trang 6

3

thấy trong cái nhìn tổng thể về văn học kháng chiến chống Pháp không thể bỏ qua sự vận động của các thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch Đặc biệt trong những năm đầu tiên sau cách mạng tháng Tám khi các nhà văn đứng trước những thay đổi của hiện thực và đời sống tư tưởng đòi hỏi phải có

sự lột xác, “nhận đường” để tìm lại cảm hứng và sức sáng tạo

1.4 Tạp chí Văn nghệ là một tạp chí lớn trong lĩnh vực báo chí văn

chương nghệ thuật, có vai trò quan trọng trong đời sống văn học hiện đại Các tác phẩm đăng trên tạp chí này có thể phản ánh phần nào diện mạo văn học

đương thời Trong kháng chiến tạp chí Văn nghệ không chỉ đăng tải các sáng

tác của các văn nghệ sĩ mà còn là một diễn đàn để người cầm bút có những tranh luận, những trao đổi xung quanh các vấn đề về tư tưởng, về quan niệm

sáng tác ở nhiều thể loại và lĩnh vực khác nhau Tạp chí Văn nghệ còn truyền

tải những bài viết mang tính định hướng của Đảng trong lĩnh vực văn nghệ tới

các văn nghệ sĩ Điều đó cho thấy trong giai đoạn kháng chiến tạp chí Văn nghệ giống như một bức tranh thu nhỏ đời sống văn học nước nhà Từ đó

chúng tôi cho rằng tìm hiểu các tác phẩm đăng trên tạp chí này trong một giai đoạn có thể sẽ nhìn ra được những đặc điểm thể hiện sự vận động của cả một thời kỳ, một trào lưu văn học

1.5 Nghiên cứu về các thể loại như thơ, truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết giai đoạn văn học kháng chiến không còn là một đề tài mới lạ Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề này Tuy nhiên theo quan sát của chúng tôi khi nghiên cứu về thể loại, các công trình trên hầu như vẫn thiên về cái nhìn tĩnh, tách các thể loại, các tác phẩm ra để có cái nhìn chuyên sâu mà chưa đặt nó trong sự vận động và phát triển của thể loại để có cái nhìn bao quát hơn về thể loại đó trong quá trình phát triển chung của giai đoạn văn học này Do hạn chế về khuôn khổ nên luận văn của chúng tôi không có mục đích bao quát toàn bộ các vấn đề của văn học kháng chiến chống Pháp mà tập trung làm rõ sự vận động của một số thể loại trong giai đoạn này được đăng

trên tạp chí Văn nghệ

Trang 7

4

Từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài: Truyện ngắn, tiểu thuyết

và kịch trên tạp chí Văn nghệ 1948 -1954 làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Các công trình nghiên cứu về văn học giai đoạn kháng chiến chống Pháp rất phong phú, đa dạng, có nghiên cứu về tác giả, có nghiên cứu về tác phẩm tiêu biểu, có nghiên cứu hệ thống về cả giai đoạn Có thể chia các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn thành các hướng: các nghiên cứu về

tạp chí Văn nghệ, các nghiên cứu về thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch,

các nghiên cứu về các tác giả chính của văn học giai đoạn này Khối lượng các công trình nghiên cứu tương đối lớn đặc biệt là ở hướng thứ ba Ở đây chúng tôi đề cập nhiều hơn tới các công trình có liên quan trực tiếp tới đề tài luận văn của mình

2.1 Các công trình nghiên cứu có tính khái quát, văn học sử về cả thời kỳ văn học 1945 – 1954

Công trình đầu tiên chúng tôi muốn kể tới là cuốn Văn học Việt Nam kháng chiến chống Pháp 1945- 1954 của các nhà nghiên cứu Phong Lê, Vũ

Tuấn Anh, Vũ Đức Phúc do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm

1986 Ở công trình này các nhà nghiên cứu phác họa lại toàn cảnh văn học kháng chiến thông qua các thể loại như lý luận, phê bình, văn xuôi, thơ ca và sân khấu Các nhà nghiên cứu cho rằng văn học giai đoạn này có ý nghĩa nền tảng, khi đánh giá tìm hiểu về các tác phẩm của văn chương kháng chiến cần

mở rộng trường cảm xúc Đồng thời tác giả cũng đặt ra nhiều câu hỏi để

chúng tôi tiếp tục sự đánh giá tìm hiểu của mình về đối tượng …khi thơ ca tự nguyện rời các môi trường cảm xúc quen thuộc… để chuyển sang tình cảm công dân rộng lớn, để trở thành tiếng nói của quần chúng, dẫu trong buổi dầu còn dấu ấn bắt chước và khó tránh khỏi bỡ ngỡ Một bước tiến hay thụt lùi khi không ít người viết phải từ bỏ hoặc gác lại cái ước mơ viết truyện và tiểu thuyết vốn đã là loại hình quen thuộc trước 1945 để trở lại những trang văn ngắn, những mẩu chuyện mà từng câu văn, từng chữ dùng phải được kiểm tra nghiêm ngặt trước câu hỏi: viết cho ai? [18,261] Những câu hỏi đó

Trang 8

5

đòi hỏi chúng ta khi đánh giá, nhìn nhận văn học kháng chiến phải có cái nhìn khái quát, toàn diện và biện chứng đặt trong nhiều mối quan hệ chứ không chỉ

là những đánh giá đơn giản một chiều

Ngoài công trình kể trên chúng tôi đặc biệt chú ý tới công trình Văn học Việt Nam 1945 – 1954 của tác giả Mã Giang Lân do nhà xuất bản Giáo

dục chuyên nghiệp xuất bản lần đầu năm 1990 và được Nhà xuất bản Giáo dục tái bản có bổ sung ở những năm sau Trong công trình này nhà nghiên cứu Mã Giang Lân chia văn học 1945 - 1954 thành 2 giai đoạn: văn học Việt Nam đầu cách mạng (1945-1946), văn học Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) Như vậy có thể thấy đối tượng mà luận văn tìm hiểu thuộc giai đoạn thứ hai, văn học kháng chiến chống thực dân Pháp Ở phần

viết khái quát ông chỉ ra 3 đặc điểm của văn học thời kỳ này là: phong trào sáng tác sâu rộng, lực lượng sáng tác được bổ sung Trình độ người sáng tác

và công chúng văn học được nâng lên [14,18]; đối tượng miêu tả của văn học

là quần chúng nhân dân Nhân vật cá thể chưa được khai thác, hình tượng tập thể, nhân vật tập thể chưa xuất hiện nhiều; Công tác lý luận phê bình thực

sự có tác dụng định hướng cho sáng tác [14,19] Cũng trong công trình này,

Mã Giang Lân viết: so với truyện, ký và kịch nói thì thơ là loại hình có thành tựu hơn, ít minh họa hơn [14,162] Nhận xét về văn xuôi của giai đoạn này, ông viết: văn xuôi giai đoạn này chưa đạt được những mục tiêu cần thiết [14,108], Cho nên văn xuôi thời kỳ chống thực dân Pháp vẫn là giai đoạn bản

lề [14,109] Kết luận về kịch kháng chiến ông chỉ ra các đặc điểm: kịch kháng

chiến thường là những vở kịch ngắn ít dàn dựng công phu, mang tính quần chúng, sự phát triển bồng bột, sôi động và rộng khắp cả về sáng tác và biểu diễn, xuất hiện phương thức sáng tác có tổ chức là sáng tác tập thể Những đánh giá của nhà nghiên cứu Mã Giang Lân chưa đề cập sâu tới sự vận động của thể loại mà thiên về khái quát bức tranh văn học sử Ông cũng không có

những đánh giá chung về các sáng tác được đăng trên tạp chí Văn nghệ

Cũng trong hướng nghiên cứu này trong cuốn giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại tập 2 (Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945) của Đại học

Trang 9

6

Sư phạm Hà Nội do Nguyễn Văn Long chủ biên, chúng tôi nhận thấy các tác giả không chia tách giai đoạn 1945- 1954 và 1954-1975 mà nhìn nhận đánh giá chung cho cả thời kỳ 1945-1975 Trong đó cuốn giáo trình không dành quá nhiều dung lượng cho phần khái quát, hệ thống các vấn đề mà đi sâu vào từng thể loại với các tác giả tiêu biểu của từng thể loại ấy Ví dụ như Thơ

1945 – 1975 với các tác giả như Tố Hữu, Chế Lan Viên, thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mỹ,… Ở chương đầu tiên khái quát chung về nền văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975 phần dành riêng trình bày cho giai đoạn văn học 1945-1954 chỉ chiếm khoảng 2 trang sách với những nét phác họa cơ bản Cuốn giáo trình cũng đã chỉ ra được những đặc điểm nổi bật của văn học thời kỳ này, những thành tựu và hạn chế Trong đó tác giả

cho rằng “Coi trọng việc phản ánh hiện thực trong quá trình phát triển cách mạng, điều này dễ dẫn đến việc lược quy sự đa dạng, phức tạp của hiện thực đời sống vào những mô hình mang tính đơn giản quy phạm, vào những hướng giải quyết có tính công thức và dường như đã được định trước” [23,26], hay

về mặt nghệ thuật nghèo đi nhiều khả năng và sức mạnh của hư cấu tưởng tượng, hạn chế sự đa dạng của các thủ pháp nghệ thuật [23,26], đôi khi để có

tính thời sự phục vụ nhiệm vụ chính trị văn học có thể bị rơi vào lối viết minh

họa, giản đơn, dễ dãi, nhà văn dường như thiếu sự hiểu biết sâu sắc đời sống

và thiếu bản lĩnh tư tưởng [23,26] Những nhận xét này tuy là dành chung cho

cả giai đoạn văn học 1945-1975 nhưng cũng khá tương đồng với các đánh giá của các tác giả khác khi nhìn nhận riêng giai đoạn 1945-1954

2.2 Các nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm trong giai đoạn 1945 – 1954

Ngoài những công trình văn học sử có tính khái quát, hệ thống cao có rất nhiều các công trình khác nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm trong giai đoạn này như các nghiên cứu về kịch Nguyễn Huy Tưởng, kịch Nguyễn Đình Thi, truyện ngắn Nguyên Hồng, Kim Lân, Nam Cao, Tô Hoài,… Có thể kể

tên một vài luận án tiến sĩ công phu như Nguyễn Đình Thi với thơ và kịch năm 2005 của Lê Thị Chính, Phong cách nghệ thuật Nguyễn Huy Tưởng

năm 2015, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội của Nguyễn

Trang 10

là nghiên cứu chung về sáng tác của nghệ sĩ chứ không xoáy sâu vào giai đoạn 1948 – 1954 hoặc nếu có tiếp cận thì thường được xem xét như một giai đoạn trong nhiều giai đoạn sáng tác của các tác giả chứ chưa được nhìn như một giai đoạn độc lập để nghiên cứu chuyên sâu hơn Đồng thời chúng tôi nhận thấy các công trình này tiếp cận theo hướng cụ thể vì thế thường không

có cái nhìn hệ thống về cả thể loại trong giai đoạn văn học sử để xem xét và đánh giá Tuy nhiên các công trình có ưu điểm ra đánh giá, tìm hiểu rất sâu về tác giả, có những kết luận sâu sắc về phong cách sáng tác của nhà văn Đó cũng là những gợi ý cho chúng tôi khi tiếp cận đề tài của mình

2.3 Nghiên cứu về tờ tạp chí Văn nghệ

Hướng nghiên cứu thứ ba, chúng tôi quan tâm tới là những tài liệu tìm

hiểu về tạp chí Văn nghệ, vai trò và vị trí của tạp chí này trong đời sống văn

học Ở nhánh này chúng tôi hầu như không thu được tài liệu nào đáng kể Từ năm 1998 đến năm 2007, các nhà nghiên cứu đã tiến hành sưu tập lại các ấn

bản từng kì của tạp chí Văn nghệ trong những năm kháng chiến chống Pháp,

nhà xuất bản Hội nhà văn đã công bố đầy đủ trong bộ 7 tập sách này Bộ sưu tập trở thành một hệ thống tài liệu đầy đủ, chính xác và đáng tin cậy Đây chính là cơ sở để chúng tôi tiến hành khảo sát đối tượng của mình

Qua khảo sát tình hình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng, nguồn tài liệu phong phú, đa dạng, đưa ra nhiều nhận định đáng chú ý Các tài liệu này theo thời gian với độ lùi lịch sử ngày càng có cái nhìn dân chủ và khách quan hơn trong đánh giá những thành tựu và hạn chế của văn học giai đoạn này Các tài liệu nghiên cứu về văn học giai đoạn này đã làm được:

- Hệ thống được diện mạo chung của văn học giai đoạn kháng chiến chống Pháp

Trang 11

8

- Chỉ ra được các đặc điểm cơ bản của văn học thời kì này

- Chỉ ra được những thành tựu và hạn chế

- Hệ thống được những tác giả, tác phẩm tiêu biểu

- Nghiên cứu được phong cách các tác giả lớn

Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về sự vận động của thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch ở giai đoạn 1948 – 1954 đặc

biệt là với các tác phẩm đăng trên tạp chí Văn nghệ thì hầu như chưa có Bên

cạnh đó các hạn chế được nhắc tới rất khiêm tốn chưa thực sự là vấn đề được quan tâm nhìn nhận và đánh giá khách quan Các nhà nghiên cứu dường như vẫn còn né tránh mà chưa so sánh để thấy được sự phát triển cũng như hạn chế của văn học thời kỳ này so với các thời kỳ trước và sau nó Vì vậy những

lí giải về nguyên nhân của những hiện tượng trên trong đời sống văn học giai đoạn này cũng chưa thực sâu sắc

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: làm rõ được các đặc điểm của truyện ngắn, tiểu thuyết và

kịch đăng trên tạp chí Văn nghệ từ 1948 – 1954, sự vận động so với văn học

giai đoạn trước, giải thích được những khúc quanh, hạn chế

- Nhiệm vụ:

+ Phác họa lại diện mạo của đời sống văn học nói chung, diện mạo của

các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch nói riêng trên tạp chí Văn nghệ

+ Đánh giá sự vận động của các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch đăng trên tạp chí Văn nghệ giai đoạn 1948 – 1954

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: sự vận động của thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch

trên tạp chí Văn nghệ giai đoạn kháng chiến chống Pháp 1948 – 1954;

Ngoài ra tuy không phải là đối tượng chính của luận văn nhưng chúng tôi có tìm hiểu thêm về tạp chí Văn nghệ, về hoạt động và vai trò của tạp chí trong đời sống văn học lúc bấy giờ

- Phạm vi: Các tác phẩm văn học thuộc thể loại truyện ngắn, tiểu

thuyết và kịch đăng trên tạp chí Văn nghệ giai đoạn 1948 – 1954 và tiểu

Trang 12

9

thuyết Xung kích (không được chọn đăng nhưng được giải trong cuộc thi do

Hội Văn nghệ tổ chức và được giới thiệu, đánh giá trên tạp chí Văn nghệ)

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: phương pháp nghiên cứu trào lưu, giai đoạn,

nghiên cứu tác phẩm

- Phương pháp nghiên cứu: thống kê để hệ thống các tác phẩm được

chọn đăng thuộc thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch trên tạp chí Văn nghệ; phân tích, so sánh để làm rõ giá trị các tác phẩm văn học giai đoạn này;

thi pháp học để có cái nhìn chính xác về nghệ thuật biểu hiện của các tác phẩm; xã hội học để lý giải được các biểu hiện, các hạn chế của văn học thời

kỳ này dưới cái nhìn khách quan, khoa học,…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: làm rõ hơn các đặc điểm của một giai đoạn văn học

được thể hiện qua các tác phẩm đăng trên tạp chí Văn nghệ, qua đó có cái

nhìn tổng thể và toàn diện về sự vận động của văn học kháng chiến chống Pháp nói riêng và văn học sau 1945 nói chung

- Ý nghĩa thực tiễn: làm cơ sở cho các nghiên cứu sau, ứng dụng trong

giảng dạy, cung cấp thêm tư liệu,…

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Diện mạo của truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch trên Tạp chí Văn

Trang 13

10

Chương 1 DIỆN MẠO CỦA TRUYỆN NGẮN, TIỂU THUYẾT VÀ

KỊCH TRÊN TẠP CHÍ VĂN NGHỆ GIAI ĐOẠN 1948 - 1954

Trong lịch sử văn học dân tộc, giai đoạn văn học kháng chiến chống Pháp không quá dài về thời gian nhưng lại có một ý nghĩa lớn Đây là giai đoạn đầu tiên của nền văn học Cách mạng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng trên nhiều lĩnh vực đời sống trong đó có văn học nghệ thuật Nếu trước đó nền văn học dân tộc có một cuộc vận động lớn để hiện đại hóa chính mình thì 9 năm kháng chiến chống Pháp là giai đoạn nền văn học cách mạng hóa để hòa vào đời sống chung của dân tộc, thực hiện những nhiệm vụ của cuộc kháng chiến Sự thay đổi đó không đơn giản mà nó là cả một quá trình trong đó mỗi nhà văn cũng phải tự vượt mình, tìm mình để dần dần thích nghi với một giai đoạn lịch sử mới Song sự vận động đó cũng là một lẽ tất yếu khi bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội biến động thì văn chương cũng không thể đứng im Giai đoạn văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã gặt hái được những thành tựu lớn Nhưng văn học kháng chiến chống Pháp có thể tiếp tục những thành tựu đó không, tiếp tục phát triển hay có những bước thụt lùi về thành tựu? Vấn đề này cần được nhìn nhận một cách khách quan và khoa học để có thể có những đánh giá chính xác và những kiến giải phù hợp Chúng tôi tiếp cận văn học giai đoạn 1948 – 1954 thông

qua các tác phẩm đăng trên tạp chí Văn nghệ là để có cái nhìn toàn diện về

một giai đoạn văn học đặc biệt là qua sự vận động của những thể loại lớn Với

ý đồ như vậy, chương 1 để phác họa lại những vấn đề chung từ đó làm cơ sở

để phân tích kĩ hơn những tác phẩm, tác giả cụ thể trong từng thể loại ở những chương sau

1.1 Đời sống văn chương 1948 – 1954 và tạp chí Văn nghệ

1.1.1 Đời sống văn chương 1948 – 1954

Các tiền đề xã hội lịch sử

Trang 14

11

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một trang mới cho lịch sử dân tộc Thắng lợi của cách mạng tháng Tám không chỉ đánh đuổi thực dân Pháp với hơn 80 năm đô hộ nước ta, đánh đổ nhà nước phong kiến chuyên chế mà còn xây dựng mô hình nhà nước dân chủ với sự lãnh đạo của Đảng cộng sản hướng tới chủ nghĩa xã hội Ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hòa Sự kiện lịch sử ấy đã đánh một dấu son chói lọi, mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc Ngày 6/1/1946, Quốc hội đầu tiên của nước ta được bầu thông qua tổng tuyển cử và sau đó là sự ra đời của Hiến pháp Một nhà nước độc lập và dân chủ thực sự được hình thành

Ngay sau khi ra đời không được bao lâu, nhà nước non trẻ ấy lại đối mặt với vô vàn những thách thức khó khăn Thực dân Pháp theo gót thực dân Anh, quay trở lại xâm lược Đông Dương, Tưởng Giới Thạch với hai trăm ngàn quân gây khó khăn cho ta ở miền Bắc Bằng các chính sách ngoại giao vừa mềm dẻo vừa cứng rắn chúng ta đã buộc được Tưởng Giới Thạch rút quân về nước, kí được các hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) và Tạm ước (14/9/1946) với Pháp Nhưng Pháp không từ bỏ dã tâm, quyết quay trở lại xâm lược nước ta lần nữa, đất nước chưa kịp xây dựng lại bước vào một giai đoạn chiến tranh mới Ngày 19/12/1946, Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ khi sự chuẩn bị còn chưa thực chu đáo

Trước 1945, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thuộc địa, phụ thuộc mẫu quốc Pháp có đầu tư phát triển một số ngành nhưng vẫn giữ độc quyền

và theo hướng khai thác để phục vụ các hoạt động kinh tế của Pháp Sau cách mạng tháng Tám, thời gian hòa bình để chúng ta xây dựng kinh tế, văn hóa, giáo dục,… chưa được bao lâu lại bước vào kháng chiến kéo dài Do đó nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, nông nghiệp bị gián đoạn, ảnh hưởng bởi chiến tranh, đời sống nhân dân còn đói kém…

Trang 15

12

Về đời sống văn hóa, xã hội, ngay sau khi thành lập nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chính phủ đặc biệt quan tâm tới việc diệt giặc đói và giặc dốt Phong trào bình dân học vụ, xóa mù chữ được mở ra và phát triển mạnh, góp phần rất lớn vào việc nâng cao dân trí, mở mang đời sống văn hóa cho nhân dân Theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến các cơ quan dân chính cũng chuyển lên chiến khu Một số trường đại học được mở ra Các máy móc phục vụ in ấn, sản xuất vũ khí, các thiết bị phục vụ cho giáo dục, y tế cũng được di tản lên chiến khu theo Cuộc sống kháng chiến bắt đầu song song với cuộc sống ở các vùng địch tạm chiến Không gian sống bị chia cắt thành nhiều mảnh, với nhiều vùng, nhiều đặc điểm khác nhau Các hoạt động của đời sống vẫn diễn ra bất chấp chiến tranh Các trí thức trẻ yêu nước được kêu gọi đã ra sức đóng góp cho đất nước trong những ngày đầu còn nhiều khó khăn, gian khổ ấy Tất cả các hoạt động đó diễn ra với tốc độ mau lẹ tạo nên một không khí sôi nổi và hào hứng bên cạnh những khó khăn chất chồng

Tuy nhiên đời sống tư tưởng lại có nhiều xáo trộn Nhiều luồng tư tưởng trái chiều, mâu thuẫn nhau không chỉ ở bên ngoài mà bên trong mỗi người nghệ sĩ, người trí thức cho tới những người lao động chân tay Theo hay không theo cách mạng? tản cư hay không tản cư? nhập cuộc hay đứng ngoài cuộc kháng chiến? Thái độ nào là hợp lý và đúng đắn trước tình hình chính trị, xã hội trước mắt Những băn khoăn, giằng co đó phải cần một thời gian để có sự chuyển biến đồng loạt Sau một thời gian, các văn nghệ sĩ có mức độ nhập cuộc khác nhau nhưng phần đông đều đi theo cách mạng, có nhiệt tình cách mạng Nền văn hóa theo hướng chủ nghĩa xã hội dần hình thành Dù rằng vẫn trên tình thần “nhận đường” và chưa có nhiều thành tựu lớn song nền văn hóa văn nghệ giai đoạn này có thể nói đã bắt nhịp nhanh chóng với những biến đổi của lịch sử dân tộc

Trong văn hóa nghệ thuật cũng có những sự kiện lớn Sự ra đời của Hội Văn nghệ Việt Nam (tháng 8.1948) và Hội Văn hóa Việt Nam (tháng

Trang 16

13

7.1948) có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống văn hóa nghệ thuật lúc bấy giờ Ở các chiến khu, liên khu các lớp học liên tục được tổ chức Đó là những lớp học huấn luyện và cải tạo chỉnh huấn tư tưởng Chính những lớp học này

đã làm thay đổi, đả thông tư tưởng cho nhiều văn nghệ sĩ Nhưng những lớp học này cũng có những hạn chế làm giảm đi hiệu quả ứng dụng vào thực tế sáng tác của các nhà văn Ngoài ra còn có các hội nghị văn nghệ được tổ chức gấp gáp Có thể nói chưa bao giờ đời sống tư tưởng của các nhà văn lại được quan tâm và định hướng một cách rõ nét đến vậy Các lớp học đó tuy chưa được ứng dụng hiệu quả vào sáng tác thực tế nhưng lại giúp các nhà văn nhập cuộc nhanh chóng với kháng chiến, cách mạng, làm giảm đi những mâu thuẫn, giằng co trong tư tưởng người nghệ sĩ

Diện mạo văn chương

Với quan niệm văn chương nghệ thuật cũng là một mặt trận và người nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy Đảng, Chính phủ rất coi trọng việc xây dựng nền văn chương nghệ thuật cách mạng Các hoạt động văn hóa, văn nghệ được tổ chức hàng loạt nhằm thúc đẩy người nghệ sĩ rũ bỏ những ám ảnh của thời kì trước, bước vào thời kì mới với nhận thức và tư tưởng đã được thấm nhuần Các hoạt động như: tổ chức học tập, thảo luận những báo cáo

quan trọng có tính định hướng như các báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam – Trường Chinh năm 1948; Xây dựng nền văn nghệ nhân dân – Tố

Hữu năm 1949, tổ chức nhiều hội nghị tranh luận về các vấn đề của văn nghệ

như: Hội nghị Tranh luận văn nghệ tại Việt Bắc tháng 3/1949; xây dựng và

kiện toàn hội Văn nghệ Việt Nam… Đảng cũng xác định rõ ràng phương châm, đường lối chỉ đạo với văn học nghệ thuật đó là người nghệ sĩ phải cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt để xây dựng một nền văn nghệ dân tộc, khoa học, đại chúng Văn nghệ sĩ vừa là người cầm bút sáng tác nhưng cũng là những người cầm súng sẵn sàng lên đường chiến đấu Chính những hoạt động từ tư tưởng nhận thức tới những hoạt động thực tế đã khiến

Trang 17

sử có sự thay đổi lớn lao, hiện thực đời sống biến đổi từng ngày Quá trình ấy diễn ra ở mỗi nhà văn cũng có nhiều khác biệt và cũng vẫn còn những nghệ sĩ gặp nhiều khó khăn để nhập cuộc trở lại, để sáng tác và tìm lại cảm hứng Tuy nhiên có thể khẳng định công tác tư tưởng cho văn nghệ sĩ của Đảng, Chính phủ đã rất thành công, những văn nghệ sĩ trước cách mạng tháng Tám với nhiều phong cách, cá tính khác nhau phần lớn đã được đả thông về mặt tư

tưởng và đón nhận cuộc kháng chiến với thái độ tích cực

Thể loại mau chóng có sự bắt nhịp với đời sống mới hơn cả có lẽ là thơ

ca Không những bắt nhịp trở lại nhanh mà thể loại này còn có sự phát triển khá ổn định và có nhiều thành tựu hơn so với các thể loại khác Xuân Diệu,

Tố Hữu, Trần Mai Ninh, Thâm Tâm,… với các tác phẩm mang cảm hứng

lãng mạn cách mạng như Ngọn quốc kỳ, Huế tháng Tám, Tình sông núi, Mùa thu mới,… đã mang tới một niềm vui sướng, tự hào, tình yêu với cuộc đời mới Sau đó là một lớp các nhà thơ mới xuất hiện như Quang Dũng (Tây Tiến), Chính Hữu (Đồng chí, Ngày về), Hoàng Cầm (Bên kia sông Đuống), Nguyễn Đình Thi (Sáng mát trong, Đêm mít tinh)… mà ở mỗi nhà thơ dường

như đều có một ý thức tìm tòi riêng, cá tính riêng Có nhiều nhà thơ trẻ có những nỗ lực tìm tòi, sáng tạo để có những hình thức thơ mới mẻ khác lạ nhưng không được hưởng ứng, thậm chí bị phê phán nên các nhà thơ chủ yếu sáng tác theo hướng quần chúng hóa, đại chúng hóa Bên cạnh đó còn có các nhà thơ quần chúng với các sáng tác ca ngợi cuộc kháng chiến và lãnh tụ như

Nhớ bác Hồ của Nguyễn Bá Dậu… Tố Hữu vẫn giữ vị trí tiên phong trong

Trang 18

15

thơ ca cách mạng với tập thơ Việt Bắc như một thành tựu nổi bật của thơ ca

giai đoạn này Trong thơ ta thấy rõ sự chuyển giao thế hệ, sự phát triển của các nhà thơ trẻ và xu hướng chuyển từ những cảm xúc cá nhân sang cảm xúc giai cấp, dân tộc

Văn xuôi ban đầu dường như kém khởi sắc hơn so với thơ ca nhưng càng về sau càng bám sát đời sống kháng chiến, mở rộng phản ánh hiện thực Trên báo chí đã xuất hiện những tiểu thuyết, kí sự dài Nếu như lúc ban đầu ta chỉ thấy các sáng tác lác đác của Nam Cao, Trần Đăng thì từ khoảng những năm 1950 trở đi đã có nhiều nhà văn góp mặt trong văn xuôi kháng chiến hơn Các cây bút văn xuôi cũng như ở thơ có sự tiếp nối thế hệ rất rõ ràng thậm chí những cây bút trẻ trưởng thành trong kháng chiến cũng để lại những dấu ấn đậm nét không kém gì các tác giả thuộc thế hệ trước đó

Về tiểu thuyết: Nguyễn Đình Thi với Xung kích, Võ Huy Tâm với Vùng

mỏ, Nguyễn Văn Bổng với Con trâu Đây là bộ ba tiểu thuyết của văn học

kháng chiến chống Pháp Có thể thấy rằng tiểu thuyết không phải là thể loại được mùa của văn chương kháng chiến nhưng bước đầu đã tạo được nền tảng cho sự phát triển của thể loại này ở giai đoạn sau

Về truyện ngắn: Tô Hoài với Tập truyện Tây Bắc, các tên tuổi đã quen thuộc như Thanh Tịnh (Đồng chí Dân Nam ơi), Nguyên Hồng (Con nuôi bếp Ba)

và cả những tác giả mới như Hồ Phương với Thư nhà, Lưỡi mác xung kích, …

Về kí: có Trận Phố Ràng của Trần Đăng, Ký sự Cao Lạng, Thắng từ biên giới của Nguyễn Huy Tưởng, Thái Bình căm hờn của Lê Đại Thanh, San phẳng đồn Nà Han của Nguyễn Đình Thi, Đốt cháy vị trí Thái Đào của Kim Lân, Những ngày làm lính của Trần Quang Đa, Thôn Dẻ ăn tết của Nguyên Hồng, Hạ đồn Dóm một trận chớp nhoáng kỳ diệu của Đoàn Phú Tứ, Voi đi của Siêu Hải, Những kẻ sống sót (hay là chuyện tù binh) của Phạm Văn Khoa; Tùy bút Đường vui, Ngoài này, trong ấy của Nguyễn Tuân, Người Hà Nội đi

Trang 19

16

kháng chiến của Nguyễn Tuân, Thế Lữ, Tô Ngọc Vân, Mai Văn Hiến,

Nguyễn Huy Tưởng…

Ở thời kỳ này có thể thấy được sự phát triển của thể kí và sự xâm nhập của thể loại này vào các thể loại khác như truyện ngắn, tiểu thuyết,… Chất kí

sự đã trở thành một đặc điểm của văn xuôi giai đoạn này Có thể nói, kí là một thể loại phù hợp với hiện thực đời sống đang thay đổi gấp gáp, liên tục của cuộc sống kháng chiến lúc bấy giờ

Tiếng vang đầu tiên trong thể loại kịch cách mạng có lẽ là vở Bắc Sơn

năm 1946 của Nguyễn Huy Tưởng Sau đó phong trào sáng tác và biểu diễn kịch diễn ra khá mạnh Nhiều vở kịch dù chỉ là kịch cương chưa có hàm lượng nghệ thuật cao song lại có được sự phong phú về đề tài và thể loại So với các thể loại khác có thể kịch không có nhiều tác phẩm đạt tới độ kết tinh

về nghệ thuật, thậm chí có xu hướng phá vỡ tính chặt chẽ, mẫu mực của thể loại kịch ở giai đoạn trước nhưng kịch lại có vai trò tác dụng đi đầu trong công tác tuyên truyền cách mạng và tạo ra đời sống văn hóa nghệ thuật sôi nổi cho nhân

dân, bộ đội Có thể kể tới một số vở kịch ở thời kỳ này như: Những người ở lại, Người cũ (Nguyễn Huy Tưởng), Chị Nhu, (kịch tập thể), Bình nghị (Trần

Hoạt)… So với các thể loại còn lại, kịch có tốc độ phát triển, bắt nhịp dường như chậm hơn, các thành tựu nghệ thuật ít hơn, lực lượng sáng tác cũng chưa đông đảo bằng nhưng kịch đã góp một phần không nhỏ vào việc đưa văn hóa văn nghệ về với quần chúng, thu hút được sự chú ý của nhân dân

Đặc biệt trong giai đoạn này hoạt động lý luận phê bình có nhiều khởi

sắc Trên tạp chí Văn nghệ các bài viết lý luận, phê bình văn học tập trung vào

mấy hướng sau:

Thứ nhất, những bài viết giới thiệu lý luận văn nghệ các nước xã hội chủ nghĩa anh em như Trung Quốc, Tiệp Khắc, Liên Xô,… Các bài viết này không quá nhiều nhưng phần nào mở ra những hướng nhìn mới, giúp các văn nghệ sĩ tiếp cận với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa Nếu

Trang 20

17

trước đó chúng ta có thời kỳ dài của văn học trung đại chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, sau đó là của phương Tây và đặc biệt là Pháp thì đến thời kỳ này cùng với việc giới thiệu nền văn học các nước xã hội chủ nghĩa, các nhà văn kháng chiến được biết tới một phương pháp sáng tác mới

Thứ hai, những tập trung vào việc khẳng định mối quan hệ gắn bó giữa văn nghệ và kháng chiến, loại hình văn học kháng chiến Có thể kể đến các

bài viết như Mấy thắc mắc về văn nghệ (trích Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam) của Trường Chinh, Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa (1951) của Hồ Chí Minh, bài thuyết trình Xây dựng văn nghệ nhân dân

của Tố Hữu trong Hội nghị tranh luận năm 1949… Các bài viết này có tính định hướng sâu sắc, xác lập quan hệ giữa nghệ thuật với tuyên truyền, chức năng và nhiệm vụ của nền văn chương kháng chiến

Thứ ba, những bài tiểu luận có giá trị, nghiên cứu chuyên sâu về một vấn

đề của văn chương nghệ thuật Có thể kể tới Nhận đường của Nguyễn Đình Thi; Kháng chiến và văn hoá của Đặng Thai Mai, Tiếng thơ của Xuân Diệu… là

những thí dụ Những bài viết giá trị này đã trở thành những gợi mở, định hướng, khai thông tư tưởng cho không ít văn nghệ sĩ lúc bấy giờ trên hành trình hòa nhập với kháng chiến và sáng tạo văn chương nghệ thuật của mình

Thứ tư, các hội nghị, các tranh luận về vấn đề văn hóa nghệ thuật như Hội nghị Văn nghệ toàn quốc (1948), Hội nghị Văn nghệ bộ đội (1949), Hội nghị tranh luận Văn nghệ Việt Bắc (1949), Hội nghị tranh luận sân khấu (1950), Những chuẩn bị cho Đại hội liên hoan Văn công toàn quốc (1954) và các cuộc tranh luận giữa Tô Ngọc Vân với Đặng Thai Mai

(số 2/1948) về Tranh tuyên truyền và hội họa, rộng ra là nghệ thuật với tuyên truyền; tranh luận giữa Hà Xuân Trường (số 15&16/1949 dưới bút danh Lê Trọng Lâm), Nguyễn Đình Thi (số 24/1950) với Tô Ngọc Vân về bài Học hay không học? thực chất là về vấn đề quần chúng và tiếp nhận nghệ thuật cũng

của Tô Ngọc Vân (số 10/1949)… đã tạo ra không khí tranh luận, đấu tranh sôi

Trang 21

18

nổi trong giới văn nghệ sĩ Những cuộc tranh luận như vậy tuy còn nhiều vấn

đề cần đánh giá một cách khách quan nhưng góp phần thúc đẩy đời sống văn nghệ lúc bấy giờ

Thứ năm, những bài dịch thuật tiếp nhận tư tưởng lý luận phê bình văn

học nghệ thuật thế giới như Vì sao tôi viết tiểu thuyết của Lỗ Tấn đăng trên số

3 năm 1948 do Phan Khôi dịch, Phải thấm nhuần đường lối văn nghệ Mao Trạch Đông của Chu Dương đăng trên số 36, 37 năm 1952 không rõ người dịch, bài Vấn đề trí thức về xã của Đinh Linh đăng trên số 42 năm 1953 do Ng.Y dịch, bài Bàn về phong trào văn nghệ nông thôn của Trần Hoàng Môi

đăng trên số 46 năm 1953 do Hồng Lực dịch,…

Nhìn chung hoạt động phê bình, lý luận văn học thời kỳ này còn nặng

về kinh nghiệm, tính học thuật chưa cao, đôi khi còn đơn giản nhưng thể hiện được nhiệt tình cách mạng của giới văn nghệ sĩ lúc bấy giờ Các bài viết không phải là những vấn đề lý luận được chắt lọc từ những nghiên cứu rút ra

từ sách vở, từ các trường phái lý thuyết mà được hình thành từ chính thực tiễn cuộc kháng chiến của dân tộc Do đó nó vừa có giá trị nhưng cũng vừa có những hạn chế Đồng thời chúng ta nhận thấy trong năm hướng chúng tôi kể trên các bài viết thể hiện tư tưởng đường lối chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động văn hóa nghệ thuật chiếm số lượng lớn ở tất cả các hướng Từ các bài giới thiệu về nghiên cứu phê bình của các nước xã hội chủ nghĩa, đến các cuộc tranh luận, các bài viết mang tính chỉ đạo, “nhận đường”,… đều thể hiện

rõ tính định hướng của Đảng, Cách mạng đối với đời sống văn nghệ Đây chính là một đặc điểm mới mẻ của văn học giai đoạn này

Ngoài ra tạp chí Văn nghệ còn là nơi giới thiệu các tác giả, tác phẩm

mới cùng với cuộc thi sáng tác do Hội Văn nghệ Việt Nam tổ chức đã góp phần thúc đẩy hoạt động sáng tác, đặc biệt là ở những cây bút trẻ Ví dụ như

Xuân Diệu giới thiệu, bình phẩm tập Thơ ca kháng chiến của Tú Mỡ (số 36/1952) Hoàng Trung Thông phê bình Con trâu của Nguyễn Văn Bổng (số

Trang 22

19

43/1953), Trận Thanh Hương của Nguyễn Khắc Thứ (số 44/1953), Vùng

mỏ của Võ Huy Tâm (số 52/1954),… Bài Nam Cao của Nguyễn Đình Thi (số

53/1952) là một trong số những bài phê bình có giá trị Bên cạnh đó là các

cuộc thi được tổ chức như Giải thưởng văn nghệ năm 1951 – 1952 và 1954 –

1955 Giải thưởng năm 1951 -1952 được trao giải ngoại hạng của thể loại

truyện và ký sự cho tác phẩm Truyện anh hùng và chiến sĩ thi đua, giải nhất là tiểu thuyết Vùng mỏ của Võ Huy Tâm; giải nhất Thơ được trao cho toàn bộ

các tác phẩm thơ ca kháng chiến của Tú Mỡ; các thể loại khác như kịch và dịch thuật không có giải nhất, chỉ có giải ba và giải khuyến khích Giải

thưởng văn nghệ năm 1954 – 1955 trao giải nhất cho tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, tiểu thuyết Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Truyện Tây Bắc của

Tô Hoài Các thể loại kịch, ký sự và dịch thuật văn học không có tác phẩm nào được giải nhất, chỉ có giải ba và giải khuyến khích Ngoài ra còn có giải thưởng Phạm Văn Đồng do Liên khu 5 đứng ra tổ chức năm 1952 trao giải

nhất về thơ cho tập Nhân dân một lòng của Tế Hanh, giải nhì về văn xuôi cho tiểu thuyết Con trâu của Nguyễn Văn Bổng; kịch và tuồng được trao giải ba với vở Chị Ngộ của Nguyễn Lai Các địa phương khác như Nam Bộ cũng

phát động cuộc thi sáng tác văn nghệ và trao giải Cửu Long Giang

(1949-1950) cho truyện ngắn Con đường sống và tập truyện Anh Tư dân quân của

Minh Lộc, các thể loại khác không có giải nhất Ngoài ra, giải thưởng này còn trao cho một số tác giả có công lao với kháng chiến và văn nghệ, như thi sĩ Việt Ánh, họa sĩ Huỳnh Văn Gấm, nhà văn Xích Liên, họa sĩ Nguyễn Cao Thương, nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Bạch Năm 1951-1952, giải văn nghệ Cửu

Long Giang trao giải nhất cho truyện ngắn Bên rừng Cù Lao Dung của Phạm Anh Tài, cho tập thơ Anh Ba Thắng của Việt Ánh Những giải thưởng này

chính là những ghi nhận, động viên, khuyến khích hoạt động sáng tác của nhà văn thúc đẩy đời sống văn chương phát triển

Trang 23

20

Nhìn chung văn học giai đoạn này là một nền văn học mới với những nhiệm vụ lịch sử lớn lao Đánh giá một cách khách quan thì thực sự chưa có nhiều thành tựu nghệ thuật kết tinh, chưa có những tác phẩm đặc biệt xuất sắc nhưng nó lại có những giá trị riêng trong sự vận động và phát triển của văn học dân tộc Nó tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ hơn của văn chương kháng chiến chống Mỹ Dù là nền văn học chiến tranh trong bối cảnh thiếu thốn và bước đầu xây dựng theo một hướng mới so với giai đoạn văn học trước đó nhưng các hoạt động của đời sống văn học vẫn khá phong phú, sôi nổi và có giá trị về nhiều mặt

Về lực lượng sáng tác: như đã nói ở trên, văn học giai đoạn đầu thế kỉ

XX đến cách mạng tháng Tám 1945 là giai đoạn phát triển với nhiều thành tựu lớn trong lịch sử văn học dân tộc Một trong những thành tựu đó là lực lượng sáng tác đông đảo và có chất lượng với nhiều tên tuổi tác giả lớn Bước vào thời kì văn học kháng chiến, những nghệ sĩ của giai đoạn trước nhiều người đã bắt kịp, chuyển mình hòa nhịp vào đời sống dân tộc lúc bấy giờ Các văn nghệ sĩ này theo lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ rời các trung tâm lớn

về chiến khu Việt Bắc Họ gia nhập vào Hội Văn nghệ Việt Nam tự nguyện hoạt động dưới đường lối chung của Đảng Cũng chính tình hình đó tạo nên một lớp nhà văn mới, đó là những nhà văn – chiến sĩ Nói về lực lượng sáng tác thời kì này chúng tôi chia làm các nhóm cơ bản sau:

- Các cây bút đã thành danh từ giai đoạn trước như Xuân Diệu, Thế Lữ, Ngô Tất Tố, Thanh Tịnh, Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Chế Lan Viên,…

Họ rất nhiệt tình với kháng chiến, nhanh chóng tham gia các hoạt động của cách mạng Tuy nhiên về sáng tác thì tác phẩm của họ còn ít, chưa có chất lượng cao Có lẽ đó là lúc họ hiểu được việc cần làm nhưng nhận thức chưa thực sự thay đổi một cách sâu sắc và ít nhiều họ còn chưa thực sự bắt nhịp được với đời sống kháng chiến trong những buổi đầu Tuy nhiên cũng có một

số tác giả bắt nhịp lại khá nhanh như Xuân Diệu, Nam Cao…

Trang 24

21

- Các cây bút mới trong tư cách của các nhà văn – chiến sĩ, những người vừa trực tiếp chiến đấu vừa sáng tác văn chương Họ là một thế hệ nhà văn mới, sống trong bầu không khí của kháng chiến nên không mất nhiều thời gian để tự thay đổi chính mình, tự tìm đường như nhóm tác giả thứ nhất Ở nhóm này phải kể tới Quang Dũng, Chính Hữu, Trần Đăng, Hồ Phương, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Đình Thi… Các tác phẩm của nhóm tác giả này thể hiện những thể nghiệm tìm tòi, những lối làm thơ, viết văn mới Có đôi khi nó chưa được các nhà văn thế hệ trước đánh giá cao nhưng nó đã góp phần làm nên những nét mới cho diện mạo văn học thời kì này

- Nhóm tác giả thứ ba khá đặc biệt của văn học giai đoạn này là các tác giả “quần chúng” Họ là những anh công nhân, chị văn công, bác nông dân hay một cái tên hoàn toàn mới mẻ nào đó Họ thậm chí có thể không có tên riêng Các sáng tác của họ thường không được đánh giá cao về mặt nghệ thuật, chủ yếu là các bài thơ, bài vè, những ghi chép ngắn Lực lượng sáng tác không chuyên này có thể không có những tác phẩm tiêu biểu, xuất sắc nhưng lại mang tới sự hồn nhiên cho văn học thời kì này Nó cũng phần nào thể hiện tính đại chúng của văn học kháng chiến, làm nên một đặc sắc riêng

Như vậy đời sống văn nghệ giai đoạn 1948 – 1954 có nhiều thay đổi so với giai đoạn trước, bước đầu đặt những nền móng cơ bản cho nền văn học cách mạng tiếp tục phát triển ở giai đoạn sau Thực tế đời sống có nhiều thay đổi, đời sống vật chất còn nhiều thiếu thốn khó khăn, đời sống tinh thần còn nhiều khúc quanh cần vượt qua nhưng nhìn chung các hoạt động văn hóa văn nghệ vẫn đa dạng, phong phú, sôi nổi, lực lượng sáng tác vừa được kế thừa vừa được bổ sung Các thể loại đều có những tác phẩm đáng lưu ý, có những tác giả mới Đôi khi công tác tư tưởng còn cứng nhắc, những tìm tòi thể nghiệm trong thơ không được hưởng ứng song cũng đã phần nào giúp các nghệ sĩ tìm đường, “nhận đường” và bắt nhịp được vào công cuộc kháng chiến Lực lượng sáng tác được bổ sung ngày càng đa dạng và có nhiều màu

Trang 25

22

sắc hơn Tuy nhiên thành tựu nghệ thuật chưa thật nhiều, chưa có những tác phẩm xuất sắc

1.1.2 Tạp chí Văn nghệ

Ngay từ những năm 1945 – 1946, Hội Văn hóa cứu quốc đã cho ra đời

tạp chí Tiên Phong Đây cũng chính là tiền thân của tờ tạp chí Văn nghệ sau

này Sự ra đời sớm của một tạp chí chuyên về văn hóa nghệ thuật đã cho thấy

sự quan tâm của Đảng đối với sự phát triển của văn học nghệ thuật, đặc biệt thể hiện vai trò của văn học nghệ thuật trong tuyên truyền cách mạng, kháng

chiến Sự ra đời của tạp chí Tiên phong đã tạo ra một cơ quan báo chí chính

thức của Hội Văn hóa cứu quốc, cũng trở thành nơi các nhà văn có thể đăng tải tác phẩm, trao đổi, tranh luận các vấn đề về tư tưởng Vì thế có thể nói sự

ra đời của Tạp chí này có ý nghĩa lớn đối với cả người nghệ sĩ và với các độc giả lúc bấy giờ

Ngay sau khi giành được độc lập dân tộc, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời chưa được bao lâu, tháng 12/ 1946 cả nước lại bước vào thời

kì kháng chiến chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Lúc này toàn bộ chính phủ phải rút khỏi Hà Nội, các cơ quan cũng được đưa về các vùng tản

cư, vùng kháng chiến Theo lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh các văn nghệ sĩ cũng lên đường rời thủ đô tới chiến khu Việt Bắc Đời sống của cả nước thời kì đó nói chung là thiếu thốn, lạc hậu, kinh tế nghèo nàn, kém phát triển, đất nước trong tình trạng chiến tranh Ở chiến khu Việt Bắc, vùng núi rừng cách xa thủ đô, cách xa trung tâm, đời sống càng nhiều thiếu thốn và gian khổ hơn vì thế việc các phương tiện in ấn phục vụ công tác xuất bản và phát hành thô sơ, nghèo nàn cũng là một điều dễ hiểu Văn nghệ sĩ vì vậy gặp những khó khăn nhất định trong các sinh hoạt văn hóa tinh thần và sáng tác

Để khắc phục những khó khăn, thiếu thốn đó, các văn nghệ sĩ nòng cốt của Hội Văn hóa cứu quốc tản cư lên Việt Bắc đã cùng nhau cho ra mắt tạp chí

Văn nghệ vào tháng 3 năm 1948 dù phải đến tận tháng 7 của năm đó Hội Văn

Trang 26

23

nghệ Việt Nam mới chính thức được thành lập tại Việt Bắc trong hội nghị

Văn nghệ toàn quốc Sự ra đời của tạp chí Văn nghệ với tư cách một tạp chí

chính thức của hội văn nghệ Việt Nam, nơi sinh hoạt chung của văn nghệ sĩ

cả nước, nơi thể hiện những đường lối của Đảng trong lãnh đạo văn hóa nghệ thuật có một ý nghĩa lớn với sự phát triển chung của văn chương lúc bấy giờ

Ngay từ số đầu tiên ra đời vào tháng 3 năm 1948, tạp chí đã được ghi rõ thể tài và cơ quan chủ quan là Tạp chí nghị luận và sáng tác của Hội Văn nghệ Việt Nam Điều này đã xác định hướng đi của tạp chí Đó vừa là nơi đăng tải các tác phẩm được sáng tác ở nhiều thể loại, nhiều lĩnh vực nghệ thuật đồng thời cũng là nơi để tranh luận về các vấn đề tư tưởng, đường lối văn nghệ Trên thực tế điều này là phù hợp với tình hình lúc bấy giờ Bởi các nghệ sĩ bước vào cuộc kháng chiến nhưng không phải ai cũng nhanh chóng bắt nhịp ngay được với những thay đổi nên đây chính là thời kì “nhận thức”,

“tìm đường” , cần thiết phải có những tranh luận, những bài viết sâu về những vấn đề này để tư tưởng của người nghệ sĩ thực sự được thay đổi Trong những

số đầu tiên ấy, thư kí tòa soạn chính là nhà thơ Tố Hữu Tuy nhiên ông chỉ đảm nhiệm vai trò này ở ba số đầu Các thư kí tòa soạn tiếp theo của tờ tạp chí này là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và nhà thơ Nguyễn Đình Thi Đây đều là những nghệ sĩ có vai trò và uy tín lúc bấy giờ, là những văn nghệ sĩ nòng cốt của nền văn học cách mạng

Trong 7 năm từ 1948 đến 1954, tạp chí có tất cả 56 số Trong đó:

Trang 27

24

Cũng trong 7 năm hoạt động này tạp chí có những thay đổi về khổ in, về các chuyên mục Khổ in tạp chí có giai đoạn là 16x24cm, 18x24cm có lúc lại khổ nhỏ hơn 14x20,5cm Các chuyên mục có khi thêm khi bớt nhưng tương đối

ổn định ở các chuyên mục chính Thông thường tạp chí có 3 phần lớn:

- Phần một dành đăng các văn kiện chỉ đạo của Đảng, các điện thư và các sáng tác văn nghệ;

- Phần 2 dành đăng các tin hoạt động văn nghệ trên khắp cả nước;

- Phần 3 là dành cho phê bình, điểm sách, điểm bài

Ở một vài số đặc biệt dung lượng dành cho tranh luận rất nhiều và có thêm mục Tranh luận Các bài viết thường được chia lĩnh vực văn, nhạc, họa khá rõ Tạp chí cũng có những điều chỉnh chuyên mục cho phù hợp nhưng chủ yếu là những điều chỉnh nhỏ không làm ảnh hưởng lớn tới 3 phần chính của tạp chí Các sáng tác trên tạp chí chủ yếu là của các văn nghệ sĩ có đôi khi

là các sáng tác của các cộng tác viên Có những số có sáng tác của các nhà văn miền Nam nhưng số lượng thường không nhiều

Đặc biệt trong những dịp sinh hoạt chính trị lớn, tạp chí sẽ có những chuyên san tương ứng để kỉ niệm như chuyên san về Hồ Chủ tịch nhân dịp sinh nhật Bác, chuyên san về Stalin vào ngày mất của ông, chuyên san về kịch, chuyên san về tranh luận,…

Ở đầu thế kỉ XX khi công nghệ in ấn, xuất bản vào Việt Nam, chúng ta

đã từng có thời kì phát triển sôi động của các tờ báo, tạp chí với những tác động lớn tới đời sống văn học nghệ thuật.Nhưng tới giai đoạn này đặt trong bối cảnh lịch sử và thực tế đất nước với những khó khăn thiếu thốn của những năm đầu kháng chiến chúng ta sẽ thấy được những nỗ lực của những người

nghệ sĩ lúc bấy giờ Nhìn vào hoạt động của tờ tạp chí Văn nghệ trong 7 năm

ngắn ngủi có thể nhận thấy nó là tờ báo chính thống, chủ yếu nhất của văn nghệ sĩ Các bài viết trên báo có số lượng dồi dào, phản ánh được đời sống kháng chiến, thấy được quá trình các nhà văn thay đổi từ tư duy, nhận thức tới

Trang 28

25

sáng tác Hoạt động của tờ tạp chí Văn nghệ sôi nổi, được thay đổi thường

xuyên sao cho phù hợp với yêu cầu của thực tế Từ chính những điều đó đã khẳng định vai trò của tờ tạp chí này đối với người nghệ sĩ và cả độc giả lúc

bấy giờ

1.2 Thống kê và phân loại truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch trên tạp

chí Văn nghệ giai đoạn 1948 – 1954

Khi tiến hành khảo sát các tác phẩm cụ thể được đăng trên tạp chí Văn nghệ giai đoạn 1945- 1954 chúng tôi gặp phải một số khó khăn Ví dụ như có

một số tác phẩm thiên về ghi chép nhưng cũng khá gần với truyện ngắn.Vì vậy ở đây chúng tôi chỉ thống kê, phân loại những tác phẩm được biên tập ghi

rõ thể loại Cơ sở dữ liệu để chúng tôi khảo sát là 6 tập Sưu tập Văn nghệ

1948 – 1954 của nhà xuất bản Hội Nhà văn Đây là cơ sở dữ liệu đáng tin cậy,

đã được các nhà sưu tập công phu khảo sát và tiến hành trong thời gian khá dài Chính bộ sách này đã giúp chúng tôi rất nhiều trong việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu của mình

Qua khảo sát 6 tập Sưu tập Văn nghệ chúng tôi nhận thấy các tác phẩm

được đăng khá đa dạng từ thơ, truyện, bút kí, nhật kí, kịch, các mẩu chuyện, ghi chép, các bài tranh luận, các văn kiện mang tính chỉ đạo,… Bên cạnh các sáng tác là nhiều bài viết khác mang tính chất định hướng tư tưởng, tranh luận quan điểm, có cả các tác phẩm văn học dịch… các bài viết có tính thời sự và bám sát cuộc kháng chiến

Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 6 tập Sưu tập Văn nghệ 1948-1954

do nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành từ tập đầu tiên năm 1998 đến tập thứ 6 năm 2006 và thu được số các tác phẩm được đăng tải trên tạp chí này như sau:

Trang 29

26

Về truyện ngắn

12 Con nuôi bếp ba Nguyên Hồng 20, 21 3/1950

16 Sau đêm tiêu diệt Non nước Hồ Phương 30 9/1951

18 Ngày về của những đứa con Tứ Lang 31 10/1951

Như vậy là có 23 truyện ngắn được đăng từ số 1 đến số 38 vào tháng 12/1952 Trong 18 số cuối của hai năm 1953 và 1954 không có sự góp mặt

Trang 30

27

của các truyện ngắn Ở 4 năm đầu, năm 1949 có số lượng truyện ngắn lớn nhất với 8 tác phẩm, hầu hết các số báo ra trong năm 1949 đều có sự góp mặt của truyện ngắn Các năm còn lại mức độ tương đương nhau từ khoảng 3-5 truyện/ năm Với 23 truyện ngắn chúng ta có 20 tác giả khác nhau, mỗi tác giả hầu như chỉ được chọn đăng tác phẩm một lần, chỉ có hai trường hợp là Nam

Cao được đăng 2 truyện ngắn là Đôi mắt (1948) và Định mức (1952); Hồ Phương với 3 truyện ngắn là Lưỡi mác xung kích, Thư nhà và Sau đêm tiêu diệt non nước Trong tương quan với các thể loại khác thì truyện ngắn và thơ

là hai thể loại có số lượng tác phẩm được đăng trên tạp chí Văn nghệ giai

đoạn 1948 – 1954 lớn nhất Điều này cũng có thể dễ dàng lí giải Truyện ngắn

là thể loại có dung lượng vừa phải kết cấu không quá phức tạp và đồ sộ như tiểu thuyết nên nó thường là thể loại đi đầu, linh hoạt và năng động trong những năm đầu tiên của một giai đoạn văn học mới Đây cũng là lí do để chúng ta có thể lí giải hiện tượng năm 1949 số lượng truyện ngắn có phần tăng cao hơn những năm khác Có thể sau những năm đầu kháng chiến từ

1945 – 1948, đến nay truyện ngắn đã có bước phát triển hơn và tạo ra được những dấu ấn nhất định

Nhìn vào lực lượng sáng tác truyện ngắn ta cũng nhận ra rằng nhiều nhà văn trước cách mạng vốn có sở trường ở thể loại này hình như chưa thực

sự phát huy được khả năng sáng tác của mình Chúng ta có thể nhận thấy một

số tên tuổi quen thuộc như Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Thanh Tịnh,… nhưng số tác phẩm chưa nhiều.Các tác giả mới cũng xuất hiện và để lại ấn tượng Có cả các nhà văn là Việt kiều ở Thái Lan, người lính chiến đấu

ở Nam bộ… Tuy số các tác giả này không nhiều nhưng đã góp phần làm đa dạng hóa lực lượng sáng tác

Về tiểu thuyết: tiểu thuyết có dung lượng lớn vì vậy thường khó đăng

tải trọn vẹn trên báo, tạp chí Các tiểu thuyết có thể được trích đăng, đăng thành nhiều kì, giới thiệu trên các tạp chí hơn là được đăng tải trọn vẹn như

Trang 31

28

truyện ngắn Trên tạp chí Văn nghệ 1948 – 1954 có 3 tiểu thuyết được trích

đăng và giới thiệu là:

- Con trâu của Nguyễn Văn Bổng số 51 tháng 5/1951

- Vùng mỏ của Võ Huy Tâm số 44 tháng 10/1953

- Cái gậy lim của Bùi Hiển số 55 tháng 7/1954

Chỉ có 3 tiểu thuyết được chọn đăng và giới thiệu và đồng thời cũng là

ba tiểu thuyết xuất sắc nhất của văn học giai đoạn này Ba tiểu thuyết này đều nằm ở giai đoạn sau của văn học kháng chiến chống Pháp Sự phát triển của tiểu thuyết có phần chậm hơn những thể loại khác với những thành tựu ở cuối chặng đường Trong ba tác giả tiểu thuyết có nhà văn Bùi Hiển thuộc thế hệ nhà văn từ trước cách mạng nhưng thành công của ông ở giai đoạn trước là ở thể loại truyện ngắn và đến giai đoạn này mới là tiểu thuyết Hai tác giả còn lại là những nhà văn thuộc thế hệ trẻ trưởng thành trong kháng chiến Các tiểu thuyết được chọn đăng cũng là những tác phẩm được giải cao trong các cuộc thi văn nghệ lúc bấy giờ

Ngoài ba tiểu thuyết được chọn đăng và giới thiệu này chúng tôi còn

quan tâm tới tiểu thuyết Xung kích của Nguyễn Đình Thi được giải nhì trong

cuộc thi do Hội Văn nghệ Việt Nam tổ chức Do vậy tuy không được chọn

đăng trên tạp chí Văn nghệ nhưng vẫn được chúng tôi xếp vào nhóm đối

tượng nghiên cứu ở phần sau

Về kịch: chúng tôi khảo sát thấy có 4 vở kịch được chọn đăng là:

- Những người ở lại của Nguyễn Huy Tưởng số 4 tháng 8/1948

- Người cũ của Nguyễn Huy Tưởng kịch một hồi đăng trên số 19 tháng

Giêng 1950

- Bình nghị của Trần Hoạt kịch ngắn đăng trên số 34 tháng 12/1951

- Chị Nhu sáng tác tập thể kịch dân ca đăng trên số 45, 11/1953

Số lượng các vở kịch không nhiều, tác giả nổi bật là Nguyễn Huy Tưởng với 2 vở kịch được chọn đăng Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy kịch thời kỳ này khá đa dạng với các vở kịch dài, ngắn khác nhau, với các thể loại

Trang 32

29

khác nhau như kịch nói, kịch thơ,… Thời kỳ này còn xuất hiện loại hình kịch sáng tác tập thể, kịch cương

Như vậy chúng ta có 23 truyện ngắn, 3 tiểu thuyết và 4 vở kịch được

đăng tải, giới thiệu trên Tạp chí Văn nghệ 1948 – 1954 Đây không phải là

toàn bộ các sáng tác mà tạp chí nhận được từ khắp mọi miền tổ quốc Đặc biệt giải thưởng của Hội Văn nghệ năm 1952 và 1954 đã tạo nên một bầu không khí sôi nổi trong đời sống văn học nước nhà.Trong những năm đó có thể nói văn chương kháng chiến đã thực sự phát triển và có sự nở rộ hơn về số lượng tác giả, tác phẩm

1.3 Đánh giá khái quát về diện mạo của truyện ngắn, tiểu thuyết

và kịch trên tạp chí Văn nghệ giai đoạn 1948 – 1954

Từ những tác phẩm cụ thể đã được khảo sát chúng tôi phần nào phác họa lại diện mạo khái quát của các thể loại văn học giai đoạn này trên tạp chí

Văn nghệ giai đoạn 1948 – 1954

Truyện ngắn là thể loại có số lượng tác phẩm đăng trên tạp chí Văn nghệ lớn hơn so với hai thể loại còn lại Có thể kể tới các tên tuổi như: Kim Lân với Làng (số 1 -1948); Nam Cao với Đôi mắt (số 2 - 1948), Định mức (số

35 - 1952); Tô Hoài với Tào Lường (số 5 - 1948); Nguyên Hồng với Con nuôi bếp Ba (số 20 Xuân - 1950); Nguyễn Tuân với Quán tươi (số 20-21 – 1950), Siêu Hải với Hai trận thắng (số 27-28 - 1950); Hồ Phương: Lưỡi mác xung kích (số 13 - 1949), Thư nhà (số 15-16 - 1950), Sau một đêm tiêu diệt non nước (số 30 - 1951)… Đây cũng là thể loại bắt nhịp lại nhanh và có những tác phẩm xuất sắc như Làng của Kim Lân, Đôi mắt của Nam Cao Trong thể loại

này ta cũng thấy rõ sự nối tiếp trong các lực lượng sáng tác truyện ngắn Bên cạnh những tên tuổi đã có từ trước như Nam Cao, Nguyễn Tuân, thì những cái tên mới như Kim Lân và đặc biệt là Hồ Phương đã tạo nên những khởi sắc cho thể loại này Điều đáng nói ở những truyện ngắn này là xu hướng tiếp cận hiện thực đời sống mới Ban đầu đó còn là những giằng co, tự đấu tranh, tự

nhận thức với chính mình như trong Đôi mắt của Nam Cao rồi tiến dần tới là

dứt khoát với những lựa chọn của mình để có cái nhìn mới về cuộc kháng

Trang 33

30

chiến trường kì của dân tộc, về cuộc sống mới với những bỡ ngỡ, vô bồ mà

sôi nổi, sục sôi Ngay trong Đôi mắt dù còn một nhà văn Hoàng thì cũng đã bắt đầu có một nhà văn thời kỳ mới như Độ Đến Định mức thì dường như

Nam Cao đã trút bỏ được hoàn toàn những ám ảnh của tâm lý tiểu tư sản hướng về hiện thực đời sống mới Hình ảnh những người cán bộ xã, những

người nông dân trong Định mức với tinh thần cách mạng cao đã thể hiện một

quá trình chuyển mình của nhà văn Viết về chiến tranh nhưng các tác phẩm truyện ngắn thời kỳ này không quá nặng nề, thường mang sự lạc quan và tin tưởng.Những tàn khốc của chiến tranh ít được phản ánh trực tiếp.Truyện ngắn thời kì này vẫn phản ánh hình tượng người nông dân như giai đoạn trước nhưng không còn trong những bi kịch tha hóa, đói nghèo, mâu thuẫn giai cấp

mà được đặt trong một bối cảnh mới nên họ mang những phẩm chất mới Về mặt hình thức ngôn ngữ truyện ngắn có sự chuyển mình trở nên gần gũi với đời sống, câu văn giản dị hướng về đại chúng Các nhân vật tuy chưa được thực sự nổi bật, điển hình nhưng đã phần nào có diện mạo và cá tính riêng Đánh giá chung truyện ngắn đã phát huy được vai trò tiên phong của mình, là thể loại đi đầu, nhanh chóng nhập cuộc và có những khởi sắc sớm Truyện ngắn cũng đã đạt được những thành tựu dù còn những hạn chế

Về tiểu thuyết: trước 1945, văn học cách mạng đã hình thành nhưng

chưa công khai và phát triển mạnh mẽ toàn diện Thơ, truyện ngắn, văn chính luận đã có những dấu ấn, những tác phẩm tiêu biểu nhưng tiểu thuyết thì lại chưa có dấu ấn gì Bước vào thời kỳ 1948 – 1954 văn học cách mạng có những bước chuyển mình lớn để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình Trong

sự vận động ấy tiểu thuyết đã có quả ngọt đầu tiên Các tiểu thuyết thời kỳ

này viết về người nông dân (Con trâu), người công nhân (Vùng mỏ),về người lính (Xung kích)… Đây đều là những đề tài cơ bản của văn chương kháng

chiến Con người trong tiểu thuyết kháng chiến dường như không còn là những nạn nhân của hoàn cảnh, ngược lại họ đang từng bước đi lên làm chủ cuộc đời mình, trở thành những hình tượng đẹp, những hình tượng anh hùng của thời đại mới Tiểu thuyết thời kỳ này có quy mô tương đối lớn, phản ánh

Trang 34

31

những vấn đề chung của dân tộc, ngôn ngữ đại chúng, dễ hiểu, thể hiện được đặc điểm của nhân vật,… Tuy nhiên tiểu thuyết thời kỳ này vẫn thiên về xây dựng con người chung mà ít chú ý tới con người riêng, xây dựng những phẩm chất anh hùng mà không chú ý tới những tình cảm đời thường Cách nhìn nhận, xây dựng nhân vật còn có phần đơn giản, một chiều Đánh giá khát quát tiểu thuyết

đã có những thành tựu là những tác phẩm tiểu thuyết đầu tiên của nền văn học cách mạng mang tới một đà phát triển mới cho văn học giai đoạn sau

Về kịch: sự phát triển của kịch có những nét đặc biệt riêng Tuy kịch

bản văn học còn nghèo nàn nhưng đời sống sân khấu kịch lại sôi động Ngoài những vở kịch có kết cấu tương đối gần với kịch trước 1945 thì có những vở kịch cương phục vụ đời sống tinh thần hàng ngày của nhân dân Trong kịch còn xuất hiện hình thức sáng tác tập thể như một nét đặc trưng riêng của giai đoạn này Hình thức của kịch khá đa dạng từ hát, nói, chèo,… Các vở kịch thường có xu thế ngắn về dung lượng Bên cạnh đó các xung đột được tổ chức không quá chặt chẽ và gay gắt.Các vở kịch được chọn đăng phần lớn thể hiện xung đột giữa con người mới và con người cũ, giữa cái mới và cái cũ và phát triển kịch cũng rất đơn giản không quá căng thẳng và kết thúc là cái mới chiến

thắng Nhìn chung những tác phẩm kịch được chọn đăng trên tạp chí Văn nghệ giai đoạn này không quá xuất sắc, còn nhiều hạn chế và mang dấu ấn

của kịch cương Diện mạo của kịch của giai đoạn này đã có dấu ấn của Nguyễn Huy Tưởng, một tác giả lớn có vai trò quan trọng trong sự phát triển của thể loại kịch Việt Nam hiện đại

Tiểu kết chương 1

Như vậy có thể thấy đời sống văn chương giai đoạn 1948 – 1954 có những biến chuyển mạnh mẽ so với giai đoạn trước đó Đây là thời kỳ của nền văn học kháng chiến, văn học cách mạng, văn chương có những sứ mệnh lịch sử rõ ràng Ở thời kỳ này văn học vận động theo hướng cách mạng hóa, hướng về đại chúng Các nhà văn trước 1945 đang trong thời kỳ nhận đường, tìm đường để hướng về một cuộc sống mới, hòa nhập với đời sống dân tộc Các nhà văn trẻ trưởng thành trong kháng chiến hào hứng tham gia vào đời

Trang 35

Tạp chí Văn nghệ là tạp chí của Hội Văn nghệ Việt Nam ra đời năm

1948 có vai trò quan trọng trong việc xây dựng một đời sống văn nghệ mới Tạp chí không chỉ là nơi đăng tải các tác phẩm mà còn là diễn đàn của tranh luận, là nơi phát ngôn của Hội Văn nghệ Việt Nam, là nơi để Đảng tuyên truyền đường lối chỉ đạo của mình với văn học nghệ thuật Tạp chí này đã phát huy mạnh mẽ vai trò của mình đóng góp vào sự phát triển chung của văn học nước nhà

Các thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch trên tạp chí Văn nghệ có

một diện mạo riêng trong bức tranh chung toàn cảnh của nền văn học kháng chiến Ở từng giai đoạn, từng thời kỳ mỗi thể loại có mức độ phát triển khác nhau Nhìn chung các thể loại đều đang nỗ lực phản ánh hiện thực đời sống phong phú mới mẻ, xây dựng những hình tượng mới của thời đại Bên cạnh

đó vẫn phải thẳng thắn nhìn nhận các thể loại này chưa có nhiều kết tinh nghệ thuật chất lượng, còn nhiều hạn chế để chúng ta lưu tâm bàn bạc

Trang 36

33

Chương 2

TRUYỆN NGẮN, TIỂU THUYẾT TRÊN TẠP CHÍ VĂN NGHỆ

GIAI ĐOẠN 1948 - 1954

Trong bức tranh khái quát toàn diện về các thể loại văn học trên tạp chí

Văn nghệ giai đoạn 1948 – 1954 chúng ta dễ dàng nhận ra được vai trò của

các thể loại văn xuôi, đặc biệt là các thể loại văn học có tính báo chí, thời sự cao như truyện ngắn, kí,… Truyện ngắn là thể loại đi đầu trong công cuộc cách mạng hóa nền văn học nghệ thuật dân tộc giai đoạn kháng chiến chống Pháp, là thể loại có tác phẩm nhiều, nhanh và sớm hơn các thể loại khác của văn xuôi Truyện ngắn vì thế đã khẳng định được những ưu thế và vai trò của mình trong quá trình vận động chung của cả nền văn học

Tiểu thuyết không có được ưu thế như truyện ngắn Thể loại này ra đời muộn hơn, đòi hỏi quá trình tích lũy vốn sống, chiêm nghiệm hiện thực của nhà văn sâu hơn và là thể loại vẫn “còn đang biến chuyển và định hình” Đặc biệt trong những bối cảnh có sự thay đổi gấp gáp của hiện thực, tiểu thuyết thường ít bắt nhịp được ngay, các nhà văn cần thời gian để “nhận thức” đời sống hiện thực đó một cách sâu sắc rồi mới có thể chuyển thành những trang viết Phương thức phản ánh của tiểu thuyết cũng không chỉ đơn giản là một khoảnh khắc, một lát cắt đời sống mà là cả một quá trình Do đó cũng cần nhiều hơn thời gian để quan sát và trải nghiệm Chính đặc điểm này khiến tiểu

thuyết giai đoạn 1948 – 1954 trên tạp chí Văn nghệ không có nhiều tác phẩm

và phải đến năm 1951 mới bắt đầu xuất hiện

Với những đặc điểm như vậy, chúng ta nhận ra rằng đây là hai thể loại

có vai trò quan trọng đối với sự vận động của nền văn học Mỗi thể loại có những đặc trưng riêng, sở trường riêng và những đóng góp riêng Sự vận động của hai thể loại này cũng cho thấy rõ quá trình biến đổi về mặt tư tưởng, nhận thức của cả một thế hệ các nhà văn thời bấy giờ

Trang 37

34

2.1 Truyện ngắn trên tạp chí Văn nghệ giai đoạn 1948 -1954

Truyện ngắn kháng chiến bắt đầu xuất hiện ngay từ những năm 1946

Trên tờ Tiên phong tiền thân của tạp chí Văn nghệ có hàng loạt truyện ngắn ra đời trong hai năm 1946 – 1947 như Một phút yếu đuối (Tiên phong, số 1 - 1945), Hai cha con (Tiên phong, số 9 - 1946), Mẩu chuyện bên đường sắt (Tiên phong, số 22 - 1946) của Nguyễn Huy Tưởng ; Mò sâm banh (Tiên phong, số 2 - 1945), Đường vô Nam (Tiên phong, số 10 - 1946), Nỗi truân chuyên của khách má hồng (Tiên phong, số 13 - 1946), Cách mạng (Tiên phong, số 18 - 1946) của Nam Cao; Buổi chiều xám (Tiên phong, số 1 - 1945), Lửa thiêu (Tiên phong, số 3 - 1945), Lưới sắt (Tiên phong, số 4-5 - 1946), Tàu đêm (Tiên phong, số 7 - 1946), Người đàn bà Tàu (Tiên phong, số

10 - 1946), Cơn sốt (Tiên phong, số 14 - 1946), Một buổi chiều nhà quê (Tiên phong, số 15-16-17 - 1946) của Nguyên Hồng; Nhớ quê (Tiên phong, số 4-5 -

1946) của Tô Hoài Điều này cho thấy truyện ngắn là thể loại đi trước trong công cuộc cách mạng hóa nền văn chương Trong những năm đầu chuyển giao ấy, khó khăn là muôn vàn với người nghệ sĩ Hầu hết các nhà văn đều nỗ lực “lột xác” để tìm nguồn cảm hứng mới, để tiếp tục cầm bút Những nỗ lực

đó của các nhà văn thuộc thế hệ nhà văn từ trước cách mạng tháng Tám đã giúp truyện ngắn sớm có thành tựu hơn những thể loại khác Nhìn lại quá trình phát triển của truyện ngắn cách mạng chúng ta cũng thấy những dấu hiệu phát triển sớm hơn so với tiểu thuyết cách mạng Những truyện ngắn của Nguyễn Ái Quốc từ những năm 20 của thế kỉ XX đã có tính chiến đấu cao, đặt nền móng cho truyện ngắn cách mạng của chúng ta Vì thế truyện ngắn đóng vai trò tiên phong, đi đầu ở giai đoạn tiếp theo này cũng là điều hợp lý

Đến tạp chí Văn nghệ (1948 – 1954), sự góp mặt của các cây bút thành

danh trước 1945 giảm đi đáng kể Diễn đàn văn học được nhường lại cho thế

hệ kế tiếp, những Hồ Phương, Nguyễn Khải, Trần Đăng,… Sự chuyển giao

Trang 38

có thể chưa cao, thành tựu chưa kết tinh như trước cách mạng thì cũng cho thấy khả năng nhập cuộc, tinh thần hòa mình, nhiệt huyết cách mạng của thế

hệ nhà văn này Lực lượng sáng tác mới là một thế hệ các nhà văn chiến sĩ mang tới một không khí mới cho nền truyện ngắn cách mạng Chính sự kết nối của hai lực lượng sáng tác này nên ta thấy được ở truyện ngắn sự kế thừa

Trang 39

36

động,… Ngổn ngang những công việc ấy cuốn họ đi trong một bầu không khí khẩn trương và hào hứng Nhưng khi tất cả các việc đó ổn định người viết quay trở lại với công việc sáng tác của mình, họ mới thấy có nhiều thách thức

và khó khăn Nhiều nhà văn ý thức được những xung đột trong chính bản thân mình Nhà văn không thể sáng tác bằng cách khơi vào chính thế giới nội tâm của mình, của tầng lớp mình mà sáng tác, không thể chỉ quẩn quanh với những đề tài xưa cũ được nữa Đời sống đã xuất hiện những hình tượng nhân vật mới, văn chương theo chỉ đạo được trả về với đời sống mang tính đại chúng cao Nhà văn phải làm sao để hiểu, nắm bắt và phản ánh được đời sống

ấy Những vốn sống của giai đoạn trước chẳng còn nhiều thích hợp với giai đoạn này, cách nhìn của giai đoạn trước không còn dùng được cho giai đoạn này Sự nhiệt huyết cách mạng, tinh thần kháng chiến ban đầu không thể thay thế hết cho những cảm xúc chân thực với đời sống để trở thành cảm hứng sáng tạo mãnh liệt Từ những điều này văn học kháng chiến xuất hiện một vấn

đề rất khác so với các giai đoạn trước và sau nó đó là vấn đề “nhận đường”, xây dựng lại tư tưởng sáng tác, vốn sống và cách tiếp cận hiện thực của mỗi nhà văn

Nhiều tác phẩm thời kỳ này đã tập trung phản ánh cuộc đấu tranh cũ –

mới vào quá trình nhận đường đó của các nhà văn Tiêu biểu phải kể tới Đôi mắt của Nam Cao Nam Cao là nhà văn tham gia cách mạng ngay từ những

ngày đầu và ông cũng là người bắt nhịp sáng tác trở lại khá nhanh Sau cách

mạng ông có các truyện ngắn như Mò sâm banh, Đường vô nam, Nỗi truân chuyên của khách má hồng, Cách mạng, Đôi mắt, Định mức,… Nhà văn hi

sinh năm 1951, khi đang trên đường công tác nếu không có lẽ các tác phẩm

của ông không chỉ dừng lại ở đó Trong số những tác phẩm đó, Đôi mắt có

một ý nghĩa đặc biệt Đó là một truyện ngắn thể hiện được nhiều trăn trở của Nam Cao về cách mạng, về kháng chiến, về việc cầm bút của nhà văn Truyện ngắn này nối tiếp các truyện ngắn trước cách mạng của ông trở thành một

Trang 40

37

tuyên ngôn nghệ thuật trong giai đoạn mới của người cầm bút Nam Cao đã thành công khi xây dựng hình tượng nghệ thuật nhà văn Hoàng và nhà văn

Độ Từ cái nhìn của hai nhà văn này về cuộc kháng chiến tác giả đặt ra vấn đề

có ý nghĩa không chỉ tại thời điểm đó, đó là vấn đề “cách nhìn cuộc sống”, cách đặt đôi mắt ở đâu để tiếp cận được hiện thực một cách chân thực và đầy

đủ nhất Hoàng một nhà văn đàn anh, tuy đã về vùng tản cư, sống giữa cuộc kháng chiến của dân tộc nhưng lại hoàn toàn cách ly khỏi cuộc kháng chiến

đó Anh ta dùng đôi mắt của một người ngoài cuộc, dùng đôi mắt của thời kỳ trước để nhìn nhận và đánh giá những con người của thời kỳ mới Anh ta chê những người nông dân quanh mình ít học, kệch cỡm, nói ngọng, yêu sách,… anh ta giữ tư duy tôn thờ chủ nghĩa anh hùng cá nhân, anh ta sống với những thói quen của giai cấp tiểu tư sản cũ Chọn sai điểm nhìn Hoàng đã không thấy được sự nhiệt tình cách mạng của người nông dân, không thấy được tình yêu nước, tình yêu với kháng chiến của họ, không thấy được vai trò của họ trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc Và cũng vì đặt sai đôi mắt nên hiện thực trong Hoàng méo mó, một chiều cho dù có những phát hiện của anh

ta là tinh tế Hoàng đã không thể sáng tác Anh ta đã chọn sai chỗ đứng Anh

ta không đứng trong cuộc kháng chiến nên không thể có những rung cảm, có những xúc động để biến thành con chữ Ngược lại Độ sống cùng với những người công nhân, nông dân, anh kê bàn viết giữa cuộc sống, anh chiến đấu đã rồi mới cầm bút, anh vượt lên những rơi rớt ám ảnh của một thời trong mình, anh hòa mình vào cuộc kháng chiến, nhìn sâu vào bản chất của hiện tượng Vì vậy Độ đã thấy những điều Hoàng chưa thấy Độ đã có được đôi mắt thực sự của một nhà văn kháng chiến, nhà văn cách mạng

Ở những tác phẩm khác các nhà văn ít nhiều đều phản ánh cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa những luồng tư tưởng khác nhau đang còn

tồn tại giằng co trong mỗi nhà văn Nhưng có lẽ Đôi mắt là tác phẩm xuất sắc

hơn cả khi đã tạo dựng được một tình huống xuất sắc, phản ánh được vấn đề

Ngày đăng: 08/11/2017, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w