Tính cấp thiết của đề tài Văn học hiện đại các dân tộc thiểu số Việt Nam chỉ thực sự ra đời và phát triển từ thập niên 50 của thế kỉ XX, cho đến nay văn xuôi các dân tộc thiểu số đã có
Trang 11
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VĂN CHÍN
NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CAO DUY SƠN
(QUA “NGƯỜI LANG THANG” VÀ “BIỆT CÁNH CHIM TRỜI”)
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Thu Huyền
Phản biện 1: PGS TS Lý Hoài Thu
Phản biện 2: PGS TS Trần Văn Toàn
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học Xã hội vào lúc:
14giờ 30 ngày 20 tháng 10 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn học hiện đại các dân tộc thiểu số Việt Nam chỉ thực sự ra đời và phát triển từ thập niên 50 của thế kỉ XX, cho đến nay văn xuôi các dân tộc thiểu số đã có được một đội ngũ sáng tác khá đông và đạt được một số thành tựu đáng kể góp vào sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại Riêng khu vực miền núi phía Bắc với những tác giả tiêu biểu như: Nông Minh Châu, Vi Hồng, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Sa Phong Ba, Hà Lâm Kỳ… trong đó Cao Duy Sơn là cây bút tạo được nhiều dấu ấn trong lòng bạn đọc và là nhà văn có những thành tựu nổi bật
Cao Duy Sơn tên thật là Nguyễn Cao Sơn (1956), người dân tộc Tày, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Ông là một trong số ít nhà văn là người dân tộc thiểu số ghi được những dấu ấn về phong cách sáng tạo độc đáo, thống nhất suốt hơn 30 năm qua Độc giả biết tới ông ngay từ những cuốn
tiểu thuyết đầu tiên Người lang thang (1991), cùng 4 tập truyện ngắn và 5
bộ tiểu thuyết Nhất là gần đây Cao Duy Sơn cho ra mắt cuốn tiểu thuyết
dày gần 300 trang Biệt cánh chim trời (Nxb Quân đội nhân dân, 2015)
Cho đến nay các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác giả Cao Duy Sơn cũng đã xuất hiện ở một số góc độ, tuy nhiên chưa đủ để dựng lên bức chân dung nhà văn cùng với những đứa con tinh thần mang đậm dấu ấn
văn hóa và tính nhân văn sâu sắc Đặc biệt, tiểu thuyết Biệt cánh chim trời
(2015) có thể xem như một bước chuyển thú vị trong hành trình sáng tạo của Cao Duy Sơn khi vẫn tiếp tục đề tài con người miền núi nhưng lại mở rộng ở những chiều kích mới
Để tạo ra một mảnh ghép góp thêm vào bức tranh toàn cảnh trong việc tìm hiểu sự nghiệp văn học của Cao Duy Sơn một cách đầy đủ, cũng như thấy được những đóng góp quan trọng của ông trong tiến trình phát triển
của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, chúng tôi lựa chọn Nhân vật trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn (qua “Người lang thang” và “Biệt cánh chim trời”) làm đề tài cho luận văn của mình
Trang 42 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay những công trình chuyên biệt về tác giả này vẫn vắng bóng,
bên cạnh một số sách xuất bản có riêng phần viết về Cao Duy Sơn như Bản sắc dân tộc trong văn xuôi các dân tộc thiểu số, 2005, NXB ĐH Thái Nguyên; Cao Duy Sơn - từ chú cầy hương đến chàng gấu rừng già của tác giả Trung Trung Đỉnh (trong cuốn Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam – Đời và văn, Lò Ngân Sủn (chủ biên) NXB Văn hóa dân tộc, 2003)… là một
số bài viết đăng trên các báo và tạp chí như:
- Đàn trời – Tiểu thuyết của Cao Duy Sơn (NXB Văn hóa dân tộc,
2006) của tác giả Thạch Linh, Báo Thể thao văn hóa, tháng 5 năm 2006
- Cõi nhân gian như cổ tích – Đọc Đàn trời, tiểu thuyết của Cao Duy Sơn, của tác giả Nguyễn Chí Hoan, Báo Văn nghệ Tết Đinh Hợi, 2007
- Đàn trời cất tiếng ca vang của tác giả Mai Hồng, www.vo.vnews.vn
- Văn xuôi độc chiếm giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2008, tác giả
Hà Linh, báo Văn nghệ Quân đội
- Viết văn là một cuộc viễn du về cội nguồn, tác giả Võ Thị Thúy, báo
Kinh tế đô thị
- Viết văn phải có sự ám ảnh, tác giả Huy Sơn, trang Văn hóa giải trí
- Ban mai có một giọt sương, tác giả Đỗ Đức, báo Văn nghệ 2008
Bên cạnh đó đáng kể là một số các luận văn thạc sĩ:
- Thi pháp nhân vật tiểu thuyết trong tiểu thuyết Người lang thang và Đàn trời của Cao Duy Sơn tác giả Đặng Thúy An – Đại học Sư phạm Hà
Nội, 2007
- Đặc điểm truyện ngắn Cao Duy Sơn tác giả Đinh Thị Minh Hảo –
Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2009
Trang 5- Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn tác giả Lý
Thị Thu Phương – Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2010
- Nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn Cao Duy Sơn tác giả Vũ Thị
Lan Anh – Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014…
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Qua việc hệ thống hóa các kiểu loại cùng cách xây dựng nhân vật
trong Người lang thang và Biệt cánh chim trời, chúng tôi muốn chỉ rõ quá
trình vận động của tư tưởng nghệ thuật trong sáng tác cũng như phong cách Cao Duy Sơn qua hai giai đoạn: khởi sự và hiện tại đã hoàn thiện hơn
- Thông qua việc khảo sát, phân loại, đánh giá và chỉ ra được sự vận
động trong cách viết của Cao Duy Sơn ở hai tiểu thuyết Người lang thang
và Biệt cánh chim trời, nhìn ra sự đóng góp của Cao Duy Sơn đối với tiến
trình hiện đại hóa văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhân vật trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn
- Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Người lang thang (1991) và Biệt cánh chim trời (2015), đồng thời có sự liên hệ so sánh với một số tiểu
thuyết, truyện ngắn khác của Cao Duy Sơn để có cái nhìn hoàn chỉnh hơn trong việc tạo dựng thế giới nhân vật của tác giả
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê; đối chiếu, so sánh; thi pháp học; loại hình; liên ngành…
6 Ý nghĩa luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Đánh giá khách quan về vai trò, vị trí tiểu thuyết của
Cao Duy Sơn trong nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại
Ý nghĩa thực tiễn: Chỉ ra những đóng góp không nhỏ về sự sáng tạo,
lao động nghệ thuật của Cao Duy Sơn trên phương diện nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Đồng thời thấy được vị trí của Cao Duy Sơn trong tiến trình phát triển nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
Trang 67 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, thư mục tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Hành trình sáng tạo và quan niệm nghệ thuật của Cao Duy Sơn
Chương 2: Kiểu nhân vật trong hai tiểu thuyết “Người lang thang” và
“Biệt cánh chim trời”
Chương 3: Phương thức thể hiện nhân vật trong hai tiểu thuyết
“Người lang thang” và “Biệt cánh chim trời”
CHƯƠNG 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
CỦA CAO DUY SƠN 1.1 Hành trình sáng tạo của Cao Duy Sơn
1.1.1 Con người và văn nghiệp
1.1.1.1 Vài nét về tiểu sử
Cao Duy Sơn họ Nguyễn, tên khai sinh là Nguyễn Cao Sơn Để cảm
ơn vùng đất đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, ông mang chữ “Cao” từ vùng núi Cao Bằng xuống đặt làm họ cho mình Ông sinh năm 1956 tại quê mẹ, thị trấn cổ Cô Sầu thuộc huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng
Năm 1984 khi Cao Duy Sơn làm ở Sở Văn hóa thông tin tỉnh Cao Bằng, một cơ duyên với nghiệp viết văn đã đưa ông đến với hội trại viết văn ở Tuyên Quang Năm 1989 ông theo học tại trường Viết Văn Nguyễn
Du, tại đây đứa con đầu lòng – tiểu thuyết Người lang thang ra đời Tháng 5
năm 2003, Cao Duy Sơn chuyển công tác về Hà Nội, làm ở Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam
Hiện ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tổng Biên tập tạp chí Văn hóa các dân tộc Ông đã hai lần vinh dự đạt giải A (năm 1991 cho tiểu thuyết
Trang 7Người lang thang, năm 2007 cho tiểu thuyết Đàn trời) của Hội văn học các
dân tộc thiểu số Việt Nam Năm 2009 ông tiếp tục nhận được giải thưởng
cao quý của Hoàng gia Thái Lan cho tập truyện Ngôi nhà xưa bên suối 1.1.1.2 Vài nét về sự nghiệp sáng tác
Những tác phẩm chính:
Bằng sự lao động sáng tạo, miệt mài và nghiêm túc, Cao Duy Sơn đã
có trong tay một gia tài khá đồ sộ Với sáu cuốn tiểu thuyết:
- Người lang thang, nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1992 Tác phẩm đạt giải
A Hội đồng văn học dân tộc miền núi Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993
- Cực lạc, Nhà xuất bản Hà Nội, 1995
- Tác phẩm Hoa mận đỏ, nhà xuất bản Văn hóa, 2004 và Đàn trời,
nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Đây là hai tác phẩm đã được chuyển thể thành phim “Khỏa nước sông Quy”
- Chòm ba nhà, Nhà xuất bản Lao Động, 2009
- Biệt cánh chim trời, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2015
Và bốn tập truyện ngắn:
- Những chuyện ở lũng Cô Sầu, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1999
- Những đám mây hình người, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2002
- Hoa bay cuối trời, Nhà xuất bản Thanh niên, 2008
- Ngôi nhà xưa bên suối, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2008 Tác
phẩm được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2008 và giải thưởng văn học ASEAN của Hoàng gia Thái Lan năm 2009
Quan điểm sáng tác của Cao Duy Sơn:
* Viết văn là để trả nợ quê hương:
Kí ức về một tuổi thơ đầy vất vả, khốn khó trên mảnh đất vùng cao, cùng với những truyền thống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là văn hóa Tày luôn ăn sâu bám rễ trong tâm trí Cao Duy Sơn Nó khiến ông luôn khắc khoải như mang trong mình một món nợ đối với quê hương và nếu không đền đáp được món nợ đó ông thấy tâm hồn mình day dứt Đọc sáu cuốn tiểu thuyết và bốn tập truyện ngắn của ông ta bắt gặp một cái nhìn trìu mến, đầy thương cảm và cả sự xót thương của ông dành cho
Trang 8những con người, những mảnh đời sinh ra, lớn lên trên mảnh đất Cô Sầu Bên cạnh đó ta cũng cảm nhận được niềm tự hào của nhà văn về những phong tục tập quán đẹp đẽ của người Tày
* Viết văn là cách giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa
Cao Duy Sơn là nhà văn may mắn được mang trong mình hai dòng văn hóa Kinh – Tày, ông còn được nuôi dưỡng bởi một mạch ngầm những trầm tích văn hóa, lịch sử của vùng Đông Cao Bằng Ông am hiểu văn hóa dân gian, phong tục tập quán của người Tày Sáng tác của ông là “sự khám phá, giải mã những vỉa tầng văn hóa nguyên bản, hồn nhiên của dân tộc”, là một kho tri thức phong phú về văn hóa truyền thống của mảnh đất này Để làm được điều này đòi hỏi người viết phải “nắm được vốn văn hóa các dân tộc thiểu số mà họ định hướng ngòi bút đến ” Đọc những tác phẩm của ông ta bắt gặp không ít những vỉa tầng văn hóa như: hát Sli lượn, diễn tuồng cổ, lễ tết với tục “Khai vài xuân”, tục diễn rối đầu gỗ
* Viết văn là cách để giải phóng năng lượng:
Theo Cao Duy Sơn thì viết văn vừa là con đường nhận thức, khám phá mảnh đất quê hương mình, vừa là cách ông chiêm nghiệm và khám phá bản thân mình nhằm giải phóng những cảm xúc dồn nén trong lòng mình
Có lẽ vì thế mà các sáng tác của ông thấm đẫm hơi thở của cuộc sống, con người đến phong tục tập quán vùng đất Cô Sầu Để làm được điều đó nhà văn cần phải có một tình yêu mãnh liệt với mảnh đất đã sinh ra và nuôi dưỡng tâm hồn mình Tình yêu và sự gắn bó sâu nặng với quê hương đã trở thành một nguồn năng lượng đặc biệt và có thể vọt trào thành dòng suối cảm xúc bất cứ lúc nào Cho dù đã chuyển về Hà Nội công tác khá lâu nhưng mảnh đất Cô Sâu vẫn luôn là điểm về nạp thêm năng lượng của Cao Duy Sơn Và mỗi đứa con tinh thần của ông ra đời đã giúp cho nhà văn giải phóng được những chiêm nghiệm, những suy ngẫm của cuộc đời
1.1.2 Cao Duy Sơn trong tiến trình phát triển nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
1.1.2.1 Khái quát về đặc điểm, diện mạo của văn xuôi dân tộc thiểu số thời
kỳ hiện đại
Trang 9Nhắc đến quá trình hình thành và phát triển của văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam không thể không nhắc đến những cái tên như: Lan Khai, Thế Lữ, Tchya (Đái Đức Tuấn), Lý Văn Sâm – đó là những cây bút có công rất lớn trong việc “khai phá”, “mở đường” và đặt những viên gạch đầu tiên cho sự ra đời của văn xuôi miền núi Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, bên cạnh những cây bút quen thuộc viết về đề tài miền núi, đã xuất hiện
thêm nhiều gương mặt mới như Nam Cao với Nhật kí ở rừng, Tô Hoài với tập Truyện Tây Bắc, Nguyên Ngọc với Đất nước đứng lên (hai tập truyện
ngắn cùng đạt giải Nhất của Hội Nhà văn năm 1953 – 1954)
Từ sau ngày hòa bình lập lại (1955), văn xuôi miền núi nở rộ với sự góp mặt của nhiều cây bút tên tuổi như: Nguyễn Tuân, Nguyễn Thành Long Đặc biệt là sự góp mặt của một số cây bút văn xuôi là những người con của đồng bào các dân tộc thiểu số Như Nông Minh Châu với tác phẩm
Ché Mèn được đi họp - 1958, tác phẩm được viết bằng tiếng Tày – Nùng
(tác phẩm được đánh dấu sự ra đời của văn văn xuôi dân tộc thiểu số); tiểu
thuyết Muối lên rừng – tác phẩm đã mở ra một thời kì mới cho sự phát triển
của tiểu thuyết Vi Hồng (Ngôi sao đỏ trên núi Phja Hoàng - 1960, Cây su su
nọong ỷ - 1962, Suối tiên đào - 1963), Vi Thị Kim Bình với tác phẩm Đặt tên
- 1962, và các nhà văn: Nông Viết Toại, Lò Văn Sỹ, Hoàng Hạc, Triều Ân, Lâm Ngọc Thụ, Kim Nhất, Mã A Lềnh Trong số các tác giả, tác phẩm đó
thì tác phẩm Ngôi sao đỏ trên núi Phja Hoàng của Vi Hồng là tác phẩm xuất
sắc đạt giải Nhì – giải thưởng của Tổng Hội sinh viên Việt Nam
Từ 1975 đến 1985, đây là giai đoạn văn xuôi miền núi phát triển mạnh
mẽ và đồng bộ với đời sống văn học của dân tộc Đội ngũ sáng tác đông đảo, bên cạnh những nhà văn viết về đề tài miền núi như Mạc Phi, Ma Văn Kháng, Tô Hoài, Phượng Vũ, Trung Trung Đỉnh là một đội ngũ các nhà văn là người dân tộc thiểu số như: Y Điêng, Nông Viết Toại, Mã A Lềnh,
Vi Thị Kim Bình, Vi Hồng, Triều Ân, Sa Phong Ba, Hoàng Hạc Tác phẩm của họ tập trung khám phá, miêu tả cuộc sống mới, con người mới của các dân tộc anh em ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa trong lao động sản xuất, trong chiến đấu bảo vệ tổ quốc và cả trong cuộc sống sinh hoạt đời
Trang 10thường Cảm hứng chủ đạo là khẳng định, ngợi ca Về cách thức xây dựng nhân vật không nằm ngoài những yêu cầu điển hình hóa, nghĩa là các nhân vật đều có những nét ngoại hình, tính cách quen thuộc và có sự thống nhất trong cách miêu tả Con người tập thể, con người mới vẫn là những nhân vật trung tâm mang vẻ đẹp lí tưởng
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến nay, văn xuôi các dân tộc thiểu số có những bước đột phá tích cực và đạt được nhiều thành tựu xuất sắc Lực lượng sáng tác thời kì này đông đảo và hùng hậu hơn nhiều so với các giai đoạn trước Đầu tiên phải kể đến những cây bút đã có nhiều thành tựu như Triều Ân, Vi Hồng, Mã A Lềnh, Y Điêng tiếp đến là sự xuất hiện
nhiều cây bút mới như: Hà Đức Toàn với tiểu thuyết Tiếng hổ gầm - 1999; Hoàng Thế Sinh với tiểu thuyết Xứ mưa - 2000; Hoàng Hữu Sang với tập truyện ngắn Người đánh gấu trên núi suối mây - 1997 và tiểu thuyết Cửa rừng - 2000; Đoàn Lư với các tập truyện Kỷ niệm về một dòng sông - 1997
và Ngựa hoang lột xác - 1998; Bùi Thị Như Lan với hai tập truyện Hoa mía
- 2006 và Lời sli vắt ngang núi - 2007; Địch Ngọc Lân với hai tiểu thuyết là Ngôi đình bản Chang - 1999 và Hoa mí rừng - 2001; Cao Duy Sơn với sáu
tiểu thuyết và bốn tập truyện ngắn
Sự đổi mới của văn xuôi dân tộc thiểu số giai đoạn này còn là ở sự
mở rộng đề tài, chủ đề Một số tác phẩm khai thác chất liệu hiện thực miền núi những năm đầu cách mạng với cuộc chiến đấu gian khổ của nhân dân
các đồng bào các dân tộc thiểu số Một số tác phẩm Mũi tên ám khói - 1991 của Ma Trường Nguyên, tập bút kí Cao nguyên trắng - 1992 và tập truyện Vùng đồi gió quẩn - 1995 của Mã A Lềnh Vi Hồng với các tiểu thuyết Người trong ống - 1990 , Chồng thật vợ giả - 1994; Cao Duy Sơn với tiểu thuyết Đàn trời - 2006 Điều này đã thu hẹp khoảng cách về đề tài văn học
miền núi trong nền văn học dân tộc
Đổi mới tư duy nghệ thuật của văn xuôi dân tộc thiểu số hiện đại cũng có nhiều bước đổi mới trong cách thức tổ chức sự kiện, cốt truyện, kết cấu tác phẩm, cách miêu tả, khắc họa nhân vật, nghệ thuật sử dụng ngôn
từ Đọc một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp như Những ngọn gió
Trang 11Hua Tát; Muối của rừng; Những người thợ xẻ ta thấy được chất “dân gian
đương đại” đầy sức sống với cái nhìn sâu vào mối quan hệ giữa con người
và tự nhiên Các tác phẩm của Ma Văn Kháng: Vệ sĩ của quan châu; Gặp
gỡ ở La Pán Tẩn; Móng vuốt thời gian được coi là “một bước tiến dài về
tư duy tiểu thuyết” (Nguyên Ngọc) Cùng với sự đổi mới tư duy nghệ thuật
ở những nhà văn là người Kinh, là những nhà văn người dân tộc như: Nông Quốc Chấn, Y Phương, Cao Duy Sơn, Lò Ngân Sủn, Vi Thùy Linh Họ đã
thể hiện nhiều hình thức mới, giọng điệu mới Với Người lang thang của
Cao Duy Sơn khi ra đời được nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá là “có dấu hiệu mới”, còn nhà nghiên cứu Lâm Tiến thì cho rằng “thể hiện rõ dấu hiệu của một tiểu thuyết hiện đại”
Sau khoảng hơn nửa thế kỉ hình thành và phát triển, văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đã có những bước tiến đáng kể ở nhiều mặt Các thể loại văn xuôi ngày càng hoàn thiện hơn, đặc biệt là sự góp mặt của tiểu thuyết; chất lượng nghệ thuật ngày càng được nâng cao, ngôn ngữ ngày càng được chau chuốt; mới mẻ hơn trong cách nhìn con người và cuộc sống, cũng như trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người Điều này đã đưa văn xuôi các dân tộc thiểu số hòa nhập và gắn bó khăng khít trong dòng chảy của văn học Việt Nam Trong đó, Cao Duy Sơn là gương mặt sáng giá, với nhiều tác phẩm ghi dấu mốc phát triển vượt bậc của nền văn xuôi các dân tộc thiểu số
1.1.2.2 Vị trí của Cao Duy Sơn trong nền văn xuôi dân tộc thiểu số hiện đại
Cao Duy Sơn xuất hiện tuy hơi muộn nhưng những sáng tác của ông thì đã vượt hẳn lên so với mặt bằng chung của văn xuôi miền núi hiện đại Giữa lúc các nhà văn dân tộc thiểu số đang trở mình để bứt phá, đi tìm một lối viết hiện đại, hậu hiện đại nhằm thoát xác ra khỏi lối viết truyền thống, thì Cao Duy Sơn trung thành với đề tài miền núi Mảnh đất và con người quê hương Trùng Khánh hiện lên một cách sống động, tinh tế như nó vốn
có Dù viết về đề tài miền núi nhưng nhà văn luôn nới rộng, nâng cao tầm suy nghĩ của mình về cuộc sống và con người để từ đó Cao Duy Sơn đổi mới, cách tân nghệ thuật “Đột phá trong sáng tạo là vẫn đề luôn thôi thúc
Trang 12người cầm bút, làm thế nào để thoát ra khỏi cái vỏ bọc cũ, tạo nên cách viết mới là một câu chuyện dài ( ) Để tạo nên sự đột phá, điều trước tiên người viết phải hội tụ đủ các yếu tố cần thiết để cùng lúc đồng hành, cùng lúc xuất hiện, cùng lúc giải quyết những mấu chốt nghệ thuật, như bố cục, như xây dựng nhân vật, như giải quyết những giao tranh, mâu thuẫn, v.v ” (Mai Thi)
Là nhà văn có tinh thần và trách nhiệm với công việc sáng tác của mình cộng với tinh thần lao động, sáng tạo nghiêm túc mỗi năm ông viết chừng 2 truyện ngắn, thời gian còn lại ông dành để viết đôi, ba chương tiểu thuyết Ông viết chậm, viết ít như vậy không chỉ là cách thử thách mình với thời gian mà còn là do ông “có cái tật là thường làm khó cho chính mình là, ngay cả khi câu chuyện đã xong rồi thì tôi cũng phải nghiền ngẫm xem truyện của mình có giống những cái mình đã viết trước đó chưa, thứ hai nữa
là nó có giống truyện ai hay không” (Trần Hoàng Thiên Kim)
Văn xuôi Cao Duy Sơn đã góp thêm một cách nhìn, cách viết, một giọng điệu và một cách cảm nhận, suy nghĩ mới, làm cho nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại trở nên phong phú và đa dạng Những thành tựu mà Cao Duy Sơn gặt hái được đã góp phần khẳng định bản lĩnh, ý thức cũng như nhân cách của ông trong việc gìn giữ những giá trị văn hóa của dân tộc mình nói riêng, những giá trị văn hóa tinh thần của các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Cao Bằng nói chung Vì thế mà những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm của Cao Duy Sơn đã vượt ra ngoài phạm vi vốn có của nó Đây là những đóng góp to lớn của Cao Duy Sơn vào bức tranh của nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại
1.2 Quan niệm nghệ thuật của Cao Duy Sơn trong tiểu thuyết “Người lang thang” và “Biệt cánh chim trời”
1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về hiện thưc của Cao Duy Sơn trong tiểu thuyết “Người lang thang” và “Biệt cánh chim trời”
Nhà văn Cao Duy Sơn đã phản ánh không gian miền núi với những phong tục tập quán và cả những xung đột xã hội một cách khách quan qua cái nhìn, nghiền ngẫm chủ quan, ông đã góp phần tô điểm, hoàn thiện bức tranh hiện thực cuộc sống của mảnh đất vùng Đông bắc Cao Bằng Khảo sát
Trang 13các sáng tác của Cao Duy Sơn, chúng tôi nhận thấy nét nổi bật nhất là bức tranh hiện thực xã hội miền núi Vùng đất Cổ Lâu và Lũng Cô Sầu là hai địa danh được trở đi trở lại ở tất cả các sáng tác của ông Không gian ấy xuất hiện như một mô tuýp nghệ thuật với bao đặc trưng của miền núi Cuộc sống của con người nơi đây đều được đặt trong mối quan hệ với không gian này Núi đá, rừng cây, nương bãi, sông suối, vực sâu, mưa rừng, sương mù, con đường đều là chứng nhân cho tình yêu và sự đau thương mất mát của họ
Tiếp đến là không gian văn hóa đậm đà bản sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số quần cư trong thị trấn nhỏ Cô Sầu với những mĩ tục cần được
giữ gìn và phát huy Đó là phong tục đi chợ Tình trong truyện ngắn Chợ tình thật đẹp Đó là tục lệ “Khai vài xuân” trong Súc Hỷ, là tục diễn “Rối đầu gỗ” trong Hòn bi đá màu trắng, tục diễn tuồng cổ Nam Kim Thị Đan, Chín chúa tranh vua trong Hoa bay cuối trời và Biệt cánh chim trời, tục hát sly lượn trong Người lang thang, hát then trong Cực lạc được cất lên trong
những đêm tình mùa xuân
Thị trấn nhỏ Cô Sầu như một bức tranh hiện thực xã hội miền núi thu nhỏ, nó được Cao Duy Sơn tái hiện trong một thế giới nghệ thuật đầy đa tạp, ở đó có sự đan xen giữa tốt và xấu, giữa thiện và ác, giữa thánh thần và
ma quỷ, giữa ánh sáng và bóng tối Có khi cả hai phân cực này xuất hiện
trong cùng một nhân vật Ví dụ như trong tiểu thuyết Người lang thang,
nhân vật Ngấn và Phắn được xây dựng trên cơ sở đối lập, tương phản nhau Ngấn là “con đường con chợ” cuộc sống của Ngấn đầy khó khăn, trong khi
đó Phắn là cậu ấm nhà chủ tịch thị trấn, Phắn được nuông chiều, cung phụng ngay từ nhỏ Trong cuộc chạy đua để dành được Diên, quan hệ đối lập tương phản giữa hai nhân vật càng thể hiện rõ Hay trong mối quan hệ
giữa Sinh và Phúng trong Biệt cánh chim trời
Thông qua thế giới nghệ thuật ấy nhà văn đã bộc lộ một quan niệm nghệ thuật về hiện thực đời sống, về số phận của con người trước những biến đổi của lịch sử, trước những giông bão của cuộc đời Quan niệm nghệ thuật đó được nhà văn thể hiện gián tiếp thông qua việc xây dựng các hình