DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Viết đầy đủ BHTG Bảo hiểm tiền gửi CAMELS Nhóm tiêu chuẩn giám sát CNTT Công nghệ thông tin FDIC Tổng Công ty Bảo hiển tiền gửi Liên Bang Hoa Kỳ FS
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TÔ KIM NGỌC
Hà Nội, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng năm 2017
Tác giả luận văn
NGUYỄN XUÂN BẮC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn: Hội đồng khoa học Học viện Khoa học – Xã hội Việt Nam, các giảng viên của chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn trong quá trình học tập và nghiên cứu Xin cảm ơn các phòng, ban liên quan đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện, đóng góp nhiều ý kiến cho nội dung nghiên cứu của đề tài
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Tô Kim Ngọc, người đã tận tình bồi dưỡng kiến thức, năng lực tư duy, phương pháp nghiên cứu
và trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, trao đổi của thầy cô, các bạn đồng nghiệp và độc giả để luận văn được hoàn thiện và đề tài có giá trị thực tiễn cao hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2017
Tác giả luận văn
NGUYỄN XUÂN BẮC
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI 8
1.1 Bản chất, chức năng và vai trò hoạt động bảo hiểm tiền gửi 8
1.2 Nội dung hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi 16
1.3 Yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi 20
1.4 Kinh nghiệm thực hiện hoạt động chi trả bảo hiểm iền gửi của một số nước và bài học rút ra cho Việt Nam 30
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BHTG CỦA CHI NHÁNH BHTG VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 36
2.1 Tổng quan về Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội 36
2.2 Hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội 44
2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội 48
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI CỦA CHI NHÁNH BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 67
3.1 Định hướng hoạt động của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội 67
3.2 Các giải pháp hoàn thiện hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội 69
3.3 Kiến nghị 76
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 84
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Viết đầy đủ
BHTG Bảo hiểm tiền gửi
CAMELS Nhóm tiêu chuẩn giám sát
CNTT Công nghệ thông tin
FDIC Tổng Công ty Bảo hiển tiền gửi Liên Bang Hoa Kỳ
FSMIMS Dự án Hệ thống thông tin quản lý và hiện đại hóa hoạt
động ngân hàng
HMCT Hạn mức chi trả
IADI Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế
NHNN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM Ngân hàng thương mại
MATTC Mạng an toàn tài chính
QTDND Quỹ tín dụng nhân dân
TCTD Tổ chức tín dụng
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ HÌNH, SƠ ĐỒ
Bảng 1.1: Chức năng nhiệm vụ của các mô hình hệ thống BHTG 12
Bảng 1.2 Trở ngại thường gặp trong quá trình chi trả BHTG 21
Bảng 2.1 Tổng hợp tình hình chi trả BHTG của Chi nhánh đến nay 48
Bảng 2.2 Cơ cấu cán bộ Chi nhánh theo trình độ chuyên môn 64
Biểu đồ 2.1 Số lượng các tổ chức tham gia BHTG trên địa bàn thuộc Chi nhánh phụ trách 43
Biểu đồ 2.2 Mối quan tâm khi gửi tiền vào ngân hàng của người gửi tiền 54
Biểu đồ 2.3 Kết quả Cuộc thi tìm hiểu về BHTG 54
Biểu đồ 2.4 Diễn biến tỉ lệ hạn mức chi trả BHTG/thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam 58
Biểu đồ 2.5 Cơ cấu tiền gửi ở Việt Nam theo số tiền 60
Hình 1.1 Mô hình chi trả hiệu quả 19
Hình 1.2 Mô hình chi trả truyền thống 20
Hình 2.1 Hạn mức chi trả/GDP bình quân đầu người 59
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức của BHTG Việt Nam 38
Sơ đồ 2.2 Bộ máy tổ chức của Chi nhánh BHTG Việt Nam tại TP Hà Nội 40
Sơ đồ 2.3 Quy trình chi trả BHTG 46
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động của các tổ chức trong hệ thống tài chính ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro, đặc biệt là rủi ro mất khả năng thanh toán Khi một tổ chức gặp rủi ro mất khả năng thanh toán thì có thể dẫn đến hiện tượng đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống, làm giảm niềm tin của công chúng và các nhà đầu tư đối với hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung, và gây khó khăn cho các tổ chức ngân hàng trong việc huy động vốn và sử dụng vốn, gây bất ổn nền kinh tế Vì vậy, việc thành lập tổ chức BHTG là một giải pháp hữu hiệu giúp ngăn ngừa và xử lý khi nguy cơ này xảy ra
Cùng với xu hướng thành lập mô hình BHTG trên thế giới và sự hội nhập kinh
tế quốc tế mạnh mẽ ở nước ta thời kì đó, việc thành lập tổ chức BHTG là vô cùng cần thiết Trong bối cảnh đó, BHTG Việt Nam đã được thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09/11/1999 của Thủ tướng Chính phủ và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 07/07/2000 và là tổ chức duy nhất thực hiện chính sách BHTG nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của NGT; hỗ trợ các TCTD gặp khó khăn; kiểm soát và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng
Mỗi quốc gia, tổ chức BHTG có mô hình hoạt động khác nhau, với các chức năng chính như: Thu phí, kiểm tra, giám sát, chi trả BHTG… Trong đó, hoạt động chi trả BHTG như là “chốt chặn” đảm bảo cho sự an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng Nghiệp vụ chi trả BHTG được thực hiện càng nhanh, càng chính xác thì
sẽ giúp hạn chế được hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống, thể hiện rõ vai trò, hiệu quả của tổ chức BHTG
Tại Việt Nam, sau hơn 17 năm thành lập và phát triển, BHTG Việt Nam đã triển khai có hiệu quả chính sách BHTG Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã chi trả cho 1.793 người gửi tiền tại 39 tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là QTDND trên địa bàn 11 tỉnh, thành phố với tổng số tiền chi trả là hơn 26.778 triệu đồng [2, tr71], góp phần ngăn ngừa đổ vỡ hệ thống, đảm bảo an sinh xã hội và không dùng ngân sách nhà nước để chi trả cho người gửi tiền
Trang 8Tuy nhiên, hoạt động chi trả của BHTG Việt Nam nó chung, Chi nhánh BHTGVN tại thành phố Hà Nội nói riêng mới chỉ thực hiện chi cho người gửi tiền ở một số QTDND Nay với sự cho phép, về nguyên tắc, phá sản các ngân hàng yếu kém, rõ ràng nghiệp vụ chi trả tiền BHTG có sẽ phải đẩy mạnh hơn với quy mô người thụ hưởng rất lớn Nếu không đảm bảo được tính nhanh chóng và chính xác, thì rất có khả năng xảy ra hiện tượng rút tiền hàng loạt ở các ngân hàng khác, có thể gây ra hiệu ứng đổ vỡ dây chuyền do ngân hàng mất khả năng chi trả
Mặt khác, việc xác định đối tượng được bảo hiểm trong quá trình chi trả còn thực hiện thủ công, nên thời gian hoàn thành thủ tục chi trả không được nhanh chóng và có thể bỏ sót nếu khối lượng khách hàng rất lớn như ở các NHTM Chính
vì vậy, hiện nay hoạt động chi trả tiền BTHG là vấn đề còn nhiều nội dung cần hoàn thiện để phù hợp với thực tế
Với những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Hoạt động chi trả
bảo hiểm tiền gửi của Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài luận văn, tác giả đã tìm đọc một
số tài liệu, đề tài nghiên cứu khoa học về hoạt động BHTG và chi trả BHTG như:
Trung tâm Thông tin khoa học, Viện nghiên cứu lập pháp (2009), Kinh nghiệm quốc tế về tổ chức BHTG hiệu quả, Trên những năm vừa qua chưa có một
mô hình tổ chức BHTG thống nhất áp dụng cho tất cả các quốc gia Để đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống BHTG, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng và Hiệp hội BHTG quốc tế đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu và ban hành tài liệu “Các nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả” Kết quả hướng dẫn khẳng định, điều kiện tiên quyết cho hệ thống BHTG hiệu quả gồm: cơ sở pháp lý đầy đủ, hoạt động độc lập, quản trị minh bạch, chức năng nhiệm vụ đầy đủ và cơ chế phối hợp chặt chẽ với các thành viên tham gia MATTC quốc gia Đây là căn cứ để các quốc gia vận dụng xây dựng hoặc cải cách
hệ thống BHTG phù hợp với đặc thù phát triển kinh tế xã hội và cấu trúc hệ thống
Trang 9tài chính Tài liệu đã xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động BHTG, phân tích các
mô hình tổ chức và cơ chế quản lý đối với hệ thống BHTG Tìm hiểu về cơ cấu quản trị và điều hành tổ chức BHTG, cơ chế phối hợp giữa tổ chức BHTG và các cơ quan khác trong MATTC [32]
Nguyễn Duy Toàn (2011), Pháp luật về tổ chức BHTG ở Việt Nam, Luận văn
thạc sĩ Luật, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Trình bày một số vấn đề lý luận
về BHTG và tổ chức BHTG như: sự hình thành, phát triển, khái niệm, bản chất, mục đích của BHTG và vai trò của tổ chức BHTG Nghiên cứu thực trạng pháp luật
về hoạt động của tổ chức BHTG ở Việt Nam.Trên cơ sở phân tích các nhu cầu và cơ
sở hoàn thiện pháp luật về tổ chức BHTG, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật về tổ chức BHTG ở Việt Nam [31]
Nguyễn Đình Hảo (2013), Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTG Việt Nam trên địa bàn Bắc Trung Bộ, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Viện
Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Tác giả luận văn đã nghiên cứu tổng quan lý luận chung về BHTG, các quy định hiện hành của Pháp luật Nhà Nước về BHTG; những thông lệ quốc tế về BHTG, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; Qua việc phân tích, đánh giá tổng quan, cơ cấu tổ chức, các hoạt động chính của BHTG Việt Nam và phân tích thực trạng hoạt động tại Chi nhánh khu vực Bắc Trung Bộ, đánh giá những kết quả đạt được, các thành tựu và chỉ ra những tồn tại, hạn chế và vướng mắc cũng như nguyên nhân của chúng; Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTG Việt Nam trên địa bàn khu vực Bắc Trung Bộ [11]
Vũ Thị Mỹ Hương (2011), Hoàn thiện chính sách BHTG trong MATTC quốc gia, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện hành chính quốc gia Tác
giả đã hệ thống hóa và bổ sung những lý luận về chính sách về BHTG Phân tích thực trạng các chính sách BHTG ở Việt Nam.Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách tài chính quốc gia đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện các chính sách BHTG của Việt Nam trong thời gian qua [14]
Trang 10Chu Thị Thanh Hương (2013), Điều chỉnh HMCT BHTG tại tổ chức BHTG Việt Nam- DIV, Luận văn thạc sĩ TC-NH, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí
Minh Tác giả luận văn đã hệ thống hóa các lý luận liên quan đến hoạt động BHTG
và chi trả BHTG.Phân tích thực trạng các hoạt động này từ đó rút ra kết luận những thành công và hạn chế liên quan Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp
và kiến nghị liên quan đến hoạt động BHTG nói chung và việc điều chỉnh HMCT BHTG nói riêng [13]
Ngoài ra, tác giả đề tài cũng tìm đọc và nghiên cứu một số tài liệu khác liên
quan đến đề tài nghiên cứu như: Đặng Duy Cường (2007), “Mô hình tổ chức BHTG giảm thiểu rủi ro”, Thông tin BHTG [9, tr5]; Lê Thị Thúy Sen (2008), Quy chế pháp lý về BHTG, Viện Nhà nước và Pháp luật [24]; Bùi Khắc Sơn (2007), “Xây dựng Luật BHTG - Yêu cầu tất yếu và cấp thiết khi Việt Nam gia nhập WTO”,
Thông tin BHTG [26]…Các đề tài khoa học và luận văn trên đều có nghiên cứu liên quan đến hoạt động BHTG Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu trực tiếp về hoạt động chi trả BHTG ở Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các lý luận và thực trạng hoạt động chi trả BHTG, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
i Làm sáng tỏ các khái niệm liên quan và hệ thống hóa các lý luận liên quan đến hoạt động chi trả BHTG
ii Đánh giá thực trạng hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội, chỉ ra những thành công và hạn chế của hoạt động này
iii Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị hoàn thiện hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG
tại thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Đề tài nghiên cứu hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh
BHTG tại thành phố Hà Nội dưới góc độ của chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng với các nội dung như cơ sở pháp lý của hoạt động, nguyên tắc, quy trình, phương pháp chi trả BHTG…
Về không gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh
BHTG tại thành phố Hà Nội, khảo sát điều tra cán bộ nhân viên Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội và BHTG Việt Nam
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh
BHTG tại thành phố Hà Nội từ năm 2002, đề xuất các giải pháp đến năm 2025
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chung xuyên suốt cả đề tài là phương pháp duy vật biện chứng Áp dụng phương pháp này, hoạt động chi trả BHTG được xem như luôn biến đổi, vận động nên cần được quan tâm đổi mới, đồng thời sử dụng phương pháp duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh
để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu
5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
5.2.1 Thu thập dữ liệu thứ cấp
Nguồn dữ liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu đề tài luận văn gồm có:
- Các giáo trình, các luận văn, luận án, công trình khoa học khác có liên quan đến đề tài luận văn để hệ thống và xây dựng khung lý thuyết cho đề tài nghiên cứu của luận văn;
- Các báo cáo tổng hợp liên quan đến hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG thành phố Hà Nội, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội của các phòng ban chức năng của Chi nhánh BHTG thành phố Hà Nội, thời gian từ năm
Trang 122002 đến năm 2016 làm cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội
- Kế thừa, sử dụng kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước, các thông tin liên quan đến đề tài trên sách báo, tạp chí khoa học, các trang web
5.2.2 Thu thập dữ liệu sơ cấp
Để có thông tin đầy đủ cho mục đích nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn
Để có thêm thông tin nhằm đưa ra các nhận xét, đánh giá và các kết luận về thực trạng hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội thời gian qua, tác giả thực hiện khảo sát ý kiến của các đối tượng là các cán bộ quản lý của chi nhánh, khách hàng tham gia BHTG Cụ thể:
- Với cán bộ của Chi nhánh BHTG thành phố Hà Nội và BHTG Việt Nam, lựa chọn 50 cán bộ để khảo sát
- Với các tổ chức, cá nhân tham gia BHTG tác giả lựa chọn 50 người đề khảo sát
Trên cơ sở phiếu điều tra đã được thiết kế, tiến hành lập danh sách cần điều tra và phát phiếu điều tra dưới hình thức: gửi phiếu điều tra trực tiếp hoặc qua email Thời gian điều tra được tiến hành từ tháng 01/06/2017 đến tháng 30/06/2017
5.3 Phương pháp xử lý dữ liệu:
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý kết quả nghiên cứu khảo sát đảm bảo chính xác và độ tin cậy cao Từ đó, tác giả định lượng kết quả nghiên cứu và các nhận xét, đánh giá khoa học Trong luận văn này, tác giả sẽ chủ yếu áp dụng công thức trong phần mềm excel để tính tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình
Ngoài ra, đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để phân tích dữ liệu khảo sát điều tra
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận giải một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về hoạt động chi trả BHTG, những khái niệm liên quan…
Trang 136.2 Ý nghĩa thực tiễn
Phân tích, đánh giá tình hình tham gia BHTG, thực trạng hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội Xây dựng và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh BHTG tại thành phố Hà Nội cho giai đoạn đến năm 2025
Kết quả nghiên cứu giúp cá nhân có thêm kỹ năng, phương pháp giải quyết vấn đề thuộc lĩnh vực của mình từ góc độ tiếp cận Tài chính – Ngân hàng Luận văn
có thể là tài liệu tham khảo trong học tập và nghiên cứu về lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục nội dung chính được cơ cấu thành 3 chương:
Chương 1: Nội dung cơ bản về hoạt động chi trả BHTG của tổ chức BHTG Chương 2: Thực trạng hoạt động chi trả bảo hiểm của Chi nhánh BHTG Việt
Nam tại thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động chi trả BHTG của Chi nhánh
BHTG Việt Nam tại thành phố Hà Nội
Trang 14Chương 1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1 Bản chất, chức năng và vai trò hoạt động bảo hiểm tiền gửi
1.1.1 Bản chất của hoạt động bảo hiểm tiền gửi
1.1.1.1 Sự ra đời của hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Sự ra đời của hoạt động BHTG gắn liền với việc chuyển từ hình thức “bảo vệ ngầm”, một cam kết không công khai trước công chúng của Chính phủ về việc bảo
vệ tiền gửi của NGT, sang hình thức bảo vệ công khai Theo đó NGT sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ tiền gửi cùng với tiền lãi nhập gốc trên tài khoản tiền gửi khi ngân hàng đổ bể theo hợp đồng hoặc cam kết công khai
Việc bảo vệ tiền gửi công khai đầu tiên được thực hiện ở New York năm 1829 với tên gọi “Chương trình bảo hiểm trách nhiệm ngân hàng”, đối tượng bao gồm tiền gửi ngân hàng và chứng chỉ huy động tiền gửi Từ năm 1831 đến năm 1858, năm bang gồm: Vermont, Indiana, Michigan, Ohia, Iowa đã thành lập tổ chức BHTG với
sự tham gia tự nguyện của các ngân hàng nhằm: bảo vệ cộng đồng khi có ngân hàng
đổ bể, bảo vệ NGT cá nhân và người gửi các công cụ huy động tiền gửi Mặc dù các
tổ chức này hoạt động khá hiệu quả trong thời gian đầu nhưng cuối cùng vẫn phải đóng cửa do: (i) Sự ra đời của chính sách ngân hàng tự do ở Mỹ năm 1830 đã tạo điều kiện cho một số lượng lớn các ngân hàng có thể rút ra khỏi tổ chức BHTG; (ii)
Sự thành lập hệ thống ngân hàng quốc gia năm 1886 cho phép các NHNN các bang chuyển thành ngân hàng quốc gia và có thể rút ra khỏi tổ chức BHTG; (iii) Các tác động xấu của cuộc suy thoái kinh tế 1929 - 1933 làm nhiều ngân hàng phải đóng của dẫn dến sự tan rã của các tổ chức BHTG
Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, để ứng phó với tình huống và nhanh chóng
ổn định tình hình kinh tế, chính trị, Chính phủ cần đứng ra bảo vệ quyền lợi của người dân gửi tiền Vì vậy, năm 1933, Tổng công ty BHTG liên bang Mỹ (Federal Deposit Insurance Corporation - FDIC) được thành lập và bắt đầu hoạt động từ
Trang 15ngày 1/1/1934 Đây cũng được xem là mô hình tổ chức BHTG công khai đầu tiên trên thế giới Trước sự thành công của FDIC, mô hình BHTG đã được thành lập và phát triển ở rất nhiều nước như Na Uy (1961), Ấn Độ (1963), Philippines (1963), Đức (1966), Canada (1967), Phần Lan (1969), Nhật Bản (1971), Bỉ (1974), Hà Lan
có gần 130 tổ chức BHTG công khai trên thế giới, trong đó có 83 tổ chức là thành viên của IADI Do bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp cả về kinh tế, chính trị, xã hội và khoa học công nghệ, tổ chức BHTG có xu hướng gia tăng
1.1.1.2 Bản chất và đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi
Theo Điều 4, Luật BHTG 2012 thì BHTG là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được BHTG trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia BHTG lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho NGT hoặc phá sản [23]
Theo thông lệ quốc tế, hiện nay trên thế giới có 2 xu hướng tham gia BHTG,
đó là các Tổ chức tham gia BHTG có thể tham gia BHTG một cách bắt buộc hoặc
tự nguyện Điều này tùy thuộc vào chính sách TC-NH của mỗi quốc gia Tuy nhiên, qua nghiên cứu ở các nước, cho thấy xu hướng phổ biến hiện nay là tham gia BHTG bắt buộc
BHTG cũng mang bản chất của các loại hình bảo hiểm nói chung, tức là hoạt động theo nguyên lý lấy số đông bù số ít nhưng bên cạnh đó nó còn mang tính chất đặc thù, đó là: Hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ công, có nghĩa là BHTG là công cụ được sử dụng để thực hiện chính sách công của từng quốc gia
Trang 16Hoạt động của tổ chức BHTG thông thường không vì mục tiêu lợi nhuận Chính phủ các quốc gia thành lập tổ chức BHTG nhằm mục đích để thực hiện chính sách công Bởi trong thực tế, hoạt động TC-NH là hoạt động nhạy cảm, gắn với tính lan truyền rất cao; đồng thời sự đổ vỡ của hệ thống TC-NH sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế và gây ra những bất ổn về mặt xã hội Do đó Chính phủ các quốc gia đã
sử dụng công cụ tài chính là BHTG nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống TC-NH và ổn định xã hội
1.1.1.3 Sự khác biệt so với các loại hình bảo hiểm khác
BHTG và các và các loại hình Bảo hiểm thương mại khác bên cạnh những giống nhau điểm giống nhau thì hoạt động BHTG có những điểm khác biệt, điều đó được thể hiện như sau:
Thứ nhất, về tính chất hoạt động: Cũng giống như các loại hình bảo hiểm
thương mại khác, hoạt động BHTG mang tính chất chung của hoạt động bảo hiểm tức là dựa trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít Tuy nhiên, đây là một loại hình mang tính chất đặc thù vì BHTG là công cụ thực hiện chính sách công với vai trò cơ bản là bảo vệ NGT, góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn và lành mạnh của hệ thống tài chính quốc gia Tính đặc thù của BHTG so với các loại hình bảo hiểm thương mại khác được thể hiện ở các khía cạnh như cơ chế bảo hiểm, chủ thể tham
gia bảo hiểm, đối tượng nộp phí, đối tượng được hưởng các quyền lợi bảo hiểm
Thứ hai, về cơ chế bảo hiểm: Ở các loại hình bảo hiểm thương mại khác khi
chủ thể tham gia bảo hiểm sẽ xuất hiện mối quan hệ trực tiếp giữa một bên là đối tượng bảo hiểm và một bên là đối tượng được bảo hiểm Còn ở BHTG thì khác, mặc
dù NGT là người được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách BHTG nhưng không xuất hiện mối quan hệ trực tiếp về BHTG giữa NGT và tổ chức BHTG trừ trường hợp khi
xẩy ra đổ vỡ của TCTD
Thứ ba, về chủ thể tham gia BHTG: Theo quy định, bất cứ một TCTD hoặc
không phải là TCTD nhưng có hoạt động huy động tiền gửi của dân cư thì phải tham gia BHTG một cách bắt buộc Trách nhiệm đóng phí thuộc về tổ chức tham
gia BHTG
Trang 17Thứ tư, đối tượng được hưởng các quyền lợi bảo hiểm: Mặc dù người được
hưởng các quyền lợi trực tiếp từ chính sách BHTG là NGT, nhưng NGT không phải trực tiếp tham gia BHTG Theo đó trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG bị giải thể hoặc phá sản thì tổ chức BHTG sẽ thay mặt Chính phủ đứng ra chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho NGT theo quy định của Pháp luật mỗi quốc gia Số tiền vượt quá HMCT tiền gửi được bảo hiểm cho mỗi khoản tiền gửi của cá nhân ở NGT sẽ được nhận trong quá trình thanh lý tổ chức tham gia BHTG, với thứ tự ưu tiên về vị trí chủ nợ theo quy định của pháp luật về giải thể hoặc phá sản.Tổ chức tham gia BHTG được hưởng lợi gián tiếp từ việc tham gia BHTG: Được giám sát bởi một cơ quan Nhà nước, huy động vốn từ dân cư sẽ dễ dàng hơn do ở NGT biết họ sẽ được
bảo hiểm khi gửi tiền tại tổ chức đã tham gia BHTG
Thứ năm, về đối tượng tham gia BHTG: Là các TCTD hoặc không phải là tổ
chức tín nhưng có hoạt động ngân hàng Đối tượng tham gia của các loại hình bảo
hiểm thương mại là các tổ chức hoặc cá nhân
Thứ sáu, cơ chế tham gia bảo hiểm: Cơ chế tham gia BHTG là bắt buộc Tất
cả các TCTD hoặc không phải là TCTD được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật mà có nhận tiền gửi của tổ chức hoặc cá nhân (gọi tắt là tổ chức tham gia BHTG) phải tham gia BHTG bắt buộc, còn đối với các loại
hình khác thì có thể thỏa thuận
Thứ bảy, hình thức pháp lý tham gia: Ở BHTG đó là sự bắt buộc của các tổ
chức tham gia BHTG mà không thông qua hợp đồng bảo hiểm Sở dĩ không xuất hiện hợp đồng BHTG giữa tổ chức BHTG và các tổ chức tham gia BHTG vì hợp đồng phải dựa trên cơ sở thỏa thuận, còn mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia BHTG là theo hình thức bắt buộc Còn ở các loại hình bảo hiểm thương mại khác
thì thông thường phải thông qua hợp đồng bảo hiểm
Thứ tám, nội dung bảo hiểm: Nội dung BHTG theo quy định của phát luật và
là sự bắt buộc, còn ở các loại hình bảo hiểm khác thì có thể do sự lựa chọn, thỏa thuận của chủ thể về nội dung tham gia bảo hiểm
Trang 181.1.2 Chức năng của bảo hiểm tiền gửi
Chức năng cơ bản của BHTG là việc đảm bảo an toàn và hoàn trả Hoạt động BHTG trên thế giới hiện nay được tổ chức triển khai theo ba mô hình BHTG: Mô hình giảm thiểu rủi ro, Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng và Mô hình chi trả Chức năng nhiệm vụ của các mô hình hệ thống BHTG được so sánh qua Bảng 1.1
Bảng 1.1: Chức năng nhiệm vụ của các mô hình hệ thống BHTG
Chức năng nhiệm vụ Chi trả
Chi trả với quyền hạn
mở rộng
Giảm thiểu rủi
ro
Can thiệp vào hoạt động của tổ chức tham
gia BHTG
Nguồn: Hiệp hội BHTG quốc tế - IADI
Tùy vào mục đích và mô hình tổ chức BHTG của từng quốc gia mà nội dung BHTG được tổ chức BHTG thực hiện thông qua những nghiệp vụ cụ thể khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung các tổ chức BHTG trên thế giới đều thực hiện các nhóm nghiệp vụ cơ bản là: Bảo hiểm tài chính cho NGT, giám sát hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG, hỗ trợ tổ chức tham gia BHTG
Trang 191.1.2.1 Bảo hiểm tài chính cho người gửi tiền
BHTG thực hiện cam kết thanh toán cho NGT thuộc đối tượng được bảo hiểm, bao gồm cả gốc lẫn lãi, theo một mức độ nhất định tùy thuộc quy đinh về HMCT tiền bảo hiểm tại mỗi quốc gia Việc chi trả được thực hiện khi tổ chức tham gia BHTG chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán
Để bảo vệ quyền lợi cho NGT khi đổ vỡ ngân hàng, Tổ chức BHTG tạo lập quỹ BHTG thông qua hình thức thu phí đối với các tổ chức tham gia BHTG Phí BHTG là khoản tiền mà tổ chức tham gia BHTG phải nộp cho tổ chức BHTG để bảo hiểm cho tiền gửi của người được BHTG tại tổ chức tham gia BHTG Hiện nay, trên thế giới có
2 phương thức thu phí chủ yếu: đồng hạng và theo mức độ rủi ro Với cách tính phí đồng hạng, số tiền phí phải nộp được tính theo một tỷ lệ phí đồng nhất áp dụng cho tất
cả các tổ chức tham gia BHTG Cách tính phí theo mức độ rủi ro với các tỷ lệ phí khác nhau, có phân biệt áp dụng cho từng nhóm tổ chức tham gia BHTG theo nguyên tắc tổ chức có rủi ro cao hơn phải nộp phí cao hơn và ngược lại
Sau khi chi trả, tổ chức BHTG thường có vai trò trong việc quản lý các mối quan hệ tài chính của tổ chức tham gia BHTG Điều này được thể hiện qua hoạt động thanh lý tài sản …Các hoạt động này giúp tổ chức BHTG thu hồi một phần vốn khi thực hiện công tác chi trả
1.1.2.2 Giám sát hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Giám sát hoạt động hay giám sát từ xa của tổ chức BHTG đối với các tổ chức tham gia BHTG là quá trình theo dõi, phân tích, đánh giá tình hình hoạt động
và mức độ rủi ro của tổ chức tham gia BHTG từ các nguồn thông tin về tổ chức tham gia BHTG mà tổ chức BHTG có được Hoạt động này được tiến hành thường xuyên, định kỳ nhằm đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về BHTG và các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng, từ đó đưa ra cảnh báo,
đề xuất biện pháp chấn chỉnh kịp thời, giúp tổ chức tham gia BHTG hoạt động đúng pháp luật, an toàn và hiệu quả Đây còn là cơ sở để tiến hành hoạt động kiểm tra tổ chức tham gia BHTG theo phương thức chọn mẫu nhằm giảm gánh nặng về tài chính và nhân lực cho tổ chức BHTG
Trang 201.1.2.3 Hỗ trợ tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Hỗ trợ tài chính của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG được thực hiện thông qua hình thức cho vay hỗ trợ khi các tổ chức này gặp khó khăn về khả năng thanh khoản và thanh toán; mua lại các tài sản có, đặc biệt là tài sản có chưa đến hạn thanh toán; bảo lãnh để tổ chức tham gia BHTG đi vay vốn tại đơn vị khác Hoạt động này nhằm giúp tổ chức BHTG vượt qua giai đoạn khủng hoảng về tính thanh khoản, khôi phục hoạt động, từ đó duy trì sự ổn định, an toàn của toàn hệ thống ngân hàng của quốc gia Tuy nhiên, các quyết định hỗ trợ tài chính cần được tính toán chi tiết, thận trọng và lập kế hoạch kỹ càng trước khi thực hiện nhằm tránh việc tốn kém chi phí mà không giải quyết được triệt để vấn đề và làm gia tăng rủi ro đạo đức
Song song với hoạt động hỗ trợ tài chính, tổ chức BHTG cũng thực hiện các phương án hỗ trợ về tổ chức và nâng cao năng lực quản lý bằng cách đưa ra các khuyến cáo về đổi mới cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động và triển khai nghiệp vụ, tìm kiếm đối tác liên kết… nhằm giúp tổ chức tham gia BHTG nhanh chóng vượt qua khó khăn, khôi phục hoạt động bình thường, tránh ảnh hưởng đến hoạt động của các tổ chức lân cận
1.1.3 Vai trò của hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Vì BHTG là sản phẩm của nền kinh tế thị trường và chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường nên vai trò của BHTG xuất phát từ bản chất của hoạt động tài chính luôn gắn liền yếu tố niềm tin, mang tính nhạy cảm và có tính lan truyền cao
1.1.3.1 Chia sẻ rủi ro cho người gửi tiền và các tổ chức tham gia bảo hiểm
BHTG có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ NGT, nâng cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống TC-NH Bởi lẽ, trong nền kinh tế thị trường, bảo vệ người tiêu dùng nói chung và NGT nói riêng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi Chính phủ Bảo vệ người tiêu dùng là đảm bảo cân bằng giữa sự phát triển và đảm bảo quyền lợi của người dân trong xã hội dân sự Do đó BHTG là một công cụ tài chính hữu hiệu được hầu hết các Chính phủ sử dụng để bảo vệ NGT Đặc biệt là những
Trang 21người có những hạn chế nhất định trong việc tiếp cận các thông tin về điều hành và hoạt động của TCTD nơi họ gửi tiền
Tổ chức BHTG có nhiệm vụ thay mặt Chính phủ bảo vệ tiền gửi của người dân và trong trường hợp TCTD bị đổ vỡ thì tổ chức BHTG phải có trách nhiệm chi trả toàn bộ hoặc một phần tiền gửi cho NGT Điều đó làm giảm gánh nặng về mặt
tài chính cho NGT cũng như các tổ chức tham gia BHTG
1.1.3.2 Góp phần bảo đảm an toàn hệ thống tổ chức tín dụng
BHTG giúp xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống TC-NH và đó là yêu cầu đặt ra với bất kỳ Chính phủ nào trên thế giới Hơn nữa, nếu người dân không tin tưởng vào hệ thống ngân hàng nói chung và TCTD nói riêng, lập tức người dân sẽ có hành động rút tiền ra khỏi hệ thống ngân hàng Trường hợp này vô cùng nguy hiểm nếu hiện tượng này xẩy ra hàng loạt và điều đó có thể dẫn đến đổ vỡ ngân hàng gây nguy hại đến toàn bộ nền kinh tế Lịch sử hoạt động TC-
NH đã xẩy ra khá nhiều vụ rút tiền ồ ạt, gây ra sự tê liệt và đổ vỡ của các ngân hàng như ở Mỹ vào những năm 1920, 1930 hay ở châu Á năm 1997 và gần đây nhất là ở Anh, Mỹ (Ngân hàng Northem Rock của Anh và ngân hàng Contrywide của Mỹ)
BHTG xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng thông qua các hoạt động như: Cung cấp đầy đủ cho công chúng thông tin về các ngân hàng; Thực hiện các nghiệp vụ kiểm tra, giám sát rủi ro đối với các tổ chức tham gia BHTG; Hỗ trợ các tổ chức tham gia BHTG khi gặp khó khăn về tài chính nhằm phục hồi hoạt động của các tổ chức đó; Xử lý TCTD đổ vỡ; BHTG tạo
sự cạnh tranh bình đẳng giữa các TCTD; Góp phần thúc đẩy đảm bảo an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng từ khi cấp phép cho đến khi chấm dứt hoạt động
1.1.3.3 Góp phần phát triển kinh tế - xã hội
Hoạt động BHTG góp phần phát triển kinh tế và ổn định xã hội Hệ thống ngân hàng được xem là kênh huy động và phân phối vốn chủ yếu của nền kinh tế Bên cạnh đó, tiền tiết kiệm của dân cư cũng là nguồn vốn đầu tư tiềm năng và bền vững Tổ chức BHTG thực hiện tốt hai vai trò nêu trên chính là góp phần thúc đẩy huy động vốn cho đầu tư phát triển Mặt khác, sự hình thành của hệ thống BHTG
Trang 22giúp phân tán, chia xẻ rủi ro trong hoạt động TC-NH cho nhiều bên liên quan, giảm gánh nặng tài chính cho Chính phủ trong trường hợp xử lý đổ vỡ của TCTD, đồng nghĩa với việc giảm gánh nặng đóng thuế cho người dân từ đó góp phần duy trì trật tự
và ổn định xã hội
1.2 Nội dung hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi
1.2.1 Khái niệm hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi
Chi trả tiền bảo hiểm là một trong những chức năng cơ bản của các hệ thống BHTG, không phân biệt ngầm hay công khai, cấp vốn trước hay cấp vốn sau Theo định nghĩa về chi trả BHTG của IADI: “Chi trả tiền bảo hiểm là một trong những nhiệm vụ chính của tổ chức BHTG Theo đó, tổ chức BHTG phải có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm kịp thời cho NGT khi một ngân hàng bị cơ quan chức năng tuyên bố đóng cửa.” Từ bảng so sánh chức năng nhiệm vụ của các mô hình hệ thống BHTG (Bảng 1.1), dễ dàng nhận thấy, chi trả tiền bảo hiểm là hoạt động cơ bản nhất của tất cả các mô hình tổ chức BHTG trên thế giới
Chi trả BHTG được hiểu là việc thực hiện cam kết thanh toán khoản tiền gửi được bảo hiểm bao gồm tiền gốc và tiền lãi của tổ chức BHTG cho NGT thuộc đối tượng được bảo hiểm trong HMCT [24, tr20]
Chi trả tiền bảo hiểm cho NGT gắn chặt với hai yếu tố chính là thời gian và sự thuận tiện Chi trả kịp thời và chính xác giúp duy trì niềm tin công chúng, tránh tâm
lý hoảng loạn của NGT dẫn đến rút tiền hàng loạt; giảm thiểu hiệu ứng “domino” lây lan từ ngân hàng này sang ngân hàng khác và ảnh hưởng đến kinh tế NGT sẽ thay đổi hành vi nếu biết được chi trả kịp thời và đáp ứng mong đợi của họ Quá trình chi trả bị trì hoãn có thể ảnh hưởng đến niềm tin vào BHTG, tác động đến sự ổn định
Từ khái niệm trên có thể thấy đối tượng hưởng BHTG là NGT thuộc đối tượng bảo hiểm có các khoản tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức này đổ vỡ, phá sản và mất khả năng thanh toán Số tiền bảo hiểm được hưởng bằng số tiền gốc và lãi của các khoản tiền gửi được bảo hiểm, tối đa không vượt quá HMCT BHTG
Trang 231.2.2 Nội dung hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi
1.2.2.1 Xác định hạn mức chi trả
HMCT “là khoản tiền tối đa mà tổ chức BHTG sẽ thanh toán cho NGT thuộc đối tượng được BHTG tại các tổ chức tham gia BHTG khi phát sinh nghĩa vụ trả
tiền bảo hiểm” (Nguồn: www.div.gov.vn)
Đối với NGT, họ luôn muốn nhận lại toàn bộ khoản tiền gửi tại tổ chức tham gia BHTG bị phá sản, đồng nghĩa với HMCT BHTG là 100% số dư tiền gửi được bảo hiểm Tuy nhiên, không có tổ chức BHTG nào thực hiện điều này vì làm gia tăng nguy cơ rủi ro đạo đức, họ chỉ thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định
Kinh nghiệm của các nước cho thấy, cơ sở để xây dựng HMCT gồm các chỉ tiêu: Quy mô trung bình của các khoản tiền gửi của cá nhân, cơ cấu tiền gửi và các yếu tố khác có liên quan như thu nhập bình quân đầu người, sự phát triển của các công cụ tài chính mới, lạm phát, lãi suất, những ảnh hưởng của các yếu tố trên lên cấu trúc và quy mô tiền gửi Do đó, các nước phát triển sẽ có HMCT cao, tại Mỹ hiện nay là 250.000 USD, các nước thành viên Liên minh châu Âu là 20.000 EUR (khoảng 26.000 USD), Hàn Quốc là 50 triệu KRW (khoảng 48.454 USD)
1.2.2.2 Đối tượng chi trả bảo hiểm tiền gửi
Đối tượng thụ hưởng của chính sách BHTG là “NGT thuộc đối tượng bảo hiểm” Cụ thể, đó là các khách hàng cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG theo quy định của từng quốc gia trong từng giai đoạn Trong đó, tiền gửi được bảo hiểm là các khoản tiền gửi của khách hàng tại tổ chức tham gia BHTG được tổ chức BHTG cam kết thanh toán trong trường hợp
tổ chức tham gia BHTG đổ vỡ, phá sản
Để đảm bảo mục tiêu của chính sách BHTG là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho số đông NGT, thông thường, có một số loại tiền gửi mà các nước có thể loại trừ khỏi danh mục các khoản tiền gửi được bảo hiểm, bao gồm: Tiền gửi của các ngân hàng hoặc tổ chức tài chính khác; Tiền gửi của các cơ quan chính quyền trung ương, khu vực và địa phương; Tiền gửi của tổ chức, doanh nghiệp; Tiền gửi của Hội đồng quản trị, cổ đông, Ban điều hành, Ban kiểm soát của TCTD đó; Tiền
Trang 24gửi của người thân các thành viên thuộc Hội đồng quản trị, cổ đông, Ban điều hành, Ban kiểm soát của TCTD hoặc các bên thứ ba đại diện của họ; Tiền gửi phát sinh từ các giao dịch có liên quan tới một tiền án đối với hành vi rửa tiền; Tiền gửi dưới hình thức chứng khoán nợ hoặc “quỹ riêng” của các TCTD; Tiền gửi ngoại tệ
Các khoản tiền gửi kể trên có thể không được bảo hiểm hoặc bảo hiểm hạn chế, có điều kiện tùy theo chính sách của từng quốc gia
Hầu hết tổ chức BHTG trên thế giới đều bảo hiểm cho các khoản tiền gửi cá nhân và hạn chế việc BHTG của pháp nhân, đặc biệt là tiền gửi của doanh nghiệp nước ngoài tại các chi nhánh ngân hàng nước ngoài
1.2.2.3 Nguyên tắc chi trả bảo hiểm tiền gửi
Trong tài liệu tài liệu tham vấn “Các nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả” được sửa đổi vào tháng 11/2014, khuyến nghị liên quan tới thanh toán cho người gửi tiền được nói đến trong nguyên tắc số 15: “Hệ thống BHTG cần hoàn trả tiền gửi được bảo hiểm cho NGT một cách nhanh chóng nhằm đóng góp vào sự ổn định tài chính Cần khởi động quá trình chi trả cho NGT thuộc đối tượng bảo hiểm một cách rõ ràng và minh bạch” [39, tr39]
Nội dung các tiêu chuẩn thiết yếu đối với chi trả BHTG là: “Tổ chức BHTG
có khả năng hoàn trả cho hầu hết NGT được bảo hiểm trong vòng 7 ngày làm việc Nếu hiện tại tổ chức BHTG chưa thể thực hiện mục tiêu này, tổ chức BHTG cần có một kế hoạch tại chỗ đáng tin cậy để thực hiện mục tiêu tương tự” [39, tr39]
Việc thực hiện theo tiêu chuẩn mới giúp các tổ chức BHTG thực hiện tốt hơn vai trò ổn định tâm lý NGT, tuy nhiên nó yêu cầu cao hơn đối với các tổ chức BHTG về năng lực giám sát, kiểm tra, phối hợp với các cơ quan liên quan và tổ chức quản lý trước khi thực hiện chi trả BHTG
IADI cũng khuyến nghị mở rộng thẩm quyền của tổ chức BHTG nhằm đáp ứng yêu cầu giúp NGT nhanh chóng tiếp cận với tiền gửi được bảo hiểm của họ
1.2.2.4 Quy trình chi trả bảo hiểm tiền gửi
Chi trả tiền BHTG là một công việc phức tạp, đòi hỏi tổ chức BHTG cần thiết lập các nền tảng cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực ngay khi dự đoán một TCTD có khả
Trang 25năng bị phá sản Quy trình chi trả BHTG gồm 2 bước cơ bản là: chuẩn bị trước chi trả
và thực hiện chi trả BHTG Theo IADI, hiện nay quá trình chi trả có thể xây dựng theo
2 mô hình: mô hình chi trả hiệu quả và mô hình chi trả truyền thống
Đối với cả hai mô hình, việc chuẩn bị trước chi trả đều rất quan trọng và quyết định phần lớn hiệu quả của quá trình chi trả Cụ thể như sau: phối hợp với các
cơ quan liên quan; đánh giá quỹ BHTG và các nguồn tài trợ khi cần thiết; rà soát, thu thập, đối chiếu thông tin NGT; xác định đối tượng được bảo hiểm, tổng số tiền chi trả; xây dựng kế hoạch chi trả, thời gian chi trả mục tiêu; tổ chức nguồn nhân lực thực hiện việc chi trả; thiết lập các phương thức thanh toán và xác định các đối tác phối hợp trong việc chi trả BHTG; xây dựng chiến lược truyền thông để ứng phó với sự phá sản của tổ chức tham gia BHTG
Tuy nhiên, mỗi mô hình có cường độ và thời gian thực hiện chuẩn bị trước
và trong quá trình chi trả khác nhau
Hình 1.1 Mô hình chi trả hiệu quả
Nguồn: [37, tr13] Trong mô hình chi trả hiệu quả, tổ chức BHTG tập trung nhiều hơn vào hoạt động chuẩn bị ngay từ khi dự đoán tổ chức tham gia BHTG có khả năng bị phá sản (Hình 1.1) Tổ chức BHTG luôn thu thập đầy đủ thông tin về NGT, từ khi tổ chức
đó hoạt động bình thường Việc này giúp cho tổ chức BHTG có thể chủ động hơn khi xảy ra vấn đề chi trả Mô hình này được IADI khuyến khích tổ chức BHTG các nước
Chuẩn bị chi trả Chi trả
BHTG
- Cơ sở pháp lý
- Tiếp cận thông tin
- Chiến lược và nguyên tắc
Trang 26thực hiện Tuy nhiên, hiện nay số lượng các tổ chức BHTG có khả năng triển khai theo
mô hình này là rất ít, do hạn chế về khả năng tiếp cận và chuẩn hóa thông tin
Hình 1.2 Mô hình chi trả truyền thống
Nguồn: [37, tr13] Trong mô hình chi trả truyền thống thì tổ chức BHTG chỉ tập trung khi TCTD đã thực sự mất khả năng thanh toán và bị đặt vào tình trạng kiểm soát, có khả năng phá sản (Hình 1.2) Đây là mô hình đang được hầu hết các TC BHTG trên thế giới thực hiện Theo mô hình chi trả này dễ gây áp lực lớn cho tổ chức BHTG khi phải thực hiện cùng lúc nhiều công việc đòi hỏi tính chính xác cao và nhanh chóng Vì vậy, có thể dẫn tới sai sót, nhầm lẫn trong quá trình tính toán và chi trả Với mô hình này, tổ chức BHTG sẽ gặp khó khăn về thời gian hoàn thành chi trả cũng như kiểm soát gian lận BHTG
1.3 Yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi
Hoạt động chi trả BHTG không những phải đảm bảo các yêu cầu mà còn chịu tác động của nhiều nhân tố, tác giả tổng hợp và phân tích 9 yêu cầu và nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động này
1.3.1.1 Khung pháp lý
Các hệ thống BHTG sẽ không thể hoạt động hiệu quả nếu các điều luật liên quan không tồn tại hoặc cơ chế pháp lý hiện tại không phù hợp Một khung pháp lý được xây dựng hợp lý phải bao gồm một hệ thống luật doanh nghiệp, trong đó có quy định về việc thành lập, phá sản, hợp đồng, bảo vệ người tiêu dùng và luật sở hữu tư nhân Những điều luật này phải được thực thi một cách nhất quán và có thể
Hoạt động liên tục Can thiệp Thanh lý Thời gian
Chuẩn bị chi trả Chi trả
BHTG
Trang 27cung cấp một cơ chế xử lý tốt các tranh chấp pháp lý Ngoài ra, khung pháp lý phải
là cơ sở cung cấp những quyền hạn cần thiết để tổ chức BHTG thực hiện các nhiệm
vụ của mình
Những yếu tố cần được xem xét bao gồm: một cơ chế pháp lý có thể hỗ trợ việc can thiệp hay đóng cửa kịp thời các ngân hàng có vấn đề; các điều khoản rõ ràng quy định về việc thanh lý một cách minh bạch và có trật tự các loại tài sản cũng như công tác xử lý khiếu nại của NGT; và phải đảm bảo các tổ chức thành viên MATTC cũng như những cá nhân làm việc trong các tổ chức thành viên phải được bảo vệ về mặt pháp lý
1.3.1.2 Khả năng tiếp cận thông tin về đối tượng được bảo hiểm
Thu thập, xử lý thông tin, dữ liệu về tiền gửi được bảo hiểm là việc làm đầu tiên và quan trọng nhất trong quy trình chi trả Bảng 1.2 là kết quả khảo sát của IADI về 6 trở ngại quan trọng thường gặp đối với một quá trình chi trả BHTG, từ
đó dễ dàng nhận thấy rằng những vấn đề liên quan đến việc tiếp cận thông tin về NGT là trở ngại lớn nhất đến hoạt động trả tiền bảo hiểm
Để quá trình chi trả BHTG có hiệu quả, việc tiếp cận thông tin về NGT phải được tiến hành trước khi TCTD đổ vỡ Cấp quyền truy cập, kiểm soát dữ liệu tiền gửi trước khi TCTD đóng cửa giúp làm giảm nguy cơ sai lạc thông tin, đảm bảo quá trình chi trả của tổ chức BHTG diễn ra nhanh chóng thuận lợi Ngược lại, nó sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng những chứng từ kế toán liên quan đến tiền gửi của đối tượng bảo hiểm do tổ chức tham gia BHTG cung cấp, gây nên sự trì hoãn trong việc thanh toán cho NGT và tăng nguy cơ sai xót dữ liệu do chỉnh sửa của TCTD, dẫn đến những hạn chế của tổ chức BHTG khi thực hiện nghĩa vụ chi trả của mình
Bảng 1.2 Trở ngại thường gặp trong quá trình chi trả BHTG
(tỷ lệ %)
1 Thiếu tiếp cận với hồ sơ tiền gửi trước khi ngân hàng phá sản 56
2 Thông tin về NGT tại ngân hàng phá sản thiếu tính chính xác 52
3 Ngân hàng không có khả năng cung cấp các hồ sơ tiền gửi
Trang 28STT Tên trở ngại
Tỷ lệ thường gặp
(tỷ lệ %)
6 Hệ thống CNTT không đáp ứng được yêu cầu của kế hoạch chi
Nguồn: [38, tr 14] 1.3.1.3 Hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi
HMCT BHTG là biểu hiện cụ thể mức độ bảo vệ của tổ chức BHTG tiền gửi đối với mỗi NGT, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động chi trả Nếu HMCT thấp sẽ làm giảm mức độ hài lòng của NGT đối với chính sách BHTG, có thể làm gia tăng việc khiếu nại, tố tụng khi thực hiện chi trả, gây khó khăn và kéo dài thời gian chi trả Ngược lại, HMCT cao làm gia tăng tổng số tiền chi trả tại mỗi TCTD phá sản, gây nên sức ép đối với quỹ BHTG, tăng rủi ro đối với sự phát triển bền vững của tổ chức BHTG Vì vậy, việc xác định và điều chỉnh HMCT hợp lý luôn là vấn đề nhạy cảm và có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi hệ thống BHTG
Theo IADI, việc xác định HMCT cần đồng thời đảm bảo 2 mục tiêu cơ bản của chính sách BHTG là bảo vệ số đông NGT, những người có những hạn chế nhất định trong việc tiếp cận thông tin về TCTD đồng thời điều chỉnh hành vi của NGT, đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống BHTG, góp phần ổn định của hệ thống tài chính, ngân hàng Việc xác định HMCT phải được quy định rõ trong luật hoặc các văn bản dưới luật cùng với định nghĩa về những khoản tiền gửi được bảo hiểm HMCT được xác định phải đủ lớn để bảo hiểm được cho đa số NGT nhằm đáp ứng các mục tiêu chính sách công của hệ thống và phải phù hợp với các đặc điểm thiết
kế khác của hệ thống BHTG
Thông thường, HMCT được thiết lập dựa trên 2 nguyên tắc: (i) HMCT phải
đủ cao để bảo vệ cho số đông NGT thuộc đối tượng được bảo hiểm, từ đó duy trì và nâng cao niềm tin của NGT vào hệ thống ngân hàng, khuyến khích; (ii) HMCT phải
đủ thấp để không làm nảy sinh tâm lý chủ quan, bất cẩn của NGT, qua đó kiểm soát rủi ro đạo đức, tránh tình trạng mạo hiểm trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Trang 29Việc quy định những khoản tiền gửi nào được bảo hiểm được xem xét trên cơ sở tầm quan trọng của các loại hình tiền gửi khác nhau (bao gồm tiền gửi ngoại tệ, và tiền gửi của người không cư trú) đối với mục đích chính sách công của hệ thống
HMCT nên được giới hạn và có thể thiết lập thông qua việc xem xét các tài liệu có liên quan như các số liệu thống kê mô tả về sự phân bố của các khoản tiền gửi tại các ngân hàng Điều này giúp cho các nhà lập pháp đưa ra các đánh giá khách quan, chẳng hạn như tỉ lệ những NGT được bảo hiểm, để đánh giá mức độ đáp ứng của của từng mức bảo hiểm Tất cả các ngân hàng trong cùng một hệ thống BHTG nên có cùng hạn mức bảo hiểm
Hiện nay hệ thống BHTG trên thế giới chủ yếu áp dụng cơ chế HMCT tiền gửi được bảo hiểm công khai, một số quốc gia chấp nhận việc bảo hiểm toàn bộ tạm thời, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng tài chính
1.3.1.4 Tài chính và nguồn tài trợ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Có cơ chế cấp vốn vững mạnh là điều rất cần thiết để một hệ thống BHTG hoạt động hiệu quả Một hệ thống BHTG phải có sẵn tất cả các kênh cấp vốn cần thiết và cả các kênh huy động hỗ trợ khác để đảm bảo chi trả kịp thời cho NGT
Phí BHTG là nguồn bổ sung vốn chủ yếu cho tất cả các tổ chức BHTG trên thế giới Hiện nay có 2 mức phí được áp dụng ở các quốc gia là phí đồng hạng và phí theo mức độ rủi ro
Dù áp dụng bất kỳ hệ thống thu phí nào thì các tổ chức tham gia BHTG sẽ phải chịu trách nhiệm trong việc trả phí BHTG, vì họ và khách hàng là đối tượng được hưởng lợi trực tiếp từ BHTG Tuy nhiên, trong các trường hợp đặc biệt như khủng hoảng toàn hệ thống khi mà sự bình ổn của hệ thống tài chính đang bị lung lay thì đây có thể không phải là phương án khả thi Vì vậy, tổ chức BHTG cần có các nguồn tài chính dự phòng bổ sung khi cần thiết bao gồm vay từ Chính phủ, Ngân hàng trung ương, vay trên thị trường hoặc tiếp nhận tài trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước Ngoài ra, Quỹ BHTG cần có chính sách và quy trình thủ tục đầu tư nhằm bổ sung nguồn vốn cho tổ chức BHTG mà vẫn đảm bảo được khả năng thanh khoản nhanh và an toàn của ngồn vốn
Trang 301.3.1.5 Nguồn nhân lực
Hiệu quả của quá trình chi trả phụ thuộc phần lớn vào mức độ thực hiện công tác chuẩn bị của tổ chức BHTG trước khi tổ chức tham gia BHTG phá sản Điều này đòi hỏi nguồn nhân lực có chuyên môn, kinh nghiệm trong việc thực hiện các nghiệp vụ Việc thuê thêm nhân sự bên ngoài hoặc sử dụng các nhà cung cấp dịch
vụ có thể được cân nhắc phụ thuộc vào quy mô, số lượng của số tiền chi trả
Bên cạnh đó, liên quan đến kỹ năng nguồn nhân lực, các bài tập mô phỏng tình huống giúp xác định mức độ các nguồn lực, hành động cần thiết cho mỗi trường hợp chi trả với quy mô, tính chất nhất định, đồng thời, đánh giá khả năng làm việc và phối hợp của các nguồn nhân lực trong và ngoài tổ chức BHTG trong khoảng thời gian hạn chế Mục tiêu chính của các bài tập mô phỏng nói chung là đảm bảo rằng các nhân viên tham gia vào quá trình chi trả được đào tạo đầy đủ, hiểu và thực hành một cách thuần thục từ đó có thể đưa ra những ý kiến để cải tiến thủ tục và quy trình
1.3.1.6 Hệ thống công nghệ thông tin
Thiếu một hệ thống CNTT phù hợp đáp ứng quá trình chi trả cho các TCTD
bị phá sản có quy mô khác nhau cũng là một trong sáu trở ngại thường gặp trong quá trình chi trả BHTG (Bảng 1.2) Việc thực hiện một cách thủ công một lượng lớn các thông tin về NGT, các tài khoản, chứng từ kế toán, lãi suất, các khoản thanh toán bù trừ… trong quá trình trả tiền bảo hiểm sẽ kéo dài thời gian chi trả đồng thời làm tăng nguy cơ sai sót trong quá trình thực hiện Vì vậy, các tổ chức BHTG cần xây dựng một hệ thống CNTT thích hợp phục vụ quá trình chi trả
Hiện nay, việc sử dụng CNTT để hỗ trợ cho chi trả bảo hiểm tiền gửi được các tổ chức BHTG trên thế giới sử dụng khá linh hoạt và hiệu quả Ví dụ, BHTG Hàn Quốc được quyền kiểm tra phần mềm của TCTD, được quyền yêu cầu các TCTD phải tuân thủ các định dạng về chứng từ và các ghi chép kế toán liên quan đến đối tượng được bảo hiểm MDIC và FSCS yêu cầu các ngân hàng phải nộp các
dữ liệu theo chuẩn, trong đó tập hợp đầy đủ các khoản tiền gửi và nghĩa vụ nợ của một khách hàng Cơ quan BHTG Hồng Kông và cơ quan BHTG Bungari sử dụng
Trang 31chính hệ thống công nghệ của TCTD bị đỗ vỡ để tính toán các khoản tiền bảo hiểm phải chi trả
1.3.1.7 Sự phối hợp của các cơ quan thành viên trong mạng an toàn tài chính quốc gia
Thông thường MATTC ở các nước gồm 4 cơ quan là: Ủy ban Giám sát tài chính, Bộ Tài chính, NHNN và tổ chức BHTG Khi chỉ có một tổ chức duy nhất thực hiện tất cả các chức năng của MATTC, giải pháp an toàn cho mối lo ngại tiềm
ẩn là xác định rõ ràng chức năng và chế độ giải trình phù hợp của các phòng ban Tuy nhiên, khi các chức năng được phân bổ cho các tổ chức khác nhau, các vấn đề liên quan tới chia sẻ thông tin, phân bổ quyền hạn và trách nhiệm, và việc phối hợp hành động giữa các chức năng trở nên phức tạp hơn và cần phải được xác định rõ ràng và công khai Vì vậy, việc quản lý tốt các cơ quan trong MATTC sẽ giúp củng
cố cấu trúc của hệ thống tài chính và đóng góp trực tiếp cho sự ổn định của hệ thống Có bốn yếu tố cấu thành chất lượng quản lý tốt là: độc lập, trách nhiệm, minh bạch và công khai, hợp nhất Bốn yếu tố này có vai trò quan trọng ngang nhau và có tác dụng củng cố lẫn nhau trong việc tăng cường chất lượng quản lý
Một MATTC được cơ cấu tốt sẽ đóng góp tích cực cho sự ổn định của hệ thống tài chính Tuy nhiên, nếu không được cơ cấu tốt, nó có thể làm gia tăng rủi ro, đặc biệt là rủi ro đạo đức
1.3.1.8 Nhận thức của công chúng
Nhận thức của công chúng về hệ thống BHTG, sự tồn tại và hình thức hoạt động (bao gồm HMCT, phạm vi và thủ tục bồi hoàn diễn ra thế nào) đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một hệ thống BHTG hiệu quả
Tất cả các tổ chức BHTG nên đẩy mạnh việc nâng cao nhận thức công chúng
về hệ thống BHTG một cách thường xuyên để duy trì và củng cố niềm tin của công chúng và phải nhất quán với những mục tiêu của chính sách công và sứ mạng của
cơ quan BHTG
Khi thiết kế một chương trình nâng cao nhận thức công chúng, tổ chức BHTG nên xác định rõ các nhóm công chúng chủ yếu cần nhắm đến (công chúng,
Trang 32NGT, các ngân hàng thành viên), từ đó xác định công cụ, kênh thông tin có thể giúp đảm bảo thông điệp của tổ chức BHTG được truyền đạt một cách hiệu quả nhất đồng thời xây dựng kế hoạch tài chính cho các chương trình nâng cao nhận thức công chúng nên dựa trên mức độ thể hiện và mức độ nhận thực mong muốn đạt được đối với các nhóm đối tượng mục tiêu Ngoài ra, tổ chức BHTG nên thường xuyên thực hiện đánh giá độc lập về mức độ nhận thức của công chúng để đưa ra các điều chỉnh kịp thời
Các thành viên khác trong MATTC đều có vai trò trong việc nâng cao nhận thức công chúng về BHTG Tuy nhiên, tổ chức BHTG nên đóng vai trò là người trách nhiệm chính và liên kết chặt chẽ với các thành viên và để đảm bảo tính nhất quán trong việc cung cấp thông tin
1.3.1.9 Gian lận trong chi trả bảo hiểm tiền gửi
Theo tài liệu nghiên cứu và hướng dẫn của IADI: “Gian lận trong chi trả BHTG được hiểu là một hoặc nhiều hành động gây ra tình trạng thanh toán bất hợp pháp cho người không thuộc đối tượng BHTG hoặc thanh toán vượt quá HMCT BHTG đã được thiết lập” [40, tr 20]
Các đối tượng thực hiện hành vi gian lận theo nhiều cách thức, để nhận được tiền BHTG, bất chấp việc vi phạm các quy định pháp luật hiện hành và hạn mức chi trả BHTG Tình trạng này có liên quan mật thiết đến các tình huống trong đó phạm
vi bảo hiểm loại trừ một số đối tượng NGT cụ thể, như: một số loại hình pháp nhân, các đối tác liên kết hoặc những người nắm được tình hình nội bộ tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ Những hành vi gian lận này dựa trên thông tin nội bộ về tình hình hoạt động ngân hàng, họ cố tình tạo các hợp đồng tiền gửi giả để được BHTG chi trả Trên thực tế cho thấy, các hành vi gian lận thông thường do cấu kết giữa nhân viên ngân hàng và một số đối tượng khác
Dựa trên kết quả khảo sát của IADI, có thể phân loại các gian lận trong chi trả BHTG như sau:
- Thay đổi chủ sở hữu tiền gửi (NGT không thuộc đối tượng bảo hiểm gian lận để được bảo hiểm) Ví dụ: trước khi ngân hàng bị tuyên bố đóng cửa, nhân viên
Trang 33ngân hàng có thể ghi thêm các bút toán giả mạo chuyển tiền từ tài khoản không được bảo hiểm sang tài khoản được bảo hiểm
- Thực hiện chia nhỏ số tiền gửi vượt quá HMCT và chuyển các phần tiền gửi đó tới các tài khoản được bảo hiển của các cá nhân khác hoặc tới tài khoản khác của cùng một người trong trường hợp giới hạn bảo hiểm dựa trên các loại tài khoản khác nhau của chủ tài khoản, như tài khoản đồng sở hữu, tài khoản uỷ thác, … Để phát hiện các hình thức gian lận này và có căn cứ rõ ràng thì cần có sự hỗ trợ trừ phía nhân viên của tổ chức tham gia BHTG bị phá sản
- Bao hàm cả NGT giả mạo, tiền gửi trong sổ nghĩa vụ nợ của người có tiền gửi được bảo hiểm hoặc không bao gồm nghĩa vụ nợ của NGT đối với ngân hàng khi khấu trừ Hình thức gian lận này có thể được thực hiện bởi các cơ quan hoặc cá nhân phụ trách biên soạn sổ đăng ký và trình lên cơ quan BHTG để thực hiện các khoản thanh toán cho NGT được bảo hiểm
- Hạch toán khống các khoản tiền gửi trong sổ sách của ngân hàng bị phá sản nhằm mục đích trục lợi BHTG Nhân viên tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ hoặc người quản lý được chỉ định, người nhận uỷ thác phá sản có thể thực hiện hành vi này
- Nhân viên của tổ chức tham gia BHTG làm giả giấy tờ hoặc lấy danh tính giả để được thanh toán tiền BHTG
- Không ghi chép vào sổ sách tổ chức tham gia BHTG bị đổ vỡ các khoản tiền gửi nhận từ người gửi tiền hợp pháp, nhằm mục đích giảm số phí BHTG cho tổ chức BHTG hoặc lấy cắp tiền gửi của khách hàng
Các yếu tố làm gia tăng gian lận trong BHTG bao gồm việc loại trừ một số nhóm đối tượng khỏi phạm vi bảo hiểm, thiếu cơ chế xử lý các hành động gian lận, công chúng thiếu nhận thức về các trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi phạm tội này, sự chậm trễ phi lý khi đóng cửa ngân hàng
Trang 341.3.2 Tiêu chí đánh giá hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi
1.3.2.1 Thời gian hoàn thành chi trả
Theo “Bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống BHTG hiệu quả” của IADI năm 2014 thì: “Tổ chức BHTG có thể chi trả phần lớn NGT được bảo hiểm trong vòng 7 ngày làm việc Nếu hiện chưa đạt được mục tiêu này, tổ chức BHTG cần có
kế hoạch đáng tin cậy để đạt được mục tiêu đó.” (nguồn IADI)
Như vậy, Công tác chi trả được thực hiện càng nhanh chóng thì sẽ giúp làm
ổn định tâm lý NGT, hạn chế hiệu ứng rút tiền tại các TCTD khác
1.3.2.2 Kế hoạch chi trả đáng tin cậy phải đảm bảo
Tổ chức BHTG phải có kế hoạch chi trả, có quy định thời gian thực hiện rõ ràng, được hỗ trợ bởi luật, quy định, hệ thống, quy trình liên quan, có kết quả rõ ràng và đo lường được
Trong trường hợp đã bắt đầu chi trả nhưng có sự chậm trễ kéo dài, tổ chức BHTG có thể thực hiện tạm ứng chi trả, chi trả tạm thời hoặc thanh toán từng phần khẩn cấp
Khi có kế hoạch chi trả cụ thể, tổ chức BHTG sẽ thực hiện đúng định hướng
và dễ dàng đối phó với các tình huống phát sinh khi chi trả BHTG, có thể hoạch định được thời gian hoàn thành chi trả, có thể điều chỉnh khi cần thiết
1.3.2.3 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có nguồn lực và khả năng thực hiện quá trình chi trả kịp thời
Các tiêu chí đánh giá bao gồm: có đủ nguồn lực và cán bộ được huấn luyện (cán bộ nội bộ hoặc thuê theo hợp đồng) để thực hiện chức năng chi trả và được hỗ trợ bởi tài liệu và hướng dẫn chi trả; hệ thống thông tin nhằm xử lý thông tin NGT một cách hệ thống và chính xác; các hoạt động trước sau khi đóng cửa được quy định trong tài liệu hoặc sổ tay hướng dẫn thủ tục đóng cửa ngân hàng và lên kịch bản và tập dượt, bao gồm tập dượt ngân hàng đóng cửa giả định với sự tham gia của các cơ quan có liên quan, tiến hành các biện pháp xử lý
Nếu áp dụng cơ chế bù trừ tiền gửi được bảo hiểm với các các khoản nợ đến hạn trước đó và các khoản nợ đến hạn, thì việc áp dụng phải được tiến hành kịp thời
Trang 35và không làm chậm trễ việc chi trả kịp thời cho NGT được bảo hiểm hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định của hệ thống tài chính ngân hàng
Tổ chức BHTG phải có sẵn các cơ chế hoặc thỏa thuận làm việc với các cơ quan thanh toán và tổ chức thanh lý để đảm bảo séc đang trong quá trình nhờ thu được xử lý một cách phù hợp, thống nhất và kịp thời
1.3.2.4 Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có cảnh báo kịp thời khi tổ chức tín dụng sắp phá sản không
Tổ chức BHTG phải cảnh báo các tổ chức khi có nguy cơ bị phá sản, thông qua giám sát từ xa và phối hợp với kiểm tra đột xuất khi cần thiết Điều này giúp cho tổ chức BHTG có đủ thời gian để lên kế hoạch cho việc chi trả, đảm bảo tính kịp thời và nguồn lực tài chính sẵn sàng chi trả
Tuy nhiên, việc phát hiện ra TCTD gặp vấn đề và có nguy cơ phá sản đòi hỏi
tổ chức BHTG phải có nghiệp vụ giám sát và kiểm tra chặt chẽ, vì nó phụ thuộc vào
độ chính xác của nguồn báo cáo, trình độ, năng lực của nhân viên, phương thức giám sát và kiểm tra, mô hình đánh giá trong công tác giám sát …
1.3.2.5 Công tác thu phí bảo hiểm tiền gửi có đầy đủ và đúng quy định hay không
Phí BHTG là nguồn vốn quan trọng đóng góp vào quỹ tài chính của tổ chức BHTG và được dùng khi phát sinh nghĩa vụ chi trả cho các tổ chức tham gia BHTG
Do vậy, nếu tổ chức đó không nộp phí BHTG đầy đủ thì sẽ làm tổn thất nguồn lực dùng cho việc chi trả Việc thu phí BHTG cần phải được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo việc tính phí BHTG đúng đối tượng, giảm thiểu sự gian lận trong việc tính phí
và chi trả BHTG
1.3.2.6 Việc thông báo đến khách hàng có kịp thời, hiệu quả không
Khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản, tổ chức BHTG thông báo cho NGT bằng hình thức nào và có hiệu quả hay không cũng là nhân tố đánh giá hiệu quả của công tác chi trả Chỉ tiêu này có thể được đánh giá bằng số phiếu phản hồi của khách hàng xác minh thông tin về tiền gửi của họ
Số lượng khách hàng nhận được đầy đủ thông tin càng cao thì việc chi trả càng đạt hiệu quả Việc này giúp bảo vệ quyền và lợi ích của NGT một cách tốt nhất
Trang 361.3.2.7 Tỷ lệ tiền gửi được chi trả thực tế/Tổng số dư tiền gửi trong HMCT
Tổ chức BHTG thực hiện tốt vai trò bảo vệ quyền lợi cho NGT khi tỷ lệ này đạt ở mức cao Để có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chi trả, tổ chức BHTG cần đảm bảo đầy đủ nguồn lực tài chính để chi trả Nếu cần chi trả theo nhiều đợt, thì phải đảm bảo thời gian chi trả giữa các đợt chi trả là nhanh nhất Để đảm bảo sự công bằng giữa những NGT, tổ chức BHTG có thể chi trả theo một tỷ lệ nhất định, đảm bảo mỗi NGT đều được chi trả một phần tiền gửi trong đợt chi trả đầu tiên
1.3.2.8 Tỷ lệ khách hàng được chi trả toàn bộ tiền gửi/Tổng số NGT
Tỷ lệ này phụ thuộc vào HMCT BHTG trong mỗi thời kỳ HMCT càng cao thì tỷ lệ này càng cao Theo khuyến nghị của IADI, tỷ lệ này khoảng 80 – 90% là tốt nhất Tuy nhiên, cũng không nên để HMCT quá cao, nhằm hạn chế việc lợi dụng khi tổ chức sắp phá sản hoặc cố tình hoạt động yếu kém để NGT được chi trả
1.3.2.9 Tình trạng an ninh trật tự trong quá trình chi trả
Hoạt động chi trả phải được diễn ra trong trật tự và an toàn Để làm được như vậy, tổ chức BHTG cần phải phối hợp tốt với các cơ quan như: Công an, NHNN, UBND địa phương …
1.3.2.10 Tình trạng đột biết rút tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác
Niềm tin của NGT sẽ giảm khi có một TCTD nào đó bị phá sản Điều này có thể gây ra hiệu ứng lan truyền sang những ngân hàng khác, làm cho NGT không tin tưởng vào việc gửi tiền vào ngân hàng nữa, họ có thể sẽ rút tiền ra để đầu tư vào các kênh khác Số lượng NGT đến rút tiền quá nhiều sẽ dẫn đến hiện tượng đột biến rút tiền gửi và có thể dẫn đến tình trạng phá sản
Hoạt động chi trả đạt hiệu quả khi NGT được chi trả kịp thời để tránh tình trạng gây hiệu ứng lan truyền, đột biến rút tiền gửi tại các TCTD khác trên địa bàn, làm mất khả năng thanh khoản của TCTD
1.4 Kinh nghiệm thực hiện hoạt động chi trả bảo hiểm tiền gửi của một
số nước và bài học rút ra cho Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia
1.4.1.1 Hoạt động bảo hiểm tiền gửi và chi trả bảo hiểm tiền gửi ở Hoa Kỳ
Trang 37Công ty BHTG liên bang Hoa Kỳ, ra đời ngày 1/1/1934, nơi triển khai hoạt động BHTG đầu tiên, là tổ chức điển hình trong triển khai đồng bộ ba loại nghiệp
vụ và phát huy tối đa hiệu quả của chính sách BHTG trong bảo vệ quyền lợi của NGT, kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng, là mô hình được nhiều nước trên thế giới tham khảo để thành lập và cải tiến hoạt động BHTG Thành công của chính
sách BHTG ở Hoa Kỳ có thể được tóm tắt ở một số điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, sự ra đời và triển khai chính sách BHTG ở Hoa Kỳ đã khẳng định
năng lực kiểm soát rủi ro ngân hàng của chính sách BHTG theo mô hình chức năng đầy đủ là rất lớn: Trong giai đoạn có khủng hoảng tiết kiệm và cho vay ở Hoa Kỳ trong những năm 1980, FDIC đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp kịp thời sản phẩm hỗ trợ tài chính để giảm đi phần nào sự đổ vỡ không đáng có của nhiều ngân hàng Trong giai đoạn 1982-1991 ở Hoa Kỳ có hơn 1.400 ngân hàng lâm vào tình trạng nguy kịch, có thể dẫn đến đóng cửa, nhờ sự hỗ trợ tài chính của FDIC, 131 ngân hàng trong số các ngân hàng đó đã vượt qua được khó khăn và duy
trì được hoạt động
Thứ hai, quyền lợi của NGT được bảo vệ kịp thời, giảm tổn thất cho NGT,
ngân hàng và nền kinh tế: Năm 1934 đến 1997, ở Hoa Kỳ có 2.192 ngân hàng đổ
vỡ, đã được FDIC giải quyết nhanh gọn, giảm thiểu tối đa ảnh hưởng tới hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ
Thứ ba, nguồn lực để triển khai chính sách BHTG ở Hoa Kỳ được đầu tư rất
lớn: có cơ sở pháp lý cao (Luật BHTG) ngay từ đầu và được điều chỉnh kịp thời trong quá trình triển khai; có nguồn tài chính lớn và có cơ chế huy động tài chính thích ứng với đặc thù và vai trò quan trọng của chính sách BHTG trong giải quyết rủi ro của lĩnh vực tài chính - ngân hàng; có nguồn nhân lực lớn đáp ứng yêu cầu triển khai của chính sách (nhân lực của FDIC vào thời điểm tháng 3/2005 là 4.993
người)
1.4.1.2 Hoạt động bảo hiểm tiền gửi và chi trả bảo hiểm tiền gửi ở Nhật Bản
Công ty BHTG Nhật Bản (DICJ) được thành lập năm 1971, với bề dày hoạt động trên 40 năm đã và đang ngày càng khẳng định vị trí và vai trò của mình trong
Trang 38MATTC Nhật Bản Mục tiêu chính của hệ thống BHTG Nhật Bản là bảo vệ những NGT và các bên liên quan trong trường hợp tổ chức tài chính không có khả năng chi trả tiền gửi, và góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính thông qua nhiều công cụ nghiệp vụ trong đó có nghiệp vụ tiếp nhận và xử lý
Cơ chế xử lý tổ chức tài chính bị đổ vỡ tại Nhật Bản: Ban đầu, khi hệ thống
BHTG mới được thành lập, cơ chế bảo vệ NGT khi xử lý tổ chức bị đổ vỡ chỉ có phương pháp chi trả BHTG Sau đó, phương pháp hỗ trợ tài chính đã được bổ sung
và quy định trong Luật BHTG sửa đổi năm 1986
Phương pháp chi trả bảo hiểm: Khi một tổ chức tài chính bị đổ vỡ, DICJ sẽ
tiến hành chi trả bảo hiểm cho NGT được bảo hiểm tại tổ chức đó dựa trên yêu cầu thanh toán của NGT Nguồn chi trả sẽ được lấy từ nguồn thu phí bảo hiểm hàng năm từ các TCTD theo quy định của pháp luật Hiện nay, mức bảo hiểm tối đa mà
DICJ áp dụng là 10 triệu yên (bao gồm gốc và tiền lãi)
Phương pháp hỗ trợ tài chính: Xử lý đổ vỡ bằng phương pháp hỗ trợ tài
chính là việc dùng một tổ chức tài chính vững mạnh (tổ chức tiếp nhận) tiếp quản các chức năng tài chính của tổ chức tài chính bị đổ vỡ Việc tiếp nhận này phải đảm bảo rằng tổ chức tài chính tiếp nhận phải được tiếp nhận các tài sản có tương ứng với trách nhiệm nợ tiếp nhận Nhưng trên thực tế thì hầu như trong mọi trường hợp, tài sản có và tài sản nợ của tổ chức tài chính bị đổ vỡ là không cân bằng
1.4.1.3 Hoạt động bảo hiểm tiền gửi và chi trả bảo hiểm tiền gửi ở Đài Loan
Ngày 9/1/1985, Luật BHTG Đài Loan được thông qua và ngày 27/9/1985 Tổng công ty BHTG Trung ương Đài Loan (CDIC) khai trương hoạt động Mặc dầu triển khai chậm hơn nhiều nước trên thế giới, chính sách BHTG ở Đài Loan đã khẳng định được vai trò to lớn trong kiểm soát rủi ro hoạt động ngân hàng, đặc biệt
có tác dụng kiểm soát hiện tượng hoảng loạn và đột biến rút tiền gửi ồ ạt ở quốc gia này Thành công của chính sách BHTG Đài Loan có thể được thể hiện ở các khía
cạnh sau:
Nghiên cứu có hiệu quả kinh nghiệm của các quốc gia đi trước về lĩnh vực BHTG, nhờ vậy đã đạt được kết quả cao trong xây dựng các nội dung của chính
Trang 39sách BHTG trong thời gian ngắn và phát huy hiệu quả cao, nhờ học tập một cách sáng tạo kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Canada v.v… Sau 5 năm hoạt động, Đài Loan là quốc gia đầu tiên ở châu Á áp dụng thành công phí BHTG theo mức độ rủi ro CDIC đã xây dựng hệ thống cảnh báo sớm tình hình tài chính của các tổ chức tham gia BHTG một cách xuất sắc và được Bộ Tài chính ủy quyền phát triển và xây dựng
thành công Hệ thống cảnh báo sớm tài chính quốc gia
Hoạt động nghiệp vụ BHTG (giám sát, kiểm tra, xử lý ngân hàng có vấn đề, quan hệ công chúng…) được triển khai bài bản, có hiệu quả cao, có đóng góp to lớn trong đảm bảo an toàn và ổn định hoạt động ngân hàng ở đất nước này Mặc dầu cho tới nay, ở Đài Loan chưa có tổ chức tham gia BHTG nào bị đóng cửa và phải chi trả từ quỹ BHTG của CDIC, từ tháng 6/1990 đến tháng 4/2004, CDIC đã hỗ trợ giải quyết thành công khó khăn của 54 tổ chức huy động tiền gửi bị hoảng loạn và đột biến rút tiền CDIC đã làm nổi bật vai trò quan trọng của chính sách BHTG theo
mô hình chức năng đầy đủ đối với hoảng loạn ngân hàng
1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
Tại các nền kinh tế có hệ thống BHTG phát triển, tổ chức BHTG đều có quy định pháp luật về thời gian chi trả, tiêu biểu là FDIC với khả năng chi trả ngay trong
2 ngày làm việc, CDIC là 3 ngày Để việc chi trả được hiệu quả và nhanh chóng, tổ chức BHTG cần phối hợp với các cơ quan liên quan lên kế hoạch chi trả, rà soát các quy định hiện hành, dự kiến ngân sách, khung thời gian chi trả, đánh giá nhu cầu vốn và khả năng huy động vốn, sắp xếp nguồn nhân lực, rà soát hệ thống ngân hàng
và thông tin NGT, xây dựng phương thức chi trả, chiến lược truyền thông trong chi trả để ổn định tâm lý NGT
Về mô hình hoạt động: Tổ chức BHTG cần hoạt động một cách độc lập, minh bạch có uy tín và không bị tác động bởi hệ thống chính trị và khu vực tài
chính ngân hàng
Các vấn đề xuyên quốc gia: Trước hết phải đảm bảo tính bảo mật tất cả các thông tin liên quan phải được trao đổi giữa các tổ chức BHTG trong phạm vi quy định của pháp luật khác nhau, và có thể được trao đổi giữa tổ chức BHTG và các
Trang 40thành viên MATTC của nước khác khi thích hợp Trong trường hợp có nhiều tổ chức BHTG khác nhau có trách nhiệm thực hiện bảo hiểm, điều quan trọng là phải xác định tổ chức BHTG nào sẽ có trách nhiệm đối với việc chi trả Khi xác định số tiền thu phí bảo hiểm, cần phải tính tới việc các tổ chức đã được BHTG tại chính
quốc (home country)
Bắt buộc tham gia BHTG: Cần áp dụng cơ chế BHTG bắt buộc đối với tất cả các tổ chức tài chính nhận tiền gửi để tránh vấn đề lựa chọn đối nghịch
Chuyển từ hệ thống đảm bảo toàn phần sang áp dụng hệ thống BHTG có hạn mức: Khi một nước quyết định chuyển từ hệ thống đảm bảo toàn phần sang áp dụng
hệ thống BHTG có giới hạn, hoặc thay đổi hệ thống đảm bảo toàn phần hiện có, việc chuyển giao này nên được thực hiện nhanh chóng ngay khi các điều kiện của nước đó cho phép Đảm bảo toàn phần có thể gây ra nhiều tác động xấu nếu được
áp dụng lâu dài, đặc biệt là rủi ro đạo đức Các nhà hoạch định chính sách cần phải đặc biệt chú ý tới thái độ và kỳ vọng của công chúng trong giai đoạn chuyển giao
này
Nâng cao nhận thức: Để một hệ thống BHTG hoạt động hiệu quả, công
chúng nhất thiết phải được biết đến lợi ích cũng như hạn chế của hệ thống BHTG
Bảo vệ pháp lý: Tổ chức BHTG và nhân viên làm việc cho cơ quan này phải được bảo vệ trước các vụ kiện liên đới tới quyết định và hành động của họ “với thiện ý” trong khi thực hiện sứ mệnh Tuy nhiên, họ có trách nhiệm phải tuân thủ đúng các quy định liên quan đến xung đột lợi ích và hành vi ứng xử nhằm đảm bảo
họ luôn có trách nhiệm Việc bảo vệ pháp luật phải được xác định rõtrong các quy trình lập pháp và hành pháp, và trong những trường hợp nhất định, phải bao gồm cả
việc trang trải chi phí pháp lý đối với những người được bồi thường theo luật định
Ứng phó với các bên gây ra đổ vỡ ngân hàng: Một tổ chức BHTG, hoặc một
cơ quan chức năng, phải được trao quyền yêu cầu các bên gây ra đổ vỡ ngân hàng
bồi thường theo luật định
Chi trả cho NGT: Hệ thống BHTG phải hỗ trợ được NGT tiếp cận nhanh chóng với tiền gửi được bảo hiểm của họ Do vậy, tổ chức BHTG cần sớm thông