Bên cạnh đó còn có một số bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như: xác định ranh giới các tội “Lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” với giao dịch dân sự của tác
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG XUÂN SƠN
TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHẠM MINH TUYÊN
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đúng quy định Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 30 tháng 08 năm 2017
Tác giả luận văn
ĐẶNG XUÂN SƠN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 7
1 1 Lịch sử hình thành và phát triển quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 7
1.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản12 1.3 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với các giao dịch dân sự, kinh tế và một số tội phạm có liên quan 25
1.4 Quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong sự so sánh với Bộ luật hình sự năm 2015 31
Chương 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH THANH HÓA 37
2.1 Định tội danh đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 37
2.2 Quyết định hình phạt đối với tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa 50
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰVỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 62
3.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” 62
3.2 Giải pháp về pháp luật 70
3.3 Giải pháp nâng cao năng lực nhận thức và trình độ chuyên môn, kỹ năng vận dụng quy định pháp luật hình sự về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” 72
3.4 Giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý điều hành 74
3.5 Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục 76
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 86
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BKS Biển kiểm soát BLDS Bộ luật đân sự BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự CTTP Cấu thành tội phạm CQCSĐT Cơ quan cảnh sát điều tra CQĐT Cơ quan điều tra
CSĐT Cảnh sát điều tra ĐTD Định tội danh HĐLĐ Hợp đồng lao động
HĐXX Hội đồng xét xử HKTT Hộ khẩu thường trú LDTNCĐTS Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản QĐHP Quyết định hình phạt
TAND Tòa án nhân dân TNHS Trách nhiệm hình sự VKS Viện kiểm sát
VKSND Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ BẢNG:
Bảng 2.1 Diễn biến tình hình tội phạm hình sự trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 86 Bảng 2.2 Diễn biến tình hình bị cáo phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 86 Bảng 2.3 So sánh giữa tình hình tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tình hình tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ 2012 – 2016 87 Bảng 2.4 Diễn biến tình hình áp dụng hình phạt cho tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 87
BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 2.1 So sánh giữa số vụ phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với số
vụ án nói chung trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ năm 2012-2016 88 Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ bị cáo tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội phạm nói chung trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ năm 2012 - 2016 88 Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ giới tính của các đối tượng phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ năm 2012 – 2016 88
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian gần đây, trước sự chuyển biến nhanh về kinh tế - xã hội và sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ; sự phát triển mạnh mẽ trong quan hệ đối ngoại trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục của các quốc gia trên thế giới; tình hình kinh tế, xã hội của nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, phù hợp với sự phát triển chung trong khu vực cũng như trên phạm vi toàn cầu Bên cạnh đó, nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh những mặt trái ảnh hưởng đến tình hình chính trị, an ninh và trật tự xã hội Tội phạm ngày một gia tăng, tính chất mức độ hành vi phạm tội ngày càng nguy hiểm, tinh vi hơn Trong các loại tội phạm thì tội phạm xâm hại đến quyền sở hữu chiếm tỉ lệ lớn
Đối với Thanh Hóa là một tỉnh có diện tích lớn thứ 5 trong toàn quốc với 11.129,48 km2 và là tỉnh có số dân đông thứ 3 trong cả nước (sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội), theo niên giám thống kê năm 2014 có 3.496.000 người Đồng thời Thanh Hóa còn là tỉnh có nhiều đơn vị hành chính nhất cả nước với 27 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh, có 579 xã, 30 phường, 28 thị trấn và 6.031 thôn, xóm, bản làng; trong đó có 184 xã miền núi Tỉnh có 6 huyện, thành phố ven biển, 11 huyện miền núi và 10 huyện, thị xã thành phố thuộc vùng đồng bằng; có nhiều dân tộc anh, em sinh sống, nhưng chủ yếu là Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú Hơn nữa, Thanh Hóa là tỉnh nằm ở vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam nước ta Phía Bắc giáp 3 tỉnh, gồm Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình; phía Nam giáp Nghệ An; phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn của nước CHDCND Lào Tỉnh Thanh Hoá nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Vị trí địa
lý ấy trở thành một trong những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của tỉnh Thanh Hóa trong những năm qua, nhất là về công nghiệp Đi đôi với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế thì tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh cũng có nhiều diễn biến phức tạp Trong đó, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm xảy ra khá phổ biến gây ra những hậu quả nguy hiểm cho các quan hệ xã hội, làm thiệt hại đến tài sản Nhà nước, tổ chức cũng như tài sản của công dân, cản trở sự phát triển của tỉnh và đất nước Mặc dù các cơ quan
Trang 7bảo vệ pháp luật tại tỉnh đã tích cực đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này nhưng việc xét xử loại tội phạm này ở thực tiễn vẫn còn nhiều vướng mắc trong việc xác định tội danh, quyết định hình phạt, vấn đề "hình sự hóa" hoặc “phi hình sự hóa” các quan hệ dân sự, quan hệ kinh tế của các cơ quan áp dụng pháp luật trong hoạt động tố tụng có lúc còn tỏ ra lúng túng, không thống nhất đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử và là nguyên nhân dẫn đến oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm Nhận thấy vai trò và tầm quan trọng của vấn
đề này trong thực tiễn, nhằm góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận và pháp lý trong định tội danh, quyết định hình phạt, bảo đảm tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật đối với tội danh này trong tình hình hiện nay Do vậy, Học viên đã mạnh
dạn chọn đề tài “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự
Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không phải là vấn đề mới và đã có khá nhiều công trình khoa học, các bài viết đề cập đến loại tội phạm này, như: TS
Nguyễn Ngọc Chí, Chương VI - Các tội xâm phạm sở hữu, trong: “Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam” phần các tội phạm; Tập thể tác giả do GS TSKH Lê
Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản – Một số vướng mắc trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện”; Bài viết
của PGS.TS Cao Thị Oanh chủ biên, “Các tội phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
tài sản” năm 2015, Nxb Tư pháp, Hà Nội; Bài viết của tác giả Đoàn Tấn Minh,
“Phương pháp định tội danh và hướng dẫn định tội danh đối với các tội phạm trong
luật hình sự hiện hành”, năm 2009, Nxb Tư pháp, Hà Nội; Tác giả Hoàng Thị
Hạnh với công trình nghiên cứu “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo
quy định của Bộ luật hình sự” Bên cạnh đó còn có một số bài viết trên các tạp chí
khoa học chuyên ngành như: xác định ranh giới các tội “Lừa đảo, lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản” với giao dịch dân sự của tác giả Vũ Quốc Thắng, tạp chí
Kiểm sát số 6/1999; sự khác nhau giữa tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong các trường hợp có liên quan đến vi phạm hợp đồng của tác giả Trần Công Phàn – Tạp chí kiểm sát số 20/2006; “Một số vấn
đề cần hoàn thiện đối với tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của tác giả
Trang 8Nguyễn Văn Trượng, tạp chí Tòa án nhân dân số 3/2008; “Tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản trong hoạt động ngân hàng” của tác giả Phan Văn Lãng, tạp chí
Ngân hàng số 21/2009; “Bàn về yếu tố chiếm đoạt tài sản trong các tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của tác giả Nguyễn Thị
Phương Thảo tạp chí Kiểm sát số 9/2012; “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản, một số vướng mắc trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện” của tác giả Trần
Duy Bình, tạp chí Tòa án nhân dân số 22/2012; “Bàn về tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản” của tác giả Lê Quang Sáng, tạp chí Khoa học Kiểm sát số
Ngoài ra còn có các nghiên cứu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
dưới góc độ tội phạm học như: Luận văn Thạc sĩ luật học “Đấu tranh phòng chống
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” của tác giả Phan Thị Vân Hương, bảo vệ
tại trường Đại học Luật Hà Nội năm 2003 Luận văn thạc sỹ luật học “Tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Hoàng Văn Lập, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm
2004 Do nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học nên tuy có đề cập đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nhưng các công trình này chưa đi sâu phân tích cấu thành tội phạm, mà nội dung chính chủ yếu đi sâu vào các giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm
Nghiên cứu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dưới góc độ luật hình
sự có: luận văn Thạc sỹ “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sảncó đối tượng là
tài sản có đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình sự Việt Nam” của tác giả
Hồ Ngọc Hải bảo vệ tại Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012; Luận văn
thạc sỹ luật học “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự
Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Dương Thị Hải Yến,
bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội năm 2014 Luận văn Thạc sỹ Luật học “Tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo pháp luật Hình sự Việt Nam từ thực
Trang 9tiễn tỉnh Hưng Yên và từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” của các tác giả Lê Duy
Trường, Nguyễn Duy Hưng bảo vệ tại Học viện KHXH năm 2015
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chủ yếu tiếp cận ở các góc độ khái quát hoặc dưới góc độ so sánh tội phạm này với các loại tội phạm khác trong chương các tội xâm phạm sở hữu của BLHS Việt Nam hoặc các công trình nghiên cứu đó nghiên cứu tại thời điểm áp dụng BLHS cũ, chưa đi vào nghiên cứu những điểm mới của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong BLHS năm 2015 được sủa đổi bổ sung năm 2017, hoặc phạm vi bài viết thuộc các địa phương khác nhau Vẫn thiếu những công trình nghiên cứu sâu về những hạn chế, bất cập trong luật thực định và những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra các đề xuất, giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Đặc biệt là chưa có bất kì một công trình nghiên cứu về thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về khoa học, lý luận, các căn cứ pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ năm 2012 đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, cùng với việc phân tích các vụ án cụ thể, xác định những tồn tại, bất cập trong quy định của BLHS của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ đó đề xuất ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nhằm nâng cao hiệu quả của công tác
áp dụng pháp luật đối với loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài cần phải thực hiện các nhiệm vụ
Trang 10cứ phân biệt tội phạm này với một số loại tội phạm xâm phạm sở hữu khác và so sánh với Bộ luật hình sự năm 2015
Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, thông qua một số vụ án điển hình về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã được giải quyết từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa trong thời gian từ 2012 – 2016 Để làm rõ những khó khăn, vướng mắc, bất cập mà các cơ quan tiến hành tố tụng gặp phải khi định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội này
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiêncứu những vấn đề lý luận cơ bản về tội LDTNCĐTS; đồng thời nghiên cứuviệc áp dụng pháp luật về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
từ năm 2012 – 2016 để phát hiện những khó khăn, vướng mắc, bất cập Trên cơ sở
đó đề xuất ra các giải pháp hoàn thiện và bảo đảm áp dụngđúng quy định của pháp
luật
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về lí luận: Làm rõ lí luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 140 BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, so sánh với những quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự2015 và Điều 175 BLHS năm 2015 được sửa đổi
bổ sung năm 2017; làm rõ lí luận về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Về mặt thực tiễn: Đề tài giới hạn nghiên cứu thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản qua thực tiễn xét
xử trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn từ năm 2012 - 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, xuất phát từ vấn đề chất – lượng của sự vật, hiện tượng Theo triết học Mác – Lênin thì chất là sự tổng hợp các thuộc tính vốn có của sự vật và mỗi sự vật có muôn vàn
Trang 11chất Tuy nhiên “Ở mỗi sự vật chỉ có một chất căn bản, đó là loại chất mà sự tồn tại hay mất đi của nó quy định sự tồn tại hay mất đi của bản thân sự vật và tư tưởng Hồ Chí Minh, văn bản pháp luật của Nhà nước về các vấn đề tội phạm và hình phạt, về đấu tranh phòng, chống tội phạm; lý luận về tội phạm học, Luật hình sự và tố tụng hình sự Để giải quyết vấn đề này, theo tôi, cần phải xuất phát từ cơ sở triết học Mác – Lênin về vấn đề chất – lượng của sự vật, hiện tượng Theo triết học Mác – Lênin thì chất là sự tổng hợp các thuộc tính vốn có của sự vật và mỗi sự vật có muôn vàn chất Tuy nhiên “Ở mỗi sự vật chỉ có một chất căn bản, đó là loại chất mà
sự tồn tại hay mất đi của nó quy định sự tồn tại hay mất đi của bản thân sự vật Ngoài ra, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu bản án, lôgic, quy nạp, diễn dịch, mô tả và các phương pháp nghiên cứu của khoa học hình sự
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ hơn lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Về thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Một số đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận
cứ khoa học phục vụ cho hoạt động thực tiễn áp dụngBộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội này ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay và thời gian tới
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình
sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN
NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1 1 Lịch sử hình thành và phát triển quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.1.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1954
Cách mạng tháng 8 – 1945 thành công đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tại bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân của cộng hòa năm 1946, quyền tài sản của công dân cũng đã ngay lập tức được ghi nhận tại Điều 12: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được đảm bảo”
Sau khi Hiến pháp năm 1946 được thông qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để bảo vệ các quyền sở hữu, đặc biệt là sở hữu XHCN: Sắc lệnh số 26/SL (25/02/1946) trừng trị các tội phá hoại tài sản; Sắc lệnh số 233/SL (17/11/1946) trừng trị các tội phù lạm, biển thủ công quỹ … Những quy định trong các văn bản thời kỳ này còn sơ lược, chưa khái quát được hết những hành vi xâm phạm tới quan hệ sở hữu mà chỉ tập trung vào một số hành vi như trộm cắp, phá hoại tài sản hoặc tập trung chủ yếu vào bảo vệ tài sản XHCN Tuy nhiên, những văn bản này có ý nghĩa rất quan trọng, đặt nền móng cho việc hoàn thiện các quy định
về tội phạm xâm phạm sở hữu sau này
1.1.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
1985
Ở thời kỳ đầu của giai đoạn này, do vẫn còn thiếu nhiều văn bản pháp luật quy định về việc xử lý các hành vi xâm phạm sở hữu nên việc xử lý những trường hợp chưa có văn bản pháp luật quy định chủ yếu dựa vào án lệ, tuy nhiên việc áp dụng này chỉ tạm thời Giai đoạn này việc xử lý tội phạm sở hữu nói chung còn bộc
lộ nhiều thiếu sót Cho đến khi Thông tư 442/TTg (19/11/1955) của Thủ tướng chính phủ ban hành về trừng trị một số tội phạm đã nhận định: “Vì về mặt bảo vệ tài sản quốc gia, tính mệnh và tài sản nhân dân, luật cũ có nhiều khoan hồng thích hợp nên Chính phủ lại ban bố một số sắc lệnh trừng trị tội tham ô, tội tống tiền, bắt cóc, ám sát, tội đánh bạc như là Sắc lệnh 27/SL ngày 28/02/1946 …”[35] Cũng
Trang 13trong thông tư này đã lần đầu tiên có hướng dẫn của Nhà nước ta về đường lối xử phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lúc bấy giờ với tên gọi “Bội tín”: “2 Lừa gạt, bộ tín: Phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm” [35]
Có thể nói, việc chính thức quy định đường lối xử phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (bộ tín) là một bước ngoặt đánh dấu sự phát triển của pháp luật của Nhà nước ta về việc xử lý hình sự đối với loại tội phạm này Trong quy định trên của Thông tư, nhà làm luật đã xác định mức TNHS của tội lừa gạt và tội bội tín là như nhau Điều này cho thấy nhà làm luật lúc bấy giờ chưa đánh giá được đúng tính chất và mức độ nguy hiểm xâm hại sở hữu của hành vi của hai loại tội phạm này Mặc dù quy định này còn mang nhiều tính hình thức, việc đánh giá một hành vi tùy thuộc vào cơ quan xét xử, mặt khác chưa có thống nhất giữa các cơ quan pháp luật về nhận định đối với loại tội phạm này do chưa có các quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể
Ngày 15/6/1956, Chủ tịch nước ký lệnh công bố Sắc lệnh số 267/SL nhằm trừng trị những âm mưu, hành động phá hoại hoặc làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã và của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch xây dựng kinh tế, văn hóa Theo quy định tại các Điều 2 và Điều 7 của Sắc lệnh 267, người nào vì tham lam, tư lợi mà phạm tội trộm cắp, lãng phí, làm hỏng, hủy hoại, cướp bóc tài sản của Nhà nước thì sẽ bị coi là tội phạm hình sự và bị xử lý hình sự Sắc lệnh số 267 đã có sự phân biệt tài sản của Nhà nước và của công dân
Ngày 21/10/1970 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của nhân dân nhằm bảo vệ tài sản XHCN và tài sản riêng của công dân Trong
đó, lần đầu tiên tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được các nhà làm luật gọi với đúng tên của nó và quy định thành một tội danh riêng với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng
Điều 11 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN quy định: “1
Kẻ nào nhận tài sản XHXN để giữ, vận chuyển, gia công, sửa chữa hoặc để làm một việc gì khác mà lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bớt xén hoặc đánh tráo tài sản đó thì …”[53]
Trang 14Điều 11 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân quy định: “1 Kẻ nào nhận tài sản của người khác để giữ, vận chuyển, gia công, sửa chữa hoặc để làm một việc gì khác mà lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, bớt xén hoặc đánh tráo tài sản đó thì…”[54]
Hai quy định trên cho thấy, đối tượng của hai tội là khác nhau (một tội có đối tượng là tài sản XHCN, một tội có đối tượng là tài sản của công dân) nhưng hành vi khách quan là giống nhau Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ở cả hai tội đều được mô tả là hành vi “bớt xén” hoặc “đánh tráo” nhằm chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản được giao ngay thẳng trên cơ sở hợp đồng gửi giữ, vận chuyển, gia công, sửa chữa Mức hình phạt đối với hành vi xâm phạm tài sản XHCN là từ 06 tháng đến 20 năm tù, rộng hơn và cao hơn hẳn so với mức hình phạt đối với hành vi xâm phạm tài sản riêng của công dân (từ 03 tháng đến 07 năm tù), điều này cho thấy tài sản XHCN được đặc biệt coi trọng Ngoài ra còn rất nhiều văn bản dưới luật khác được ban hành trong thời gian này đã đề cập tới các vấn đề liên quan tới việc xử lý tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như: Thông tư số 213/NCPL ngày 05/5/1973 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an; Chỉ thị số 14/TATC ngày 12/7/1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 228 của Bộ chính trị…
Ngày 15/3/1976 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Sắc luật số 03/SL-1976 quy định của các tội phạm và hình phạt được
áp dụng ở miền Nam Việt Nam, trong đó có quy định về các tội xâm phạm sở hữu Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi đó được quy định tại điểm b Điều 4 của Sắc luật này với tên gọi “Bội tín”
“… b Phạm các tội khác như: Trộm cắp, tham ô, lừa đảo, bội tín, cướp giật, cưỡng đoạt, chiếm giữ trái phép thì bị phạt tù từ sáu tháng đến bảy năm…”
Những quy định trong sắc lệnh này về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng như các tội phạm khác rất sơ lược, chỉ nêu tên tội phạm mà không xác định các dấu hiệu pháp lý cụ thể Nội dung của Sắc lệnh này và hai Pháp lệnh năm
1970 về cơ bản là thống nhất, tuy nhiên sắc lệnh này trình bày với quy mô nhỏ gọn hơn, quy định chung nhiều tội vào cùng một điều luật và áp dụng mức hình phạt xử phạt như nhau Việc quy định như vậy cho thấy nhà làm luật đánh giá tính chất và
Trang 15mức độ nguy hiểm của các tội phạm này là như nhau, điều này là nhận thức không đúng và dẫn tới việc xử lý tội phạm không công bằng Tháng 4/1976 Bộ tư pháp đã
ra Thông tư số 03/TTB/TT hướng dẫn thi hành Sắc lệnh trên
1.1.3 Giai đoạn Bộ luật hình sự năm 1985 có hiêu lực thi hành
Ngày 17/6/1985 BLHS đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam được Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1986, đánh dấu bước tiến vượt bậc trong lịch sử lập pháp hình sự nước ta BLHS năm 1985 đã dành hai chương quy định về tội xâm phạm sở hữu: “Chương IV- Các tội xâm phạm xã hội chủ nghĩa” và “Chương
VI – Xác tội xâm phạm sở hữu của công dân” Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lúc bấy giờ được quy định tại hai Điều; Điều 135 – “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa” và Điều 158 – “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân” Giống như tên điều luật, hai tội danh này chỉ khác nhau về khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm quy định tại Điều 135 là tài sản xã hội chủ nghĩa, thuộc sở hữu của Nhà nước; còn khách thể của tội phạm quy định tại Điều 158 là tài sản thuộc sở hữu của công dân Hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN nghiêm khắc hơn tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân thể hiện định hướng ưu tiên xây dựng và bảo vệ tài sản XHCN, coi trọng tài sản XHCN hơn của công dân Tuy nhiên, so với hai Pháp lệnh năm 1970 thì hai điều luật này lại không mô tả cụ thể hành vi phạm tội, điều này dẫn đến đòi hỏi phải có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Thực tế việc xác định các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của nó vẫn dựa trên quy định của hai pháp lệnh năm 1970
Do phải đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình đất nước phát triển, BLHS năm 1985 tiếp tục có bốn lần sửa đổi vào các năm 1989, 1991,
1992 và 1997 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng là một trong số các tội phạm được sửa đổi, cụ thể: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều
135 BLHS năm 1985) đã được sửa đổi 02 lần vào các năm 1989 và 1992; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 158 BLHS năm 1985) đã được sửa đổi 01 lần vào năm 1991 Những lần sửa đổi này nhà làm luật chỉ sửa đổi, bổ sung về khung hình phạt mà vẫn không mô tả hành vi phạm tội Trong thời gian thi hành BLHS năm 1985 đã xuất hiện tình trạng cách hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các cơ quan pháp luật, việc “hình sự hóa” các quan hệ dân sự, kinh tế, làm cho
Trang 16nhiều người bị kết án oan về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà lẽ ra họ chỉ
là bị đơn trong các vụ án dân sự, kinh tế Trước thực trạng như vậy đòi hỏi các nhà làm luật phải xây dựng một Bộ luật mới với đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định trong điều luật
1.1.4 Giai đoạn bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành
Ngày 21/12/1999 Quốc hội khóa X nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua BLHS năm 1999 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 Cũng trong dịp này, Quốc hội
đã thông qua Nghị quyết số 32/1999/QH-10 về việc thi hành BLHS So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đã có một số những cải tiến cả về nội dung và hình thức Các tội trong chương xâm phạm sở hữu XHCN và chương xâm phạm sở hữu của công dân đã được nhập lại thành một chương duy nhất: “Các tội xâm phạm sở hữu” Sự thay đổi này thể hiện quan điểm của Nhà nước ta về việc xem các thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội là bình đẳng, hướng tới tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn Trên tinh thần đó, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 140 BLHS năm 1999 là kết quả của việc kết hợp hai điều luật riêng rẽ từ chương khác nhau vào làm một Do các dấu hiệu cơ bản của hai tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong BLHS năm
1985 là giống nhau, chỉ khác nhau về loại tài sản (tài sản XHCN và tài sản của công dân) và đường lối xử lý, nên việc quy định lại làm một tội chung trong BLHS năm
1999 là phù hợp Tuy nhiên, việc quy định chung thành một tội không có nghĩa Nhà nước ta bỏ qua định hướng XHCN, không coi trọng tài sản XHCN Việc coi trọng tài sản XHCN được thể hiện qua việc quy định hành vi xâm phạm tới tài sản XHCN thuộc sở hữu của Nhà nước là một trong những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự (điểm i khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999)
So với BLHS năm 1985, Điều 140 BLHS năm 1999 đã mô tả được chi tiết hơn các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đồng thời cũng ghi nhận việc định lượng tài sản bị chiếm đoạt trở thành một căn cứ để lượng hình Khi lần đầu tiên được ban hành và có hiệu lực, BLHS năm 1999 quy định mức giá trị tài sản tối thiểu để truy cứu TNHS đối với tội này là từ một triệu đồng (hoặc dưới một triệu đồng nhưng phải thuộc một trong các trường hợp: 1 Gây hậu quả nghiêm trọng; 2 Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt; 3 Đã bị kết
Trang 17án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm) Tuy nhiên, do đời sống xã hội ngày càng nâng cao nên mức giá trị tài sản tối thiểu để truy cứu TNHS đối với tội LDTNCĐTS là một triệu đồng đã không còn phù hợp Vì vậy ngày 19/6/2009, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 đã họp và thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm
1999 Theo đó, kể từ ngày 01/01/2010 giá trị tài sản bị chiếm đoạt tại khoản 1 Điều
140 BLHS năm 1999 đã được thay đổi từ mức một triệu đồng lên bốn triệu đồng
1.2 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.2.1 Khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Quan hệ sở hữu là một trong những quan hệ cơ bản và quan trọng nhất của thể chế pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là những tội nguy hiểm và được thực hiện phổ biến trong số các tội phạm xâm phạm sở hữu được quy định trong BLHS Việt Nam
và “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là một tội thuộc nhóm tội này được quy định tại điều 140 BLHS năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 như sau:
“1 Người nào có một trong những hành vi sau đây: Chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ
ba tháng đến ba năm
a, Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó
b, Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Các tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại các khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều này
Trang 18Theo từ điển tiếng Việt ( Viện Ngôn ngữ học) - Nhà xuất bản từ điển Bách khoa, Hà Nội tái bản năm 2010: “Lạm dụng” có nghĩa là “dùng, sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định” [64], thường được nhắc tới những việc làm không đúng hoặc không nên; “tín nhiệm” là sự “tin cậy một người ở một công việc, nhiệm vụ cụ thể nào đó” [64] Như vậy, “lạm dụng tín nhiệm” là việc sử dụng quá mức những giá trị mà người khác tin tưởng mình hoặc giao cho mình để làm, hoặc thực hiện đúng cam kết thỏa thuận với họ nhưng lại làm những việc không đúng hoặc phụ lòng tin của họ Còn “chiếm đoạt tài sản” là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình”, bao gồm các hành vi chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản đó Đây chính là hành vi vi phạm pháp luật của một người nhằm giành lấy quyền sở hữu tài sản vốn thuộc về người khác; việc chiếm đoạt tài sản có thể được thực hiện qua nhiều hình thức như: lừa gạt, trộm cắp,
cướp giật…Từ những phân tích khái quát nêu trên, ta có thể hiểu: “Lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản” (LDTNCĐTS) là việc một người sử dụng quá mức những giá trị tài sản của bên giao tài sản sau khi nhận được tài sản thông qua các hình thức như cho vay, cho mượn, cho thuê hoặc các giao dịch hợp pháp khác để chuyển dịch tài sản đó sang họ; sau khi nhận được tài sản bằng niềm tin đối với người có tài sản đã trở mặt, không thực hiện đúng những cam kết với người giao tài sản và nảy sinh ý định giành lấy quyền sở hữu đối với tài sản đó
Từ quy định của Điều 140 BLHS năm 1999, kết hợp với khái niệm tội phạm quy định tại Điều 8 BLHS 1999, cũng như các phân tích cụ thể về quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, có thể hiểu: Tội LDTNCĐTS là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật hình sự đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích bằng các hình thức hợp đồng rồi sử dụng tài sản
đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả lại tài sản hoặc dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó
Tội LDTNCĐTS là một trong các tội xâm phạm quyền sở hữu Ở tội này, người phạm tội đã không dùng bất cứ thủ đoạn nào để lấy tài sản đang có từ trong
Trang 19tay của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản Chỉ sau khi nhận được tài sản ngay thẳng từ chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản thông qua hợp đồng dân sự, kinh tế người phạm tội mới có hành vi chiếm đoạt Hành vi chiếm đoạt ở đây là hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết, bao gồm các hành vi: Vay, mượn, thuê nhận tài sản bằng các hình thức hợp đồng rồi chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không trả được nợ Tóm lại, để nhận biết được tội danh này, cần nhận biết được đặc điểm của tội LDTNCĐTS là:
Thứ nhất, người phạm tội nhận được tài sản từ chủ sở hữu hoặc người quản lý
tài sản, sử dụng tài sản hợp pháp thông qua một giao dịch hợp pháp, ngay thẳng, như: Vay, mượn, thuê tài sản hoặc các hình thức giao dịch khác
Thứ hai, sau khi nhận được tài sản thì người phạm tội mới nảy sinh ra ý thức
chiếm đoạt tài sản nên đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó.Tức là ý thức chiếm đoạt tài sản phải xuất hiện sau khi nhận được tài sản (đây là yếu tố quan trọng để phân biệt với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) Nếu có sự gian dối của người nhận được tài sản nhưng vì lý do, mục đích khác không vì mục đích chiếm đoạt tài sản thì không phạm tội Để định tội một trường hợp cụ thể thì phải xác định người phạm tội đã dùng thủ đoạn gian dối cụ thể là gì, được chứng minh bằng những tài liệu chứng cứ gì, thủ đoạn gian dối cụ thể đó nhằm chiếm đoạt tài sản cụ thể gì, giá trị bao nhiêu hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện trả, có khả năng trả nhưng cố tình không trả; hoặc tuy không có ý thức chiếm đoạt nhưng đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại cho chủ sở hữu Đây là đặc trưng cơ bản nhất của tội LDTNCĐTS
Thứ 3, bỏ trốn để nhằm chiếm đoạt tài sản đó Bỏ trốn không nhằm chiếm đoạt
tài sản đó thì không phạm tội (chẳng hạn bỏ trốn vì bị chủ nợ thuê “xã hội đen” đến hành hung, đe dọa giết chết, đánh đập, khủng bố nếu không trả nợ) Do đó khi người nhận được tài sản đang trong quá trình bỏ trốn thì phải có các chứng cứ chứng minh được bỏ trốn là để chiếm đoạt tài sản, nếu chưa có chứng cứ vững chắc
để chứng minh họ bỏ trốn là để chiếm đoạt tài sản thì không đủ căn cứ định tội
Kế thừa từ BLHS năm 1999, nhà làm luật đã xây dựng Điều 175 BLHS năm
2015 với những điểm mới như sau:
Trang 20- Mô tả hành vi phạm tội LDTNCĐTS: BLHS năm 2015 quy định thêm một loại hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đó là hành vi
“đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”
- Nâng mức phạt tù thấp nhất lên 06 tháng thay vì 03 tháng như quy định trước đây của BLHS năm 1999
- Thay trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” thành trường hợp “có tính chất chuyên nghiệp” đối với quy định tại Khoản 2 Điều 175 BLHS năm 2015
- Hạ khung hình phạt đối với phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm (BLHS năm 1999 quy định mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm) trong trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội
- Thay trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” của BLHS năm 1999 thành trường hợp “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”
- Bãi bỏ mức phạt tù chung thân và trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” đối với quy định tại Khoản 4 Điều 140 của BLHS năm 1999 thành “phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm” Việc bãi bỏ này là phù hợp với tính nhân đạo của pháp chế xã hội chủ nghĩa và quan điểm pháp luật tiến tiến, nhân đạo của các quốc gia phát triển trên thế giới, phù hợp với xu hướng phát triển chung của thời đại ngày nay
Điều 175 BLHS năm 2015 sửa đổi năm 2017 đã bỏ tình tiết “hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần”
1.2.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Cũng như bất kì loại tội phạm nào, tội LDTNCĐTS cũng được cấu thành bởi bốn yếu tố: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan.Việc nghiên cứu các dấu hiệu cấu thành tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc làm sáng tỏ bản chất pháp lý của loại tội phạm này Từ đó là cơ sở pháp lý cho việc định tội và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội này
1.2.2.1 Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thừa nhận tính giai cấp của pháp luật nói chung cũng như của luật hình sự nói riêng, khẳng định:"Khách thể của tội phạm là
Trang 21quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại" [46, tr.78].Theo luật hình sự Việt Nam những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định trong Điều 8 BLHS 1999 và điều
8 BLHS năm 2015
Khách thể của tội LDTNCĐTS là quan hệ sở hữu [46] Có rất nhiều hình thức
sở hữu khác nhau như sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu tư nhân,… theo quy định của Hiến pháp
và Bộ luật dân sự (BLDS) Chủ thể của quan hệ sở hữu trong tội LDTNCĐTS bao gồm Nhà nước, các tổ chức và cá nhân Hành vi gây thiệt hại cho các quan hệ sở hữu là hành vi xâm phạm đến các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu
Cũng như các hành vi phạm tội khác, để xâm phạm đến quan hệ sở hữu thì người phạm tội LDTNCĐTS cũng phải tác động đến tài sản (đối tượng vật chất mà nhờ đó quan hệ sở hữu phát sinh và tồn tại) Tài sản theo quy định của Điều 105
BLDS 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản” Trong luật hình
sự, đối tượng tác động của tội LDTNCĐTS chính là tài sản và nó phải thỏa mãn những đặc điểm sau:
Tài sản phải được thể hiện dưới những dạng vật chất, có giá trị hoặc giá trị sử dụng, các vật này phải là thước đo giá trị sức lao động của con người được kết tinh, đồng thời phải thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần của con người [45] Những hành vi tác động đến đến các vật không còn giá trị kinh tế như thuốc đã hết hạn sử dụng buộc bị tiêu hủy, hàng hóa không còn giá trị sử dụng thì không phải
là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản [45]
Vật và tiền nói chung luôn luôn là đối tượng tác động của tội LDTNCĐTS Những giấy tờ thể hiện quyền về tài sản như hóa đơn lĩnh hàng, tín phiếu, séc, thẻ tín dụng… với điều kiện thông qua đó bất cứ ai cũng có thể nhận được một số tiền hoặc tài sản nhất định Nếu những giấy tờ có giá trị mà thông qua đó không trực tiếp lấy được tài sản mà chỉ là những phương tiện thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc các giấy tờ chỉ dùng vào việc phân phối thì mặc dù có hành vi chiếm đoạt thì cũng không phải là đối tượng tác động của tội LDTNCĐTS [46]
Trang 22Có những tài sản không thể là đối tượng của loại tội phạm này mặc dù hành vi chiếm đoạt tài sản đó cũng thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành của tội này như: Rừng cây, hầm mỏ, vũ khí, thuốc nổ, chất phóng xạ, chất cháy, chất nổ…do có những đặc điểm, tính chất quan trọng nhất định nên những tài sản đó đã trở thành đối tượng của một số tội phạm riêng
Theo BLHS 1999 yếu tố định lượng đã trở thành một căn cứ để xác định có cấu thành tội LDTNCĐTS hay không
Khoản 1: từ 1 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng
Hoặc dưới 1 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm
Khoản 2: từ trên 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng
Khoản 3: từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng
Khoản 4: từ 500 triệu đồng trở lên
Việc đưa yếu tố định lượng tài sản là một căn cứ để xác định có cấu thành tội phạm hay không đã góp phần hạn chế tối đa quyền tùy nghi của Toà án, tránh xét
xử cảm tính, oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, giúp xác định rõ ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm Đây cũng là cơ sở pháp lý để áp dụng thống nhất pháp luật trong toàn quốc, tạo cơ sở để người dân hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật
để qua đó tự điều chỉnh hành vi của mình tránh trường hợp phạm tội do không hiểu
rõ các quy định của pháp luật
1.2.2.2 Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm do Luật hình sự quy định, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan, có thể nhận thức được bằng các giác quan trực tiếp hay bằng tư duy lôgic [46, tr.71] Nội dung mặt khách quan bao gồm: hành vi phạm tội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xảy ra Ngoài ra còn
có các dấu hiệu khác như: Thời gian, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội Trong đó hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản
Hành vi khách quan của tội LDTNCĐTS có đầy đủ đặc điểm mặt khách quan của tội phạm nói chung và mang ba đặc điểm, đó là: Hành vi gây thiệt hại về vật
Trang 23chất cho chủ sở hữu, nguy hiểm cho xã hội, và hành vi đã được tính toán cân nhắc
là hoạt động có ý thức và ý chí của chủ thể, được thực hiện dưới hình thức hành động đã vi phạm vào Điều 140 BLHS 1999 (đó chính là hành vi trái pháp luật hình sự) Hành vi khách quan của tội LDTNCĐTS rất đa dạng được quy định trong Điều
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản"
Như vậy, đặc điểm hành vi khách quan của tội LDTNCĐTS sản được thể hiện trước hết ở dấu hiệu: Người phạm tội đã nhận được tài sản một cách hợp pháp từ chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với tài sản Căn cứ pháp lý của việc nhận tài sản là hợp đồng dân sự, kinh tế như: Hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản, hoặc các hình thức hợp đồng khác
Giao dịch có thể được thực hiện dưới các hình thức sau:
* Vay tài sản: Theo Điều 463 BLDS năm 2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” Vay tài sản được mô tả trong tội lạm dụng tín nhiệm cũng mang đặc điểm của một hợp đồng vay tài sản nói trên Bên vay và bên cho vay hoàn toàn tự nguyện khi giao kết hợp đồng
* Thuê tài sản: Theo Điều 472 BLDS 2015: “Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê”.Đối tượng của hợp đồng thuê tài sản phải
là những vật đặc định
Trang 24* Mượn tài sản: Theo Điều 494 BLDS 2015: “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, bên mượn phải trả lại tài sản đó khi
hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được”
Trong trường hợp này giữa chủ tài sản và người phạm tội thường có mối quan
hệ thân thiết như quan hệ bạn bè, yêu đương, hàng xóm…, đối tượng chủ yếu là các phương tiện đi lại như xe máy, xe đạp…
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể có được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng khác như: Hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng gia công, dịch vụ, hợp đồng vận chuyển…
Sau khi có được tài sản trong tay, người phạm tội mới có hành vi chiếm đoạt tài sản được giao Sự chiếm đoạt đó có thể là tiếp tục chiếm giữ không chịu trả lại tài sản cho chủ sở hữu (biến thành của riêng), hoặc tự ý sử dụng, định đoạt tài sản không đúng với nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng với ý định không muốn trả lại tài sản cho chủ sở hữu khi thời hạn hợp đồng đã hết Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội LDTNCĐTS có thể được biểu hiện qua các thủ đoạn như: gian dối, bỏ trốn, hoặc
sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu
Thủ đoạn gian dối thường gặp trong thực tế như giả bị mất, hoặc đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản khiến sản phẩm được làm ra không có đầy đủ đặc tính về số lượng, chất lượng như yêu cầu của hợp đồng; xoá dấu tích việc nợ, huỷ bỏ, tẩy xóa, sửa chữa các tài liệu chứng cứ chứng minh nghĩa vụ thanh toán như giấy vay nợ, các cam kết
Phần lớn trong các trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối để che giấu hành vi chiếm đoạt
Ví dụ: Nguyễn Thị Kim Huyền tố cáo Nguyễn Thị Thuý Sân vay tổng cộng 54 triệu đồng Sân chỉ thừa nhận vay của Huyền số tiền 44 triệu đồng với lý do lần vay sau cùng Sân chỉ vay của Huyền 6 triệu đồng nhưng ai đó đã viết thêm số 1 nên mới thành 16 triệu đồng Tại bản giám định, kết luận chữ viết trong sổ nợ của Huyền là
do Sân viết ra Tòa án sơ thẩm xử phạt Sân 12 tháng tù về tội "lạm dụng tín nhiệm
Trang 25chiếm đoạt tài sản", buộc Sân bồi thường cho Huyền 10.000.000 đ Sân kháng cáo
và đề nghị giám định lại số “1” Tòa án cấp phúc thẩm đã huỷ toàn bộ án sơ thẩm Tại phiên toà giám đốc thẩm, Toà hình sự TAND tối cao đã quyết định huỷ bản án phúc thẩm số 127/HSPT ngày 24/9/2004 của TAND tỉnh để xét xử lại Quá trình điều tra, Sân vẫn khẳng định số 1 trong lần vay 16 triệu không phải do Sân viết Nhưng thực tế lần giám định thứ hai theo đề nghị của Sân, Viện khoa học kỹ thuật hình sự Bộ Công an kết luận chữ số "1" trong biên nhận nợ là do Sân viết ra Như vậy, rõ ràng Sân có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt số tiền 10 triệu đồng của Huyền Hành vi của Sân đã cấu thành tội LDTNCĐTS Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố Sân không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là không
có căn cứ, không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án
Thủ đoạn của hành vi chiếm đoạt thứ hai là thủ đoạn bỏ trốn Bỏ trốn là trường hợp người vay, mượn hoặc nhận tài sản từ các hình thức hợp đồng khác nhưng khi hết thời hạn thanh toán họ lại bỏ đi khỏi nơi cư trú, với ý thức cố tình không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (hay nói cách khác là ý thức chiếm đoạt tài sản), cố tình giấu địa chỉ không cho chủ
nợ biết cho đến khi bị phát hiện và bắt giữ Khi đánh giá hành vi bỏ trốn của người phạm tội phải xem xét một cách khách quan, toàn diện, nếu người phạm tội bỏ trốn hoặc lánh mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản vì nguyên nhân khác thì không coi là bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản Ví dụ như con nợ chỉ lẩn tránh không giáp mặt với chủ nợ nhằm kéo dài thêm thời gian thanh toán nợ, con nợ lo sợ sẽ bị chủ nợ gọi công an đến bắt, hoặc thuê người đến đe dọa, hành hung, hoặc vì lí do kinh doanh, buôn bán, anh ta phải đến địa phương khác mà không kịp thời thông báo cho chủ nợ biết được
Thủ đoạn thứ hai này thể hiện rõ tính có lỗi và nguy hiểm của hành vi phạm tội Hành vi bỏ trốn đã gây khó khăn cho việc xử lý tội phạm gây tâm lý lo lắng, hoang mang cho người bị hại, vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc đối với trường hợp này
Thủ đoạn của hành vi chiếm đoạt thứ ba là người phạm tội đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến việc không trả lại tài sản được Ở đây, sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp là những trường hợp dùng tài sản vào việc thực
Trang 26hiện tội phạm, có ý nghĩa là dấu hiệu cấu thành tội phạm như: Dùng tiền vay để cá
độ, đánh số đề, đánh bạc, buôn lậu, buôn ma tuý… dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu
Về thủ đoạn này, cần phân biệt việc dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp với việc sử dụng tài sản không đúng mục đích đã thoả thuận khi giao kết hợp đồng Mục đích bất hợp pháp là trái với quy định của pháp luật, còn trái mục đích khi giao kết hợp đồng là trái với thoả thuận của các bên, có thể không trái pháp luật Trường hợp không dùng tài sản vào mục đích phạm tội mà dùng tài sản vào mục đích bất hợp pháp khác thì phải xem xét, đánh giá từng trường hợp cụ thể, tránh những trường hợp định tội sai
Hậu quả của tội phạm trong quá trình định tội danh
Hậu quả của tội phạm là những thay đổi trong thế giới khách quan do hành vi phạm tội gây ra đối với các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc của những tội phạm có cấu thành vật chất Theo
luật hình sự Việt nam: “Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây
ra cho những quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự” [46]
Hậu quả của hành vi phạm tội LDTNCĐTS là việc chiếm đoạt được tài sản của chủ sở hữu đã giao cho mình Theo quy định tại Điều 140 BLHS 1999 sửa đổi năm 2009, chỉ xử lý hình sự về tội LDTNCĐTS nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị
từ bốn triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc
đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt
tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì mới cấu thành tội này
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm được biểu hiện ở việc hành vi chiếm đoạt phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian và hậu quả là kết quả trực tiếp của hành vi chiếm đoạt
Như vậy, Điều 140 BLHS 1999 đã đưa vấn đề định lượng để xác định để xác định tội phạm hoàn thành khi nào, tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng số lượng tài sản bị chiếm đoạt phải thỏa mãn
về mặt định lượng tài sản đã nêu trong luật
Trong tội LDTNCĐTS, các yếu tố về địa điểm, thời gian, v.v không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm này
Trang 271.2.2.3 Chủ thể của tội phạm
Theo luật hình sự Việt Nam hiện hành thì "chủ thể của tội phạm là con người cụ thể
đã cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được pháp luật hình sự quy định là tội phạm trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định do luật quy định và trong một số trường hợp khác có dấu hiệu đặc biệt được chỉ ra trong điều luật tương ứng” [60, tr.180] BLHS năm 2015 điều 8
quy định “Pháp nhân thương mại cũng là chủ thể của tội phạm, Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm quy định tại một trong các điều 188,
189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225,
226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 của Bộ luật này” (Điều 76 BLHS năm 2015) Tuy nhiên pháp nhân thương mại khi thực hiện tội phạm cũng chính là do “Thể nhân” của pháp nhân đó thực hiện tội phạm Như vậy chủ thể của tội phạm chỉ có thể là một con người cụ thể
Điều 12 BLHS 2015 có quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:
1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác
2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249,
250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này
Như vậy, theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 140 BLHS năm 1999 thì người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội phạm này; người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 140 BLHS năm 1999 Còn theo quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm này
Để cụ thể hóa chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về tăng cường bảo
vệ người chưa thành niên, tăng tính lương thiện trong xử lý tội phạm, bảo đảm phù hợp với công ước quốc tế về quyền trẻ em và các chuẩn mực tư pháp đối với người chưa thành niên, BLHS năm 2015 đã thay đổi thuật ngữ người chưa thành niên bằng thuật ngữ người dưới 18 tuổi trẻ em bằng thuật ngữ người dưới 16 tuổi
Trang 28Theo quy định tại Điều 21 BLHS năm 2015; Điều 447, 452, 454 BLTTHS năm 2015 thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Khi có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần
để làm căn cứ cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) nhưng đã lâm vào tình trạng mất hoặc hạn chế năng lực TNHS thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, sau khi khỏi bệnh người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
Như vậy, theo quy định tại Điều 12 BLHS 2015 thì chủ thể của tội LDTNCĐTS chỉ là người đã đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực TNHS
1.2.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là thể hiện diễn biến tâm lý của bị cáo đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà bị cáo thực hiện, bao gồm: Lỗi (cố ý hoặc vô ý), động cơ, mục đích phạm tội, trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm Lỗi là dấu hiệu không thể thiếu được của bất cứ cấu thành tội phạm nào Mục đích và động cơ phạm tội tuy cũng là những dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm nhưng không phải luôn luôn có ý nghĩa quyết định tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
Trong tội LDTNCĐTS, lỗi của người phạm tội luôn là lỗi cố ý trực tiếp: “Lỗi
cố ý trực tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi
đó và mong muốn hậu quả xảy ra”(Điều 9 BLHS năm 1999) Thấy trước được hậu quả của hành vi là sự dự kiến của người phạm tội về sự phát triển của hành vi và mong muốn cho hậu quả xảy ra, tức là mong muốn chiếm đoạt được tài sản do được giao một cách hợp pháp và ngay thẳng thông qua hợp đồng dân sự hoặc kinh tế Việc xác định lỗi trong tội LDTNCĐTS cần chú ý là: Ban đầu, khi nhận được tài sản theo hợp đồng, người phạm tội mong muốn thực hiện hợp đồng đó Chỉ sau khi
Trang 29đã giao kết hợp đồng và nhận được tài sản đó, người phạm tội mới có hành vi chiếm đoạt Vì vậy, ta chỉ xét đến lỗi của họ tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt chứ không phải tại thời điểm nhận tài sản Thời điểm nảy sinh ý thức chiếm đoạt là căn cứ rất quan trọng để phân biệt tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Động cơ và mục đích phạm tội: Là những dấu hiệu bắt buộc của một hành động có ý chí, động cơ và mục đích phạm tội là những yếu tố nằm trong nội dung
của mặt chủ quan của tội phạm “Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy
người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội” [63, tr.212] Động cơ, mục đích có ý
nghĩa pháp lý khác nhau trong định tội Đó có thể chỉ là những dấu hiệu định khung hay có ý nghĩa quyết định hình phạt Trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, động cơ đó là “vì vụ lợi” và mục đích phạm tội là nhằm chiếm đoạt được tài
sản “ Mục đích là quan niệm của người phạm tội về những thay đổi trong thế giới
khách quan mà người muốn đạt được bằng việc thực hiện tội phạm” [62, tr.212]
Ngoài mục đích chiếm đoạt người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác, trong trường hợp này người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình
sự Mục đích của tội phạm cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Vì bản thân hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội này đã bao hàm mục đích phạm tội
Tóm lại, bốn yếu tố của cấu thành tội phạm của tội LDTNCĐTS có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, tồn tại khách quan và không tách rời nhau, chúng là cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự và để định tội danh Vì vậy, trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này, các nhà bảo vệ pháp luật phải nắm rõ được các dấu hiệu trên và phải đánh giá chúng một cách khách quan, toàn diện, lôgic, biện chứng và phải phân biệt được các dấu hiệu pháp lý của tội LDTNCĐTS với các tội phạm khác gần gũi, cũng như với việc vi phạm hợp đồng dân sự hoặc hợp đồng kinh tế, khắc phục hiện tượng sai lầm trong việc định tội danh, hiện tượng
"hình sự hoá", "phi hình sự hoá" các quan hệ kinh tế, dân sự, để từ đó đưa ra cách
xử lý công bằng, khách quan
Trang 301.3 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với các giao dịch dân sự, kinh tế và một số tội phạm có liên quan
1.3.1 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với các giao dịch dân sự, kinh tế
Giao dịch dân sự, kinh tế hoặc hành vi pháp lý đơn phương của các chủ thể trong quan hệ dân sự, kinh tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên tham gia giao dịch
Tội LDTNCĐTS và các giao dịch dân sự, kinh tế đều có những điểm giống nhau đó là: các bên đã giao kết xác lập một giao dịch dân sự, kinh tế hoàn toàn ngay thẳng, hợp pháp dưới hình thức hợp đồng Đó là các giao dịch về mua bán, trao đổi tài sản; vay, mượn tài sản; thuê hoặc thuê khoán tài sản; cung ứng dịch vụ; vận chuyển hành khách; gia công hàng hóa; giữ gìn tài sản; bảo hiểm; thực hiện công việc theo ủy quyền hoặc các giao dịch hợp pháp khác giữa các bên theo quy định của pháp luật Trên cơ sở giao kết này, một bên giao tài sản cho bên kia kèm theo điều kiện sẽ được hưởng những quyền lợi nhất định hoặc bên kia phải có nghĩa vụ hoàn trả, thanh toán lại tài sản sau một thời gian nhất định theo thỏa thuận
Trong quá trình thực hiện, có thể bên nhận tài sản không làm cho bên giao tài sản được hưởng quyền lợi hoặc không hoàn trả tài sản sau một thời gian xác định như đã thỏa thuận khi giao kết hợp đồng, dẫn đến bên giao tài sản bị thiệt hại Trong giao dịch trao đổi tài sản, một bên đã giao tài sản và chuyển quyền sở hữu cho bên kia nhưng bên kia không giao hoặc giao không đủ tài sản và chuyển quyền
sở hữu lại; không hoàn trả hoặc hoàn trả không đúng, không đầy đủ; trong giao dịch cho mượn tài sản, nhưng khi đến hạn trả, bên mượn không hoàn trả hoặc trả không đúng loại, không đúng chủng loại, số lượng, chất lượng; trong giao dịch thuê tài sản, bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn nhưng khi hết thời hạn bên thuê không trả tài sản hoặc không trả lãi theo thỏa thuận; trong giao dịch theo khoán tài sản, bên cho thuê khoán đã giao tài sản để bên thuê khoán khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức nhưng bên thuê khoán không trả tiền; trong giao dịch thuê cung ứng dịch vụ bên cung ứng đã thực hiện dịch vụ nhưng bên thuê cung ứng không thực; trong giao dịch vận chuyển hành khách, hàng hóa, bên vận chuyển đã chuyên chở hành khách, hàng hóa theo thỏa thuận, nhưng bên thuê
Trang 31không thanh toán cước phí vận chuyển, hoặc bên thuê đã thanh toán cưới phí nhưng bên vận chuyển không chuyên chở, chuyên chở không đầy đủ; trong giao dịch về gia công, bên nhận gia công đã tạo ra và giao sản phẩm theo đơn đặt hàng nhưng bên đặt gia công không trả tiền công hoặc bên đặt gia công đã trả tiền công nhưng bên nhận gia công không giao sản phẩm, giao không đầy đủ; trong giao dịch gửi giữ tài sản, bên giữ đã nhận tài sản của bên gửi để bảo quản nhưng không trả lại tài sản
đó khi hết thời hạn hợp đồng; trong giao dịch về bảo hiểm, bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm nhưng bên bán bảo hiểm không cấp giấy chứng nhận bảo hiểm; trong giao dịch về ủy quyền, bên được ủy quyền đã nhận thù lao nhưng không thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền
Tuy một trong hai bên tham gia giao dịch dân sự, kinh tế bị thiệt hại về tài sản
do họ giao tài sản cho bên kia nhưng không được hưởng quyền lợi hoặc không được hoàn trả lại tài sản sau một thời gian như đã thỏa thuận Nhưng tùy từng trường hợp
cụ thể mà kết luận đây là hành vi phạm tội LDTNCĐTS hay vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự, kinh tế Điểm khác nhau cơ bản, dùng để phân biệt tội LDTNCĐTS với các giao dịch dân sự, kinh tế, đó chính là yếu tố “chiếm đoạt” hoặc sử dụng tài sản đó vào “mục đích bất hợp pháp” hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả, bỏ trốn để nhằm chiếm đoạt tài sản đó Nếu một người nhận tài sản và có nghĩa vụ làm cho bên kia được hưởng những quyền lợi hoặc sau một thời gian nhất định sẽ hoàn trả lại tài sản cho bên kia, nhưng sau đó họ không thực hiện đúng được do nguyên nhân khách quan
và họ không có điều kiện để hoàn trả tài sản thì không phải là hành vi phạm tội LDTNCĐTS, nhưng nếu sau khi nhận tài sản mà họ có ý thức chiếm đoạt và dùng thủ đoạt gian dối hoặc bỏ trốn với mục đích chiếm đoạt tài sản đó, hoặc tuy không
có ý thức chiếm đoạt nhưng sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, hoặc có điều kiện nhưng có các hành động cố tình không trả, thì trường hợp này phạm vào tội LDTNCĐTS
Như vậy, để phân biệt tội LDTNCĐTS với các giao dịch dân sự, kinh tế, phải chứng minh được yếu tố chiếm đoạt hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp, dùng thủ đoạn gian dối, hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả, bỏ trốn để nhằm chiếm đoạt tài sản đó
Trang 32Trong thực tiễn, việc phân biệt này rất khó khăn, như đã phân tích ở trên, việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội là một giao dịch dân sự hoàn toàn hợp pháp, ngay thẳng Giao dịch dân sự, kinh tế hợp pháp này được chuyển hóa thành tội phạm khi người phạm tội nảy sinh ý thức chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng tài sản đó vì vụ lợi Đây là cơ sở để phân biệt tội LDTNCĐTS với các giao dịch dân sự, kinh tế
1.3.2 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội danh khác
Về mặt lý luận, tội LDTNCĐTS và các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản khác như tội lừa đảo chiếm đạt tài sản có yếu tố cấu thành tội phạm tương đối giống nhau, cùng được xếp vào chương XIV của BLHS năm 1999 Tuy nhiên, thực tiễn xét điều tra, truy tố xét xử cho thấy tội phạm thực hiện ở nhiều dạng khác nhau nên có lúc người tiến hành tố tụng không nhận diện đúng hành vi phạm tội và bản chất của tội phạm dẫn đến nhầm lẫn giữa tội này với tội khác Trong một số trường hợp, hành vi phạm tội thỏa mãn hầu hết các cấu thành tội phạm của nhiều tội danh cùng một lúc dẫn đến dễ gây nhầm lẫn trong việc định tội danh đối với hành vi đó Vì vậy, việc phân biệt sự khác biệt trong cấu thành tội phạm giữa các tội danh là rất quan trọng
Để tránh được sự nhầm lẫn trong áp dụng pháp luật đảm bảo việc điều tra, truy
tố, xét xử đúng người đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng oan sai, qua phân tích các dấu hiệu của tội LDTNCĐTS trên đây cho phép phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác có liên quan như sau:
- Phân biệt tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm đạt tài sản:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS và cũng thuộc chương XIV các tội xâm phạm sở hữu với tội LDTNCĐTS:
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác Hành vi khách quan của tội lừa đảo là hành vi chiếm đoạt, còn thủ đoạn gian dối chính là phương thức để đạt được mục đích chiếm đoạt Thủ đoạn gian dối được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể khác nhau mà người phạm tội thực hiện hành vi khác nhau như bằng lời nói dối, giả mạo giấy tờ, giả danh người
Trang 33có chức vụ quyền hạn, giả danh các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc nhận nhầm tài sản từ người phạm tội LDTNCĐTS và lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hai tội phạm có cấu thành gần giống nhau Dấu hiệu ở yếu tố khách thể, chủ thể, mặt chủ quan của hai tội này là giống nhau, mặt khách quan của tội phạm cùng đều là hành vi chiếm đoạt
Điểm khác nhau cơ bản nhất giữa hai tội này là mục đích chiếm đoạt xuất hiện trước hay sau khi nhận được tài sản
Ở tội LDTNCĐTS, người phạm tội nhận được tài sản một cách ngay thẳng hợp pháp thông qua một giao dịch dân sự, kinh tế; lúc đó người phạm tội chưa có ý thức chiếm đoạt, chỉ sau khi nhận được tài sản thì họ mới có ý thức chiếm đoạt nên dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Hành
vi gian dối ở tội LDTNCĐTS nhằm che dấu hành vi chiếm đoạt chứ không phải là phương thức để chiếm đoạt
Trong khi đó, ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội có mục đích chiếm đoạt tài sản từ trước Để thực hiện mục đích chiếm đoạt thì người phạm tội
đã dùng thủ đoạn gian dối tạo ra các thông tin sai sự thật làm người bị hại lầm tưởng là thật và đã giao hoặc nhận nhầm tài sản cho người phạm tội, từ đó thực hiện hành vi chiếm đoạt Như vậy, hành vi gian dối bao giờ cũng có trước hành vi nhận tài sản, hành vi gian dối là điều kiện để thực hiện mục đích chiếm đoạt, hành vi chiếm đoạt là kết quả trực tiếp từ gian dối thành công
Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, việc phân biệt giữa ý thức chiếm đoạt có trước hay có sau khi có được tài sản lại là một quá trình tố tụng rất khó khăn
và không phải lúc nào cũng chứng minh được Vì người phạm tội ít khi để lộ ý thức chủ quan của mình, bởi không ít người phạm tội là cán bộ, công chức Nhà nước hiểu rõ pháp luật, tìm mọi cách né tránh để không bị xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có chế tài nặng hơn tội LDTNCĐTS
Về thời điểm hoàn thành tội phạm: Ở tội LDTNCĐTS, tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đó có hành vi cố ý chiếm đoạt tài sản Điều này có thể hiểu là người phạm tội đã có hành vi cố ý dịch chuyển một cách trái phép tài sản thuộc sở hữu của người khác thành sở hữu của mình và có đầy đủ điều kiện khách quan để
Trang 34có thể chiếm đoạt tài sản theo ý thức chủ quan của mình Còn ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì thời điểm hoàn thành tội phạm sớm hơn, tức là ngay sau khi người phạm tội nhận được tài sản trái phép hoặc khi giữ tài sản trái phép Mặt khác, ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không nhất thiết phải thông qua hợp đồng, việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua các hợp đồng dân sự, kinh tế, chỉ là một dạng của hành
vi lừa đảo và ở dạng này thì hành vi phạm tội sẽ gây ra hậu quả lớn
- Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội tham ô tài sản
Trong BLHS năm 1985, tội tham ô tài sản được quy định trong chương các tội xâm phạm sở hữu Xã hội chủ nghĩa Nhưng do tính chất nghiêm trọng của tội này nên đến BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã được tách ra và quy định tại điều 278 chương XXI “Các tội xâm phạm về chức vụ” Mặc dù được quy định ở hai chương khác nhau của BLHS hiện hành, nhưng cấu thành tội phạm của tội tham
ô tài sản và tội LDTNCĐTS có khá nhiều điểm chung
Mặt chủ quan của tội phạm: Đều là hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, với động cơ vụ lợi và mục đích là chiếm đoạt tài sản của bên giao tài sản
Mặt khách quan của tội phạm: Đều nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản sau khi nhận được tài sản từ bên giao, tức là tại thời điểm nảy sinh ý định phạm tội thì tài sản đang trong sự quản lý của người phạm tội Hậu quả của tội phạm của hai tội này
có những điểm khác nhau nhưng không phải là căn cứ để định tội danh giữa hai tội này
Điểm khác biệt để phân biệt hai tội này trong việc định tội danh đối với người phạm tội là ở chủ thể và khách thể của hai tội phạm này
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể tội LDTNCĐTS là bất kỳ cá nhân nào có đầy
đủ các dấu hiệu chủ thể của tội phạm hình sự Còn chủ thể của tội tham ô tài sản được pháp luật hình sự xác định là một loại chủ thể đặc biệt Người phạm tội phải là người có chức vụ, quyền hạn và tại thời điểm thực hiện tội phạm, người đó đang có trách nhiệm quản lý đối với tài sản bị chiếm đoạt
Khách thể của tội phạm: Tội LDTNCĐTS là quan hệ sở hữu được pháp luật bảo vệ bao gồm tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức và tài sản của Nhà nước Nhưng tội tham ô tài sản, hành vi của người phạm tội không xâm phạm tới tài sản
Trang 35của cá nhân mà chỉ xâm phạm tới tài sản của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước (Điều 353 BLHS 2015)
- Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lạm dụng chức
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân (Điều 280 BKHS 1999 và Điều 355 BLHS 2015)
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân là hành vi chiếm đoạt tài sản của công dân bằng thủ đoạn lạm dụng chức vụ, quyền hạn Ví dụ: A là cán bộ Quản giáo Trại giam T, khi phát hiện ra phạm nhân B có hành vi vi phạm nội quy của trại giam, A đã gặp và có lời nói với phạm nhân B là hành vi vi phạm của B sẽ bị kỷ luật và xếp loại cải tạo kém nên không được xét giảm án đợt này và nếu B không liên lạc với gia đình để đem số tiền là 5 triệu đồng đến gặp để cảm ơn A, thì A sẽ làm văn bản báo cáo lãnh đạo trại giam về hành vi của B Như vậy, với việc làm này A đã phạm tội “lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân”
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân là hành vi chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản trong hợp đồng dân sự
Tội LDTNCĐTS với tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân giống nhau ở chỗ: khách thể đều xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân; mặt chủ quan đều là tội cố ý trực tiếp; mặt khách quan đều lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân, đều cấu thành vật chất
Khác nhau về đối tượng tác động ở tội LDTNCĐTS thì tài sản do người phạm tội quản lý, còn tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân thì tài sản do người khác quản lý Về chủ thể, ở tội LDTNCĐTS thì chủ thể là người được chủ tài sản tín nhiệm giao quản lý tài sản, còn chủ thể của tội lạm dụng chức
vụ, quyền hạn là chủ thể đặc biệt, là người có chức vụ Mặt khách quan, ở tội LDTNCĐTS, người phạm tội đã thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm của chủ tài sản chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản trong hợp đồng, còn tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn, người phạm tội đã lạm dụng chức vụ uy hiếp tinh thần chủ tài sản và gian dối để chiếm đoạt tài sản của công dân
Tóm lại, ở tội LDTNCĐTS thì người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản mình được giao trên cơ sở hợp đồng (lạm dụng tín nhiệm của chủ tài sản) Còn tội lạm
Trang 36dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân thì người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản của công dân bằng thủ đoạn lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình (chức vụ, quyền hạn được sử dụng như phương tiện để chiếm đoạt)
1.4 Quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong sự so sánh với Bộ luật hình sự năm 2015
Do ban hành từ năm 1999, BLHS chưa thể chế hóa được những quan điểm, chủ trương mới của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2012 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48/NQ-TW, ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Thể hiện đúng tinh thần và cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về việc ghi nhận
và đảm bảo thực hiện các quyền con người, quyền công dân, tạo ra lợi ích của Nhà nước và tổ chức, góp phần bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự với tư cách là công
cụ pháp lý quan trọng và sắc bén nhất trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người cơ bản của công dân Ngày 27/11/2015, Quốc hội đã xây dựng BLHS năm
2015, đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII đã biểu quyết thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015, đã sửa đổi, bổ sung điều 175 tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
So với điều 140 BLHS năm 1999 thì điều 175 BLHS năm 2015 quy định về tội LDTNCĐTS có nhiều điểm mới, rõ ràng, phù hợp với thực tại hơn, cụ thể:
Cùng với nhóm tội danh thuộc chương các tội xâm phạm sở hữu, BLHS năm
2015 có sự thay đổi về dấu hiệu định tội danh: Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về tinh thần đối với người bị hại Những loại tài sản này có giá trị vật chất đáng kể hoặc không đáng kể, nhưng lại là quan trọng trong sinh kế hàng ngày của gia đình người bị hại hoặc tài sản đó không chỉ có giá trị về vật chất mà còn mang giá trị tinh thần lớn lao đối với chủ tài sản, người thừa kế Từ đó, thiệt hại do hành vi chiếm đoạt, hủy hoại
Trang 37làm hư hỏng những tài sản này gây ra khó hoặc không thể định lượng về giá trị nói chung, nếu quy định lượng hóa cụ thể của thiệt hại vật chất thì không thể phản ánh đầy đủ hậu quả của tội phạm Vì vậy, việc bổ sung dấu hiệu định tội là các đối tượng tài sản trên đây không kèm theo việc định lượng Trong các đối tượng tài sản nêu trên, một số loại tài sản phải có dấu hiệu định tính là có giá trị đặc biệt về tinh thần Việc xác định dấu hiệu này trên thực tế không đơn giản và phụ thuộc phần lớn vào mối quan hệ giữa tài sản đó với người bị hại Khi sửa đổi BLHS năm 2017 các nhà làm luật đã phi hình sự hóa dấu hiệu “hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần” Quy định tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình
họ để được áp dụng một cách thống nhất, các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể quy định này
BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung dấu hiệu định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Dấu hiệu hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó (điểm a, khoản 1, điều 140 BLHS năm 1999) được sửa thành hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả (điểm a, khoản 1, điều 175 BLHS năm 2015), cụ thể:
Quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của BLHS năm 2015, điều 175 so với điều 140 BLHS năm 1999:
Một là: Thay đổi về nội hàm của khái niệm “hành vi lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản”:
BLHS năm 1999, điều 140 quy định hành vi khách quan của tội này, đó là sau khi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng, chủ thể đã thực hiện một trong ba hành vi sau: dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó; bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Điều 175 BLHS năm 2015, hành vi “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” được loại
ra khỏi khái niệm làm dấu hiệu khách quan
BLHS năm 1999, điều 140 quy định dấu hiệu “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản”
là một trong những dấu hiệu khách quan bắt buộc của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Trên thực tế, một số trường hợp, người thông qua vay mượn,
Trang 38thuê bằng hình thức hợp đồng hợp pháp, khi đến hạn trả lại tài sản đã bỏ trốn, nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt, như trường hợp họ bị chủ nợ cưỡng ép, hành hung nên sợ bỏ trốn, bỏ trốn để tạm lánh vì kinh doanh thua lỗ; hoặc bỏ trốn
để tìm một nơi làm ăn kinh doanh khác để lấy tiền trả nợ Về bản chất, đây là những trường hợp vi phạm nghĩa vụ trả lại tài sản trong quan hệ dân sự Tuy nhiên, thực tiễn đã có những vụ án mà vấn đề chứng minh tội phạm trong một số trường hợp chỉ dựa vào dấu hiệu bỏ trốn của người vay, mượn, thuê tài sản khi đến hạn trả nợ, dẫn đến khả năng hình sự hóa quan hệ dân sự, nên việc thay đổi dấu hiệu định tội của điều 175 BLHS năm 2015 đã góp phần khắc phục vấn đề hình sự hóa quan hệ dân sự cũng như xem xét khả năng chứng minh tội phạm Tuy nhiên khi sửa đổi BLHS năm 2017 các nhà làm luật lại tiếp tục đưa hành vi
bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó làm dấu hiệu khách quan Theo tác giả như vậy là phù hợp với việc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này hiện nay
Điều 175 BLHS năm 2015 đã quy định thêm một loại hành vi là dấu hiệu khách quan của tội LDTNCĐTS đó là “đến thời hạn trả lại tài sản, mặc dù có điều kiện, khả năng trả nhưng cố tình không trả”
Dựa trên cơ sở phân tích trên, xem xét hành vi của người nhận được tài sản thông qua các hình thức hợp đồng ngay thẳng (vay, mượn, cho thuê tài sản), sau đó khi đến hạn trả lại tài sản, mặc dù có điều kiện, khả năng trả nhưng cố tình không trả, chúng ta thấy đây là hành vi cố tình không trả, vi phạm nghĩa vụ trả lại tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Hành vi này làm cho chủ sở hữu tài sản mất hẳn khả năng thực hiện quyền sở hữu của mình trên thực tế và tạo ra cho chủ thể khả năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó như tài sản của mình Như vậy,
đó là hành vi chiếm đoạt và mang bản chất của hành vi LDTNCĐTS Thực tế xảy
ra, nhiều người vay, mượn ngay thẳng, đến khi nhận được tài sản đã dùng để đáp ứng nhu cầu của mình, nhiều trường hợp dùng tài sản để đầu tư, kinh doanh có lãi, khi đến hạn trả nợ, chủ nợ đến yêu cầu, thậm chí vận động, thuyết phục để trả nợ cho mình nhưng người mượn cố tình không trả lại, tỏ thái độ thách thức, đe dọa Những trường hợp này thực tế xảy ra rất nhiều nên theo tác giả cần thiết quy định thêm hành vi này là phù hợp Tuy nhiên việc xác định thế nào là có điều kiện, khả
Trang 39năng trả lại tài sản cần phải được hướng dẫn một cách cụ thể trong các văn bản của
cơ quan có thẩm quyền
Hai là, thay đổi về các dấu hiệu định khung hình phạt:
BLHS năm 2015 cụ thể hóa một số dấu hiệu định khung điểm e khoản 2, điểm
b khoản 3, điểm b khoản 4 BLHS năm 1999 là sử dụng các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” làm tình tiết định khung hình phạt của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Các dấu hiệu này quy định tại 10/13 tội của Chương các tội xâm phạm sở hữu của BLHS năm 1999 nhằm đảm bảo sự minh bạch và thống nhất cho việc áp dụng BLHS năm 2015 đã cụ thể hầu hết các dấu hiệu trên theo hướng quy định rõ định lượng giá trị tài sản bị chiếm đoạt Ví dụ, điểm c khoản 2 điều 175 quy định: Chiếm đoạt tài sản có giá trị 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng …
Ngoài ra, điều 175 BLHS năm 2015 còn bổ sung thêm dấu hiệu định khung hình phạt mới, đó là tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, điểm b, khoản
2 điều 175 Tình tiết gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, điểm b, khoản 3 điều 175 Những dấu hiệu định khung hình phạt ngày càng được bổ sung trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành, rà soát các quy định của BLHS, các quy định này là hợp lý và cần thiết để răn đe, trừng trị đối với những người mà tính “bất tin”
đã trở thành bản tính, từng bước giảm bớt các loại tội phạm, góp phần hạn chế các loại tội phạm gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự an toàn xã hội
Bổ sung dấu hiệu: đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại các điều
168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại (khoản 1 điều 175 BLHS năm 2015) Cách quy định trên cho thấy, việc đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của các trường hợp phạm tội khác nhau để xếp vào cùng một khung hình phạt được xem xét bởi tổng hợp nhiều yếu tố, đảm bảo nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự trong từng khung hình phạt của tội phạm
cụ thể
Trang 40Ba là, thay đổi về các mức hình phạt
Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 với một trong các nhiệm vụ cơ bản là hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự với chủ trương “giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm và giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm” BLHS năm 2015, điều 175 đã được thể hiện thông qua những điểm cơ bản sau:
Bỏ hình phạt tù chung thân trong một số tội, trong đó có tội “ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” điều 175
Các mức hình phạt quy định tại các khoản 3, 4, 5 điều 175 BLHS năm 2015 đều theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội so với các khoản 3, 4, 5 điều 140 BLHS năm 1999 Khoản 3 điều 140 BLHS năm 1999 quy định mức hình phạt từ 7 năm đến 15 năm tù, khoản 3 điều 175 BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt từ 5 đến 12 năm tù Quy định này có khoảng giao thoa với khoản 2 điều 175 BLHS năm
2015 và nhẹ hơn khoản 3 điều 140 BLHS năm 1999
Khoản 4 điều 140 BLHS năm 1999 quy định mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân, khoản 4 điều 175 BLHS năm 2015 quy định mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù Quy định như trên đã thu hẹp khoảng cách giữa mức hình phạt thấp nhất và cao nhất trong khung, giữ khoảng cách tương đối hợp lý nhằm tránh sự tùy tiện và thiếu thống nhất trong áp dụng, quy định trên còn có lợi hơn cho người phạm tội
Khoản 5 điều 175 BLHS năm 2015 về cơ bản giống khoản 5 điều 140 BLHS năm 1999 Chỉ khác ở chỗ: Khoản 5 điều 140 BLHS năm 1999 quy định hình phạt
bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến
05 năm, có thể được áp dụng đồng thời với hình phạt: bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, tức là người phạm tội vừa có thể bị mất tài sản lại vừa bị mất
“nghề” Nhưng theo khoản 5, điều 175 BLHS năm 2015 thì chỉ được áp dụng một trong hai hình phạt bổ sung này, như vậy là nhân đạo hơn với người phạm tội Tóm lại, tội LDTNCĐTS đã trải qua nhiều giai đoạn hình thành và phát triển khác nhau, tuy ở mỗi thời kỳ khác nhau nhưng quy định thay đổi về tội phạm này ngày càng hoàn thiện hơn để đáp ứng tình hình mới