1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhân vật trong tiểu thuyết của cao duy sơn (qua “người lang thang” và “biệt cánh chim trời”)

85 266 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 653,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giai đoạn sau này, ông liên tiếp cho xuất bản những tác phẩm gây được tiếng vang, Giải A của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2007 cho tiểu thuyết Đàn trời; năm 2

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VĂN CHÍN

NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA CAO DUY SƠN (QUA “NGƯỜI LANG THANG” VÀ “BIỆT CÁNH CHIM TRỜI”)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số : 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Thu Huyền

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Mọi số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, tháng 9 năm 2017 Tác giả

Trần Văn Chín

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT CỦA CAO DUY SƠN 7

1.1 Hành trình sáng tạo của Cao Duy Sơn 7

1.2 Quan niệm nghệ thuật của Cao Duy Sơn trong tiểu thuyết “Người lang thang” và “Biệt cánh chim Trời” 20

CHƯƠNG 2: KIỂU NHÂN VẬT TRONG HAI TIỂU THUYẾT “NGƯỜI LANG THANG” VÀ “BIỆT CÁNH CHIM TRỜI” 26

2.1 Nhân vật và vai trò của nhân vật trong văn học 26

2.2 Kiểu nhân vật trong “Người lang thang” và “Biệt cánh chim trời” 29

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN NHÂN VẬT TRONG HAI TIỂU THUYẾT “NGƯỜI LANG THANG” VÀ “BIỆT CÁNH CHIM TRỜI” 53

3.1 Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện 53

3.2 Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật 60

3.3 Cách thức sử dụng ngôn ngữ 68

KẾT LUẬN 76

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn học hiện đại các dân tộc thiểu số Việt Nam chỉ thực sự ra đời và phát triển từ thập niên 50 của thế kỉ XX, cho đến nay văn xuôi các dân tộc thiểu số đã

có được một đội ngũ sáng tác khá đông và đạt được một số thành tựu đáng kể góp vào sự phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại Riêng khu vực miền núi phía Bắc với những tác giả tiêu biểu như: Nông Minh Châu, Vi Hồng, Triều

Ân, Ma Trường Nguyên, Sa Phong Ba, Hà Lâm Kỳ… trong đó Cao Duy Sơn là cây bút tạo được nhiều dấu ấn trong lòng bạn đọc và là nhà văn có những thành tựu nổi bật

Cao Duy Sơn tên thật là Nguyễn Cao Sơn (1956), người dân tộc Tày, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Ông là một trong số ít nhà văn là người dân tộc thiểu số ghi được những dấu ấn về phong cách sáng tạo độc đáo, thống nhất suốt hơn 30 năm qua Độc giả biết tới ông ngay từ những cuốn tiểu thuyết đầu tiên

Người lang thang (1991) – tác phẩm đạt giải A của Hội đồng văn học dân tộc

miền núi Hội Nhà văn Việt Nam; Giải nhì Hội Hữu nghị Việt Nhật năm 1993 Giai đoạn sau này, ông liên tiếp cho xuất bản những tác phẩm gây được tiếng vang, Giải A của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm

2007 cho tiểu thuyết Đàn trời; năm 2008 tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối

của ông nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, tác phẩm này tiếp tục nhận được giải thưởng văn học ASEAN năm 2009 – giải thưởng cao quý của Hoàng gia Thái Lan Với sức viết miệt mài, cẩn trọng, bên cạnh những tập truyện ngắn xuất sắc, gần đây Cao Duy Sơn cho ra mắt cuốn tiểu thuyết dày gần

300 trang Biệt cánh chim trời (Nxb Trẻ, 2015)

Cho đến nay các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác giả Cao Duy Sơn cũng đã xuất hiện ở một số góc độ, tuy nhiên chưa đủ để dựng lên bức chân dung nhà văn cùng với những đứa con tinh thần mang đậm dấu ấn văn

hóa của dân tộc Tày và tính nhân văn sâu sắc Đặc biệt, tiểu thuyết Biệt cánh

chim trời (2015) có thể xem như một bước chuyển thú vị trong hành trình

sáng tạo của Cao Duy Sơn khi vẫn tiếp tục đề tài con người miền núi nhưng lại mở rộng ở những chiều kích mới

Trang 5

Để tạo ra một mảnh ghép góp thêm vào bức tranh toàn cảnh trong việc tìm hiểu sự nghiệp văn học của Cao Duy Sơn một cách đầy đủ, cũng như thấy được những đóng góp quan trọng của ông trong tiến trình phát triển của văn học các

dân tộc thiểu số Việt Nam, chúng tôi lựa chọn Nhân vật trong tiểu thuyết của

Cao Duy Sơn (qua “Người lang thang” và “Biệt cánh chim trời”) làm đề tài

cho luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, văn xuôi dân tộc thiểu số đã mang đến cho văn học Việt Nam những sáng tạo mới trong cách nhìn và tư duy nghệ thuật Một trong những đóng góp nổi bật phải kể đến những tiểu thuyết của tác giả Cao Duy Sơn Tuy nhiên, hiện nay những công trình chuyên biệt về tác giả này vẫn còn khá khiêm tốn, bên cạnh một số sách xuất bản có riêng phần viết về Cao

Duy Sơn như Bản sắc dân tộc trong văn xuôi các dân tộc thiểu số, 2005, NXB ĐH Thái Nguyên; Cao Duy Sơn - từ chú cầy hương đến chàng gấu rừng già của tác giả Trung Trung Đỉnh (trong cuốn nhà văn các Dân tộc thiểu số Việt Nam – Đời và

văn, Lò Ngân Sủn (chủ biên) NXB Văn hóa dân tộc, 2003)… là một số bài viết

đăng trên các báo và tạp chí như:

- Đàn trời – Tiểu thuyết của Cao Duy Sơn (NXB Văn hóa dân tộc, 2006) của tác giả Thạch Linh, Báo Thể thao văn hóa, tháng 5 năm 2006

- Cõi nhân gian như cổ tích – Đọc Đàn trời, tiểu thuyết của Cao Duy Sơn, của tác giả Nguyễn Chí Hoan, Báo Văn nghệ Tết Đinh Hợi, 2007

- Đàn trời cất tiếng ca vang của tác giả Mai Hồng, www.vo.vnews.vn

Trang 6

- Viết văn phải có sự ám ảnh, tác giả Huy Sơn, trang Văn hóa giải trí

- Ban mai có một giọt sương, tác giả Đỗ Đức, báo Văn nghệ 2008

Bên cạnh đó đáng kể là một số các luận văn thạc sĩ:

- Thi pháp nhân vật tiểu thuyết trong tiểu thuyết Người lang thang và Đàn

trời của Cao Duy Sơn tác giả Đặng Thúy An – Đại học Sư phạm Hà Nội,

2007

- Đặc điểm truyện ngắn Cao Duy Sơn tác giả Đinh Thị Minh Hảo – Đại học

Sư phạm Thái Nguyên, 2009

- Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn tác giả Lý Thị

Thu Phương – Đại học Sư phạm Thái Nguyên, 2010

- Nhân vật phụ nữ trong truyện ngắn Cao Duy Sơn tác giả Vũ Thị Lan Anh

– Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014…

Trong các bài viết về con người, sự nghiệp nhà văn Cao Duy Sơn được đăng tải trên báo chí, chúng tôi nhận thấy có những đánh giá đáng chú ý sau:

Tác giả Sông Lam, báo Dân tộc và phát triển đã viết trong bài Cao Duy

Sơn giọng văn nhẹ nhàng mà sắc bén: “Thoát thai từ dòng giống Tày để rồi mọc

mầm, cắm rễ trên đất quê hương, Cao Duy Sơn đi qua tuổi thơ với những tháng ngày chân trần vất vả dưới cái nắng xém tóc của mùa hạ, cái rét cắt da của mùa đông Cô Sầu Trong sự khốn khó chung của vùng cao ngày ấy, đứa con trai của bản đã cảm nhận được cái tình người bản mình nhiều như lá cây rừng; những lề lối, tập tục trong cuộc sống hàng ngày hay trong các dịp sinh hoạt lễ, tết đều tuân theo những quy chuẩn nhất định Tình bản, tình mường vì thế gắn kết tựa như nhựa cây thông và tràn đầy lòng nhân bản Kí ức tuổi thơ, con người đất Cô Sầu

và những vỉa tầng văn hóa truyền thống dân tộc Tày đã ăn sâu, bám rễ, ám ảnh sâu trong tâm trí Cao Duy Sơn Nó khiến anh khắc khoải day dứt tựa hồ như đang một món nợ quê hương”

Trong bài viết: Người đào vàng văn chương trên núi tác giả Tiểu Quyên

khẳng định: “Lặng lẽ, mải miết với những con chữ gieo từ kí ức sâu thẳm, những trang chữ của nhà văn Cao Duy Sơn đã trải ra theo tháng ngày thành truyện, mang dáng dấp của núi đồi và những phận người ở miền cao Văn của Cao Duy Sơn được ví như một “đặc sản” của đồng bào miền ngược”

Trang 7

Tác giả Trung Trung Đỉnh đã nhận xét về sự thay đổi trong lối viết của Cao Duy Sơn: “Đọc văn Cao Duy Sơn (hồi ấy chưa biết nhau), tôi cứ hình dung Cao Duy Sơn giống như một chú cầy hương của rừng hoang dã ( ) Bây giờ, sau khi đọc tiểu thuyết của anh, tôi lại thấy Cao Duy Sơn lột xác từ chú cầy hương thành chàng gấu vừa bừng tỉnh giấc ngủ đông đi trong loang lổ nắng xuân của rừng già săn tìm những đõ mật ong thơm thảo mà thiên nhiên yêu dấu ban tặng cho cuộc

sống” (Cao Duy Sơn – Từ chú cầy hương đến chàng gấu rừng già)

Lâm Tiến, nhà nghiên cứu chuyên sâu về mảng văn học miền núi nhận định rất sắc về cá tính sáng tạo của Cao Duy Sơn: “Ông miêu tả nhân vật dưới góc độ đời tư, có số phận riêng và một sự tự ý thức ( ) Nhân vật của ông thường khỏe khoắn, mạnh mẽ có cuộc sống nội tâm phong phú, phức tạp dữ dội, nhưng lại lặng lẽ kín đáo Truyện của Cao Duy Sơn còn hấp dẫn người đọc ở cách viết giàu cảm xúc, giàu hình tượng với cách cảm nhận sự vật, hiện tượng tinh tế, chính xác, sắc sảo với những tình huống căng thẳng gay gắt, bất ngờ Với cách viết đó Cao Duy Sơn đã đem lại cho văn xuôi các dân tộc thiểu số một cảm nhận mới về con người và cuộc sống của các dân tộc”

Nói về sáng tác của Cao Duy Sơn, PGS.TS Tôn Thảo Miên đã đưa ra ý kiến đánh giá sâu sắc và toàn diện: “Là một tác giả đã từng đoạt giải của Hội nhà văn Việt Nam, Cao Duy Sơn tỏ ra là một nhà văn có nghề và thực sự tài hoa Truyện ngắn của anh đặc sắc bởi sự chân thực trong lối kể, sự sinh động trong lối tả và bao trùm lên tất cả là ý nghĩa nhân đạo, là tình người toát ra từ trong truyện” [6] Bên cạnh đó chúng tôi còn tìm thấy những đóng góp ở một số luận văn

nghiên cứu về sáng tác của Cao Duy Sơn Luận văn thạc sĩ Thi pháp nhân vật

tiểu thuyết trong tiểu thuyết Người lang thang và Đàn trời của Cao Duy Sơn của

tác giả Đặng Thùy An, năm 2007, Trường Đại học sư phạm Hà Nôi Trong luận văn này tác giả chủ yếu tập trung vào thi pháp nhân vật tiểu thuyết và giới hạn

trong hai tiểu thuyết Người lang thang và Đàn trời của tác giả Luận văn thạc sĩ

Đặc điểm truyện ngắn Cao Duy Sơn của tác giả Đinh Minh Hảo, năm 2009,

Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đi sâu vào khai thác chất liệu hiện thực

và con người miền núi trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn Trong khi đó luận

văn thạc sĩ Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn của tác giả

Trang 8

Hoàng Thị Thu Chiên, năm 2010, Trường Đại học sư phạm Hà Nội lại chỉ ra được tư tưởng nghệ thuât của nhà văn được gửi gắm trong năm cuốn tiểu thuyết, cùng những đóng góp mới mẻ của Cao Duy Sơn về đề tài miền núi…

Như vậy ngoài khá nhiều các bài báo được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, một số bài viết in chung trong các cuốn sách, những luận văn được thực hiện tại các cơ sở đào tạo, thì cho đến nay cũng chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu về sự thay đổi trong cách xây dựng nhân vật

trong tiểu thuyết đầu tay Người lang thang và tiểu thuyết gần đây nhất Biệt cánh

chim trời của Cao Duy Sơn Thiết nghĩ đây là một yêu cầu tất yếu khi nghiên

cứu về quá trình lao động nghệ thuật của bất kì một nhà văn nào Chúng tôi kế thừa những kết quả nghiên cứu trước và có những kiến giải mới về một chặng đường hơn 30 năm của tiểu thuyết Cao Duy Sơn, từ cách xây dựng nhân vật đến những thông điệp được truyền tải đến bạn đọc qua những vấn đề được phản ánh trong hai tác phẩm

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Qua việc hệ thống hóa các kiểu loại cùng cách xây dựng nhân vật trong

Người lang thang và Biệt cánh chim trời, chúng tôi muốn chỉ rõ quá trình vận

động của tư tưởng nghệ thuật trong sáng tác cũng như phong cách Cao Duy Sơn qua hai giai đoạn: khởi sự và hiện tại đã hoàn thiện hơn

- Thông qua việc khảo sát, phân loại, đánh giá và chỉ ra được sự vận động

trong cách viết của Cao Duy Sơn ở hai tiểu thuyết Người lang thang và Biệt

cánh chim trời, nhìn ra sự đóng góp của Cao Duy Sơn đối với tiến trình hiện đại

hóa văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng Không những thế, qua sáng tác của Cao Duy Sơn chúng tôi muốn góp thêm một cái nhìn toàn cảnh về nền văn học của các dân tộc thiểu số, một bộ phận quan trọng đặc thù của nền văn học Việt Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nhân vật trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn

- Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Người lang thang (1991) và Biệt cánh chim

trời (2015), đồng thời có sự liên hệ so sánh với một số tiểu thuyết, truyện ngắn

Trang 9

khác của Cao Duy Sơn để có cái nhìn hoàn chỉnh hơn trong việc tạo dựng thế giới nhân vật của tác giả

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu sau:

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Đánh giá khách quan về vai trò, vị trí tiểu thuyết của Cao

Duy Sơn trong nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam đương đại

Ý nghĩa thực tiễn: Chỉ ra những đóng góp không nhỏ về sự sáng tạo, lao

động nghệ thuật của Cao Duy Sơn trên phương diện nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Đồng thời thấy được vị trí của Cao Duy Sơn trong tiến trình phát triển nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, thư mục tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Hành trình sáng tạo và quan niệm nghệ thuật của Cao Duy Sơn Chương 2: Kiểu nhân vật trong hai tiểu thuyết “Người lang thang” và “Biệt cánh chim trời”

Chương 3: Phương thức thể hiện nhân vật trong hai tiểu thuyết “Người lang thang” và “Biệt cánh chim trời”

Trang 10

CHƯƠNG 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT

CỦA CAO DUY SƠN 1.1 Hành trình sáng tạo của Cao Duy Sơn

1.1.1 Con người và văn nghiệp

1.1.1.1 Vài nét về tiểu sử

Cao Duy Sơn họ Nguyễn, tên khai sinh là Nguyễn Cao Sơn Để cảm ơn vùng đất đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, ông mang chữ “Cao” từ vùng núi Cao Bằng xuống đặt làm họ cho mình Ông sinh năm 1956 tại quê mẹ, thị trấn cổ Cô Sầu thuộc huyện Trùng Khánh, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Cao Bằng Đó là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi đã sinh ra biết bao nhà văn, nhà thơ, tiêu biểu như Bế Thành Long, Y Phương Không những thế Cô Sầu còn được biết đến như một “Hồng Kông thu nhỏ” của mảnh đất vùng biên viễn, nơi đây có thác Bản Giốc đẹp nổi tiếng được mẹ thiên nhiên ban tặng, có dòng sông Quây Sơn hiền hòa chảy qua, nơi có tiếng đàn tính cùng những điệu Sli lượn, điệu then của người Tày – Nùng mượt mà đằm thằm Mảnh đất Cô Sầu vì thế mà trở thành địa danh được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong sáng tác của ông Nhà văn Cao Duy Sơn đã từng khẳng định: “Tôi sinh ra và lớn lên ở thị trấn Cô Sầu (huyện Trùng Khánh, Cao Bằng) Đó là một thi trấn cổ rất nổi tiếng Nghiệp văn của tôi cứ bám lấy thị trấn Cô Sầu mà khám phá, viết mãi vẫn chưa thấy đủ, chưa thấy cái tầng sâu văn hóa tiềm ẩn ở vùng đất này” [20]

Năm 1984 khi Cao Duy Sơn làm ở Sở Văn hóa thông tin tỉnh Cao Bằng, một cơ duyên với nghiệp viết văn đã đưa ông đến với hội trại viết văn ở Tuyên Quang Năm 1989 ông theo học tại Trường Viết Văn Nguyễn Du, tại đây “đứa

con đầu lòng” – tiểu thuyết Người lang thang ra đời Tháng 5 năm 2003, Cao

Duy Sơn chuyển công tác về Hà Nội, làm ở Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam

Hiện ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tổng Biên tập tạp chí Văn hóa các dân tộc

Trang 11

Ông đã hai lần vinh dự đạt giải A (năm 1991 cho tiểu thuyết Người lang thang, năm 2007 cho tiểu thuyết Đàn trời) của Hội văn học các dân tộc thiểu số Việt

Nam Năm 2009 ông tiếp tục nhận được giải thưởng cao quý của Hoàng gia Thái

Lan cho tập truyện Ngôi nhà xưa bên suối

1.1.1.2 Vài nét về sự nghiệp sáng tác

Những tác phẩm chính:

Bằng sự lao động sáng tạo, miệt mài và nghiêm túc, Cao Duy Sơn đã có trong tay một gia tài khá đồ sộ, với sáu cuốn tiểu thuyết:

- Người lang thang, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1992 Tác phẩm đạt giải A

Hội đồng Văn học dân tộc miền núi Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993

- Cực lạc, Nhà xuất bản Hà Nội, 1995

- Tác phẩm Hoa mận đỏ, Nhà xuất bản Văn hóa, 2004 và Đàn trời, Nhà

xuất bản Văn hóa dân tộc Đây là hai tác phẩm đã được chuyển thể thành

phim Khỏa nước sông Quy

- Chòm ba nhà, Nhà xuất bản Lao Động, 2009

- Biệt cánh chim trời, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2015

Và bốn tập truyện ngắn:

- Những chuyện ở lũng Cô Sầu, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1999

- Những đám mây hình người, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2002

- Hoa bay cuối trời, Nhà xuất bản Thanh niên, 2008

- Ngôi nhà xưa bên suối, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, 2008 Tác phẩm

được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2008 và giải thưởng văn học ASEAN của Hoàng gia Thái Lan năm 2009

Quan điểm sáng tác của Cao Duy Sơn:

* Viết văn là để trả nợ quê hương:

Kí ức về một tuổi thơ đầy vất vả, khốn khó trên mảnh đất vùng cao, cùng với những truyền thống văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là văn hóa Tày luôn ăn sâu bám rễ trong tâm trí Cao Duy Sơn Nó khiến ông luôn khắc khoải như mang trong mình một món nợ đối với quê hương và nếu không đền

Trang 12

đáp được món nợ đó ông thấy tâm hồn mình day dứt Đọc sáu cuốn tiểu thuyết

và bốn tập truyện ngắn của ông ta bắt gặp một cái nhìn trìu mến, đầy thương cảm

và cả sự xót thương của ông dành cho những con người, những mảnh đời sinh ra, lớn lên trên mảnh đất Cô Sầu Bên cạnh đó ta cũng cảm nhận được niềm tự hào của nhà văn về những phong tục tập quán đẹp đẽ của người Tày Điều này đúng như lời nhà văn “Tôi viết như một sự trả nợ, trả nợ quê hương, trả nợ những người sinh ra mình, bạn bè, xóm giềng” [20]

Viết văn để trả nợ ơn nghĩa là một điều không dễ dàng gì và tình nghĩa với quê hương lại là điều vô cùng khó thể hiện Bởi không phải cứ có tình cảm sâu nặng với nó là viết đúng, viết hay được Quan trọng là trong trái tim của người cầm bút ấp ủ, trăn trở về cuộc sống và con người nơi mình sinh ra để rồi phóng bút mà viết ra Cao Duy Sơn sống thực và nghĩ thực với những kỉ niệm của cuộc đời mình, các tác phẩm của ông viết ra chủ yếu với tâm thế đó Truyện

ngắn Ngôi nhà xưa bên suối chỉ là một trong hầu hết các sáng tác của ông được

viết ra từ một kỉ niệm như thế Theo lời kể của nhà văn thì: “Tôi từng có một ngôi nhà bên suối ở thị xã Cao Bằng, ngôi nhà gắn bó với tôi suốt một thời khốn khó Ngôi nhà có một cửa sổ nhìn ra con suối quanh năm chảy róc rách, có cả vườn cây và con đường đá sỏi Chính khung cảnh hữu tình như một bức tranh thủy mặc của khu nhà đã cho tôi cảm xúc để viết nên nhiều tác phẩm Tuy nhiên,

vì nhiều lí do, tôi đã bán ngôi nhà ấy đi, nhưng thú thật là tôi chưa bao giờ quên được nó Thậm chí có nhiều đêm, tôi nằm mơ thấy mình được sống ở ngôi nhà

cũ Nỗi nhớ ấy đã thôi thúc tôi viết cuốn sách này như một cách trải lòng mình với những ký ức sống ấy” [45] Ngôi nhà như một ẩn dụ cho mảnh đất cội nguồn, nơi “chôn nhau cắt rốn” của ông Cho nên dù sống ở đâu Cao Duy Sơn cũng không thể nào quên được mảnh đất Trùng khánh – Cao Bằng Mảnh đất và con người Cô Sầu đã trở thành một phần máu thịt, mang một sứ mệnh văn chương không thể thiếu trong đời người và hành trình sáng tạo nghệ thuật của Cao Duy Sơn

* Viết văn là cách giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa

Trang 13

Trân trọng, tự hào về các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình là một trong những cảm hứng thường gặp ở những nhà văn gắn bó sâu nặng với

quê hương đất nước Mỗi tác phẩm được viết ra giống như một “Bảo tàng dân

tộc” bằng ngôn ngữ, ở đó lưu trữ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Với những cây bút là người dân tộc thiểu số thì việc đưa những giá trị văn hóa truyền thống vào trong những sáng tác của mình không chỉ là do ý thức sâu sắc vấn đề này hay là nhu cầu bình đẳng cộng đồng mà còn là vì họ muốn tái hiện hiện thực cuộc sống, tâm hồn dân tộc mình

Cao Duy Sơn là nhà văn may mắn được mang trong mình hai dòng văn hóa Kinh – Tày, ông còn được nuôi dưỡng bởi một mạch ngầm những trầm tích văn hóa, lịch sử của vùng Đông Cao Bằng Ông am hiểu văn hóa dân gian, phong tục tập quán của người Tày Sáng tác của ông là “sự khám phá, giải mã những vỉa tầng văn hóa nguyên bản, hồn nhiên của dân tộc” [20], là một kho tri thức phong phú về văn hóa truyền thống của mảnh đất này Để làm được điều này đòi hỏi người viết phải “nắm được vốn văn hóa các dân tộc thiểu số mà họ định hướng ngòi bút đến ” [20] Đọc những tác phẩm của ông ta bắt gặp không

ít những vỉa tầng văn hóa như: Hát Sli lượn, diễn tuồng cổ, lễ tết với tục “Khai vài xuân”, tục diễn rối đầu gỗ Hát Sli lượn (hát thơ) là thể loại dân ca phổ biến của người Tày – nó được hát nhiều dịp trong năm Cao Duy Sơn không đi vào trích dẫn những câu hát sli lượn như một dẫn chứng, mà ông đi vào miêu tả tỉ mỉ

lề lối hát và kèm theo những lời bình luận về khía cạnh thẩm mĩ – nhân văn của

nó Trong tiểu thuyết Người lang thang tác giả giới thiệu tục sli lượn như một

hình thức giao duyên: “Tiếng lượn then là sợi “khau thương”, “khau tài” trói lời nguyện ước trăm năm Muốn lấy được lời hát của bạn gái mình động lòng thương nhớ, trai Tày phải dùng khăn trắng phất qua đầu ba lần, cùng với một tiếng hú cất lên thống thiết làm hiệu Cho dù có cách nhau tận chân núi, góc rừng hay quãng đường xa, nhận được tín hiệu hoa của bạn trai, nếu không từ chối, người con gái cũng sẽ giơ khăn đáp lại hai lần, nhận lời đối hát Khi ấy người con trai mới được cất tiếng lượn, gọi ra từ gan ruột những lời hay, lời đẹp như

Trang 14

cánh ong, cánh bướm vờn nụ tầm xuân Thuận lòng, hợp ý, người con gái sẽ cất lời lượn mời bạn trai theo mình về bản, đến dưới cầu thang cất tiếng lượn chúc sức khỏe người già, người trẻ Nếu cha mẹ người con gái ưng thuận, sẽ đặt một ngọn đèn ngoài sàn, mời người con trai lên sàn sân hát bản Lúc đó dân bản sẽ kéo đến vừa uống rượu với chủ nhà, vừa giám định tài đối đáp của người con trai, mà đánh giá, bình luận Hát bản có khi kéo dài hai, ba đêm Nếu gia đình nhà gái ưng thuận, sẽ mời người con trai một bát rượu đầy tỏ lòng chấp nhận cầu hôn” [41].Cuộc hát giao duyên không chỉ là cuộc thi tài mà còn là nơi chàng trai thể hiện tài năng và tư cách văn hóa của mình

Tuồng cổ - một thể loại kịch hát truyền thống của người Tày, thường được diễn vào nhiều dịp trong năm cũng được Cao Duy Sơn nhắc đến nhiều lần không chỉ bằng niềm tự hào mà còn bằng cả ý thức bảo lưu những giá trị văn hóa của

quê hương mình Trong tiểu thuyết Biệt cánh chim trời, lời hát Dá hai trong vở tuồng Nam Kim Thị Đan cất lên “như hát, như oán thán gợi nhớ một thời”: “Lời

mềm như gió hây dá hà ha hai, bước nhẹ như mây bay le hai da dá ha hai dà, mà buốt tận tim này, đường trời mờ vó ngựa, bỏ người dưới trần ai hà ha hai ha dà

há ha hai dà Ngựa đi không trở lại, chỉ còn một thoáng mây lệ ướt đầm ba thu, đằng đẵng phòng hoang lạnh, ơ hờ người viễn du dá hà ha hai dà, dá ha ha hà

da ” [47] Khai vài xuân là một trong những tục lệ độc đáo của người Tày Tục

đem lời chúc tốt lành và tiếng hát đến cho mọi người vào dịp đầu năm Rồi tục diễn Rối đầu gỗ - một trò diễn dân gian phản ánh tâm hồn và tính cách hồn nhiên của người lũng Cô Sầu Cao Duy Sơn là người am hiểu về kĩ thuật, về trò diễn,

về tích diễn bởi thế đã tạo dựng lại được không khí và những trò chơi dân gian

thành công trong nhiều tác phẩm như: Súc Hỷ, Hòn bi đá màu trắng, Người lang

thang

Đối với các nhà văn là người dân tộc thiểu số thì khi diễn đạt những nét đặc sắc về văn hóa của mình bằng tiếng Kinh sẽ gặp phải một rào cản về ngôn ngữ Vì thế mà người viết vừa phải nhuần nhuyễn tiếng mẹ đẻ vừa phải thành thạo tiếng phổ thông, nhưng điều quan trọng là các nhà văn phải “mã hóa” ngôn

Trang 15

ngữ như thế nào để không làm mất đi bản sắc của người miền núi, nghĩa là phải làm toát lên được vẻ đẹp tâm hồn, tính cách, lối sống của họ Điều này đã được Cao Duy Sơn thổ lộ: “Người Tày chúng tôi chỉ có một từ “ăn” Uống nước cũng gọi là “ăn nước”, uống rượu cũng gọi là “ăn rượu” nhưng đó là cuộc sống còn khi thể hiện vào văn học thì người dân tộc thiểu số đòi hỏi một sự bình đẳng về ngôn ngữ thể hiện văn hóa của họ được tôn trọng Trong cuộc sống người ta có thể nói “cái mày, cái tao” là do vốn tiếng Kinh của họ quá ít để có thể diễn đạt

sự giao tiếp, nhưng nếu nhà văn coi đó là “văn hóa của người dân tộc” để đưa

“cái mày, cái tao” vào trong sáng tác thì lại là một sự miệt thị Với những người hiểu sâu sắc về văn hóa dân tộc, họ sẽ biết cách “mã hóa” ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống của người dân tộc thành ngôn ngữ hiện nay của văn chương” [20] Người cầm bút bắt buộc phải hiểu sứ mệnh cao cả đó, anh không được dễ dãi, cẩu thả trong cách sử dụng ngôn ngữ, nhất là lại dùng nó vào việc

“Khám phá, giải mã những vỉa tầng văn hóa nguyên bản” của dân tộc mình Có

lẽ vì thế mà khi đọc những tác phẩm của Cao Duy Sơn nhà thơ Hữu Thỉnh – Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam nhận xét: “Cao Duy Sơn đã đem đến cho người đọc mảng sống đậm đặc, tươi sáng về những con người miền núi, vừa cổ kính vừa hiện đại mộc mạc, chân chất” [3]

* Viết văn là cách để giải phóng năng lượng:

Trong một lần trả lời phỏng vấn báo Văn Nghệ (năm 2008) Cao Duy Sơn

nói: “Tôi viết như một sự giải phóng năng lượng của bản thân, khám phá chất Cô Sầu trong chính mình và khi viết thì nét văn hóa riêng của các dân tộc đồng hiện cùng dân tộc” [20] Nói như ông thì viết văn vừa là con đường nhận thức, khám phá mảnh đất quê hương mình, vừa là cách ông chiêm nghiệm và khám phá bản thân mình nhằm giải phóng những cảm xúc dồn nén trong lòng mình Có lẽ vì thế mà các sáng tác của ông thấm đẫm hơi thở của cuộc sống, con người đến phong tục tập quán vùng đất Cô Sầu

Theo Cao Duy Sơn giải thích “năng lượng” gồm hai yếu tố tạo thành là

yếu tố vô thức và nhu cầu của người sáng tác Nói về yếu tố vô thức ông nói:

Trang 16

“mọi ấn tượng, kỷ niệm, kí ức của tôi đều gắn bó với mảnh đất này và cứ đầy mãi, tự một lúc nào đó thì bung ra” [49] Tình yêu và sự gắn bó sâu nặng với quê hương đã trở thành một nguồn năng lượng đặc biệt và có thể vọt trào thành dòng suối cảm xúc bất cứ lúc nào

Cho dù đã chuyển về Hà Nội công tác khá lâu nhưng mảnh đất Cô Sâu vẫn luôn là điểm về nạp thêm năng lượng của Cao Duy Sơn, và mỗi đứa con tinh thần của ông ra đời đã giúp cho nhà văn giải phóng được những chiêm nghiệm, những suy ngẫm của cuộc đời

1.1.2 Tiểu thuyết của Cao Duy Sơn trong tiến trình phát triển nền văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

1.1.2.1 Khái quát về đặc điểm, diện mạo của văn xuôi dân tộc thiểu số thời kỳ hiện đại

Từ năm 1986, nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam đã có những bước chuyển, hội nhập cùng với dòng chảy chung của văn học Việt Nam hiện đại Văn xuôi miền núi hiện đại có được bộ mặt rạng ngời cùng nhiều thành tựu đáng ghi nhận như hôm này là nhờ vào một cuộc chạy tiếp sức của nhiều thế hệ các nhà văn là người Kinh và đặc biệt là sự đóng góp to lớn của các nhà văn là người dân tộc thiểu số

Nhắc đến quá trình hình thành và phát triển của văn xuôi các dân tộc thiểu

số Việt Nam không thể không nhắc đến những tên tuổi như: Lan Khai, Thế Lữ, Tchya (Đái Đức Tuấn), Lý Văn Sâm – đó là những cây bút có công rất lớn trong việc “khai phá”, “mở đường” và đặt những viên gạch đầu tiên cho sự ra đời của văn xuôi miền núi Tuy nhiên những tác phẩm “mở đường” cho một nền văn xuôi miền núi này mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả về một vùng đất xa lạ với con người, với những câu chuyện li kì, rùng rợn, đầy bí hiểm nhằm khơi gợi trí tò

mò của người đọc Với lối kể đầy hấp dẫn những tác phẩm đầu mùa này bước đầu đáp ứng được thị hiếu của một bộ phận độc giả thời kì đó

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, bên cạnh những cây bút quen thuộc viết về đề tài miền núi, đã xuất hiện thêm nhiều gương mặt mới như Nam

Trang 17

Cao với Nhật kí ở rừng, Tô Hoài với tập Truyện Tây Bắc, Nguyên Ngọc với Đất

nước đứng lên Truyện Tây Bắc và Đất nước đứng lên là hai tập truyện ngắn

cùng đạt giải Nhất của Hội Nhà văn năm 1953 – 1954 Đọc Nhật kí ở rừng của

Nam Cao ta bắt gặp những con người miền núi nghèo khổ, chất phác nhưng đậm

đà tình nghĩa, sống phóng khoáng, hào hiệp Viết về miền đất lạ này dường như Nam Cao chưa thật sự tự tin trong cách nhìn, cách nghĩ nhưng tấm lòng mà ông dành cho mảnh đất và con người Việt Bắc thì chân thành, sâu nặng Đến với tập

Truyện Tây Bắc của Tô Hoài người đọc như được giao tiếp với những nhân vật

có đời sống, số phận riêng, tính cách và ngôn ngữ đặc trưng của người dân tộc

Có thể nói những tác phẩm này là những trái chín đầu mùa ngọt nhất của văn học Cách mạng trong những ngày đầu viết về đề tài miền núi

Từ sau ngày hòa bình lập lại (1955), văn xuôi miền núi nở rộ với sự góp mặt của nhiều cây bút tên tuổi như: Nguyễn Tuân, Nguyễn Thành Long, Sao Mai Đặc biệt là sự góp mặt của một số cây bút văn xuôi là những người con của đồng bào các dân tộc thiểu số Cuối những năm 1950, đầu những năm 1960 Nông

Minh Châu đã góp cho văn học Việt Nam tác phẩm Ché Mèn được đi họp -

1958, tác phẩm được viết bằng tiếng Tày - Nùng (tác phẩm được đánh dấu sự ra đời của văn xuôi dân tộc thiểu số) Đến năm 1964 Nông Minh Châu cho ra đời

tiểu thuyết Muối lên rừng - tác phẩm đã mở ra một thời kì mới cho sự phát triển

của tiểu thuyết Sau đó là sự xuất hiện một loạt các truyện ngắn của Vi Hồng

như: Ngôi sao đỏ trên núi Phja Hoàng - 1960, Cây su su nọong ỷ - 1962, Suối

tiên đào - 1963, Vi Thị Kim Bình với tác phẩm Đặt tên - 1962, và các nhà văn:

Nông viết Toại, Lò Văn Sỹ, Hoàng Hạc, Triều Ân, Lâm Ngọc Thụ, Kim Nhất,

Mã A Lềnh Các tác phẩm đầu mùa này tuy còn nhiều hạn chế về chất lượng nghệ thuật, xong chúng ta phải ghi nhận về sự trưởng thành và phát triển của văn xuôi miền núi Bởi đây chính là những thành quả đầu tiên do chính các nhà văn

là con em các dân tộc thiểu số Tác phẩm Ngôi sao đỏ trên núi Phja Hoàng của

Vi Hồng đạt giải Nhì – giải thưởng của Tổng Hội sinh viên Việt Nam Tác phẩm

đã diễn tả được những cung bậc cảm xúc của một con người xa quê hương nay

Trang 18

được trở về gặp lại cảnh vật và con người cũ Hay đọc truyện ngắn Chặt cổ rồng

của Triều Ân người đọc lại thấy tác giả tập trung tái hiện nỗi thống khổ của những con người vùng cao bị trói buộc bởi những hủ tục, tập tục mê tín dị đoan

Từ 1975 đến 1985, đây là giai đoạn văn xuôi miền núi phát triển mạnh mẽ

và đồng bộ với đời sống văn học của dân tộc Đội ngũ sáng tác đông đảo, bên cạnh những nhà văn viết về đề tài miền núi như Mạc Phi, Ma Văn Kháng, Tô Hoài, Phượng Vũ, Trung Trung Đỉnh là một đội ngũ các nhà văn là người dân tộc thiểu số như: Y Điêng, Nông Viết Toại, Mã A Lềnh, Vi Thị Kim Bình, Vi Hồng, Triều Ân, Sa Phong Ba, Hoàng Hạc Tác phẩm của họ tập trung khám phá, miêu tả cuộc sống mới, con người mới của các dân tộc anh em ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa trong lao động sản xuất, trong chiến đấu bảo vệ tổ quốc và cả trong cuộc sống sinh hoạt đời thường Cảm hứng chủ đạo là khẳng định, ngợi ca

Về cách thức xây dựng nhân vật không nằm ngoài yêu cầu điển hình hóa, nghĩa

là các nhân vật đều có những nét ngoại hình, tính cách quen thuộc và có sự thống nhất trong cách miêu tả Con người tập thể, con người mới vẫn là những nhân vật trung tâm mang vẻ đẹp lí tưởng So với giai đoạn trước đó, văn xuôi miền núi thời kì này đã dần đạt đến độ “chín” về chất lượng nghệ thuật

Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đến nay, văn xuôi các dân tộc thiểu

số có những bước đột phá tích cực và đạt được nhiều thành tựu xuất sắc Lực lượng sáng tác thời kì này đông đảo và hùng hậu hơn nhiều so với các giai đoạn trước Đầu tiên phải kể đến những cây bút đã có nhiều thành tựu như Triều Ân,

Vi Hồng, Mã A Lềnh, Y Điêng tiếp đến là sự xuất hiện nhiều cây bút mới như:

Hà Đức Toàn với tiểu thuyết Tiếng hổ gầm - 1999; Hoàng Thế Sinh với tiểu thuyết Xứ mưa - 2000; Hoàng Luận với hai tập truyện là Thời gian xanh - 1996

và Mùa nấm hương - 2001; Hoàng Hữu Sang với tập truyện ngắn Người đánh

gấu trên núi suối mây - 1997 và tiểu thuyết Cửa rừng - 2000; Đoàn Lư với các

tập truyện Kỷ niệm về một dòng sông - 1997 và Ngựa hoang lột xác - 1998; Bùi

Thị Như Lan với hai tập truyện Hoa mía - 2006 và Lời sli vắt ngang núi - 2007;

Trang 19

Địch Ngọc Lân với hai tiểu thuyết là Ngôi đình bản Chang - 1999 và Hoa mí

rừng - 2001; Cao Duy Sơn với sáu tiểu thuyết và bốn tập truyện ngắn

Sự đổi mới của văn xuôi dân tộc thiểu số giai đoạn này còn được mở rộng ở

đề tài, chủ đề Một số tác phẩm khai thác chất liệu hiện thực miền núi những năm đầu cách mạng với cuộc chiến đấu gian khổ của nhân dân, đồng bào các dân tộc thiểu số Bên cạnh đó có số tác phẩm lại hướng về công cuộc xây dựng, phát

triển kinh tế miền núi, chẳng hạn như: Mũi tên ám khói - 1991 của Ma Trường

Nguyên, tập bút kí Cao nguyên trắng - 1992 và tập truyện Vùng đồi gió quẩn -

1995 của Mã A Lềnh Ngoài những tác phẩm khai thác về các đề tài trên, văn học miền núi cũng được nhiều nhà văn chú trọng đến những mặt trái, mặt tối của đời sống xã hội mà trước đó văn học không đề cập đến Vi Hồng với các tiểu

thuyết Người trong ống - 1990 , Chồng thật vợ giả - 1994; Cao Duy Sơn với tiểu thuyết Đàn trời - 2006 đã công khai thực trạng nghèo đói của người dân vùng

cao, vạch trần thói mị dân và lối sống sa đọa của đám quan tham lúc bấy giờ Số phận con người cũng được nhiều nhà văn tìm tòi, khai thác với nhiều chiều hướng khác nhau Điều này đã thu hẹp khoảng cách về đề tài văn học miền núi trong nền văn học dân tộc

Đổi mới tư duy nghệ thuật của văn xuôi dân tộc thiểu số hiện đại cũng có nhiều bước đổi mới trong cách thức tổ chức sự kiện, cốt truyện, kết cấu tác phẩm, cách miêu tả, khắc họa nhân vật, nghệ thuật sử dụng ngôn từ Đọc một

số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp như: Những ngọn gió Hua Tát; Muối của

rừng; Những người thợ sẻ ta thấy được chất “dân gian đương đại” đầy sức

sống với cái nhìn sâu vào mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Các tác phẩm

của Ma Văn Kháng: Vệ sĩ của quan châu; Gặp gỡ ở Lan Pan Tẩn; Móng vuốt

thời gian được coi là “một bước tiến dài về tư duy tiểu thuyết” (Nguyên Ngọc)

Cùng với sự đổi mới tư duy nghệ thuật ở những nhà văn là người Kinh, là những nhà văn người dân tộc như: Nông Quốc Chấn, Y Phương, Cao Duy Sơn, Lò Ngân Sủn, Vi Thùy Linh Họ đã thể hiện nhiều hình thức mới, giọng điệu mới

Với Người lang thang của Cao Duy Sơn khi ra đời được nhà văn Nguyên Ngọc

Trang 20

đánh giá là “có dấu hiệu mới”, còn nhà nghiên cứu Lâm Tiến thì cho rằng “thể hiện rõ dấu hiệu của một tiểu thuyết hiện đại”

Sau khoảng hơn nửa thế kỉ hình thành và phát triển, văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại đã có những bước tiến đáng kể ở nhiều mặt Các thể loại văn xuôi ngày càng hoàn thiện hơn, đặc biệt là sự góp mặt của tiểu thuyết; chất lượng nghệ thuật ngày càng được nâng cao, ngôn ngữ ngày càng được chau chuốt; mới mẻ hơn trong cách nhìn con người và cuộc sống, cũng như trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người Điều này đã đưa văn xuôi các dân tộc thiểu số hòa nhập và gắn bó khăng khít trong dòng chảy của văn học Việt Nam Trong đó, Cao Duy Sơn là gương mặt sáng giá, với nhiều tác phẩm ghi dấu mốc phát triển vượt bậc của nền văn xuôi các dân tộc thiểu số

1.1.2.2 Vị trí của Cao Duy Sơn trong nền văn xuôi dân tộc thiểu số hiện đại

Cao Duy Sơn thuộc thế hệ thứ hai trong đội ngũ các nhà văn dân tộc thiểu

số Việt Nam hiện đại Ông xuất hiện tuy hơi muộn nhưng những sáng tác của ông thì đã vượt hẳn lên so với mặt bằng chung của văn xuôi miền núi hiện đại Giữa lúc các nhà văn dân tộc thiểu số đang trở mình để bứt phá, đi tìm một lối viết hiện đại, hậu hiện đại nhằm thoát xác ra khỏi lối viết truyền thống, thì Cao Duy Sơn trung thành với đề tài miền núi Mảnh đất và con người quê hương Trùng Khánh hiện lên một cách sống động, tinh tế như nó vốn có Nhân vât trong văn xuôi của Cao Duy Sơn thường có một đời sống nội tâm phong phú, phức tạp, mạnh mẽ dữ dội, nhưng lại lặng lẽ, kín đáo

Một đặc điểm nổi trội nữa của Cao Duy Sơn là dù viết về đề tài miền núi nhưng nhà văn luôn nới rộng, nâng cao tầm suy nghĩ của mình về cuộc sống và con người để từ đó nhà văn đổi mới, cách tân nghệ thuật Với Cao Duy Sơn:

“Đột phá trong sáng tạo là vẫn đề luôn thôi thúc người cầm bút, làm thế nào để thoát ra khỏi cái vỏ bọc cũ, tạo nên cách viết mới là một câu chuyện dài ( ) Để tạo nên sự đột phá, điều trước tiên người viết phải hội tụ đủ các yếu tố cần thiết

để cùng lúc đồng hành, cùng lúc xuất hiện, cùng lúc giải quyết những mấu chốt

Trang 21

nghệ thuật, như bố cục, như xây dựng nhân vật, như giải quyết những giao tranh, mâu thuẫn, v.v ” [49].

Dẫu đã xa quê nhiều năm nhưng hình ảnh về đất và người nơi Cao Duy Sơn sinh ra thì có lẽ vẫn vẹn nguyên trong trái tim Với ông “viết mãi vẫn chưa thấy

đủ, chưa thấy hết được cái tầng sâu văn hóa tiềm ẩn của vùng đất này Tôi viết như một sự trả nợ quê hương, trả nợ những người đã sinh ra mình, bạn bè, xóm giềng Cả đời tôi, sẽ vẫn là những cuộc khám phá về Cô Sầu với những con người miền núi chân chất” [19] Có lẽ vì thế mà trong tất cả sáng tác, Cao Duy Sơn đã thổi vào đó những nét đặc sắc trong văn hóa của dân tộc mình cùng những kỉ niệm thuở thiếu thời Nói như Hữu Thỉnh “Cao Duy Sơn đã đem đến cho người đọc mảng sống đậm đặc, tươi ròng về những con người miền núi, vừa

cổ kính, vừa hiện đại, mộc mạc, chân chất Với bút pháp không khoa trương, không tô vẽ màu mè, Cao Duy Sơn đã dựng lên một loạt chân dung những đường nét, góc cạnh riêng biệt nhưng rất đỗi hồn nhiên, dung dị tạo nên sức hút đối với bạn đọc” Còn theo Cao Duy Sơn, “mỗi người đều có một vùng đất riêng của mình Tức là anh có thuộc nó hay không Nếu anh không thuộc nó làm sao anh có thể viết được Tôi về thành thị 4,5 năm nay nhưng những gì của thành thị, mặc dù hằng ngày tôi vẫn sống với nó, vẫn chưa đủ thời gian để mình có cảm xúc viết về nó Cái để tạo nên trong tôi cảm xúc là quãng đời ấu thơ, nơi mình sinh ra và lớn lên Mà hầu như nhà văn nào cũng bị tác động bởi những kỉ niệm rất riêng Bên cạnh đó là những gì đã qua trong cuộc đời của mình ở vùng đất mình đã sinh ra, nó trở thành một sự ám ảnh Viết văn nhất định phải có sự ám ảnh Không có sự ám ảnh không thể nào tạo ra một tác phẩm, vì mọi cái đều trở nên hời hợt Sự ám ảnh đó từ ngày này qua ngày khác, nó khiến anh không lúc nào không nguôi nghĩ đến nó và phải tìm cách thể hiện theo một cách nào đó Tôi nghĩ rằng kiên trì theo đuổi chỉ là một cách thôi Phải nói rằng vùng đất đó thuộc mình và mình cũng thuộc nó Điều đó quan trọng hơn nhiều Không thuộc sẽ không làm được gì” [30]

Trang 22

Quê hương Trùng Khánh, Cao Bằng như đã hằn sâu trong tâm khảm nhà văn mà có đi đến hết cuộc đời này ông cũng không bao giờ quên Trong các sáng

tác của Cao Duy Sơn từ năm 1991 với Người lang thang đến năm 2015 tiểu thuyết Biệt cánh chim trời ra đời, nhân vật trong truyện vẫn là những cuộc đời,

số phận của con người sinh ra trên mảnh đất Cô Sầu, dù cho không gian của truyện có được mở rộng trong nhiều tỉnh, có khi sang tận cả Trung Quốc như lời tâm sự của nhà văn: “Cả đời tôi, sẽ vẫn là những cuộc khám phá về Cô Sầu với những con người miền núi chân chất”

Bằng tinh thần lao động, sáng tạo nghiêm túc mỗi năm ông viết chừng hai truyện ngắn, thời gian còn lại ông dành để viết đôi, ba chương tiểu thuyết Ông viết chậm, viết ít như vậy không chỉ là cách thử thách mình với thời gian mà còn

là do ông “có cái tật là thường làm khó cho chính mình là, ngay cả khi câu chuyện đã xong rồi thì tôi cũng phải nghiền ngẫm xem truyện của mình có giống những cái mình đã viết trước đó chưa, thứ hai nữa là nó có giống truyện ai hay không” [28]

Là nhà văn có tinh thần và trách nhiệm với công việc sáng tác của mình Cao Duy Sơn cho rằng: “Bất kì người viết nào cũng không có chuyện vô trách nhiệm trước tác phẩm của mình Thậm chí trách nhiệm ấy còn có mặt thường xuyên ( ) Thường người ta viết ra giống như một sự giải tỏa, như được đối thoại với chính bản thân mình Khi tác phẩm ra đời và được in ấn thì những điều mình viết ra được truyền tải bằng ngôn ngữ mà ngôn ngữ ấy là của mình thì cảm thấy hạnh phúc vì điều đó” [20] Có lẽ vì thế mà mỗi tác phẩm của ông khi đến được với độc giả nó đều rất “tròn” cả về nội dung lẫn cách thức thể hiện Để đạt được điều đó với ông “người viết phải suốt đời phấn đấu”

Văn xuôi Cao Duy Sơn đã góp thêm một cách nhìn, cách viết, một giọng điệu và một cách cảm nhận, suy nghĩ mới, làm cho nền văn học các dân tộc thiểu

số Việt Nam hiện đại trở nên phong phú và đa dạng Những thành tựu mà Cao Duy Sơn gặt hái được đã góp phần khẳng định bản lĩnh, ý thức cũng như nhân cách của ông trong việc gìn giữ những giá trị văn hóa của dân tộc mình nói

Trang 23

riêng, những giá trị văn hóa tinh thần của các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Cao Bằng nói chung Vì thế mà những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm của Cao Duy Sơn đã vượt ra ngoài phạm vi vốn có của nó Đây là những đóng góp đáng kể của Cao Duy Sơn vào diện mạo văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại

1.2 Quan niệm nghệ thuật của Cao Duy Sơn trong tiểu thuyết “Người lang thang” và “Biệt cánh chim Trời”

1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực của Cao Duy Sơn trong tiểu thuyết

“Người lang thang” và “Biệt cánh chim trời”

Hiện thực cuộc sống như một bức tranh muôn màu, như một bản giao hưởng Mỗi nhà văn đều có chính kiến của riêng mình, họ ngắm bức tranh đời sống theo các góc độ khác nhau rồi lí giải, cắt nghĩa theo quan điểm chủ quan Mỗi tác phẩm văn học ít hay nhiều đều bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, nhà văn phải bám sát vào hiện thực cuộc đời để phản ánh sáng tạo Nghĩa là hiện thực trong tác phẩm là hiện thực nghệ thuật Nói như Trần Đình Sử thì: “Quan niệm nghệ thuật là cách cắt nghĩa, lí giải hiện thực của người nghệ sĩ” Có thể hiểu, quan niệm nghệ thuật về hiện thực là cái nhìn nghệ thuật về cuộc đời, con người, gắn với cảm xúc, tình cảm với sự miêu tả nghệ thuật, phương tiện nghệ thuật Nhà văn Cao Duy Sơn đã phản ánh không gian miền núi với những phong tục tập quán và cả những xung đột xã hội một cách khách quan qua cái nhìn, nghiền ngẫm chủ quan, ông đã góp phần tô điểm, hoàn thiện bức tranh hiện thực cuộc sống của mảnh đất vùng Đông bắc Cao Bằng

Khảo sát các sáng tác của Cao Duy Sơn, chúng tôi nhận thấy nét nổi bật nhất

là bức tranh hiện thực xã hội miền núi Vùng đất Cổ Lâu và Lũng Cô Sầu là hai địa danh được trở đi trở lại ở tất cả các sáng tác của ông Không gian ấy xuất hiện như một mô tuýp nghệ thuật với bao đặc trưng của miền núi Một trong những hình ảnh xuất hiện với tần xuất cao là hình ảnh núi rừng hùng vĩ: “Không biết có nơi nào rừng núi điệp trùng như quê tôi Núi như những chàng khổng lồ khoác vai nhau giăng tận chân trời Xen kẽ những ngọn đồi và những cánh đồng

Trang 24

màu mỡ, những thảm nương mươn mướt khi mùa đang xanh Cuối thu tất cả bỗng chuyển màu vàng rực của những cánh đồng chín rộ và thẫm đỏ của lá rừng đang tiết chuyển hàn” [47, tr.98] Cuộc sống của con người nơi đây đều được đặt trong mối quan hệ với không gian này Núi đá, rừng cây, nương bãi, sông suối, vực sâu, mưa rừng, sương mù đều là chứng nhân cho tình yêu và sự đau thương mất mát của họ

Tiếp đến là không gian văn hóa đậm đà bản sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số quần cư trong thị trấn nhỏ Cô Sầu với những mĩ tục cần được giữ gìn và

phát huy Đó là phong tục đi chợ Tình trong truyện ngắn Chợ tình thật đẹp Chợ

tình chỉ họp một năm một lần để những lứa đôi lỡ nhịp được gặp nhau, để lấy

nước mắt soi vào nước mắt cho dịu vợi bao mất mát đỗ vỡ chia li Đó là tục lệ Khai

vài xuân trong Súc Hỷ, là tục diễn Rối đầu gỗ trong Hòn bi đá màu trắng, tục diễn

tuồng cổ Nam Kim Thị Đan, Chín chúa tranh vua trong Hoa bay cuối trời và Biệt

cánh chim trời, tục hát sly lượn trong Người lang thang, hát then trong Cực lạc

được cất lên trong những đêm tình mùa xuân Cao Duy Sơn nắm rất vững những nét sinh hoạt văn hóa của Cao Bằng nói chung và của người dân Cổ Lâu nói riêng Một không gian sống với những nét hoang dã, hồn nhiên hiện ra trong sáng tác của Cao Duy Sơn đậm tình yêu mến

Thị trấn nhỏ Cô Sầu như một bức tranh hiện thực xã hội miền núi thu nhỏ,

nó được Cao Duy Sơn tái hiện trong một thế giới nghệ thuật đầy đa tạp, ở đó có

sự đan xen giữa tốt và xấu, giữa thiện và ác, giữa thánh thần và ma quỷ, giữa ánh sáng và bóng tối Có khi cả hai phân cực này xuất hiện trong cùng một nhân vật

Ví dụ như trong tiểu thuyết Người lang thang, nhân vật Ngấn và Phắn được xây

dựng trên cơ sở đối lập, tương phản nhau Ngấn là “con đường con chợ” cuộc sống của Ngấn đầy khó khăn, trong khi đó Phắn là cậu ấm nhà chủ tịch thị trấn, Phắn được nuông chiều, cung phụng ngay từ nhỏ Trong cuộc chạy đua để dành được Diên, quan hệ đối lập tương phản giữa hai nhân vật càng thể hiện rõ Hay

trong mối quan hệ giữa Sinh và Phúng trong Biệt cánh chim trời

Trang 25

Thông qua thế giới nghệ thuật ấy, nhà văn đã bộc lộ một quan niệm nghệ thuật về hiện thực đời sống, về số phận của con người trước những biến đổi của lịch sử, trước những giông bão của cuộc đời Quan niệm nghệ thuật đó được nhà văn thể hiện gián tiếp thông qua việc xây dựng các hình tượng nghệ thuật, trong cốt truyện, kết cấu và trong cả ngôn ngữ, giọng điệu

1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của Cao Duy Sơn trong tiểu thuyết

“Người lang thang” và “Biệt cánh chim trời”

Macxim Gorki đã từng khẳng định: “Văn học là nhân học”, có lẽ vì thế mà con người được coi là trung tâm của văn học, là đối tượng chủ yếu được nhà văn hướng đến Quan niệm nghệ thuật về con người là cách nhìn, cách cảm, cách

nghĩ, cách lí giải của nhà văn về con người Từ điển Thuật ngữ văn học định

nghĩa “quan niệm nghệ thuật về con người là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật” [18, tr.275] Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của mỗi nhà văn Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách nghĩa,

lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [37, tr.15] Quan niệm nghệ thuật về con người là cách cắt nghĩa “có tính phổ quát, tột cùng mang ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người” [34] Nhưng mọi cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách lí giải về con người của người sáng tạo đều là sản phẩm của lịch sử, xã hội và văn hóa thời đại nhà văn sáng tác Không chỉ vậy, quan niệm nghệ thuật còn mang dấu ấn sáng tạo của mỗi nhà văn Bởi vậy, quan niệm nghệ thuật về con người của Cao Duy Sơn không giống với quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số như: Vi Hồng, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Bùi Như Lan

Trang 26

Trong sáng tác của Cao Duy Sơn ta thấy nhân vật trung tâm hầu hết là những con người nhỏ bé, bình dị như bao con người sống xung quanh chúng ta

Đó là lão Phủ trong Hoa bay cuối trời; là Pồn trong Cực lạc; là Thức trong Đàn

trời;là lão Sấm trong Người ở muôn nơi; là Lão Khuề, bà Ban trong Âm vang giọi hồn; là Ngấn, là bà Ban, lão Tẻn, lão Noọng, Phung trong Người lang thang;

là Sinh, là chị Thoàn trong Biệt cánh chim trời họ ít nhiều đều phải đón nhận

những bi kịch trong cuộc đời Cao Duy Sơn chọn những nhân vật nhỏ bé, bất hạnh làm nhân vật trung tâm trong tác phẩm chính là để khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của họ Viết về những mảnh đời bất hạnh với ngoại hình dị dạng, nghề nghiệp khốn cùng như ăn mày, quét chợ, đánh kẻng làm nhân vật chính cho các sáng tác của mình đòi hỏi Cao Duy Sơn phải có sự am hiểu sâu sắc về con người nơi vùng cao Trùng Khánh, cùng với một trái tim chan chứa tình yêu thương

Viết về bi kịch của những kiếp người nhỏ bé trong xã hội miền núi Cao Duy Sơn thường đặt họ vào trong những thử thách khắc nghiệt của cuộc sống thông qua đó làm nổi bật những phẩm chất cao đẹp trong tâm hồn Người đọc không

thể nào quên được hình ảnh của Pồn khi đọc tiểu thuyết Cực lạc, “Mới thò đầu

khỏi bụng mẹ đã bị ném vào cảnh côi cút giữa cái nhịp đời bận rộn hối hả như một kẻ khùng loạn” [42, tr.28] Mẹ Pồn chết vì hậu sản, không có thằng đàn ông nào ở phố Cô Sầu dám nhận Pồn làm con, Pồn lớn lên nhờ sự cưu mang của những con người hiền lành lương thiện trên phố Cô Sầu Pồn sống như ngọn gió hoang toàng, trong mắt người dân Cô Sầu Cái chết của Pồn là đỉnh điểm bi kịch không lối thoát của một con người giàu lòng tự trọng

Nhân vật Thằng Hoán trong truyện ngắn cùng tên hiện ra với một bi kịch đầy đau đớn, xót xa Bi kịch ấy xuất hiện ba lần trong tác phẩm Lần thứ nhất là những khi Hoán tự ngắm nhìn ngoại hình dị dạng đến quái gở của mình Chính ngoại hình xấu xí ấy mà Hoán trở thành đối tượng để các cô gái trong làng diễu cợt, trêu đùa Lần thứ hai khi Hoán chứng kiến vợ mình ngoại tình với tay thợ cả trong chính ngôi nhà của mình Hạnh phúc gia đình đổ vỡ, niềm tin trong tâm hồn

Trang 27

Hoán cũng đổ vỡ Lần thứ ba là khi người vợ bội bạc ấy trở về đón đứa con không cùng huyết thống nhưng Hoán rất mực yêu quý ra đi Mặc dù đứa con không muốn đi cùng mẹ nó, nhưng Hoán đã nén nỗi đau riêng khuyên con đi theo mẹ Tình huống kịch tính ấy đã bộc lộ bản chất cao đẹp trong con người Hoán: không ích kỷ, không tàn nhẫn mà đầy lòng nhân ái

Nhân vật lão Noọng trong Người lang thang mang số phận bất hạnh: ngoại

hình xấu xí, dị dạng, sống cô độc không người ruột thịt, không họ hàng thân thích Lão bị đem bán từ bé Cha mẹ nuôi mất, lão sống cuộc đời lang bạt lúc ở với người Hoa, khi lại ở với người Mông, người Tày Cả cuộc đời lão chỉ làm những việc tốt đẹp, giàu tính nhân văn Lão không chỉ chôn cất những đứa trẻ xấu số mà còn hi sinh tính mạng để cứu Ngấn, Phung và cứu mọi người

Trong thế giới nghệ thuật ấy, các nhân vật của Cao Duy Sơn như có sự phân biệt rạch ròi: nhân vật chính diện thì đẹp từ ngoại hình, tính cách đến tâm hồn

như nhân vật: Lê, Thục Vy, Mỷ trong Đàn Trời; Na Ban, Mảy Nhung trong

Người lang thang; Sinh, Thoàn trong Biệt cánh chim trời, bé Na trong Cuộc báo thù cuối cùng; lão Sấm trong Người ở muôn nơi; Ban trong Âm vang vong hồn;

lão Sinh trong Chợ tình; thầy giáo Hạc trong Ngôi nhà xưa bên suối Còn các

nhân vật phản diện thì lại xấu xa về nhân cách, méo mó, dị dạng về ngoại hình

như nhân vật Sắn Pì, Hoóng già trong Đàn trời, nhân vật Phắn trong Người lang

thang, nhân vật Chẩng trong Hoa mận đỏ, lão Phúng trong Biệt cánh chim trời

Với kết thúc truyện có hậu (một bút pháp quen thuộc trong các truyện dân gian Việt Nam), Cao Duy Sơn đã đem đến cho các nhân vật của mình một niềm tin vào sự chiến thắng của cái thiện với cái ác, vào sự bất tử của tình yêu chân

chính và lòng nhân hậu Trong Người lang thang nhân vật Ngấn đã nhận được sự

đùm bọc, tình yêu thương của bà Ban, lão Tẻn, lão Noọng Ngấn lập gia đình với Phung con nuôi của lão Tẻn và lão Noọng Khi lão Noọng chết, lão đã nói cho Ngấn biết về thân phận thật của anh Hạnh phúc đã trở về với gia đình Ngấn

Thoàn trong Biệt cánh chim trời nhận được tin chồng hi sinh ngoài mặt trận,

muốn tìm sự chia sẻ nơi Sinh nhưng bị rào cản của những quy tắc đạo đức làm

Trang 28

trở ngại, chị rời bỏ Cổ Lâu đi tìm miền đất hứa – Tây Nguyên Chị đã gặp Huy – hai con người tột cùng cô đơn, mất hết người thân, không gia đình, đi qua nhiều trắc trở họ đã kết đôi với nhau bằng tình yêu và sự cảm thông

Quan niệm nghệ thuật về hiện thưc và con người trong hai tiểu thuyết Người

lang thang và Biệt cánh chim trời nói riêng, trong văn xuôi Cao Duy Sơn nói

chung đã cho thấy được cái nhìn hiện thực mới mẻ, sắc sảo cùng một sự đồng cảm, yêu thương chân thành của nhà văn Chính những quan niệm nghệ thuật này đã chi phối tới quan điểm sáng tác và hình thành nên một “thương hiệu” trong phong cách viết của nhà văn Cao Duy Sơn

* Tiểu kết:

Cao Duy Sơn là một trong những nhà văn xuất sắc của nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam Trong quá trình sáng tác ông luôn ý thức được việc giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương mình nói riêng, của đồng bào các dân tộc anh em nói chung Vì thế sáng tác của ông được viết ra như để “trả

nợ cho quê hương”, thể hiện niềm tự hào, trân trọng mảnh đất sinh ra ông

Văn học các dân tộc thiểu số hiện đại, đặc biệt từ sau thời kì Đổi mới (1986) đến nay, phát triển mạnh mẽ trên nhiều phương diện Đặc biệt lực lượng sáng tác ngày càng đông đảo, bên cạnh những cây bút tên tuổi như Vi Hồng, Hoàng Hạc,

Mã A Lềnh, Y Điêng, Sa Phong Ba Cao Duy Sơn đã thổi một luồng gió mới góp phần thay đổi cách nhìn, cách nghĩ, có ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều nhà văn chuyên viết về đề tài miền núi

Trang 29

CHƯƠNG 2 KIỂU NHÂN VẬT TRONG HAI TIỂU THUYẾT

“NGƯỜI LANG THANG” VÀ “BIỆT CÁNH CHIM TRỜI”

2.1 Nhân vật và vai trò của nhân vật trong văn học

Trong tác phẩm văn học, phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực

một cách hình tượng đó là nhân vật Nói về nhân vật, Từ điển văn học (bộ mới)

viết: “Nhân vật văn học – Thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gắn cho những đặc điểm giống con người” [4, tr.1254] Qua nhân vật người đọc có thể khám phá thế giới đời sống, cũng như những quan điểm, tư tưởng của nhà văn “Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người vì thế nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề tác phẩm” [18, tr 203] Theo Lại Nguyên Ân,

“Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là con vật, các loại cây, các sinh thể hoang đường được gắn cho đặc điểm giống con người…”[4] Trong tác phẩm văn học, “nhân vật văn học có thể có tên, cũng có thể không có tên riêng… Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” [18, tr 202]

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nhân vật, nhưng qua các định nghĩa chúng tôi nhận thấy có một điểm thống nhất trong cách nhìn về nhân vật: nhân vật văn học là thành tố không thể thiếu trong mỗi tác phẩm văn học Nó là phương tiện để nhà văn phản ánh đời sống Qua nhân vật người đọc có thể thấy được cái mới, sự sáng tạo, cũng như sự đóng góp của mỗi nhà văn

Trang 30

Trong tất cả các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, và cả thơ đều có nhân vật, đặc biệt với thể loại tiểu thuyết thì càng không thể thiếu nhân vật Nhân vật trong tiểu thuyết không đứng yên mà luôn thay đổi vì đây là thể loại văn chương đang biến chuyển và còn chưa định hình Các nhà tiểu thuyết vì thế

mà luôn phải tìm tòi, đổi mới cách thức xây dựng nhân vật Nói như M.Bakhtin thì: “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất luôn luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực Tiểu thuyết trở thành nhân vật chính trong tấn kịch phát triển văn học thời đại

mới…”[5, tr 27] Không giống với các thể loại khác “tiểu thuyết là tác phẩm tự

sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”[18, tr.277] Cho nên “nhân vật trong tiểu thuyết thực sự

là hạt nhân của sự sáng tạo nghệ thuật, là trọng điểm để nhà văn lí giải mọi vấn

đề của đời sống xã hội”[14] Như vậy ở thể loại tiểu thuyết, nhân vật đóng một vai trò trọng yếu trong việc thể hiện tư tưởng thẩm mĩ của nhà văn, mỗi nhà văn

có quan niệm riêng, chọn những điểm nhìn riêng, cách miêu tả nhân vật với những nét riêng

Nhân vật trong văn học là một hiện tượng vô cùng sinh động, đa dạng Không hiểu tính chất loại hình nhân vật, chúng ta không thể chiếm lĩnh tác phẩm

để nhận ra tư tưởng, tình cảm mà nhà văn gửi gắm thông qua tác phẩm Căn cứ vào vai trò tác phẩm người ta có thể phân chia thành nhân vật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm Người ta cũng có thể căn cứ vào phương diện hệ tư tưởng, quan hệ với lý tưởng, các nhân vật các nhân vật có thể chia thành các nhân vật chính diện và nhân vật phản diện (sự phân biệt này gắn với những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội) Bên cạnh đó còn phải kể đến một số kiểu cấu trúc nhân vật như: nhân vật chức năng, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng… Nhìn chung việc phân chia này chỉ dừng lại ở tính chất tương đối, bởi trong kiểu, loại nhân vật này có thể bao hàm cả yếu tố của kiểu, loại kia

Trang 31

Khi xây dựng nhân vật nhà văn phải sử dụng rất nhiều chi tiết để miêu tả chân dung, ngoại hình, tính cách, hành động, tâm trạng cũng như thế giới nội tâm Bên cạnh đó văn học cũng dùng chi tiết để miêu tả ngoại cảnh, môi trường,

đồ vật xung quanh con người Tất cả các chi tiết ấy bao giờ cũng được dùng thống nhất trong việc miêu tả một loại người nào đó nhằm giúp cho nhân vật có

sự đồng nhất giữa hình thức với bản chất Vì thế mỗi nhân vật trong văn học chỉ phản ánh được một phạm vi hay một phương diện của hiện thực đời sống mà nó đảm nhiệm Nhân vật có khi được thể hiện qua mâu thuẫn, xung đột, sự kiện Bởi thông qua những mâu thuẫn, những xung đột ấy bản chất, tính cách của nhân vật được bộc lộ một cách đầy đủ Cũng có khi nhân vật được nhà văn miêu tả một cách trực tiếp qua ngôn ngữ, hành động, suy nghĩ nhưng cũng có khi được miêu tả gian tiếp qua đồ vật, môi trường sống của nhân vật và qua cả sự cảm nhận của mọi người xung quanh Cho nên, sự thể hiện nhân vật phải được xem xét trong sự thống nhất giữa nội dung nhân vật với kiểu loại nhân vật

Nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là trung tâm của mọi sự sáng tạo nghệ thuật “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác”[21, tr.127] “Nếu ngôn ngữ được ví là cái áo của tư tưởng thì nhân vật

là hình thù con người mặc cái áo ấy”[21, tr.216] Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện cách nhìn, cách nghĩ của mình về một con người nào đó, một loại người nào đó hay một vấn đề nào đó trong hiện thực, “đó chính là nơi tác giả gửi gắm thông điệp và độc giả tiếp nhận “giải mã” những vấn đề hiện thực cốt yếu đặt ra trong tác phẩm”[14] Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống xã hội trong một thời điểm lịch sử nhất định Nói như M.Gorki thì: “Nghệ thuật bắt đầu từ nơi mà người đọc quên tác giả, chỉ có trông

và nghe thấy những con người do tác giả trình bày trước người đọc” Nhân vật vì thế mà không chỉ là hình thức cơ bản thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn mà còn là hình thức cơ bản khái quát quy luật của đời sống cũng như tập trung mọi giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm Ở thể loại tiểu

Trang 32

thuyết, hệ thống nhân vật đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng thẩm mĩ của nhà văn

Nhân vật trong tiểu thuyết hiện đại mang tính tự thân rất cao, nhiều khi nó vượt cả ra ngoài sự kiểm soát hay những định hướng ban đầu của nhà văn để đi theo quy luật của cuộc đời, của số phận Nói như nhà văn Nguyễn Đình Thi:

“Vấn đề trung tâm của nghệ thuật tiểu thuyết theo tôi, là miêu tả những con người và đường đi của họ trong xã hội Người viết tiểu thuyết nghĩ mọi vấn đề đều phải thông qua nhân vật, xuất phát từ nhân vật hơn là từ sự việc” [51, tr.645] Nhân vật trong tiểu thuyết hiện đại không chỉ là một cảnh đời, một số phận mà còn hiểu ý nghĩa cuộc đời đằng sau mỗi số phận đó Vì thế mà khi xây dựng nhân vật, nhà văn thường tạo dựng cho mình một thế giới nhân vật phong phú, đa dạng phù hợp với sở thích, cá tính và mục đích thể hiện

Khi đi sâu vào tìm hiểu về nhân vật văn học nhất là nhân vật trong tiểu thuyết, chúng tôi đồng thuận với quan niệm của nhà văn Pháp Georges – Simenon (1903 – 1989), khi ông cho rằng nhân vật trong tiểu thuyết có hai loại

là “nhân vật mặc quần áo” và “nhân vật nu”, “nu” trong tiếng Pháp có nghĩa là

khỏa thân “Nhân vật mặc quần áo” là những nhân vật mà ở dưới những bộ trang phục xã hội của họ khi quá chật, khi quá rộng, có khi lại là những con người tự nhiên èo uột, còm cõi Còn “nhân vật nu” là những nhân vật được nhà văn xây dựng và miêu tả ở phần con người tự nhiên bên dưới những trang phục xã hội, hoàn toàn không có sự ngụy tạo

Có thể nói do đặc trưng của mỗi thể loại, con người với tư cách là đối tượng của văn học được khai thác theo từng khía cạnh khác nhau Tiểu thuyết với khuôn khổ rộng lớn cho phép khai thác nhân vật một cách tỉ mỉ, toàn diện theo từng bước thăng trầm của số phận

2.2 Kiểu nhân vật trong “Người lang thang” và “Biệt cánh chim trời”

Khảo sát tiểu thuyết của Cao Duy Sơn chúng tôi bắt gặp một thế giới nhân vật đa dạng, phong phú Trong thế giới ấy có nhân vật là người già, người trẻ, phụ nữ, thanh niên, bác sỹ, kĩ sư, giáo viên, công nhân… Mỗi nhân vật một tính

Trang 33

cách, một số phận, một hoàn cảnh nhưng họ đều là những con người sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Cao Bằng

Yêu cầu của tiểu thuyết là phải xây dựng lên được những bối cảnh xã hội rộng lớn với nhiều sự kiện lịch sử, nhiều biến cố, tạo nên cái phong phú để trên

đó xuất hiện một số nhân vật chính mà số phận của họ được quy định và thể hiện

xu thế chung của xã hội Khảo sát toàn bộ sáng tác, nhất là hai tác phẩm Người

lang thang - cuốn tiểu thuyết đầu tay, và Biệt cánh chim trời - tác phẩm mới nhất

của Cao Duy Sơn chúng tôi nhận thấy nhà văn đã dựng lên một không gian xã hội tương đối rộng từ lũng Cô Sầu (miền Đông bắc Cao Bằng) chạy dài đến tận Tây Nguyên, có khi còn vượt qua khỏi biên giới sang tận Trung Quốc Bên cạnh

đó sáng tác của Cao Duy Sơn còn tập trung phản ánh nhiều cuộc đời với nhiều

số phận khác nhau gắn với nhiều kiểu loại nhân vật Ở Người lang thang Cao

Duy Sơn đã miêu tả hết sức chân thực cuộc sống của những con người miền núi

phải giành giật sự sống trong những năm đất nước chiến tranh Sang Biệt cánh

chim trời nhân vật vẫn là những con người miền núi ấy song được nhà văn khai

thác ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng chủ yếu là đi sâu vào phản ánh cuộc sống,

số phận của con người ở hậu phương trong và sau chiến tranh Song ở cả hai tác phẩm này Cao Duy Sơn tập trung ca ngợi những con người đẹp đẽ với những lí tưởng cao đẹp, ngòi bút của ông còn thể hiện sự đồng cảm, thương xót cho những số phận bất hạnh, đau khổ, phê phán những con người tha hóa về đạo đức

2.2.1 Nhân vật mang vẻ đẹp lí tưởng

Ở bất kì thời đại nào, nghệ thuật luôn có xu hướng ca ngợi cái đẹp, khuyếch đại cái tốt để từ đó khơi dậy trong lòng độc giả những khát vọng vươn tới lí tưởng, làm theo những điều hay, lẽ phải Cảm hứng ca ngợi cái đẹp, cái thiện đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong sáng tác văn học Hướng tới những điều đó, Cao Duy Sơn đã dành tất cả những trang viết của mình để ca ngợi cái đẹp, nhất

là những con người đẹp đẽ, cao cả

Khi trả lời phỏng vấn Báo điện tử "http://www.vovnew.vn" về việc “Ông

quan tâm thế nào về việc phát triển văn hóa của các dân tộc?”, nhà văn Cao Duy

Trang 34

Sơn đã bộc lộ quan điểm của mình: “Nên hiểu sự phát triển văn hóa là sự nối dài của các thế hệ Thời điểm này người ta mới hiểu văn hóa ở nghĩa hẹp, với chuyện đọc, nghe, nhìn Nhưng theo tôi, điều quan trọng nhất là phát triển văn hóa truyền thống, vì đây mới là cái căn cốt Cái văn hóa đương đại chỉ là cái chúng ta cần bổ sung vào và làm tôn vinh, làm bền vững những gì mà văn hóa truyền thống để lại, bởi tất cả những gì thuộc về văn hóa đều tốt đẹp và cần giữ gìn nó Văn hóa đó là việc người ta sống tốt với nhau hơn, xử sự đẹp với nhau hơn”[23] Với quan điểm như vậy cho nên hệ thống nhân vật trong sáng tác của ông mang một nét riêng, độc đáo thể hiện sâu sắc quan niệm nghệ thuật về hiện thực cuộc sống và con người hiện nay

Trong toàn bộ sáng tác của Cao Duy Sơn nói chung và ở hai cuốn tiểu

thuyết Người lang thang và Biệt cánh chim trời nói riêng, luôn tồn tại những

nhân vật đóng vai trò giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương Những nhân vật này thường được nhà văn xây dựng trong vai các già làng,

trưởng bản như nhân vật lão Noọng trong Người lang thang; lão Khấn trong Cực

lạc; lão Thỉ trong Chòm ba nhà… họ là những người được dân làng kính trọng,

yêu mến Sang đến Biệt cánh chim trời nhà văn đã có sự thay đổi trong cách thể

hiện quan niệm nghệ thuật của mình, người giữ những nét đẹp truyền thống ấy có thể là những người phụ nữ bình thường như chị Thoàn, như Đăm Tuy nhiên nhân

vật giữ vai trò giữ gìn những giá trị truyền thống trong hai tác phẩm Người lang

thang và Biệt cánh chim trời không thể hiện được mối quan hệ với cộng đồng làng

xóm mà chủ yếu chỉ là mối quan hệ yêu thương, tình nghĩa

Cao Bằng là vùng đất hiện còn lưu giữ rất nhiều những phong tục đẹp, đậm chất nhân văn Một trong những nét phong tục tập quán đặc sắc ấy phải kể đến những điệu sli lượn, hát then, diễn tuồng cổ, lễ tết, các nghi lễ vòng đời… Trong sáng tác của mình Cao Duy Sơn đã đưa vào tục hát sli, hát lượn một cách khéo

léo và đầy lòng tự hào Trong tiểu thuyết Người lang thang tục hát sli lượn được

miêu tả như lối hát giao duyên của những chàng trai, cô gái tỏ tình với nhau Ngấn tìm đến nhà Diên, người con gái anh thương để cất lên tiếng lượn Tiếng

Trang 35

hát của Ngấn cất lên trầm buồn như con suối thu trườn qua rừng vắng, róng riết khắc khoải như tiếng chim cô đơn gọi bạn tha thiết đến nao lòng, khiến Diên mê

đi trong trạng thái bồi hồi:

“Noọng ơi, noọng à

Nhà anh khó, thân anh nghèo

Anh chỉ có câu Hà lều làm hoa, làm nụ

Không chê khó, không khinh nghèo

Em lấy vui làm môi, lấy hoa làm lời

Cho anh nghe câu đắng, câu ngọt…” [41, tr.44]

Lời hát không chỉ cho thấy ở chàng trai một đời sống tâm hồn tinh tế, phong phú, mà còn bộc lộ sự tế nhị, khiêm nhường Chỉ tiếc rằng lời tỏ tình của Ngấn không được Diên đáp lại vì gia đình cô đã nhận lễ vật của người khác

Người dân thị trấn cổ Cô Sầu rất yêu thích loại hình sân khấu dân gian như diễn rối đầu gỗ (Mộc tàu hí) hoặc là xem diễn những vở tuồng cổ Dá hai Trong những đêm biểu diễn người đến xem rất đông vì nó là món ăn tinh thần không thể thiếu sau những ngày lao động vất vả Hai “vở truyền thống của dân tộc tỉnh

nhà là Cẩu chủa cheng vùa (Chín chúa tranh vua) và Nam Kim Thị Đan không chỉ được nhắc đến trong Người lang thang và Biệt cánh chim trời mà còn được

Cao Duy Sơn kể lại nhiều lần trong hầu hết các sáng tác của mình Mượn câu tuồng cổ Cao Duy Sơn không chỉ giới thiệu cho bạn đọc xa gần về lịch sử từ ngàn đời xưa của mảnh đất Cao Bằng mà ông còn phản ánh hiện thực cuộc sống của mảnh đất Cô Sầu lấp sau những mặt nạ sân khấu “Những ông vua, ông chúa, cả những cô nương, nàng hầu tất tất đều không xa lạ với khán giả Ví như ông vua kia, sớm nay ngài vừa thắng quả thầu lợn, thậm chí trước khi ra khỏi nhà lên làm vua, ngài vẫn không quên kiểm tra lại chiếc cân âm phủ của mình Đánh giá lại xem, liệu sớm mai “nó” có đảm trách được vai trò tám lạng thành nửa cân không? (…) Hay như ngài tể tướng kia nữa, ngài đang bẩm báo gì nhà vua vậy? Ngài có biết rằng dân Cô Sầu ngán ngài biết nhường nào không? Đáy

Trang 36

cái chậu nước kiểm tra săm xe của ngài đã gài vào đấy thêm chiếc kim nào đấy chưa? (…) Bọn họ đều là vua với tể tướng rởm cả đấy…”[41, tr.115, 116]

Cũng giống như những làn điệu dân ca quan họ Bắc Ninh từ lâu ăn sâu trong máu thịt của người dân Kinh Bắc, những làn điệu Dá hai không biết từ bao giờ

đã ăn sâu, bám rễ trong tâm hồn mỗi người dân Cô Sầu Đăm trong Biệt cánh

chim trời đã thuộc lòng từng điệu hát, từng lớp kịch trong vở Nam Kim Thị Đan

“Lời hát như khóc, như than oán” [47, tr.99]: “Lời mềm như gió hây dá hà ha hai, bước nhẹ như mây bay le hai da dá ha hai dà, mà buốt tận tim này, đường trời mờ vó ngựa, bỏ người dưới trần ai hà ha ha hai dà há hai ha dà Ngựa đi không trở lại chỉ còn một thoáng mây… lệ ướt đầm ba thu, đằng đẵng phòng hoang lạnh, ơ hờ người viễn du dá hà ha hai dà, dá ha ha hà da…” [47, tr.98,99] Không chỉ dừng lại ở việc trích dẫn những câu hát Dá hai, Cao Duy Sơn còn miêu tả tỉ mỉ cách hát, múa của người dân miền Đông Cao Bằng và qua đó kín đáo bày tỏ tình yêu và niềm tiếc nuối trước sự quên lãng của con người với những giá trị văn hóa truyền thống “Mỗi khi chiều xuống, nắng tắt lại thấy Đăm khăn áo màu sắc như văn công, một mình diễn tuồng Nam Kim Thị Đan ngay trước hiên nhà Không hát thầm mà cao giọng như đang trên sân khấu Vừa hát vừa múa lả lơi, có lúc còn cầm nón tu lờ che mặt xoay tròn điệu đà” [47, tr.109] Thế nhưng “lâu rồi tuồng không còn ai diễn, vì thế cũng dần quên Giờ thì không thể hát được một câu trọn vẹn, có chăng vài lời lõm bõm” [47, tr.99]

Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn rất đa dạng Nhân vật trung tâm trong sáng tác của ông là những con người lao động miền núi Họ là những người bình thường nhưng sống có tình có nghĩa, giàu lòng yêu thương con người Cao Duy Sơn đã “giúp” nhân vật của mình vượt qua được cái chết, và hơn thế nữa nhà văn còn giúp đỡ những nhân vật “lầm đường, lạc lối” hoàn lương khi họ phải đối diện với cái xấu, cái ác, đối diện với kẻ thù Xét trên phương diện này chúng tôi thấy các nhân vật trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn

có những nét tương đồng với nhân vật trong sáng tác của Ma Văn Kháng, Vi Hồng Nhìn chung họ đều có số phận éo le, trắc trở nhưng bằng nghị lực sống và

Trang 37

tình yêu thương, các nhân vật trong sáng tác của các nhà văn này đều cố gắng vượt lên và tự khẳng định mình ngay cả trong những hoàn cảnh nghiệt ngã đầy thử thách Qua những tình huống ấy nhân vật bộc lộ hết tính cách, phẩm chất tốt đẹp của mình

Trong tiểu thuyết đầu tay Người lang thang, người đọc không thể quên được

lão Noọng, lão Tẻn những con người cô đơn đã cưu mang, nuôi dưỡng Phung bằng cả tình yêu thương, bao bọc “ngắn thương, dài buồn, ba tháng anh ấy không đi cướp cùng anh em, là cả ba tháng anh quấn quýt lấy con bé Cõng nó vào rừng hái quả, ngắt hoa, đưa nó xuống suối nô đùa dưới nước, tiếng cười như tiếng thác tơ reo vui, tan cả bầu trời u buồn Chẳng cần ta dạy bảo, con bé ấy gọi anh bằng ba từ lúc nào không ai biết” [41, tr.149] Lão Noọng đã dành rất nhiều tình cảm cho Phung Lão vốn không có gia đình lại mặc cảm về thân hình xấu xí của mình, lão yêu thương Phung bằng tình yêu của người cha dành cho con thế nên lão rất lo lắng cho tương lai của cô con gái nuôi, lão đã gửi con lại cho lão Tẻn – người anh em kết nghĩa

Lão Tẻn và lão Noọng còn là những con người vô cùng quan trọng trong cuộc đời của Ngấn Mỗi bước trưởng thành trong cuộc đời của Ngấn đều có sự giúp đỡ của hai nhân vật này Khi Ngấn bỏ học lão Noọng đợi sẵn và đưa Ngấn

về và “tạo công ăn việc làm” Sau một thời gian, Ngấn trưởng thành hơn, lão Noọng đem Ngấn giới thiệu cho lão Tẻn để lão Tẻn giúp đỡ và dạy bảo Ngấn Ngấn trở thành con người mạnh mẽ, dũng cảm và giàu tình yêu thương một phần

là nhờ vào công sức rèn rũa của lão Tẻn Kể cả khi Ngấn có mâu thuẫn với cha con nhà lão Lâm, chính lão Tẻn đã trực tiếp giải quyết Khi Ngấn bị lão Lâm bỏ

tù, lão Tẻn đã phải dùng sức ép với Lâm, buộc Lâm phải can thiệp trả tự do cho Ngấn

Cao Duy Sơn xây dựng nhân vật lão Noọng và lão Tẻn như những người anh hùng Khí phách anh hùng của họ được thể hiện rõ qua lời ca ngợi của nhân vật lão Noọng khi ông nói về người bạn tùng của mình – lão Tẻn: “Một người như anh ấy sao lại có thể không tin? Anh ấy đã đoạt hơn một trăm lục lâm từ tay

Trang 38

một kẻ không tim và đã vớt họ ra khỏi vũng tội lỗi như vớt những con chó ngập dưới hố phân và tắm rửa cho chúng bằng bàn tay của mình” [41, tr.148] Các nhân vật này đã thoát khỏi sự ràng buộc của quan hệ máu thịt, họ sống yêu thương, che chở cho những đứa trẻ rất tự nguyện Tình yêu thương con người của họ không bị chi phối bởi quan hệ ruột thịt vì thế nó trở nên cao cả và đầy tính nhân văn Thông qua các nhân vật này ta thấy được triết lí về tình yêu thương được Cao Duy Sơn gửi gắm một cách kín đáo và sâu sắc

Trong Biệt cánh chim trời, Sinh là một người đàn ông đẹp từ hình thể đến

cốt cách Ông là “một người đàn ông lực lưỡng, sức vóc phi thường, cởi mở rộng rãi, mẫu điển hình dân miền Đông” [47, tr.6] Ông còn là một người “hào hiệp tốt bụng, mẫu người bây giờ soi đuốc ban ngày cũng chẳng tìm thấy” [47, tr.7] Khi đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhìn lũ trẻ mắt thấu đói, thèm một bữa ăn

no mà Sinh không kìm được lòng, ông nhớ tới cái thời trẻ của mình: “Hồi đó trẻ,

ăn khỏe như trâu sục nước gạo Mới xong bữa, hành quân vừa được nửa giờ da bụng đã nép dính cột sống (…) Đói, đầu chẳng thể nghĩ được gì ngoài miếng ăn

Vì thế ông đã bỏ qua cả quy tắc, quy định của “cơ quan – kho lợn” [47, tr.10] Sinh đã lấy trộm thịt sấy của “kho lợn” cho bọn trẻ ăn Sinh hiểu được rằng cuộc chiến còn dài, bọn trẻ này chỉ vài năm nữa sẽ lớn, sẽ ra trận thành bộ đội chiến đấu bảo vệ Tổ quốc vì thế ông chấp nhận chịu kỉ luật và chuyển công tác

Trong các sáng tác của Cao Duy Sơn, nhân vật nữ hầu hết đều rất đẹp Họ không chỉ đẹp ở ngoại hình mà còn đẹp trong tình yêu thương và đức hi sinh Vẻ đẹp đó có thể là vẻ đẹp được tạo hóa ưu ái ban tặng như Na Ban, Mảy Nhung,

Diên, Phung trong Người lang thang, và Thoàn, Đăm trong Biệt cánh chim trời

Họ là những người phụ nữ mang vẻ đẹp của núi rừng, đó là vẻ đẹp như hoa Kim anh, như hoa Phặc phiền Đó là tình yêu thương chồng của Phung, tình yêu thương con của bà Ban, Mảy Nhung, Diên Tình yêu cũng là lòng yêu thương rộng mở của Phung đối với bé Điềm – đứa con của Diên và Phắn bỏ lại trong

hang khi chạy loạn Thoàn trong Biệt cánh chim trời không phải là người phụ nữ

Trang 39

may mắn được hưởng trọn vẹn hạnh phúc cá nhân nhưng chị “là mẫu hình người phụ nữ điển hình cho những đau khổ dù xinh đẹp, nhân hậu” [26]

Nhân vật người phụ nữ trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn hiện ra không phải là những vai ghê gớm, đáo để, nanh nọc hay khờ khạo mà là những người phụ nữ giàu tình yêu thương, họ sẵn sàng hi sinh cho những người thân yêu Viết

về họ Cao Duy Sơn dường như muốn gửi gắm tình yêu thương, sự đồng cảm và

cả sự ngưỡng mộ, trân trọng của mình đối với những con người giàu lòng nhân

ái, vị tha

Tiểu thuyết Người lang thang và Biệt cánh chim trời được xây dựng trên cơ

sở sự phân tuyến nhân vật, giữa các tuyến nhân vật chính là sự biểu hiện của mối quan hệ đối kháng Nhân vật chính trong hai tác phẩm này được Cao Duy Sơn

xây dựng là nhân vật giải quyết những mâu thuẫn cơ bản Trong Người lang

thang, nhân vật trung tâm là Ngấn và mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa Ngấn

và Phắn Trong tiểu thuyết Biệt cánh chim trời mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn

giữa Sinh và lão Phúng Từ mâu thuẫn này đã nảy sinh hàng loạt những mâu thuẫn xã hội khác

Nhân vật trung tâm là đầu mối của mọi mối quan hệ giữa các nhân vật trong

tác phẩm Từ Ngấn (Người lang thang) nhà văn dẫn dắt đến các nhân vật bà Ban,

Mảy Nhung, lão Tẻn, lão Noọng, Phung, Diên, Phắn, lão Lâm… Qua nhân vật

Thoàn (Biệt cánh chim trời) nhà văn làm nổi bật lên nhân vật lão Phúng, Sinh,

Chuân, Đăm, San… Ở những nhân vật này nhà văn xây dựng họ thành những con người mang lí tưởng, khát vọng sống, khát vọng yêu thương

Trong tiểu thuyết Người lang thang và tiểu thuyết Biệt cánh chim trời Cao

Duy Sơn xây dựng nhân vật trung tâm là những nhân vật lí tưởng và khát vọng nhưng đó không phải là thứ lí tưởng cao xa vượt ngoài khả năng của con người,

mà là những lí tưởng, những khát khao bình dị, đời thường: khao khát về một cuộc sống yên bình, hạnh phúc Lúc đầu Ngấn được xây dựng như một đứa trẻ bị

bỏ rơi, cô độc, nghèo đói và tủi cực, khiến “Ngấn nhận ra giữa thân phận mình

và con héc có gì đồng điệu” [41, tr.8] “Mặc dù bị đòn đau nhưng nhìn bầy đàn

Trang 40

vỗ cánh bỏ đi, chú chàng bị xua đuổi vẫn mải miết bay theo Nhưng nguyên tắc khắc nghiệt của giống vật này không cho phép nó trở về với đồng loại” [41, tr.7] Tình yêu thương của bà Ban, lão Tẻn, lão Noọng, Phung… đã dành cho Ngấn,

đã nâng đỡ tâm hồn Ngấn, giúp Ngấn thoát khỏi sự mặc cảm, trở về với lẽ sống tình thương Đồng thời thổi bùng lên trong Ngấn khát vọng được sống, được yêu thương và đem tình yêu thương đến cho mọi người

Khác với Ngấn, chị Thoàn trong Biệt cánh chim trời, là nhân vật mang trong

mình khát vọng được yêu, khát vọng được chia sẻ lớn lao, cao cả Trong chính bản thân Thoàn đã chứa đựng rất nhiều những yếu tố thúc đẩy nhân vật hành động theo lí tưởng, khát vọng của mình Khi lão Phúng với ý đồ xấu không thành, Thoàn nhận được tin chồng hi sinh ngoài mặt trận chị muốn tìm sự chia sẻ

từ nơi Sinh nhưng gặp phải trở ngại của những quy tắc đạo đức Chị chạy trốn khỏi Cổ Lâu, gặp được Huy rồi kết đôi với nhau, hai người đưa nhau lên Tây Nguyên bắt đầu một cuộc sống mới

Trong Biệt cánh chim trời, ngoài nhân vật Thoàn còn phải kể đến Chuân –

nhân vật vừa can dự trực tiếp, vừa gián tiếp vào mọi câu chuyện Chuân kết hôn với Đăm, một người đàn bà đẹp, đầy sức sống Cái khao khát mãnh liệt trong Đăm đã đẩy cuộc hôn nhân giữa hai người rơi vào sự bế tắc tưởng như không lối thoát Cả hai như sống trong địa ngục, sống trong tận cùng của sự đau khổ Nhờ

có sự giúp đỡ của Thoàn, Chuân và Đăm đã nhen lại hi vọng về một cuộc sống mới nơi đất khách Dù chưa biết phải đi đâu nhưng Chuân muốn đi để trốn chạy

để cắt đứt những tháng ngày âm u khổ đau, nghi kị, tị hiềm, cô lập và khinh bỉ của người đời Những năm tháng lún sâu trong tuyệt vọng có lẽ đã khơi lên những khao khát tìm một chốn bình an trong cả Chuân và Đăm Cho nên khi vào Tây Nguyên với một cuộc sống mới đã khiến Chuân “thấy nhẹ nhõm, tự do như thể cắt

bỏ được khối u trong người” [47, tr.277 ]

Nhìn chung nhân vật trong hai tiểu thuyết Người lang thang và Biệt cánh

chim trời đều có sức sống bền bỉ, mạnh mẽ Họ là những con người thuần hậu,

chất phác sống hồn nhiên như rừng cây, núi đã Sức sống tiềm tàng, bất diệt của

Ngày đăng: 08/11/2017, 09:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w