Theo nghĩa hẹp, phạm nhiều tội gắn với hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt và là một trường hợp đặc biệt của quyết định hình phạt [8, tạp chí DC&PL Trong khoa học luật hình s
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ MINH HOÀNG
PHẠM NHIỀU TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số:60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS HỒ SỸ SƠN
HÀ NỘI – 2017
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ MINH HOÀNG
PHẠM NHIỀU TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS HỒ SỸ SƠN
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS HỒ SỸ SƠN
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn với đề tài"Phạm nhiều tội theo pháp luật hình
riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn là của tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Minh Hoàng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ PHẠM NHIỀU TỘI 7
1.1.Những vấn đề lý luận về phạm nhiều tội 7 1.2 Quy định của pháp luật hình sự về phạm nhiều tội 19
Chương 2: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM NHIỀU TỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 30
2.1 Khái quát tình hình xét xử hình sự trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 30 2.2 Thực tiễn định tội danh trong trường hợp phạm nhiều tội trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội 31 2.3 Thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội 42
Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐÚNG TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM NHIỀU TỘI 58
3.1 Các yêu cầu bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng trong trường hợp phạm nhiều tội 58 3.2 Các giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng trong trường hợp phạm nhiều tội 61
KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …….72
Trang 5Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao Hội thẩm nhân dân
Toà án nhân dân Toà án nhân dân tối cao Trách nhiệm hình sự
Uỷ ban thẩm phán Viện kiểm sát nhân dân Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 6MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ năm 1986, Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng và phát triển đất nước theo nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội đã có sự chuyển biến
và phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực Tuy nhiên, ngoài những thành tựu tích cực đã đạt được thì nền kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực trong xã hội, trong đó có tình hình tội phạm mà người phạm tội phạm nhiều tội ngày càng diễn biến phức tạp
BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 và dự thảo BLHS năm 2015
đã có những tác động tích cực đối với công tác phòng, chống tội phạm trong
đó có các loại tội phạm do chủ thể thực hiện bị xác định là phạm nhiều tội Đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới của Đảng về cải cách tư pháp theo tinh thần: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002,[6]; Nghị quyết số 48/NQ-
TW ngày 24/5/2005 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng, cải cách tư pháp Việt Nam đến năm 2020
và đảm bảo thực hiện các quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013 [6]
Việc nghiên cứu để làm sáng tỏ về mặt lý luận chế định phạm nhiều tội của Luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Tuy nhiên từ trước đến nay, vấn đề này vẫn chưa nhận được sự điểu chỉnh chính thức bằng một quy phạm riêng biệt trong phần chung của Bộ luật hình sự Việt Nam, mà
thuật ngữ “phạm nhiều tội” chỉ được đề cập tại Điều 50 BLHS năm 1999 và
Điều 55 BLHS năm 2015 Chính vì vậy, việc nghiên cứu để đảm bảo nhận thức thống nhất, khoa học và thực tiễn bản chất pháp lý của chế định phạm nhiều tội nhằm xác định đường lối xử lý phù hợp mới có tác dụng tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là loại phạm nhiều
Trang 7tội Trên thực tế hành vi phạm tội có biểu hiện phạm từ hai tội trở lên ở nhiều dạng khác nhau [24,tr.34,35] Việc định tội danh và quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội có nội dung rất quan trọng trong lý luận và thực tiễn thực thi pháp luật Trong thời gian qua do chưa được quan tâm, nghiên cứu đúng mức dẫn đến có những sai sót nhất định như:
- Xác định không đầy đủ, không đúng các hành vi phạm nhiều tội trên
thực tế do nhận thức chưa đúng hoặc không đầy đủ quy định pháp luật;
- Nhận thức chưa đúng, không đầy đủ về cấu thành tội phạm đối với các hành vi nguy hiểm do chủ thể cụ thể đã thực hiện xâm phạm đến (các) nhiều tội theo quy định của BLHS; nhận thức không chính xác các tình tiết cụ thể của từng cấu thành tội phạm
Do cần bổ sung một phần về lý luận và khái quát một số vấn đề thực tiễn
mà TAND huyện Chương Mỹ đã giải quyết, xét xử các vụ án có bị cáo (các bị cáo) phạm nhiều tội, đồng thời đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về phạm nhiều tội trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay Chính vì vậy, tác
giả chọn vấn đề: “Phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực
tiễn huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học luật hình sự, hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu và các bài viết đề cập đến vấn đề phạm nhiều tội như:
Các công trình đã viết thành sách: “Những vấn đề cơ bản trong khoa học
Lụât hình sự, phần chung, chương IV” Nbx Đại học quốc gia Hà Nội, năm
2005 của TSKH.GS Lê Cảm [10, tr.71]; “Nhiều tội phạm” (chương XV, giáo
trình Luật hình sự Việt Nam) Trung tâm đào tạo từ xa Đại học Huế do GS.TS
Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb công an nhân dân Hà Nội (tái bản năm 2011) tác giả có đề cập đến biện pháp nhân chủng học, tức là biện pháp tác động đến các quá trình di cư và thích nghi xã hội của những người di cư hay một số tiêu
Trang 8chí phân loại đáng chú ý, như việc phân loại theo cơ chế hoạt động hay các biện pháp phòng ngừa có thể được nhóm theo sự phát triển của hoạt động phòng ngừa có mục đích (như phòng ngừa giai đoạn sớm, ngăn chặn tội phạm
ở giai đoạn chuẩn bị và phạm tội chưa đạt, các biện pháp phòng ngừa tái phạm)
Các Luận án, Luận văn nghiên cứu về chế định phạm nhiều tội: Luận án
Tiến sĩ luật học “Chế định nhiều tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam” của nghiên cứu sinh Lê Văn Đệ [13, tr.34]; Luận văn Thạc sĩ luật học “Chế định
phạm nhiều tội trong Luật hình sự Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trên đại bàn tỉnh Vĩnh Phúc”[26,tr.16] của tác giả Đặng Phú Lâm; Luận
văn Thạc sĩ luật học “Quyết định hình phạt trong những trường hợp đặc
biệt”[25,tr.52] của tác giả Hoàng Chí Kiên; Luận văn Thạc sỹ luật học “Phạm nhiều tội trong luật hình sự Việt Nam” [38, tr.38] của tác giả Lê Thị Thúy
Một số bài viết như: “Phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội” (Tạp chí
Toà án nhân dân số 3/1995 của Thạc sỹ Mai Bộ); “Tạp chí Luật học số 4/1996
của GS.TS Võ Khánh Vinh và Nguyễn Văn Hoàn); “Chế định đa (nhiều tội
phạm) và mô hình lý luận của nó trong Luật hình sự Việt Nam” [47,tr.37]
“Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 6/2001” của TSKH Lê Cảm …
Sau khi tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học nói trên; nghiên cứu học tập tại Học viện khoa học xã hội nhân văn; từ thực tiễn áp dụng pháp luật Tác giả nhận thấy: Những công trình nghiên cứu và bài viết này dù ở mức độ, phạm vi nghiên cứu khác nhau nhưng đã thể hiện tương đối rõ nét khái niệm cũng như các trường hợp được coi là phạm nhiều tội Những đề xuất trong các công trình, bài viết đó rất có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu và
áp dụng trên thực tiễn Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào có
công trình nào nghiên cứu “Phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam
từ thực tiễn huyện Chương Mỹ”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 93.1 Mục đích nghiên cứu
- Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về phạm nhiều tội; thực trạng các quy định của BLHS và thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS Việt Nam trong định tội danh và quyết dịnh hình phạt đối với trường hợp phạm nhiều tội; làm rõ những bất cập vướng mắc và nguyên nhân của chúng Luận văn kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật và trình bày một số giải pháp khác nhằm bảo đảm áp dụng đúng trong trường hợp phạm nhiều tội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nghiên cứu, hệ thống những vấn đề lý luận về phạm nhiều tội;
+ Phân tích các quy định của pháp luật hình sự nước ta về phạm nhiều tội; + Phân tích đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình
sự về phạm nhiều tội, những bất cập, hạn chế và nguyên nhân;
+ Đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về phạm nhiều tội
và một số giải pháp bảo đảm dụng đúng các quy định đó trên thực tế
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chế định phạm nhiều tội trong sự so sánh với quy định pháp luật của một số quốc gia khác trên thế giới và thực tiễn xét xử phạm nhiều tội của TAND huyện Chương Mỹ - Thành phố Hà Nội để nghiên cứu các nội dung của đề tài đã giải quyết, xét xử các vụ án có bị cáo (các bị cáo) phạm nhiều tội
Trang 105.1 Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách hình sự, về tội phạm và hình phạt, về phòng chống tội phạm, về Nhà nước pháp quyền và Cải cách tư pháp
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu có kết hợp trong một tổng thể các phương pháp cụ thể như: Phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống
kê, khảo sát thực tiễn giải quyết các vấn đề được đưa ra nghiên cứu trong Luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận về chế định phạm nhiều tội, đồng thời nâng cao nhận thức về chế định phạm nhiều tội trong luật hình sự Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đưa ra một số giải pháp về lý luận đối với chế định phạm nhiều tội để các nhà làm luật tham khảo sửa đổi, bổ sung hoàn thiện những quy định về phạm nhiều tội trong thời gian tới
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu khoa học chuyên ngành và tài liệu tham khảo đối với cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và cán bộ làm công tác Điều tra, truy tố và đặc biệt là đội ngũ Thẩm phán trong ngành TAND các cấp
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:
Trang 11Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về phạm nhiều tội
Chương 2 Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
Chương 3 Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm định tội danh và quyết định hình phạt đúng trong trường hợp phạm nhiều tội
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ PHẠM NHIỀU TỘI
1.1 Những vấn đề lý luận về phạm nhiều tội
1.1.1 Khái niệm và các dấu hiệu của phạm nhiều tội
Luật hình sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật có đối tượng nghiên cứu và phương pháp Điều chỉnh riêng, tuân theo các nguyên tắc
và có các nhiệm vụ riêng Với tính chất là ngành luật, luật hình sự được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định hình phạt áp dụng đối với người đã thực hiện các tội phạm đó Do vậy: Ngành luật hình sự gắn với
hai nội dung chủ yếu là – “Tội phạm”và “Hình phạt” Tội phạm được quy
định trong BLHS Việt Nam là tội phạm riêng lẻ và các tội phạm được thực hiện có thể mang tính chất độc lập hoặc có thể liên quan đến nhau Thực tế cho thấy rằng, trường hợp phạm nhiều tội xảy ra trên thực tế với tính chất, mức độ nguy hiểm cao hơn so với trường hợp phạm tội đơn lẻ Do sự khác nhau về tính chất, mức độ nguy hiểm dẫn đến sự khác nhau về trách nhiệm hình sự giữa trường hợp phạm nhiều tội và phạm tội đơn lẻ mà không chỉ đơn thuần là phép cộng hình phạt thông thường Chính vì vậy, Điều 41 BLHS năm 1985 (sửa đổi bổ sung; Điều 50 BLHS năm 1999 (được sửa đổi,
bổ sung năm 2009) và Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 đều đề cập và quy định khá cụ thể về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
Tuy nhiên các BLHS này đều chưa đưa ra được khái niệm “phạm nhiều tội”
bằng một Điều luật riêng Do đó, trong quá trình cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự còn thiếu sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về trường hợp này
Trang 13Qua nghiên cứu và thực tiễn đã có tổng kết về khái niệm phạm
nhiều tội Phạm nhiều tội gồm hai khái niệm “phạm tội” và “nhiều”, trong đó “phạm tội” là hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm được mô
tả trong các quy định của BLHS, còn “nhiều” được hiểu là từ hai trở
lên Khi xây dựng khái niệm về phạm nhiều tội có quan điểm cho
rằng: “Chủ thể có nhiều hành vi phạm tội độc lập hoặc chỉ có một hành vi mà hành vi đã thực hiện đó thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm khác nhau thì phạm nhiều tội” [34, tr 45]
Theo nghĩa hẹp, phạm nhiều tội gắn với hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt và là một trường hợp đặc biệt của quyết định hình phạt [8, tạp chí DC&PL)
Trong khoa học luật hình sự, có quan điểm theo đó: “Phạm nhiều tội là
trường hợp một người đã thực hiện nhiều tội phạm khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định mà trong thời gian phạm các tội đó họ chưa bị xét
xử và kết án nay trong thời hiệu truy cứu TNHS bị đưa ra xét xử về các hành
vi phạm tội đã thực hiện.” [17,tr.185]
Theo một quan điểm khác thì: “Phạm nhiều tội được hiểu là trường
hợp các hành vi của người phạm tội do một người thực hiện được quy định không những trong các Điều luật khác nhau mà còn được quy định trong các khoản khác nhau thuộc phần các tội phạm của BLHS và người phạm tội chưa
bị xét xử về tội nào đó trong số tội ấy” [48, tr.211]
Khái niệm phạm nhiều tội đã được quy định trong luật hình sự một số
nước Chẳng hạn theo Điều 45 BLHS Nhật Bản thì: “Phạm nhiều tội là
trường hợp mộtngười thực hiện hai hoặc nhiều tội phạm mà đối với các tội đó chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, khi bản án phạt tù không có quy định lao động bắt buộc hoặc hình phạt nặng hơn của Tòa án được tuyên đối với một tội phạm đã có hiệu lực pháp luật thì chỉ có tội phạm đó và tội
Trang 14phạm khác được thực hiện trước khi bản án nói trên có hiệu lực pháp luật mới tạo thành trường hợp phạm nhiều tội”[19 tr.21]
Từ những phân tích nêu trên, có thể xây dựng khái niệm về phạm nhiều tội như sau:
“Phạm nhiều tội là trường hợp một chủ thể (cá nhân hoặc pháp nhân thương mại) phạm từ hai tội trở lên hoặc khi hành vi của chủ thể có dấu hiệu của từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại các Điều luật khác nhau (hoặc các khoản khác nhau của cùng một Điều luật nếu các đối tượng của tội phạm khác nhau) được quy định trong phần các tội phạm của BLHS, chủ thể phạm tội chưa bị xét xử về các tội đã phạm và các tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu TNHS”
Từ khái niệm trên và nghiên cứu “Chế định phạm nhiều tội trong luật
hình sự Việt Nam” [26, tr.16,22,32,35,43] có thể xác định dấu hiệu của phạm
nhiều tội là:
Phạm nhiều tội là một dạng đặc biệt của hành vi phạm tội, thể hiện rõ
ở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi Mức độ nguy hiểm cho xã hội được hiểu là chuẩn đánh giá, so sánh tính nguy hiểm cho xã hội giữa các trường hợp phạm tội cụ thể đã thực hiện thuộc khung hình phạt của từng tội phạm Mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cụ thể đều được thể hiện qua sự thống nhất của hai yếu tố là mức độ phủ định khách quan của tội phạm (mức độ gây thiệt hại) và mức độ phủ định chủ quan của tội phạm (mức độ lỗi)
Thứ nhất, về mức độ gây thiệt hại của tội phạm thì trong trường hợp
này, người phạm tội phạm nhiều tội tức là từ hai tội trở lên, mỗi tội phạm đều
có đối tượng bị xâm hại, tác động riêng Do đó, khi xét về mức độ thiệt hại thì phạm nhiều tội thường gây ra thiệt hại lớn hơn so với trường hợp phạm tội đơn lẻ Điều này dẫn đến hậu quả pháp lý mà người đó phải chịu cũng nghiêm khắc hơn
Trang 15Thứ hai, về mức độ lỗi của tội phạm Ý chí quyết tâm phạm tội của chủ
thể trong trường hợp phạm nhiều tội bao giờ cũng cao hơn trường hợp phạm tội đơn lẻ, đồng thời xét về khả năng nhận thức tính nguy hiểm của hành vi phạm tội thì trong trường hợp này, chủ thể cũng thấy được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi cao hơn vì hành vi phạm tội của họ cùng một lúc xâm hại đến nhiều khách thể khác nhau
1.1.2 Các trường hợp phạm nhiều tội
Khoa học luật hình sự cũng như trong thực tiễn xét xử khi xem xét việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và nghiên cứu
“Các hình thức biểu hiện của chế định phạm nhiều tội trong Luật hình sự
Việt Nam” [12,Tạp chí NN&PL) đã ghi nhận hai trường hợp của phạm
Một là: Người phạm tội thực hiện nhiều hành vi cấu thành các tội
riêng lẻ nhưng không liên quan đến nhau Ví dụ: Nguyễn Văn A đến nhà ông
B trộm một chiếc ti vi trị giá 5.000.000 đồng mang về nhà cất giấu Sau đó đến nhà ông C lừa đảo chiếm đoạt một chiếc xe máy trị giá 10.000.000 đồng Khi đi tiêu thụ ti vi và xe máy thì bị phát hiện bắt giữ Như vậy A đã thực
hiện hành vi “Trộm cắp” của chủ sở hữu khác, sau đó lại thực hiện hành vi
“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của chủ sở hữu khác, hai hành vi này không liên quan đến nhau Nguyễn Văn A bị truy tố xét xử 2 tội: Tội “Trộm cắp tài
sản” theo Điều 138 BLHS năm 1999 (Điều 173 BLHS năm 2015); tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 139 BLHS năm 1999 (Điều 174 BLHS
năm 2015)
Trang 16Hai là: Người phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng có
liên quan với nhau, thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm độc lập khác nhau Ví dụ: Nguyễn Văn A muốn cướp chiếc đồng hồ của anh B đang đeo trên tay A
đã có hành vi dùng dao chém đứt cánh tay của anh B rồi cướp chiếc đồng hồ
Như vậy A muốn “Cướp tài sản” của anh B đã thực hiện thêm hành vi “Cố ý
gây thương tích” với anh B Nguyễn Văn A bị truy tố, xét xử về 2 tội: Tội “Cố
ý gây thương tích” theo Điều 104 BLHS năm 1999 ( Điều 134 BLHS năm
2015) và tội “Cướp tài sản” theo Điều 133 BLHS năm 1999 (Điều 168 BLHS
năm 2015)
Trường hợp này xảy khi chủ thể thực hiện nhiều hành vi phạm tội biểu hiện ra mặt khách quan mà mỗi hành vi này lại CTTP riêng lẻ một tội độc lập được quy định trong BLHS Trường hợp này là dễ nhận biết trong việc định tội danh và trong việc quyết định hình phạt, thường không vướng mắc trong thực tiễn;
Trường hợp thứ hai: Người phạm tội thực hiện một hành vi phạm tội
nhưng hành vi này lại thỏa mãn cấu thành hai hay nhiều tội phạm cụ thể Thực tiễn đã chỉ ra rằng, không phải cứ có nhiều hành vi phạm tội thì bị coi là phạm nhiều tội và không phải cứ có một hành vi phạm tội thì chỉ bị coi là phạm một tội Người phạm tội ở đây bị coi là phạm nhiều tội khi không có tội phạm nào loại trừ được tội phạm còn lại do tội còn lại này được coi là đáng kể so với tội phạm đó Trong trường hợp này có thể xảy ra các khả năng sau:
Một là, hành vi phạm tội thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm khác nhau
Ví dụ, Lê Văn H đã gài mìn vào nhà anh P với mục đích giết cả gia đình anh
P để trả thù Hành vi đó của H cấu thành hai tội cụ thể là tội “Giết người” (Điều 93 BLHS năm 1999, Điều 123 BLHS năm 2015) và tội “Hủy hoại tài
sản”(Điều 143 BLHS năm 1999, Điều 178 BLHS năm 2015) vì tội phạm A
muốn thực hiện là tội giết người nhưng sử dụng công cụ phạm tội là mìn (có tính sát thương và phá hủy trên phạm vi rộng) nên đã gây thêm thiệt hại về vật
Trang 17chất do gia đình anh P Do đó có thể xác định đây là trường hợp một hành vi cấu thành nhiều tội
Hai là, hành vi phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm của hành vi đồng
phạm của hai tội khác nhau Ví dụ, một người cố ý cho người khác mượn súng
mà người đó biết rõ người mượn súng, sẽ dùng súng đó để đi giết người, cướp tài sản Trong trường hợp này, hành vi phạm tội của người cho mượn súng
đồng thời thỏa mãn dấu hiệu của hành vi đồng phạm tội “Giết người” (Điều
93 trong mối liên hệ với Điều 20 BLHS năm 1999; Điều 123 trong mối liên
hệ với Điều 17 BLHS năm 2015) và đồng phạm tội “Cướp tài sản” (Điều 133
trong mối liên hệ với Điều 20 BLHS năm 1999; Điều 168 trong mối liên hệ với Điều 17 BLHS năm 2015)
Ba là, hành vi phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm của một tội phạm
cụ thể và thỏa mãn cấu thành tội phạm của hành vi đồng phạm của một tội
phạm khác Ví dụ: Nhân viên hải quan đã nhận lợi ích vật chất của người khác
rồi cho người đó vận chuyển hàng hóa qua biên giới buôn bán trái phép Trong trường hợp này, hành vi của nhân viên Hải quan vừa thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội nhận hối lộ theo Điều 279 BLHS năm 1999 (Điều 354 BLHS
năm 2015) vừa thỏa mãn dấu hiệu đồng phạm tội “Buôn lậu” theo Điều 153
trong mối liên hệ với Điều 20 BLHS năm 1999; (Điều 188 trong mối liên hệ với Điều 17 BLHS năm 2015)
Đặc biệt có thể có những cặp CTTP có quan hệ đặc biệt với nhau mà một khi hành vi phạm tội đã thỏa mãn một CTTP thì cũng đồng thời thỏa mãn CTTP kia Do vậy, trong trường hợp này, hành vi phạm tội tuy thỏa mãn nhiều CTTP nhưng không thể áp dụng tất cả các Điều luật quy định CTTP đó
mà chỉ được phép chọn một trong số đó để áp dụng Đây là trường hợp thỏa mãn nhiều CTTP về hình thức Quan hệ đặc biệt của những cặp CTTP trong trường hợp này như quan hệ giữa trường hợp bình thường với trường hợp
tăng nặng hoặc giảm nhẹ [4,tr.19] Ví dụ, quan hệ giữa tội “Giết người” quy
Trang 18định tại Điều 93 BLHS năm 1999 (Điều 123 BLHS năm 2015) với tội “Giết
con mới đẻ” quy định tại Điều 94 BLHS năm 1999 (Điều 124 BLHS năm
2015); quan hệ giữa trường hợp chung với trường hợp riêng, ví dụ: Giữa tội
“Vô ý làm chết người” quy định tại Điều 98 BLHS năm 1999 (Đ 128 BLHS năm 2015) với tội “Vi phạm quy định về Điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ” quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999 (Điều 260 BLHS năm
2015) Đây là quan hệ giữa tội “Vô ý làm chết người” trong trường hợp chung
với tội vô ý làm chết người trong trường hợp cụ thể (trong lĩnh vực an toàn
giao thông đường bộ) Hoặc có trường hợp là quan hệ thu hút, ví dụ: Một
người thực hiện hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc buộc người quản lý
tài sản phải đưa tài sản ngay cho mình nếu không thì sẽ “Giết chết” Xuất hiện quan hệ giữa tội “Đe dọa giết người” quy định tại Điều 103 BLHS năm 1999 (Điều 133 BLHS năm 2015) với tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 133
BLHS năm 1999 (Điều 168 BLHS năm 2015), đây là quan hệ giữa CTTP bị thu hút và CTTP thu hút Trong trường hợp này, khi hành vi thỏa mãn cấu
thành tội “Cướp tài sản”, hành vi đe dọa dùng vũ lực tước đoạt tính mạng thì cũng đồng thời thỏa mãn CTTP tội “Đe dọa giết người” nhưng chỉ được chọn CTTP tội “Cướp tài sản” (cấu thành tội phạm thu hút) để áp dụng
1.2.3 Phân biệt phạm nhiều tội với một số trường hợp khác
Trong lý luận cũng như thực tiễn áp dụng, trường hợp phạm nhiều tội còn bị nhầm lẫn với: Phạm tội nhiều lần; tái phạm, tái phạm nguy hiểm; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; phạm tội ghép; phạm tội kéo dài; phạm tội đơn
lẻ (phạm một tội) Các trường hợp này đều có những điểm chung nhưng vẫn
có sự khác biệt rõ rệt về bản chất pháp lý
Phân biệt phạm nhiều tội với phạm tội nhiều lần:
Nghiên cứu các quy định của Luật hình sự thấy hiện nay chưa có khái
niệm nào về tình tiết “ phạm tội nhiều lần” Thực tiễn truy tố, xét xử các cơ
quan tư pháp dựa trên một số hướng dẫn sau:
Trang 19Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 02/01/1998 của Bộ nội vụ, VKSND tối cao, TAND tối cao hướng dẫn áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần (đối với một số tội phạm có tính chất tham nhũng và tội phạm liên quan đến tình dục) được hiểu là đã có tất cả từ hai lần phạm tội đó trở lên mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành quy định tại khoản 1 Điều luật tương ứng, đồng thời trong các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT ngày 24/12/2007 của Bộ công an, VKSND tối cao, TAND tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp
dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần” quy định tại khoản 2 các Điều 193, 194,
195, 196, 197, 198, 200 và 201 của BLHS năm 1999; Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của HĐTP TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1999
+ Chủ thể thực hiện hành vi xâm hại từ 02 quy phạm pháp luật (02 quan hệ pháp luật) được các Điều luật cụ thể (Điều luật riêng) quy định trong
Bộ luật hình sự trở nên thì có thể bị coi là phạm nhiều tội
Phạm tội nhiều lần: Cũng như phạm nhiều tội, BLHS chưa đưa ra khái
niệm về trường hợp phạm tội nhiều lần, nhưng từ thực tiễn xét xử và quan điểm của các học giả nghiên cứu thì có thể hiểu: Phạm tội nhiều lần là có từ hai lần trở lên phạm cùng một loại tội, trong đó mỗi lần đều đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nay các lần phạm tội đó được xét xử trong cùng một vụ án Hành vi phạm tội trong trường hợp này là sự lặp lại tội đã phạm trước đó nên có mức độ nguy hiểm cao hơn trường hợp bình thường Từ khái niệm trên, có thể phân biệt về hai trường hợp này như sau:
Thứ nhất, phạm tội nhiều lần là một tình tiết tăng nặng TNHS được
quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999 (điểm g khoản 1 Điều
52 BLHS năm 2015) Khi định tội danh và quyết định hình phạt trường hợp
Trang 20phạm tội nhiều lần, BLHS quy định phạm tội nhiều lần được coi là tình tiết tăng nặng khi đưa ra xét xử cùng một lúc (cùng một vụ án), nếu khi truy tố và xét xử
ở các thời điểm khác nhau thì khi định tội danh và quyết định hình phạt không áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần mà phải theo nguyên tắc tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại Điều 51 BLHS năm 1999
Trong trường hợp phạm nhiều tội được đưa ra xét xử trong cùng một vụ
án, Hội đồng xét xử xem xét định tội danh và quyết định hình phạt đối với từng tội sau đó tổng hợp hình phạt của tất cả các tội
Thứ hai, trong trường hợp phạm tội nhiều lần, người thực hiện tội phạm
chỉ xâm hại đến một khách thể (một quan hệ xã hội), mặc dù đối tượng bị
xâm hại có thể khác nhau.Ví dụ: Một người lén lút vào nhà người khác trộm
cắp 01 xe máy trị giá 15.000.000 đồng, sau khi trộm cắp xong mang xe máy
đi cất giấu, biết nhà bị hại không có người trông giữ lại tiếp tục quay lại trộm cắp một ti vi trị giá 5.000.000 đồng Như vậy, người này bị truy tố xét xử về
tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 BLHS 1999 (Điều 173 BLHS 2015) với tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần”
Còn đối với trường hợp phạm nhiều tội, người thực hiện tội phạm xâm
hại đến các khách thể khác nhau.Ví dụ, Nguyễn Văn A lén lút vào nhà người
khác trộm cắp 01 xe máy trị giá 15.000.000 đồng, sau khi trộm cắp xong mang xe máy đi cất giấu, biết nhà bị hại không có người lớn ở nhà chỉ có 01
cháu bé đang ngủ lại tiếp tục quay lại “Dâm ô với cháu bé” Như vậy, người này bị truy tố xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 BLHS năm 1999 (Điều 173 BLHS năm 2015) và tội “Dâm ô với trẻ em” theo
Điều 116 BLHS năm 1999 (Điều 146 BLHS năm 2015)
Phân biệt phạm nhiều tội với “Tái phạm”, “Tái phạm nguy hiểm”
Trường hợp phạm nhiều tội cũng giống trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm ở chỗ người phạm tội đều có hơn một lần thực hiện các tội phạm nhưng lại có những điểm khác biệt như:
Trang 21Thứ nhất, trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm vừa là tình tiết tăng
nặng TNHS chung, vừa là tình tiết định khung thì phạm nhiều tội là trường hợp được đặt ra để cơ quan xét xử tổng hợp hình phạt đối với nhiều tội mà người phạm tội gây ra;
Thứ hai, nếu như ở trường hợp phạm nhiều tội, người phạm tội có thể
thực hiện nhiều hành vi phạm tội cụ thể, cũng có thể là một hành vi nhưng các hành vi đó có dấu hiệu của nhiều tội phạm thì ở tái phạm, tái phạm nguy hiểm, người phạm tội phải luôn thực hiện nhiều hành vi phạm tội trong những thời gian khác nhau
Thứ ba, người phạm tội trong trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm
đã bị kết án về tội phạm trước, chưa được xóa án tích lại phạm tội mới còn ở trường hợp phạm nhiều tội thì người phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong các tội phạm mà họ gây ra
Thứ tư, trong trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm phải xét đến dấu
hiệu hình thức lỗi của người phạm tội còn phạm nhiều tội thì không đặt ra dấu hiệu này
Phân biệt phạm nhiều tội với phạm tội chuyên nghiệp
Trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp cũng không được quy định trong BLHS, cũng không được nhà làm luật giải thích cụ thể, không có khái niệm Tuy nhiên theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 thì Tòa án sẽ áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khi có đầy đủ các Điều kiện sau đây: Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay chưa bị truy cứu TNHS, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xóa án tích; Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sinh sống chính
Người phạm tội có tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp sẽ bị phạt với mức án nghiêm khắc hơn người phạm tội không có tình tiết này vì
Trang 22khi quyết định hình phạt, Tòa án sẽ không áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm b khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999 (điểm b khoản 1 Điều
52 BLHS năm 2015) Ví dụ, A là một người không nghề nghiệp, chuyên sống
bằng nguồn thu nhập từ việc phạm tội Trong một thời gian, A liên tiếp thực hiện năm vụ trộm cắp tài sản (tài sản chiếm đoạt được trong mỗi vụ có giá trị
từ hai triệu đồng trở lên) Trong trường hợp này, A bị truy cứu TNHS và phải
bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt “phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp”
Đối với trường hợp phạm tội từ năm lần trở lên mà trong đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích thì tùy từng trường hợp cụ thể
mà người phạm tội có thể bị áp dụng cả ba tình tiết là phạm tội nhiều lần, tái
phạm hoặc tái phạm nguy hiểm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp Ví
dụ, B đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa chấp hành hình phạt
hoặc sau khi chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích, B lại liên tiếp thực hiện bốn vụ trộm cắp tài sản, tài sản chiếm đoạt được trong mỗi
vụ có giá trị từ hai triệu đồng trở lên Trong trường hợp này, B phải bị truy cứu TNHS và phải bị áp dụng ba tình tiết tăng nặng là: Phạm tội nhiều lần; tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp
Phân biệt phạm nhiều tội với tội ghép
Bộ luật hình sự năm 1999, BLHS năm 2015 có nhiều tội danh quy định ghép các hành vi phạm tội khác nhau vào cùng một Điều luật (thường gọi là
tội ghép), như các tội: “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác”; “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật”; “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển sử dụng, mua bán hoặc chiếm đoạt trái phép vũ khí quân dụng,
phương tiện kỹ thuật quân sự” ;
Tuy nhiên, hiện chưa có quy định cụ thể về việc xử lý, định tội danh trong trường hợp phạm tội ghép TheoThông tư liên ngành số 01 ngày
Trang 2307/01/1995 của Bộ Nội Vụ, VKSNDTC, TANDTC hướng dẫn: Nếu người phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội mà những hành vi này liên quan chặt chẽ với nhau (hành vi này là Điều kiện để thực hiện, là hậu quả tất yếu của hành vi phạm tội kia) đối với nhiều đối tượng hay một đối tượng thì chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội với tên tội danh đầy đủ các hành vi đã thực hiện Dẫn đến trong thực tiễn Điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng định tội danh đối với các tội ghép không có sự thống nhất; thường hay nhầm lẫn giữa các hành vi phạm tội trong cùng một Điều luật, có trường hợp tách từng hành vi tương ứng với từng tội danh, quyết định hình phạt đối với từng tội danh sau đó tổng hợp hình phạt
Ví dụ: Nguyễn VănA nhặt được một khẩu súng AK, đem cất giấu trong
nhà, một thời gian sau A đem khẩu súng ra sử dụng Trong trường hợp này, A
đã thực hiện hai hành vi phạm tội là: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và
Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, quy định tại Điều 230 BLHSnăm 1999
(Điều 304 BLHS năm 2015) VKS Quận X truy tố A về hai tội: Tội “Tàng trữ
trái phép vũ khí quân dụng” và tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; Tòa
án Quận X chỉ bị xét xử A về một tội danh là tội: “Tàng trữ, sử dụng trái
phép vũ khí quân dụng trái phép” là phù hợp với Thông tư liên ngành số 01
ngày 07/01/1995 của Bộ Nội Vụ, VKSNDTC, TANDTC
Nếu người nào thực hiện nhiều hành vi trong tội ghép, mỗi hành vi trong tội ghép lại thỏa mãn CTTP riêng, mà hành vi này không phải là Điều kiện để thực hiện, là hậu quả tất yếu của hành vi phạm tội kia thì là phạm nhiều tội, phải tuyên bố bị cáo phạm từng tội, quyết định hình phạt của mỗi
tội rồi mới tổng hợp hình phạt Ví dụ: Nguyễn Văn A chế tạo một khẩu súng
kíp, đem cất dấu trong nhà, một thời gian sau A đem khẩu súng ra sử dụng
trái phép Trong trường hợp này, A đã thực hiện ba hành vi phạm tội là: “Chế
tạo vũ khí quân dụng trái phép”; “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Điều 230 BLHS năm
Trang 241999 (Điều 304 BLHS năm 2015) Trường hợp này Nguyễn Văn A phải bị
truy tố và xét xử về hai tội: Tội “Chế tạo vũ khí trái phép vũ khí quân dụng
trái phép” và tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” Tòa án phải
quyết định hình phạt của từng tội danh rồi mới tổng hợp hình phạt
Phân biệt phạm nhiều tội với phạm tội liên tục
Phạm tội liên tục là do một loạt hành vi phạm tội cùng loại, xảy ra kế tiếp nhau về mặt thời gian nhằm đạt tới mục đích của tội phạm Trong một loạt hành vi ấy, có hành vi đã thỏa mãn cấu thành tội phạm, có hành vi chưa
thỏa mãn nhưng đều là tội phạm thống nhất Về phương diện khoa học luật
hình sự thì phạm tội liên tục với phạm tội nhiều lần có rất nhiều điểm giống nhau đó là chúng đều thực hiện ít nhất 2 hành vi cùng loại, các hành vi đó xảy
ra kế tiếp nhau về mặt thời gian và xâm hại một khách thể Nhưng khác cơ bản với phạm nhiều tội là phạm tội liên tục mặc dù thực hiện một loạt hành vi phạm tội cùng loại nhưng chỉ bị truy tố xét xử và bị quyết định hình phạt theo
01 tội danh cụ thể; không bị tổng hợp hình phạt như phạm nhiều tội
Phạm nhiều tội với phạm tội đơn lẻ (Phạm một tội)
Phạm tội đơn lẻ (Phạm một tội) là chủ thể (“chỉ người nào”- theo Điều
2 BLHS năm 1999, khoản 1 Điều 2 BLHS năm 2015 và “chỉ pháp nhân nào”
– theo khoản 2 Điều 2 BLHS năm 2015) phạm một tội đã được quy định trong BLHS và chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một tội đã phạm mà
đã đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm cụ thể, còn phạm nhiều tội là phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm đó khi có các yếu tố cấu thành các tội phạm cụ thể đã được quy định trong BLHS và bị tổng hợp hình phạt chịu trách nhiệm chung hình phạt được áp dụng với loại hình phạt đã tuyên
Ví dù mức hình phạt tù có thời hạn thì khi tổng hợp hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt 30 năm tù, nếu có tội bị áp dụng là chung thân,
hay tử hình thì mức tổng hợp chung là chung thân hoặc tử hình
Trang 25
1.2.Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về phạm nhiều tội
1.2.1 Từ năm 1945 đến 1985
Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời ngày 02 tháng 9 năm
1945 Trong giai đoạn từ năm 1945 đến tháng 4/1975 nhiệm vụ chủ yếu của Nhà nước Việt Nam là giữ vững độc lập dân tộc, đấu tranh thống nhất nước nhà, khắc phục hậu quả chiến tranh, bước đầu xây dựng CNXH ở Miền Bắc Nhà nước ta chưa có Điều kiện hoàn thiện pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự Đến năm 1975 đất nước thống nhất và năm 1976 Nhà nước CHXHCN Việt Nam ra đời Song song với nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ đất nước và quản lý xã hội Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện pháp luật trong
đó có Luật hình sự Đến ngày 27/6/1985 BLHS lần đầu tiên của nước ta được Quốc Hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1986 Việc nghiên cứu pháp luật nước ta thời kì từ năm 1945 đến năm 1985 quy định về chế định phạm nhiều tội có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, do chưa xây dựng được luật hình sự mới, nhà nước ban
hành Sắc lệnh ngày 10/10/1945 cho phép áp dụng luật hình sự của chế độ cũ nhưng không được trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể Dân chủ cộng hòa, nhằm đáp ứng nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội Sắc lệnh ngày 10/10/1945 quy định áp dụng ba BLHS của chế độ cũ tương ứng với ba kỳ là: Luật hình An Nam (Bộ luật Bắc Kỳ) ở miền Bắc, Luật hình Hoàng Việt (Bộ luật Trung Kì) ở miền Trung và BLHS Pháp tu chính (Hình luật Canh Cải) ở miền Nam Cả
ba bộ luật này đều có những quy định tương đối rõ ràng về quyết định hình phạt như các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội Chế định phạm nhiều tội đã được nhận diện và thực thi thông qua quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội Cùng với việc thu nhận một số công chức trong các cơ quan
tư pháp hình sự của chế độ cũ, các quy phạm trên ở chừng mực nhất định đã
Trang 26được áp dụng trên thực tế và có vai trò quan trọng trong việc trấn áp tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự, ổn định đời sống nhân dân
Đến năm 1955 Nhà nước ta ban hành Thông tư số 19 ngày 30/6/1955 quy định chấm dứt hoàn toàn việc áp dụng luật hình sự của chế độ cũ mà áp dụng án lệ mà Nhà nước đã tuyên xử từ năm 1945 cho đến khi Thông tư 19 ban hành
Thứ hai, án lệ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định tội danh và
quyết định hình phạt Thông tư số 19 ngày 30/6/1955 quy định khi xét xử, Tòa án sẽ căn cứ vào đường lối truy tố, xét xử, vào yêu cầu chung và cụ thể đối với từng vụ việc, vào án lệ trong trường hợp chưa có luật, sắc lệnh mới Chỉ thị số 772-TANDTC ngày 10/7/1959 của TANDTC [31] hướng dẫn cụ
thể: “Để xét xử các vụ án hình sự, cần áp dụng luật pháp của nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành từ trước tới giờ, đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ, án lệ của TANDTC” Trước đó, Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Thông tư 44/TTg ngày 19/01/1955 quy định về thống nhất
án lệ của các địa phương thành án lệ chung để trừng trị một số tội phạm thông thường và Thông tư số 556/TTg ngày 24/12/1958 của Thủ tướng quy định một cách toàn diện chính sách truy tố, xét xử đối với các tội phản cách mạng và tội phạm hình sự thường Những quy định trên là cơ sở pháp lý để các cơ quan tư pháp áp dụng tương tự pháp luật và án lệ trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự nói chung cũng như trong trường hợp phạm nhiều tội nói riêng
Thứ ba, trong Luật hình sự nước ta giai đoạn này, chế định phạm nhiều
tội chưa được xây dựng với tư cách là một chế định độc lập Một số quy phạm đơn lẻ về vấn đề này được quy định trong các đạo luật hình sự đơn hành, các văn bản hướng dẫn của Thủ tường Chính phủ và TANDTC Như: Thông tư 556/Ttg ngày 24/12/1958 của Thủ tướng Chính phủ; Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967, Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm
Trang 27tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản công dân ngày 21/10/1970; Báo cáo tổng kết thực tiễn vận dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong công tác xét xử về hình sự ngày 16/01/1976 của Tòa án nhân dân tối cao; Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 30/6/1982
1.2.2 Từ năm 1985 đến năm 1999
Trong mười năm, đất nước hoàn toàn thống nhất, Nhà nước Việt Nam XHCN mới có Điều kiện thuận lợi để hoàn thiện pháp luật trong đó có Luật hình sự Ngày 27/6/1985 BLHS lần đầu tiên của nước ta được Quốc Hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1986 Tuy nhiên trong BLHS
1985 cũng chưa có quy định cụ thể về “Phạm nhiều tội” mà chỉ ghi nhận tại Điều 41 về “Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội” như sau:
“Khi xét xử cùng một lần người phạm nhiều tội, Toà án quyết định hình phạt
đối với từng tội, sau đó quyết định hình phạt chung cho các tội Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của khung hình phạt mà luật quy định đối với tội nặng nhất đã phạm và trong phạm vi loại hình phạt đã tuyên” Đây
là một trong những trường hợp đặc biệt về quyết định hình phạt và ghi nhận
chế định “ Phạm nhiều tội” Ngoài ra trong giai đoạn này đã có nhiều văn bản
hướng dẫn về phạm nhiều tội (gồm có định tội danh và quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội) như:
Nghị quyết số 02/1986/NQ-HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng
Thẩm phán TANDTC hướng dẫn: “Khi xét xử cùng một lần người phạm
nhiều tội, cần chú ý là Tòa án phải quyết định hình phạt đối với từng tội, sau
đó quyết định hình phạt chung cho các tội…”
Công văn số 73/TK ngày 02/3/1995 của TANDTC [32] hướng dẫn về đường lối xét xử loại tội xâm phạm tình dục trẻ em đã nêu rõ: Đối với những trường hợp mà người có hành vi hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm trẻ em hoặc giao cấu với trẻ em dưới 16 tuổi lại có cùng dòng máu về trực hệ với nạn nhân
Trang 28hoặc là anh chị em cùng cha khác mẹ, anh chị em cùng mẹ khác cha với nạn nhân, thì ngoài việc xét xử bị cáo về một tội theo quy định tại Điều 112a, 113a hoặc 114 BLHS còn phải xét xử thêm bị cáo về Tội loạn luân theo Điều
146 BLHS Như vậy, khi xét xử, Tòa án phải áp dụng Điều 41 BLHS để tổng hợp hình phạt của hai tội được quy định tại các Điều 112a, 113a hoặc các Điều 114 BLHS và Tội loạn luân theo Điều 146 BLHS năm 1985 Đối với hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép chất ma túy qua biên giới thì Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 14/02/1995 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ Nội
Vụ, Bộ Tư Pháp [31] cũng đã có hướng dẫn việc áp dụng như sau:“Từ nay trở
đi, đối với mọi hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép qua biên giới chất ma túy
có kèm theo hành vi xuất cảnh trái phép thì kẻ phạm tội còn bị truy cứu TNHS thêm về Tội xuất cảnh trái phép theo Điều 89 BLHS”
Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 07/01/1995 do TANDTC, VKSNDTC và Bộ Nội Vụ ban hành hướng dẫn áp dụng Điều 95, Điều 96 BLHS năm 1985 như sau: Trong trường hợp người có hành vi chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, với mục đích là chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện một tội phạm khác và tội phạm khác đã được thực hiện thì phải bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về hai tội "chế tạo, tàng trữ, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự" gây hậu quả
nghiêm trọng theo điểm c, khoản 2 Điều 95 BLHS và tội phạm tương ứng đã được thực hiện Trong trường hợp tội phạm khác chưa được thực hiện là một tội nghiêm trọng thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội…Điều 95
Bộ luật hình sự quy định nhiều hành vi phạm tội khác nhau đối với nhiều loại đối tượng khác nhau Vì vậy, trong trường hợp bị can, bị cáo thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà kẻ phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội với tên tội danh đầy đủ các hành vi đã được thực hiện hay về nhiều tội độc lập đối với từng hành vi đã
Trang 29thực hiện và khi xét xử sẽ áp dụng Điều 41 BLHS để quyết định hình phạt
chung Ví dụ: Một người tàng trữ hai khẩu súng quân dụng và mua 5 quả lựu đạn, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội "Tàng trữ trái phép vũ khí
quân dụng" và tội "Mua bán trái phép vũ khí quân dụng"
Điều đặc biệt trong quy định của BLHS năm 1985 đó là có hai giai đoạn liên quan đến quyết định hình phạt cùng loại trong trường hợp phạm nhiều tội Đối với giai đoạn trước, khi quyết định hình phạt có sử dụng cả phương pháp thu hút và cộng toàn bộ; còn giai đoạn sau chỉ sử dụng phương pháp cộng toàn bộ Có sự thay đổi này là do đòi hỏi từ thực tiễn công tác xét xử của Tòa án
BLHS năm 1985 được sửa đổi, bổ sung 04 lần và được Quốc hội thông qua vào: Ngày 28 tháng 12 năm 1989, ngày 12 tháng 8 năm 1991; ngày 22
tháng 12 năm 1992 và ngày 10 tháng 5 năm 1997 quy định về “Phạm nhiều
tội” tại Điều 41 có sửa đổi bỏ cụm từ “…khung hình phạt mà luật quy định đối với tội nặng nhất đã phạm và trong phạm vi…”: thành“Khi xét xử cùng một lần người phạm nhiều tội, Toà án quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó quyết định hình phạt chung cho các tội Hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của loại hình phạt đã tuyên” Sự sửa đổi này tạo Điều kiện áp dụng
thống nhất trong việc tổng hợp hình phạt đối với người phạm nhiều tội
Nhìn chung, trong BLHS năm 1985 và các lần sửa đổi bổ sung ( các năm: 1989, 1991, 1992, 1997) cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành mặc
dù chế định phạm nhiều tội chủ yếu được hiểu và vận dụng theo quy định tại Điều 41 BLHS năm 1985, chưa đưa ra được khái niệm phạm nhiều tội cũng như các dấu hiệu pháp lý của nó Tuy vậy, những quy định trên đã tạo được
cơ sở pháp lý quan trọng cho Tòa án các cấp khi xét xử, quyết định hình phạt nói chung cũng như với trường hợp phạm nhiều tội nói riêng, góp phần đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội BLHS năm1985 được sửa đổi lần cuối ngày 10/5/1997 được áp
Trang 30dụng thi hành kể từ ngày 22/5/1997 cho đến khi được thay bằng BLHS năm
1999 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000
1.2.3 Từ năm 1999 đến năm 2015
Cũng như BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung
và được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 19/6/2009 có hiệu lực từ ngày 01/01/2010) chưa có chương riêng quy định về trường hợp phạm nhiều tội, cũng chưa đưa ra khái niệm pháp lý về phạm nhiều tội mà mới chỉ có hai Điều luật liên quan là: Điều 50 quy định về Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội [4, tr.73,74] và Điều 75 quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội Riêng Điều 75 năm BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định với trường hợp người phạm nhiều tội nhưng có lần phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi thì được tổng hợp hình phạt đối với các tội theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này [4,tr.88,89]
Theo quy định tại Điều 50 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 khi xét xử cùng một lần người phạm nhiều tội, Tòa án phải quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp các hình phạt đã tuyên thành hình phạt chung Theo lý luận chung của luật hình sự, có các nguyên tắc tổng hợp hình phạt là: Cộng toàn bộ hình phạt, cộng một phần hình phạt, thu hút hình phạt Nguyên tắc cộng hình phạt được áp dụng cho mọi trường hợp có thể cộng được, bao gồm hai nguyên tắc là cộng toàn bộ hình phạt và cộng một phần hình phạt Theo nguyên tắc cộng toàn bộ, hình phạt chung bằng tổng các hình phạt Tòa án đã tuyên cho từng tội Để áp dụng nguyên tắc cộng toàn bộ cần phải hội đủ ba Điều kiện: Các hình phạt đã tuyên phải cùng loại hoặc khác loại nhưng quy về cùng loại được, đơn vị tính của từng hình phạt cho phép cộng được; mức hình phạt tổng cộng không vượt quá mức tối đa theo quy định của pháp luật hình sự, hình phạt chung không vượt quá mức cao nhất của loại hình phạt đó Nguyên tắc cộng một phần
Trang 31chỉ được áp dụng trong trường hợp không thể cộng được toàn bộ, vì mới cộng một phần đã đạt mức tối đa mà luật cho phép Nhà làm luật đã cụ thể hóa nguyên tắc cộng hình phạt như sau: Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ; nếu các hình phạt đã tuyên có tội phải chịu hình phạt là cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển thành hình phạt tù có thời hạn theo tỷ
lệ 3 ngày cải tạo không giam giữ = 1 ngày tù có thời hạn để tổng hợp thành hình phạt tù chung nhưng không quá 30 năm đối với hình phạt tù có thời
hạn [4, tr.73] Ví dụ: Tại một phiên tòa sơ thẩm, TAND tỉnh X đã tuyên phạt bị cáo (nguyên là luật sư) Lê Bảo Q: 18 năm tù về “Tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản”; 08 năm tù về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
02 năm tù về “Tội đưa hối lộ”; 06 tháng tù về “Tội làm giả giấy tờ của cơ
quan nhà nước”; 06 tháng tù về “Tội trốn khỏi nơi giam” Tổng hợp hình
phạt theo nguyên tắc cộng toàn bộ, hình phạt chung là 29 năm tù; phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác, các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung
Ngoài ra Điều 50 BLHS 1999 quy định cụ thể về nguyên tắc thu hút hình phạt: Nếu bị cáo vừa có tội bị áp dụng hình phạt tù vừa có tội bị áp
dụng hình phạt tù chung thân thì hình phạt chung là “Tù chung thân” Nếu
bị cáo vừa có tội bị áp dụng hình phạt tù chung thân vừa có tội bị áp dụng
hình phạt tử hình thì hình phạt chung là “Tử hình.” Với các quy định về
quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đã giúp cho thực tiễn
áp dụng dễ dàng định tội danh đối với các hành vi phạm nhiều tội và quyết định hình phạt
1.2.4 Từ năm 2015 đến nay
Sau 17 năm có hiệu lực thi hành (một lần sửa đổi năm 2009), BLHS năm 1999 đã đánh dấu một bước quan trong kỹ thuật lập pháp Việt Nam Tuy
Trang 32nhiên do sự phát triển không ngừng của xã hội và đòi hỏi của thực tiễn Cần
phải có BLHS phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu đề cao “Quyền con
người”, “Bảo vệ Công lý” theo quy định của Hiến pháp năm 2013 Bộ luật
hình sự 2015 đã được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 Do có một số vấn đề sai sót chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn và chưa phù hợp với xã hội học luật hình sự và Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 về việc lùi thời gian thi hành
Bộ luật hình sự năm 2015
Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi và được Quốc hội khóa 14 thông qua ngày 20/6/2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 Qua nghiên cứu thì tương tự như BLHS năm 1999, Bộ luật này cũng chưa có chương riêng quy định về trường hợp phạm nhiều tội, cũng chưa đưa ra khái niệm pháp lý
về phạm nhiều tội mà mới chỉ có hai Điều luật liên quan là: Điều 55 quy định
về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và Điều 103 quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
Riêng Điều 55 thì không thay đổi so với Điều 50 BLHS năm 1999 nên nội dung áp dụng như BLHS năm 1999 Điều 103 [5, tr.41,42,76,77] có nhiều thay đổi so với Điều 75 BLHS năm 1999 Đặc biệt là đối với người phạm tội
có độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi Căn cứ: Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; TAND tối cao đã ban hành: Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016; Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016; Công văn số 301/TANDTC- PC ngày 07/10/2016 và Công văn số 327/TANDTC-PC ngày 07/11/2016 hướng dẫn TAND các cấp thực hiện tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội đối với người dưới 18 tuổi theo hai nhóm độ tuổi cụ thể như sau:
Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được
áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18
Trang 33tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội
Đối với người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:
Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người
đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này;
Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người
đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này;
Đối với người phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 18 tuổi, thì việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau:
Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người
đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 1 Điều này
Nếu mức hình phạt Tòa án tuyên đối với tội được thực hiện khi người
đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ
18 tuổi trở lên phạm tội
Trang 34Kết luận chương 1
Trong phạm vi Chương 1, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý
luận về phạm nhiều tội như: Việc phân biệt giữa “Phạm nhiều tội” với: Phạm
tội nhiều lần; tái phạm, tái phạm nguy hiểm; phạm tội chuyên nghiệp; phạm tội ghép; phạm tội liên tục; phạm tội đơn lẻ từ đó đưa ra khái niệm, đặc điểm, các hình thức phạm nhiều tội; ngoài ra tác giả còn nêu sơ lược về lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định về phạm nhiều tội Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và phạm nhiều tội nói riêng dưới góc độ nhận thức khoa học, về tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình
sự về phạm nhiều tội, trong Bộ luật hình sự cần thiết phải bổ sung khái niệm
phạm nhiều tội Vì:
Phạm nhiều tội phạm là một vấn đề khó và phức tạp Khái niệm phạm nhiều tội cùng với cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý để phân biệt người phạm một tội với người thực hiện nhiều tội phạm Trên thực tế khi chưa có BLHS thì khái niệm phạm nhiều tội được áp dụng theo án lệ; Sắc lệnh; Thông
tư của: Thủ tướng; Liên bộ; TANDTC; chỉ thị của TANDTC; Pháp lệnh Khi các BLHS ra đời (BLHS năm 1985; BLHS năm 1999; BLHS năm 2015) cũng chưa có chương riêng quy định về trường hợp phạm nhiều tội, cũng chưa đưa
ra khái niệm pháp lý phạm nhiều tội, mà trường hợp phạm nhiều tội chỉ được
nhà làm luật đề cập đến tại các quy định đó là “Quyết định hình phạt trong
trường hợp phạm nhiều tội” và “Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội” Do vậy, trong quá trình Điều tra, truy tố, xét xử phạm nhiều tội
gặp không ít khó khăn Trong tương lai gần các nhà làm luật cần thiết phải quy định khái niệm của phạm nhiều tội, giúp cho việc nhận thức đúng đắn, thống nhất về mặt nhận thức nhằm xác định từng hình thức biểu hiện cụ thể của chế định phạm nhiều tội trong thực tiễn từ quá trình Điều tra, truy tố, xét
xử Đây chính là Điều kiện quan trọng đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
Trang 35Chương 2 THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
TRONG TRƯỜNG HỢP PHẠM NHIỀU TỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
có một số người là dân tộc Mường sinh sống tại thôn Đồng Ké, xã Trần Phú Có
32 đơn vị hành chính cấp xã gồm 2 thị trấn và 30 xã Kinh tế đang dần chuyển dịch
từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế tiểu thủ công nghịêp Đặc biệt trên địa bàn có nhiều khu công nghiệp thu hút rất nhiều lao động trong và ngoài địa bàn huyện dẫn đến nhiều tội phạm phát sinh trong đó có nhóm tội phạm phạm nhiều tội
Từ năm 2013 đến năm 2015 TAND huyện Chương Mỹ đã xét xử 515 vụ
án hình sự các loại, có 21 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm nhiều tội Cụ thể:
Có 04 vụ kháng cáo
Giữ nguyên tội danh phạm nhiều tội 02
Có 02 vụ kháng cáo
Giữ nguyên tội danh phạm nhiều tội đã tuyên đối với bị cáo
Có 01 vụ kháng cáo
Cấp Phúc Thẩm giữ nguyên tội danh phạm nhiều tội
(Nguồn:Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ)
Trang 36Trong số 21 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm nhiều tội có 07 vụ án có kháng cáo, Tòa án cấp Phúc thẩm đã xử y án và Đình chỉ xét xử phúc thẩm 02 vụ; Y án về tội danh 05 vụ Không có vụ nào bị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm về lý do định tội danh hoặc quyết định hình phạt không đúng Việc xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không có bị cáo bị xét
xử oan, sai Những vụ án có tính chất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự, gây bức xúc cho xã hội được đưa ra xét xử khẩn trương, kịp thời và được dư luận đồng tình Các phiên toà được tổ chức thực sự trang nghiêm, thể hiện tính dân chủ, khách quan, theo đúng tinh thần Nghị quyết 08 NQ/TW của Bộ Chính trị
2.2 Thực tiễn định tội danh trong trường hợp phạm nhiều tội trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
2.2.1 Thực tiễn định tội danh đúng và nguyên nhân
Thực tiễn từ năm 2013 đến 2015 [2, tr.4,5], TAND huyện Chương Mỹ
đã xét xử 21 vụ án hình sự có bị cáo bị tuyên phạm nhiều tội cụ thể như sau:
Năm 2013 đã xét xử 12 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm nhiều tội Bao gồm:
- 03 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội “ Gá bạc” và tội “ Đánh bạc”;
- 03 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội“Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh
bạc”;
- 02 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội
“Hủy hoại tài sản”;
- 01 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Làm giả
con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”;
- 01 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Làm nhục
người khác”;
- 01 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội “Đánh bạc” và tội “Chống người
thi hành công vụ”;
Trang 37- 01 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội “Đánh bạc” và tội “Cưỡng đoạt
tài sản”
Năm 2014 đã xét xử 04 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm nhiều tội Bao gồm:
- 01 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội “Gá bạc” và tội “Đánh bạc”;
- 01 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Trộm cắp
- 01 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội “Gá bạc” và tội “Đánh bạc”;
- 01 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội
“Đánh bạc”;
- 01 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Cướp giật
tài sản”
- 01 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản”
- 01 vụ có bị cáo bị tuyên phạm tội “Đe dọa giết người” và tội“Hủy
hoại tài sản”
Tất cả 21 vụ án có bị cáo bị tuyên phạm nhiều tội đều đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không có vụ án nào bị kháng cáo mà cấp Phúc thẩm sửa án, hủy án vì định tội danh không đúng, đều được y án về việc tuyên các bị cáo phạm nhiều tội; Không có vụ án nào bị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm do việc định tội danh và tuyên bố bị cáo
Trang 38phạm nhiều tội là không đúng quy định pháp luật hoặc không đúng với diễn biến khách quan của vụ án
Nguyên nhân của việc xác định tội danh (trong trường hợp phạm nhiều tội) đúng là:
Người tiến hành tố tụng; Cơ quan tiến hành tố tụng đã nghiên cứu và
vận dụng đúng về khái niệm phạm nhiều tội là “phạm tội” và “nhiều” đồng thời
nhận thức đúng:
- “Phạm tội” là hành vi thỏa mãn cấu thành tội phạm được mô tả trong các Điều luật quy định cụ thể của BLHS; “nhiều” được hiểu là từ hai trở lên
- Xác định bị cáo bị truy tố đã có nhiều hành vi phạm tội độc lập hoặc chỉ
có một hành vi, mà hành vi đã thực hiện đó thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm khác nhau; hoặc bị cáo thực hiện một hành vi phạm tội nhưng hành vi này lại thỏa mãn nhiều cấu thành hai hay nhiều tội phạm cụ thể mà không có tội phạm nào loại trừ được tội phạm còn lại và tội còn lại này được coi là đáng kể
so với tội phạm đó
Người tiến hành tố tụng; Cơ quan tiến hành tố tụng đã nghiên cứu và phân biệt đúng trường hợp phạm nhiều tội với: Phạm tội nhiều lần; tái phạm, tái phạm nguy hiểm; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; phạm tội ghép; phạm tội kéo dài; phạm tội liên tục; phạm tội đơn lẻ (phạm một tội)
Người tiến hành tố tụng; Cơ quan tiến hành tố tụng đã nghiên cứu và vận dụng đúng các quy định của pháp luật về phạm nhiều tội trong BLHS; trong các Nghị quyết hướng dẫn của TAND tối cao; Thông tư liên ngành và
các nghiên cứu khoa học về chế định “Phạm nhiều tội” theo pháp luật hình sự
Việt Nam
2.2.2 Những khó khăn trong định tội danh và nguyên nhân
Các Bộ luật hình sự đã ban hành và gần đây nhất là Bộ hình sự năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đều chưa có chương riêng quy định về trường hợp phạm nhiều tội, cũng chưa đưa ra khái niệm pháp lý phạm nhiều
Trang 39tội mà mới chỉ có hai Điều luật liên quan đến phạm nhiều tội là: Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, dẫn đến người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng: Xác định không đầy đủ, không đúng các hành vi phạm nhiều tội trên thực tế do nhận thức chưa đúng hoặc không đầy
đủ quy định pháp luật; Nhận thức chưa đúng, không đầy đủ về cấu thành tội phạm đối với các hành vi nguy hiểm do chủ thể cụ thể đã thực hiện xâm phạm đến nhiều tội theo quy định của BLHS; nhận thức không chính xác các tình tiết cụ thể của từng cấu thành tội phạm Do vậy, đã có những vụ án Viện kiểm sát truy tố bị can một tội, khi chuyển hồ sơ đến Tòa án, qua nghiên cứu nhận thấy Cơ quan Điều tra, Cơ quan truy tố chưa nhận thức đúng và đầy đủ về các hành vi phạm tội của bị can đã bỏ lọt tội Tòa án xác định bị can phạm nhiều tội nên đã trả hồ sơ để Điều tra bổ sung về hành vi phạm nhiều tội của bị can đúng với hành vi phạm tội của bị can và diễn biến khách quan của vụ án
Ví dụ như vụ: Nguyễn Thị L bị VKSND truy tố về tội “Đe dọa giết người” Nội dung vụ án như sau:
Do mâu thuẫn trong sinh hoạt gia đình, xảy ra mâu thuẫn giữa Nguyễn Thị L với mẹ chồng, với anh chi em chồng L đã giấu mặt, giấu tên mua 03 sim điện thoại di động, rồi soạn tin nhắn, nhắn nhiều tin nhắn vào máy điện thoại của các thành viên trong gia đình đe dọa giết nhiều người trong gia đình chồng như: Sẽ đổ thuốc sâu vào bể nước, dọa đặt bom trong nhà; đe dọa buổi tối đốt nhà thiêu chết cả nhà Để làm cho các thành viên trong gia đình nhà chồng tin là thật, khoảng 16 giờ ngày 10/5/2015, lợi dụng gia đình nhà chồng
và L sang nhà hàng xóm dự tiệc sinh nhật L được nhờ đi mua chanh, L đã quay về nhà nhặt mảnh xốp châm lửa đốt, rồi thả vào 01 gian nhà của gia đình nhà chồng rồi lại sang nhà hàng xóm dự sinh nhật cùng mọi người
Hậu quả cháy nhà xẩy ra, mọi người chữa cháy kịp thời Giám định thiệt hại cháy nhà do L đốt trị giá là 3.620.000 đồng
Trang 40Kể từ khi nhận được nhiều tin nhắn đe dọa giết người Gia đình chồng
L luôn lo sợ, gửi đơn kêu cứu đến cơ quan Công an thành phố
Quá trình Điều tra xác định được L chính là người đã thực hiện các hành vi như đã nêu trên
VKS truy tố L và chuyển hồ sơ đến Tòa án đề nghị xét xử L về tội
“Đe dọa giết người” theo điểm a khoản 2 Điều 103 Bộ luật hình sự năm 1999
(phạm tội trong trường hợp định khung: Đối với nhiều người)
Như vậy đã có sự nhận thức không đúng, không đầy đủ của VKS về hành vi của L Mặc dù L thực hiện hành vi “đốt nhà” vừa là biểu hiện ra mặt khách quan làm cho những (nhiều) người bị đe dọa tin rằng việc L đe dọa là có
thể trở thành hiện thực thông qua hành vi “đốt nhà” đã đủ cấu thành tội “Đe
dọa giết người” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 103 BLHS năm 1999
Tuy nhiên hành vi “đốt nhà” của L còn gây thiệt hại về tài sản và thiệt hại đã được định giá là 3.620.000 đồng vì vậy L còn phạm tội “Hủy hoại tài
sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 143 BLHS năm 1999
Sau khi nghiên cứu Hồ sơ TAND nhận thấy: Hành vi đe dọa giết nhiều người trong gia đình chồng làm cho họ lo sợ hậu quả có thể sảy ra là phạm tội
“Đe dọa giết người” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 103 Bộ luật hình sự
năm 1999
Hành vi cố ý đốt nhà của gia đình nhà chồng, gây thiệt hại tài sản trị giá 3.620.000 đồng không còn khả năng khôi phục do L thực hiện đủ yếu tố
cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 143 BLHS
năm 1999 Trả hồ sơ để VKS Điều tra bổ sung
Sau khi Điều tra bổ sung, VKS truy tố Nguyễn Thị L về tội “Đe dọa
giết người” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 103 BLHS năm 1999 và
tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 143 BLHS năm 1999
Bản án hình sự số 134/2015/HSST ngày 13/11/2015 TAND huyện Chương Mỹ đã Quyết định: