Khi nghiên cứu về sự chăm sóc của gia đình, các nhà khoa học Hàn Quốc cho rằng với những gia đình sống tách biệt, con cái vẫn luôn quan tâm, chăm sóc và có những hỗ trợ về kinh tế cũng n
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HUYỀN GIANG
CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI Ở NÔNG THÔN
TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC
(Nghiên cứu trường hợp xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội , năm 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HUYỀN GIANG
CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI Ở NÔNG THÔN
TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC
(Nghiên cứu trường hợp xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang)
Chuyên ngành : Xã hội học
Mã số : 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN ĐỨC CHIỆN
Hà Nội , năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn
Đức Chiện, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi từ việc gợi mở ý tưởng nghiên cứu
cho đến những nhận xét, góp ý quý báu giúp tôi hoàn thành tốt luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tham gia khoá đào tạo cao học năm 2015 - 2017 tại Học viện Khoa học Xã hội
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn trân trọng tới các thầy giáo, cô giáo, các cán bộ của Học viện Khoa học Xã hội đã trang bị cho chúng tôi đầy đủ cơ sở, trang thiết bị học tập, và trang bị những kiến thức và bài học bổ ích trong quá trình tôi học tập tại đây
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ xã Yên Mỹ, các cá nhân, gia đình
đã tham gia vào cuộc nghiên cứu giúp tôi có nguồn dữ liệu phong phú
Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp - những người đã luôn ủng hộ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình tôi học tập và làm việc trong thời gian qua
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huyền Giang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Huyền Giang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 20
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 20
1.1 Khái niệm chủ chốt 20
1.2 Các lý thuyết nghiên cứu 22
1.3 Cách tiếp cận nghiên cứu 25
1.4 Đặc điểm địa bàn khảo sát 30
1.5 Đặc điểm người cao tuổi trong mẫu khảo sát tại địa phương 33
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI TRONG GIA ĐÌNH Ở XÃ YÊN MỸ, LẠNG GIANG, BẮC GIANG 38
2.1 Sắp xếp nơi ở của người cao tuổi 38
2.2 Lao động - việc làm của người cao tuổi 44
2.3 Chăm sóc vật chất cho người cao tuổi 50
2.4 Chăm sóc tinh thần đối với người cao tuổi 57
CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI CỦA HỌ HÀNG, LÀNG XÓM VÀ NHÀ NƯỚC 65
3.1 Anh em họ hàng và làng xóm chăm sóc người cao tuổi 65
3.2 Các chương trình chăm sóc của Nhà nước đối với người cao tuổi 69
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 87
Trang 6DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
GSO
KTXH
Tổng cục thống kê
Kinh tế xã hội
UNFPA
VHLSS
Quỹ Dân số Liên hợp quốc Điều tra hộ gia đình Việt Nam
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Thành phần dân số xã Yên Mỹ năm 2014 31 Biểu đồ 2.2: Số lượng NCT nam, nữ theo nhóm tuổi năm 2017 32
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Già hóa dân số và tuổi già song hành với nhau Châu Âu và Bắc Mỹ là những khu vực đầu tiên trên thế giới bước vào thời kỳ già hóa dân số Ngày nay, già hóa dân số đang là một hiện tượng mang tính toàn cầu, xảy ra với tốc độ khá nhanh, ở các nước phía Nam nhanh hơn ở các nước phía Bắc Theo Liên Hợp quốc tỷ, lệ người già trong tổng số dân Hàn Quốc tăng từ 7% lên 14% chỉ mất 18 năm, Nhật Bản mất 24 năm, Hoa kỳ mất 73 năm, Thụy Điển mất 85 năm và Pháp là 140 năm Theo quy ước của Liên hợp quốc, một quốc gia có tỷ lệ NCT từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 10% dân số được coi là bước vào giai đoạn già hóa dân số Năm 2002, gần 4/5 dân số già của thế giới sống tại Châu Á (52%) và Châu Âu (24%) Việt Nam không nằm ngoài xu hướng này Theo Tổng cục Thống kê năm 2011 (GSO, 2011), tỷ lệ dân số cao tuổi ở Việt Nam sẽ chạm ngưỡng 10% tổng dân số vào năm nay (2017)
Phương Tây là trường hợp ngoại lệ trong cách đối xử với tuổi già vì gắn giai đoạn của cuộc sống này với sự xuống sức trong khi ở hầu hết các nền văn hóa khác tuổi già được diễn giải bằng việc tích lũy kiến thức và gia sản Ở Việt Nam cũng vậy, NCT luôn được trọng vọng trong gia đình và ngoài xã hội, là chỗ dựa về mặt tinh thần, giữ gìn đạo đức và ổn định Nhưng thực tế hiện nay thì sao Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội cho biết 1/3 người cao tuổi trong diện hộ nghèo và cận nghèo, nhất là ở nông thôn, miền núi (Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội, 2006)
Bộ Y tế chỉ ra rằng có khoảng 95% NCT có bệnh, trung bình mỗi người có 2,69 bệnh chủ yếu là bệnh mãn tính không lây (Bộ Y tế, 2006) 70% NCT sống ở nông thôn (HLHPN, 2011), người có lương hưu và được trợ cấp xã hội rất ít Tỷ lệ NCT lao động tạo thu nhập là 40%, tuy nhiên 90% số NCT này lao động không chính thức, không có bảo hiểm xã hội
Hiện nay, hộ gia đình hạt nhân 2 thế hệ (cha mẹ và con cái) chiếm 70% trong khi gia đình mở rộng từ 3 thế hệ trở lên (ông bà – cha mẹ - con cái) ở mức 30% tùy theo từng khu vực (Lê Ngọc Văn, 2010) Kết quả Điều tra mức sống dân cư (VLSS, 2008), tỷ lệ NCT sống cùng con cái giảm từ 79,7% (1992/93) xuống còn 62,61%
Trang 9(2008), tỷ lệ NCT sống cô đơn tăng từ 3,47% (1992/93) lên tới 6,14% (2008) Nghiên cứu về NCT ở các vùng khác nhau đã chỉ ra những nét đặc trưng của khu vực, tác động trực tiếp tới việc chăm sóc NCT Nghiên cứu ở vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ cho thấy mô hình sắp xếp nơi ở và những quan niệm về việc chăm sóc NCT có sự khác biệt đáng kể
Ở nông thôn nói chung và nông thôn Trung du miền núi nói riêng, việc con cái di cư đi làm ăn xa khiến việc chăm sóc NCT diễn ra không thường xuyên Mặt khác, do những quan niệm về nhận thức của các thế hệ và do chính bản thân NCT nên việc sắp xếp cuộc sống của NCT cũng có sự thay đổi đáng kể Thực trạng kinh
tế - xã hội và đời sống của NCT hiện nay đã đặt ra những câu hỏi như NCT ở nông thôn được chăm sóc về vật chất, tinh thần và y tế như thế nào? Họ có những nhu cầu và nguyện vọng gì? Việc đáp ứng các nhu cầu nguyện vọng đó đến đâu? Các chủ thể nào tham gia vào việc chăm sóc người cao tuổi? Các chính sách của Nhà nước quan tâm đến NCT như thế nào? Đâu là chủ thể có vai trò quan trọng nhất trong bối cảnh hiện nay? Dù đã có nhiều nghiên cứu về việc chăm sóc NCT, nghiên cứu chuyên sâu về chăm sóc NCT tại một địa phương thuộc Trung du miền núi vẫn
chưa được tiến hành Đây chính là lý do tôi chọn đề tài “Chăm sóc người cao tuổi
ở nông thôn Trung du miền núi phía Bắc (Nghiên cứu trường hợp xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang)” làm đề tài luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Theo Tổ chức Hỗ trợ NCT Quốc tế, năm 2015, châu Á đứng đầu về tốc độ già hóa dân số Số người trên 60 tuổi tại châu lục này chiếm tới 52% số NCT trên toàn cầu Số liệu của Liên Hợp Quốc năm 2016 cũng cho thấy, trong 10 quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới, một nửa là các nước châu Á, thậm chí Hàn Quốc, Singapore còn đứng đầu danh sách Dự kiến đến năm 2050, số NCT tại châu Á sẽ tăng gấp 5 lần và sẽ chiếm tới 2/3 số NCT trên thế giới1 Mô hình chăm sóc tại gia đình ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singarpore có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam Các nghiên cứu trong khu vực
1
http://www.baomoi.com/gia-hoa-dan-so-tai-chau-a-va-nhung-he-luy/c/19842021.epi
Trang 10đều cho thấy NCT sống trong gia đình là nhiều nhất và thực tế sự hỗ trợ của gia đình đối với NCT cũng rất quan trọng
Hàn Quốc có tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm 11% năm 2010 Quốc gia này đã có nhiều chính sách chăm sóc NCT ngay từ trong gia đình Việc chăm sóc NCT trong gia đình được chia thành 2 loại: Loại chăm sóc sống cùng và loại chăm sóc sống xa Khi nghiên cứu về sự chăm sóc của gia đình, các nhà khoa học Hàn Quốc cho rằng với những gia đình sống tách biệt, con cái vẫn luôn quan tâm, chăm sóc và có những hỗ trợ về kinh tế cũng như những động viên, thăm hỏi về tinh thần đối với cha mẹ mình (78% NCT Hàn Quốc nói rằng những hỗ trợ của họ nhận được chủ yếu vẫn là từ gia đình) (Choi, 1996 Dẫn theo Nguyễn Thị Vân Hạnh, 2011)
Ở Singapore, Chính phủ đặc biệt đánh giá cao vai trò của gia đình trong việc chăm sóc NCT và cho rằng gia đình là nơi chăm sóc NCT lý tưởng nhất Khoảng 85% NCT ở đất nước này đang sống với ít nhất một người con (Angelique Chan,
2001 Dẫn theo Lê Ngọc Lân, 2010)
Những năm trước chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của con trai trưởng trong việc chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ già Tuy nhiên sau đó, việc con cái tham gia vào thị trường lao động nhiều nên việc chăm sóc NCT đã thay đổi, dù gia đình vẫn giữ một vai trò quan trọng, tỷ lệ NCT sống cùng con cháu đã giảm đáng kể Quan điểm về sự phụ thuộc của NCT vào việc chăm sóc sức khỏe của gia đình bắt đầu thay đổi vào cuối những năm 1980 Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự biến đổi quan điểm này chính là sự phát triển các chương trình phúc lợi hưu trí và chăm sóc sức khỏe của Chính phủ (Reiko Yamato,
2006 Dẫn theo Lê Ngọc Lân, 2010)3
Tại Trung Quốc, nghiên cứu về việc chăm sóc NCT ở các vùng nông thôn cũng cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa các thế hệ, chủ yếu là sự hỗ trợ tài chính của cha mẹ cho con cái và ngược lại con cái cho cha mẹ Tuy nhiên sự hỗ trợ của con cái cho cha mẹ bao gồm cả về tài chính và sức lao động, chủ yếu là làm nông nghiệp lúc mùa vụ được coi là lớn hơn so với cha mẹ cho con Điều này cho thấy đời sống của NCT ở nông thôn Trung Quốc ở mức độ lớn hơn còn dựa vào sự
3
Lê Ngọc Lân, 2010, Một số vấn đề cơ bản về NCT Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020
Trang 11hỗ trợ của con cái (Shuzhou Li, Marcus W Feldman ang Xiaoyi Jin, 2004 Dẫn theo
Lê Ngọc Lân, 2010)
Chăm sóc NCT ở châu Âu
Chúng tôi muốn đưa ra một góc nhìn về việc chăm sóc NCT ở châu Âu với nhiều quốc gia nhất có thể nên chúng tôi sẽ dựa vào bài viết của hai tác giả4 về kết quả cuộc điều tra chăm sóc người cao tuổi trong Liên minh châu Âu có tên SHARE (Survey of Health, Ageing and Retirement in Euroupe), được tiến hành trong 10 nước Đức, Áo, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Pháp, Hy Lạp, Ý, Hà Lan, Thụy Điển và Thụy Sỹ vào năm 2004-2005 về chủ đề già hóa và tuổi già Cuộc điều tra SHARE lần đầu cho phép xem xét những chiều cạnh trong 10 quốc gia ở châu Âu
Kết quả cuộc điều tra cho thấy gần một nửa số họ sống gần bố mẹ về mặt địa
lý và 58% tiếp xúc nhiều lần trong tuần với bố mẹ Việc sống chung cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp xúc 1/5 người Ý và Tây Ban Nha sống cùng nhà hay cùng tòa nhà với bố mẹ, và tỷ lệ này ít hơn ở Thụy Điển và Đan Mạch Tuy nhiên,
sự độc lập của các thế hệ không đồng hóa với việc mất đi các mối liên hệ Điều khác biệt chính là việc ở chung rất phổ biến ở các nước phía Nam châu Âu
Tần suất gặp gỡ với bố mẹ diễn ra thường xuyên, sự ủng hộ và giúp đỡ có như vậy không? Các nước phương Bắc (Đan Mạch và Thụy Điển) với sự giúp đỡ là 40% trong khi ở các nước phương Nam (Tây Ban Nha và Hy Lạp) là 25% Tuy nhiên, nhìn về bản chất và tần suất giúp đỡ, can thiệp hàng ngày hay giúp đỡ như mặc, tắm rửa, ăn hay giúp ra vào giường, đi vệ sinh thì ở các nước phía Nam (Tây Ban Nha và Ý) cao hơn Nếu ở chung hay gần như ở chung (sống cùng tòa nhà), tỷ
lệ giúp đỡ thì gần như giống nhau Dù giúp đỡ như thế nào ở Bắc hay Nam thì đó là một hoạt động chủ yếu dành cho nữ giới Với câu hỏi “Ai trong cặp vợ chồng chăm sóc bố mẹ già?” 90% phụ nữ trả lời họ tham gia vào việc chăm sóc trong khi chỉ có 50% nam giới Sự khác biệt này chắc chắn tìm thấy trong việc tổ chức mang tính truyền thống của gia đình, thường là để phụ nữ chăm sóc những người còn lại
4
Jim Ogg, Sylvie Renaut “Les quinquagénaires européens et leurs parents De la famille ou de l'État, qui doit s'occuper des ascendants?”
Trang 12Khi được hỏi về tài chính, Nhà nước đứng ra lo ở 10 quốc gia Cụ thể, Nhà nước và ít nhiều với sự giúp đỡ của gia đình ở nam Âu, hay ở Áo và Đức Còn ở Đan Mạch và Thụy Điển hay Hà Lan, Nhà nước được chỉ định để đáp ứng kiểu nhu cầu này Điều này thể hiện sự độc lập về mặt tài chính giữa các thế hệ Còn về giúp
đỡ trong nhà hay chăm sóc, chăm sóc cá nhân thì chủ yếu cũng là Nhà nước, chỉ trừ
Hy Lạp, gia đình xuất hiện như là cứu cánh có thể để đến giúp người cao tuổi Trong các nước này, Đan Mạch thể hiện sự can thiệp của Nhà nước vào tất cả mọi lĩnh vực giúp đỡ bố mẹ già, ngược lại với Hy Lạp
Cuối cùng, cần phải nhấn mạnh rằng ở các quốc gia ràng buộc trách nhiệm chăm sóc người cao tuổi cho gia đình (Nam Âu, Đức hay Áo) Người trả lời cũng cho rằng không phải chỉ có gia đình phải chăm sóc NCT Do vậy, sự ủng hộ của gia đình đối với NCT không có nghĩa là không cần có sự can thiệp của Nhà nước
Những kết quả nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng ở Tây Ban Nha, người cao tuổi góp phần vào việc chăm sóc cháu vì các bà mẹ trẻ tham gia nhiều vào thị trường lao động Chỗ ở cũng quyết định lớn vì 56% phụ nữ làm việc có mẹ đẻ sống trong cùng thành phố và trong số này thì một nửa sống trong cùng khu phố và 43% sống cạnh mẹ chồng trong cùng thành phố Nếu như ông bà ở Pháp, theo mô hình chung thì trông trẻ vào cuối tuần hay trong kỳ nghỉ thì ông bà ở Tây Ban Nha lại trông trẻ ở nhà mình, nhà con gái hay con dâu, trên cơ sở hàng này như đón ở nhà trường hay chuẩn bị bữa ăn cho trẻ Sự giúp đỡ quan trọng đến mức mà không có sự ủng hộ của ông bà, phụ nữ trẻ Tây Ban Nha không thể làm việc (Tobio, 2001, dẫn theo Martine Ségalen, 2014) Tuy nhiên, theo mong muốn của gia đình, thì Nhà nước phải can thiệp để xây dựng các cơ sở cho việc giữ trẻ Điều này có thể làm tăng tỷ lệ sinh đẻ
Tình hình cũng giống như ở Italia, ông bà, đặc biệt là bà cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc giữ cháu cho con gái hay con dâu làm việc Điều này quan trọng tới mức mà người cao tuổi cũng là đối tượng tranh luận về vị trí của mình trong đoàn kết công cộng và tư nhân, cũng như trong chính sách đối với gia đình Ở Pháp thì cũng tương tự, vào đầu thế kỷ thứ 21, ông bà có thể tỏ ra hào phóng, bởi vì
họ có lương hay trợ cấp và một khoản tiết kiệm trong quá trình làm việc nên các mối liên hệ tình cảm và quà, ví như mua quần áo cho trẻ là một sự giúp đỡ gián tiếp
Trang 13những gia đình trẻ Tuy nhiên, điều này không tạo ra một sự phụ thuộc (Martine Ségalen, 2014)
Tình hình không như thế ở nước Nga hậu Xô-viết, nơi mà ông bà duy trì một
vị trí thống trị bởi vì họ là những người duy nhất có khoản thu nhập ổn định Đối lập với những người bằng lứa tuổi ở tây Âu thể hiện cho sự năng động, ông bà ở Nga không tìm cách để mình tươi trẻ, thường chùm khăn trên đầu Họ tự động gán cho mình vào vai trò của người già; bằng cách đổi lại sự mất tuổi trẻ và sự quyến rũ của mình, họ thống trị toàn bộ gia đình bởi vì họ đảm bảo sự sống còn của con và cháu, lương thì có thể không có nhưng trợ cấp thì có, những người làm bà thường
có những ngôi nhà nhỏ, có vườn, đảm bảo một phần cho lương thực gia đình (Elizabeth Gessat, 2001; dẫn theo Martine Segalen, 2014)
Ở Hoa kỳ, cũng như nhiều quốc gia phát triển khác, trên 65 tuổi thì được coi
là NCT Theo ước tính vào năm 2005, Hoa Kỳ có gần 36 triệu NCT Theo dự đoán
sẽ có 72 triệu người vào năm 2030, khoảng 1/5 dân số, và số lượng những người rất già tức trên 80 tuổi sẽ vượt 10 triệu người Trong số NCT, NCT da trắng chiếm 83% Những người già chủ yếu sống ở ngoại thành, và có 3 nơi tập trung những người già cao nhất là Floride, các bang thuộc trục Đông – Bắc (Pennsylvania, Virginia) và các bang nông thôn của Middle West do tác động của lực hút và đẩy
Có thể nói, ở nơi nào có ánh mặt trời, sự năng động của thị trường bất động sản hay các dịch vụ mà các bang này cung cấp ra đều lôi cuốn được người cao tuổi (Christian Pihet, 2003)
Một trong những thách đố chính mà NCT ở Hoa Kỳ phải đối diện là sự cân bằng cần phải thiết lập giữa việc rút lui khỏi đời sống xã hội (về hưu) và hệ tư
Trang 14tưởng thống trị của xã hội về việc làm và thành đạt Thực ra, NCT Mỹ làm việc dài hơn những người châu Âu, chỉ 40% người Pháp làm việc giữa 55 và 64 tuổi thì ở
Mỹ là 62% Gần 20% các cụ ông trên 65 tuổi vẫn còn làm việc, tỷ lệ này chỉ dừng lại khi họ trên 75 tuổi (Christian Pihet, 2003) Nhiều yếu tố giải thích hiện tượng này Thứ nhất, tuổi hạn chế để về hưu bị bác bỏ đối với hầu hết cả nghề nghiệp vào năm 1984 Họ chỉ về hưu khi mà các cá nhân tìm được mức trợ cấp cao nhất có thể Hai yếu tố giải thích việc kéo dài thời gian làm việc: Chủ nghĩa tiêu dùng và sự lao động như là một giá trị xã hội Thứ nhì, khoảng 10% những người cao tuổi nhất có thu nhập dưới mức nghèo khổ, thường là những người làm việc chân tay không có tay nghề Thứ 3, đời sống hội đoàn cũng là một nhân tố quan trọng Hiệp hội những người về hưu Hoa Kỳ được thành lập năm 1958, là hiệp hội mạnh nhất của những NCT trên thế giới, có tới 35 triệu thành viên tức là một nửa số người Mỹ trên 50 tuổi với chức năng cung cấp những lời khuyên về nhà ở, giúp đỡ gia đình…
Trong những năm 1960, nhờ vào các đời tổng thống Kennedy và Johnson với khẩu hiệu “xã hội vĩ đại” với việc thông qua các văn bản luật về NCT: Năm 1965, thông qua Đạo luật người cao tuổi Mỹ (Older Americans Act) dẫn đến việc thành lập nhiều dịch vụ trong đó có giúp đỡ tại nhà Sau đó tạo ra Medicare, bảo hiểm ốm đau dành cho người trên 65 tuổi và Medicaid, bảo hiểm bổ sung cho bệnh tật dành cho người nghèo Thành lập nhiều phòng chăm sóc sức khỏe (health centers), người nghèo tiếp cận tốt hơn Dưới thời tổng thống Reagan, sự bỏ rơi của thiết chế liên bang để mặc cho thị trường với các tập đoàn tư nhân thao túng kéo theo sự tụt lùi nhiều dịch vụ Phát huy giá trị cá nhân và cộng đồng theo một lô-gic tự giúp mình (self-help) Điều này dẫn đến sự phân biệt giữa NCT giàu và NCT nghèo, làm tăng khoảng cách giữa các hộ gia đình Hai khuynh hướng xuất hiện: Thứ nhất, những công ty tư nhân nhìn thấy trong số những người cao tuổi giàu có nhiều tiềm năng và đưa ra các ý tưởng để thu hút họ đến sống bằng cách xây dựng những khu cư trú an toàn được chuẩn mực hóa ở các vùng ngoại ô và du lịch, các sản phẩm về bảo hiểm bệnh tật theo yêu cầu Thứ hai, mong muốn thành lập Bảo hiểm bệnh tật dành cho mọi người (Universal health coverage) hay đoàn kết liên thế hệ, đây là mục tiêu của AARP (Hiệp hội những người về hưu Hoa Kỳ) Tuy nhiên thành công thì vẫn chưa thực sự có được
Trang 15Nhìn chung, tuổi già ở Mỹ gắn với trách nhiệm cá nhân và gia đình song hành với những người cao tuổi Những cam kết đoàn hội thay thế cho những cam kết của các cơ quan công quyền Kinh nghiệm của nước Mỹ là thành quả gặp gỡ giữa một lịch sử xã hội đặc biệt, lịch sử xã hội của chủ nghĩa cá nhân được xây dựng với một lãnh thổ đủ lớn để có thể phát triển những kinh nghiệm đa dạng nhất Nguồn gốc của những quyền lợi này khác nhau Ở Pháp, quyền lợi của NCT đặt trọng tâm vào vai trò người sử dụng các dịch vụ xã hội và y tế xã hội của họ, trong khi mà quyền lợi trước tiên hướng về quyền lao động và công việc của những người tình nguyện ở Hoa Kỳ Đối với nền kinh tế tự do của Hoa Kỳ hậu công nghiệp, việc tạo ra một đội quân lao động NCT là cần thiết (Christian Pihet, 2003)
2.2 Nghiên cứu trong nước
Tổng cục thống kê (GSO, 1999) cho biết năm 1999, Việt Nam có số khoảng 6.1 triệu NCT, năm 2009 xấp xỉ 7,7 triệu NCT và năm 2011 khoảng 8,6 triệu NCT
Dự báo đến năm 2039, Việt Nam sẽ có 19.8 triệu người NCT
Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam năm 2016 là 73,4 tuổi (GSO) Tuổi thọ trung bình của nam và nữ chênh lệch 4-5 năm, xu hướng nữ hóa tuổi già thể hiện ở các nhóm tuổi cao Trong những năm qua có nhiều nghiên cứu về chăm sóc NCT đã được tiến hành và chỉ ra tình trạng lao động, chăm sóc vật chất, chăm sóc tinh thần, sắp xếp chỗ ở cho NCT:
Thứ nhất, NCT nước ta vẫn phải lao động, làm nhiều loại công việc, được trả
công hoặc làm các công việc nội trợ Số liệu điều tra NCT (VNAS, 2011), có khoảng 39% NCT vẫn đang làm việc (tham gia các hoạt động kinh tế trực tiếp hoặc gián tiếp) với những công việc khác nhau Có 60% NCT trong độ tuổi 60 – 69 đang làm việc nhưng tỷ lệ làm việc của nhóm 70 – 79 và 80 trở lên giảm rất nhanh (tương ứng 30% và 11%) Tỷ lệ NCT ở nông thôn làm việc cao hơn so với NCT ở thành thị Bế Quỳnh Nga (2001) cho thấy rằng NCT ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam vẫn còn tiếp tục lao động để tăng thu nhập, thậm chí trong một số trường hợp để kiếm sống Bùi Thế Cường, (1999) cho thấy tỷ lệ lao động của NCT tương ứng là 41% và 35% ở miền Bắc và miền Nam Theo cuộc Điều tra NCT (VNAS, 2011) có khoảng 39% NCT vẫn đang làm việc (tham gia các hoạt động kinh tế trực tiếp hoặc gián tiếp) với những công việc khác nhau Ở độ tuổi 60 - 69 vẫn có tới 60% NCT đang
Trang 16làm việc, nhưng tỷ lệ làm việc của nhóm 70-79 là 30% và 80 tuổi trở lên giảm rất nhanh còn 11%
Với trình độ phát triển kinh tế chưa cao và thực trạng mức sống thấp, NCT mặc
dù đã hết tuổi lao động nhưng nhìn chung đại bộ phận vẫn tham gia các hoạt động kinh
tế ở các mức độ khác nhau nhằm cải thiện đời sống của bản thân và gia đình Do NCT còn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp rất lớn nên tỷ lệ NCT nông thôn làm việc cao hơn so với tỷ lệ NCT ở thành thị (67,2% trong khi ở thành thị chỉ là 20,0% (VNAS, 2011) Như vậy, các nghiên cứu cho thấy NCT vẫn tham gia tích cực vào các hoạt động lao động
Thứ hai, hỗ trợ vật chất cho NCT được biết là sự cung cấp, hỗ trợ cho NCT
tiền, lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng Việc chăm sóc này trước hết đến từ con cháu trong gia đình Nghiên cứu của Trương Sĩ Ánh (1999) cho thấy 90% các bậc cha mẹ lớn tuổi được con cái cung cấp hoặc hỗ trợ lương thực thực phẩm và các vật dụng sinh hoạt hằng ngày, 78% nhận được sự hỗ trợ về tiền bạc và những vật dụng
có giá trị Tác giả cho rằng những người con sống gần nhà hoặc cùng nhà với cha
mẹ thì thường cung cấp, hỗ trợ về lương thực thực phẩm và đồ dùng sinh hoạt, trong khi đó những người con sống ở xa lại giúp đỡ cha mẹ thông qua việc gửi tiền
và hàng hóa có giá trị Con trai, nhất là những người đã lập gia đình chính là nguồn
hỗ trợ kinh tế quan trọng đối với cha mẹ già Bùi Thế Cường (2000) cho rằng sự hỗ trợ và chăm sóc từ các con sống chung hoặc không sống chung, con trai hay con gái đều là nguồn quan trọng nhất đối với NCT Việc giúp đỡ hỗ trợ vật chất của con cháu bao gồm tiền bạc, thức ăn, vật dụng sinh hoạt và hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho cha mẹ là khá phổ biến ở đồng bằng sông Hồng Khi được hỏi về các nguồn thu nhập 42,8% người được hỏi nói được con chu cấp thường xuyên Nguồn này đứng thứ hai sau nguồn từ kinh tế hộ gia đình nhưng cũng rất quan trọng đối với NCT Kết quả nghiên cứu định tính của tác giả Bế Quỳnh Nga (2005), phần lớn những người được phỏng vấn đều cho rằng sự trợ giúp của con trai và con gái đều bằng nhau, đôi khi con gái còn có đóng góp hơn con trai Trong cuộc Điều tra về NCT (VNAS, 2011), 32% NCT cho rằng hỗ trợ từ con cái là nguồn quan trọng nhất Tuy nhiên, sự giúp đỡ có sự khác nhau theo tuổi, theo giới tính và khu vực vùng miền
Ví dụ NCT ở độ tuổi 60 - 69 thì có 47% cho rằng thu nhập từ công việc và 13% cho
Trang 17rằng thu nhập từ hỗ trợ của con cái, trong khi điều này là hoàn toàn ngược lại với NCT từ 80 tuổi trở lên với các tỷ lệ tương ứng là 5% và 66% Hỗ trợ từ con cháu đối với NCT ở thành thị và nông thôn cũng có sự khác nhau đáng kể, NCT ở thành thị hoặc có mức sống cao hơn nhận được nhiều sự hỗ trợ từ con hơn những NCT ở nông thôn hoặc có mức sống thấp hơn Có sự khác nhau như vậy là do NCT sống ở khu vực đô thị có các nhu cầu cho cuộc sống cao hơn, đời sống ở đô thị đắt đỏ hơn
ở nông thôn nên việc con cháu hỗ trợ cho các nhu cầu đó sẽ lớn hơn ở nông thôn Bên cạnh đó, NCT sống ở nông thôn có đất đai và các điều kiện để lao động để tự cung tự cấp, sản xuất ra nhiều sản phẩm tự phục vụ cuộc sống tốt hơn ở đô thị Vì vậy, việc hỗ trợ của con cái đối với NCT có sự khác nhau đáng kể ở khu vực nông thôn và đô thị
Các nguồn hỗ trợ của Nhà nước cũng góp phần chăm sóc đời sống vật chất tốt hơn cho NCT Nghiên cứu của Bùi Thế Cường cho rằng Bảo trợ xã hội của Nhà nước là nguồn thu nhập đáng kể của NCT Thu nhập từ tiền hưu trí phổ biến ở các
cụ sống nội thành Hà Nội, khu vực thị xã (74,9% và 67,8%) Tỷ lệ phụ nữ và các cụ trên 70 tuổi có nguồn thu nhập từ trợ cấp chính sách xã hội khá cao so với nam giới
và các cụ độ tuổi 60 (xấp xỉ gấp đôi) Kết quả Điều tra về NCT (VNAS, 2011) cho thấy khoảng 16% những NCT được hỏi cho rằng lương hưu là nguồn quan trọng nhất và 9% cho rằng trợ cấp xã hội là quan trọng nhất
Như vậy, cùng với sự hỗ trợ giúp đỡ từ gia đình đặc biệt là con cháu đối với NCT thì nguồn hỗ trợ từ Nhà nước dành cho NCT cũng là nguồn vật chất quan trọng của NCT, giúp họ có được cuộc sống ổn định, đảm bảo mức sống tối thiểu
Thứ ba về chăm sóc tinh thần đối với NCT NCT thích trò chuyện tâm sự với
những người xung quanh như con cháu, bạn bè, hàng xóm, việc trò chuyện tâm sự này có ý nghĩa rất quan trọng bởi tình hình hiện nay khi con cháu phải lo toan nhiều việc, di cư đi làm ăn xa, lo được cho cha mẹ đầy đủ vật chất hơn nhưng ngược lại việc trò chuyện, viếng thăm cha mẹ lại không được thường xuyên Theo điều tra về Gia đình Việt Nam (2006) cho biết những khi vui, buồn 37,5% NCT cho biết họ thường trò chuyện và tâm sự với vợ hoặc chồng của mình, 24,8% tâm sự, trò chuyện với con và 12,5% tâm sự với bạn bè hàng xóm Có sự khác biệt giữa NCT là
Trang 18nam và NCT là nữ trong việc trò chuyện tâm sự, các cụ bà nói chuyện với con nhiều hơn các cụ ông
Ngoài nói chuyện tâm sự, việc con cái đã tách hộ về thăm cha mẹ là một chỉ báo giúp cuộc sống của NCT vui vẻ hơn Tâm lý của NCT là thích đông con nhiều cháu, và sự thăm hỏi động viên của con cháu đối với họ làm cho tinh thần vui vẻ, phấn chấn hơn Hirschman và Vũ Mạnh Lợi7 (1996) cho thấy sự liên lạc và thăm nom thường xuyên diễn ra giữa NCT với các con Trong số những người con trưởng thành, khoảng 60% là sống gần cha mẹ, thăm nom hằng ngày hoặc ít nhất là một lần trong tuần Đối với những người sống ở xa hơn (ở những khu vực khác nhau của thành phố) giao tiếp ít hơn một chút (20% hằng ngày và 40% hằng tuần) nhưng vẫn còn rất cao Một tỷ lệ rất nhỏ người trả lời sống rất xa với bố mẹ của họ (làng, thị xã khác nhưng cùng tỉnh hoặc khác tỉnh), chỉ có 10% hoặc ít hơn là có thể viếng thăm
bố mẹ hằng tuần Khoảng cách rõ ràng là một trở ngại chủ yếu đối với những quan
hệ gia đình gần gũi giữa các thế hệ Theo kết quả của Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, việc thăm hỏi cha mẹ có những mức độ khác nhau, 28% thăm hỏi cha
mẹ hằng ngày, 21,5% thăm hỏi một vài lần trong tuần, 17,8% thăm hỏi vài lần trong tháng, 24,3% thăm hỏi vài lần trong năm; 8,1% thăm hỏi vài năm một lần và 3,6% chưa về thăm bố mẹ lần nào trong năm Gia đình ở thành thị có con thăm hỏi cha
mẹ thường xuyên hơn so với gia đình ở nông thôn, đó có thể là do ở nông thôn có
sự di cư từ nông thôn đi kiếm sống nhiều cho nên việc thăm nom cha mẹ sẽ không được thường xuyên vì điều kiện công việc và điều kiện địa lý Điều này phù hợp với nghiên cứu của Hirschman và Vũ Mạnh Lợi cho rằng sự thăm nom của con cái phụ thuộc vào bán kính nơi ở, khoảng cách càng gần thì đến thăm càng nhiều Dù là thăm nom thường xuyên hay không thường xuyên thì tác giả Trương Sĩ Ánh cho rằng hầu hết các bậc cha mẹ đều được con cái thăm viếng
Cùng với sự viếng thăm động viên của con cháu, sự hỗ trợ của con cháu thì bản thân NCT cũng là chỗ dựa của con cháu trong cuộc sống hằng ngày Điều tra về gia đình Việt Nam năm 2006 cũng cho thấy NCT coi việc hỗ trợ con cháu là niềm vui và trách nhiệm, qua đó cảm nhận mình là người có ích cho con cháu Đối với
7 Gia đình và hộ gia đình Việt Nam – Vài nét đại cương từ một cuộc khảo sát xã hội học gần đây Những nghiên cứu xã hội học trong gia đình Việt Nam, NXB khoa học xã hội, 1996
Trang 19con cháu, sự hỗ trợ này của NCT cũng rất quan trọng, bao gồm việc dạy dỗ con cháu, trông nom nhà cửa, nội trợ và chăm sóc các cháu nhỏ
Có thể thấy, việc chăm sóc tinh thần đối với NCT không chỉ là hoạt động trò chuyện tâm sự, viếng thăm NCT mà đôi khi bao gồm cả những hoạt động mà NCT tình nguyện giúp đỡ, giáo dục con cháu, đó cũng là niềm vui của NCT
Thứ tư, nhìn vào sự sắp xếp cuộc sống của NCT Việt Nam có thể thấy đây là
một bản sắc trong văn hóa người Việt “Trẻ cậy cha, già cậy con”, NCT luôn tâm niệm trông cậy vào con cái và lựa chọn mô hình chung sống với con cái là phổ biến Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hầu hết NCT sống chung hoặc sống rất gần với con cái của họ Tác giả Trương Sĩ Ánh8 cho biết đa số NCT đều sống chung với một hoặc nhiều trong số con cháu của mình, việc NCT sống độc thân không phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ Phần lớn NCT sống chung với con, thích được sống chung với con trai đã kết hôn đặc biệt là ở vùng đồng bằng sông Hồng (Knodel và cộng sự,
2000, dẫn theo Giang Thanh Long và Wade Donald Pfau)
Việc lựa chọn sống với ai là một sự kiện quan trọng của NCT để có thể đảm bảo được cuộc sống ổn định về mặt vật chất và tinh thần NCT chủ yếu sống với con và phần lớn sống với gia đình con trai Trước đây NCT thường sống với gia đình người con trai trưởng nhưng hiện nay có bước chuyển đó là sống với gia đình người con trai út (Bế Quỳnh Nga, 2005) Một số nghiên cứu khác cho rằng, xu hướng sắp xếp cuộc sống thiên đằng nội phổ biến ở miền Bắc và miền Trung đặc biệt là ở khu vực nông thôn nhưng tiến đến miền Nam khá nhiều trường hợp NCT lại sống chung với con gái, lý do những người được phỏng vấn đưa ra là con gái thường thương bố mẹ hơn, chu cấp, thăm nom nhiều hơn
Trong bài viết “Bản sắc văn hóa Việt nhìn từ góc độ sắp xếp gia đình” Bùi Thế Cường cũng cho thấy Việt Nam là một đất nước đa dạng về mặt sắp xếp cuộc sống gia đình xét theo khu vực và tộc người Nhưng tính đa dạng này lại tuân theo một sự phân bố khu vực từ Bắc vào Nam thể hiện sự quá độ giữa bản tính Đông Á
8 Tạp chí Xã hội học số 2, 1999 Bài viết là kết quả chủ yếu rút ra từ cuộc điều tra NCT được thực hiện đầu năm 1997 theo chương trình hợp tác giữa Viện Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm Nghiên cứu dân số của trường Đai học Michigan (Mỹ) Mẫu điều tra được thiết kế nhằm đại diện cho 3 khu vực dân cư trong toàn vùng: 1 Khu vực đô thị của thành phố Hồ Chí Minh; 2 Khu vực thành thị của các tỉnh khác trong vùng và 3 Khu vực nông thôn của vùng 840 NCT trở lên (tính đến tháng 12.1996) được chọn ngẫu nhiên tại địa bàn
Trang 20(định hướng đằng nội) và Đồng Nam Á (định hướng gia đình song phương) Điều này
lý giải tại sao càng tiến vào miền Nam thì lại càng có xu hướng sống với con gái, bởi miền Nam nghiêng nhiều hơn về đặc tính văn hóa Đông Nam Á Lê Văn Dụy và cộng
sự sử dụng chỉ số mẫu hệ (số hộ có con rể trên 100 hộ có con dâu) và chỉ ra rằng chỉ số này tăng lên từ Bắc vào Nam, điều đó có nghĩa là định hướng đằng nội tăng lên từ phía ngược lại, từ Nam lên Bắc Chỉ số mẫu hệ ở miền Bắc là 6,8% so với 16,7% ở miền Trung và 26,7% ở miền Nam (Lê Văn Dụy, 1997 Dẫn theo Trương Sĩ Ánh, 1999) Sắp xếp cuộc sống của NCT theo tình trạng hôn nhân của cũng cho thấy có sự khác biệt, tỷ
lệ NCT sống với con chưa kết hôn cao hơn tỷ lệ NCT sống với con đã kết hôn (Tỷ lệ NCT ở nông thôn: sống với con chưa kết hôn 37,8% so với con sống con đã kết hôn là 30,1%) (VNAS, 2011) Việc các con sau khi lập gia đình sống “tách hộ” nhất là các gia đình đông con) có thể là một nguyên nhân khiến cho tỷ lệ NCT sống với con đã kết hôn thấp hơn (Bế Quỳnh Nga, 2005)
Mặc dù các cuộc điều tra đều cho thấy, ở Việt Nam việc sắp xếp cuộc sống của NCT là sống với con cái nhưng hiện nay đang có sự thay đổi khi mà tỷ lệ NCT sống độc thân tăng từ 3,47% năm 1992/93 lên 6,14% năm 2008 (UNFPA, 2011) Theo kết quả phân tích của Giang Thanh Long9 (2011) tỷ lệ NCT sống độc thân cao hơn ở phụ nữ và phổ biến ở khu vực nông thôn Điều này do phụ nữ có tuổi thọ cao hơn nam giới và phụ nữ tái hôn thấp hơn nam giới Tỷ lệ NCT sống trong hộ gia đình khuyết thế hệ chiếm không cao (0,68% năm 1992/93) nhưng tăng lên rõ rệt (1,14% năm 2008) phần lớn loại hộ gia đình này ở nông thôn Đó là do hệ quả của việc di cư nông thôn – đô thị của một độ tuổi lao động nhất định Trong điều kiện
an sinh nước ta còn hạn chế việc sắp xếp cuộc sống như vậy sẽ là một thách thức lớn đối với việc chăm sóc NCT đặc biệt là những NCT ở khu vực nông thôn
2.2.2 Các chính sách chăm sóc NCT
Chăm sóc NCT luôn được Đảng và Nhà nước có những chính sách phù hợp
nhằm giúp NCT có cuộc sống ổn định, phát huy vai trò trong gia đình và cộng đồng
Điều 64 của Hiến pháp năm 1992 quy định: “Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà cha mẹ” Và
9
http://vietnam.unfpa.org/sites/default/files/pub-pdf/Sex%20profile_VIE_Final.pdf
Trang 21điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”
Các Bộ Luật của cũng quy định rõ việc chăm sóc và nuôi dưỡng cha mẹ trong đó có Luật Lao động, Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình
Luật lao động (1994): Định nghĩa NCT, xác định các điều điều kiện lao động, chế độ nghỉ hưu cho NCT tại các điều 123,124 và 145
Năm 2004, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 02/2004/TT- BYT hướng dẫn thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi như được khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật; được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được ưu tiên trong việc khám và chữa bệnh khám Ngoài ra, Tổ chức mạng lưới tình nguyện viên chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại nhà Trường hợp người cao tuổi bị tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa bị ốm đau thì trưởng trạm y tế cấp xã cử cán bộ y tế đến khám, chữa bệnh tại nhà người cao tuổi
Luật NCT ban hành ngày 23/11/2009 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2010
Nghị định số 06/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011 quy định chi tiết và thi hành một số điều của Luật NCT,
Thông tư số 21 ngày 18/2/2011 quy định về quản lý và sử dụng kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NCT tại nơi cư trú, chúc thọ, mừng thọ, biểu dương, khen thưởng đối với NCT Theo đó, đối tượng NCT được hưởng trợ cấp đã được mở rộng, NCT được hưởng trợ cấp từ 85 nay đã hạ thấp xuống từ 80 tuổi trở lên với mong muốn tăng độ che phủ của trợ cấp xã hội cho đối tượng yếu thế này Việc ra đời Bộ Luật NCT đã góp phần thể chế hóa đầy đủ, toàn diện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về NCT, đáp ứng được nhu cầu hội nhập có tính lâu dài
Thông tư 71/2011/TT-BGTVT, Thông tư số 127/2011/TT-BTC đã thể hiện
sự quan tâm của Nhà nước, tổ chức xã hội đối với người cao tuổi và nâng cao hơn đời sống tinh thần của người cao tuổi Tuy nhiên, về cơ sở hạ tầng, phương tiện đi lại chưa chú trọng đến việc thiết kế tạo thuận lợi cho người cao tuổi và rất dễ gây ra tại nạn cho người cao tuổi
Theo Khoản 5, Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 quy định về chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội từ đủ 80 tuổi trở lên
Trang 22Nhìn chung, các chính sách chăm sóc của Nhà nước được nhiều NCT đánh giá tốt NCT không có lương hưu và các khoản trợ cấp từ bảo hiểm từ đủ 85 tuổi trở lên được nhận trợ cấp hàng tháng, nhưng hiện nay đã giảm xuống còn 80 tuổi Điều này làm nhiều NCT hài lòng vì có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế Tuy nhiên vẫn còn nhiều ý kiến không hài lòng với dịch vụ y tế cụ thể là trạm y tế
xã, nhiều ý kiến cho rằng, trạm y tế xã có trách nhiệm chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NCT, lập sổ theo dõi sức khỏe hay khám sức khỏe định kỳ, cử người đến khám bệnh cho người già yếu tại nơi cư trú, nhưng thực tế trạm y tế xã không làm được NCT cho rằng điều này không phải là họ không muốn làm hoặc không đủ trình độ làm mà là do Nhà nước không cấp kinh phí
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng chăm sóc và chiến lược sống của NCT ở nông thôn Trung du miền núi trong bối cảnh biến đổi xã hội cũng như chuyển đổi vai trò của các chủ thể tham gia chăm sóc NCT hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trang 234.3 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn cao học, tính đến nguồn lực như thời gian và tài chính hạn chế nên chúng tôi chỉ nghiên cứu trường hợp tại một xã và làm rõ những vấn đề liên quan đến công tác chăm sóc NCT tại địa phương, đề tài tập trung nghiên cứu tình hình chăm sóc NCT tại 1 xã thuộc tỉnh Bắc Giang, đại diện cho vùng trung
du miền núi phía Bắc Việt Nam
Giới hạn nội dung nghiên cứu: chúng tôi tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa NCT với các mạng lưới gia đình, dòng họ và các tổ chức chăm sóc NCT ở địa bàn nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Câu hỏi nghiên cứu
Trong bối cảnh già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, tình hình chăm sóc NCT ở nông thông Trung du miền núi như thế nào? Vai trò của các chủ thể trong chăm sóc người cao tuổi (Gia đình, cộng đồng và Nhà nước)?
Trong quá trình chăm sóc NCT, liệu có sự thay đổi trong các mặt chăm sóc đối với NCT không? NCT triển khai những chiến lược sống như thế nào để thích ứng với hoàn cảnh mới? Vai trò của NCT ra sao? Có khác biệt như thế nào trong chăm sóc các nhóm NCT ở cộng đồng nông thôn miền núi phía Bắc
5.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Một mặt, gia đình vẫn là chủ thể quan trọng nhất trong việc
chăm sóc NCT Mặt khác, Nhà nước ngày càng có nhiều chính sách chăm sóc đối với người cao tuổi về chăm sóc y tế, vật chất và tinh thần Gia đình và Nhà nước đang có sự kết hợp với nhau trong việc chăm sóc NCT
Giả thuyết 2: Con cái làm những công việc phi nông nghiệp và làm ăn xa,
khiến việc chăm sóc NCT không được thường xuyên về mặt tình cảm nhưng sẽ chăm sóc tốt hơn về mặt vật chất NCT ý thức được áp lực mưu sinh của con cháu, nên việc tự chăm sóc bản thân trở thành phổ biến hơn và thông cảm nhiều hơn với con cháu Họ vẫn tiếp tục các hoạt động bình thường hoặc tìm ra những hoạt động mới, hoặc điều chỉnh các hoạt động để tìm thấy sự cân bằng trong cuộc sống
Trang 245.3 Khung phân tích
5.4 Phương pháp nghiên cứu
* Phân tích tài liệu thứ cấp
- Phân tích tài liệu: Đề tài sẽ tiến hành tổng hợp, phân tích các nguồn tài liệu (thống kê, khảo sát, nghiên cứu) liên quan đến chủ đề già hóa và chăm sóc NCT cũng như các báo cáo tài liệu thống kê ở địa phương
* Phương pháp khảo sát định tính: phỏng vấn sâu và quan sát không tham dự
- Thu thập thông tin tại thực địa: Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn thăm dò với 03 trường hợp nhằm xem xét lại giả thuyết, bổ sung và rà soát bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu và bảng hướng dẫn quan sát Sau đó, chúng tôi thực hiện phỏng vấn sâu và quan sát 25 (13 nữ và 12 nam) trường hợp chính, được chia thành 3 nhóm tuổi 60 – 69, 70 – 79 và trên 80 Người có lương hay không có lương hưu, nguồn lực thực hiện việc chăm sóc (tự bản thân, gia đình, dòng họ, các mạng lưới chăm sóc), nhu cầu NCT như thế nào… Thời gian mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 45 – 60 phút Ngoài ra, chúng tôi đã hỏi 3 đại diện của một số tổ chức trong việc chăm sóc
Chăm sóc Người cao tuổi
Nhà nước
và các
tổ chức
XH
Gia đình
Chăm sóc tinh thần
Chăm sóc vật chất
Chăm sóc ý
tế
Trang 25NCT ở địa phương Việc sử dụng phương pháp định tính đánh giá được thực trạng chăm sóc đối với NCT, thu được nhiều thông tin về nhu cầu, mong muốn của họ
- Quan sát không tham dự: Cũng như kỹ năng phỏng vấn, chúng tôi thiết kế bảng hướng dẫn quan sát Trong quá trình phỏng vấn các đối tượng, đề tài kết hợp quan sát và ghi chép những thông tin liên quan tới vấn đề nghiên cứu Ví dụ quan sát cách sắp xếp, tổ chức cuộc sống của NCT, các trang thiết bị đồ dùng tiện nghi trong nhà, trang phục (quần áo, giày dép, chăn màn), hay miêu tả những dấu hiệu tuổi già ở họ để có đánh giá thêm về cuộc sống của NCT qua đó thấy được thực trạng trong chăm sóc NCT ở địa phương
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hoạt động, lý thuyết buông bỏ, cũng như hai cách tiếp cận thế giới xã hội và tách rời để làm sáng tỏ những vấn đề phức tạp của già hóa dân số và tuổi già của NCT ở nông thôn TDMN Chúng tôi thấy rằng NCT vẫn tiếp tục làm việc vừa là để kiếm sống, vừa là để tìm thấy sức khỏe cũng như niềm vui trong cuộc sống NCT cũng có thể từ bỏ những hoạt động cũ để tìm một cuộc sống yên bình, hay việc họ dần buông bỏ những hoạt động cũ hay rút bớt những công việc cũ để đi tìm những hoạt động mới để bù đắp lại, hay việc duy trì các hoạt động thói quen bằng cách thay đổi hình thức hoạt động Nhìn chung, quá trình này diễn ra phức tạp và việc áp dụng các lý thuyết và cách tiếp cận như vậy là
bổ sung cho nhau để giải thích quá trình già hóa và chiến lược sống của NCT
Cách tiếp cận phúc lợi xã hội thông qua khái niệm thế hệ dẫn đến hai loại đoàn kết gia đình và xã hội, từ đó trách nhiệm chăm sóc NCT thuộc về gia đình hay Nhà nước
và xem xét xem hiện trạng chăm sóc NCT theo kiểu loại Nhà nước phúc lợi nào Chúng
ta thấy nên vận dụng khái niệm ấy để lý giải xem trách nhiệm của mỗi bên ra sao
Chúng tôi giới thiệu và vận dụng các lý thuyết và cách tiếp cận về già hóa và tuổi già vào nghiên cứu Điều này giúp ích cho những nghiên cứu sau vận dụng nó
và có thể tìm hiểu hay phát triển những điểm mà chúng tôi chưa đề cập đến hoặc chưa hoàn thiện
Trang 266.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua tìm hiểu và đánh giá thực trạng chăm sóc NCT ở một cộng đồng nông thôn TDMN phía Bắc Kết quả nghiên cứu này sẽ có ý nghĩa thực tiễn trong việc đề xuất các khung chính sách nên đi theo mô hình chăm sóc NCT như thế nào nơi mà Nhà nước hay gia đình phải chăm sóc NCT, hay phải kết hợp cả hai và khuyến khích các hình thức chăm sóc khác như bà con họ hàng hay đoàn thể nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCT ở vùng nông thôn TDMN Mô hình chăm sóc NCT
có sự kết hợp giữa gia đình và Nhà nước, theo mô hình của các nước nam Âu là hợp
lý Trong bối cảnh Việt nam, Nhà nước nên trợ cấp nhiều hơn về mặt tài chính và y
tế, còn việc chăm sóc trong cuộc sống hàng ngày thì gia đình nên đảm nhận
Đây có thể nói là một trong những chuyên khảo đầu tiên về chăm sóc NCT bằng phương pháp xã hội học được tiến hành ở nông thôn Trung du miền núi Chúng tôi áp dụng lý thuyết, cách tiếp cận để nêu bật được thực trạng chăm sóc
NCT Những nghiên cứu sau này có thể tham khảo công trình của chúng tôi
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, báo cáo kết cấu theo 4 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
Chương 2: Tình hình chăm sóc người cao tuổi trong gia đình
Chương 3: Tình hình chăm sóc người cao tuổi của bà con họ hàng, làng xóm
và Nhà nước
Trang 27NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm chủ chốt
1.1.1 Người cao tuổi (NCT)
NCT có thể được xem xét trên ba phương diện: luật pháp, sinh học và xã hội Phương diện luật pháp: Theo Liên hợp quốc, ở các nước phát triển, từ 65 tuổi được cho là NCT (UNFPA, 2012) Ở Việt Nam, NCT được quy định từ 60 tuổi trở lên.10
Phương diện sinh học: NCT thường có nhiều nếp nhăn, vận động tay chân không còn linh hoạt, hệ tiêu hóa, tim mạch, hô hấp kém đi dẫn tới cơ thể bị suy nhược
Phương diện xã hội: Đời sống NCT có một chuỗi các mất mát như: mất tuổi thơ, mất tuổi trẻ, mất bố mẹ… khi tuổi càng cao, sự mất mát càng lớn: mất công việc, mất vai trò gia đình, mất sự tự chủ, mất hình ảnh về bản thân, mất đi những lý tưởng không thể thực hiện được
- Với việc về hưu: Đó là lúc dừng các hoạt động nghề nghiệp Đối với nhiều người, đó là việc mất đi vai trò xã hội Sự thay đổi nhịp sống và việc giảm phần cống hiến trong quan hệ có thể kéo theo nỗi buồn, cảm giác vô dụng, sự bừa bãi hay nhu cầu mãnh liệt tiếp xúc bên ngoài Rất nhiều người thay thế nghề nghiệp của mình bằng một vai trò xã hội khác (hội đoàn, tổ chức thiện nguyện…)
- Mất đi vai trò gia đình: Việc con cái ra ở riêng hoặc sự rút lui của NCT khỏi các hoạt động của gia đình khiến họ mất dần đi vai trò trong một số công việc của gia đình
- Mất đi sự tự chủ: Việc mất đi sự tự chủ có nguyên nhân từ việc dần mất đi các khả năng trí tuệ và thể chất Trước hay sau thì tuổi già cũng kéo theo sự phụ thuộc, diễn ra theo một cách tăng dần
- Mất mát trên phương diện hình ảnh cơ thể: Cơ thể thay đổi và yếu đi, các nét tươi trẻ trên khuôn mặt không còn nữa
10 Luật số 39/2009/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009 cao hiệu lực ngày 1/7/2010
Trang 281.1.2 Chăm sóc
Thuật ngữ “Chăm sóc là hoạt động nhằm duy trì, điểu chỉnh vào lúc cần thiết để phục hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần cho mỗi người dân”, (Theo Nguyễn Nam Phương và cộng sự, 2016) Chăm sóc NCT là sự trợ giúp để đáp ứng những nhu cầu của tuổi già bao gồm chăm sóc về vật chất (là nhu cầu đảm bảo việc chi tiêu cho việc ăn uống, thuốc chữa bệnh, sinh hoạt, mua sắm các trang thiết bị vật dụng hằng ngày, xây dựng nhà cửa đảm bảo
an toàn…); chăm sóc về mặt tinh thần (đó là việc được tham gia các hoạt động đoàn thể, giao lưu trò chuyện, tâm sự với mọi người xung quanh, tham gia các hoạt động của gia đình dòng họ…); nhu cầu về chăm sóc y tế (đó là việc được thăm khám định kỳ, được cung cấp thuốc đầy đủ và được chữa các bệnh khi có dấu hiệu)
1.1.3 Nông thôn Trung du miền núi phía Bắc
Nông thôn
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã11.Nông thôn là vùng người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp Quy mô dân số và mật
độ dân số ở nông thôn thường thấp hơn so với thành thị
Trung du miền núi phía Bắc
Đây là vùng lãnh thổ phía Bắc đất nước Phía Bắc giáp Trung Quốc, Tây giáp Lào, Đông giáp đồng bằng sông Hồng và biển Nam giáp Bắc Trung Bộ TDMN phía Bắc nằm liền kề với đồng bằng sông Hồng – cái nôi của nền văn hóa Việt Nam
Trung du miền núi phía Bắc bao gồm Đông Bắc và Tây Bắc, có đặc điểm chung là chịu sự chi phối sâu sắc của độ cao địa hình.Vùng trung du miền núi này chiếm 30% diện tích đất của cả nước Dù có tên gọi là chung là vùng TDMN phía Bắc nhưng tại mỗi khu vực nhỏ, và ở mỗi tỉnh khác nhau lại có những đặc trưng riêng về địa hình, về văn hóa, dân số, xã hội Vì vậy, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vùng trung du ở phía Đông Bắc Nơi có địa hình cao nhưng tương đối bằng phẳng,
là dải đất chuyển tiếp giữa miền núi Bắc Bộ và Đồng bằng sông Hồng Nơi đây có
11
Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 29sự đan xen văn hóa giữa các vùng và giữa các dân tộc nhau, tạo nên những nét đa dạng trong văn hóa vùng này
1.2 Các lý thuyết nghiên cứu
Để có cách nhìn tổng thể về già hóa và tuổi già, chúng tôi muốn giới thiệu hai lý thuyết: Lý thuyết hoạt động và lý thuyết buông bỏ Các lý thuyết về tuổi già này được phát triển ở Mỹ trong những năm 1950-1960 Mục tiêu không chỉ dừng lại việc miêu tả, mà là tìm cách chỉ ra con đường cho tuổi già “thành công” mà tuổi già thành công rất được quan tâm ở Mỹ bằng cách xác định những nhân tố quyết định
“sự thỏa mãn đời sống” hay “no ấm”
Hai lý thuyết này vốn lấy cảm hứng từ lý thuyết chức năng với nhận định cho rằng cá nhân được xác định bằng những vai trò xã hội gắn với vị thế mà cá nhân nắm giữ Với cách nhìn như vậy, đặc trưng của tuổi già là việc mất đi các vai trò vừa mang tính nghề nghiệp vào lúc về hưu và gia đình với sự ra sống riêng của con cái
và vợ hay chồng mất Vậy những người đang già đi này phản ứng như thế nào cho việc mất đi các vai trò? Lý thuyết hoạt động và lý thuyết buông bỏ diễn giải theo cách đối lập nhau: Lý thuyết hoạt động cho rằng có sự bù đắp bằng việc tăng cường hay đạt được những vai trò khác như vai trò ông bà hay trong các hội Lý thuyết buông bỏ cho rằng sự rời xa hay buông bỏ lẫn nhau của NCT và môi trường xã hội
Nhìn qua, chúng ta có thể nhìn thấy sự mâu thuẫn trong hai lý thuyết này, hai cách giải thích đối ngược nhau nhưng già hóa và tuổi già là một quá trình phức tạp
và đa dạng Hai lý thuyết này có thể được coi như hai hình mẫu cho phép mô tả tiến trình già hóa khác nhau hay những thời điểm khác nhau của cùng một tiến trình Trình bày hai mô hình lý thuyết này có thể giúp miêu tả những luồng vận động trái ngược nhau nó quyện vào nhau trong toàn bộ quá trình già hóa và tuổi già
1.2.1 Lý thuyết hoạt động
Lý thuyết hoạt động được phát triển ở Mỹ trong những năm 60 Bằng cách dựa trên một cuộc điều tra được thực hiện trên mẫu là 100 người già sống trong một thành phố nhỏ của Middle West, Robert Havighurst và Ruth Albrecht đưa ra một ghi nhận kép Một mặt, những người được điều tra thể hiện một sự hài lòng nào đó Mặt khác, sự hài lòng này thay đổi rất ít so với tuổi và vị trí xã hội, nhưng lại tương quan mạnh với những “số điểm hoạt động” được các tác giả tính toán Lý thuyết
Trang 30hoạt động cho phép xác định tốt hơn những mong đợi của những người đang già đi trong khuôn khổ tuổi già thành công và những giới hạn bị áp đặt cho một xã hội được cho là đang già đi Trọng tâm của lý thuyết hoạt động nằm trong lời khẳng định theo đó sự thành công của tuổi già có tỷ lệ thuận trực tiếp với số lượng các hoạt động mà chủ thể tiếp tục theo đuổi Để có tuổi già thành công, một cá nhân phải luôn trong tình trạng hoạt động nhất có thể Các tác giả cũng đưa ra nhận định
bổ sung là việc giảm sự hài lòng đối với cuộc sống gắn với việc mất đi các vai trò
xã hội của người lao động, mất đi người vợ hay chồng, mất đi bố mẹ hay mất đi vị trí của người chủ sở hữu (Vincent Caradec, 2015) Do vậy, theo Havighurst và Albrecht, tuổi già thành công đi qua bằng một thái độ duy ý trí nhằm duy trì một mức độ dấn thân cao: đó là việc duy trì hay củng cố nhiều vai trò cá nhân khác nhau tạo thành nguồn thỏa mãn chính ở cá nhân Đó là bù đắp việc mất một số vai trò trước đây bằng việc tăng cường những vai trò khác như là vai trò của ông bà, sự thích ứng được tạo điều kiện thuận lợi bằng “tính uyển chuyển của các vai trò” Các tác giả cũng đưa ra một số lời khuyên cho những người cao tuổi: Chăm lo đến cơ thể của mình Đối với hầu hết mọi người, họ có thể giữ cho cơ thể khỏe mạnh và sức lôi cuốn thể chất của mình nếu họ cố gắng Xây dựng những mối quan hệ bạn
bè mới trong khi họ mất đi những người bạn lâu đời Phát triển những lợi ích của mình đối với những vấn đề xã hội và đối với đời sống của nơi mình sống NCT có thể đọc và thăm dò rõ ràng hơn những vấn đề chính trị và kinh tế, cũng như bỏ phiếu thông minh hơn những người trẻ Phát triển những hoạt động vui chơi giải trí mới Có kế hoạch tốt hơn cho việc về hưu của mình, làm sao để tận dụng tốt hơn các hoạt động thay thế có ý nghĩa một khi về hưu Để cho con cái tự lập và xây dựng với chúng các mối quan hệ dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau chứ không phải một mối quan hệ mà mình thống trị
1.2.2 Lý thuyết buông bỏ
Elaine Cumming và William Henry (1961) đề xuất ra lý thuyết buông bỏ Lý thuyết buông bỏ ra đời đã xem xét lại cách tiếp cận với tuổi giả vì trước đó chính xã hội học về trai trò thống trị tính vấn đề nghiên cứu về tuổi già Các tác giả đề xuất một cách nhìn rất khác về tuổi già Các tác giả cho rằng tuổi già thường song hành với sự lìa xa hay “buông bỏ” lẫn nhau của người đang già đi và của những thành
Trang 31viên khác trong hệ thống xã hội mà người đó là thành viên Có một sự thỏa thuận mặc nhiên giữa cá nhân và xã hội Cá nhân và xã hội bị phân cách bằng những mục tiêu khác nhau của đời sống và dần lìa bỏ nhau Già hóa có thể được trải nghiệm như một sự buông bỏ lẫn nhau giữa cá nhân và xã hội NCT dừng dần hòa quyện vào đời sống xã hội, họ tự cách ly, sức khỏe yếu đi và các hệ thống y tế và xã hội sẽ nhập cuộc và tiếp sức cho đời sống gia đình và xã hội của NCT Sự buông bỏ được thể hiện bằng việc giảm số lượng các vai trò xã hội mà cá nhân nắm giữ, bằng việc giảm các tương tác xã hội và bằng sự thay đổi trong bản chất các mối quan hệ mà từ nay các mối quan hệ đó tập trung nhiều vào các mối liên hệ tình cảm và ít về sự đoàn kết chức năng Lúc kết thúc quá trình này, một sự cân bằng mới đạt được (Vincent Caradec, 2015) Chính vì vậy, theo các tác giả những người trên 80 tuổi đánh giá cao sự tồn tại buông bỏ của họ Họ đã rút bớt các mối liên hệ với cuộc đời,
đã từ bỏ những lo lắng và trách nhiệm và hướng những quan tâm về chính mình Họ sống cuộc đời bình yên, tăng cường quan tâm đến bản thân, đôi khi tự coi mình là trung tâm, cuộc sống đó thích hợp hoàn hảo với họ, việc giảm các tương tác xã hội giúp NCT duy trì sự cân bằng cho bản thân, có lợi cho cá nhân và cho xã hội Nó tạo thành một bước chuyển êm đềm của một cuộc đời đến khi chết là không tránh được Cumming và Henry nhấn mạnh 4 đặc trưng của quá trình buông bỏ: Buông
bỏ lẫn nhau (cá nhân và xã hội), buông bỏ mang tính chức năng, buông bỏ là không thể đảo được, buông bỏ mang tính phổ quát Vincent Caradec diễn giải 4 đặc trưng
đó như sau:
Trước tiên, buông bỏ lẫn nhau tạo thành một kiểu loại chia tách thuận tình, làm hài lòng cả hai bên và sự chia tách đó có thể do ý tưởng của cá nhân đang già đi hay của xã hội: Một mặt, người cao tuổi khi mà sức khỏe giảm đi thì ngày càng hướng về chính bản thân mình và về mặt cảm xúc thì không tha thiết với thế giới nữa Mặt khác, xã hội rút lại từ người cao tuổi những vai trò xã hội mà xã hội đã giao cho họ trước đây
Tiếp theo, buông bỏ mang tính chức năng Trong thực tế, buông bỏ đáp ứng một đòi hỏi cấp bách kép của xã hội: Một mặt, buông bỏ của những người cao tuổi nhất dẫn đến sự thay mới thế hệ trong thế giới lao động và cho phép các thanh niên
có kiến thức mới hơn tiếp cận với những chức vụ quản lý Mặt khác, như thế là xã
Trang 32hội tự bảo vệ mình chống lại những “xáo trộn trong các hoạt động chính” mà khi một người nắm giữ các chức vụ quan trọng mất đi có thể gây ra Ngoài ra, sự buông
bỏ dẫn đến một sự cần thiết tâm lý, sự cần thiết tâm lý đối diện với cái chết: Đến một lúc nào đấy nơi mà cá nhân có ý thức rằng mình sẽ chết và từ bỏ các giá trị thành công của cá nhân
Sau đó, buông bỏ là một quá trình không thể đảo ngược Những tiếp xúc xã hội ít đi, cá nhân trở nên kém tinh thông trong các tương tác xã hội Một khi sự rút lui bắt đầu, việc thiết lập các mối liên hệ mới có thể trở nên khó khăn hơn NCT không biết cần phải ứng xử như thế nào trong những hoàn cảnh không quen và họ
từ chối những loại tình huống này Chính sự khó khăn như vậy có thể làm gia tăng tiến trình buông bỏ Cùng lúc, xã hội áp đặt những chuẩn mực không mạnh lên NCT và họ được tự do trong cách ứng xử của mình
Cuối cùng, buông bỏ mang tính phổ quát, ngay cả khi hình thức buông bỏ có thể thay đổi theo các kiểu văn hóa và theo giới tính Cumming và Henry không chú trọng vào sự đa dạng văn hóa vì sự tương đồng trong mẫu nghiên cứu, nhưng các tác giả cố gắng nêu cụ thể sự khác biệt giữa buông bỏ nam và nữ Nữ giới dễ thích ứng hơn nam giới vì quy mô của những thay đổi mà họ biết ít hơn nam giới: đối với phụ nữ, vai trò xã hội của họ trước tiên là “xã hội-tình cảm”, buông bỏ là sự suy giảm vai trò của họ trước kia Nam giới phải từ bỏ những vai trò quan trọng mà trước đây thuộc về họ
1.3 Cách tiếp cận nghiên cứu
1.3.1 Cách tiếp cận phúc lợi xã hội
Nghiên cứu xem xét hai chiều cạnh: Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa đoàn kết nhà nước và đoàn kết gia đình và đoàn kết giữa các thế hệ chống lại “rủi ro phụ thuộc” ở NCT Xã hội không chỉ phân dân số ra thành các lứa tuổi mà còn định hình mối quan hệ giữa các thế hệ Khái niệm thế hệ bao hàm hai hiện thực khác biệt Khi chúng ta xem xét theo chu kỳ của đời sống gia đình, các thế hệ mang tính gia đình (ông bà, cha mẹ và con cái) Còn nếu xem xét theo vòng đời như nó được thiết chế hóa trong các xã hội hiện đại, các thế hệ tạo thành các thế hệ phúc lợi (generations
of welfare) (thanh niên đang học tập và đào tạo, những người đang lao động, những người về hưu) Từ cách nhìn về thế hệ như vậy, ta có hai loại hình thức đoàn kết
Trang 33khác nhau, đoàn kết gia đình và đoàn kết công (nhà nước), đoàn kết thứ hai nhằm chuyển tiền từ những người làm công ăn lương cho những người về hưu (Vincent Caradec, 2015)
Sự phụ thuộc lẫn nhau của hai loại hình đoàn kết nhà nước và gia đình:
Câu hỏi đặt ra là: Liệu có tồn tại sự phụ thuộc lẫn nhau của hai loại đoàn kết này? Sự can thiệp của nhà nước liệu có làm thay đổi các mối quan hệ giữa các thế
hệ trong gia đình? Điều này đặt ra hai giả thuyết, đó là giả thuyết thay thế hay giả thuyết củng cố lẫn nhau giữa hai loại đoàn kết này
Với giả thuyết thứ nhất, đoàn kết nhà nước thay thế cho đoàn kết gia đình Thứ nhất, đoàn kết nhà nước thế chỗ cho đoàn kết gia đình, nghĩa là Nhà nước bổ sung vào những suy yếu của đoàn kết gia đình, vốn bị xáo trộn do công nghiệp hóa
và chủ nghĩa tư bản ra đời Cùng lúc, sự phát triển của đoàn kết nhà nước gây ra một sự giải thể của gia đình Người ta phản đối giả thuyết thay thế Các nhà xã hội học chứng minh rằng tính hiện đại không làm biến mất đi những sự đoàn kết trong gia đình hay bà con họ hàng Hình ảnh về đoàn kết nhà nước và gia đình không thể tách biệt mà cần phải xen kẽ nhau, bổ sung cho nhau
Đoàn kết giữa các thế hệ chống lại “nguy cơ phụ thuộc”
Ngày nay, sự hài hòa giữa đoàn kết nhà nước và đoàn kết gia đình đang được đặt ra để đối mặt với “nguy cơ phụ thuộc” của NCT Theo Vincent Caradec, hiện nay có một số mô hình phổ biến các kiểu loại Nhà nước phúc lợi sau:
Mô hình Nhà nước Phúc lợi tự do: Theo mô hình này, có sự can thiệp bổ trợ của Nhà nước, bên cạnh thị trường và gia đình, “rủi ro phụ thuộc” của người cao tuổi phải dựa vào sự chuẩn bị trước của cá nhân thông qua bảo hiểm hay trách nhiệm gia đình (Ta có thể tìm thấy ở các Quốc gia như: Hoa Kỳ, và một phần nào đấy như Anh, Úc, Canada, Nhật Bản và Thụy Sỹ, Ai-Len) Nói một cách khác đó là
mô hình Anglo-Saxon
Mô hình “thiết chế” hay xã hội bảo thủ: Mô hình này tổ chức bảo trợ xã hội xoay quanh người làm công ăn lương và có hai đặc trưng: Ưu tiên cho những người cao tuổi nhất, những người đã đóng thuế cả cuộc đời họ và mang nặng giới tính Mô hình này triển khai bảo hiểm “rủi ro phụ thuộc” trong khuôn khổ hệ thống bảo hiểm
xã hội như ở Đức năm 1995 hay Luxembourg năm 1998 Song song với đó, sự giúp
Trang 34đỡ không chính thức là lớn và sự tham gia rất lớn của phụ nữ vào việc chăm sóc NCT (Ta có thể tìm thấy ở các quốc gia như Đức, và một phần nào đấy như Áo, Bỉ, Pháp) Nói một cách khác đó là mô hình theo chủ nghĩa Bismarck
Mô hình “xã hội-dân chủ”, chế độ Nhà nước phúc lợi “phổ quát”, mô hình này xây dựng sự bảo trợ dựa trên quyền công dân và cung cấp các quyền lợi xã hội theo một lô-gic các nhu cầu, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tự chủ cá nhân trong đó
có sự tự chủ cho NCT, những sự trợ giúp cho họ được trả trực tiếp, hay sự tự chủ cho phụ nữ như tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận vào thị trường lao động giới (Ta
có thể tìm thấy ở các quốc gia như Thụy Điển, và một phần nào đấy như Đan Mạch, Phần Lan, Hà Lan hay Na-Uy) Đó là mô hình Bắc Âu
Có thể thêm vào một loại thứ 4, “mô hình la tinh” nhằm xem xét đến hiện thực của các nước nam Âu Sự can thiệp của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phụ thuộc là tối thiểu và dưới dạng giúp đỡ xã hội và việc chăm sóc NCT là nghĩa vụ của đoàn kết gia đình, chủ yếu là nữ (Ta có thể tìm thấy ở các quốc gia như Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban nha và phía nam nước Ý)
Với những mô hình trên, chúng ta có thể nhấn mạnh đến việc là các mối liên
hệ giữa các thế hệ ghi vào trong truyền thống xã hội khác nhau, tổ chức sự đoàn kết nhà nước ít nhiều hào phóng cho sự phụ thuộc Tuy nhiên cũng không nên đóng khung vào hiện thực của các quốc gia vì có sự chênh lệch giữa các vùng lãnh thổ hay khác nhau ở mức độ cấp độ địa phương
Còn ở Việt nam, có lẽ là một hình ảnh khác Trong xã hội nông thôn Việt Nam, người cao tuổi có lương là tương đối ít nên có lẽ có sự đan xen hình ảnh những người mới già còn tham gia nhiều vào việc sản xuất để tìm ra các nguồn vật chất để nuôi sống bản thân và những người già ít nhiều phụ thuộc Nếu như ở phương Tây, tuổi già có một vai trò quan trọng trong các chính sách công thì ở Việt Nam tuy nhà nước cũng có quan tâm nhưng thực tế còn nhiều bất cập và hạn chế, nên việc chú trọng đến vai trò chăm sóc người già của con cháu là quan trọng nhất Thực ra thì một người được coi là già như ở VN là 60, việc xem xét này chỉ có giá trị tương đối
Trang 351.3.2 Cách tiếp cận xã hội học về già hóa và tuổi già: các thế giới xã hội
và tách rời
Người ta có thể thừa nhận một số giá trị của hai lý thuyết hoạt động và buông
bỏ và tìm thấy giá trị khoa học Trong thực tế, những lý thuyết này có thể được coi như hai hình mẫu cho phép mô tả các quỹ đạo già hóa khác nhau hay những thời điểm khác nhau của cùng một quỹ đạo Những mô hình lý thuyết này có thể giúp miêu tả những luồng vận động trái ngược nhau nó quyện vào nhau trong toàn bộ quá trình già hóa
Cách tiếp cận các thế giới xã hội: Tuổi tác tăng lên như sự phối hợp dấn thân và buông bỏ
Trong một công trình dựa trên một loạt các cuộc phỏng vấn sâu với những người cao tuổi từ 62-85, David Unruh xem xét sự hội nhập xã hội Tuy nhiên, tác giả không chú trọng đến các hình thức “kinh điển” của hội nhập, trong các hội đoàn, trong gia đình hay trong các nhóm phi chính thống Ông quyết định ưu tiên cho những cam kết vào các “thế giới xã hội” như các hình thức tổ chức xã hội ít được xác định, mà các thành viên không được liên kết với nhau bằng việc cùng xuất hiện trong cùng một không gian, mà bằng sự chia sẻ các viễn cảnh giống nhau xuất phát
từ một lợi ích chung và từ sự tham dự vào các kênh liên lạc Những người mà David Unruh giới thiệu trong nghiên cứu của mình cũng thuộc vào các thế giới xã hội khác nhau: thế giới của những người đi xe đạp, của các phòng khiêu vũ, của nghệ thuật hay của những người sưu tập tem… những thế giới xã hội này chiếm vị trí ít nhiều quan trọng trong sự tồn tại của họ: đối với những người này, hội nhập mạnh vào các hội đoàn, trong các nhóm bạn bè hay trong gia đình, các thế giới xã hội đóng vai trò thứ yếu nhưng đối với những người khác, các thế giới xã hội đưa đến cho họ ý nghĩa mạnh mẽ về sự tồn tại (Vincent Caradec, 2015)
David Unruh chỉ ra rằng trong quá trình tuổi già tăng lên, hội nhập xã hội không ngừng tiến hóa qua một luồng vận động kép là buông bỏ và dấn thân, nó vừa liên quan đến các thế giới xã hội và các hình thức hội nhập kinh điển Chẳng hạn, việc dừng hoạt động nghề nghiệp hay vợ mất hoặc chồng mất có thể dẫn đến việc tham
dự vào cá thế giới xã hội mà trước đây không biết hay đến lúc đó vẫn chưa biết rõ, đôi khi lại dấn thân vào duy nhất một thế giới xã hội: Unruh trích dẫn trường hợp một
Trang 36người về hưu có thú vui đi xe đạp, đã thám hiểm qua cả nước mà báo chí đã nói, và đã trở thành một gương mặt biểu trưng cho thế giới xã hội về xe đạp Những dấn thân mới cũng có thể thay thế những dấn thân khác và mức độ hội nhập vào một thế giới xã hội
có thể tăng hay ngược lại giảm (Vincent Caradec, 2015)
Trong thực tế, một sự đầu tư ít đi không nhất định bị coi như một sự buông bỏ
và có thể tiếp tục sống một cách chủ quan trong một thế giới xã hội mà trong đó người
ta không còn sự tham gia tích cực nữa Như vậy, một số thế giới xã hội vẫn rất hiện hữu nhờ vào mối liên hệ được duy trì với họ qua phương tiện thông tin đại chúng hay nhớ lại: đó là trường hợp của hai mà tác giả trích dẫn, họ ngừng khiêu vũ ở phòng trà nhưng vẫn rất gắn bó với hoạt động này và vào lúc này họ còn nhắc đến
Cuối cùng, dường như là vượt lên trên sự kết hợp dấn thân và buông bỏ được miêu tả, sự tham gia tích cực vào các thế giới xã hội trở nên khó khăn hơn khi tuổi gia tăng Điều này dẫn đến sự rút lui khỏi một số hoạt động
Cách tiếp cận bằng khái niệm “tách rời”: Già hóa và tách rời
Khái niệm “tách rời”12 lấy lại ý tưởng của lý thuyết buông bỏ theo đó mối liên hệ với thế giới có khuynh hướng trở nên mơ hồ ở tuổi già nhưng phản đối cách nhìn buông bỏ diễn ra một cách cơ giới, không thể đảo ngược và thuần nhất
Tách rời có thể được định nghĩa như là quá trình tổ chức lại sự tồn tại, nó xảy
ra trong chừng mực mà người cao tuổi đang già đi và phải đối diện với những khó khăn đang gia tăng Sự tổ chức lại này được đánh dấu bằng sự từ bỏ một số hoạt động
và một số quan hệ Trong thực tế, các hoạt động và các quan hệ bị bỏ rơi có thể được thay thế bằng những hoạt động và quan hệ khác, những kiểu mới đòi hỏi ít nỗ lực hơn Như vậy, đối với những người đang già đi sự tách rời nhằm tiếp tục một số hoạt động
và quan hệ trước đây trên một quy mô nhỏ hơn: Những người đang già đi tiếp tục lái
xe, nhưng không phải trên một lộ trình dài nữa; người nào có một mảnh vườn trồng rau giảm dần diện tích trồng, sau đó thì từ bỏ nó để chăm sóc một vài cây thôi Cùng lúc,
sự tách rời có hình thức thay thế các hoạt động, chẳng hạn khi mà một người đã từng thường xuyên đi lễ thì từ nay lại theo dõi buổi lễ trên truyền hình Cuối cùng, nếu một
số hoạt động bị từ bỏ, những hoạt động khác được giữ lại theo thứ tự ưu tiên những
12
Khái niệm này bắt nguồn từ một nhóm các nhà nghiên cứu Barthe J.-F, Clement S, Drulhe M.
Trang 37hoạt động quan trọng nhất đối với họ Như vậy, sự tách rời là một quá trình tích cực qua đó những người đang già đi triển khai các chiến lược thích ứng bằng cách giữ lại lâu nhất có thể những dấn thân quan trọng đối với họ (Vincent Caradec, 2015)
Các tác giả cũng nhấn mạnh đặc tính nổi bật của hiện tượng tách rời và sự đa dạng của hành trình tuổi già: tách rời diễn ra một cách khác nhau theo tình trạng sức khỏe và bối cảnh trong đó khi diễn ra khi tuổi già tăng lên Như vậy, một số người ở tuổi cao vẫn tham gia vào nhiều hoạt động: sức khỏe tốt, ít có những khó khăn thể chất bất chấp tuổi cao, các hoạt động tiếp tục được duy trì, sự tách rời của họ được thể hiện dưới hình thức một sự tiếp nối những chuyển đổi hoạt động mà mức độ hoạt động không giảm Ngược lại, những người khác gặp nhiều khó khăn và kéo theo nhiều sắp xếp lại trong sự tồn tại của họ Dưới con mắt của họ, đó là từ bỏ các hoạt động chính yếu, nỗi buồn có thể thâm nhập vào đời sống thường nhật và một
số bắt đầu sống trong tình trạng “giữa hai tâm trạng” giữa cái sống và cái chết, được đánh dấu bằng một sự “hiện diện thân mật của cái chết”
Vincent Caradec nhấn mạnh cũng giống như lý thuyết buông bỏ, nếu như sự tách ra miêu tả một khuynh hướng giảm các hoạt động khi tuổi già tăng lên, thì những khác biệt giữa hai quan điểm không phải nhỏ Trước tiên, theo cách tiếp cận tách rời, việc giảm các hoạt động không được tìm hiểu cặn kẽ như một sự biểu hiện không thể chịu được của tuổi già, mà là một tiến trình chỉ xảy ra dưới tác động của một số “nhân tố khởi động”13 và tiến trình đó dẫn đến sự lựa chọn các chiến lược khác nhau Sau đó, sự tách rời không được coi như mang tính chức năng đối với xã hội: đơn giản hơn, sự tách rời đó xuất phát từ sự thích ứng vào các ràng buộc mới
mà xác suất xuất hiện tăng lên cùng với tuổi già
1.4 Đặc điểm địa bàn khảo sát
Yên Mỹ - là một xã thuộc huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, có diện tích là 6,99 km2 Đây là một xã nằm trong cụm kinh tế trọng điểm của Huyện Lạng Giang, cách thành phố Bắc Giang 15 km về hướng Nam Về mặt hành chính, xã Yên Mỹ
có 11 thôn: Ao Luông, Đồng Cống, Vinh Quang, Yên Vinh, Đầu Cầu, Thống Nhất, Ngành, Bễn, Yên Lại, An Long, Đồng Lạc
13 Theo các tác giả, có 4 nhân tố khởi động: Những vấn đề sức khỏe và sự suy yếu của thể chất; mệt mỏi, thiếu mong muốn hay cảm giác không theo kịp những NCT khác; thưa dần các “cơ hội dấn thân”; tương tác với những người thân
Bối cảnh kinh tế - xã hội
Chăm sóc người cao tuổi
Trang 38Yên Mỹ là xã mang nhiều nét đại diện của vùng Trung du nói chung và của tỉnh Bắc Giang nói riêng Nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi cao Lạng Sơn với nền văn hóa Tày Nùng và vùng đồng bằng sông Hồng là nền văn hóa Việt cổ nên văn hóa nơi đây có tính chất đan xen, giao thoa và hội tụ Với đặc điểm vị trí tiếp giáp và địa hình bằng phẳng như vậy thuận lợi cho sự phát triển giao thông vận tải, thúc đẩy sự đầu tư phát triển kinh tế Trước đây nền kinh tế của xã chủ yếu là nông nghiệp nhưng hiện nay, đã có sự thay đổi đổi theo hướng tăng tỷ trọng dịch
vụ, thương mại, công nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp Trong năm 2016 vừa qua,
tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chiếm 37%, thương mại dịch vụ chiếm 40,8%, tỷ trọng nông nghiệp giảm còn 22,2% cơ cấu kinh tế của xã
Ngoài việc chú trọng phát triển kinh tế, các vấn đề văn hóa – xã hội cũng được xã quan tâm Y tế, giáo dục, gia đình và trẻ em là những vấn đề luôn được đầu
tư Hàng năm đều thực hiện được kế hoạch đề ra Các chính sách xã hội với người
có công được triển khai thực hiện tốt, chế độ chính sách về BHYT đều được đảm bảo: 686 thẻ (305 nghèo, 381 cận nghèo), qua điều tra người dân trong xã tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 83% Các phong trào về văn hóa thực hiện tốt kết quả có 04 thôn đạt danh hiệu làng văn hóa cấp huyện (Vinh Quang, Ngành, Bễn, An Long)
Yên Mỹ có 1760 hộ và 6760 khẩu trong đó có 3313 nam và nữ có 3447 người Số người trong độ tuổi lao động là 3167 người Ngay từ năm 2014, NCT trên 60 tuổi trở lên chiếm gần 10% dân số xã Yên Mỹ Như vậy, nếu xét theo Luật
về NCT và những quy ước của Liên Hợp quốc, Xã Yên Mỹ đã gần như bước vào giai đoạn già hóa dân số năm 2014
Biểu đồ 2.1: Thành phần dân số xã Yên Mỹ năm 2014
43.6 % 46.8%
lao động Dân số trong độ tuổi lao động
Dân số già
Trang 39Theo thống kê của xã đến hết năm 2017, xã có 824 NCT trong đó có 289 cụ ông, chiếm 35,1% và 535 cụ bà, chiếm 64,9% Nhìn vào biểu đồ ta thấy xu hướng
nữ hóa ở tuổi già rất rõ ràng, ở mọi lứa tuổi Đến độ tuổi trên 80 thì số lượng NCT
là nữ giới lại càng chiếm ưu thế
Biểu đồ 2.2: Số lƣợng NCT nam, nữ theo nhóm tuổi năm 2017
Yên Mỹ là một xã nông thôn trung du miền núi, thành phần dân số ở đây cũng có nhiều đặc trưng so với các vùng khác trong cả nước Trên địa bàn huyện có rất nhiều dân tộc anh em sinh sống vì đây là vùng chuyển tiếp giữa miền núi cao Lạng Sơn và vùng đồng bằng sông Hồng, tuy nhiên, vẫn chủ yếu có người Kinh, Tày và Nùng Dân tộc Kinh phần lớn là những người di cư từ các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng như Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh đến làm ăn sinh sống, bên cạnh đó các dân tộc Tày, Nùng là những người từ trên miền núi cao Lạng Sơn di chuyển xuống Nhưng cuộc sống của những người di cư này với những người dân gốc ở đây đã có những giao lưu và tiếp biến văn hóa, tất
cả đều hòa nhập vào nếp sống mới
Nhìn chung, Yên Mỹ nằm trong vùng có địa hình bằng phẳng, giao thông đi lại thuận tiện, lại tiếp giáp với những vùng kinh tế đang phát triển cho nên xã có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế xã hội Sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi căn bản bộ mặt của xã, đời sống nhân dân được ổn định, các chế độ chính sách được quan tâm giải quyết, đồng thời tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động giúp cuộc sống gia đình cũng có những thay đổi tích cực hơn
nam
Nữ
Trang 401.5 Đặc điểm người cao tuổi trong mẫu khảo sát tại địa phương
Giới tính
Trong 25 người được hỏi14, có 13 cụ bà và 12 cụ ông Khảo sát NCT cho thấy, có tới 11 người góa Số cụ bà góa có 9, cụ ông góa là 2 Thực trạng này cho thấy có sự mất cân bằng giới tính Điều này phù hợp với xu hướng “nữ hóa” dân số NCT Tại địa bàn khảo sát, nhiều cụ bà được phỏng vấn cho biết họ góa từ những năm bước vào độ tuổi 50 – 60 Điều đó có nghĩa là nhiều nam giới đã mất khi chớm bước vào độ tuổi của NCT Nhiều người giải thích việc nam giới chết sớm do sử dụng rượu bia, hút thuốc, chế độ lao động vất vả vì vừa phải làm công việc đồng áng và vừa làm các công việc ở đồi bãi, bên cạnh đó lại chưa có ý thức rèn luyện và bảo vệ sức khỏe Khi trụ cột trong gia đình là người đàn ông mất đi thì gánh nặng đối với NCT nữ giới càng lớn Đời sống của nam góa vợ khác hơn đời sống của nữ góa chồng Việc nam góa vợ khiến cho gia đình thường phải có sự sắp xếp lại chỗ
ở, bàn giao việc cúng giỗ cho các con chủ trì và đặc biệt giao phó việc lo các bữa ăn cho con cháu Nhưng ngược lại, phụ nữ góa chồng vẫn đảm bảo tự chăm sóc tốt cho bản thân hơn, tự dàn xếp chỗ ở, các bữa ăn, giúp đỡ con cháu các công việc hằng ngày và vẫn đứng ra chủ trì cho việc cúng giỗ tốt hơn
Độ tuổi
Khảo sát 25 trường hợp tại địa bàn cho thấy, NCT trong nhóm tuổi 60-69 có
9 người, nhóm tuổi 70-79 có 9 người, 80 trở lên có 7 người Tương ứng với những NCT này, vợ/chồng của người trả lời cũng đang ở trong độ tuổi cao niên, 60-69 có 7 người, 70-79 có 8 và độ tuổi 80 trở lên có 6 người (do có người không nhớ rõ năm sinh của chồng/vợ) Việc lựa chọn NCT độ tuổi 60-69 nghiên cứu nhiều hơn là do ở
độ tuổi này, NCT chiếm tỷ lệ cao hơn các nhóm cao tuổi khác và vẫn còn hoạt động tương đối linh hoạt, minh mẫn và thường độc lập trong cuộc sống Độ tuổi trên 70 thấp hơn tuy nhiên những người trong nhóm tuổi này đang có xu hướng tăng Hiện nay, nhiều gia đình có hai thế hệ bước vào độ tuổi NCT cùng chung sống Điều này NCT kết hôn rất sớm và hiện nay tuổi thọ đã tăng lên đáng kể Trong số 25 trường hợp, có 6 trường hợp con cái bước vào độ tuổi từ 60 trở lên phải chăm sóc một NCT
14
Tham khảo thêm 25 chân dung xã hội học mà chúng tôi đã phác họa và đặt dưới phần phụ lục