1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chăm sóc người cao tuổi ở nông thôn Trung du miền núi phía Bắc (Nghiên cứu trường hợp xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang) (tt)

26 195 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 357,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương Tây là trường hợp ngoại lệ trong cách đối xử với tuổi già vì gắn giai đoạn của cuộc sống này với sự suy tàn và xuống sức trong khi ở hầu hết các nền văn hóa khác tuổi già được diễ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HUYỀN GIANG

CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI Ở NÔNG THÔN

TRUNG DU MIỀN NÚI PHÍA BẮC

(Nghiên cứu trường hợp xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 60.31.03.01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2017

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Đức Chiện

Phản biện 1: PGS.TS Hoàng Thị Nga

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Ngọc

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Vào hồi: 08 giờ 30 ngày 20 tháng 10 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Già hóa dân số và tuổi già song hành với nhau Châu Âu và Bắc Mỹ là những vùng đầu tiên trên thế giới bước vào thời kỳ già hóa dân số Ngày nay, già hóa dân số đang là một hiện tượng mang tính toàn cầu, xảy ra với tốc độ khá nhanh, tốc độ già hóa dân số ở các nước phía Nam nhanh hơn ở các nước phía Bắc Theo Liên Hợp quốc tỷ, lệ người già trong tổng số dân Hàn Quốc tăng từ 7% lên 14% chỉ mất 18 năm, Nhật Bản mất 24 năm, Hoa kỳ mất 73 năm, Thụy Điển mất 85 năm và Pháp là 140 năm Theo quy ước của Liên hợp quốc, một quốc gia có tỷ lệ NCT từ 10% trở lên thì nước đó được coi là bước vào giai đoạn già hóa dân số

Phương Tây là trường hợp ngoại lệ trong cách đối xử với tuổi già vì gắn giai đoạn của cuộc sống này với sự suy tàn và xuống sức trong khi ở hầu hết các nền văn hóa khác tuổi già được diễn giải bằng việc tích lũy kiến thức và gia sản Ở Việt Nam cũng vậy, NCT luôn được trọng vọng trong gia đình và ngoài xã hội, là chỗ dựa về mặt tinh thần, giữ gìn đạo đức và ổn định

Ở nông thôn nói chung và nông thôn Trung du miền núi nói riêng, việc con cái di cư đi làm ăn xa khiến việc chăm sóc NCT diễn

ra không thường xuyên Măt khác, do những quan niệm về mặt nhận thức của các thế hệ và do chính bản thân NCT nên việc sắp xếp cuộc sống của NCT cũng có sự thay đổi đáng kể Thực trạng kinh tế - xã hội và đời sống của NCT hiện nay đã đặt ra những câu hỏi như NCT

ở nông thôn được chăm sóc về vật chất, tinh thần và y tế như thế nào? Họ có những nhu cầu và nguyện vọng gì? Việc đáp ứng các nhu cầu nguyện vọng đó đến đâu? Các chủ thể nào tham gia vào việc chăm sóc người cao tuổi? Các chính sách của Nhà nước quan tâm đến NCT như thế nào? Đâu là chủ thể có vai trò quan trọng nhất

Trang 4

trong bối cảnh hiện nay? Dù đã có nhiều nghiên cứu về việc chăm sóc NCT, nghiên cứu chuyên khảo về một địa phương thuộc Trung

du miền núi vẫn chưa được tiến hành Đây chính là lý do chúng tôi

chọn đề tài nghiên cứu “Chăm sóc người cao tuổi ở nông thôn Trung du miền núi phía Bắc (Nghiên cứu trường hợp xã Yên Mỹ, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang)”

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu trên thế giới

Theo Tổ chức Hỗ trợ NCT Quốc tế, năm 2015, châu Á đứng đầu

về tốc độ già hóa dân số Số người trên 60 tuổi tại châu lục này chiếm tới 52% số NCT trên toàn cầu Số liệu của Liên Hợp Quốc năm 2016 cũng cho thấy, trong 10 quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới, một nửa là các nước châu Á, thậm chí Hàn Quốc, Singapore còn đứng đầu danh sách

Hàn Quốc có tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm 11% năm

2010 Quốc gia này đã có nhiều chính sách chăm sóc NCT ngay từ trong gia đình Việc chăm sóc NCT trong gia đình được chia thành 2 loại: Loại chăm sóc sống cùng và loại chăm sóc sống xa (78% NCT Hàn Quốc nói rằng những hỗ trợ của họ nhận được chủ yếu vẫn là từ gia đình) (Choi, 1996 Dẫn theo Nguyễn Thị Vân Hạnh, 2011)

Ở Singapore, Chính phủ đặc biệt đánh giá cao vai trò của gia đình trong việc chăm sóc NCT và cho rằng gia đình là nơi chăm sóc NCT lý tưởng nhất Khoảng 85% NCT ở đất nước này đang sống với

ít nhất một người con (Angelique Chan, 2001 Dẫn theo Lê Ngọc Lân, 2010)

Những năm trước chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của con trai trưởng trong việc chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ già Tuy nhiên sau đó, việc con cái tham gia vào thị trường lao động nhiều nên việc chăm sóc NCT đã thay đổi, dù

Trang 5

gia đình vẫn giữ một vai trò quan trọng, tỷ lệ NCT sống cùng con cháu đã giảm đáng kể

Tại Trung Quốc, nghiên cứu về việc chăm sóc NCT ở các vùng nông thôn cũng cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa các thế hệ, chủ yếu là sự hỗ trợ tài chính của cha mẹ cho con cái và ngược lại con cái cho cha mẹ Tuy nhiên sự hỗ trợ của con cái cho cha mẹ bao gồm cả về tài chính và sức lao động, chủ yếu là làm nông nghiệp lúc mùa vụ được coi là lớn hơn so với cha mẹ cho con (Shuzhou Li, Marcus W Feldman ang Xiaoyi Jin, 2004 Dẫn theo Lê Ngọc Lân, 2010)

Chăm sóc NCT ở châu Âu

Do chúng tôi muốn đưa ra một góc nhìn về việc chăm sóc NCT ở châu Âu với nhiều quốc gia nhất có thể nên chúng tôi sẽ dựa vào cuộc điều tra về chăm sóc người cao tuổi trong Liên minh châu

Âu có tên SHARE (Survey of Health, Ageing and Retirement in Euroupe), được tiến hành trong 10 nước Đức, Áo, Đan Mạch, Tây Ban Nha, Pháp, Hy Lạp, Ý, Hà Lan, Thụy Điển và Thụy Sỹ vào năm 2004-2005 về chủ đề già hóa và về hưu Cuộc điều tra với mục đích chính là tìm hiểu xem gia đình hay nhà nước phải chăm lo NCT? Và nếu trong gia đình thì ai là người giúp đỡ chính? Các mức độ bảo trợ

xã hội khác nhau bắt nguồn từ lịch sử riêng của từng quốc gia, truyền thống, giá trị và chuẩn mực Những nghiên cứu về sự tương hỗ trong gia đình ở châu Âu đã khẳng định được tầm quan trọng và sự thường trực của các mối quan hệ liên thế hệ Cuộc điều tra SHARE lần đầu cho phép xem xét những chiều cạnh trong 10 quốc gia ở châu Âu Kết quả cuộc điều tra cho thấy gần một nửa số họ sống gần bố

mẹ về mặt địa lý và 58% tiếp xúc nhiều lần trong tuần với bố mẹ Việc sống chung cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp xúc.1/5 người Ý và Tây Ban Nha sống cùng nhà hay cùng tòa nhà với bố mẹ,

và tỷ lệ này ít hơn ở Thụy Điển và Đan Mạch

Trang 6

Tần suất gặp gỡ với bố mẹ diễn ra thường xuyên, sự ủng hộ và giúp đỡ có như vậy không? Các nước phương Bắc (Đan Mạch và Thụy Điển) với sự giúp đỡ là 40% trong khi ở các nước phương Nam (Tây Ban Nha và Hy Lạp) là 25%

Đối với sự giúp đỡ tài chính mà cha mẹ già cần, trong tất cả các nước thì Nhà nước đứng ra lo Cụ thể, Nhà nước và ít nhiều với

sự giúp đỡ của gia đình ở nam Âu, hay ở Áo và Đức Còn ở Đan Mạch và Thụy Điển hay Hà Lan, thì Nhà nước được chỉ định để đáp ứng kiểu nhu cầu này Điều này thể hiện sự độc lập về mặt tài chính giữa các thế hệ Còn về giúp đỡ trong nhà hay chăm sóc, chăm sóc cá nhân thì chủ yếu cũng là Nhà nước, chỉ trừ Hy lạp, gia đình xuất hiện như là cứu cánh có thể để đến giúp người cao tuổi Trong các nước này, Đan Mạch thể hiện sự can thiệp của Nhà nước vào tất cả mọi lĩnh vực giúp đỡ bố mẹ già, ngược lại với Hy Lạp

Cuối cùng, cần phải nhấn mạnh rằng ở các quốc gia ràng buộc trách nhiệm chăm sóc người cao tuổi cho gia đình (Nam Âu, Đức hay Áo), thì cũng không tỏ ta triệt để là gia đình phải chăm sóc NCT Do vậy, sự ủng hộ của gia đình đối với NCT không có nghĩa là không cần có sự can thiệp của Nhà nước

Những kết quả nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng ở Tây Ban Nha, người cao tuổi góp phần vào việc chăm sóc cháu vì các bà mẹ trẻ tham gia nhiều vào thị trường lao động Chỗ ở cũng quyết định lớn vì 56% phụ nữ làm việc có mẹ đẻ sống trong cùng thành phố và trong số này thì một nửa sống trong cùng khu phố và 43% sống cạnh

mẹ chồng trong cùng thành phố

Tình hình cũng giống như ở Italia, ông bà, đặc biệt là bà cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc giữ cháu cho con gái hay con dâu làm việc Điều này quan trọng tới mức mà người cao tuổi cũng là đối tượng tranh luận về vị trí của mình trong đoàn kết công cộng và

tư nhân, cũng như trong chính sách đối với gia đình

Trang 7

Ở Pháp thì cũng tương tự, vào đầu thế kỷ thứ 21, ông bà có thể

tỏ ra hào phóng, bởi vì họ có lương hay trợ cấp và một khoản tiết kiệm trong quá trình làm việc nên các mối liên hệ tình cảm và quà, ví như mua quần áo cho trẻ là một sự giúp đỡ gián tiếp những gia đình trẻ Tuy nhiên, điều này không tạo ra một sự phụ thuộc

Ở nước Nga hậu Xô-viết, nơi mà ông bà duy trì một vị trí thống trị bởi vì họ là những người duy nhất có khoản thu nhập ổn định Đối lập với những người bằng lứa tuổi ở tây Âu thể hiện cho sự năng động, ông

bà ở Nga không tìm cách để mình tươi trẻ, thường chùm khăn trên đầu

Họ tự động gán cho mình vào vai trò của người già; bằng cách đổi lại sự mất tuổi trẻ và sự quyến rũ của mình, họ thống trị toàn bộ gia đình bởi vì

họ đảm bảo sự sống còn của con và cháu, lương thì có thể không có nhưng trợ cấp thì có, những người làm bà thường có những ngôi nhà nhỏ, có vườn, đảm bảo một phần cho lương thực gia đình (Elizabeth Gessat, 2001; Martine Segalen, 2014 dẫn lại)

Người cao tuổi ở Hoa Kỳ

Ở Hoa kỳ, cũng như nhiều quốc gia phát triển khác, ngưỡng 65 tuổi được giữ lại để đánh dấu tuổi già xã hội Theo ước tính vào năm

2005, Hoa Kỳ có gần 36 triệu người vượt tuổi 65, so với tổng số dân thì vẫn còn trẻ hơn dân số của nhiều nước phát triển khác (ở Pháp là 16%) Theo dự đoán sẽ có 72 triệu người vào năm 2030, khoảng 1/5 dân số, và số lượng những người rất già tức trên 80 tuổi sẽ vượt 10 triệu người, và hiện này, NCT da trắng chiếm 83% những người cao tuổi hơn 65 tuổi Những người già chủ yếu sống ở ngoại thành, và có

3 nơi tập trung những người già cao nhất là Floride, các bang thuộc trục Đông – Bắc (Pennsylvania, Virginia) và các bang nông thôn của Middle West do tác động của lực hút và đẩy Có thể nói, ở nơi nào có ánh mặt trời, sự năng động của thị trường bất động sản hay các dịch

vụ mà các bang này cung cấp ra đều lôi cuốn được người cao tuổi và trở thành các cực đón tiếp người cao tuổi

Trang 8

Nhìn chung tuổi già ở Mỹ có một số điểm khác biệt lớn so với tình hình ở châu Âu Trách nhiệm cá nhân và gia đình song hành với những người cao tuổi là nhiều hơn Ngược lại với châu Âu, những cam kết đoàn hội thay thế cho những cam kết của các cơ quan công quyền Kinh nghiệm của nước Mỹ là thành quả gặp gỡ giữa một lịch sử xã hội đặc biệt, lịch sử xã hội của chủ nghĩa cá nhân được xây dựng đối ngược với châu Âu với một lãnh thổ đủ lớn để có thể phát triển những kinh nghiệm đa dạng nhất Nguồn gốc của những quyền lợi này khác nhau Ở Pháp, quyền lợi của NCT đặt trọng tâm vào vai trò người sử dụng các dịch vụ xã hội và y tế xã hội của họ, trong khi mà quyền lợi trước tiên hướng về quyền lao động và công việc của những người tình nguyện ở Hoa Kỳ Trong khuôn khổ kinh tế tự do của Hoa Kỳ, việc tạo ra một đội quân lao động có tuổi ghi vào trong sự quá độ đến một nền kinh tế hậu công nghiệp, cần thiết có những người lao động mùa vụ

2.2 Nghiên cứu trong nước

2.2.1 Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chăm sóc người cao tuổi

Trong những năm qua, nhiều nghiên cứu về việc chăm sóc người cao tuổi đã được tiến hành với quy mô khác nhau, chủ để khác nhau ở các vùng khác nhau và bằng những phương pháp khác nhau (định tính và định lượng) Đề tài tổng quan theo các vấn đề:

Thứ nhất, về lao động của người cao tuổi Người cao tuổi nước

ta vẫn phải lao động, làm nhiều loại công việc, được trả công hoặc làm các công việc nội trợ Bế Quỳnh Nga(2001) thấy rằng người cao tuổi ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam vẫn còn tiếp tục lao động để tăng thu nhập, thậm chí trong một số trường hợp để kiếm sống Theo cuộc Điều tra người cao tuổi (VNAS, 2011) có khoảng 39% người cao tuổi vẫn đang làm việc (tham gia các hoạt động kinh tế trực tiếp hoặc gián tiếp) với những công việc khác nhau

Trang 9

Thứ hai, chăm sóc vật chất đối với người cao tuổi được biết là

sự cung cấp, hỗ trợ cho người cao tuổi tiền, lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng Việc chăm sóc này trước hết đến từ con cháu trong gia đình Nghiên cứu của Trương Sĩ Ánh (1999) cho thấy 90% các bậc cha mẹ lớn tuổi được con cái cung cấp hoặc hỗ trợ lương thực thực phẩm và các vật dụng sinh hoạt hằng ngày, 78% nhận được sự

hỗ trợ về tiền bạc và những vật dụng có giá trị Tác giả cho rằng những người con sống gần nhà hoặc cùng nhà với cha mẹ thì thường cung cấp, hỗ trợ về lương thực thực phẩm và đồ dùng sinh hoạt, trong khi đó những người con sống ở xa lại giúp đỡ cha mẹ thông qua việc gửi tiền và hàng hóa có giá trị Con trai, nhất là những người đã lập gia đình chính là nguồn hỗ trợ kinh tế quan trọng đối với cha mẹ già Kết quả này khác với nghiên cứu định tính của tác giả Bế Quỳnh Nga năm 2005, phần lớn những người được phỏng vấn đều cho rằng sự trợ giúp của con trai và con gái đều bằng nhau, đôi khi con gái còn có đóng góp hơn con trai Bùi Thế Cường (2000) cho rằng sự hỗ trợ và chăm sóc từ các con sống chung hoặc không sống chung, con trai hay con gái đều là nguồn quan trọng nhất đối với người cao tuổi Việc giúp đỡ hỗ trợ vật chất của con cháu bao gồm tiền bạc, thức ăn, vật dụng sinh hoạt và hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho cha mẹ là khá phổ biến ở đồng bằng sông Hồng

Thứ ba về chăm sóc tinh thần đối với người cao tuổi Người

cao tuổi thích trò chuyện tâm sự với những người xung quanh như con cháu, bạn bè, hàng xóm, việc trò chuyện tâm sự này có ý nghĩa rất quan trọng bởi tình hình hiện nay khi con cháu phải lo toan nhiều việc, di cư đi làm ăn xa, lo được cho cha mẹ đầy đủ vật chất hơn nhưng ngược lại việc trò chuyện, viếng thăm cha mẹ lại không được thường xuyên Theo điều tra về Gia đình Việt Nam, 2006 cho biết những khi vui, buồn 37,5% người cao tuổi cho biết họ thường trò

Trang 10

chuyện và tâm sự với vợ hoặc chồng của mình, 24,8% tâm sự, trò chuyện với con và 12,5% tâm sự với bạn bè hàng xóm

Thứ tư, nhìn vào sự sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi Việt Nam có thể thấy đây là một bản sắc trong văn hóa người Việt “Trẻ

cậy cha, già cậy con”, người cao tuổi luôn tâm niệm trông cậy vào con cái và lựa chọn mô hình chung sống với con cái là phổ biến Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hầu hết người cao tuổi sống chung hoặc sống rất gần với con cái của họ Tác giả Trương Sĩ Ánh cho biết đa

số người cao tuổi đều sống chung với một hoặc nhiều trong số con cháu của mình, việc người cao tuổi sống độc thân không phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng chăm sóc và chiến lược sống của NCT ở nông thôn Trung du miền núi trong bối cảnh biến đổi xã hội cũng như chuyển đổi vai trò của các chủ thể tham gia chăm sóc NCT hiện nay

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu: Chăm sóc NCT ở nông thôn Trung du miền núi phía bắc

Trang 11

4.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể bao gồm những NCT ở nông thôn từ 60 tuổi trở lên đang sinh sống trên địa bàn khảo sát Các mạng lưới chăm sóc NCT bao gồm gia đình, dòng họ, các tổ chức xã hội

4.3 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ luận văn cao học, tính đến nguồn lực như thời gian và tài chính hạn chế nên chúng tôi chỉ nghiên cứu trường hợp tại một xã và làm rõ những vấn đề liên quan đến công tác chăm sóc NCT tại địa phương, đề tài tập trung nghiên cứu tình hình chăm sóc NCT tại 1 xã thuộc tỉnh Bắc Giang, đại diện cho vùng trung du

miền núi phía Bắc Việt Nam

Giới hạn nội dung nghiên cứu: chúng tôi tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa NCT với các mạng lưới gia đình, dòng họ và các tổ chức chăm sóc NCT ở địa bàn nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Trong bối cảnh già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, tình hình chăm sóc NCT ở nông thông Trung du miền núi như thế nào? Vai trò của các chủ thể trong chăm sóc người cao tuổi (Gia đình, cộng đồng và Nhà nước)? Trong quá trình chăm sóc NCT, liệu có sự thay đổi trong các mặt chăm sóc đối với NCT không? NCT triển khai những chiến lược sống như thế nào để thích ứng với hoàn cảnh mới? Vai trò của NCT

ra sao? Có khác biệt như thế nào trong chăm sóc các nhóm NCT ở cộng đồng nông thôn miền núi phía Bắc

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Một mặt, gia đình vẫn là chủ thể quan trọng nhất

trong việc chăm sóc NCT Mặt khác, Nhà nước ngày càng có nhiều chính sách chăm sóc đối với người cao tuổi về chăm sóc y tế, vật chất

Trang 12

và tinh thần Gia đình và Nhà nước đang có sự kết hợp với nhau trong việc chăm sóc NCT

Giả thuyết 2: Con cái làm những công việc phi nông nghiệp

và làm ăn xa, khiến việc chăm sóc NCT không được thường xuyên

về mặt tình cảm nhưng sẽ chăm sóc tốt hơn về mặt vật chất NCT ý thức được áp lực mưu sinh của con cháu, nên việc tự chăm sóc bản thân trở thành phổ biến hơn và thông cảm nhiều hơn với con cháu

Họ vẫn tiếp tục các hoạt động bình thường hoặc tìm ra những hoạt động mới, hoặc điều chỉnh các hoạt động để tìm thấy sự cân bằng trong cuộc sống

5.3 Khung phân tích

Anh

em họ hàng

và làng xóm

Nhà nước

và các

tổ chức

XH

Gia đình

Chăm sóc Người cao tuổi

Bối cảnh kinh tế -

xã hội

Đặc điểm nhân khẩu và đặc điểm gia đình đình

Chăm sóc tinh thần

Chăm sóc vật chất

Chăm sóc ý

tế

Trang 13

5.4 Phương pháp nghiên cứu

* Phân tích tài liệu thứ cấp

- Phân tích tài liệu: Đề tài sẽ tiến hành tổng hợp, phân tích các nguồn tài liệu (thống kê, khảo sát, nghiên cứu) liên quan đến chủ đề già hóa và chăm sóc NCT cũng như các báo cáo tài liệu thống kê ở địa phương

* Phương pháp khảo sát định tính: phỏng vấn sâu và quan sát không tham dự

- Thu thập thông tin tại thực địa: phỏng vấn thăm dò với 03 trường hợp và thực hiện phỏng vấn sâu 25 (13 nữ và 12 nam) trường hợp chính, được chia thành 3 nhóm tuổi 60 – 69, 70 – 79 và trên 80

- Quan sát không tham dự: Trong quá trình phỏng vấn các đối tượng, đề tài kết hợp quan sát và ghi chép những thông tin liên quan tới vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Cách tiếp cận phúc lợi xã hội thông qua khái niệm thế hệ dẫn đến hai loại đoàn kết gia đình và xã hội, từ đó trách nhiệm chăm sóc NCT thuộc về gia đình hay Nhà nước và xem xét xem hiện trạng chăm sóc NCT theo kiểu loại Nhà nước phúc lợi nào Chúng ta thấy nên vận dụng khái niệm ấy để lý giải xem trách nhiệm của mỗi bên ra sao

Chúng tôi giới thiệu và vận dụng các lý thuyết và cách tiếp cận

về già hóa và tuổi già vào nghiên cứu Điều này giúp ích cho những nghiên cứu sau vận dụng nó và có thể tìm hiểu hay phát triển những điểm mà chúng tôi chưa đề cập đến hoặc chưa hoàn thiện

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Qua tìm hiểu thực trạng chăm sóc người cao tuổi ở nông thôn Đánh giá được hiện nay vai trò của gia đình, dòng ho, tổ chức cộng đồng trong công tác chăm sóc người cao tuổi tại địa phương

Ngày đăng: 08/11/2017, 09:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w