1993; “Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam”, Luậnán Phó tiến sĩ của Dương Thị Thanh Mai, 1996; “Giáo dục pháp luật trong các trường Trung học chuyên nghiệp và dạy n
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhànước ta chủ trương xây dựng một “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam” thực sự của dân, do dân, vì dân, với mục tiêu “dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Không ngừng xây dựng và hoànthiện hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao dântrí và trình độ hiểu biết pháp luật cho mọi thành viên trong xã hội
Cùng với việc chú trọng xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất,đồng bộ, Nhà nước đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm đưa pháp luật đi vàocuộc sống, bảo đảm cho pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh,thống nhất và công bằng Một trong những biện pháp có tầm quan trọng đặcbiệt đó là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Đây là một biện phápkhông thể thiếu được trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật, nhằmhình thành một cách bền vững ý thức tôn trọng pháp luật, thực hiện “sống vàlàm việc theo Hiến pháp và pháp luật” của người dân
Xác định đúng tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến,giáo dục nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân nên trong Văn kiện Đại hộiĐại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta nhấn mạnh phải “phát huy dân chủ điđôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằngpháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp hành phápluật” [20,tr.135] Đây chính là điều kiện đảm bảo cho công cuộc đổi mới vàhội nhập quốc tế thành công, khẳng định vị thế ngày càng cao của Việt Namtrên trường quốc tế
Tuy nhiên, thực tế công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luậtcho nhân dân trong những năm qua còn nhiều hạn chế, chưa được đặt ngangtầm với yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật Kiểm điểm 3 năm thực hiệnChỉ thị số: 32-CT/TW, ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng(khoá IX) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến,
Trang 2giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhândân”, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá X) kết luận:
Một số cấp uỷ, tổ chức Đảng nhận thức chưa đầy đủ về côngtác này,…Giáo dục pháp luật trong nhà trường, ngoài xã hội chậmđổi mới, còn nặng về lý thuyết, ít gắn với thực tiễn cuộc sống, nộidung phổ biến, giáo dục pháp luật chưa sâu, thiếu trọng tâm, trọngđiểm, nhất là với các đối tượng đặc thù Việc ban hành văn bản quyphạm pháp luật còn chậm, giới thiệu, học tập, nghiên cứu pháp luậtchưa được nhiều, đối tượng tiếp cận còn trong phạm vi hẹp [3, tr.2]
Vì thế vấn đề tăng cường tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đểnâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân là rất cấp thiết, có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay Nó trở thành yếu tố khách quan củaquá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,
vì dân trong thời kỳ mới
Kiên Giang là tỉnh tận cùng phía Tây Nam của Tổ quốc, có cộng đồngngười Khmer khá lớn với gần 24 vạn người (chiếm 14% dân số toàn tỉnh).Đồng bào dân tộc Khmer Kiên Giang sống bằng nghề nông và cư trú ở vùngsâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo Những năm gần đây thực hiện chínhsách ưu tiên đối với đồng bào dân tộc Khmer như Chỉ thị số 68-CT/TW củaBan Bí thư (khoá VII), Chương trình 135/CP của Chính phủ làm cho đời sốngvật chất và trình độ văn hoá của đồng bào dân tộc Khmer có nâng lên, nhưng
do đồng bào dân tộc Khmer sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, phương tiện đi lạikhó khăn, các điều kiện để tiếp nhận thông tin, nhất là thông tin pháp lý, vănbản pháp luật rất hạn chế cho nên ý thức pháp luật không cao, nhiều vụ viphạm Luật hình sự, luật dân sự, luật hôn nhân và gia đình, luật giao thôngđường bộ và đường thuỷ…thường xuyên xảy ra với mức độ ngày càng nghiêmtrọng Đặc biệt, hiện nay một số phần tử xấu lợi dụng chính sách dân tộc, tôngiáo của Đảng và Nhà nước để kích động đồng bào Khmer vượt biên trái phép,khiếu kiện đông người…làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địabàn Tỉnh
Trang 3Vấn đề đặt ra hiện nay là phải tăng cường tuyên truyền giáo dục đưapháp luật vào cuộc sống của đồng bào dân tộc Khmer, để họ hiểu và làm theopháp luật, giảm bớt những hủ tục lạc hậu, những vụ vi phạm pháp luật qua đónâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần, góp phần ổn định tình hình
an ninh trật tự ở địa phương Với những lý do trên tác giả chọn vấn đề: "Giáo dục ý thức pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Kiên Giang hiện nay" làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình, bởi đây là vấn đề cấp thiết cả về
lý luận và thực tiễn ở Kiên Giang hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Do yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công tác tư tưởng, công táctuyên truyền, đặc biệt là tuyên truyền pháp luật, cho nên Đảng và Nhà nước
ta đã có những văn bản cụ thể về công tác tuyên truyền pháp luật Chẳng hạn:Chỉ thị số: 315/CT ngày 07/12/1982 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng giaocho Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo công tác tuyên truyền pháp luật; Chỉ thị
số 02/1998 CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng chính phủ “Về tăng
cường công tác phổ biến pháp luật” và Quyết định số: 03/1998 ngày
19/6/1998 của Bộ tư pháp hướng dẫn các ngành, chính quyền địa phương các
cấp về “Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho nhân dân”;
Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 9/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá
IX) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân”;
Thông báo số 74-TB/TW, ngày 11/5/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
(khoá X) về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung
ương Đảng (khoá IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán
bộ, nhân dân”.
Ngoài ra còn nhiều tác giả nghiên cứu xung quanh vấn đề về giáo dục
pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật như: “Nâng cao ý thức pháp luật của đội
ngũ cán bộ quản lý hành chính”, Luận án Phó Tiến sĩ của Lê Đình Khiêm,
Trang 41993; “Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam”, Luận
án Phó tiến sĩ của Dương Thị Thanh Mai, 1996; “Giáo dục pháp luật trong
các trường Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ở nước ta hiện nay”, Luận
án Phó tiến sĩ của Đinh Xuân Thảo, 1996;“Ý thức pháp luật và giáo dục pháp
luật ở Việt Nam”, Luận án Phó Tiến sĩ của Nguyễn Đình Lộc, 1997; “Giáo dục ý thức pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”, Luận
án Phó Tiến sĩ của Trần Ngọc Đường, 1998; “Sự phát triển ý thức pháp luật
của nhân dân đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ luật học của Hồ Việt Hiệp, 2004; “Giáo dục pháp luật cho nhân dân các dân tộc ít người ở tỉnh Đắk Lắk - Thực trạng và giải pháp”,
Luận văn Thạc sĩ luật học của Phạm Hàn Lâm, 2001; “Giáo dục pháp luật
cho cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Đăk Lắk hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ
luật học của Đỗ Văn Dương, 2002; “Giáo dục pháp luật cho nông dân tỉnh
Thái Bình trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ luật học của Hoàng
Trung Thành, 2004
Đối với đồng bào dân tộc Khmer ở Nam bộ nói chung và Kiên Giangnói riêng cũng có nhiều đề tài nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như:
“Phát triển đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer nam bộ trong
công cuộc đổi mới hiện nay”, Luận án Tiến sĩ của Trần Thanh Nam, 2001;
“Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam đối
với đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long”, Luận án Tiến sĩ của
Nguyễn Thanh Thuỷ, 2001; “Nâng cao truyền thống văn hóa dân tộc nhằm
phát huy nhân tố con người của đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long”, Luận văn Thạc sĩ Triết học của Huỳnh Thanh Quang, 1993; “ Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ xã vùng đồng bào Khmer tập trung ở tỉnh Kiên Giang hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Xây dựng Đảng của Nguyễn Việt Dũng, 2000; “Đổi mới việc thực
hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Kiên Giang hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa cộng sản khoa
học của Ngô Kim Y, 2001; “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư
Trang 5tưởng của Đảng ở vùng có đông người Khmer trong giai đoạn hiện nay”,
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng của Nguyễn Sỹ Đệ, 2005;
"Chất lượng công tác tư tưởng của các đảng bộ xã vùng có đông đồng bào Khmer tỉnh Kiên Giang giai đoạn hiện nay", Luận văn Thạc sĩ chuyên
ngành Xây dựng Đảng của Thái Thị Duy Quyên, 2005; Phân viện thành phố
Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2003): Một số
giải pháp nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc Khmer ở miền Tây Nam
bộ trong giai đoạn hiện nay, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ, thành phố Hồ
Chí Minh; Trung tâm Khoa học về tín ngưỡng tôn giáo, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh (2003): Vấn đề tôn giáo ở khu vực đồng bào Khmer
Tây Nam bộ hiện nay, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
Nhìn chung các công trình trên đây của các tác giả đã nghiên cứu mộtcách sâu sắc có hệ thống về lý luận giáo dục pháp luật và giáo dục ý thứcpháp luật trên phạm vi cả nước Đặc biệt có rất nhiều tác giả đi sâu nghiêncứu đời sống, văn hoá, tư tưởng của đồng bào dân tộc Khmer dưới nhiều gốc
độ như: Triết học, Xây dựng Đảng, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Luậthọc Tuy nhiên có thể nói rằng, cho đến nay chưa có một công trình, luận án,
luận văn nào nghiên cứu vần đề “Giáo dục ý thức pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Kiên Giang hiện nay” từ góc độ công tác tuyên truyền.
Do vậy, tác giả lựa chọn vấn đề này làm Luận văn tốt nghiệp Cao học ngànhChính trị học, chuyên ngành công tác tư tưởng
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích: làm sáng tỏ cơ sở lý luận của công tác giáo dục ý thức
pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer, từ đó khảo sát thực trạng và đề xuấtmột số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục ý thức pháp luật chođồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ:
- Trình bày và phân tích một số vấn đề lý luận chung về ý thức phápluật, giáo dục ý thức pháp luật và tầm quan trọng của việc giáo dục ý thứcpháp luật trong cộng đồng người dân tộc Khmer
Trang 6- Nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục pháp luật và ý thức pháp luậtcủa đồng bào dân tộc Khmer ở Kiên Giang hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục ýthức pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Kiên Giang trong giai đoạnhiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về vấn đề giáo dục ý thức pháp luậtcho đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn Tỉnh Kiên Giang từ góc độ công táctuyên truyền, một hoạt động quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng
- Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu từ Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ IX (năm 2001) của Đảng đến nay
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủnghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng;đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, thuthập tài liệu, nghiên cứu và xử lý tài liệu, khảo sát thực tế, điều tra xã hội học,thống kê, quan sát, so sánh
6 Cái mới của đề tài
- Luận văn góp phần vào việc nhận thức rõ tính đặc thù và thực trạnggiáo dục pháp luật và ý thức pháp luật của đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnhKiên Giang hiện nay, từ đó nâng cao nhận thức trách nhiệm chỉ đạo, tổ chứchoạt động thực tiễn của các cấp uỷ Đảng, chính quyền trong việc giáo dục ýthức pháp luật đối với đồng bào dân tộc Khmer ở Kiên Giang
- Các giải pháp đề ra trong Luận văn có thể được áp dụng trong việc xâydựng chương trình giáo dục pháp luật cho đồng bào Khmer ở tỉnh Kiên Giang
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho quá trình nghiên cứu,giảng dạy và học tập ngành chính trị học - chuyên ngành công tác tư tưởng
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận vănđược kết cấu thành 3 chương, 10 tiết
Trang 7Chương 1 GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KHMER
1.1 Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT
1.1.1 Ý thức pháp luật
1.1.1.1 Khái niệm
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội có những quy luật vàđặc điểm chung của ý thức xã hội Song, ý thức pháp luật lại có tính độc lậptương đối so với tồn tại xã hội và các hình thái ý thức xã hội khác, với nhữngđặc điểm riêng của mình Điều này được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, cũng như bất kỳ hình thái ý thức xã hội nào, ý thức pháp luật
của một thời đại bao giờ cũng phản ánh tồn tại xã hội của thời đại đó Nó chịu
sự tác động của các điều kiện vật chất của xã hội Sự chuyển biến của nềnkinh tế - xã hội sẽ dẫn đến sự biến đổi trong ý thức pháp luật và tất yếu sẽdẫn đến sự biến động trong pháp luật Tuy nhiên, các hình thái ý thức xã hộikhác không chỉ phản ánh trạng thái của các quan hệ xã hội mà cả khuynhhướng phát triển của chúng Trong khi đó, ý thức pháp luật lại lạc hậu hơn,chậm biến đổi hơn so với tồn tại xã hội - tồn tại xã hội cũ mất đi, nhưng ýthức pháp luật vẫn còn được duy trì trong một thời gian dài, đặc biệt là tâm lýpháp luật
Mặt khác, trong những điều kiện nhất định, ý thức pháp luật, đặc biệt là
tư tưởng pháp luật khoa học, lại có thể vượt trước so với sự phát triển của tồntại xã hội, vạch đường cho sự phát triển của pháp luật
Thứ hai, ý thức pháp luật mang tính kế thừa sâu sắc Mặc dù, ý thức
pháp luật phản ánh tồn tại xã hội của một thời đại nhất định, nhưng nó cũng
kế thừa những yếu tố của ý thức pháp luật trong các thời đại trước đó Chính
vì vậy, mà từ thế hệ này, đến thế hệ khác, các tư tưởng, quan điểm pháp luậtđược kế thừa và phát triển Đặc biệt, những tư tưởng, quan điểm pháp luậttiến bộ, có giá trị nhân bản không những được truyền lại qua các thời đại mà
Trang 8ngay trong một thời đại cũng có sự tiếp nhận, trao đổi giữa các nước có chế
độ chính trị khác nhau về một số yếu tố nhất định
Thứ ba, ý thức pháp luật có khả năng tác động trở lại đối với tồn tại xã
hội Sự tác động ấy, ngày càng trực tiếp hơn, do ý thức pháp luật có khả năngphản ánh đúng tồn tại xã hội và cải tạo xã hội Ngược lại, nếu ý thức phápluật đã trở nên lạc hậu, không theo kịp sự biến đổi của tồn tại xã hội hay phảnánh không đúng tồn tại xã hội thì sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội
Thứ tư, ý thức pháp luật có mối quan hệ tác động qua lại với các hình
thái ý thức xã hội khác, nhất là đối với ý thức chính trị và ý thức đạo đức
Nếu ý thức chính trị phản ánh những mối quan hệ giữa các tập đoànngười trong xã hội đối với quyền lực nhà nước, thì ý thức pháp luật phảnánh mối quan hệ của con người đối với những quy tắc được chấp nhậntrong xã hội nhất định, với tính cách là một yếu tố áp đặt từ bên ngoài Yếu
tố này, được phục tùng vô điều kiện, nhưng đồng thời cũng nhận sự đánhgiá nhất định Khác với ý thức đạo đức phản ánh mối quan hệ giữa các cánhân theo những quan điểm riêng mà con người đánh giá chính “cái tôi”của mình, nghĩa vụ và công bằng theo ý thức đạo đức mang tính nội tâm và
tự nguyện, ý thức pháp luật là thể hiện sự tuân thủ, công nhận nghĩa vụ vàcông bằng do Nhà nước quy định, nên nó mang tính áp đặt và cưỡng chế
Giữa ý thức pháp luật, ý thức chính trị, ý thức đạo đức có mối quan hệtác động lẫn nhau, vì chúng cùng phản ánh và chịu sự quy định của tồn tại xãhội, nhất là sự quy định của chế độ kinh tế Quan hệ giữa ý thức pháp luật, ýthức chính trị, ý thức đạo đức là mối quan hệ hữu cơ, làm tiền đề cho nhau.Nếu ý thức chính trị tác động chi phối ý thức pháp luật, nhất là thông qua hệ
tư tưởng chính trị thì ngược lại ý thức pháp luật phản ánh những yêu cầuchính trị dưới góc độ pháp luật Chính mối quan hệ chặt chẽ này làm cho một
số người lầm tưởng ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức chính trị Ýthức pháp luật và ý thức đạo đức đều cùng hướng vào việc điều chỉnh hành vicon người nên chúng chịu ảnh hưởng và hỗ trợ nhau rất lớn
Trang 9Trong lịch sử loài người đã từng có những thời kỳ mà luật lệ được coi
là truyền thống đạo đức Cùng với sự phân chia xã hội thành giai cấp và sựhình thành Nhà nước, ý thức pháp luật ra đời và phát triển song song cùng với
ý thức đạo đức Đây là sự phát triển có tính chất “cộng hưởng” rất cao; bởi lẽ,một ý thức pháp luật mạnh chỉ nảy sinh và tồn tại trên nền tảng của những giátrị đạo đức tốt và ngược lại
Ý thức pháp luật là một hiện tượng mang tính giai cấp, nó phản ánh đờisống pháp luật Đời sống pháp luật trước hết là nhu cầu điều chỉnh hành vi xử
sự của con người bằng các quy tắc, nhằm tạo lập một trật tự xã hội nhất định.Nhu cầu này trong xã hội có giai cấp, được các giai cấp thống trị nhận thức vàhình thành ý thức pháp luật của giai cấp mình
Nhu cầu điều chỉnh hành vi của con người trong đời sống cộng đồng vốn
là một phạm trù khách quan Tuy nhiên, các giai cấp khác nhau nhìn nhận nhucầu đó từ nhiều góc độ khác nhau, hình thành ý thức pháp luật khác nhau
Ý thức pháp luật của giai cấp thống trị giữ địa vị thống trị trong xã hội.Các giai cấp bị trị chịu sự chi phối, tác động bởi ý thức pháp luật của giai cấpthống trị
Trên cơ sở phân tích bản chất của ý thức pháp luật, chúng ta nhận thấyrằng ý thức pháp luật là một hiện tượng tinh thần xã hội hết sức phức tạp Do
đó, dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau thì có nhiều quan niệm khácnhau về khái niệm ý thức pháp luật
Có quan niệm cho rằng: ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội
biểu thị mối quan hệ của con người đối với pháp luật Đây là quan niệm mang
tính khái quát cao, nhưng lại quá chung, chưa phản ánh kết cấu, nội dung vànguồn gốc ý thức pháp luật
Một số quan niệm thường chỉ đề cập và nhấn mạnh mặt này hay mặtkhác của ý thức pháp luật Chẳng hạn có tác giả chỉ nhấn mạnh cơ cấu của ýthức pháp luật, như cho rằng: “Ý thức pháp luật là tổng hợp những tư tưởng,quan điểm pháp luật và tâm lý pháp luật Hay nói cụ thể hơn, là tổng hợpnhững nhận thức, những hiểu biết quan điểm pháp lý, những tình cảm pháp
Trang 10luật, cùng với sự tôn trọng và thói quen chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật”[40, tr.235] Về mặt bản chất giai cấp có tác giả cho rằng: ý thức pháp luật xãhội chủ nghĩa là tổng hoà những quan điểm, quan niệm, tình cảm về mặt phápluật thể hiện thái độ của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động do giaicấp công nhân lãnh đạo, đối với pháp luật, đối với những yêu cầu khác củapháp luật, đối với các quyền và nghĩa vụ của công dân Một số ý kiến khác lạithu hẹp cơ cấu của ý thức pháp luật, chỉ nhấn mạnh một mặt của tri thức phápluật mà không đề cập đến tâm lý pháp luật như:
Ý thức pháp luật là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quanđiểm và quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệthông qua sự hiểu biết của con người đối với pháp luật hiện hành,pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá vềtính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của conngười cũng như trong hoạt động của các cơ quan nhà nước và tổchức xã hội [14, tr.229]
Có quan niệm đề cập tới ý thức pháp luật một cách đầy đủ hơn, khi nêulên được cả tính chất, cơ cấu và nội dung của ý thức pháp luật:
Ý thức pháp luật - một hình thái ý thức xã hội, là tổng thểnhững quan điểm, khái niệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của conngười (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) thể hiện thái độ của họ đối vớipháp luật hiện hành, trật tự pháp luật, sự đánh giá về tính công bằnghay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luậthiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật trong tương lai, về hành vihợp pháp, hành vi không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan nhànước, tổ chức [31, tr.290]
Trên cơ sở kế thừa các yếu tố hợp lý của các quan niệm nêu trên, có
thể rút ra định nghĩa ý thức pháp luật như sau: ý thức pháp luật là một hình
thái ý thức xã hội phản ánh trực tiếp đời sống pháp luật thông qua những quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp)
Trang 11đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ và sự đánh giá về pháp luật, về quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong xã hội, về hành vi hợp pháp hay không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan nhà nước, các tổ chức trong xã hội.
Định nghĩa trên chỉ rõ bản chất của ý thức pháp luật: một hình thái ýthức xã hội có nguồn gốc trực tiếp là đời sống pháp luật, một lĩnh vực độc lậptương đối trong đời sống xã hội, đồng thời cũng nêu lên cơ cấu và nội dungcủa ý thức pháp luật Điều đó có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, một mặt nóphê phán quan điểm cho rằng ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thứcchính trị, phụ thuộc vào ý thức chính trị, và mặt khác qua đó thấy được bảnchất, vai trò to lớn của ý thức pháp luật trong đời sống xã hội, để có thái độ
xử sự đúng đắn như nó đang tồn tại
1.1.1.2 Cấu trúc
Ý thức pháp luật là hiện tượng chính trị - pháp lý có cơ cấu phức tạp.Theo giáo trình trường Đại học luật Hà Nội, trường Đại học Tổng hợp HàNội, Học viện hành chính quốc gia thì căn cứ vào những tiêu chí khác nhau
có thể chia ý thức pháp luật thành những bộ phận cấu thành khác nhau:
Một là, căn cứ vào mức độ phản ánh và trình độ nhận thức, có thể chia
ý thức pháp luật thành ý thức pháp luật thông thường, ý thức pháp luật khoahọc Ý thức pháp luật thông thường nảy sinh một cách trực tiếp, tự phát từhoạt động giao tiếp thường ngày với các sự kiện và hiện tượng pháp luật Nómang tính cảm xúc tâm lý và kinh nghiệm tình cảm, nên thiếu sâu sắc vàkhông ổn định Nhưng do phản ánh trực tiếp, nên nó phản ánh đầy đủ hơn đặcđiểm của hoàn cảnh với tất cả các chi tiết và sắc thái của nó
Ý thức pháp luật khoa học được thể hiện dưới dạng lý luận, quan điểm
về bản chất pháp luật, về sự tác động qua lại giữa chính sách pháp luật vớicác hiện tượng xã hội khác, về vai trò và giá trị xã hội của pháp luật…
Trang 12Khác với ý thức pháp luật thông thường, ý thức pháp luật khoa họcphản ánh một cách sâu sắc, ổn định và có hệ thống các hiện tượng pháp luậtthông qua nghiên cứu và tổng hợp kiến thức pháp luật.
Hai là, căn cứ vào chủ thể phản ánh ý thức pháp luật, có thể chia ý
thức pháp luật thành: ý thức pháp luật cá nhân, ý thức pháp luật nhóm và ýthức pháp luật xã hội Ý thức pháp luật cá nhân là những tư tưởng và tâm lýpháp luật của một con người cụ thể Do sự khác biệt về điều kiện sống, hoàncảnh gia đình, môi trường giáo dục, trình độ học vấn, sự từng trải của mỗingười nên ý thức pháp luật của mỗi cá nhân cũng khác nhau, đa dạng vàphong phú
Ý thức pháp luật của nhóm phản ánh những đặc điểm của từng nhóm
xã hội tương ứng Trong xã hội thường có nhiều nhóm khác nhau, do điềukiện sống, nhu cầu lợi ích riêng của mỗi nhóm mà những thành viên trongnhóm có những nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ tương đối giống nhauđối với pháp luật
Ý thức pháp luật xã hội là tổng thể những tư tưởng và tâm lý pháp luậtphản ánh đời sống pháp luật của một xã hội Ý thức pháp luật xã hội xuấtphát từ ý thức pháp luật cá nhân, nhưng không phải là tổng số giản đơn haytrung bình cộng sự phản ánh của các cá nhân mà là một “nguyên thể” mới vềchất những ý thức pháp luật cá nhân, là một hệ thống hoàn chỉnh hình thành
từ sự tác động lẫn nhau giữa ý thức pháp luật cá nhân với cá nhân, cá nhânvới tập thể… và chịu sự qui định bởi ý thức pháp luật của bộ phận tiên tiếnđại diện cho xã hội (giai cấp thống trị)
Ba là, căn cứ vào nội dung và tính chất của sự hình thành ý thức pháp
luật, thì có thể chia ý thức pháp luật thành: tri thức pháp luật và thái độ phápluật Tri thức pháp luật là bao gồm những tư tưởng, quan điểm của con người
về đời sống pháp luật hợp thành hệ thống thống nhất Tri thức pháp luật là kếtquả của sự phản ánh tri giác, có mục đích, có tổ chức của hoạt động tư duy;cho nên sự phản ánh này rất sâu sắc, là cơ sở hình thành lý luận, học thuyết
về Nhà nước và pháp luật của một giai cấp nhất định
Trang 13Thái độ pháp luật là một bộ phận của ý thức pháp luật phản ánh trựctiếp các hiện tượng pháp luật và sự kiện pháp luật đơn lẻ Đây là bộ phậnphản ánh thái độ của con người đối với đời sống pháp luật dưới dạng tìnhcảm, tâm trạng, thói quen, niềm tin, truyền thống.
Thái độ pháp luật là trình độ nhận thức trực giác, cảm tính mang nhiềuyếu tố chủ quan, tự phát Những hiện tượng pháp luật xảy ra trong đời sống
xã hội thường tác động đến tâm lý từng cá nhân, từng thành viên tập thể,trong cộng đồng… Vì vậy, thái độ pháp luật là một bộ phận của tâm lý xã hội
và chịu sự tác động của các quy luật tâm lý xã hội nói chung
So với tri thức pháp luật, thái độ pháp luật là một bộ phận có tính chấtbền vững hơn và bảo thủ hơn, vì gắn với truyền thống, tập quán, thói quencủa con người Nó hình thành dần dần và ít biến đổi Chính vì vậy, quá trìnhxoá bỏ ý thức pháp luật lạc hậu, xây dựng ý thức pháp luật mới theo hướng
xã hội chủ nghĩa là quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi sự nổ lực toàn diện vàphải kiên trì
Giữa thái độ pháp luật và tri thức pháp luật có mối quan hệ gắn bó hữu
cơ với nhau Nhưng không phải lúc nào giữa chúng cũng có sự phù hợp Đểkhắc phục tình trạng không phù hợp giữa tri thức pháp luật và thái độ phápluật, phải coi trọng xã hội học pháp luật trong nghiên cứu dư luận xã hội mộtcách công khai hoá và dân chủ hoá đời sống xã hội
Quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật của con người cũngchính là quá trình tìm kiếm, tích luỹ kiến thức về pháp luật trong đời sống xãhội Hiểu biết về pháp luật càng nhiều thì ý thức của con người về pháp luậtcàng sâu sắc Có tri thức, có hiểu biết sâu sắc về pháp luật sẽ là tiền đề, điềukiện để mỗi người hình thành thái độ, động cơ đối với việc thực thi pháp luật.Bởi lẽ, quá trình hình thành tri thức về pháp luật ở con người chịu sự tác độngcủa những nhu cầu và lợi ích khác nhau, theo đuổi mục đích và trải qua nhữngxúc cảm khác nhau Nói cách khác, tri thức với những mức độ khác nhau phảiđược kết hợp với nhân tố tình cảm thì mới phát huy tác dụng “Không có cảmxúc của con người thì không bao giờ có thể tìm tòi chân lý” [74, tr.131] Điều
Trang 14đó cho thấy, nếu tri thức pháp luật không chuyển thành tình cảm đối với phápluật, nghĩa là có thái độ tôn trọng, tin tưởng vào luật pháp để từ đó hình thànhđộng cơ đúng đắn trong việc chấp hành pháp luật, thì không thể có những hành
vi đúng đắn trong hành động thực tiễn của con người Chính vì vậy, tri thức,thái độ, tình cảm pháp luật là những yếu tố cơ bản cấu thành ý thức pháp luậtcủa con người
Việc tìm hiểu cơ cấu của ý thức pháp luật, tức là nghiên cứu mối quan
hệ bên trong của các yếu tố cấu thành ý thức pháp luật, giúp chúng ta tìm hiểucon đường hình thành ý thức pháp luật, sự đánh giá về ý thức pháp luật, cũngnhư phương thức tác động giáo dục để hình thành và nâng cao ý thức phápluật cho nhân dân
Theo nghĩa hẹp: giáo dục là quá trình tác động định hướng của chủ
quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu tranh vàsản xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, để họ có đầy đủ khảnăng tham gia vào lao động và đời sống xã hội Giáo dục theo nghĩa hẹpkhông bao hàm trong đó những ảnh hưởng của các nhân tố khách quan, nghĩa làkhông tính đến những điều kiện ảnh hưởng bên ngoài lên đối tượng giáo dục
Theo nghĩa rộng: giáo dục đó là quá trình ảnh hưởng của những điều
kiện khách quan như chế độ chính trị xã hội, trình độ phát triển kinh tế, tưtưởng, môi trường sống xung quanh, phong tục, tập quán và tác động của
Trang 15những nhân tố chủ quan như ý thức, tự giác, sự tác động có mục đích có địnhhướng của con người.
Trên cơ sở của khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng chúng ta thấy rằngkhái niệm giáo dục được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố chủquan và yếu tố khách quan Vì vậy, giáo dục ý thức pháp luật cũng phải đặttrong mối quan hệ này, điều đó được hiểu ở một số điểm sau:
Một là, sự hình thành và phát triển ý thức cá nhân của con người là sản
phẩm của một quá trình tác động, đan xen, thống nhất giữa nhân tố chủ quan
và các điều kiện khách quan Những điều kiện khách quan có ảnh hưởng đếngiáo dục bao gồm các điều kiện về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá…Điều kiện khách quan là yếu tố hết sức quan trọng đối với việc hình thành ýthức của con người Cùng với việc thừa nhận ảnh hưởng của các điều kiệnkhách quan, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đều rất chú trọngđến tác động của yếu tố chủ quan Tức là nhấn mạnh đến các hoạt động mangtính tự giác có tổ chức và định hướng do con người thực hiện trong quá trìnhhoàn thiện chính mình
Như vậy, sự hình thành và phát triển ý thức của con người, là sản phẩmcủa một quá trình đan xen phức tạp, trong đó các điều kiện khách quan lànhững nhân tố ảnh hưởng có thể tự phát theo chiều này hay chiều khác, cònnhân tố chủ quan là nhân tố tích cực mang tính tác động, nhân tố tác độngbao giờ cũng là tự giác có ý thức, có mục đích, định hướng rõ ràng cụ thể.Khi nhân tố khách quan ảnh hưởng cùng chiều với nhân tố tác động thì hiệuquả giáo dục sẽ đảm bảo, nếu ngược lại thì hiệu quả giáo dục sẽ không tránhkhỏi những hạn chế Vì vậy, khi các chủ thể giáo dục tác động lên các yếu tốkhách quan nếu có ảnh hưởng bất lợi phải kịp thời có những điều chỉnh cả vềnội dung, hình thức và phương pháp giáo dục để sao cho phù hợp với địnhhướng của chủ thể giáo dục
Hai là, từ mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố khách quan với
những tác động của nhân tố chủ quan trong giáo dục hình thành ý thức củacon người cho phép nghiên cứu sâu sắc những vấn đề về giáo dục pháp luật
Trang 16trong quá trình đi tới mục tiêu hình thành ý thức pháp luật của đối tượngđược giáo dục.
Sự hình thành ý thức pháp luật là sản phẩm của điều kiện khách quan
và chủ quan tác động vào ý thức con người Trong đó giáo dục ý thức phápluật chỉ là một yếu tố của quá trình hình thành ý thức pháp luật, đó là sự tácđộng có mục đích, có định hướng của nhân tố chủ quan Sự phân biệt trên đây
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phân định rõ ràng về nội dung, hìnhthức, phương pháp giáo dục
Thực tiễn nước ta trong những năm qua đã chỉ ra rằng, sự tác động củanhững điều kiện mang tính tiêu cực của nền kinh tế thị trường đang tác độngmạnh mẽ đến nhận thức, lối sống, tình cảm, lòng tin của con người đối vớipháp luật, đó là những biểu hiện của sự tha hoá đạo đức, tham nhũng, hối lộ,rửa tiền…đã tác động rất lớn đến ý thức pháp luật của mỗi người Việc tiếnhành các hoạt động giáo dục ý thức pháp luật thiếu những nội dung, hìnhthức, phương pháp giáo dục phù hợp thì sẽ không hạn chế được những mặttiêu cực của nhân tố khách quan đem lại, từ đó rất khó hình thành và pháttriển ý thức pháp luật tiến bộ ở con người
Ba là, khái niệm giáo dục ý thức pháp luật xuất phát từ khái niệm giáo
dục trong khoa học sư phạm sẽ cho phép chúng ta thấy được mối quan hệgiữa cái chung và cái riêng, giáo dục ý thức pháp luật là cái riêng, trong cáiđặc thù, trong mối quan hệ với giáo dục là cái chung, cái phổ biến Do vậy, sẽthấy được việc sử dụng những hình thức, phương pháp và xác định mục tiêuriêng của giáo dục ý thức pháp luật, đồng thời giáo dục ý thức pháp luật cũng
có những nét riêng phong phú và đa dạng hơn chủ thể giáo dục trong môitrường sư phạm
Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật ở mỗi con người là sự kếthợp quá trình tuyên truyền, giáo dục pháp luật của chủ thể với các yếu tốkhách quan Vì vậy, giữa giáo dục ý thức pháp luật và giáo dục pháp luật có
sự thống nhất, đồng nhất với nhau về nội hàm khái niệm Cả giáo dục ý thức
Trang 17pháp luật và giáo dục pháp luật đều nhằm mục đích hình thành tri thức phápluật, thái độ, tình cảm pháp luật cho đối tượng giáo dục
Từ sự phân tích trên có thể nêu khái niệm giáo dục ý thức pháp luậtnhư sau:
Giáo dục ý thức pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục, tác động lên đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ sự hiểu biết, thái độ và sự đánh giá về pháp luật, về quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong xã hội, về hành vi hợp pháp hay không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan nhà nước, các tổ chức trong xã hội
1.1.2.2 Mục đích của giáo dục ý thức pháp luật
Khi tiến hành bất cứ một hoạt động nào đó thì chúng ta phải xác địnhmục đích để làm gì? cần đạt được mục đích ấy bằng con đường nào? tức làphải lựa chọn hình thức và phương pháp nhất định Xác định mục đích đúngđắn của giáo dục ý thức pháp luật chẳng những là căn cứ, tiêu chí để đánh giáhiệu quả mà còn là căn cứ để xây dựng nội dung giáo dục ý thức pháp luậtcho phù hợp với đối tượng được giáo dục Mục đích của giáo dục ý thức phápluật khác với mục đích của các dạng giáo dục khác
Mục đích của giáo dục ý thức pháp luật trong điều kiện hiện nay cầnxác định ở những điểm sau đây:
- Một là, từng bước nâng cao nhận thức về pháp luật cho công dân.
Nâng cao nhận thức, mở rộng sự hiểu biết của con người trên các lĩnhvực là một yêu cầu khách quan của công tác giáo dục nói chung Trong giáodục ý thức pháp luật thì mục đích được đặt ra là không ngừng nâng cao nhậnthức pháp lý cho đối tượng được giáo dục ý thức pháp luật để họ có kiến thứcvững vàng, nắm bắt được những tri thức về Nhà nước, về pháp luật Trongđiều kiện ở nước ta hiện nay, thực tế cho thấy rằng Đảng và Nhà nước ta đặcbiệt quan tâm đến việc nâng cao dân trí nhất là dân trí pháp lý Tuy nhiên, dođặc điểm và điều kiện ở một số vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo nênnhân dân các dân tộc ít người có hạn chế về hiểu biết pháp luật Vì thế việcxác định đúng đắn mục đích giáo dục ý thức pháp luật có ý nghĩa thực tiễn
Trang 18đặc biệt quan trọng Chỉ có thể giáo dục ý thức pháp luật nâng cao nhận thứcpháp lý làm cho mọi người hiểu một cách đầy đủ và đúng đắn về giá trị xãhội và vai trò điều chỉnh của pháp luật từ đó hình thành tâm lý, tình cảm vàthái độ tôn trọng pháp luật, tin tưởng vào pháp luật và điều chỉnh hành vi xử
sự của mình theo pháp luật Khi mà mọi thành viên trong xã hội đã đạt đếnmột ý thức “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” thì đó là mụcđích cao nhất và là hệ quả của quá trình giáo dục ý thức pháp luật
- Hai là, hình thành tình cảm pháp lý và niềm tin nội tâm đối với pháp
luật Việc nâng cao trình độ kiến thức pháp lý là mục đích đầu tiên vô cùng quantrọng nhưng bản thân nó chưa phải là sự quyết định hành vi xử sự hợp pháp.Nếu đã có kiến thức pháp luật, nhưng trong mỗi con người cần phải có tình cảmpháp lý, nghĩa là có thái độ tôn trọng pháp luật và tin tưởng vào sự công bằngcủa pháp luật từ đó mới tạo ra khả năng điều chỉnh hành vi hợp pháp của mình.Thiếu tình cảm và niềm tin vào pháp luật thì mọi hành động dễ bị chệch hướngkhỏi chuẩn mực pháp lý vì những mục đích, động cơ cá nhân Thực tế cho thấynếu một người có sự hiểu biết pháp luật, có tình cảm và lòng tin vào pháp luậtthì họ sẽ tin theo những quy định của pháp luật Tuy nhiên, để có được tình cảm
và lòng tin vào pháp luật thì cần phải giáo dục tình cảm, lòng tin và sự côngbằng, trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân, thái độ không khoan nhượng với kẻthù Tất cả những vần đề đó sẽ là cơ sở hình thành động cơ của hành vi hợppháp
- Ba là, giáo dục ý thức pháp luật nhằm hình thành động cơ, hành vi,
thói quen xử sự hợp pháp, tính tích cực xã hội
Hành vi xử sự theo pháp luật của con người là kết quả của một quátrình nhận thức pháp luật Trong quá trình nhận thức có nhiều yếu tố tác động(chủ quan và khách quan) để hình thành nên hành vi và thói quen xử sự theopháp luật nhưng hoạt động giáo dục ý thức pháp luật sẽ là yếu tố cơ bản Bởi
lẽ thông qua giáo dục ý thức pháp luật sẽ cung cấp tri thức pháp luật, lòng tinsâu sắc tự nguyện thực hiện những quy định của pháp luật Để đạt được mụcđích này trong quá trình giáo dục ý thức pháp luật phải lựa chọn nhiều hình
Trang 19thức, phương pháp và tiến hành thường xuyên, liên tục để mọi công dân hiểuđược sự cần thiết, tính hợp lý của pháp luật là vì lợi ích chung của xã hội.Thực tiễn hiện nay ở nước ta, mục đích này có quan hệ vô cùng to lớn khi mà
đa số nhân dân lao động vẫn còn tình trạng chưa có thói quen xử sự theo phápluật, việc sử dụng quyền và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của hiến pháp
và pháp luật còn hạn chế, thậm chí còn hành vi vi phạm nghiêm trọng
Giáo dục ý thức pháp luật nhằm đạt được ba mục đích nêu trên, ngoài
ra mục đích của nó còn là tiêu chí giúp cho việc xác định hiệu quả của quátrình giáo dục ý thức pháp luật Không dựa vào mục đích của giáo dục ý thứcpháp luật thì không thể đánh giá được hiệu quả và các chỉ số xác định hiệuquả của quá trình giáo dục ý thức pháp luật
1.1.2.3 Chủ thể và đối tượng của giáo dục ý thức pháp luật
Chủ thể của giáo dục ý thức pháp luật:
Chủ thể của giáo dục nói chung hết sức rộng lớn, “là đối tượng gây rahành động mang tính tác động trong quan hệ đối lập với đối tượng bị chi phốicủa hành động gọi là chủ thể” [71, tr.132]
Chủ thể giáo dục ý thức pháp luật trong công tác tuyên truyền giáo dục
ý thức pháp luật được hiểu là tất cả những người, tổ chức theo chức năng,nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội tham gia vào việc giáo dục ý thức pháp luậtnhằm thực hiện các mục đích giáo dục ý thức pháp luật
Căn cứ vào mức độ liên quan giữa mục đích giáo dục ý thức pháp luậtvới chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm pháp lý các chủ thể giáo dục ý thứcpháp luật, chúng ta có thể chia chủ thể giáo dục ý thức pháp luật thành hailoại đó là chủ thể chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp
- Chủ thể chuyên nghiệp bao gồm: những người có chức năng, nhiệm
vụ chủ yếu, trực tiếp thực hiện mục đích, nội dung giáo dục ý thức pháp luật,như các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật ở các hệ thống cơ quan củaĐảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội…Đây là những chủ thể quan trọng
và chủ yếu của giáo dục ý thức pháp luật
Trang 20- Chủ thể không chuyên nghiệp: là những người hay tổ chức tuy chứcnăng chính không phải là giáo dục ý thức pháp luật, nhưng thông qua các hoạtđộng chuyên môn, nghiệp vụ của mình đã tham gia tích cực vào việc thựchiện tốt các mục tiêu, nội dung giáo dục ý thức pháp luật Những người nàygồm các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, các cán bộ thuộc các
cơ quan hành pháp, tư pháp, các luật sư, các luật gia, các cán bộ nhân viêncủa các đoàn thể, tổ chức xã hội
Chủ thể giáo dục ý thức pháp luật còn là các công dân, bằng sự tự giáodục, bằng ý thức trách nhiệm và gương mẫu thực hiện pháp luật mà có tácdụng ảnh hưởng giáo dục tích cực đến công dân khác
Đối tượng của giáo dục ý thức pháp luật:
Đối tượng giáo dục ý thức pháp luật là các cá nhân công dân hay nhómcộng đồng dân cư tiếp nhận trực tiếp hay gián tiếp tác động của các hoạt độnggiáo dục pháp luật do các chủ thể giáo dục pháp luật tiến hành nhằm đạt mụcđích đặt ra
Từ quan niệm về đối tượng giáo dục ý thức pháp luật như trên, dựa vàocác yếu tố như điều kiện đời sống vật chất, tinh thần, các yếu tố dân tộc, địa
lý, giới tính, lứa tuổi, học vấn, địa vị xã hội của mỗi công dân; dựa vào yêucầu thực tế tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và nhất là chủ trương của Đảng,Nhà nước thực hiện giáo dục ý thức pháp luật sâu rộng trong cán bộ, côngchức, các tầng lớp nhân dân lao động, đồng bào dân tộc ít người… mà chiađối tượng giáo dục ý thức pháp luật thành những loại sau:
- Đối tượng giáo dục ý thức pháp luật là cán bộ, công chức Nhà nước,loại đối tượng này có đặc điểm là theo chức năng, nhiệm vụ của mình họ vừa
là đối tượng cần được giáo dục ý thức pháp luật tức là cần được trang bị nhữngtri thức cơ bản về hệ thống pháp luật chung và pháp luật chuyên ngành, vềnguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước… Đồng thời họ vừa làchủ thể giáo dục ý thức pháp luật trong quan hệ với nhân dân, bằng việc thôngqua các hoạt động hàng ngày ở công sở họ giải thích, áp dụng các quy phạmpháp luật để giải quyết các công việc cụ thể trên tất cả các lĩnh vực của đời
Trang 21sống xã hội, từ đó tác động đến tình cảm, lòng tin và cách ứng xử của đôngđảo quần chúng nhân dân lao động nơi họ sinh sống và làm việc.
- Đối tượng giáo dục ý thức pháp luật là các chủ doanh nghiệp, ngườiquản lý, cán bộ công đoàn ở các doanh nghiệp
Hệ thống pháp luật về kinh doanh, thương mại, dân sự đã và đang từngbước được hoàn thiện, nhằm tạo ra những “khung pháp lý” phù hợp, đảm bảomôi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp kể cả các doanhnghiệp vừa và nhỏ Những năm qua các thành phần kinh tế đã chứng minh sựđóng góp to lớn của mình cho nền kinh tế quốc dân đem lại những biến đổilớn lao cho đất nước Tuy nhiên, nhìn nhận dưới gốc độ quản lý mọi hoạtđộng kinh doanh của các doanh nghiệp còn mang tính tự phát, thiếu trật tự kỷcương, nhiều mặt trái của nền kinh tế thị trường không ngừng phát sinh, gâynhiều hậu quả, làm ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế
Để khắc phục tình trạng trên, đòi hỏi Nhà nước phải tích cực xây dựngmới, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động kinh doanh đồngthời phải thường xuyên tiến hành giáo dục ý thức pháp luật cho các doanhnghiệp nhằm giúp cho họ có những kiến thức cơ bản về pháp luật và khôngngừng nâng cao ý thức pháp luật, hình thành ở họ thói quen kinh doanh trongkhuôn khổ của pháp luật
- Đối tượng giáo dục ý thức pháp luật là học sinh, sinh viên; đây lànhững công dân trẻ, là lực lượng tương lai của đất nước Tuy nhiên, trongđiều kiện hiện nay, khi đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đạihoá đất nước thì đối tượng này vẫn còn thiếu nhiều hiểu biết về pháp luật,dẫn đến những hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội vẫn cònphổ biến, thậm chí có chiều hướng ngày càng gia tăng, đặc biệt là lĩnh vựchình sự
Với đối tượng này đòi hỏi Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành đoànthể và gia đình cần phải có những biện pháp phối kết hợp để nâng cao hiệuquả công tác giáo dục ý thức pháp luật Khi giáo dục ý thức pháp luật cho đốitượng này cần phải chú ý xác định rõ từng đối tượng học sinh, sinh viên và
Trang 22dựa theo lứa tuổi, giới tính, ngành nghề đào tạo để xây dựng các nội dunggiáo dục phù hợp Cần giáo dục ý thức pháp luật bằng nhiều hình thức, trong
đó quan trọng và có hiệu quả nhất là đưa vào giảng dạy pháp luật ở cáctrường học Thông qua đó hình thành một cách bền vững ý thức công dân,lòng tin, tình cảm vào pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa
- Đối tượng giáo dục ý thức pháp luật là các tầng lớp nhân dân, đây làđối tượng đông đảo nhất trong xã hội bao gồm thanh niên, phụ nữ, nông dân,những người lao động trong các doanh nghiệp Giáo dục ý thức pháp luật cácđối tượng này cần dựa vào đặc điểm lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa bànsinh sống, nhu cầu hiểu biết Đặc biệt nhân dân các dân tộc ít người sốngvùng núi, vùng sâu, vùng xa ý thức pháp luật rất thấp Chính vì vậy, cần phảigiáo dục pháp luật để họ nhận thức được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi củacông dân đối với Nhà nước và xã hội
Đối với đồng bào dân tộc Khmer là đối tượng đặc thù dân tộc, chủ yếusinh sống tại các xã nghèo, điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ học vấn thấp,
ý thức pháp luật không cao, là đối tượng rất dễ bị các thế lực thù địch lôi kéo,kích động, khiếu kiện đông người Vì vậy, trong công tác tuyên truyền, phổbiến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer cần chú ý đến các hìnhthức, phương tiện giáo dục phù hợp với đặc điểm đối tượng đặc thù này Cầnchú trọng vai trò của các vị trụ trì ở các Chùa Khmer, các vị A-cha (người có
uy tín nhất trong cộng đồng người Khmer), các cán bộ công chức ngườiKhmer đã nghỉ hưu với tư cách vừa là chủ thể giáo dục pháp luật vừa là đốitượng giáo dục pháp luật Các vị trụ trì, các vị A-cha, các cán bộ công chứcngười Khmer là những chủ thể tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cóhiệu quả cao, ngoài ra họ còn là người làm tốt công tác hoà giải ở cơ sở khinhững người Khmer có mâu thuẫn với nhau
1.1.2.4 Nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục ý thức pháp luật
- Nội dung giáo dục ý thức pháp luật:
Trang 23Một trong những yếu tố quan trọng của quá trình giáo dục ý thức phápluật đó chính là nội dung của giáo dục ý thức pháp luật Nội dung giáo dục ýthức pháp luật được xác định trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ, đối tượng củagiáo dục ý thức pháp luật Việc xác định đúng nội dung giáo dục ý thức phápluật sẽ đảm bảo cho chất lượng của giáo dục ý thức pháp luật có được hiệuquả thiết thực và cụ thể Nội dung giáo dục ý thức pháp luật là sự cụ thể hoámục đích của giáo dục ý thức pháp luật.
Tất cả những nội dung giáo dục ý thức pháp luật là những tri thức cầnthiết cho đối tượng giáo dục sử dụng để phân tích, đánh giá một cách khoahọc những vấn đề thực tế mà họ hay gặp, từ đó định hướng hành vi chấp hànhpháp luật của mình trong hoạt động thực tiễn
Những nội dung của giáo dục pháp luật để hình thành ý thức pháp luậtđược xác định theo những cấp độ, đối tượng khác nhau phù hợp với từng nhucầu, đặc điểm của từng loại đối tượng Xuất phát từ nhu cầu, đặc điểm đốitượng giáo dục ý thức pháp luật, chúng ta có thể chia nội dung giáo dục ýthức pháp luật thành các cấp độ sau:
Giáo dục pháp luật phổ cập cho mọi công dân, bao gồm những kiếnthức pháp luật tối thiểu, phổ thông sao cho phù hợp với mọi đối tượng là nhândân lao động, nhằm giúp họ có hiểu biết và hình thành thói quen giản đơntrong việc chấp hành pháp luật, biết vận dụng pháp luật để bảo vệ nhữngquyền lợi hợp pháp của mình khi bị những hành vi bất hợp pháp xâm hại Cụthể là phổ biến, giáo dục các luật như: Luật đất đai, Luật thuế, Luật hôn nhân
và gia đình, Luật giao thông đường bộ, đường thuỷ…
Giáo dục pháp luật có tính chuyên luật, đây là cấp độ cao nhất của giáodục ý thức pháp luật, bao gồm những tri thức pháp luật mang tính chuyên sâu
về các ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam Nội dung giáo dục ýthức pháp luật ở cấp độ này thường áp dụng cho việc đào tạo các đối tượng
để trở thành các chuyên gia luật phục vụ cho các tổ chức nghề nghiệp
- Hình thức giáo dục ý thức pháp luật:
Trang 24Để đạt được mục đích và nội dung của giáo dục ý thức pháp luật cần phảixác định, sử dụng tổng hợp các hình thức giáo dục ý thức pháp luật; có xác địnhđúng, đầy đủ các hình thức giáo dục ý thức pháp luật thì hoạt động giáo dục ýthức pháp luật mới đạt được hiệu quả Theo từ điển tiếng việt thì “hình thức làbên ngoài, cái chứa đựng nội dung, là cách thức tiến hành” [71, tr.25] Tronggiáo dục học, khái niệm hình thức cũng được xem xét chủ yếu ở gốc độ tổ chứcquá trình giáo dục Vì vậy, giáo dục học sử dụng thuật ngữ hình thức tổ chứcgiáo dục Theo đó, hình thức tổ chức giáo dục là cách thức tiến hành tổ chứccông tác giáo dục tư tưởng, đạo đức theo chế độ và trật tự nhất định để hìnhthành ở người học những phẩm chất đạo đức, những nhận thức, thái độ, hành
vi phù hợp với các chuẩn mực xã hội, luật pháp nhà nước
Trên cơ sở quan niệm này, hình thức giáo dục ý thức pháp luật thườngđược hiểu là cách thức tổ chức phối hợp hoạt động giữa chủ thể và đối tượng,
là cách bố trí sắp xếp các yếu tố đảm bảo và các bước tiến hành theo một trật
tự nhất định nhằm hình thành ở đối tượng tri thức pháp luật, tình cảm phápluật và thái độ xử sự đối với pháp luật Như vậy, hình thức giáo dục ý thứcpháp luật chính là hình thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa chủ thể giáo dụcvới đối tượng giáo dục ý thức pháp luật, được quy định bởi nội dung và mụcđích giáo dục ý thức pháp luật
Hình thức giáo dục ý thức pháp luật rất đa dạng và phong phú, nó luônđược hoàn thiện và phát triển Căn cứ vào tính đa dạng, đặc thù của chủ thể,đối tượng giáo dục ý thức pháp luật, chúng ta có thể chia hình thức giáo dục ýthức pháp luật thành hai loại cơ bản sau:
Một là, các hình thức giáo dục ý thức pháp luật mang tính phổ biến
truyền thống, được sử dụng trong nhiều loại hình giáo dục như: nói chuyệnpháp luật tại các cơ quan Nhà nước, địa bàn dân cư, mở các lớp tập huấn, cáchội nghị, hội thảo pháp luật, các câu lạc bộ pháp luật, các cuộc thi tìm hiểupháp luật, tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn pháp luật thông qua báo chí,các phương tiện thông tin đại chúng
Trang 25Hai là, các hình thức giáo dục ý thức pháp luật có tính chất đặc thù,
đây là các hoạt động định hướng giáo dục ý thức pháp luật thông qua các hoạtđộng lập pháp, hành pháp, tư pháp của các cơ quan Nhà nước như Quốc hội,Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sát Hình thức giáo dục ý thức pháp luật quacác hoạt động của các tổ chức chính trị -xã hội, tổ chức quần chúng, tổ chứcnghề nghiệp, tổ hoà giải, trợ lý pháp lý
Từ quan niệm và phân loại hình thức giáo dục ý thức pháp luật dẫn đếnyêu cầu chỉ đạo quá trình giáo dục ý thức pháp luật sao cho các chủ thể phảixác định rõ định hướng, yêu cầu, nội dung giáo dục ý thức pháp luật ngaytrong khi xây dựng các chương trình công tác nghiệp vụ chuyên môn từngthời kỳ hoặc từng sự việc, trên cơ sở đó chuẩn bị các điều kiện vật chất, cán
bộ, tổ chức các hình thức giáo dục ý thức pháp luật thật phù hợp với từng loạiđối tượng Để truyền tải các nội dung của pháp luật đến đối tượng cụ thể, cầnphải kết hợp các hình thức giáo dục tuyên truyền khác nhau nhằm phát huysức mạnh tổng hợp của từng hình thức, bổ sung, hỗ trợ, bù đắp cho những hạnchế của từng loại hình thức
- Phương pháp giáo dục ý thức pháp luật:
Theo lý luận giáo dục học, khái niệm về phương pháp giáo dục nóichung được hiểu là cách thức, biện pháp sử dụng để truyền đạt và lĩnh hội củachủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục nhằm đạt tới mục đích giáo dục
Dựa vào cơ sở quan niệm trên, phương pháp giáo dục ý thức pháp luậtđược hiểu là tổng thể, cách thức, biện pháp mà chủ thể và đối tượng giáo dục
ý thức pháp luật sử dụng để nhằm thoả mãn mục đích truyền đạt và lĩnh hộinội dung giáo dục ý thức pháp luật Thực tiễn về giáo dục ý thức pháp luậttrong điều kiện đổi mới đất nước cho ta thấy có hai nhóm phương pháp giáodục ý thức pháp luật
Một là, nhóm các phương pháp áp dụng cho các hoạt động giáo dục ý
thức pháp luật, cụ thể như: phương pháp thuyết phục, giải thích, phương phápthực hành trực quan, phương pháp kiểm tra, đánh giá, phương pháp tạo tìnhhuống, phương pháp nêu gương, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn
Trang 26Hai là, nhóm các phương pháp mang tính tổ chức giáo dục ý thức pháp
luật như phương pháp mô hình, phương pháp tổ chức phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo
và triển khai giáo dục ý thức pháp luật ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương
Khi chủ thể thực hiện các nội dung, hình thức giáo dục ý thức pháp luậtđến đối tượng giáo dục ý thức pháp luật, cần phải nghiên cứu kỹ để lựa chọnnhững loại phương pháp giáo dục nào cho thích hợp với từng đối tượng Cóphương pháp giáo dục ý thức pháp luật tốt sẽ là một trong những yếu tố quantrọng quyết định đến chất lượng, hiệu quả của giáo dục ý thức pháp luật
- Phương tiện giáo dục ý thức pháp luật:
Phương tiện giáo dục ý thức pháp luật là yếu tố quan trọng để đưa phápluật đến với mọi loại đối tượng; đây là một yếu tố quyết định sự thành cônghay thất bại đối với công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật
Theo giáo trình nguyên lý công tác tư tưởng của Học viện báo chí vàtuyên truyền thì phương tiện là những vật mà con người sử dụng để làm mộtviệc gì đó nhằm đạt mục đích đặt ra Như vậy, cũng có thể hiểu rằng, phươngtiện chính là công cụ mà nhờ nó con người có thể thực hiện được một mụcđích nhất định trong hoạt động thực tiễn
Với cách hiểu như vậy thì phương tiện giáo dục ý thức pháp luật lànhững công cụ mà chủ thể giáo dục ý thức pháp luật sử dụng để tuyên truyền,giáo dục nội dung pháp luật đến đối tượng giáo dục ý thức pháp luật
Thực tiễn hiện nay cho thấy chủ thể giáo dục ý thức pháp luật sử dụngmột số phương tiện như tuyên truyền miệng, hệ thống giáo dục quốc dân,phương tiện thông tin đại chúng, văn hoá - văn nghệ… để giáo dục ý thức phápluật
Phương tiện giáo dục ý thức pháp luật rất đa dạng và phong phú mỗiloại hình phương tiện đều có những ưu điểm và hạn chế khác nhau, vì vậytrong quá trình tiến hành giáo dục ý thức pháp luật thì chủ thể giáo dục cầnnghiên cứu lựa chọn phương tiện giáo dục ý thức pháp luật phù hợp với đốitượng và nội dung giáo dục ý thức pháp luật Chủ thể giáo dục cần phảithường xuyên kết hợp các loại hình phương tiện giáo dục ý thức pháp luật để
Trang 27tạo nên tính nhanh chóng, kịp thời, rộng khắp trong quá trình giáo dục ý thứcpháp luật.
1.1.2.5 Mối quan hệ giữa giáo dục ý thức pháp luật với các lĩnh vực giáo dục khác
Giáo dục ý thức pháp luật có những đặc điểm khác biệt với các dạnggiáo dục khác như giáo dục chính trị - tư tưởng, giáo dục đạo đức… Nhưnggiữa chúng có mối quan hệ mật thiết và hỗ trợ cho nhau Giáo dục ý thứcpháp luật được xem như là một dạng giáo dục trong hệ thống giáo dục nhằmhình thành ý thức công dân Vì vậy, giáo dục ý thức pháp luật phải được đặttrong mối quan hệ với hệ thống giáo dục nói chung Nghiên cứu các mối quan
hệ hệ thống với các dạng giáo dục gần gũi với nó như giáo dục chính trị -tưtưởng, giáo dục đạo đức giúp chúng ta tìm ra những nét đặc thù cũng nhưnhững nét chung
- Mối quan hệ giữa giáo dục ý thức pháp luật với giáo dục chính trị - tư tưởng
Chính trị - tư tưởng là một lĩnh vực thuộc phạm trù ý thức, trong đó lậptrường giai cấp, đường lối cách mạng của Đảng cầm quyền là đường lối chínhtrị, là bản chất của giai cấp Pháp luật là sự cụ thể hoá, thể chế hoá tư tưởng,đường lối của Đảng cầm quyền Vì vậy, khi giáo dục ý thức pháp luật cũnghình thành ở đối tượng lập trường giai cấp và ý thức chính trị
Ở nước ta, Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và
xã hội Đường lối chính sách của Đảng là linh hồn của pháp luật Đường lốinghị quyết của Đảng được thể chế hoá, cụ thể hoá bằng pháp luật Đã có thờigian dài trước đây, giáo dục chính trị được coi là nhiệm vụ hàng đầu, là chủyếu nên dẫn đến việc xem nhẹ giáo dục ý thức pháp luật Cần phải xác địnhrằng giáo dục chính trị - tư tưởng khác với giáo dục ý thức pháp luật Songgiữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau
Trong giáo dục chính trị - tư tưởng có chứa đựng, đan xen nhất địnhtrong nội dung của mình những hiện tượng của pháp luật, cũng như có nhữngquan hệ tích cực đối với những đòi hỏi của pháp luật, kích thích lợi ích đượcđiều chỉnh bằng pháp luật Mối quan hệ qua lại mật thiết giữa giáo dục ý thức
Trang 28pháp luật và giáo dục chính trị - tư tưởng đòi hỏi các chủ thể giáo dục phảibiết kết hợp tiến hành đồng thời giáo dục ý thức pháp luật và giáo dục chínhtrị - tư tưởng.
- Mối quan hệ giữa giáo dục ý thức pháp luật và giáo dục đạo đức
Giữa pháp luật và đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nhữngquy định pháp luật là phù hợp với đạo đức và có nhiều quy phạm đạo đứcđược Nhà nước thừa nhận trở thành quy tắc xử sự bắt buộc như quy phạmpháp luật bởi nó thể hiện giá trị chung phổ biến của xã hội
Giáo dục đạo đức tạo nên những tiền đề cần thiết để hình thành ở côngdân sự tôn trọng đối với pháp luật Ngược lại giáo dục ý thức pháp luật tạokhả năng thiết lập trên thực tế những nguyên tắc đạo đức mới Các quy phạmpháp luật và quy tắc đạo đức đều là quy tắc điều chỉnh hành vi xử sự của conngười, loại quy phạm này có những điểm chung nhất tác động lên con người.Những điểm chung nhất đó là:
+ Hình thành nên lòng tin và sự cần thiết tuân theo những nguyên tắc
cơ bản của đạo đức
+ Mang lại niềm tin vào giá trị xã hội của pháp luật
+ Tạo ra thói quen xử sự trong các hoàn cảnh cụ thể theo các tiêu chuẩnđạo đức và pháp luật
Đồng thời thông qua giáo dục ý thức pháp luật - con người hình thành ýthức pháp luật của công dân; nhờ đó các tập quán hủ tục lạc hậu sẽ bị xã hộiloại trừ và đi đến xoá bỏ
Do mối quan hệ giữa giáo dục ý thức pháp luật và giáo dục đạo đứcchặt chẽ như vậy, đòi hỏi trong hoạt động thực tiễn các cơ quan Đảng và Nhànước phải sử dụng đồng bộ các biện pháp, các hình thức của cả hai loại hìnhgiáo dục nhằm bổ sung cho nhau, tác động lẫn nhau với mục đích chung làtạo nên thói quen trong xử sự bằng những hành vi hợp pháp, phù hợp với đạođức xã hội
Ngoài quan hệ với giáo dục chính trị - tư tưởng, giáo dục đạo đức, giáodục ý thức pháp luật còn có quan hệ với các ngành khoa học khác như cácngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Trang 29Trong mối quan hệ giữa giáo dục ý thức pháp luật với các loại hình giáodục khác, giáo dục ý thức pháp luật có tính độc lập tương đối được thể hiện ởnhững điểm sau:
- Giáo dục ý thức pháp luật có mục đích riêng Đó là hoạt động nhằm hìnhthành tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật,làm cho công dân tự giác tuân thủ pháp luật, có ý thức pháp luật cao
- Giáo dục ý thức pháp luật có nội dung riêng Nội dung của giáo dục ýthức pháp luật là chuyển tải tri thức về Nhà nước và pháp luật mà trong đópháp luật hiện hành của Nhà nước là một bộ phận quan trọng nhất
- Giáo dục ý thức pháp luật xét trên các yếu tố chủ thể, khách thể, đốitượng, hình thức và phương pháp cũng có những nét riêng Chẳng hạn như sovới các dạng giáo dục khác thì giáo dục ý thức pháp luật không phải là sự tácđộng một lần của chủ thể giáo dục lên đối tượng giáo dục mà là quá trình tácđộng thường xuyên, liên tục, lâu dài Vì thế, chủ thể giáo dục ý thức pháp luậtrất đa dạng, phong phú và trở thành hoạt động thường xuyên trong các giađình, trường học, tổ chức Đảng, Nhà nước và các đoàn thể xã hội Chủ thểgiáo dục cần nắm vững tri thức pháp luật, biết cách truyền tải kiến thức phápluật và phải là tấm gương, là hình mẫu trong việc tuân theo pháp luật Hìnhthức giáo dục ý thức pháp luật rất đa dạng, phong phú như tuyên truyềnmiệng, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, giáo dục pháp luậttrong trường học…
Cũng qua nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục ý thức pháp luật vớicác loại hình giáo dục khác, có một số điểm cần lưu ý khi giáo dục ý thứcpháp luật đó là:
- Giáo dục ý thức pháp luật có tính độc lập tương đối, điều đó đồngnghĩa với việc không thể hoà lẫn giáo dục ý thức pháp luật vào trong các dạnggiáo dục khác hoặc xem giáo dục ý thức pháp luật chỉ là một bộ phận của cácdạng giáo dục khác như giáo dục chính trị - tư tưởng…
Trang 30- Giữa các loại hình giáo dục có mối quan hệ tác động qua lại, do đókhi tiến hành giáo dục ý thức pháp luật không được bỏ qua mà phải thườngxuyên tính đến mối quan hệ và sự tác động qua lại đó.
- Để các loại hình giáo dục cùng đạt hiệu quả cao nên tiến hành đồngthời tất cả các loại hình giáo dục
1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT TRONG CỘNG ĐỒNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER
1.2.1 Vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống của cộng đồng người Khmer
Ý thức pháp luật ra đời cùng với sự ra đời của pháp luật và nó có tầmquan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội Ý thức pháp luật giúp con ngườihiểu biết và nhận thức rõ đời sống pháp luật xã hội, giúp con người ý thứcđược những hành vi của mình trước các hiện tượng pháp luật, thông qua đócon người thực hiện hay không thực hiện các hành vi pháp luật Trên thực tếđời sống pháp luật xã hội có rất nhiều vấn đề phức tạp dẫn đến con người ýthức chưa đầy đủ hành vi của bản thân và vi phạm pháp luật, vi phạm nhữngchuẩn mực đạo đức xã hội Khi con người có ý thức pháp luật đầy đủ thì conngười hành động có ý thức hơn, hành động tuân theo pháp luật, sống và làmviệc theo hiến pháp và pháp luật
Cộng đồng dân tộc Khmer chủ yếu sinh sống tập trung tại các phum,sóc, vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế vô cùng khó khăn, trình độ dân trí,trình độ pháp lý thấp, lại bị chi phối nhiều bởi các hủ tục lạc hậu Vì vậy, ýthức pháp luật có vai trò rất quan trọng đối với cộng đồng người Khmer Ýthức pháp luật giúp đồng bào Khmer điều chỉnh hành vi trong các mối quan
hệ xã hội Ý thức pháp luật tác động mạnh mẽ đến hành vi của cộng đồngngười Khmer thông qua yếu tố tư tưởng, tâm lý, tình cảm sức mạnh điềuchỉnh hành vi đó là sức mạnh về ý thức pháp luật tiềm ẩn trong nội tâm conngười Trong hoạt động chấp hành pháp luật nếu có ý thức pháp luật, đồngbào Khmer không những tự điều chỉnh hành vi của bản thân mình trước cáchiện tượng pháp luật mà còn tác động điều chỉnh hành vi của đồng bào trong
Trang 31cộng đồng mình chấp hành pháp luật Ý thức pháp luật giúp cho đồng bàoKhmer trong xã hội thực hiện các hành vi pháp lý một cách chủ động, tự tin.
Ý thức pháp luật là thể hiện trình độ hiểu biết pháp luật, tư tưởng, tìnhcảm, thái độ đối với pháp luật, từ đó thấy rằng nếu cộng đồng người Khmer
có ý thức pháp luật tốt, sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật thì sẽ làđiều kiện đảm bảo cho sự ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, văn hoá,
xã hội ở địa phương
Giáo dục ý thức pháp luật giúp cho đồng bào dân tộc Khmer có tri thứcpháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành vi xử sự hợp pháp Đây là tiền
đề cho vấn đề sử dụng quyền lực Nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huydân chủ, mở rộng quyền tự do cho đồng bào Trong những năm gần đây, tìnhhình đồng bào dân tộc vi phạm luật hình sự, luật dân sự, khiếu kiện đôngngười… có chiều hướng ngày càng gia tăng, là do ý thức pháp luật của họthấp Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, nhưng có nguyên nhânchính là công tác giáo dục ý thức pháp luật chưa được quan tâm đúng mức
Vì vậy, để tăng cường pháp chế, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối vớiđồng bào bằng pháp luật thì cần phải tăng cường công tác giáo dục ý thứcpháp luật
Giáo dục ý thức pháp luật góp phần đẩy nhanh quá trình dân chủ hoátrong cộng đồng người Khmer Nhìn chung qua nghiên cứu các văn bản củaĐảng và Nhà nước có thể thấy rằng toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máyNhà nước luôn luôn hướng tới mục tiêu là hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủnghĩa, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, dân chủ gắn liền với kỷ cương,công bằng xã hội, dân chủ được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực như chínhtrị, kinh tế, văn hoá - xã hội Đối với cộng đồng người Khmer để họ hiểuđược quyền tự do dân chủ và thực hiện nghĩa vụ công dân của mình, họ càng
có một trình độ hiểu biết, một thái độ đúng đắn và một khả năng nhất địnhkhi sử dụng phương tiện mà Nhà nước giao cho họ đó là pháp luật Do vậy, ýthức pháp luật có vai trò quan trọng, góp phần đẩy nhanh quá trình dân chủhoá trong cộng đồng người Khmer
Trang 321.2.2 Ý nghĩa của giáo dục ý thức pháp luật với việc nâng cao trình
độ hiểu biết pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer hiện nay
Ý thức pháp luật được hiểu là trình độ hiểu biết pháp luật của các tầnglớp nhân dân trong xã hội, của cán bộ, công chức Nhà nước, của các cơ quanNhà nước, các tổ chức chính trị xã hội Theo quan điểm của các nhà triết họcMác - Lênin, ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội và
vì thế nó chủ yếu phản ánh tồn tại xã hội ở khía cạnh đời sống pháp luật
Sự hình thành và phát triển của ý thức pháp luật phụ thuộc vào nhiềuyếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá…của các giai đoạnlịch sử khác nhau Do đó để nâng cao ý thức pháp luật, một điều kiện rất cầnthiết đặt ra là phải gắn việc nâng cao ý thức pháp luật với việc nâng cao ýthức chính trị, xây dựng nếp sống văn hoá mới, xây dựng hệ thống pháp luậtđầy đủ và đồng bộ
Giáo dục ý thức pháp luật là quá trình tác động nhằm hình thành ở đốitượng giáo dục ý thức pháp luật những tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật,thái độ pháp luật đúng đắn và hành vi xử sự phù hợp với pháp luật hiện hành.Chính vì vậy, giáo dục ý thức pháp luật có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việcnâng cao trình độ hiểu biết pháp luật cho mọi người dân nói chung và chođồng bào dân tộc Khmer nói riêng Không có giáo dục ý thức pháp luật thìmọi người dân sẽ khó hình thành ý thức pháp luật một cách đúng đắn và cóhành vi xử sự đúng theo Hiến pháp và pháp luật
Sự hình thành và phát triển ý thức pháp luật là sản phẩm của điều kiệnkhách quan và chủ quan tác động vào ý thức con người Quá trình này là quátrình tác động đồng thời hai mặt khách quan và chủ quan Vì vậy, trong côngtác giáo dục ý thức pháp luật phải đảm bảo kết hợp đồng thời hai mặt để nângcao ý thức pháp luật cho mọi người
Trong cộng đồng người Khmer đại bộ phận trình độ dân trí, trình độpháp lý thấp và bị ảnh hưởng nhiều bởi những hủ tục lạc hậu, có tư tưởng bảothủ…nên vấn đề hình thành và phát triển ý thức pháp luật là rất khó khăn Từ
Trang 33đó thấy rằng chỉ có giáo dục ý thức pháp luật thường xuyên, liên tục mới cóthể nâng cao được ý thức pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer.
Hiện nay, đồng bào dân tộc Khmer là đối tượng luôn bị các thế lực thùđịch lợi dụng, lôi kéo, kích động chống phá cách mạng Việt Nam Vì vậy, giáodục ý thức pháp luật là con đường chính thống để đưa đường lối, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước đến được với đồng bào, góp phần ổn địnhchính trị, trật tự an toàn xã hội
Kết luận chương 1
Giáo dục ý thức pháp luật là một hoạt động có định hướng, có tổ chứcnhằm cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm, thái độ và hành vi hợppháp cho đối tượng giáo dục nhằm nâng cao ý thức pháp luật đúng đắn vàthói quen hành động phù hợp với các quy định của pháp luật Từ đó tạo ramột trật tự xã hội: “Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật”, khôngngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Giáo dục ý thức pháp luật là quá trình nhằm nâng cao dân trí pháp lý,
vì vậy để đạt được mục đích đó thì chủ thể giáo dục ý thức pháp luật phải tìmhiểu, nghiên cứu các đối tượng giáo dục để xây dựng nội dung và sử dụnghình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục phù hợp nhằm mang lại hiệuquả cao
Đồng bào dân tộc Khmer chủ yếu sinh sống ở vùng sâu, vùng xa điềukiện kinh tế rất khó khăn, trình độ dân trí, ý thức pháp luật thấp lại là đốitượng luôn bị các thế lực thù địch lôi kéo, kích động chống phá cách mạngViệt Nam Vì vậy, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật chođồng bào Khmer là một nhiệm vụ quan trọng, lâu dài đối với các tổ chứcĐảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội
Tóm lại, những nội dung cơ bản của ý thức pháp luật và tầm quan trọngcủa giáo dục ý thức pháp luật ở trên sẽ là cơ sở cho việc phân tích đánh giáthực trạng giáo dục ý thức pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer ở KiênGiang được trình bày ở chương 2
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC KHMER Ở KIÊN GIANG HIỆN NAY
2.1 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở KIÊN GIANG
2.1.1 Đặc điểm về tự nhiên và xã hội của tỉnh Kiên Giang
Tỉnh Kiên Giang ngày nay là do 2 tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên cũ hợpnhất lại khi hai huyện Long Mỹ và Phước Long được điều chỉnh sang tỉnhHậu Giang và Minh Hải
Ranh giới của Kiên Giang: Phía đông và đông nam giáp tỉnh An Giang
và Cần Thơ, phía nam giáp tỉnh Cà Mau, phía tây giáp vịnh Thái Lan, phía bắcgiáp với Campuchia Có diện tích đất liền là 6.233 (km2); Biên giới trên bộ giápvới Campuchia 56 (km) có bờ biển dài 198 (km), trên biển có 105 hòn đảo nổi.Biển Kiên Giang có vùng nước lịch sử chung với Campuchia (8.800 km2) nốiliền vùng biển Cà Mau, ăn thông qua biển Thái Lan và Malaixia
Kiên Giang có 12 huyện và 1 thị xã (Hà Tiên), 1 Thành phố (RạchGiá), dân số Kiên Giang 1.680.121 người; gồm 3 dân tộc (Kinh, Khmer, Hoa)sống xen kẽ lẫn nhau Trong đó người Kinh chiếm 81,3%, người Hoa chiếm4,5%, người Khmer chiếm 14,2%, là một trong 3 tỉnh ở miền tây có đôngđồng bào Khmer (đứng sau Sóc Trăng và Trà Vinh) Kiên Giang lại có đathành phần tôn giáo chiếm khoảng 32% dân số trong toàn tỉnh
Địa hình ở Kiên Giang rất đa dạng và phức tạp (có biên giới, hải đảo,cùng đồng bằng và có cả đồi núi), vì thế mà Kiên Giang được Trung ươngđánh giá là địa bàn trọng điểm về kinh tế và an ninh quốc phòng là hướngphòng thủ của Quân khu 9
Do được thiên nhiên ưu đãi, Kiên Giang thật sự là vùng đất trù phú, đadạng về tài nguyên Song, trước năm 1975 Kiên Giang là vùng trọng điểmchiếm đóng của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tai sai để hòng tiêu diệtcách mạng, vơ vét tài nguyên Nhưng với truyền thống yêu quê hương sâu
Trang 36sắc; dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân KiênGiang trên dưới một lòng đoàn kết, cùng với quân dân cả nước kiên cườngđấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.
Sau năm 1975 cùng với cả nước, Kiên Giang bước vào thời kỳ xâydựng, hàn gắn vết thương chiến tranh, nhưng chẳng được bao lâu chiến tranhbiên giới Tây Nam bùng nổ Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân dân KiênGiang đã dồn sức người sức của để bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tếcao cả Chính vì vậy, nền kinh tế tỉnh nhà vừa mới khôi phục lại phải tậptrung cho chiến tranh nên kinh tế - xã hội gặp không ít khó khăn Bên cạnh
đó, bị sự ràng buộc của mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, trongthời gian dài kìm hãm sức sản xuất không phát triển, làm cho một bộ phậncủa đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn
Từ khi có đường lối đổi mới do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIcủa Đảng khởi xướng đến nay, các tiềm năng thế mạnh của Kiên Giang đượckhơi dậy như: nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp khai thác và chế biến vậtliệu xây dựng, du lịch, công nghiệp chế biến nông, hải sản xuất khẩu đã trởthành các ngành chủ lực của tỉnh, chiếm tỷ trọng rất cao tổng sản phẩm trongtỉnh (GDP) tăng trên 10% hàng năm; thu nhập bình quân của người dânkhoảng 836,7 USD/người/năm
Chỉ tính riêng năm 2007 tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 13,2%,sản lượng lương thực trên 2,9 triệu tấn tăng 233.103 tấn (so với năm 2006), sảnxuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mặc dù gặp khó khăn về thị trường tiêuthụ nhưng vẫn tăng trung bình 13,02%, đánh bắt thuỷ hải sản đạt 410.801 tấntăng 8,74% (so với năm 2006), dịch vụ lịch tăng 24,93% (so với năm 2006),những công trình kinh tế trọng điểm cũng được triển khai như: Dự án lấn biển,nhà máy đường, khu kinh tế mở cửa khẩu Hà Tiên, Cảng cá Tắc Cậu hàng chục
dự án đầu tư nước ngoài cũng được khai thác làm ăn có hiệu quả; chủ yếu làtrên lĩnh vực nuôi trồng, chế biến thuỷ sản, trồng rừng v.v
Đi đôi với phát triển kinh tế, vấn đề văn hoá xã hội cũng được Đảng bộtỉnh quan tâm chỉ đạo Khu vực nông nghiệp, nông thôn được quan tâm đầu
tư nhiều chương trình dự án như: xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế nông
Trang 37hộ, khai hoang phục hoá vùng tứ giác Long Xuyên, điện khí hoá nôngthôn từng bước được thay đổi, đời sống người dân được nâng lên Chươngtrình quốc gia giải quyết việc làm được đẩy mạnh Các chính sách đối vớingười có công, người cao tuổi, trẻ em được thực hiện tốt hơn.
Về lĩnh vực giáo dục - y tế đã có những bước chuyển biến trên nhiềumặt, chất lượng học tập từng bước được nâng lên, năm học 2006 - 2007 họcsinh tốt nghiệp tiểu học và trung học cơ sở đều đạt trên 96%, trung học phổthông đạt 73,92% Tỷ lệ huy động trẻ em từ 6 - 14 tuổi đến trường ước đạt90,6%; Công tác phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở ngày càng nânglên về chất lượng, đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ
sở trên toàn tỉnh Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân được chútrọng, tuyến y tế cơ sở được củng cố, đáp ứng yêu cầu khám và chữa bệnhcho nhân dân, đến nay có 118/142 xã, phường, thị trấn có nhà trạm y tế, trong
Về an ninh quốc phòng: là một tỉnh có đường biên giới dài (cả đường
bộ lẫn đường biển) lại có chiến lược về kinh tế và an ninh quốc phòng Lợidụng đặc điểm này mà đế quốc và các thế lực trong và ngoài nước luôn luôncông kích, gây rối loạn trật tự xã hội để chống phá lại Đảng và chính quyềnđịa phương, bọn buôn lậu với quy mô lớn cũng lợi dụng địa bàn để gây rốiloạn trật tự, an toàn xã hội Song với tinh thần cảnh giác cao của quân và dânKiên Giang đã phát hiện, ngăn chặn kịp thời, đập tan mọi âm mưu phá hoạicủa các thế lực thù địch và các loại tội phạm, nhằm giữ vững trật tự an toàn
xã hội góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà
Hệ thống chính trị được tập trung củng cố kiện toàn, chất lượng hiệuquả hoạt động được nâng lên, nhất là công tác xây dựng Đảng; các chủtrương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng đều được các cấp uỷ cụ thể hoá, triển
Trang 38khai quán triệt thực hiện tốt đến cán bộ, đảng viên Từ đó đã tạo ra được sựchuyển biến mới trong nhận thức và hành động.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong thời gian qua công tác pháttriển kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội của Tỉnh Kiên Giang cũng còn một
số mặt tồn tại yếu kém như:
Các ngành và lĩnh vực kinh tế tuy phát triển đồng bộ hơn nhưng vẫncòn chậm so với tiềm năng lợi thế của tỉnh, sản xuất kinh doanh có nhiều cốgắng nhưng khó khăn do thời tiết và thị trường diễn biến bất lợi, cộng vớiviệc ứng dụng khoa học, công nghệ còn hạn chế làm cho năng suất, chấtlượng, hiệu quả chưa cao, một số mặt chưa bảo đảm phát triển bền vững.Nhịp độ tăng trưởng kinh tế chưa đạt mức dự kiến làm ảnh hưởng đến việcthực hiện chỉ tiêu tăng trưởng do Đại hội VIII Đảng bộ tỉnh đề ra Các nguồnvốn đầu tư phát triển chưa đáp ứng được yêu cầu, thương nghiệp quốc doanh
và tập thể chưa đủ khả năng chi phối thị trường, thậm chí đang có chiềuhướng giảm sút Lĩnh vực văn hoá - xã hội còn nhiều vấn đề bức thiết như:thiếu giáo viên, xoá đói giảm nghèo kết quả còn thấp, lao động không có việclàm tăng thêm, an ninh trật tự có mặt chưa bảo đảm tốt, một số loại tội phạm
có chiều hướng gia tăng [65]
Về công tác xây dựng Đảng, còn có một số nơi thực hiện tự phê bình
và phê bình chưa nghiêm Đặc biệt hơn có một bộ phận cán bộ, đảng viên cóbiểu hiện tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, sống buông thả, thiếu tự giác rèn luyện, tudưỡng dẫn đến sa sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng nghiêm trọng hơn là
bộ phận cán bộ này lập trường tư tưởng không vững vàng, thoái hoá về phẩmchất đạo đức, lối sống từ đó làm mất lòng tin của Đảng với dân
Trước tình hình đó đòi hỏi các cấp uỷ Đảng, chính quyền đoàn thể cùngvới nhân dân trong toàn tỉnh cần phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực,nhằm đẩy mạnh việc tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và từng bước xâydựng hệ thống chính trị, đặc biệt là xây dựng cho được đội ngũ cán bộ có đủnăng lực, phẩm chất để đáp ứng được yêu cầu cách mạng hiện nay Góp phần
Trang 39thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tiến tới
mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Tóm lại, Kiên Giang là vùng đất giàu truyền thống cách mạng Ngườidân nơi đây cần cù, chăm chỉ, chịu khó Thuận lợi căn bản là có nhiều tiềmnăng về rừng, biển đất đai phong phú về chủng loại, tập đoàn cây trồng vậtnuôi đa dạng; một số nghề truyền thống đang được khôi phục phát triển; một sốđịa phương có kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển sản xuấtdịch vụ, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
2.1.2 Đặc điểm của đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Kiên Giang
Khmer là tên gọi theo âm Phạn: "Khêmara" - nghĩa là "an vị hạnhphúc", thuộc hậu duệ của người Phù Nam theo ngữ hệ Môn - Khmer Có một
số cách gọi khác như: Miên (dùng từ thời nhà Nguyễn, xuất phát từ âm tiếng Hán được Việt hóa là Khám - Miến - Nán được đọc trại thành Miên Văn bản triều Nguyễn, Miên còn có nghĩa là Lụa); Thổ (theo tập Địa chí Kiên Giang
xuất bản năm 1961 của Việt Nam Cộng hòa, cách gọi với ý nghĩa là thổ dân,người dân bản địa, dân tộc tại chỗ) Thời kỳ đấu tranh chống chế độ thực dânphong kiến và chống ngoại xâm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam, trong văn bản của Nhà nước ta và các cuộc sinh hoạt chung, cán bộ
đảng viên và đồng bào người Kinh gọi đồng bào Khmer là người Khmer Nam
bộ hay đồng bào Khmer Nam bộ.
2.1.2.1 Đặc điểm về kinh tế và xã hội của các xã vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống ở Kiên Giang
Dân số đồng bào Khmer Kiên Giang phát triển qua các giai đoạn nhưsau: Năm 1936 có 53/144 xã có đồng bào Khmer (chiếm 37% xã của đồngbào dân tộc Kinh, Hoa) Năm 1910, Hà Tiên (tỉnh) có 1.900 người, Rạch Giá(tỉnh) có 31.974 người Sau ngày giải phóng thống nhất đất nước, theo số liệuthống kê điều tra dân số năm 2000, đồng bào Khmer có 181.344 người (chiếm12,19%) Năm 2008 có 46.755 hộ với 236.229 khẩu là đồng bào dân tộcKhmer, chiếm 14,2% so với dân số toàn tỉnh - là tỉnh có đông đồng bào
Trang 40Khmer sinh sống, đứng thứ ba ở vùng Tây Nam bộ sau Sóc Trăng và Trà Vinh[56] Đồng bào Khmer sinh sống tập trung tại 61 xã ở 9/13 huyện, thị, thànhphố (trong tổng số 68 xã, phường, thị trấn có đông đồng bào Khmer/139 xã,phường, thị trấn của toàn tỉnh) [62], trong đó có 27 xã trọng điểm có đôngđồng bào Khmer thuộc diện đặc biệt khó khăn được Chính phủ đưa vào giaiđoạn II Chương trình 135 vào tháng 7-2006 [46] Huyện có đông đồng bàoKhmer nhất là Gò Quao (39.720 người, chiếm 29,8%) với xã đông nhất làĐịnh An (11.141/15.698 người, chiếm 70,8%, mật độ bình quân 700người/km2); ít nhất là huyện Kiên Hải với khoảng 240 người
Sau khi thống nhất đất nước, đặc biệt là sau Đại hội VI của Đảng vớiđường lối đổi mới, xoá bỏ cơ chế tập trung bao cấp, chuyển sang cơ chế thịtrường, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, coi trọng phát triển kinh
tế hộ gia đình, tình hình kinh tế - xã hội của các xã vùng có đông đồng bàoKhmer có nhiều chuyển biến tích cực
Bộ mặt nông thôn các xã vùng có đông đồng bào Khmer có sự thayđổi đáng kể, hầu hết các xã đã cơ bản hoàn thành xây dựng các kết cấu hạtầng thiết yếu Đi đôi với đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, nhiều địa phương
có đông đồng bào Khmer đã quan tâm chỉ đạo phát triển kinh tế, từng bướcchuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi Nhìn chung đời sống của đồngbào Khmer ngày càng được ổn định, mức sống ngày càng được nâng lên, tỷ lệ
hộ nghèo trong đồng bào tiếp tục giảm
Công tác giáo dục - đào tạo trong đồng bào Khmer được các cấp ủyđảng, chính quyền và từng cấp quản lý giáo dục đặc biệt quan tâm Chínhsách về giáo dục - đào tạo tiếp tục được thực hiện tốt và đã có những chuyểnbiến rõ rệt, nhất là chính sách miễn học phí cho học sinh người dân tộcKhmer, đồng thời, hàng năm đều cấp học bổng cho 1.000 em theo học ở cáctrường phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh và huyện Hiện nay toàn tỉnh có 5trường phổ thông dân tộc nội trú Mạng lưới các trường học phát triển đến tận
xã, ấp nên việc huy động trẻ em đúng độ tuổi đến trường hàng năm đều tăng,