Chưa phát huy đúng mức vai trò giám sát củaquần chúng nhân dân nơi công tác và nơi cư trú đối với cán bộ, đảng viên nênhiệu quả kiểm tra, giám sát không cao.Xuất phát từ tình hình thực t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên củacác tổ chức đảng Chất lượng đội ngũ đảng viên là nhân tố quyết định tạo nênsức mạnh của Đảng Để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, bên cạnh việcgiáo dục, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng, kiến thức, năng lực chođảng viên, các tổ chức đảng phải thường xuyên coi trọng và làm tốt công tácquản lý đảng viên Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà Đảng ta đang tiếptục thực hiện công cuộc đổi mới, đồng thời đẩy mạnh cuộc vận động xâydựng, chỉnh đốn Đảng Một bộ phận cán bộ đảng viên sa sút về phẩm chất đạođức, ý thức tổ chức kỷ luật kém Tệ tham nhũng, hối lộ, làm giàu bất chínhđang có xu hướng gia tăng Tình trạng chia rẽ bè phái, cục bộ mất đoàn kếtnội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ còn diễn ra khá nặng nề ở một
số nơi Hơn nữa, đất nước ta đang đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá,hiện đại hoá, hội nhập quốc tế sâu rộng tạo cho mỗi công dân nói chung vàđảng viên nói riêng có rất nhiều mối quan hệ trong công việc, trong cuộcsống, các mối liên hệ trong và ngoài nước Trước tình hình đó, hơn bao giờhết công tác quản lý đảng viên càng phải được coi trọng và tăng cường
Khi nói đến công tác quản lý đảng viên ở góc độ quản lý một con ngườithì điều quan trọng bậc nhất là đánh giá được tương đối đầy đủ và chính xác
về đảng viên thuộc cấp uỷ quản lý Đảng ta trong những năm gần đây, do yêucầu bức thiết của nhiệm vụ chính trị thời kỳ đổi mới, công tác đảng viên, đặcbiệt là quản lý đảng viên đã được các cấp uỷ đặc biệt coi trọng Song, trướctình hình biến động do tác động mặt trái của cơ chế thị trường, đội ngũ đảngviên từ cấp sơ sở đến Trung ương, bên cạnh nhiều đồng chí đã vượt bao thửthách để vươn lên và trưởng thành, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất
Trang 2nước thì không ít người đã hư hỏng, lợi dụng chức quyền để thu vén cá nhân,làm giàu bất chính, cơ hội thực dụng, chạy chức, chạy quyền, tìm mọi thủđoạn để nhằm thực hiện tham vọng cá nhân, gây mất đoàn kết nội bộ Cónhững đảng viên không đủ tiêu chuẩn đã lọt vào cả Ban Chấp hành Trungương, có đảng viên là cán bộ cao cấp đã phải vào tù v.v Trước sự biến độngđan xen giữa cái tốt và cái xấu, giữa tích cực và tiêu cực, theo quy luật pháttriển và đào thải, có những đảng viên trưởng thành rất nhanh song cũng cócán bộ, đảng viên bỗng chốc bị sa thải Điều đó không thể đổ lỗi hoàn toàncho công tác quản lý đảng viên, nhưng những người làm công tác này phảithấy điều đó để rút ra bài học kinh nghiệm Những vụ án tiêu cực liên quanđến các cán bộ là đảng viên là những ví dụ điển hình lơi lỏng về quản lý,không nắm được quá trình diễn biến tiêu cực của đảng viên Trong thực tế,không ít đảng viên có nhiều thủ thuật, mưu mẹo để che lấp khuyết điểm vớicấp trên, với cơ quan giúp cấp uỷ quản lý đảng viên Có những đảng viên cóchức, có quyền thiếu trách nhiệm để xảy ra nhiều tiêu cực, gây thiệt hại lớncho Nhà nước, có người dù đã có tai tiếng, dư luận phản đối nhưng khôngđược cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ, đảng viên tiếp thu, xem xét Hậu quả
là không được sự đồng tình và ủng hộ của đông đảo đảng viên và quần chúng
Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh Nghệ An là tổ chức đảngcấp trên cơ sở, trực thuộc Tỉnh ủy Nghệ An Đảng bộ có 77 tổ chức cơ sởđảng, có gần 3.400 đảng viên, 5.300 cán bộ công chức, là nơi tiếp thu và cụthể hóa các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh vào tình hình cụ thểcủa cơ quan mình, ngành mình bằng việc ban hành các quyết định, các vănbản hướng dẫn; đồng thời trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện các chủ trươngcông tác đó theo hệ thống ngành dọc hoặc đa ngành Điều này nói lên chấtlượng lãnh đạo của Đảng bộ, chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viêntrong các cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh Nghệ An vừa có ý nghĩa trong việc
Trang 3hoàn thành nhiệm vụ của một cơ quan, vừa tác động trực tiếp đến phong tràochung của tỉnh.
Thời gian qua, trong điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh tuy còn nhiềukhó khăn, trước những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường nhưng phầnlớn cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ vẫn giữ vững bản lĩnh chính trị, tintưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, không ngừng rèn luyện, học tập nâng caotrình độ, năng lực công tác, ý thức trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức,lối sống, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, năng động sáng tạo, khắcphục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụchính trị của cơ quan, của Đảng bộ và của tỉnh Nhưng bên cạnh đó, một bộphận cán bộ, đảng viên trong các cơ quan thiếu rèn luyện, tu dưỡng, có biểuhiện thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, sa sút ý chí chiến đấu, thiếu ýthức trách nhiệm, vi phạm đạo đức nghề nghiệp; quan liêu, lãng phí, mất dânchủ, lợi dụng vị trí công tác được phân công, lợi dụng sơ hở trong cơ chế,chính sách và yếu kém trong quản lý để trục lợi cá nhân, nhất là ở các lĩnhvực: tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ, cấp phát và bố trí vốn, thẩm địnhgiá, quy hoạch, giải quyết đất đai, lựa chọn địa điểm xây dựng, cấp phép, đầu
tư xây dựng cơ bản, đăng ký kinh doanh Chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội,thực dụng diễn ra dưới nhiều hình thức như: cục bộ bản vị, chạy chức, chạyquyền, chạy tội, chạy bằng cấp, Một số cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu,sống buông thả, sử dụng tài sản công trái với quy định của Nhà nước, vi phạmpháp luật, Điều lệ và các quy định của Đảng, làm giảm sút vai trò lãnh đạo vàsức chiến đấu của tổ chức đảng trong các cơ quan cấp tỉnh, làm giảm sút niềmtin của nhân dân đối với Đảng
Những khuyết điểm, yếu kém nói trên có nhiều nguyên nhân nhưngtrong đó có nguyên nhân trực tiếp quan trọng là nhiều cấp ủy cơ sở chưa chủđộng nắm bắt và giải quyết tốt các vấn đề tư tưởng trong nội bộ, chưa coi
Trang 4trọng đúng mức công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đảng viên; công tác tựphê bình và phê bình còn yếu Chưa phát huy đúng mức vai trò giám sát củaquần chúng nhân dân nơi công tác và nơi cư trú đối với cán bộ, đảng viên nênhiệu quả kiểm tra, giám sát không cao.
Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên, việc lựa chọn vấn đề “Công tác
quản lý đảng viên ở Đảng bộ Cơ quan Dân Chính Đảng, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài viết luận văn thạc sỹ, thiết nghĩ là một
công việc có nhiều ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn của chuyên ngành khoahọc Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, có tính cấp bách và thiết thực, nhằmgóp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý đảng viên nói riêng, nâng caonăng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ Cơquan Dân Chính Đảng tỉnh Nghệ An nói chung
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thời gian qua, những quan điểm, chủ trương, hướng dẫn về công tác quản
lý đảng viên đã được thể hiện trong các văn kiện của Đảng Nhiều nhà khoa học
và những người làm công tác thực tiễn đã nghiên cứu về vấn đề này như:
- Nguyễn Phi Long, Quản lý các quan hệ xã hội - một nội dung trong quản
lý đội ngũ cán bộ, đảng viên, Tạp chí Xây dựng đảng số 5/2005 Theo tác giả,
quan hệ xã hội của cán bộ, đảng viên là những quan hệ mà họ tiến hànhtrong hoạt động công tác theo chức trách, nhiệm vụ và trong đời sống xãhội Hiện nay, cán bộ, đảng viên đang hàng ngày, hàng giờ chịu nhiều tácđộng cả tích cực lẫn tiêu cực như kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; sựtác động của các thế lực thù địch, sự phân hoá giàu nghèo Các mối quan
hệ là rất đa dạng, phong phú và khó kiểm soát nên cần tập trung vào nhữngviệc sau:
+ Nâng cao vai trò của tổ chức đảng ở cơ sở và xác lập thiết chế trong côngtác quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên (có nội dung quản lý các quan hệ xã hội)
Trang 5+ Coi trọng việc xây dựng môi trường văn hoá ở cơ sở Trong đó, cầntập trung thiết lập các quan hệ xã hội trong nội bộ cơ quan, đơn vị bảo đảmdân chủ, kỷ cương, văn hoá, thấm đậm tình người.
+ Chú trọng giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ,đảng viên
+ Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn nêu cao ý thức tự khép mình vào tổ chức và nâng cao ý thức công dân
- Nguyễn Đình Hương, Tăng cường công tác quản lý cán bộ, Tạp chí
Xây dựng Đảng số 10/2004 Theo tác giả quản lý cán bộ điều quan trọng bậcnhất là đánh giá đầy đủ và chính xác về cán bộ thuộc cấp uỷ quản lý; thựchiện dân chủ và công khai trong công tác đánh giá, nhận xét cán bộ, tiếp cận
và lắng nghe, thông tin từ nhiều nguồn Cấp uỷ quản lý cán bộ và cơ quantham mưu giúp cấp uỷ quản lý cán bộ cần có cơ chế tiếp xúc với cán bộ thuộcdiện cấp mình trực tiếp quản lý để hiểu được tâm tư và khó khăn của cán bộ,khắc phục quan liêu, chỉ nghe thông tin một chiều Cần sớm quy định chế độnửa nhiệm kỳ bỏ phiếu tín nhiệm trong Đảng và cơ quan nhà nước, các đoànthể chính trị từ cấp cơ sở đến Trung ương Phải bảo đảm tập thể lãnh đạo, cánhân phụ trách, chống độc quyền trong công tác quản lý và đánh giá cán bộ
- Hồng Sơn, Sơ kết làm điểm sử dụng bộ chương trình quản lý cơ sở dữ liệu ở đảng bộ Hải Dương, Tạp chí Xây dựng Đảng số 5/2004.
Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Ban chỉ đạo công nghệ thông tin Trungương, Ban Tổ chức Trung ương, Thường trực Tỉnh ủy Hải Dương và sự hỗtrợ của các cơ quan liên quan, đến nay Hải Dương đã kết nối thông mạng từhuyện lên tỉnh, đưa vào khai thác sử dụng, làm thay đổi căn bản phương thứcquản lý từ thủ công sang công nghệ hiện đại Kinh nghiệm từ Hải Dương chothấy phải thống nhất nhận thức, chỉ đạo chặt chẽ, phối hợp đồng bộ, đúng quytrình đồng thời phải trang bị đồng bộ hạ tầng kỹ thuật cũng như tuyển dụng,
Trang 6đào tạo cán bộ sử dụng bộ chương trình kết hợp với bồi dưỡng kiến thứcnghiệp vụ xây dựng Đảng Hội nghị nêu nhiều kiến nghị để hoàn chỉnh bộchương trình, nhấn mạnh cần làm tốt công tác bảo mật, an toàn dữ liệu, đàotạo cán bộ, gắn sử dụng bộ chương trình quản lý đảng viên với công tác đổithẻ đảng.
- Lê Đức Bình, Nhân dân giám sát tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên,
Tạp chí Xây dựng Đảng số 5/2004 Cán bộ, đảng viên trong công tác và sinhhoạt hàng ngày làm cái gì tốt, cái gì sai, đạo đức lối sống ra sao, nhân dân quakiểm nghiệm thực tế và với trăm tai, nghìn mắt có thể hiểu rất rõ Từ đó nhândân giúp Đảng giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, giúp phát hiện, tuyểnchọn, đề bạt những cán bộ, đảng viên tốt Tăng cường vai trò giám sát củanhân dân là biện pháp hiệu quả nhất chống quan liêu, tham nhũng, giúp Đảngthanh thải những kẻ cơ hội, thoái hoá biến chất ra khỏi hàng ngũ Các tổ chứcđảng lãnh đạo phát huy nhiều kênh để giám sát cán bộ, đảng viên: Mặt trận
Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; các phương tiện truyền thông đạichúng; các hội nghề nghiệp; nhân dân còn có thể trực tiếp yêu cầu gặp hoặcviết thư kiến nghị gửi tới cơ quan nhà nước, tổ chức đảng có trách nhiệm
Những tài liệu, sách chuyên khảo, bài viết trên các báo tạp chí chuyên
về công tác quản lý đảng viên không nhiều mà thông thường gắn với công tácquản lý cán bộ bởi đa số cán bộ đồng thời là đảng viên Ngoài các bài viết kểtrên còn có thể kể thêm một số các công trình khác có đề cập trên một số nội
dung nhất định có liên quan đến công tác quản lý đảng viên như: Trần Quốc Huy, Bàn về quản lý và đánh giá cán bộ, đảng viên, Tạp chí Xây dựng Đảng
số 7/2006; Cao Ngọc Hải, Một số biện pháp tăng cường công tác quản lý cán
bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng số 8/2006; Vũ Ngọc Dũng, Việc chi bộ phân công nhiệm vụ cho đảng viên ở xã, phường, thị trấn, Tạp chí Xây dựng Đảng số 12/2006; Mạch Quang Thắng, Một số vấn đề đặt ra cho việc xây dựng, nâng
Trang 7cao chất lượng đội ngũ đảng viên, Tạp chí Tư tưởng – Văn hoá số 9/2006; Mạch Quang Thắng, Vấn đề đảng viên và phát triển đảng viên trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, 2006
Mặc dù chưa có đề tài nào đi sâu vấn đề công tác quản lý đảng viên ởĐảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn hiệnnay, tuy nhiên, từ các góc độ khác nhau, những công trình trên đã đạt đượcmột số kết quả nhất định, có ý nghĩa tham khảo thiết thực cho quá trình triểnkhai nghiên cứu đề tài luận văn
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm luận giải một cáchkhoa học về công tác quản lý đảng viên ở Đảng bộ các cơ quan Dân ChínhĐảng, tỉnh Nghệ An, tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng công tác nàytrong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ quan niệm về công tác quản lý đảng viên của Đảng và quanniệm về công tác quản lý đảng viên ở Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng,tỉnh Nghệ An giai đoạn hiện nay
- Đánh giá đúng thực trạng đảng viên và quản lý đảng viên, chỉ rõnhững ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý đảng viên ởĐảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng, tỉnh Nghệ An hiện nay
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng caochất lượng công tác quản lý đảng viên của Đảng bộ các cơ quan Dân ChínhĐảng từ nay đến 2010 và 2015
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý đảng viên ở Đảng bộcác cơ quan Dân Chính Đảng, tỉnh Nghệ An từ năm 2000 đến 2015
Trang 85 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng ta về xâydựng, chỉnh đốn Đảng, về xây dựng đội ngũ đảng viên Kế thừa có chọn lọccác công trình nghiên cứu khoa học, kết hợp với khảo sát, phân tích, tổng hợp
-về đội ngũ đảng viên và công tác quản lý đảng viên ở Đảng bộ các cơ quanDân Chính Đảng, tỉnh Nghệ An
- Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng mác - xít,phương pháp logic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, điều tra, khảo sát và tổng kếtkinh nghiệm thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn đối với công tác quản
lý đảng viên nói chung, công tác quản lý đảng viên ở cơ sở nói riêng
- Đánh giá đúng thực trạng, làm rõ những nguyên nhân, kinh nghiệmtrong thời gian qua về công tác quản lý đảng viên ở cơ sở và đề xuất các giải pháp
cơ bản có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý đảng viên củaĐảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác quản
lý đảng viên, trong chỉ đạo thực tiễn xây dựng đội ngũ đảng viên ở cơ sở.Đồng thời, có thể làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trong các trường chính trịtỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận vănđược kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 9Chương 1 CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẢNG VIÊN Ở ĐẢNG BỘ CÁC CƠ QUAN DÂN CHÍNH ĐẢNG, TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY -
- Một số nét về quá trình hinh thành và phát triển:
Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng, tỉnh Nghệ An được thành lập đãqua hơn nửa thế kỷ hoạt động, với nhiều mô hình tổ chức, quy mô, tên gọi vàchức năng nhiệm vụ khác nhau
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, đặc biệt là trong thời kỳ kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược, mặc dù về hình thức Đảng ta tuyên bố tự giảitán nhưng thực hiện chủ trương của Trung ương, Tỉnh ủy Nghệ An hết sứcchú trọng công tác xây dựng và phát triển tổ chức cơ sở đảng, nhờ vậy số tổchức cơ sở đảng tăng rất nhanh Thời kỳ đầu kháng chiến (tháng 11 năm1946) toàn tỉnh mới có 160 chi bộ, đến đầu năm 1950 đã có 244 chi bộ đảng,trong đó có 87 chi bộ thuộc các cơ quan cấp tỉnh Các chi bộ này đều đặt dưới
sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy
Bước sang đầu những năm 50, Nghệ An được Trung ương giao làmnhiệm vụ cùng với một số tỉnh Trung bộ chi viện nhân lực và tài lực cho cácchiến trường nhằm thực hiện "chiến lược phản công chống thực dân Pháp,giải phóng dân tộc" Để Tỉnh ủy giảm bớt đầu mối trực tiếp quản lý tổ chức
cơ sở đảng, tập trung lãnh đạo phong trào chung của tỉnh và để sự lãnh đạo,
Trang 10chỉ đạo đối với tổ chức cơ sở đảng trong các cơ quan được sâu sát hơn,Tỉnh ủy Nghệ An chủ trương thành lập tổ chức cấp trên trực tiếp cơ sở, làcác liên chi bộ đảng Đây là một quyết định cần thiết và tất yếu vì Tỉnh ủykhông thể quản lý một số lượng tổ chức cơ sở đảng trực thuộc lớn và ngàycàng lớn được.
Thực hiện chủ trương đó, ngày 6 tháng 1 năm 1950, Đại hội Đại biểu
thành lập Liên chi bộ các cơ quan Dân, Chính, Đảng cấp tỉnh được triệu tập
tại làng Hội Tâm, xã Yên Hòa, huyện Anh Sơn (nay là xã Thịnh Sơn, huyện
Đô Lương), có 50 đại biểu, đại diện cho hàng trăm đảng viên sinh hoạt tạinhiều chi bộ cơ sở về dự
Mùa thu năm 1954, hòa bình được lập lại trên toàn miền Bắc Đếnlúc này ở cấp tỉnh, Đảng bộ Nghệ An vẫn duy trì nhiều liên chi bộ cơ quancấp tỉnh Tình trạng phân tán về tổ chức bộ máy, trùng lặp trong chỉ đạocần phải được khắc phục Yêu cầu có mô hình tổ chức đảng cấp trên trựctiếp của tổ chức cơ sở, khác với tổ chức liên chi bộ hiện có, mặc dù tổ chứcliên chi bộ có vai trò và đã đóng góp rất lớn vào việc xây dựng Đảng bộtỉnh thời kỳ kháng chiến, nhưng do bước vào thời kỳ mới mô hình đókhông còn phù hợp Tỉnh ủy Nghệ An đã quyết định giải tán các liên chi
bộ, chọn lựa mô hình mới và quyết định thành lập Đảng bộ Cơ quan Dân Chính Đảng cấp tỉnh.
Tháng 9 năm 1954, Đại hội Đại biểu Đảng bộ cơ quan Dân Chính Đảngcấp tỉnh được tổ chức Đại hội đã thảo luận làm rõ vai trò, vị trí của Đảng bộtrong việc lãnh đạo các tổ chức cơ sở đảng trong các ban, ngành, đơn vị cấptỉnh, định rõ phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ thời gian trước mắt
và những năm tiếp theo Bầu ban chấp hành có đủ năng lực đáp ứng yêu cầulãnh đạo của Đảng bộ
Đến nay, Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng đã trải qua 17 lần Đại hội:
Trang 11- Đại hội Đảng bộ cơ quan Dân Chính Đảng lần thứ nhất tiến hành vàotháng 9 năm 1954 Đảng bộ có 26 chi bộ cơ sở trực thuộc với 812 đảng viên.
- Đại hội Đảng bộ cơ quan Dân Chính Đảng lần thứ II tiến hành vàotháng 2 năm 1959 Đảng bộ có 47 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc với hơn1.800 đảng viên
- Đại hội Đảng bộ cơ quan Dân Chính Đảng lần thứ III tiến hành vàotháng 5 năm 1960 Đảng bộ có 61 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc với 2.459đảng viên
- Đại hội Đại biểu Đảng bộ cơ quan Dân Chính Đảng lần thứ IV tiếnhành vào tháng 11 năm 1961 Đảng bộ có 67 tổ chức cơ sở đảng trực thuộcvới gần 3.000 đảng viên
- Đại hội Đại biểu Đảng bộ cơ quan Dân Chính Đảng lần thứ V tiếnhành vào tháng 6 năm 1963 Đảng bộ có 71 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc với2.832 đảng viên
- Đại hội Đại biểu Đảng bộ cơ quan Dân Chính Đảng lần thứ VI tiếnhành vào tháng 5 năm 1967 Theo Nghị quyết số 29 - NQ/TU ngày 23 tháng 1năm 1967, do yêu cầu tình hình nhiệm vụ cách mạng ngày càng phát triển, để
sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng kịp thời, gọn nhẹ, sát với các ngành, phù hợpvới điều kiện của thời chiến, Đảng bộ cơ quan Dân Chính Đảng được Tỉnh ủyquyết định chia thành 5 đảng bộ khối, gồm: 1- Đảng bộ cơ quan Dân ChínhĐảng, 2- Đảng bộ khối Công nghiệp, 3- Đảng bộ khối Tài chính Thươngnghiệp, 4- Đảng bộ khối Nông nghiệp, 5- Đảng bộ khối Văn xã
- Đại hội Đại biểu Đảng bộ cơ quan Dân Chính Đảng lần thứ VII tiếnhành vào tháng 5 năm 1969
- Đại hội Đại biểu Đảng bộ cơ quan Dân Chính Đảng lần thứ VIII tiếnhành vào tháng 7 năm 1971 Đảng bộ có 86 đảng bộ, chi bộ trực thuộc với6.605 đảng viên
Trang 12- Đại hội Đại biểu Đảng bộ cơ quan Dân Chính Đảng lần thứ IX tiếnhành vào tháng 10 năm 1974 Ngày 14 tháng 2 năm 1976, Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh
ra Quyết định số 57- QĐ/NT thành lập và chỉ định Ban chấp hành Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng Nghệ Tĩnh Đến ngày 20 tháng 2 năm 1978,
Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh ra Quyết định số 173 - QĐ/TU về việc giải thể Đảng bộcác cơ quan Dân Chính Đảng Nghệ Tĩnh, chuyển các tổ chức cơ sở đảng các
cơ quan cấp tỉnh về hoạt động theo địa bàn lãnh thổ Thực hiện Quyết định số
12 - QĐ/TW của Ban Bí thư khóa V, ngày 3 tháng 6 năm 1984 Tỉnh ủy NghệTĩnh ra Quyết định số 318 - QĐ/TU thành lập 6 đảng bộ khối trực thuộc Tỉnh
ủy, gồm: 1- Đảng bộ khối Dân Chính Đảng, 2- Đảng bộ khối cơ quan Khoa
giáo cấp tỉnh, 3- Đảng bộ khối Văn hóa - Tư tưởng cấp tỉnh, 4- Đảng bộ khối
cơ quan Nội chính cấp tỉnh, 5- Đảng bộ khối Kinh tế cấp tỉnh, 6- Đảng bộkhối Nông lâm cấp tỉnh
- Đại hội Đảng bộ khối Dân Chính Đảng lần thứ X tiến hành vào tháng
10 năm 1986 Ngày 9 tháng 2 năm 1987, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Quyếtđịnh số 162 - QĐ/TU sáp nhập các đảng bộ khối: Đảng bộ khối Khoa giáo sápnhập với khối Tư tưởng - Văn hóa thành Đảng bộ khối Văn xã, Đảng bộ khốiKinh tế với khối Nông lâm thành Đảng bộ khối Kinh tế, Đảng bộ khối Nộichính với khối Dân Chính Đảng thành Đảng bộ khối Dân Chính Đảng
- Đại hội Đảng bộ khối Dân Chính Đảng lần thứ XI tiến hành vào tháng
4 năm 1987 Ngày 19 tháng 5 nưm 1988, Tỉnh ủy ra Quyết định số 418 - QĐ/
TU sáp nhập 3 đảng bộ khối Kinh tế, Văn xã, Dân Chính Đảng thành lập
Đảng bộ các cơ quan cấp tỉnh Đảng bộ gồm 73 tổ chức cơ sở đảng, với
3.600 đảng viên
- Đại hội Đảng bộ các cơ quan cấp tỉnh Nghệ Tĩnh lần thứ XII tiếnhành vào tháng 5 năm 1989 Đến tháng 8 năm 1991 Đảng bộ các cơ quan cấptỉnh Nghệ Tĩnh được chia tách thành 2 đảng bộ: Đảng bộ các cơ quan cấp tỉnhNghệ An và Đảng bộ các cơ quan cấp tỉnh Hà Tĩnh
Trang 13- Đại hội Đảng bộ các cơ quan cấp tỉnh Nghệ An lần thứ XIII tiến hành vàotháng 5 năm 1989 Đảng bộ gồm 60 tổ chức cơ sở đảng, với 2.100 đảng viên.
- Đại hội Đảng bộ các cơ quan cấp tỉnh Nghệ An lần thứ XIV tiến hànhvào tháng 4 năm 1996 Đảng bộ gồm 83 tổ chức cơ sở đảng, với gần 2.000đảng viên Ngày 4 tháng 8 năm 1997, Tỉnh ủy Nghệ An ra Quyết định số 484-QĐ/TU sáp nhập Đảng bộ các cơ quan cấp tỉnh và Đảng bộ cơ quan Tỉnh ủy
thành lập Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng Đảng bộ có 64 tổ chức cơ
sở đảng, 303 chi bộ nhỏ, 2.025 đảng viên
- Đại hội Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng lần thứ XV tiếnhành vào tháng 4 năm 1998 Đảng bộ gồm 67 tổ chức cơ sở đảng, với 2.172đảng viên
- Đại hội Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng lần thứ XVI tiếnhành vào tháng 12 năm 2000 Đảng bộ gồm 70 tổ chức cơ sở đảng, với2.621 đảng viên
- Đại hội Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng lần thứ XVII tiến hànhvào tháng 10 năm 2005
Đến nay (2008), Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh Nghệ An
là tổ chức đảng cấp trên cơ sở, trực thuộc Tỉnh ủy Nghệ An có 77 tổ chức cơ
sở đảng, trong đó có 41 đảng bộ, 36 chi bộ, có 313 chi bộ trực thuộc các đảng
ủy cơ sở (có 56 tổ chức cơ sở đảng trong các cơ quan đảng, chính quyền, đoànthế, sở, ban, ngành cấp tỉnh và 21 tổ chức cơ sở đảng trong các đơn vị trựcthuộc Trung ương có chức năng quản lý nhà nước đóng trên địa bàn); có 12 tổchức cơ sở đảng hoạt động theo Quy định 97- QĐ/TW, 62 tổ chức cơ sở hoạtđộng theo Quy định 98-QĐ/TW, 3 tổ chức cơ sở hoạt động theo Quy định165-QĐ/TW Tổng số đảng viên tính đến thời điểm tháng 6 năm 2008 là3.378 đồng chí, với 5311 cán bộ, công chức
Đặc điểm:
Trang 14Thứ nhất: Đặc điểm cơ bản của Đảng bộ, xuyên suốt kể từ khi ra đời
đến nay, là không có cơ quan chính quyền và các tổ chức quần chúng đồngcấp; không lãnh đạo trực tiếp để đề ra nhiệm vụ chuyên môn mà chủ yếu lãnhđạo công tác xây dựng đảng, quản lý chính trị, tư tưởng, giáo dục cán bộ,đảng viên trong Đảng bộ chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ do cấp trên đề ra Hàngnăm Đảng bộ không trực tiếp đề ra phương hướng, nhiệm vụ chính trị nhưnglại có trách nhiệm lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở các đảng
bộ, chi bộ cơ sở, nên gặp không ít khó khăn trong việc tìm ra phương thứclãnh đạo phù hợp, hiệu quả
Thứ hai: Đảng bộ có một vai trò, vị trí quan trọng trong quá trình lãnh
đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Đảng bộ tỉnh Các tổchức cơ sở đảng của Đảng bộ có ở hầu hất các cơ quan đầu ngành của tỉnh.Những cơ quan này vừa là cơ quan tham mưu, vừa là cơ quan tổ chức thựchiện, kiểm tra, tổng kết rút kinh nghiệm việc triển khai các chủ trương củaĐảng bộ và chính quyền tỉnh Điều nay nói lên chất lượng lãnh đạo của Đảng
bộ, vừa có ý nghĩa trong việc hoàn thành nhiệm vụ của một cơ quan, vừa tácđộng trực tiếp đến phong trào chung của tỉnh
Chức năng:
Đảng uỷ các cơ quan Dân Chính Đảng là cấp uỷ cấp trên trực tiếp của
tổ chức cơ sở đảng, đặt dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, có chức năng lãnh đạoĐảng bộ thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng các tổ chức cơ sở đảngtrong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức đápứng yêu cầu, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước Tăng cường vai trò hạt nhân chính trị của tổ chứcđảng đối với lãnh đạo chuyên môn và các tổ chức chính trị xã hội của các đơn
vị thuộc Đảng bộ
Trang 15Nhiệm vụ:
1- Lãnh đạo xây dựng các tổ chức cơ sở đảng, nâng cao năng lựclãnh đạo và sức chiến đấu của đảng, là hạt nhân chính trị, không ngừng cảitiến lề lối làm việc, để nâng cao chất lượng tham mưu, hiệu quả công tácquản lý điều hành, nhằm bảo đảm thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ chínhtrị Làm tốt công tác quốc phòng - an ninh Không ngừng nâng cao đờisống vật chất, tinh thần cho cán bộ, công chức và nhân viên, xây dựng cơquan vững mạnh
- Tham gia ý kiến với lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc và đềxuất với Tỉnh uỷ, UBND tỉnh những vấn đề theo chức năng để thúc đẩy việchoàn thành các nhiệm vụ được giao
2- Lãnh đạo các tổ chức cơ sở đảng làm tốt công tác giáo dục chính trị
tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, công chức, tổ chức quán triệt và triển khaithực hiện các chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước, nhiệm vụ của cơ quan Không ngừng đào tạo, bồi dưỡng nângcao trình độ chính trị, kiến thức chuyên môn và năng lực hoạt động thực tiễncủa cán bộ, đảng viên, đảm bảo ổn định tư tưởng, nội bộ đoàn kết nhất trí
3- Lãnh đạo các tổ chức cơ sở đảng xây dựng và thực hiện quy chếcông tác tổ chức và cán bộ, công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ cán bộ đảng, đoàn thể thuộc tổ chức cơ sở
Tham gia ý kiến với Ban Tổ chức Tỉnh uỷ, Sở Nội vụ, ban cán sựđảng, đảng đoàn, lãnh đạo các đơn vị về đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm, miễnnhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ trongđảng bộ thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý và ngành quản lý
4- Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát, giữ gìn kỷ luật đảng, phát hiện
vi phạm, ngăn chặn kịp thời những biểu hiện lệch lạc về tư tưởng và việc làmtrái với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Trang 16Chống lối làm việc quan liêu, gia trưởng, cục bộ, bè phái, vô tổ chức, vô kỷluật, suy thoái về phẩm chất, đạo đức, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn tiêucực khác trong đội ngũ cán bộ đảng viên.
5- Lãnh đạo và xây dựng các tổ chức đoàn thể vững mạnh, thực hiện tốt
chức năng, nhiệm vụ theo điều lệ của mỗi đoàn thể.
Phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức và nhân viên trong việcthực hiện và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở Đẩy mạnh các phongtrào thi đua yêu nước thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao
6- Lãnh đạo, chỉ đạo, việc xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch vữngmạnh Giữ vững và phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phêbình và phê bình, giữ vững nền nếp, cải tiến và nâng cao chất lượng sinhhoạt đảng
Bồi dưỡng cấp uỷ viên cơ sở đảm bảo lãnh đạo thực hiện thắng lợinhiệm vụ chính trị đơn vị
Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên
Chăm lo công tác phát triển đảng viên mới
7- Thực hiện công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo phân cấp quản lý củaTỉnh uỷ
1.1.2 Đảng viên và đội ngũ đảng viên của Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng, tỉnh Nghệ An
- Đảng viên, đội ngũ đảng viên:
Đảng bộ Các cơ quan Dân Chính Đảng hiện có tổng số 3.378 đảngviên, trong đó đảng viên nữ chiếm 30,22%, đảng viên là người có đạo chiếm2,66%, đảng viên là người dân tộc chiếm 2,84%, đảng viên là cán bộ lãnh đạo
từ cấp phó sở, ban, ngành và tương đương trở lên chiếm 8,43%, cấp phó,trưởng phòng và tương đương chiếm 30,1% Đảng viên là cấp ủy viên chiếm
Trang 1713,7%, là thường vụ cấp ủy chiếm 0,88%, là phó bí thư chiếm 2,33%, là bíthư chiếm 2,30%.
Trình độ chuyên môn: cao đẳng, đại học 2.728 đồng chí chiếm 80,75%;thạc sỹ 411 đồng chí chiếm 12,16%; tiến sỹ 9 đồng chí chiếm 0,26%
Trình độ chính trị: sơ cấp 533 đồng chí chiếm 16,77%; trung cấp 1921đồng chí chiếm 56,86%; cao cấp, cử nhân 924 đồng chí chiếm 27,35%
Đại bộ phận đảng viên của Đảng bộ được trưởng thành và tôi luyện quathực tiễn đổi mới, có ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập nâng cao nhậnthức chính trị, nắm bắt quan điểm, nghị quyết của Đảng, cơ chế, chính sách,pháp luật Nhà nước Rèn luyện giữ vững bản lĩnh, phẩm chất chính trị, tintưởng và trung thành với sự lãnh đạo của Đảng Nêu cao tinh thần tráchnhiệm trong công tác, xây dựng đảng bộ, chi bộ, cơ quan, giữ vững đoàn kếtthống nhất nội bộ, đấu tranh phê phán những biểu hiện tư tưởng lệch lạc, saitrái trong cán bộ, đảng viên, công nhân viên
Hầu hết đảng viên thể hiện tính tiên phong gương mẫu trong phấn đấuhoàn thành nhiệm vụ được giao, trách nhiệm trước Đảng và nhân dân Luônphấn đấu rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của bản thân Đảng viên lãnhđạo bám định hướng, nắm vững chủ trương của Trung ương, của Tỉnh ủy đểchỉ đạo sâu sát, cụ thể, cách nghĩ, cách làm nhanh nhạy, sâu sắc, sát cơ sở vàsát dân hơn Đảng viên là cán bộ tham mưu phục vụ lo lắng, có tinh thần tráchnhiệm cao hơn trong phục vụ nhân dân
Nhiều năm qua, Đảng bộ đã chú trọng quản lý đảng viên thông qua chấtlượng công tác chuyên môn gắn với việc thực hiện cuộc vận động xây dựngchỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trungương 6 (2), khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 3, khóa IX, Nghị quyết 09-NQ/ĐU của Đảng ủy và gần đây là thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làmtheo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhờ vậy đã góp phần đáng kể nâng
Trang 18cao chất lượng đảng viên trong đảng bộ Những biểu hiện suy thoái đạo đức,lối sống của một bộ phận đảng viên tiếp tục được cảnh tỉnh, răn đe; tỷ lệ đảngviên hoàn thành tốt nhiệm vụ được nâng cao, hàng năm đều đạt trên 95%(năm 2007 có 1.514/1.561 đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 96,88%,trong đó có 270 đảng viên được suy tôn đảng viên xuất sắc, chiếm tỷ lệ17,29%; 39 đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, chiếm tỷ lệ 2,52%).
Khuyết điểm chung nhất của đội ngũ đảng viên trong Đảng bộ nổi bậtlên là: Một bộ phận đảng viên thiếu vươn lên trong học tập nâng cao trình độcác mặt, ý thức rèn luyện thói quen đồng nhất giữa suy nghĩ và hành động,giữa nói và làm còn thấp Thiếu gương mẫu trong giữ gìn phẩm chất đạo đức,lối sống của bản thân và gia đình dẫn tới sa sút ý chí chiến đấu, vi phạm kỷluật Một bộ phận đảng viên, kể cả đảng viên giữ cương vị lãnh đạo tính Đảngchưa cao, còn xem nhẹ công tác xây dựng Đảng Một bộ phận năng lực côngtác hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, chất lượng tham mưu, hướngdẫn, chỉ đạo, kiểm tra còn yếu, có trường hợp tham mưu ban hành cơ chếchính sách sai với chính sách, pháp luật của Nhà nước Có trường hợp cònthiếu ý thức trách nhiệm, lợi dụng vị trí công tác được phân công để gâyphiền hà, nhũng nhiễu, tìm kiếm lợi ích cá nhân trong quá trình thực thi nhiệm
vụ Đánh giá chất lượng đảng viên hằng năm còn nặng về hình thức, thànhtích, chưa phản ảnh đúng thực chất tình hình đội ngũ đảng viên Số đảng viên
vi phạm tư cách và bị xử lý kỷ luật còn khá cao (năm 2007 có 8 đảng viên viphạm tư cách, chiếm tỷ lệ 0,5%; 16 đảng viên bị thi hành kỷ luật, trong đókhiển trách 6, cảnh cáo 6, khai trừ 4)
- Vai trò, đặc điểm:
+ Thứ nhất: Đội ngũ đảng viên của Đảng bộ tập hợp trong lòng nó
những đảng viên là cán bộ lãnh đạo cao nhất, đến các chuyên viên làm nhiệm
vụ tham mưu Mặt khác các đảng bộ, chi bộ thuộc Đảng bộ nằm trong các cơ
Trang 19quan tham mưu hành chính tỉnh (Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhândân và các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh) Do đó cán bộ, đảng viên đều cóđiều kiện tiếp cận sớm chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước Hoạt động của mỗi một đảng viên trong Đảng bộ có tác động quantrọng đến việc triển khai thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước
và các nghị quyết của Đảng bộ tỉnh trên tất cả các lĩnh vực Nói cách khác,mọi hoạt động của đội ngũ đảng viên của Đảng bộ luôn luôn gắn liền và phục
vụ đắc lực quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh; nó có sức mạnh mẽ và lan tỏahết sức rộng lớn đối với toàn bộ hoạt động của tỉnh chứ không đơn thuần chỉphát huy tác dụng trong phạm vi các cơ quan, từng cơ quan
+ Thứ hai: Đảng viên của Đảng bộ có nhiều đồng chí nắm giữ nhiều
chức vụ chủ chốt trong các cơ quan của Đảng, chính quyền, đoàn thể cấp tỉnh,
vì vậy công tác quản lý đối với số đảng viên này cũng đặt ra nhiều vấn đề.Công tác quản lý vừa cần tạo điều kiện tích cực thuận lợi cho đảng viên giữchức vụ lãnh đạo thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, đồng thời cũngkhông để xảy ra tình trạng bị buông lỏng, nể nang, né tránh
+ Thứ ba: Đảng viên của Đảng bộ có trình độ cao về chuyên môn, nghiệp
vụ và lý luận chính trị, hơn 80% cán bộ công chức có trình độ cao đẳng, đại học,trong đó có 9 tiến sỹ, hơn 400 thạc sỹ Nhiều đồng chí trưởng thành từ cơ sở có
bề dày kinh nghiệm thực tiễn Bên cạnh đó có nhiều cán bộ trẻ được đào tạo cơbản, có phẩm chất, năng lực, từng bước thích ứng được với cơ chế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới Vì vậy,phương thức quản lý đảng viên cũng cần phải tính đến đặc thù này
+ Thứ tư: Toàn bộ đảng viên trong Đảng bộ đều là cán bộ đương nhiệm
trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, ngoài tham gia sinh hoạt đảng tại các tổchức cơ sở đảng trong các cơ quan, đều được giới thiệu về sinh hoạt ở nơi cưtrú theo Quy định 76- QĐ/TW ngày 15 tháng 6 năm 2000 của Bộ Chính trị
Trang 201.2 CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẢNG VIÊN - QUAN NIỆM, NHIỆM VỤ, NỘI DUNG, HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH
1.2.1 Quan niệm công tác quản lý đảng viên
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hộicủa lao động, ra đời gắn liền với hoạt động chung của nhiều người trong xãhội, bởi vì: “mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung thực hiện trênqui mô tương đối lớn ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý” [33, tr.34].Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích con người; là loại laođộng đặc biệt, lao động sáng tạo và phát triển từ thấp đến cao, gắn liền với nó
là sự phân công, chuyên môn hóa lao động quản lý, hình thành các chức năngquản lý Từ chức năng, nhiệm vụ, chủ thể quản lý có thể theo dõi kiểm tra,đánh giá, điều chỉnh sự hoạt động của mỗi bộ phận và toàn bộ hệ thống quản
lý Mỗi cá nhân trong hệ thống quản lý đều phải hoạt động theo chức năng,nhiệm vụ cụ thể; chủ thể quản lý theo dõi, kiểm tra, điều chỉnh, đảm bảo sựphối hợp đồng bộ các hoạt động để tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả hệ thốngquản lý hướng vào mục tiêu chung
Quản lý (theo từ Hán Việt) là sự kết hợp của “quản” và “lý” Quá trìnhquản gồm sự coi sóc, giữ gìn duy trì một hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quátrình lý gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ thống đó vào phát triển Theo
Từ điển tiếng Việt, quản lý có hai nghĩa: “1 Trông coi và giữ gìn theo nhữngyêu cầu nhất định 2 Tổ chức và điều khiển theo những yêu cầu nhất định”[47, tr.800]
Theo Sách tra cứu từ về Tổ chức: Quản lý là quá trình thu thập và xử lýthông tin, ra quyết định và truyền tải quyết định đó dưới dạng văn bản tới cácđối tượng bị quản lý [41, tr.545]
Trang 21Dù cách dùng, cách hiểu của các tác giả nêu trên trong các trường hợp,các lĩnh vực cụ thể có khác nhau, nhưng về cơ bản, khái niệm quản lý bao hàmnghĩa chính của nó là chăm sóc, là giữ gìn, là duy trì ổn định và phát triển.
Như vậy, có thể quan niệm một cách chung nhất, quản lý là hoạt động khoa học có mục đích của chủ thể tác động vào các đối tượng bằng các phương thức, biện pháp nhằm duy trì, ổn định, phát triển và đạt được hiệu quả cao nhất
Từ quan niệm chung về quản lý ở trên và trên cơ sở một số quan niệm
về quản lý đảng viên của cơ quan quản lý và các nhà khoa học, có thể đi đếnmột định nghĩa về công tác quản lý đảng viên như sau:
Công tác quản lý đảng viên là hoạt động của các tổ chức đảng và cấp uỷ đảng các cấp nhằm để nắm bắt rõ từng đảng viên về mặt lai lịch, quá trình học tập, công tác và diễn biến tư tưởng, trên cơ sở đó đánh giá xếp loại, khen thưởng hay kỷ luật (nếu có) hàng năm và đánh giá được khả năng, triển vọng của từng đảng viên; đồng thời nắm bắt cả đội ngũ đảng viên về số lượng, cơ cấu, trình độ mọi mặt, sự tăng, giảm, việc phát và sử dụng thẻ đảng viên Tất
cả công tác đó nhằm mục đích để tổ chức đảng nắm bắt được thực chất đội ngũ đảng viên để có kế hoạch cho công tác khác của Đảng nhằm phát huy và
sử dụng có hiệu quả từng người, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị chung của Đảng.
Quan niệm về công tác quản lý đảng viên nói chung ở trên đã chỉ ranhững vấn đề chủ yếu sau đây về công tác quản lý đảng viên ở Đảng bộ các
cơ quan Dân Chính Đảng, tỉnh Nghệ An:
- Mục đích quản lý: Nắm chắc toàn bộ đảng viên trong Đảng bộ một
cách có hệ thống; góp phần xây dựng đội ngũ đảng viên và các tổ chức đảngvững mạnh về mọi mặt, bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng củađịa phương
Trang 22- Chủ thể quản lý: Công tác quản lý đảng viên ở Đảng bộ các cơ quan
Dân Chính Đảng, tỉnh Nghệ An đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủyđảng từ Đảng bộ đến các chi bộ cơ sở mà thường xuyên trực tiếp là chi bộ vàngười làm công tác quản lý đảng viên theo phạm vi quyền hạn được phân cấp;kết hợp các tổ chức các lực lượng cùng tham gia quản lý Mỗi một chủ thểđều được quy định trách nhiệm cụ thể, rõ ràng trên các mặt của công tác quản
lý đảng viên
- Đối tượng quản lý: Từng đảng viên và đội ngũ đảng viên của Đảng bộ
là đối tượng của công tác quản lý đảng viên Đối tượng cụ thể trực tiếp chịutác động của hoạt động quản lý đó là: Phẩm chất, năng lực, các mối quan hệ
xã hội, lịch sử chính trị của từng đảng viên; cơ cấu, chất lượng đội ngũ đảngviên Tuy nhiên, giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý ở từng mối quan
hệ cụ thể có thể có sự chuyển hóa
Quản lý đảng viên là hoạt động quản lý đặc biệt có đối tượng là conngười và chịu tác động của nhiều yếu tố nên mỗi khi điều kiện, hoàn cảnhcũng như đối tượng quản lý thay đổi thì nội dung, hình thức, biện pháp quản
lý cũng phải thay đổi cho phù hợp
Công tác quản lý đảng viên cần phải được các tổ chức đảng quán triệt vàchấp hành nghiêm chỉnh theo những quy định của Trung ương Các tổ chứcđảng và chi bộ cần tăng cường công tác quản lý đảng viên, đồng thời, mỗiđảng viên phải tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ, tự khép mình vàokhuôn khổ kỷ luật Đảng, không một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của
tổ chức đảng
Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi mà đất nước đang đẩy nhanh quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế và khu vực, các mốiquan hệ của cán bộ, đảng viên trở nên đa dạng, phong phú Hơn nữa, các thế
Trang 23lực thù địch đang từng ngày, từng giờ chống phá Đảng ta với nhiều thủ đoạntinh vi, xảo quyệt hòng xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng thì công tác quản lýđảng viên càng có vai trò quan trọng Có làm tốt công tác quản lý đảng viênmới đánh giá đúng thực trạng chất lượng đảng viên, chất lượng đội ngũ đảngviên, phân loại đảng viên chính xác và có những giải pháp thiết thực nhằmnâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, ngăn ngừa có hiệu quả kẻ địch vànhững phần tử thoái hoá chui vào Đảng, bảo vệ nội bộ trong sạch, đáng ứngyêu cầu của nhiệm vụ cách mạng.
1.2.2 Nhiệm vụ, nội dung công tác quản lý đảng viên
- Quản lý hoạt động của đảng viên:
+ Quản lý về chính trị, tư tưởng của đảng viên đó là việc các tổ chức
đảng theo dõi, quản lý sự xác lập, biến động về quan điểm, lập trường chínhtrị của người đảng viên, từ đó có định hướng giúp cho người đảng viên có suynghĩ và hành động đúng đắn phù hợp với tư cách người đảng viên cộng sản.Đồng thời tổ chức đảng cũng phải kịp thời phát hiện những yếu kém, sai lầm,lệch lạc về tư tưởng chính trị; giáo dục, uốn nắn giúp họ sửa chữa và xử lýnghiêm túc những người thoái hoá, biến chất hoặc có những hành vi chốngphá Đảng về tư tưởng, chính trị
+ Quản lý về trình độ và năng lực công tác của đảng viên: cấp uỷ,
tổ chức đảng nắm vững trình độ và năng lực thực tế của người đảng viên
để tiến hành phân công nhiệm vụ cho đảng viên phù hợp với năng lực và
sở trường, đồng thời có kế hoạch đào tạo, bỗi dưỡng và giới thiệu nhữngđảng viên thực sự ưu tú ứng cử vào chức vụ lãnh đạo trong bộ máyĐảng, Nhà nước và các đoàn thể Thời kỳ mới đang đặt ra những yêu cầucao hơn về trình độ, năng lực đối với từng người đảng viên, đòi hỏi mỗiđảng viên phải không ngừng cố gắng học tập nâng cao trình độ chính trị,văn hoá, khoa học-công nghệ, ngoại ngữ và rèn luyện về bản lĩnh, tích
Trang 24luỹ kinh nghiệm công tác thực tiễn để có thể hoàn thành mọi nhiệm vụđược giao
+ Quản lý về sinh hoạt gia đình và quan hệ xã hội của đảng viên: ngoài
những hoạt động tại cơ quan, tổ chức mà tổ chức đảng có thể theo dõi, quản
lý được thì người đảng viên có một khoảng thời gian dài trong ngày sinh hoạttại gia đình và tham gia các hoạt động xã hội Từ đó đòi hỏi Đảng cũng phải
có biện pháp, hình thức phù hợp để quản lý những hoạt động cơ bản của đảngviên tại nơi cư trú và ngoài xã hội
- Công tác quản lý đội ngũ đảng viên bao gồm:
+ Quản lý về chất lượng đảng viên: Đảng ủy thông qua các tổ chức
đảng phải nắm chắc và đầy đủ về phẩm chất, năng lực của đội ngũ đảng viêncũng như từng đảng viên, cả quá trình biến đổi về chất lượng đảng viên Hiệntại, đội ngũ đảng viên của Đảng bộ có mặt bằng trình độ thế nào, hàng năm cóbao nhiêu đảng viên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, sựbiến đổi về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống ra sao, những biến đổi theo
xu hướng tích cực hay tiêu cực, đó là những thông số quan trọng mà Đảng bộphải thường xuyên cập nhật
+ Quản lý về số lượng đảng viên: Đó là các thông tin về số lượng đảng
viên được kết nạp mới; số đảng viên qua đời; số đảng viên chuyển đi, chuyểnđến; số đảng viên bị thi hành kỷ luật khai trừ khỏi Đảng; số đảng viên bị xoátên trong danh sách đảng viên của Đảng bộ Qua đó có những đánh giá, kếtluận về xu hướng vận động của sự biến đổi về số lượng đảng viên - điều đóảnh hưởng đến việc Đảng uỷ đưa ra những biện pháp, giải pháp nâng cao chấtlượng đội ngũ đảng viên
+ Quản lý về cơ cấu đội ngũ đảng viên: Công tác quản lý đảng viên
không chỉ chú ý đến chất lượng, số lượng mà còn cần quan tâm quản lý về cơcấu, bởi vì, cơ cấu đội ngũ đảng viên có thể tác động đến chất lượng và quan
Trang 25trọng hơn là ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảngtrên các lĩnh vực Việc quản lý cơ cấu đội ngũ đảng viên phải chú ý đến sốđảng viên phân bố ở các lĩnh vực chuyên môn; về giới tính, độ tuổi, dân tộc,tôn giáo có bất cập không Công tác quản lý về cơ cấu phải đặc biệt quan tâmkhông để một lĩnh vực nào không có đảng viên hoặc tổ chức đảng lãnh đạo.
- Công tác quản lý hồ sơ đảng viên và thẻ đảng viên:
+ Đảng uỷ có trách nhiệm quản lý hồ sơ đảng viên và danh sách đảngviên Hồ sơ đảng viên là hệ thống giấy tờ theo quy định của Trung ương, ghinhận về người đảng viên, phản ánh về lịch sử chính trị, quan hệ gia đình, quan
hệ xã hội, quá trình hoạt động cách mạng, phẩm chất, trình độ, năng lực vàquá trình công tác của người đảng viên Hồ sơ đảng viên bao gồm: lý lịchđảng viên, các quyết định kết nạp vào Đảng, công nhận đảng viên chínhthức, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật và các bản kiểm điểm, nhận xét đảng viên,giấy chuyển sinh hoạt Đảng… Hồ sơ đảng viên là tài liệu mật của Đảng,phải được tổ chức quản lý chặt chẽ theo đúng quy định về sử dụng, bảo quảntài liệu mật
+ Việc phát thẻ và quản lý thẻ đảng viên là công việc quan trọng củaĐảng góp phần nâng cao ý thức Đảng, tinh thần phấn đấu, ý thức tổ chức, kỷluật và đoàn kết nội bộ, ngăn ngừa kẻ địch, phần tử xấu chui vào Đảng Đảng
uỷ có thẩm quyền xét và làm thủ tục đề nghị về phát thẻ đảng viên, cấp lại thẻđảng viên bị mất hoặc bị hỏng; tổ chức lễ phát thẻ đảng viên; định kỳ mỗinăm một lần tổ chức kiểm tra thẻ đảng viên; thu hồi thẻ đảng viên của người
đã ra khỏi Đảng nộp lên cấp uỷ cấp trên
1.2.3 Hình thức và biện pháp quản lý
- Quản lý thông qua thực tế công tác, sinh hoạt, lối sống: Bản lĩnh
chính trị, trình độ, năng lực công tác, đạo đức, phẩm chất của đảng viên đượcthể hiện ra trong công tác, sinh hoạt, lối sống Thông qua thực tế đó, tổ chức
Trang 26đảng sẽ có cơ sở khách quan trong việc đánh giá đúng chất chất lượng củamỗi đảng viên Hình thức, biện pháp này góp phần quan trọng trong việc giáodục, rèn luyện đảng viên và sàng lọc đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng
- Quản lý thông qua kiểm tra giám sát: Cấp ủy, chi bộ tiến hành kiểm
tra, giám sát đảng viên trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, các nguyên tắc tổchức của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và của cấp mình; kiểm tra,giám sát các hoạt động của đảng viên, việc giữa gìn phẩm chất đạo đức, lốisống và việc giữa mối quan hệ với tổ chức đảng nơi cư trú Qua kiểm tra, giámsát cấp ủy, chi bộ sẽ có đầy đủ thông tin về đảng viên và đội ngũ đảng viên đểkịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những hạn chế lệch lạc
- Phối hợp với chi bộ nơi cư trú trong công tác quản lý đảng viên: Quản
lý đảng viên là quản lý toàn diện, trong tình hình hiện nay, quản lý đạo đức, lốisống được xem là nội dung quan trọng; quản lý tốt nội dung này tổ chức đảng
có đảng viên đang công tác cần kết hợp chặt chẽ với chi bộ nơi có đảng viênđang cư trú theo Quy định số 76-QĐ/TW ngày 15 tháng 6 năm 2000 của BộChính trị “ Về việc đảng viên đang công tác ở cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sựnghiệp thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫuthực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú” để kịp thời ngăn ngừa, chấn chỉnhnhững vi phạm có thể xảy ra
- Quản lý đảng viên còn được thông qua phong trào cách mạng của quần chúng ở địa phương Đảng viên là người đưa đường lối chủ trương,
chính sách của Đảng vào quần chúng, trực tiếp tổ chức, giáo dục và lãnh đạoquần chúng thực hiện Đảng viên là người duy trì và tăng cường mối quan hệgiữa giữa Đảng với quần chúng Mặt khác, phong trào cách mạng của quầnchúng là môi trường tốt nhất để giáo dục, rèn luyện đảng viên, sàng lọc độingũ đảng viên Chính phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở là trường
Trang 27học lớn để đội ngũ đảng viên thể hiện phẩm chất và năng lực của mình, đồngthời, phong trào cách mạng của quần giúp đảng viên tự hoàn chỉnh mình, Đảng
ủy, chi bộ làm tốt công tác quản lý đảng viên
- Phát huy vai trò tự quản của từng đảng viên Chất lượng quản lý đảng
viên là quá trình giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tổ chức đảng với tráchnhiệm của từng đảng viên Đó là hai mặt của một quá trình, trong đó phát huytính tích cực, tự giác tự quản lý của từng đảng viên bao giờ cũng có cũng có ýnghĩa quyết định trực tiếp Sự hình thành, phát triển về phẩm chất và nănglực, đạo đức, lối sống của đảng viên nói chung là một quá trình phấn đấu lâudài bền bỉ, thông qua nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng ở nhà trường, sự tự giácrèn luyện của đảng viên trong hoạt động thực tiễn
1.3 CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẢNG VIÊN Ở ĐẢNG BỘ CÁC CƠ QUAN DÂN CHÍNH ĐẢNG TỈNH NGHỆ AN - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1.3.1 Thực trạng công tác quản lý đảng viên ở Đảng bộ Các cơ quan Dân Chính Đảng tỉnh Nghệ An hiện nay
- Quản lý hoạt động của đảng viên:
+ Quản lý về chính trị, tư tưởng của đảng viên:
Lãnh đạo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nói chung và thực hiệnviệc quản lý về chính trị, tư tưởng của đảng viên nói riêng là một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm của Đảng ủy và các cấp ủy đảng cơ sở Các cấp ủy đã coitrọng việc cung cấp thông tin và định hướng xử lý thông tin cho đảng viên.Thông qua hoạt động của báo cáo viên, sinh hoạt chi bộ, đảng bộ, sinh hoạtcác đoàn thể quần chúng, nhiều cơ sở đã cung cấp đầy đủ, kịp thời các thôngtin về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, các chính sáchphát triển kinh tế xã hội của tỉnh, thời sự trong nước, thời sự quốc tế cho đảngviên Đồng thời, thông qua các sinh hoạt này để nắm bắt những vấn đề tư
Trang 28tưởng phát sinh trong đảng viên, cán bộ công chức để giải quyết kịp thời Đặcbiệt là kịp thời phát hiện những yếu kém, sai lầm, lệch lạc về tư tưởng chínhtrị nhằm giáo dục, uốn nắn giúp họ sửa chữa và xử lý nghiêm túc những đảngviên có biểu hiện xuyên tạc về tư tưởng, chính trị
Nhằm mục đích tăng cường trao đổi thông tin, tình hình tư tưởng giữaĐảng ủy và các tổ chức cơ sở đảng, cụ thể hóa chủ trương thực hiện đối thoạitrong Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) về công tác tưtưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới, từ năm 2008 Đảng ủy các cơquan Dân Chính Đảng đã thực hiện chủ trương giao ban định kỳ giữa Đảng
ủy với các bí thư cơ sở đảng vào cuối tháng của quý (tháng 3,6,9,12) Thườngtrực Đảng ủy trực tiếp chủ trì giao ban Để nâng cao hiệu quả của việc giaoban, Đảng ủy tổ chức theo 3 khối: các cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể chính trị xã hội; các đơn vị sở, ban, ngành cấp tỉnh và những đơn vịkhác còn lại Với tinh thần này, yêu cầu các bí thư cơ sở đảng chủ động chuẩn
bị ý kiến để tham gia phản ánh có chất lượng tại hội nghị Quá trình giao ban
sẽ nghe tổng hợp hoạt động của Đảng bộ trong quý Các bí thư cơ sở tham giaphản ánh tình hình, chủ yếu là tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên.Thường trực Đảng ủy chủ trì đối thoại, trả lời và tổng hợp kết luận Kết thúcgiao ban cụm, Đảng ủy có thông báo kết quả tổng hợp tình hình toàn Đảng bộtrong quý và định hướng công tác quý tiếp theo
Đảng ủy cũng chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảng, đối với các hội nghị tổngkết công tác xây dựng Đảng hàng năm không được kết hợp với các hội nghịtổng kết chuyên môn, tổng kết công đoàn Hội nghị tổng kết công tác xâydựng Đảng hàng năm là dịp để đảng viên sinh hoạt tư tưởng, do vậy các cấp
ủy phải tạo điều kiện cho đảng viên được phát huy dân chủ, thẳng thắn traođổi những vướng mắc về tư tưởng của mình
Trang 29Tuy nhiên, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng lý luận cáchmạng, đạo đức lối sống cho đảng viên ở nhiều tổ chức cơ sở đảng chưa đúngmức, chiếu lệ, tính định hướng, tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phụcchưa cao Có nơi cấp ủy chưa chủ động, thiếu quan tâm trong việc nắm bắtnhững vấn đề phát sinh trong tư tưởng của đảng viên hoặc giải quyết chưa tốtvấn đề nên còn tình trạng đơn thư nặc danh, mạo danh kéo dài, tư tưởng trongnội bộ cơ quan không ổn định Có nơi còn buông lỏng quản lý đảng viêntrong việc phát ngôn, nhân danh việc phản ánh, góp ý đối với Đảng để đảkích, vu cáo, xúc phạm, nhận xét, đánh giá tùy tiện đối với người khác
+ Quản lý về trình độ và năng lực công tác của đảng viên:
Đảng ủy và các cấp ủy cơ sở thông qua việc quản lý, theo dõi về trình
độ và năng lực công tác của đảng viên đã từng bước phát huy vai trò và tráchnhiệm của mình trong việc tham gia công tác cán bộ theo thẩm quyền vớiTỉnh ủy và các ban cán sự đảng, đảng đoàn, thủ trưởng chuyên môn các cơquan, đơn vị Việc phối hợp trong công tác cán bộ khá chặt chẽ, đã bước đầugắn được công tác quản lý đảng viên với công tác cán bộ, góp phần chăm loxây dựng đội ngũ cán bộ trong Đảng bộ Ban Thường vụ Đảng ủy đã tham gianhận xét cán bộ diện Tỉnh ủy và các ngành quản lý theo đúng quy định để đềbạt, bổ nhiệm Các cấp ủy cơ sở đã từng bước phát huy vai trò và trách nhiệmcủa mình trong lãnh đạo và tham gia công tác cán bộ theo thẩm quyền với cácban cán sự đảng, đảng đoàn, thủ trưởng chuyên môn cơ quan, đơn vị
+ Quản lý tại nơi công tác và tại nơi cư trú:
Đảng ủy và cấp ủy cơ sở đã có nhiều cố gắng làm tốt công tác quản lýđảng viên tại cơ quan, đơn vị công tác, từng bước gắn công tác quản lý đảngviên với quản lý cán bộ, công chức, tăng cường kiểm tra đảng viên thực hiệnĐiều lệ Đảng và Quy định 19-QĐ/TW ngày 3 tháng 1 năm 2002, Quy định115-QĐ/TW ngày 7 tháng 12 năm 2007 của Bộ Chính trị quy định những
Trang 30điều đảng viên không được làm Đồng thời phối hợp với các tổ chức đảngtrên địa bàn dân cư để quản lý, đánh giá chất lượng đảng viên chặt chẽ vàtoàn diện.
Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng là một trong những đảng bộthực hiện tốt Quy định 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị 29-CT/TU củaTỉnh ủy về việc giới thiệu đảng viên đang công tác về tham gia sinh hoạt nơi
cư trú Ban Thường vụ Đảng ủy thường xuyên chỉ đạo các tổ chức cơ sở đảngthực hiện việc giới thiệu số đảng viên mới được chuyển về sinh hoạt tại Đảng
bộ và đảng viên mới được kết nạp về tham gia sinh hoạt đảng tại nơi cư trútheo Quy định 76-QĐ/TW Năm 2007, Đảng bộ có 3.059 đảng viên, trong đóđảng viên thuộc diện giới thiệu về tham gia sinh hoạt tại nơi cư trú là 2.817đồng chí, chiếm 92,1%, đã giới thiệu 2.788 đồng chí, chiếm tỷ lệ 99%
Hầu hết các cấp uỷ cơ sở và đảng viên nhận thức được tầm quan trọngcủa việc thực hiện Quy định 76-QĐ/TW, thấy rõ trách nhiệm, tích cực thamgia sinh hoạt và có nhiều đóng góp cho địa phương nơi cư trú Các cấp uỷ địaphương đã tạo điều kiện thuận lợi để đảng viên được tham gia sinh hoạt vàhoà nhập thuận lợi Thông qua sinh hoạt tại các đảng bộ, chi bộ nơi cư trú đãtạo điều kiện cho đảng viên được gần gũi, gắn bó với nhân dân, lắng nghequần chúng phản ánh tâm tư, nguyện vọng, qua đó tham gia ý kiến vào cácchương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương như xây dựngcác công trình giao thông, nhà văn hoá khối xóm, xây dựng quỹ khuyếnhọc ; đóng góp các loại quỹ xây dựng các phong trào như xây dựng khối phốxanh - sạch - đẹp, luyện tập thể dục thể thao, bảo vệ an ninh trật tự an toànkhối xóm
Năm 2006 và 2007, gắn với việc triển khai Chỉ thị 06-CT/TW của BộChính trị về triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạođức Hồ Chí Minh” và tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/ĐU
Trang 31của Đảng ủy về “Nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm
và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên”, Ban Thường vụ Đảng ủy đã chỉđạo các cấp ủy cơ sở tiến hành lấy ý kiến nhận xét, đánh giá đảng viên nơi cưtrú Bên cạnh đó khi có nhu cầu nhận xét, đánh giá cán bộ để giới thiệu bầu
cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, hoặc đề bạt, bổnhiệm cán bộ, kết nạp và chuyển chính thức cho đảng viên, các cấp ủy cơ sởđều lấy ý kiến nhận xét nơi cư trú Thông qua việc thực hiện Quy định 76-QĐ/TU đã góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý đội ngũ đảng viên,từng bước nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm của đảngviên và tổ chức đảng
Có thể khẳng định kết quả, tác dụng nổi bật nhất trong việc thực hiệnQuy định 76-QĐ/TW tại Đảng bộ là hầu hết các cấp uỷ cơ sở đã thực hiện tốtmối quan hệ phối hợp với cấp uỷ nơi đảng viên cư trú trong việc quản lý,kiểm tra, giám sát đảng viên Vì vậy việc đánh giá chất lượng đảng viên, xétkhen thưởng, kỷ luật, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, đảngviên chính xác hơn
Quy định 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị là một chủ trương đúng tạo điềukiện cho mỗi đảng viên nắm bắt được tình hình kinh tế-xã hội và an ninhchính trị của địa phương, gương mẫu hơn trong việc chấp hành các chủtrương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại nơi cư trú Đồngthời tổ chức đảng và nhân dân địa phương có điều kiện gần gũi, giám sát đảngviên trong việc chấp hành các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước,các nghĩa vụ của đảng viên trên địa bàn dân cư
Tuy vậy một số cấp uỷ cơ sở chưa xây dựng được mối quan hệ thườngxuyên với cấp uỷ nơi đảng viên cư trú, việc thông tin hai chiều thiếu kịp thời
và chưa đầy đủ Công tác phối hợp của cấp uỷ nơi đảng viên công tác và cấp
uỷ nơi cư trú có nơi không nghiêm túc
Trang 32Một số đảng viên chưa được giới thiệu về sinh hoạt tại nơi cư trú; một
số đảng viên đã giới thiệu nhưng chưa tham gia sinh hoạt hoặc tham giakhông tích cực, chưa có nhiều ý kiến đóng góp để xây dựng chi bộ, chínhquyền nơi cư trú
Một số cấp uỷ địa phương chưa chú trọng việc quản lý, kiểm tra, giámsát đảng viên về tham gia sinh hoạt và thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú,
vì vậy khi nhận xét, đánh giá chưa chính xác gây khó khăn cho việc đánh giá,xếp loại cán bộ, đảng viên Công tác chuẩn bị nội dung sinh hoạt của một sốcấp uỷ địa phương chưa chu đáo, chưa sát với chức năng, nhiệm vụ của đảngviên được giới thiệu về sinh hoạt trên địa bàn dân cư vì vậy chưa khai thácđược trí tuệ của đảng viên Có nơi còn nặng về vận động đóng góp quỹ
Do Quy định 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị chưa quy định thật rõ tráchnhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của đảng viên sinh hoạt nơi cư trú nên việc thamgia sinh hoạt của đảng viên còn mang hình thức; một số trường hợp đảng viênkhông có hộ khẩu (thuê nhà) hoặc thường xuyên đi công tác nên việc thựchiện quy định có phần khó khăn
+ Quản lý các quan hệ xã hội:
Đây là vấn đề hết sức phức tạp, được xem là khâu yếu nhất trongcông tác quản lý đảng viên của Đảng bộ nói riêng cũng như Đảng ta nóichung Để quản lý các quan hệ xã hội của đảng viên, Đảng ủy đã chỉ đạocác cấp ủy cơ sở tăng cường giáo dục đảng viên chấp hành thực hiện cácquy định của Điều lệ Đảng, các quy định của Bộ Chính trị về những điềuđảng viên không được làm trong các quan hệ xã hội Đảng ủy chỉ đạo các
tổ chức cơ sở đảng xây dựng và thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn cần
"xây" và "chống" về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trong toànĐảng bộ, trong đó cần "chống" tham gia đánh bạc (dưới bất cứ hình thứcnào), uống rượu bia trong giờ làm việc, uống rượu bia say ở nơi công cộng
Trang 33và tham gia các tệ nạn xã hội; mê tín, hoạt động mê tín; tổ chức việc cưới,việc tang linh đình nhằm mục đích vụ lợi Tuy nhiên, việc quản lý, giámsát của tổ chức đảng đối với sự chấp hành của đảng viên để ngăn ngừa cònhạn chế, khi đảng viên vi phạm tổ chức đảng không biết, khi bị phát hiện
xử lý về mặt pháp luật tổ chức đảng mới biết
- Quản lý hồ sơ, lý lịch, thẻ đảng viên:
+ Quản lý hồ sơ, lý lịch:
Hầu hết các cấp ủy cơ sở đã thực hiện tương đối tốt công tác quản lý hồ
sơ đảng viên Hồ sơ đảng viên được bảo quản tương đối cẩn thận, chu đáotheo đúng quy định bảo vệ tài liệu mật của Đảng, bảo đảm tính khoa học, mỗi
hồ sơ có bao bì, xếp theo chi bộ và có hộp hoặc cặp đựng; có phân công cấp
ủy (chủ yếu là đồng chí phó bí thư hoặc cấp ủy viên phụ trách công tác tổchức của cơ quan) lưu giữ theo đúng chế độ quản lý hồ sơ đảng viên
Tất cả các đảng viên khi được kết nạp vào Đảng đều được cấp ủy hướngdẫn khai lý lịch và tiến hành thẩm tra, xác minh đầy đủ về mặt lịch sử chính trị,chính trị hiện nay theo quy định của Điều lệ Đảng Khi được công nhận chínhthức, đảng viên khai lý lịch, khai phiếu đảng viên để cấp ủy quản lý
Các mẫu tài liệu trong hồ sơ đảng viên được thực hiện thống nhất theomẫu hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương Đảng bộ được cấp một sốlượng nhất định số lý lịch theo quy định của Tỉnh ủy để quản lý lý lịch đảngviên Hàng năm, Đảng ủy đều hướng dẫn các tổ chức cơ sở đảng việc đảngviên khai phiếu bổ sung hồ sơ đảng viên, trên cơ sở đó để cập nhật, bổ sungnhững thông tin thay đổi của đảng viên vào lý lịch Khi đảng viên chuyển sinhhoạt các cấp ủy đã thực hiện nghiêm túc việc niêm phong hồ sơ và giới thiệu
để đảng viên được chuyển sinh hoạt đảng theo đúng quy định
Tuy nhiên, một số tổ chức cơ sở đảng chưa có sổ theo dõi, quản lýđảng viên Còn có nhiều hồ sơ đảng viên thiếu các loại văn bản liên quan
Trang 34như: hồ sơ kết nạp, quyết định kết nạp, hồ sơ và quyết định chuyển chínhthức, chủ yếu là thất lạc trước khi chuyển về sinh hoạt tại Đảng bộ các cơquan Dân Chính Đảng Có một số đảng viên chưa có lý lịch đảng viên hoặc
lý lịch đảng viên quá cũ Có hồ sơ đảng viên sai lệch thông tin, dữ liệu giữacác loại hồ sơ
Công tác quản lý, bổ sung, cập nhật hồ sơ đảng viên của một số tổ chức
cơ sở đảng chưa đảm bảo yêu cầu Việc bổ sung cập nhật hồ sơ đảng viên củamột số cấp ủy chưa được thường xuyên, chưa đầy đủ như: ngày và nơi côngnhận đảng viên chính thức, những thay đổi về quá trình công tác và chức vụ,
về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị, về những thay đổi của các thànhviên trong gia đình: bố, mẹ chồng (vợ), con
+ Quản lý thẻ đảng viên:
Việc đổi, phát thẻ đảng viên, quản lý thẻ đảng viên đã đảm bảo thựchiện đúng nội dung yêu cầu theo quy định của Điều lệ Đảng, Chỉ thị29-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương (khóa IX), Hướng dẫn 485-HD/TUcủa Tỉnh ủy Ban Thường vụ Đảng ủy đã tổ chức tập huấn về công tác đổi thẻcho các tổ chức cơ sở đảng, lập Ban chỉ đạo về công tác đổi thẻ Sau hai nămthực hiện, công tác đổi thẻ đảng viên đã hoàn thành, đạt kết quả tốt, đảng viênđược đổi thẻ đều đảm bảo đúng tiêu chuẩn theo quy định của Trung ương.100% đảng viên của Đảng bộ đã được đổi thẻ đảng viên Thông qua công tácđổi thẻ đảng viên, Đảng bộ đã tiến hành rà soát tư cách đảng viên, nâng nhậnthức về quyền và nghĩa vụ của người đảng viên, góp phần củng cố và nângcao chất lượng công tác quản lý đảng viên của Đảng bộ Các cơ sở đảng tổchức khai phiếu đảng viên, đồng thời kết hợp đối soát, kiểm tra, thu nhận2.672 phiếu đảng viên trong toàn Đảng bộ nộp lên Ban Tổ chức Trung ươngđúng thời gian quy định
Trang 35Số đảng viên mới kết nạp, khi được công nhận là đảng viên chính thứcđều được phát thẻ đảng Đảng viên chấp hành nghiêm túc việc bảo quản và sửdụng thẻ đảng viên trong sinh hoạt Đảng.
- Công tác xây dựng và quản lý cơ sở dữ lệu đảng viên:
Hiện nay, dữ liệu phiếu đảng viên của 2.974 đảng viên đã được nhậpmới phiếu 4 trang, nhập bổ sung phiếu 1 trang thành 4 trang, phiếu đảng viênkhi tiếp nhận và chuyển sinh hoạt đảng Ban Tổ chức Đảng ủy đã bổ sungphiếu đảng viên từ năm 2004 đến ngày 31 tháng 12 năm 2007 và tiếp tục tiếnhành rà soát, đối khớp giữa hồ sơ, lý lịch đảng viên gốc với phiếu đảng viên
Về trang thiết bị phục vụ cho chương trình xây dựng và quản lý cơ sở
dữ liệu đảng viên, Đảng ủy đã được trang bị máy chủ cài đặt chương trình cơ
sở dữ liệu đảng viên đặt ở phòng máy của Văn phòng Đảng ủy, 2 máy trạm vàmột máy quét ảnh do Ban Tổ chức Đảng ủy quản lý
Tuy nhiên, trình độ, năng lực của cán bộ phụ trách cơ sở dữ liệu đảngviên hiện nay nhiều mặt còn yếu, nguyên nhân do trình độ hiểu biết về côngnghệ thông tin còn hạn chế
1.3.2 Nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm
- Nguyên nhân:
+ Nguyên nhân của thành tựu:
Một là, nhận thức của các cấp ủy về công tác quản lý đảng viên đã được nâng lên Đây là nguyên nhân quan trọng nhất quyết định đến chất
lượng, hiệu quả của công tác quản lý đảng viên ở Đảng bộ các cơ quan DânChính Đảng, tỉnh Nghệ An
Hai là, do sự phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và tự giác đặt mình trong
sự quản lý của tổ chức của từng đảng viên Đây là nguyên nhân trực tiếp gópphần quyết định hiệu quả công tác quản lý đảng viên ở Đảng bộ Mỗi đảngviên vừa là đối tượng quản lý của tổ chức vừa phải phấn đấu, tu dưỡng, rènluyện bản thân, tự quản lý mình Sự quản lý chặt chẽ của tổ chức dù có chặt
Trang 36chẽ đến đâu cũng không thể quản lý được mọi hoạt động của đảng viên, nhất
là diễn biến tư tưởng của đảng viên
Ba là, sự phối hợp tích cực giữa các tổ chức, các lực lượng tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quản lý đảng viên ở Đảng bộ Dưới sự lãnh đạo, chỉ
đạo của Đảng bộ mà thường xuyên là của các cấp ủy, chi bộ, các tổ chứcđảng đã phối hợp các tổ chức đoàn thể tham gia quản lý giám sát đội ngũđảng viên bằng nhiều hình thức, biện pháp như: các cấp ủy lấy ý kiến củaquần chúng tham gia đóng góp phê bình đảng viên hằng năm; đề cao tinhthần tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt chi bộ, đấu tranh chống mọibiểu hiện tiêu cực trong đảng viên những việc làm đó đã gắn chặt sự quản
lý của tổ chức với sự tự quản lý của đảng viên, tạo điều kiện để từng đảngviên thấy được ưu điểm, khuyết điểm của mình, có phương hướng sửa chữa
và từng bước tự hoàn thiện mình
Bốn là, thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, những kết quả trong
phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi về vật chấtcho quản lý đảng viên Kinh tế, xã hội phát triển đã tăng cường cơ sở vật chất,phương tiện, lực lượng cho tất cả các mặt công tác quản lý đảng viên; độngviên tạo điều kiện cho đảng viên hăng hái tham gia các mặt công tác đảngviên; tăng tính thuyết phục, hiệu quả của công tác giáo dục, rèn luyện đảngviên; làm tăng uy tín của Đảng, tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh công tácđảng viên nói chung, quản lý đảng viên nói riêng
Năm là, các quy định của Đảng về quản lý đảng viên ngày càng được
hoàn thiện; công cụ, phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho quá trình quản lýđược quan tâm đầu tư;
+ Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém:
Một là, sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường và các tiêu cực, tệ nạn xã hội Trong những năm qua, đất nước ta thực hiện nền kinh tế thị
Trang 37trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mặc dù kinh tế, văn hóa, xã hội có bướcphát triển mạnh nhưng vẫn còn nhiều vấn đề bức xúc, những tác động của mặttrái của cơ chế thị trường, các tiêu cực, tệ nạn xã hội đang có chiều hướng giatăng Những yếu tố trên ở mức độ khác nhau, nhưng tác động đến nhận thức,tình cảm lòng tin của đội ngũ cán bộ đảng viên.
Hai là, một số cấp ủy, chi bộ chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, tầm quan
trọng của công tác quản lý đảng viên; chưa thật sự nắm vững đặc điểm, chấtlượng của từng đảng viên; chưa xác định phương hướng, nội dung, hình thức,biện pháp quản lý cho phù hợp; mặt khác, trong tổ chức thực hiện nhiều lúccòn lúng túng, thiếu nhạy bén
Ba là, một số cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò
của việc tự quản lý, chưa chủ động tự quản lý, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất
và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, mặt khác việc giáo dục, rèn luyệnđảng viên của một số tổ chức đảng chưa tốt Một số đảng viên chưa có ý thức
tự giác đặt mình vào khuôn khổ của tổ chức, chưa chấp hành tốt Quy định 76 –QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc giữ mối liên hệ với tổ chức đảng nơi cư trú
Bốn là, Trong nhận thức và hành động, không ít cấp uỷ và chi bộ cho
rằng công tác xây dựng Đảng là công việc thuần tuý của nội bộ Đảng, khôngbiết phát huy vai trò của hệ thống chính trị, không biết “dựa vào dân” để xâydựng Đảng, chưa thực hiện tốt việc lấy ý kiến đóng góp, phê bình của quầnchúng và các tổ chức trong hệ thống chính trị đối với đảng viên
Năm là, Sự vận động, biến đổi của tình hình thực tế hết sức nhanh
chóng làm cho hoạt động quản lý không theo kịp Bên cạnh đó, việc cụ thểhoá các quy định của Đảng về quản lý đảng viên chưa rõ ràng như về chủ thể,nội dung, hình thức, phương pháp làm cho nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng cònlúng túng;
Trang 38Sỏu là, trong sinh hoạt đảng theo định kỳ, nội dung, chất lượng sinh
hoạt cũn yếu, ý thức tự phờ bỡnh và phờ bỡnh chưa cao nờn nhiều đảng viờn viphạm khuyết điểm mà tổ chức đảng chưa nắm bắt được, cú đảng viờn vi phạm
bị cơ quan phỏp luật xử lý thỡ tổ chức đảng mới biết
- Một số kinh nghiệm rút ra:
Từ thực tế những u điểm và hạn chế trong công tác quản lý đảng viên ở
Đảng bộ các cơ quan Dân Chính Đảng, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:+ Để tiếp tục nâng cao chất lợng công tác quản lý đảng viên, phải có sựchỉ đạo tập trung, sâu sát của các cấp uỷ cơ sở, phải tạo đợc sự đồng thuận,thống nhất nhận thức cao trong toàn Đảng bộ về tầm quan trọng của công tácxây dựng Đảng, nhất là xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh + Các cấp uỷ cơ sở cần cụ thể hóa các văn bản quy định của Trung ơng,hớng dẫn của Tỉnh uỷ, Đảng uỷ vào tình hình thực tiễn của cơ quan, đơn vịmình một cách sát hợp; thờng xuyên đổi mới nội dung, phơng thức lãnh đạo,tạo điều kiện để đảng viên thực hiện tốt nhiệm vụ đợc giao
+ Hàng năm, các cấp uỷ phải xây dựng chơng trình, kế hoạch công tác,phân công nhiệm vụ cụ thể cho đảng viên, đa nội dung công tác quản lý đảngviên trở thành những tiêu chí phấn đấu để xây dựng tổ chức đảng trong sạchvững mạnh Cuối năm, phải tổ chức kiểm tra, trên cơ sở đó để có căn cứ đánhgiá đúng chất lợng tổ chức đảng, chất lợng đảng viên
+ Trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ, các cấp uỷ, đảng viên luôn bámchắc vào các quy định của Điều lệ Đảng, sự chỉ đạo, hớng dẫn của cấp uỷ cấptrên, tạo ra sự động thuận, thống nhất về nhận thức để triển khai thực hiện các
nhiệm vụ chính trị tại sơ sở
+ Các cấp uỷ cần quan tâm đầu t nhiều thời gian, công sức cho công tácxây dựng Đảng, thờng xuyên củng cố, kiện toàn đội ngũ cấp ủy các cấp, đặcbiệt là các chức danh bí th, phó bí th, cấp ủy viên cơ sở; bố trí đội ngũ cán bộtâm huyết, nhiệt tình, có trách nhiệm, có trình độ kiến thức, năng lực thực tiễn
để làm chuyên trách công tác Đảng ở cơ quan Đảng ủy
+ Quan tâm thực hiện tốt các chế độ, chính sách, nhất là chính sách tiềnlơng cho cán bộ làm công tác xây dựng Đảng và chế độ phụ cấp đối với cấp
ủy viên
Trang 40Chương 2 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẢNG VIÊN Ở ĐẢNG BỘ
CÁC CƠ QUAN DÂN CHÍNH ĐẢNG, TỈNH NGHỆ AN
2.1 MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG
2.1.1 Những thuận lợi và khó khăn đặt ra đối với công tác quản lý đảng viên
- Thuận lợi:
+ Nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo vàsức chiến đấu của Đảng trở thành một chủ đề trọng tâm của Đại hội X vàquyết tâm chính trị cao của toàn Đảng Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hànhTrung ương (khóa X) đã ra Nghị quyết về nâng cao năng lực lãnh đạo, sứcchiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên,trong đó, nhiệm cụ quan trọng là xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiềnphong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật,hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Muốn đạt được kết quả đó, các tổ chứcđảng, cấp uỷ đảng các cấp phải quan tâm đến công tác quản lý đảng viên
+ Sau Đại hội Đảng bộ lần thứ 17, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI vàĐại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng uỷ đã nhanh chóng xây dựngchương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội các cấp, trong
đó đã chú trọng nhiệm vụ xây dựng tổ chức cơ sở đảng gắn với xây dựng độingũ đảng viên Đảng ủy đã ra Nghị quyết số 01-NQ/ĐU ngày 25 tháng 7 năm
2006 về nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống, ý thức trách nhiệm và nănglực công tác của cán bộ, đảng viên; ban hành Đề án số 01-ĐA/ĐU ngày 15tháng 7 năm 2008 về "Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong các cơ quan DânChính Đảng tỉnh Nghệ An"