xúc, đặc biệt các vấn đề như ùn tắc giao thông, ngập lụt, an ninh trật tựvà an toàn xã hội.Việc thực hiện hài hòa mối quan hệ giữa phát triểnkinh tế với nâng cao đời sống của người lao đ
Trang 1-
-VŨ TOẢN
BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VỚI VIỆC NÂNG CAO ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC &CNDVLS
Mã số: 62.22.80.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Văn Gầu TS Nguyễn Anh Quốc Phản biện 1: .
Phản biện 2: .
Phản biện 3: .
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo họp tại: .
Vào hồi giờ ngày tháng năm
Phản biện độc lập 1: .
Phản biện độc lập 2: .
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Đại học quốc gia TP HCM;
- Thư viện Trường Đại học KHXH & NV, TP HCM;
- Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân, đời sống củangười lao động là những vấn đề cơ bản được đề cập ở mọi xã hội trongquá trình phát triển Mục tiêu phát triển kinh tế là nhằm tạo điều kiệncho sự phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là phát triểnvăn hóa, phát triển con người, nâng cao chất lượng sống của các tầng lớpnhân dân, của người lao động Điều này đã được khẳng định trong Báocáo Phát triển con người của Liên Hợp Quốc (1995) khi cho rằng, pháttriển có ý nghĩa gì nếu không quan tâm không quan tâm đến đời sốngcủa con người? Mục đích phát triển kinh tế xét cho đến cùng chỉ làphương tiện để phục vụ phát triển con người1 Chính vì vậy, việc xácđịnh giá trị đích thực của phát triển, đồng thời tập hợp, phát huy và sửdụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển bền vững trở thành nhucầu cấp thiết
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn, một trung tâm lớn về kinh tế,văn hóa, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế, có vị trí chínhtrị quan trọng của cả nước những thành tựu kinh tế - xã hội của thànhphố Hồ Chí Minh đạt được thời gian qua là quan trọng, góp cùng sự pháttriển kinh tế - xã hội chung của đất nước Tuy nhiên, chất lượng tăngtrưởng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của kinh tế chưa tươngxứng với tiềm năng và thế mạnh của Thành phố Kinh tế phát triển chưabền vững; lợi ích mang lại từ tăng trưởng kinh tế chưa cao; mức sống,chất lượng sống của người dân vẫn đang là vấn đề tồn tại gây nhiều bức
Press, pages 118.
Trang 4xúc, đặc biệt các vấn đề như ùn tắc giao thông, ngập lụt, an ninh trật tự
và an toàn xã hội.Việc thực hiện hài hòa mối quan hệ giữa phát triểnkinh tế với nâng cao đời sống của người lao động, đặt trong điều kiệncủa một địa phương phát triển năng động như thành phố Hồ Chí Minh,đòi hỏi phải bám sát điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù, cũngnhư những lợi thế so sánh và thách thức của Thành phố Từ đó đưa rađịnh hướng, giải pháp phù hợp để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xãhội nhanh và bền vững Xuất phát từ những lý do như trên, tác giả chọn
vấn đề “Biện chứng giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống
của người lao động ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm đề tài
luận án tiến sĩ
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, có thể kháiquát theo các hướng cụ thể sau:
Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với đời sống người lao động: Những tư tưởng, luận điểm
của C Mác và Ph Ăngghen liên quan đến chủ đề này được thể hiệntrong công trình “C Mác và Ph Ăngghen toàn tập”, do Nxb Chính trịquốc gia, Hà Nội xuất bản năm 1995 Các phần nội dung thể hiện tậptrung nhất xung quanh mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với đời sốngngười lao động được khái quát trong tập 3, phần “Phoi-Ơ-Bắc sự đối lậpgiữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm”, C Mác nhấn mạnh đếnvai trò của sản xuất đối với đời sống xã hội của con người Trong tập 13,phần “Lời tựa”, “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị”, Mác đã chorằng: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người cónhững quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ -
Trang 5tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình
độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất”; “Phương thức sảnxuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị
và tinh thần nói chung” (tr 14, 15) Tập 19, phần “Sự phát triển của chủnghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học”, Ph Ăngghen khẳng định sựphát triển nhanh chóng của công nghiệp trên cơ sở tư bản chủ nghĩa đãlàm cho sự nghèo khổ và khốn cùng của quần chúng lao động trở thànhđiều kiện sống còn của xã hội Nguyên nhân được lý giải trong Lời tựacho tác phẩm Sự khốn cùng của triết học trong C Mác và Ph Ăngnghen
toàn tập, 1995, tập 21 Trong “Lời tựa” cho tác phẩm “Thành tựu và
khó khăn của chính quyền Xô-Viết”, trong “V I Lênin toàn tập”, tập 38
luận giải về Chính sách kinh tế mới được trình bày trong “V I Lênin
toàn tập”, tập 43, do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản 2005.
Ngoài ra, những tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triểnkinh tế và cải thiện đời sống nhân dân thể hiện trong nhiều tác phẩm,
được Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2000 trong bộ “Hồ
Chí Minh toàn tập”, các tập 5, tập 7, tập 9, tập 10 Phát triển kinh tế
được coi là nhiệm vụ trung tâm, cải thiện và nâng cao đời sống là nhiệm
vụ quan trọng và thường xuyên Những quan điểm, đường lối, chủ
trương của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện trong “Văn kiện Đại
hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập”, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, năm 2013 và tiếp tục được khẳng định trong “Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII”, Nxb Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội, năm 2016 Ngoài ra, trong quá trình tiến hành Đổi mới ởViệt Nam, cũng đã có những nghiên cứu cụ thể về vấn đề phát triển kinh
tế - xã hội, các nghiên cứu đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau Tiêu
Trang 6biểu như: “Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” do GS.TS Lê Hữu Tầng (chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997; “Những
vấn đề chủ yếu về phát triển kinh tế” của PGS.TS Ngô Doãn Vịnh,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2006; “Tăng trưởng và chất lượng tăng
trưởng kinh tế tại Việt Nam” do Cù Chí Lợi (chủ biên), Nxb Từ điển
Bách khoa, Hà Nội, năm 2008; Sách chuyên khảo “Tăng trưởng kinh tế
và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam” do GS.TS Hoàng Đức Thân
và TS Đinh Quang Ty (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,2010,…
Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về quá trình phát triển lịch
sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội thành phố Hồ Chí Minh: Các công
trình nghiên cứu điển hình có thể kể đến như: “Gia Định thành thông
chí” được Viện Sử học dịch từ nguyên bản tiếng Hán, Nxb Giáo dục,
năm 1998; “Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh”, gồm 4 tập, do GS.
Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng chủ biên, Nxb TP HCM, năm 1998;
“300 năm Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, năm 1998; “Sài Gòn Thành phố Hồ Chí Minh thế kỷ XX
-Những vấn đề lịch sử - văn hóa” do Nguyễn Thế Nghĩa, Lê Hồng Liêm
chủ biên, Nxb Trẻ, năm 2000; “Thành phố Hồ Chí Minh 30 năm xây
dựng và phát triển”, do PGS TS Phan Xuân Biên và TS Trần Nhu chủ
biên, Nxb Giáo dục, năm 2005; “Những thay đổi trong đời sống văn hóa
ở thành phố Hồ Chí Minh thời gian 1986 - 2006” của Phân viện Văn hóa
Nghệ thuật Việt Nam tại TP HCM, Nxb Văn hóa Nghê thuật TP HCM,
2011; “Lối sống và tư duy của công đồng người Việt vùng Đông Nam Bộ
trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” do PGS TS Trịnh Doãn
Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia - Hà Nội, 2013
Trang 7Thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về phát triển kinh tế gắn với việc nâng cao đời sống người lao động ở thành phố Hồ Chí Minh:
Có thể kể đến như các Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố lầnthứ V, VI, VII, VIII, IX, X các năm 1991, 1996, 2000, 2005, 2010,
2015; Đề tài “Mức sống dân cư và diễn biến phân hóa giàu nghèo tại
thành phố Hồ Chí Minh” của Viện Kinh tế TP HCM, do PGS.TS.
Nguyễn Thị Cành chủ nhiệm, 2001; “Đời sống văn hóa, tinh thần của
công nhân trong các khu chế xuất, khu công nghiệp”, Sở Khoa học
Công nghệ TP HCM, do TS Phạm Đình Nghiệm, 2005; “Thực trạng
của đội ngũ công nhân thành phố Hồ Chí Minh và giải pháp phát huy vai trò của động ngũ này trong giai đoạn hiện nay” do Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, PGS.TS Nguyễn Đăng Thành chủ
nhiệm, 2007; “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội – Lý thuyết và
thực tiễn ở thành phố Hồ Chí Minh” của Đỗ Phú Trần Tình, Nxb Lao
động, năm 2010; “Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô
hình tăng trưởng kinh tế thành phố Hồ Chí Minh theo hướng cạnh tranh” do PGS.TS Đào Duy Huân – PGS.TS Lương Minh Cừ (đồng
chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, năm 2015…
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Mục đích của luận án: Từ những vấn đề lý luận chung về phát triển
kinh tế với việc nâng cao đời sống người lao động, luận án chỉ ra thựctrạng mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sốngngười lao động ở thành phố Hồ Chí Minh trong những thập niên qua;qua đó đề xuất phương hướng và giải pháp để thực hiện mối quan hệ
Trang 8giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống người lao động ởthành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Nhiệm vụ của luận án: Một là, trình bày và phân tích làm rõ lý luận
chung về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống
người lao động Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng mối quan hệ
giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống của người lao động ở
thành phố Hồ Chí Minh Ba là, đề xuất phương hướng và giải pháp để
thực hiện đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với nâng cao đờisống của người lao động ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận án: : Luận
án nghiên cứu về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với nâng cao đờisống người lao động ở thành phố Hồ Chí Minh Thời gian nghiên cứu từthời kỳ đổi mới (1986) đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duyvật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của ĐảngCộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với việc thựchiện nâng cao đời sống của nhân dân lao động
Phương pháp nghiên cứu: : Luận án được thực hiện bằng việc sử
dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp lịch sử vàlogic, phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp diễn dịch,quy nạp, phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội học,phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa từ các nguồn tài liệu thamkhảo để phục vụ trong việc nghiên cứu và trình bày luận án
Trang 95 Đóng góp mới của luận án
Một là, đưa ra thực trạng mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với
việc nâng cao đời sống người lao động ở thành phố Hồ Chí Minh
Hai là, đưa ra được phương hướng cơ bản và các giải pháp chủ yếu
thực hiện mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sốngngười lao động ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa lý luận: Luận án đã góp phần làm rõ lý luận chung về
mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống người laođộng, thực trạng về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế vớiviệc thực hiện nâng cao đời sống người lao động ở thành phố Hồ ChíMinh hiện nay
Về ý nghĩa thực tiễn: Luận án góp phần giúp Đảng bộ, Chính quyền,
các sở, ban, ngành của thành phố Hồ Chí Minh tham khảo, thực hiệnhiệu quả chủ trương, xây dựng chính sách phù hợp trong việc kết hợpthực hiện mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sốngngười lao động ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Luận án cũng có thểđược sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ trong giảng dạy, nghiêncứu, gắn lý luận với thực tiễn xung quanh vấn đề phát triển kinh tế vớiphát triển xã hội
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và danh mục tàiliệu tham khảo, luận án được kết cấu với 3 chương, 6 tiết và 15 tiểu tiết
Trang 10Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ
VỚI VIỆC NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1 QUAN ĐIỂM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1.1 Quan điểm về kinh tế và phát triển kinh tế
“Kinh tế” được hiểu là tổng thể các yếu tố liên quan đến hoạt độngsản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng nói chung Kinh tế trở thànhmột phạm trù cơ bản trong hệ thống lý luận mác xít, có liên hệ mật thiếtvới đời sống xã hội, bởi kinh tế gắn với “việc tạo ra các điều kiện vậtchất cần thiết để thỏa mãn các nhu cầu của toàn xã hội trong từng hoàncảnh lịch sử cụ thể”1 Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau vềphát triển kinh tế, song tựu chung lại có thể thấy các quan niệm thể hiện
sự thống nhất ở những điểm cơ bản sau: Thứ nhất, phát triển kinh tế thể hiện ở quy mô, tốc độ tăng trưởng kinh tế Thứ hai, phát triển kinh tế
gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng hiện đại
- công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thứ ba, khẳng định sự cần thiết của việc gắn các chính sách kinh tế với việc thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội Thứ tư, năng suất, chất lượng lao động chính là thước đo dùng
để đánh giá trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh của một nền kinh
tế tác giả luận án cho rằng: Phát triển kinh tế là sự kết hợp hài hòa,
đồng bộ và hiệu quả giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện đại trên cơ sở hoàn thiện thể chế kinh tế với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và trong suốt quá
biên (2006) Về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở nước ta hiện nay Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, trang 7.
Trang 11trình phát triển, để phục vụ tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả sức cạnh tranh của nền kinh tế và đảm bảo chất lượng cuộc sống nhân dân.
1.1.2 Quan điểm về người lao động và đời sống của người lao động
Theo nghĩa rộng, chủ thể của hoạt động lao động là con người nóichung, người có khả năng và tham gia vào hoạt động lao động thì họ trởthành người lao động Theo nghĩa hẹp, người lao động được hiểu làngười làm việc với tính chất lao động, thuộc các loại hình công việctrong từng lĩnh vực cụ thể Người lao động là thành phần cơ bản của lựclượng sản xuất, tham gia vào các hoạt động lao động, sản xuất, quản lý,kinh doanh, tạo ra các sản phẩm, các giá trị xã hội Người lao động là chủthể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Đến nay đã có nhiều địanghĩa về người lao động, tựu chung lại, người lao động được hiểu thốngnhất ở những cơ bản sau:
Thứ nhất, người lao động là con người tham gia vào quá trình lao
động sản xuất tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần xã hội
Thứ hai, người lao động là những người trong độ tuổi lao động
được pháp luật quy định, có cam kết lao động, được trả lương và chịu sựquản lý của người sử dụng lao động trong thời gian làm việc đã cam kết
Thứ ba, người lao động là bộ phận cấu thành của lực lượng sản
xuất, là nhân tố quyết định đến mọi quá trình sản xuất xã hội, phản ánhtổng hòa giữa thể lực, trí lực và tâm lực
Trên cơ sở kế thừa và phân tích các luận điểm về người lao động
nói trên, tác giả luận án cho rằng: Người lao động là chỉnh thể thống
nhất giữa thực thể sinh học và thực thể xã hội, với sự phát triển toàn diện về thể lực, trí lực và tâm lực, là chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất làm cho xã hội tồn tại và phát triển Với sự phát
Trang 12triển toàn diện, người lao động là nhân tố quyết định hiệu quả, chất lượng của phát triển kinh tế - xã hội.
Trong giới hạn của luận án này, tác giả chỉ tập trung tiếp cận chủthể người lao động ở hai nhóm thành phần là giới trí thức là công chức,viên chức - người lao động làm việc tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệpnhà nước và công nhân, người lao động làm việc tại các doanh nghiệpđóng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Nói đến đời sống của người lao động là nói đến sự tham gia củangười lao động trong các lĩnh vực hoạt động vật chất và tinh thần Đờisống của người lao động chứa đựng đầy đủ các khía cạnh cảm xúc, tìnhcảm, phản ánh quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan Tác giả
luận án cho rằng: Đời sống của người lao động là sự thống nhất giữa
đời sống sinh học và đời sống xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần Sự phát triển hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần là điều kiện để người lao động, xã hội tồn tại và phát triển Nâng cao đời sống người lao động là một quá trình giúp gia tăng khả năng kiểm soát rủi ro và làm cho đời sống vật chất, tinh thần của người lao động được nâng lên, đáp ứng điều kiện sống sinh hoạt, lao động ngày càng cao của người lao động.
1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.2.1 Vai trò của phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống người lao động
Vai trò của phát triển kinh tế đối với việc nâng cao đời sống ngườilao động có thể khái quát ở những điểm cơ bản sau:
Trang 13Một là, phát triển kinh tế trở thành yếu tố quan trọng giúp cung cấp,
bổ sung nguồn lực vật chất, đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất và tinh
thần của người lao động Phát triển kinh tế không chỉ góp phần mở rộng
tích lũy tài sản quốc gia, phục vụ tái sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạtầng kỹ thuật cơ bản phục vụ điều kiện sống, cải thiện môi trường làmviệc của các tầng lớp nhân dân mà còn góp phần mở rộng cơ hội và nângcao mức sống, chất lượng sống của người dân, người lao động
Hai là, phát triển kinh tế thị trường, với việc chuyển dịch mạnh mẽ
cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ góp phần đápứng nhu cầu đa dạng về việc làm, phát triển lực lượng sản xuất Pháttriển kinh tế thị trường, với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nhucầu khách quan và trở thành xu hướng tất yếu trong quá trình toàn cầuhóa và hội nhập kinh tế quốc tế Việc làm cho người lao động là một vấn
đề xã hội, trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia Giải quyết nhucầu việc làm là tạo điều kiện tồn tại cho người lao động, điều này có ýnghĩa quan trọng, quyết định đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hộicủa mỗi quốc gia Thiếu việc làm là nguồn gốc của đói nghèo, mất ổnđịnh xã hội, làm cho kinh tế chậm phát triển Người lao động được xácđịnh là nguồn tài nguyên quý giá nhất của quốc gia, là bộ phận tiênquyết của lực lượng sản xuất.Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực laođộng được xem nhân tố đảm bảo cho quá trình chuyển đổi thành công cơcấu kinh tế theo hướng hiện đại Người lao động cần có bước chuẩn bịtri thức, sẵn sàng tâm thế trở thành công dân toàn cầu
Ba là, mục tiêu phát triển kinh tế nhanh và bền vững trở thành động
lực thúc đẩy việc hoàn thiện chính sách an sinh, phúc lợi xã hội, thựchiện công bằng và tiến bộ xã hội Việc bảo đảm ngày càng tốt hơn an
Trang 14sinh và phúc lợi xã hội đã trở thành một trong những nội dung chủ yếucủa chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020.Mục đích sau cùng của phát triển kinh tế là vì con người, tạo môi trườngthuận lợi để con người có cuộc sống ấm no hạnh phúc, có trí lực và cơhội tham gia, phát huy sáng tạo trong lao động sản xuất Để cải thiệnnăng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, các chínhsách xã hội cần phải thể hiện sự linh hoạt, hợp lý và có hiệu quả Đó làkết hợp thực hiện tốt vấn đề công bằng xã hội, chế độ tiền lương, tiềnthưởng hợp lý, sử dụng lao động có hiệu quả Chính sách khoán, thựchành tiết kiệm, tăng cường tích lũy, huy động vốn, cải cách hành chính,thực hiện công bằng trong lưu thông phân phối,… để giúp cho nền kinh
tế tăng trưởng nhanh, mạnh và vững chắc
1.2.2 Sự tác động của việc nâng cao đời sống người lao động đến phát triển kinh tế
Nâng cao đời sống người lao động có những tác động tích cực đếnphát triển kinh tế, cụ thể như sau:
Một là, nâng cao đời sống người lao động là góp phần phát triển
nguồn lực con người, đáp ứng cho việc hiện thực hóa các mục tiêu phát
triển kinh tế Người lao động vừa được coi là động lực, vừa được coi là
mục đích của sự phát triển kinh tế - xã hội Người lao động là lực lượngsản xuất chính yếu tạo ra của cải vật chất giúp bản thân, xã hội tồn tại vàphát triển Việc thực hiện đảm bảo các nhu cầu lợi ích cho người laođộng theo nguyên tắc công bằng, có tác dụng kích thích thái độ tích cựctham gia lao động sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển Mục đích củaviệc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động nhằmhướng đến phát triển con người toàn diện, tạo nguồn lực để phát triển
Trang 15sức sáng tạo Sử dụng và khai thác hợp lý nguồn lực con người để tăngnăng suất, phục vụ phát triển kinh tế.
Hai là, nâng cao đời sống vật chất cho người lao động góp phần duy
trì ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi trongviệc thu hút các nguồn lực để phát triển kinh tế Nâng cao đời sống vậtchất cho người lao động là một bước quan trọng để thiết lập môi trườngchính trị xã hội ổn định, tạo thuận lợi cho việc huy động và sử dụng hiệuquả các nguồn lực kinh tế, con người phục vụ mục tiêu phát triển kinh tếbền vững
Ba là, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần, xây dựng môi trường
văn hóa, giáo dục lành mạnh phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế nhanh,bền vững Sự phát triển đa dạng về loại hình, mở rộng về không giansinh hoạt văn hóa tinh thần ngày nay không chỉ đáp ứng nhu cầu phongphú trong thưởng thức, giải trí, hưởng thụ của cá nhân mà còn giúp tạodựng môi trường để mọi người chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ
Sự quan tâm và khích lệ, động viên tinh thần kịp thời có tác dụng kíchthích người lao động phát huy hết tiềm năng bản thân, tham gia pháttriển sản xuất hiệu quả
Bốn là, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động
góp phần xóa đói giảm nghèo, phát huy sức mạnh tổng hợp các nguồnlực khác nhau cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững Phát triểnkinh tế trở thành nhu cầu tất yếu khách quan, đói nghèo vừa có nguyênnhân chủ quan, vừa mang tính khách quan Ở nước ta, vấn đề xóa đóigiảm nghèo được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Để đạt được
Trang 16mục tiêu tăng trưởng, quá trình chuyển dịch kinh tế mang lại hiệu quả vàcông bằng xã hội được thực thi cần phải có sự đầu tư, huy động mọinguồn lực cần thiết, trong đó để tăng cường sức sản xuất cần dựa vàonguồn lực con người mà trước tiên là sức lao động, khả năng làm chủ,sáng tạo của người lao động.
Như vậy, phát triển kinh tế trở thành nhu cầu tất yếu khách quan.Gắn phát triển kinh tế với việc không ngừng nâng cao đời sống là đểđảm bảo quyền và lợi ích cơ bản của người lao động Muốn đạt đượcmục tiêu tăng trưởng, quá trình chuyển dịch kinh tế mang lại hiệu quả vàcông bằng xã hội được thực thi cần phải có sự đầu tư, huy động mọinguồn lực cần thiết, trong đó để tăng cường sức sản xuất phải dựa vàonguồn lực con người mà trước tiên phải biết dựa vào sức người, tinhthần làm chủ, sáng tạo của người lao động
Kết luận chương 1
Quan hệ giữa phát triển kinh tế với nâng cao đời sống người laođộng là mối quan hệ biện chứng khách quan Phát triển kinh tế cung cấpnguồn lực vật chất, giúp gia tăng khả năng đáp ứng nhu cầu chất lượngsống ngày càng cao của người lao động, góp phần giải quyết việc làm,phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời bổ sung nguồn lực kinh tế choviệc thực hiện chính sách đảm bảo an sinh, phúc lợi xã hội, thực hiệntiến bộ và công bằng xã hội Muốn phát triển kinh tế cần phải có nhữngnguồn lực, trong đó tri thức từ nguồn lực con người giữ vai trò chủ đạo,quyết định trình độ phát triển kinh tế Thực hiện hài hòa quan hệ giữaphát triển kinh tế với nâng cao đời sống người lao động trở thành nguồngốc, động lực phát triển bền vững Tác giả luận án cho rằng, việc thực
Trang 17hiện mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế với nâng cao đờisống người lao động ở Việt Nam hiện nay không thể tách rời vai trò của
sự quyết tâm chính trị, việc hoạch định đường lối, chủ trương và thựchiện các chính sách phát triển kinh tế với các chính sách đãi ngộ ngườilao động Sự tham gia của hệ thống chính trị trở thành nhân tố để đảmbảo gắn kết mục tiêu phát triển kinh tế với việc nâng cao đời sống ngườilao động
Trang 18Chương 2
THỰC TRẠNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN KINH
TẾ VỚI VIỆC NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NGƯỜI LAO ĐỘNG
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ VỀ GẮN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI VIỆC NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NGƯỜI LAO ĐỘNG
2.1.1 Khái quát điều kiện địa lý tự nhiên, đặc điểm kinh tế - văn hóa xã hội của thành phố Hồ Chí Minh với phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người lao động
Về điều kiện địa lý tự nhiên của thành phố Hồ Chí Minh Thành
phố Hồ Chí Minh có đặc điểm địa lý thuận lợi, là cửa ngõ giao thôngquốc tế quan trọng, nơi hội tụ các điều kiện thuận lợi để phát triển giaothương kinh tế - văn hóa quốc tế Bên cạnh đó, với địa hình bằng phẳng,khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa ôn hòa với hai mùa mưa nắng,quanh năm không có bão cùng với hệ thống song rạch chằng chịt, rấtphù hợp cho việc tổ chức giao thông, giao thương vận chuyển hàng hóa
từ khắp mọi nơi đổ về; đồng thời cung cấp nguồn nước ngọt lớn đáp ứngnhu cầu phát triển kinh tế và đời sống dân cư
Về kết cấu hạ tầng và đặc điểm kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội phát triểntương đối hoàn chỉnh và ngày càng hiện đại Đây là địa phương đầu tiêntrong cả nước sớm tiếp thu, phát triển năng động nền kinh tế thị trườnghàng hóa nhiều thành phần Kinh tế công nghiệp được kế thừa và phát
Trang 19triển trên nền tảng của nền công nghiệp khá tiến bộ phương Tây do lịch
sử để lại, trong khi các địa phương khác của đất nước còn mang nặngkinh tế tự cấp, tự túc Thành phố trở thành trung tâm kinh tế phát triểncông nghiệp, dịch vụ, thương mại, khoa học - công nghệ Quá trình giaolưu, tiếp biến kinh tế - văn hóa diễn ra sâu rộng đã hình thành tư duykhai phóng về kinh tế, đa dạng về văn hóa, giúp tập hợp và sử dụng hiệuquả các nguồn lực phát triển kinh tế
Về hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe : Thành phố Hồ Chí Minh có hệ
thống dịch vụ chăm sóc y tế phát triển đa dạng về loại hình, đảm bảo về chấtlượng và thỏa mãn được nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe củacác tầng lớp nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có 19 đơn vị khám chữabệnh chuyên khoa Nhà nước, 40 đơn vị khám chữa bệnh đa khoa Nhà nước,
12 đơn vị khám chữa bệnh chuyên khoa tư nhân, 52 đơn vị khám chữa bệnh
đa khoa tư nhân, 140 trạm y tế phường/xã và nhiều trạm y tế cơ quan, phòngkhám tư nhân
Về văn hóa, giáo dục - đào tạo thành phố Hồ Chí Minh là nơi hội tụ
đa dạng về văn hóa, làm nên cốt cách con người của một thành phố trẻ,năng động Sự đa dạng văn hóa không chỉ có ý nghĩa tinh thần mà đó đãthực sự trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế Với hệ thốnggiáo dục đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao đã trở thành điều kiện quantrọng cho việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, tạo môi trường nuôidưỡng, làm phong phú, phát triển đời sống kinh tế, văn hóa, giáo dục chongười dân Thành phố
Về dân số - nguồn nhân lực Dân số thành phố Hồ Chí Minh không
ngừng tăng lên cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội với cơ cấu dân sốtrẻ, là nguồn lực lao động quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 20Thành phố Hiện nay lực lượng lao động trong độ tuổi từ 25 đến 49 củaThành phố chiếm tỷ lệ lên đến 70,4% Ngoài ra, với sức hút của một đô thịtriển phát năng động bậc nhất Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh hàngnăm còn được bổ sung một lực lượng lớn lao nhập cư Dân số Thànhphố hiện tăng trung bình mỗi năm khoảng 200.000 người, trong đó hơn130.000 là người lao động nhập cư Họ có thành phần đa dạng, từ côngnhân có tay nghề cao - công nhân kỹ thuật, các nhà quản lý giỏi, tầng lớpdoanh nhân,… đến người lao động phổ thông từ khắp mọi miền đất nước
và quốc tế
Với những thế mạnh riêng nổi bật nói trên, thành phố Hồ Chí Minh
có khả năng tạo ra một thị trường năng động kết nối phát triển kinh tếvùng với khu vực và quốc tế Hội tụ và sử dụng hiệu quả các nguồn lựcthiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Hiện nay, thành phố
Hồ Chí Minh đang tiếp tục đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, chuyển dịch mô hình đô thị hóa từ chiều rộng sang chiều sâu.Hướng đến “xây dựng thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiệnđại, nghĩa tình”
2.1.2 Quan điểm của Đảng bộ, Chính quyền thành phố Hồ Chí Minh về gắn phát triển kinh tế với nâng cao đời sống người lao động
Nội dung quan điểm của Đảng bộ, Chính quyền thành phố Hồ ChíMinh về gắn phát triển kinh tế với nâng cao đời sống người lao động, có thểkhái quát ở những điểm chính sau:
Một là, khai thác hiệu quả những tiềm năng, lợi thế vốn có, tập trung
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng vàsức cạnh tranh của các ngành kinh tế mũi nhọn để tăng cường nguồn lựccho phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế Trên cơ sở: “Tập trung
Trang 21các nguồn lực đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nhanhcác ngành, sản phẩm công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng khoa học côngnghệ cao, giá trị gia tăng cao; phát triển nông nghiệp công nghệ cao,nông nghiệp sinh thái; đi đầu cả nước trong chuyển đổi mô hình tăngtrưởng kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiềusâu, đảm bảo chất lượng, hiệu quả cao, bền vững”1 Mục tiêu, nhiệm vụphát triển kinh tế thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2020: “Phát triểnkinh tế nhanh, bền vững, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng theo hướngphát triển kinh tế tri thức và tăng trưởng xanh, nâng cao chất lượng tăngtrưởng và năng lực cạnh tranh; khoa học - công nghệ, tri thức, nguồn nhânlực chất lượng cao và thông tin phải là động lực, yếu tố đầu vào, tạo ra giátrị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ Nâng cao sự đóng góp của yếu tố năngsuất tổng hợp vào tăng trưởng GRDP (tổng sản phẩm nội địa trên địa bànthành phố)”2
Hai là, ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ,
hiện đại nhằm giảm thiểu ùn tắc giao thông, ngập nước, ô nhiễm môitrường, tổ chức lại đời sống dân cư, hướng đến xây dựng chính quyền đô thịthông minh, đô thị sinh thái Bởi, việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹthuật đồng bộ giữa xây dựng mới với cải tạo và chỉnh trang đô thị hiện đại làđiều kiện để xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp có cơ sở vậtchất - kỹ thuật hiện đại Hiện nay, công tác “quy hoạch, quản lý đô thị và kếtcấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - văn hóa, cải thiện dânsinh, bảo vệ môi trường”3
về ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ IX về Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế thành phố giai đoạn 2011 – 2015.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh (2015) Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ X, Trang 122.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh (2015) Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ X, Trang 112.
Trang 22Ba là, gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con
người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường để tạo điềukiện cho phát triển bền vững Phát triển văn hóa là làm cho các giá trị xãhội thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng cánhân, gia đình và toàn xã hội, hình thành nên đời sống tinh thần cao đẹp,trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh” Phát triển văn hóa trên cơ sở phát huy chủ nghĩayêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ tựcường để tạo nên sự thống nhất về ý chí, bản lĩnh chống lại nghèo nàn,lạc hậu, đưa thành phố Hồ Chí Minh phát triển giàu mạnh Gắn pháttriển kinh tế với phát triển văn hóa để phát triển con người toàn diệncũng chính là tinh thần được thể hiện trong Nghị quyết 33-NQ/TW củaHội nghị Trung ương 9 (Khóa XI), nhằm “tạo môi trường và điều kiện
để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất,tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ phápluật” trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế Mục tiêu chiến lược lâu dài là hướng đến “xây dựng thành phố HồChí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình”1
Bốn là, tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục - đào
tạo gắn với phát triển chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực laođộng chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội củathành phố Việc tiến hành đổi mới căn bản, toàn diện hệ thống giáo dục -đào tạo, thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triểnnguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao được cho là có vai trò
1 Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh (2015) Văn kiện đại hội đại biểu lần thứ X, Trang 119.