Trên thực tế, việc canh tác cây cà phê ở tỉnh Đắk Nông đang gặp một số vấn đề khó khăn về nguồn nước tưới như: biến động về số lượng và chất lượngnguồn nước do thay đổi thời tiết, và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN THANH ĐỊNH
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Trang 2Tp Hồ Chí Minh - 2017 Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn – ĐHQG-HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: (1) PGS.TS Chế Đình Lý
(2) TS Phạm Gia Trân
Trang 3DẪN NHẬP
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, sự hình thành một vùng sản xuất cây côngnghiệp có giá trị kinh tế cao đã tạo ra một hình ảnh nổi bật về Tây Nguyên Nơiđây được biết đến như một trong những trung tâm sản xuất cà phê lớn nhất thếgiới Đăk Nông là tỉnh có diện tích cà phê lớn thứ 3 vùng Tây Nguyên; sự pháttriển của cây cà phê đã và đang làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của tỉnhĐăk Nông Tuy nhiên, do quá trình phát triển nóng cây cà phê dẫn đến các vấn
đề về môi trường, tài nguyên và chất lượng phát triển Một trong những vấn đềquan trọng đó là suy thoái tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên nước
Tỉnh Đăk Nông có nguồn nước dồi dào, hệ thống sông suối dày đặc; song
sự phân bố của nguồn nước là không đều, dòng chảy thường tập trung vào mùa
mưa và hạn chế vào mùa khô
Trên thực tế, việc canh tác cây cà phê ở tỉnh Đắk Nông đang gặp một số vấn
đề khó khăn về nguồn nước tưới như: biến động về số lượng và chất lượngnguồn nước do thay đổi thời tiết, và đặc biệt tình trạng thiếu nước tưới trong mùakhô ngày càng trở nên nghiêm trọng do nhu cầu nước tưới tăng cùng với sự mởrộng của diện tích cà phê không theo quy hoạch Việc chặt phá rừng cũng làmmất khả năng giữ nước của đất làm cho nguồn nước ngầm không được bổ sung.Nguyên nhân gây suy giảm nguồn nước còn là do người dân chưa chútrọng đến các giải pháp sử dụng nước tưới tiết kiệm cho cây cà phê mà vẫn sửdụng các phương pháp tưới truyền thống, điều này không chỉ gây lãng phí nước
mà còn là nguyên nhân làm xói mòn, giảm độ phì của đất và làm tăng thêm chiphí sản xuất
Mặt khác, biến đổi khí hậu ở khu vực Tây Nguyên cũng gây ra những tácđộng có hại đối với sản xuất nông nghiệp Thiên tai, đặc biệt là hạn hán, ngàycàng xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng hơn cả về cường độ và quy mô, quyluật phân bố mưa cũng bị thay đổi Nguyên nhân của biến đối khí hậu rất phứctạp và đa dạng, bao gồm cả nguyên nhân do tự nhiên và nguyên nhân do conngười (Trương Hồng, 2016)
Với các lý do nêu trên, cần có đánh giá mang tính hệ thống, bao quát vàkhoa học về thực trạng sử dụng nguồn nước cho canh tác cây cà phê tại tỉnhĐắk Nông trong bối cảnh biến đổi khí hậu và suy giảm nguồn nước tưới Trong
đó, quan trọng là nhận dạng được các yếu tố môi trường và con người tác độngtiêu cực đến nguồn nước, cùng với phương thức tác động của chúng; từ đó đềxuất các giải pháp quản lý và sử dụng nước trong canh tác cây cà phê tại địaphương trong thời gian tới mang tính bền vững Đây là lý do tác giả lựa chọnchủ đề nghiên cứu này làm luận án tiến sĩ
Trang 42 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các giải pháp đề xuất sẽ giúp điều chỉnh lại nhu cầu sử dụng nước trong canhtác cây cà phê nhằm sử dụng hợp lý nguồn nước, đồng thời nâng cao ý thức tiếtkiệm nước, bảo vệ tài nguyên và môi trường của các nông hộ trồng cà phê
3 Mục tiêu nghiên cứu
b) Đánh giá thực trạng khai thác và sử dụng nguồn nước của người dân
trong canh tác cây cà phê ở tỉnh Đắk Nông
c) Đánh giá lượng nước cần thiết cho canh tác cây cà phê ở tỉnh Đắk Nông d) Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm sửdụng tài nguyên nước hợp lý trong canh tác cây cà phê tại địa phương
4 Nội dung nghiên cứu
a) Thực trạng nguồn nước sử dụng cho canh tác cây cà phê ở tỉnh Đăk Nôngb) Đánh giá nhu cầu sử dụng nước trong canh tác cây cà phê của các nông hộc) Xác định lượng nước cần thiết cho canh tác cây cà phê
d) Đề xuất các giải pháp và hướng nghiên cứu tiếp theo
5 Câu hỏi nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ tập trung trả lời các câu hỏi sau:
a) Hướng tiếp cận và cách đánh giá nhu cầu sử dụng nước trong canh táccây cà phê ở tỉnh Đắk Nông như thế nào?
b) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến nguồn nước tưới cho việc canh tác cây càphê ?
c) Cần bao nhiêu nước tưới cho cây cà phê? thời gian và số lần tưới?phương pháp tưới ?
d) Giải pháp nào cần được thực hiện để đảm bảo nhu cầu nước tưới cho cây
cà phê ở tỉnh Đắk Nông theo hướng bền vững?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 5Từ các câu hỏi nghiên cứu của đề tài, kết hợp với tổng quan tư liệu,chúng tôi đưa ra các giả thuyết sau:
Giả thuyết 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nước tưới cho cây cà phê là:
(a) chặt phá rừng và gia tăng diện tích trồng cà phê; (b) canh tác cây càphê không đúng kỹ thuật; (c) biến đổi khí hậu
Giả thuyết 2: Nước tưới cho cây cà phê của các nông hộ vượt quá mức cần
thiết, điều này làm tăng chi phí sản xuất và suy giảm nguồn nước
Giả thuyết 3: Có cơ chế, chính sách hợp lý trong việc quản lý nguồn nước
sẽ nâng cao được ý thức bảo vệ tài nguyên – môi trường cũng như sử dụngnước tiết kiệm của các nông hộ
7 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
7.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là các vùng, các hộ trồng cà phê sử dụng tàinguyên nước cho việc canh tác cây cà phê ở tỉnh Đắk Nông
7.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Các huyện thuộc tỉnh Đăk Nông - Luận án tập trungđiều tra 3 khu vực bao gồm: 2 huyện Đăk Mil (vùng nông thôn), Đăk R’Lắp(vùng cận đô thị), và thị xã Gia Nghĩa (vùng đô thị)
- Thời gian: Các số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2000 đến năm 2015; Số liệuđiều tra tập trung vào năm 2015
8 Những đóng góp mới của luận án
Trên quan điểm tổng hợp và hệ thống hóa, kết hợp với cách tiếp cận nhucầu sử dụng nước thông qua xác định dấu chân nước (Water footprint), luận ánđã xác định được lượng nước sử dụng trong canh tác cây cà phê ở tỉnh ĐắkNông, qua đó đánh giá những ưu điểm và tồn tại trong việc sử dụng, khai tháctài nguyên nước của các nông hộ
Luận án đã phân tích những thuận lợi và khó khăn trong khai thác và sửdụng tài nguyên nước cho canh tác cây cà phê ở phạm vi cấp huyện và khuyếncáo nên phát triển cây cà phê theo quy hoạch thống nhất để tránh nguy cơ thiếunước, hiệu quả kinh tế kém
Luận án cũng đề xuất các giải pháp để khai thác, sử dụng tài nguyên nướccho canh tác cây cà phê ở tỉnh Đắk Nông theo hướng bền vững
9 Luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Nghiên cứu việc sử dụng nguồn nước cho canh tác cây cà
phê ở tỉnh Đăk Nông giúp xác định lượng nước cần thiết cho canh tác cây càphê (bao gồm: lượng nước tưới, thời gian tưới, số lần tưới, phương pháp tưới)
Luận điểm 2: Tình trạng sử dụng nước lãng phí, kém hiệu quả cộng với
nguồn nước ngày càng suy thoái và cạn kiệt đã tác động không nhỏ đến đờisống của các nông hộ trồng cà phê ở tỉnh Đăk Nông Do đó, nghiên cứu sử dụngnguồn nước cho canh tác cây cà phê nhằm đề xuất các giải pháp để khai thác, sửdụng tài nguyên nước ở tỉnh Đăk Nông theo hướng bền vững
Trang 6BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu (5 trang), Kết luận (4 trang), Tài liệu tham khảo (12trang), Phụ lục (40 trang), nội dung chủ yếu của luận án gồm có 5 chương:
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về sử dụng và quản lý tài nguyên nước
Nước không những cần cho sinh hoạt, sự tồn tại của con người mà nướccòn có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, sức khoẻ, giáo dục,bình đẳng và sự phồn thịnh của xã hội Chính vì thế, nguyên Tổng Thư ký LiênHiệp Quốc Ban Ki Moon đã nói: “Nước là cốt lõi hạnh phúc của nhân loại.Chúng ta cần nước cho sức khỏe, cho an ninh lương thực và cho phát triển kinh
tế Nước nắm giữ chìa khóa cho phát triển bền vững” Với thông điệp như vậy,
ý thức của chúng ta trong việc bảo vệ, sử dụng tài nguyên nước một cách khônngoan sẽ góp phần bảo vệ an ninh xã hội, phát triển kinh tế.” (Thứ trưởng, TSNguyễn Thái Lai - Hội thảo khoa học Nước là cốt lõi của phát triển bền vững -19/3/2015)
Ở Việt Nam, khái niệm quản lý tài nguyên nước theo phương thức tổnghợp và toàn diện được thể hiện trong Chiến lược quốc gia về tài nguyên nướcnăm 2006 và được quy định trong Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13
1.1.2 Phương pháp luận nghiên cứu
Trong luận án, tác giả đã giải quyết vấn đề dựa trên phương pháp luận hệthống Với cách nhìn tổng thể và toàn diện vấn đề sử dụng nước trong canh táccây cà phê, luận án xem xét từ đầu vào (nguồn nước), đầu ra cho canh tác cây càphê (khai thác sử dụng), xem xét các yếu tố tự nhiên lẫn yếu tố xã hội (ngườidân) Luận án nhìn nhận việc sử dụng nước trong tổng thể quá trình canh táccây cà phê, từ lúc gây trồng đến khi thu hoạch (xem xét dấu chân)…
Trên cơ sở cách tư duy hệ thống nói trên, luận án xem xét quản lý tổng hợptài nguyên nước không đơn thuần là lập quy hoạch, kế hoạch mà đây là một quátrình, trong đó cần giải quyết tốt các mối quan hệ tương tác giữa con người và
tự nhiên, giữa đất và nước, giữa khối lượng và chất lượng, giữa thượng lưu và
hạ lưu, giữa các đối tượng sử dụng nước
1.2 Các cách tiếp cận trong nghiên cứu sử dụng nước
Trên cơ sở quan điểm của phương pháp luận, có một số cách tiếp cận trongnghiên cứu về sử dụng nước trong lĩnh vực nông nghiệp như sau:
1.2.1 Cách tiếp cận truyền thống
Trang 7Theo Shoemyen (1979), sử dụng nước được xác định trong lĩnh vực nôngnghiệp ở các vùng có nhu cầu cung cấp nước tưới, tích trữ để canh tác và sảnxuất ra sản phẩm Cách tiếp cận này dựa vào việc xác định diện tích canh tácbằng cách thống kê các hệ số liên quan đến việc sử dụng nước cho một hoặcnhiều loại cây trồng khác nhau dựa vào các phương pháp thống kê truyền thống.Mục tiêu của việc thu thập dữ liệu sử dụng nước là để xác định độ tin cậycần thiết thông qua các yếu tố có liên quan như khí hậu, thổ nhưỡng, địa hìnhcủa khu vực canh tác, từ đó tính toán nhu cầu nước sử dụng cho các loại câytrồng khác nhau trong nông nghiệp Cách tiếp cận này phụ thuộc nhiều vào cáchthức thu thập dữ liệu sử dụng nước, độ tin cậy thống kê của dữ liệu không cao,thường được áp dụng cho khu vực nghiên cứu nhỏ.
1.2.2 Cách tiếp cận cân bằng nước
Theo Sokolo và Chapman (1974); Moriaty (2010), trong môi trường tựnhiên, nước gần như liên tục chuyển động và có thể thay đổi trạng thái trongnhững điều kiện thích hợp Cân bằng nước trong một khu vực liên quan đếnkhoảng thời gian, dòng chảy và nhu cầu nước cụ thể của một khu vực Xác địnhcân bằng nước là một nhiệm vụ quan trọng để đánh giá hiện trạng và các xuhướng thay đổi nguồn tài nguyên nước có sẵn trong một khu vực trong mộtkhoảng thời gian cụ thể Đồng thời giúp tăng cường việc ra quyết định quản lýnước, bằng cách đánh giá và nâng cao tầm nhìn, kịch bản và chiến lược
Trên cơ sở phương pháp tiếp cận cân bằng nước, có thể đánh giá tài nguyênnước và sự thay đổi do tác động của con người Nghiên cứu cân bằng nước chủyếu áp dụng cho các đối tượng như: hồ chứa, lưu vực sông và các lưu vực cómặt nước rộng lớn nhằm để điều tiết các công trình thủy lợi sử dụng hợp lý,kiểm soát và phân phối lại nguồn nước theo thời gian và không gian (Sokolo vàChapman, 1974)
1.2.3 Cách tiếp cận của FAO (Food and Agriculture Organization)
Nhằm giúp tăng cường quản lý nước sử dụng trong nông nghiệp trên thếgiới để giải quyết các vấn đề về hiệu quả sử dụng nước và năng suất cây trồngthông qua khai thác các nguồn nước; FAO xác định nhu cầu sử dụng nước trongnông nghiệp thông qua khái niệm bốc thoát hơi nước tham chiếu (Referenceevapotranspiration) Phương pháp xác định lượng bốc thoát hơi tham chiếuđược FAO khuyến khích áp dụng chung cho toàn thế giới và được thể hiện quabáo cáo của Allen và cộng sự (1998): Crop evapotranspiration Guidelines forcomputing crop water requirement FAO Irrigation and Drainage Paper 56(1998)
1.2.4 Cách tiếp cận dấu chân nước (Water footprint)
Nghiên cứu tác động từ việc tiêu thụ nước đối với tài nguyên nước toàn cầu
có thể được phác thảo lên bản đồ thế giới bằng cách tiếp cận nghiên cứu ‘dấuchân nước’, được giới thiệu bởi Hoekstra và Hung (2002), và Chapagain vàHoekstra (2004) Dấu chân nước cho thấy mối liên hệ giữa nhu cầu sử dụngnước với lượng nước sử dụng của một quốc gia Hơn nữa, nghiên cứu về dấu
Trang 8chân nước không những cho biết được lượng nước ngầm và nước mặt sử dụng,
mà còn cho biết lượng nước sử dụng từ nước mưa thấm qua mặt đất(Falkenmark, 2003)
Dấu chân nước còn được xem là chỉ số sử dụng nước của một cây trồng vàđược Hoekstra (2003) định nghĩa là khối lượng nước sử dụng cho quá trìnhcanh tác và sản xuất, bao gồm nguồn tài nguyên nước mặt, nước ngầm và nướcmưa để sản xuất ra một sản phẩm Dấu chân nước còn được coi như là một chỉ
số thể hiện tổng lượng nước sử dụng của một nước, vùng và khu vực trongkhông gian địa lý (Hoekstra và Chapagain, 2007)
Trên cơ sở trình bày và phân tích về cách tiếp cận nghiên cứu sử dụng nước
trong lĩnh vực nông nghiệp, luận án dựa vào cách tiếp cận dấu chân nước cho một sản phẩm để xác định nhu cầu sử dụng nước cho cây cà phê ở tỉnh Đăk
Nông
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận và cách tiếp cận, các phương pháp nghiên
cứu được chọn là:
- Phương pháp khảo sát thực địa và chọn mẫu
- Phương pháp thu thập thông tin và số liệu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế
- Phương pháp xác định dấu chân nước
Xác định lượng nước sử dụng trong hoạt động canh tác cây cà phê đã chothu hoạch ở Đăk Nông bằng phương pháp xác định dấu chân nước (WF-WaterFootprint) cho một sản phẩm cụ thể là cây cà phê do Hoekstra và cộng sự đềxuất năm 2002 Dấu chân nước được nhận diện dựa trên sự phân bố không giancủa cây cà phê theo đơn vị hành chính huyện Cách tiếp cận của nghiên cứu dấuchân nước dựa vào cách xác định nhu cầu nước tưới của FAO 56 và phươngpháp dấu chân nước để xác định nhu cầu nước cho cây cà phê bằng cách xácđịnh lượng nước bốc hơi trên diện tích cây cà phê đã cho thu hoạch
Trang 9CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ SỬ DỤNG NƯỚC CHO CANH TÁC CÂY CÀ PHÊ
2.1 Sử dụng nước cho canh tác cây cà phê trên thế giới
2.1.1 Tổng quan về sử dụng nước cho canh tác cây cà phê
2.1.1.1 Các nguồn nước được sử dụng cho canh tác cà phê:
Nguồn nước sử dụng cho canh tác cà phê nhìn chung lấy từ hai nguồnchính: nước mặt và nước ngầm
- Nước mặt gồm nước bề mặt tự nhiên từ sông, suối, ao, hồ được sử dụngtrực tiếp cho tưới tiêu (Baker, 2013)
- Nước chảy bề mặt như nước mưa cũng được đưa vào sử dụng trực tiếphoặc được nông dân thu gom qua hệ thống hồ/ao chứa hoặc từ các rãnhđào dọc trong vườn cà phê
- Nước ngầm là nguồn nước quan trọng và được sử dụng nhiều trongcanh tác nông nghiệp
2.1.1.2 Khó khăn về nguồn nước cho canh tác cây cà phê
- Khó khăn trong tiếp cận nguồn nước
Do phần lớn các khu vực canh tác cà phê theo quy mô gia đình, cho nênviệc tiếp cận và sử dụng nguồn nước tưới cho cà phê gặp nhiều giới hạn Nhữngtrở ngại chính được kể đến là: thiếu hạ tầng cấp nước như hệ thống thủy lợi, cáctrạm cấp nước, thiếu sự hỗ trợ, chẳng hạn như vốn, để duy trì cơ sở hạ tầng tướitiêu Các nông hộ thường gặp phải vấn đề thiếu nước, do đó họ phải sử dụngnước ngầm để tưới cho cây cà phê (REACH Initiative, 2014) Điều này đã dẫnđến việc làm giảm mực nước ngầm trong khu vực
- Khó khăn trong việc tích trữ nguồn nước
Việc thu gom nước bề mặt còn chưa được phổ biến và chưa đem lại hiệuquả ở các khu vực canh tác Kỹ thuật áp dụng để quản lý nguồn nước này cũngcần được hướng dẫn kỹ và áp dụng cho các nông hộ để gia tăng nguồn nướctưới, điều quan trọng nữa là giúp giảm đi rủi ro về xói lở đất bề mặt
- Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến nguồn nước canh tác
Nhiều nghiên cứu cho rằng biến đổi khí hậu đang gia tăng ngày càng nhanhhơn và đang có những tác động lớn đến những phần quan trọng của trái đất và
hệ sinh thái toàn cầu và có thể vượt khỏi tầm kiểm soát của con người (ITC,2010)
2.1.2 Các hình thức canh tác cà phê trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới có 40 quốc gia trồng cà phê áp dụng 3 loại hìnhcanh tác cà phê chủ yếu là chuyên canh theo qui mô đồn điền lớn, trang trại lớn;thứ hai là trang trại vừa và nhỏ, thứ ba là canh tác theo qui mô hộ gia đình
Trang 10Trong 3 loại hình canh tác thì loại hình thứ nhất và thứ hai chiếm đa số.Đứng đầu về chuyên canh cà phê theo qui mô trang trại, đồn điền lớn là Braxinvới khoảng 220,000 trang trại, với diện tích khoảng 2,7 triệu hecta, tập trung ởcác bang miền Đông Nam như Minas Gerais, São Paulo và Parana, vùng này cóđiều kiện môi trường và khí hậu thích hợp cho cây cà phê.
2.1.3 Các nghiên cứu về dấu chân nước trong lĩnh vực nông nghiệp
Trong lĩnh vực nông nghiệp, có nhiều nghiên cứu về khai thác và sử dụngnguồn nước tưới ở nhiều cấp độ khác nhau như: cấp độ toàn cầu, khu vực vàquốc gia Hầu hết trong số đó tập trung nghiên cứu cách thu gom và sử dụngnước để phục vụ cho tưới tiêu
Tóm tắt các nghiên cứu chính về dấu chân nước trong lĩnh vực nông nghiệp:
Tác giả nghiên cứuPhạm vi
Số vụmùakhảo sát
Nghiêncứu nướcxanh lam
Nghiêncứu nướcxanh lá
Nghiêncứu nướcxám
- L’vovich et al (1990) Khu vực - có không không
- Seckler et al (1998) Quốc gia - có không không
- Hoekstra và Hung (2002) Quốc gia 38 có có không
- Chapagain và Hoekstra
(2004), Hoekstra và
Chapagain (2007, 2008) Quốc gia 164 có có không
- Rost và cộng sự (2008) 3.600km2 11 có có không
- Siebert và Döll (2008,
- Liu và cộng sự (2009) 3.600 km2 17 có có không
- Hanasaki và cộng sự
Nguồn: Mekonnen và Hoekstra (2010)
2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
2.2.1 Nghiên cứu sử dụng nước trong canh tác cây cà phê
Trang 11Hà Văn Khối (2005) đề xuất khái niệm cơ bản về quy hoạch và quản lý tàinguyên nước, các phương pháp phân tích kinh tế kỹ thuật, phương pháp phântích hệ thống trong quy hoạch và quản lý nguồn nước ở Việt Nam, dựa trên cơ
sở tiếp cận những phương pháp nghiên cứu hiện đại của thế giới về quy hoạch
và quản lý nguồn nước
Cách tiếp cận của Phùng Thị Châm (2010) dưới góc độ các dự án xây thủylợi nhằm chia sẻ tài nguyên nước công bằng, hiệu quả các nguồn nước hiện cótại Việt Nam
Bên cạnh đó, việc đánh giá các mâu thuẫn trong khai thác sử dụng nước ởTây Nguyên (Nguyễn Lập Dân và cộng sự, 2013) cho thấy nguyên nhân củacác mâu thuẫn và dẫn đến tranh chấp trong khai thác và sử dụng nguồn nước ởvùng Tây Nguyên, cụ thể: tranh chấp trong việc khai thác, sử dụng nước mặtcho phát điện, cấp nước tưới và cấp nước sinh hoạt, mâu thuẫn trong việc khaithác, sử dụng nước ngầm cho sinh hoạt và tưới tiêu
Trương Hồng và cộng sự (2013) đã đề xuất các biện pháp kỹ thuật tổng hợptiết kiệm chi phí đầu vào đối với cây cà phê ở Tây Nguyên
Nghiên cứu có đề cập đến sử dụng nước theo cách tiếp cận phương phápdấu chân nước (Trần Thị Phương, 2010) đã khái quát lượng nước ảo được xem
là một nghiên cứu mở đầu về nước ảo, sử dụng nước trong sản xuất hàng hóa vàcác vấn đề liên quan ở Việt Nam
Cách tiếp cận của Lương Hữu Dũng (2015) về dấu chân nước để làm cơ sởkhoa học trong nghiên cứu đề xuất điều chỉnh cơ cấu sử dụng nước theo quanđiểm nước ảo đối với một số sản phẩm nông nghiệp, nhằm mục tiêu xác địnhđược tiêu chuẩn cơ sở để chuyển đổi cơ cấu sử dụng nước của các sản phẩmnông nghiệp chính, bao gồm: Chỉ số tài nguyên nước; Chỉ số khan hiếm nướcảo; Cán cân và hiệu quả sử dụng nước trên quan điểm nước ảo Trên cơ sở đóđiều chỉnh cơ cấu sử dụng nước của một số vùng nghiên cứu theo quan điểmnước ảo và một số sản phẩm nông nghiệp, hướng tới sử dụng tài nguyên nướctiết kiệm, hiệu quả và bền vững
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến canh tác cây cà phê
Một số yếu tố quyết định đến nhu cầu sử dụng nước của cây cà phê ViệtNam đó là: (1) Yếu tố sinh thái cây cà phê, (2) Trình độ và kỹ thuật canh tácsản xuất, (3) yếu tố về thị trường, (4) tác động các chính sách Các yếu tố nàytác động qua lại lẫn nhau, giúp cho việc canh tác, sản xuất và phát triển ngành
cà phê bền vững, trong đó vai trò của Chính phủ chi phối các nhân tố còn lại
Trang 12CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG NGUỒN NƯỚC SỬ DỤNG CHO CANH TÁC CÂY CÀ PHÊ Ở TỈNH ĐĂK NÔNG
3.1 Nguồn nước sử dụng cho canh tác cây cà phê ở tỉnh Đắk Nông
3.1.1 Nguồn nước mưa
Lượng mưa hàng năm ở Đăk Nông rất không đồng đều Theo Bùi Hiếu vàNguyễn Quang Phi (2007) thì lượng mưa năm trung bình nhiều năm ở khu vựcnhiều nhất và ít nhất chênh lệch nhau 952,8 mm Khu vực trung tâm và phía Namtỉnh (huyện Đăk R’lấp, Tuy Đức, Gia Nghĩa) có tổng lượng mưa cao nhất tỉnh từ2.600 - 2.700 mm, trong khi đó ở khu vực phía Bắc tỉnh (huyện Cư Jút) chỉ đạt từ1.700 - 1.900 mm
Qua phân tích, cho thấy phân bố lượng mưa ở khu vực Đắk Nông trongnăm có sự khác biệt rất lớn, trong mùa khô lượng mưa chỉ chiếm có 15 đến 20%tổng lượng mưa năm Ngược lại, mùa mưa lượng mưa chiếm 80 đến 85% Do
đó, trong mùa mưa lượng nước dư thừa và thường gây ngập úng ở vùng trũng,ngược lại mùa khô lượng nước thiếu hụt và thường gây ra tình trạng thiếu nướctưới cho cây cà phê
3.1.2 Nguồn nước từ hệ thống sông suối
Theo tính toán của Viện Quy hoạch thủy lợi (2015) thì tổng lưu lượng dòngchảy năm vào khoảng 6.230 triệu m3 Chế độ dòng chảy của sông suối tỉnh ĐắkNông trong năm được chia làm hai mùa rõ rệt, đó là mùa cạn (trùng với mùakhô) và mùa lũ (trùng với mùa mưa)
Mùa lũ bắt đầu từ tháng 7 đến tháng 10 đối với các sông suối ở phía Namtỉnh (thuộc hệ thống sông Đồng Nai) Các sông suối phía Bắc và Đông bắc tỉnhthuộc hệ thống sông Sêrêpôk, Krông Nô mùa lũ bắt đầu từ tháng 8 đến tháng
12, còn lại là các tháng thuộc mùa cạn Sự phân phối dòng chảy giữa mùa lũ vàmùa cạn hết sức mất cân đối, nhất là đối với phần phía Nam tỉnh
Tổng lượng dòng chảy mùa lũ đối với các sông thuộc phía Nam tỉnh chiếm80%, các sông phía Bắc và phía Đông bắc tỉnh chiếm 70 - 80% tổng lượng dòngchảy cả năm
3.1.3 Nguồn nước ngầm
Nguồn nước ngầm trên địa bàn tỉnh Đăk Nông không nhiều và không đềugiữa các khu vực Nước ngầm tích trữ trong 3 tầng chứa nước cơ bản đó là: tầngchứa nước trầm tích Đệ tứ (phân bố ở trung tâm và phía Đông của tỉnh với diệntích khoảng 260 km2), tầng chứa nước phun trào bazan (phân bố chủ yếu ở phíaBắc, Tây, Tây Bắc và vài khối nhỏ ở phía Nam của tỉnh với diện tích khoảng3.660km2) và tầng chứa nước trầm tích Jura
3.1.4 Công trình thủy lợi
Đến nay toàn tỉnh có 229 công trình, trong đó: 183 hồ chứa, 43 đập dâng
và 3 trạm bơm với diện tích thiết kế là 44.948 ha; diện tích tưới thực tế là:
Trang 1332.859 ha (lúa: 4.542 ha, hoa màu: 2.668 ha, cà phê, hồ tiêu: 25.649 ha) Nhưvậy, các công trình hiện trạng đảm bảo được khoảng 73% diện tích tưới thiết kế
và đáp ứng được khoảng 15% (32.859/318.444ha) diện tích đất sản xuất nôngnghiệp
3.2 Biến động dòng chảy trong tỉnh Đắk Nông
Qua các tài liệu đã thu thập được có thể thấy biến động tài nguyên nướctrong tỉnh Đăk Nông thời gian gần đây diễn biến khá phức tạp Hàng năm lượngnước trung bình đến khu vực nghiên cứu đạt trên 30 l/s/km2 tương đương vớitổng lượng dòng chảy bình quân nhiều năm xấp xỉ 6,5 tỷ m3 Tuy nhiên, do chịu
sự chi phối mạnh mẽ của lượng mưa nên dòng chảy phía Bắc và phía Nam tỉnhthường cao hơn khu vực trung tâm
Dòng chảy phân bố không đồng đều trong tỉnh, tại Đăk Nông moduyndòng chảy là 45,2 l/s/km2, tại Cầu 14 là 27,2 l/s/km2, tại Đức Xuyên là 34,2l/s/km2
3.2.1 Mùa lũ
Mùa lũ trên các sông suối trong tỉnh Đăk Nông thường xuất hiện khôngđồng nhất, bắt đầu vào tháng 7 hoặc tháng 8 và kéo dài tới tháng 10, 11 hoặctháng 12 Lượng dòng chảy mùa lũ chiếm từ 61,5 đến 82,9% tổng lượng nướcnăm Modun dòng chảy lũ có sự khác biệt khá lớn giữa các lưu vực Modundòng chảy mùa lũ tại trạm Đức Xuyên là 62,9 l/s/km2, tại trạm Phước Long là89,3 l/s/km2, tại trạm Đăk Nông là 100,4 l/s/km2 Tuy nhiên, tại trạm Cầu 14 chỉđạt 46,1 l/s/km2
3.2.2 Mùa kiệt
Do nguồn chính cung cấp cho dòng chảy sông ngòi trong mùa kiệt chủ yếu
là nước ngầm và một lượng mưa rất nhỏ rơi xuống lưu vực nên mặc dù kéo dài
từ 7 đến 8 tháng nhưng lượng dòng chảy mùa kiệt chỉ chiếm chưa tới 40% tổnglượng nước năm Moduyn dòng chảy mùa kiệt cũng đạt không cao từ 13 - 20l/s/km2 Ba tháng liên tiếp có lượng dòng chảy nhỏ nhất xuất hiện khá đồng đềutrong tỉnh từ tháng 2 tới tháng 4 với tổng lượng nước chiếm từ 7 đến 11% tổnglượng nước năm Tháng 3 là tháng có lượng dòng chảy nhỏ nhất trên toàn bộcác lưu vực với lượng nước chiếm từ 1,19 đến 2,54 % lượng dòng chảy năm.Moduyn dòng chảy tháng nhỏ nhất thường đạt nhỏ hơn 10 l/s/km2
3.2.3 Ảnh hưởng do hạn hán
Dòng chảy ở các lưu vực sông trong tỉnh Đăk Nông trong khoảng thời gian
30 năm gần đây có những biến động khá phức tạp Dòng chảy bình quân hàngnăm cũng như dòng chảy mùa kiệt trong địa bàn nghiên cứu có xu hướng giatăng, tuy nhiên dòng chảy nhỏ nhất lại biến đổi không đồng nhất, có khu vựctăng có khu vực giảm như ở phần thuộc lưu vực sông Bé gây nhiều khó khăncho việc dùng và sử dụng nước trong lưu vực
3.3 Tác động của việc tăng diện tích trồng cà phê
Giai đoạn 2010 - 2012 toàn tỉnh tăng 28.732 ha; trong đó, huyện Đắk Songtăng mạnh nhất với 10.709 ha, tiếp theo là huyện Tuy Đức tăng 8.295 ha, thị xã