1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu tín ngưỡng thờ mẫu tại phủ dầy, huyện vụ bản, tỉnh nam định

71 545 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 4,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU 6 1.1. Khái niệm và các hình thức tín ngưỡng 6 1.1.1. Khái niệm tín ngưỡng 6 1.1.2 Một số hình thức tín ngưỡng tại Việt Nam 7 1.2. Khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu 15 1.2.1. Quan niệm về tín ngưỡng thờ Mẫu 15 1.2.2. Nguồn gốc hình thành của tín ngưỡng thờ Mẫu 17 1.2.3 Vai trò của tín ngưỡng thờ Mẫu 19 Tiểu kết chương 1 22 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ DẦY 23 2.1. Khái quát về huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam Định và phủ Dầy 23 2.1.1. Vị trí địa lý tự nhiên 23 2.1.2. Lịch sử hình thành 24 2.1.3. Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội 24 2.2. Cơ sở thờ tự 25 2.2.1. Lịch sử xây dựng 25 2.2.2. Đối tượng thờ cúng 29 2.2.3. Giá trị kiến trúc nghệ thuật 34 2.3. Nghi thức thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy 35 2.3.1. Nghi lễ hầu đồng 35 2.3.2. Lễ hội Phủ Dầy 43 2.4. Giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy 47 2.4.1. Tính lịch sử 47 2.4.2. Tính giáo dục 47 2.4.3. Tính nghệ thuật 48 2.4.4. Tính gắn kết cộng đồng 49 Tiểu kết chương 2 49 Chương 3. BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ DẦY 50 3.1. Những vấn đề đặt ra đối với tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dày hiện nay 50 3.1.1. Mặt tích cực 50 3.1.2. Mặt hạn chế 52 3.2. Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu 54 3.2.1. Tuyên truyền giáo dục 54 3.2.2 Kiểm tra, giám sát 55 3.3. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy 58 KẾT LUẬN 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC 62

Trang 1

Trêng §¹I HäC néi vô hµ néi

KHOA VĂN HÓA - THÔNG TIN VÀ XÃ HỘI

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NĂM 2017

ĐỀ TÀI TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ DẦY,

Trang 2

KHOA VĂN HÓA - THÔNG TIN VÀ XÃ HỘI

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NĂM 2017

ĐỀ TÀI TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ DẦY,

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU 6

1.1 Khái niệm và các hình thức tín ngưỡng 6

1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng 6

1.1.2 Một số hình thức tín ngưỡng tại Việt Nam 7

1.2 Khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu 15

1.2.1 Quan niệm về tín ngưỡng thờ Mẫu 15

1.2.2 Nguồn gốc hình thành của tín ngưỡng thờ Mẫu 17

1.2.3 Vai trò của tín ngưỡng thờ Mẫu 19

Tiểu kết chương 1 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ DẦY 23

2.1 Khái quát về huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam Định và phủ Dầy 23

2.1.1 Vị trí địa lý tự nhiên 23

2.1.2 Lịch sử hình thành 24

2.1.3 Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội 24

2.2 Cơ sở thờ tự 25

2.2.1 Lịch sử xây dựng 25

2.2.2 Đối tượng thờ cúng 29

2.2.3 Giá trị kiến trúc nghệ thuật 34

2.3 Nghi thức thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy 35

2.3.1 Nghi lễ hầu đồng 35

2.3.2 Lễ hội Phủ Dầy 43

2.4 Giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy 47

2.4.1 Tính lịch sử 47

Trang 4

2.4.2 Tính giáo dục 47

2.4.3 Tính nghệ thuật 48

2.4.4 Tính gắn kết cộng đồng 49

Tiểu kết chương 2 49

Chương 3 BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ DẦY 50

3.1 Những vấn đề đặt ra đối với tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dày hiện nay 50

3.1.1 Mặt tích cực 50

3.1.2 Mặt hạn chế 52

3.2 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu 54

3.2.1 Tuyên truyền giáo dục 54

3.2.2 Kiểm tra, giám sát 55

3.3 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy 58

KẾT LUẬN 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 62

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài :

Thờ Mẫu là tín ngưỡng cội nguồn, đích thực của Việt Nam, trường tồnvới dân tộc vì nó có được lòng tin cao cả, có quy mô về tâm linh và về lượngtín đồ trong cả nước Người Việt Nam ta có câu: “Phúc đức tại mẫu” đểkhuyên các bà mẹ ăn ở phúc đức, không làm điều ác và điều không hay chocộng đồng Như vậy, sau này con cháu sẽ được những điều tốt lành, để phướccho đời sau Và các con cháu cũng sẽ làm theo bà, theo mẹ mà nhắc nhaunhững điều khuyến thiện trừ ác Đức tính tốt đẹp này có từ cái thời xa xưa vàđược truyền lại cho đời sau bằng những lời truyền miệng, ca dao, bài hát…

Và trong tâm đức sâu thẳm của mọi người Mẫu (mẹ) là tất cả, là nguồn gốc

Từ mẹ, người ta được sinh ra, đến khi chết, lại trở về đất mẹ Dân gian truyềntụng nhau câu ca dao “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”, uống nước nhớnguồn, đạo lý cha truyền con nối

Phủ Dầy được coi là nơi phát tích của đạo Mẫu tứ phủ Toàn bộ quầnthể di tích này có kiến trúc đẹp, hài hòa, trang nghiêm với những tòa nhà bềthế và dày đặc công trình thờ tự của nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo Cóthể nói Phủ Dầy là vùng địa linh của văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo mang đậmbản sắc Việt Nam Bản chất người Việt mang tính mở, nên trong giao lưu vănhóa họ tiếp nhận, hỗn dung các yếu tố văn hóa ngoại lai, đồng thời biến đổi

nó, Việt hóa nó thành cái đặc thù của riêng mình Tín ngưỡng thờ Mẫu tứ phủ

là một trong những biểu hiện rõ nhất về tính mở của người Việt Trong quátrình giao thoa, tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng thờ Mẫu tứ phủ đã hỗn dungyếu tố của cả Phật, Nho và Lão giáo Hay nói cách khác, để tồn tại và pháttriển trong đời sống Việt, bản thân Phật giáo, Nho giáo hay Lão giáo đều phảidung hòa với đạo Mẫu Tính dân tộc của đạo Mẫu được thể hiện từ hình thứcbên ngoài đến nội dung bên trong Trước điện thờ Mẫu, các vị thần linh cho tacảm thấy sự gần gũi chứ không xa lạ, sợ hãi như các tôn giáo khác Thần điệncủa đạo Mẫu đôi lúc được coi là sự khái quát của cung vua, phủ chúa tronglịch sử phong kiến Việt Nam, nên nó gần với cái thực, đời sống thực Tín

Trang 6

ngưỡng thờ Mẫu tứ phủ là một bộ phận của tín ngưỡng thờ thần (nữ thần) củangười Việt nói riêng và Việt Nam nói chung Trong quá trình hình thành, từtín ngưỡng thờ nữ thần gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp, tínngưỡng thờ Mẫu đã biến đổi, phát triển thành một hệ thống thần linh có cáccấp bậc khác nhau Cùng với sự phát triển, các nghi thức thờ cúng trong tín

ngưỡng thờ Mẫu cũng diễn ra bài bản, chặt chẽ hơn Quần thể di tích Phủ

Dầy tại làng Vân Cát, xã Tiên Hương, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định vớinhững nghi lễ, sinh hoạt tâm linh sôi động, hội tụ những đặc trưng nhất củatín ngưỡng thờ Mẫu tứ phủ

Là sinh viên chuyên ngành Quản lý Văn hoá (Khoa Văn hóa - Thôngtin và Xã hội, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội), từng được tiếp xúc trực tiếpvới các hoạt động tâm linh, các nghi lễ và lễ hội phủ Dầy, nhận thức đượcnhững giá trị lớn của những di sản văn hóa đó, chúng tôi nhận thấy sự cầnthiết phải đi sâu tìm hiểu, khám phá những nét độc đáo, đặc sắc của tínngưỡng thờ Mẫu , cũng như những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý di sảntại đây Vì vậy đề tài của chúng tôi được thực hiện mong muốn sẽ là côngtrình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa, góp phần vào việc bảo tồn và phát huygiá trị tín ngưỡng thờ mẫu tại phủ Dầy, Nam Định nói riêng cũng như tínngưỡng thờ Mẫu của Việt Nam nói chung

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:

Viết về di tích này đã từng có khá nhiều đề tài, công trình nghiêncứu khoa học đề cập đến Bên cạnh đó vấn đề về tín ngưỡng không chỉ thuhút những nhà lãnh đạo mà còn là vấn đề quan tâm của cả những nhà khoahọc và các nhà quản lý Một số công trình khoa học tiêu biểu có thể kể đếnnhư sau:

- Cuốn “Các nữ thần Việt Nam” (1984) của Đỗ Thị Hảo và Mai ThịNgọc Chúc cũng đã cung cấp rất nhiều thông tin về hệ thống các Nữ thần ởViệt Nam

- Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh là một trong những tác giả có nhiềucông trình đặc sắc về tín ngưỡng thờ Mẫu như: “Đạo Mẫu” (1994) được táibản bốn lần, lần tái bản thứ tư năm 2012 mang tên “Đạo Mẫu Việt Nam”

Trang 7

Trong tác phẩm này, tác giả xây dựng hệ thống thờ Mẫu với ba cấp độ: thờ

Nữ thần, Mẫu thần, và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, sự tác động và chuyển hóagiữa chúng

- Cuốn “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” (2001) doNgô Đức Thịnh chủ biên Công trình này đi sâu vào nghiên cứu sáu loại hìnhtín ngưỡng dân gian tiêu biểu là thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng làng, thờChử Đồng Tử, thờ Đức Thánh Trần, tín ngưỡng nghề nghiệp và tín ngưỡngthờ Mẫu (tác giả gọi là Đạo Mẫu)

- Cuốn “Văn hóa Thánh Mẫu” của Đặng Văn Lung (2004) đã nghiêncứu sâu sắc vấn đề “Mẫu” nên đưa ra rất nhiều tư liệu về các “Mẫu” Tuynhiên, tác phẩm lại được viết dưới góc độ văn hóa, văn học và lịch sử màkhông xét dưới góc độ tín ngưỡng và tôn giáo

- Tạp chí văn hóa nghệ thuật Nghệ An xuất bản ngày 02/6/2014 đã rabài báo: “ Góp phần tìm hiểu thêm về Mẫu Liễu ở Phủ Dầy” với nội dung giớithiệu về phủ Vân Cát và phủ Tiên Hương, sự tích Mẫu Liễu Hạnh

- Cuốn “Huyền tích thánh mẫu Liễu Hạnh và di sản văn hóa - Lễ HộiPhủ Dầy” in lần đầu 2003, tái bản lần 3, Nxb văn hóa thông tin, 2010, nói về

sự tích mẫu Liễu Hạnh và tín ngưỡng hầu đồng trong Lễ Hội Phủ Dầy

Ngoài ra tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy cũng được đề cập rất nhiềutrên các báo, tạp chí (trích dẫn)

Tuy vậy, cho đến nay, chưa có một công trình nào đề cập, nghiên cứu hệthống tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dày với tư cách là một công trình độc lập vàtổng thể dưới góc độ quản lý văn hóa Vì vậy đề tài của chúng tôi được thựchiện, mong muốn sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện tín ngưỡng thờMẫu tại đây

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về tín ngưỡng thờ mẫu

Trang 8

thông qua lễ hội phủ Dầy, tỉnh Nam Định từ đấy nổi bật được vai trò, giá trịcủa tín ngưỡng Sau khi làm rõ được vai trò, giá trị từ đó có thể đưa ra cácgiải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhằm tìm hiểu về thực trạng vai trò, giá trị tín ngưỡng thờ mẫu tại phủDầy thông qua hệ thống di tích cùng với các sinh hoạt tâm linh tại đây, từ đó

có thể đưa các giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản tín ngưỡngthờ Mẫu ở đây

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định

- Thời gian : 02 năm, từ năm 2015 đến nay

- Nội dung:Tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu tại phủ Dầy thông qua hệthống di tích và các sinh hoạt tín ngưỡng ở đây

4.2 Đối tượng nghiên cứu

- Tín ngưỡng thờ Mẫu tại phủ Dầy, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnhNam Định

5 Phương pháp nghiên cứu

Để có thể thực hiện đề tài này, chúng tôi dùng những phương phápnghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa: đây là phương pháp quan trọng

nhất, để trực tiếp có thông tin và hiểu rõ thực trạng của tín ngưỡng thờ Mẫu tạiPhủ Dầy, nhóm tác giả tiến hành đến tận hiện trường, quan sát tham dự, mô tả,ghi chép, thu thập các thông tin dữ liệu từ thực địa, tại địa bàn di tích

-Phương pháp phỏng vấn trực tiếp:Tiến hành phỏng vấn trực tiếp cán bộ

làm công tác quản lý văn hóa, quản lý di tích và người dân sống quanh khu vựcPhủ Dầy để có những thông tin khách quan, khoa học về thực trạng tín ngưỡng

Trang 9

thờ Mẫu ở đây.

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đề tài tham khảo và sử dụng các tài

liệu viết về tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và Mẫu Liễu Hạnh nói riêng, để cóthêm những thông tin bổ trợ sâu rộng hơn cho đề tài nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: trên cơ sở những thông tin, dữ liệu

thu thập được từ thực địa và các tài liệu nghiên cứu (sách, báo, tạp chí), nhómnghiên cứu đã tiến hành phân loại, xử lý, tổng hợp và phân tích, xử lý cho từngchương, từng nội dung trong đề tài

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy Nam Định mang những nét đặctrưng nhất của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam

- Các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu ở PhủDầy được thực hiện thành công và nghiêm túc

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài chia làm 3chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tín ngưỡng thờ Mẫu và khái quát về tínngưỡng thờ Mẫu

Chương 2: Thực trạng tín ngưỡng thờ Mẫu tại Phủ Dầy

Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu tạiPhủ Dầy

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN NGƯỠNG

VÀ KHÁI QUÁT VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU

1.1 Khái niệm và các hình thức tín ngưỡng

1.1.1 Khái niệm tín ngưỡng

Có rất nhiều nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực, góc độ khác nhau đã đưa

ra khái niệm về tín ngưỡng với những cách nghĩ khác nhau, thậm chí là đốinghịch nhau

Chủ nghĩa Mác - Lênin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ýthức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan.Điều này đã được Ăng -ghen khẳng định: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ

là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người”

Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng: Tín ngưỡng, tôn giáo là mộtsức mạnh thần bí, thuộc lĩnh vực tinh thần tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếuđem lại sinh khí, sức mạnh cho con người Đại diện cho trường phái này làPlaton, Heghen, …

Việt Nam từ trước đến nay cũng có nhiều quan điểm khác nhau

Trong Hán-Việt từ điển, Đào Duy Anh đã giải nghĩa: “Tín ngưỡng làlòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa”

GS Đặng Nghiệm Vạn cho rằng: thuật ngữ tín ngưỡng có thể có 2nghĩa Khi nói đến tự do tín ngưỡng, người ta có thể hiểu là niềm tin nóichung hay niềm tin tôn giáo Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần

ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo thì tín ngưỡng chỉ là một bộphận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo

Nguyễn Chính cho tín ngưỡng là tâm linh, vì tín ngưỡng và tâm linh làhạt nhân của tín ngưỡng tôn giáo Đây là niêm tin, sự trông cậy và yêu quý

Trang 11

một thế lực siêu nhiên mà với tri thức của con người và kinh nghiệm chưa đủ

để giải thích và lý giải được

Một số học giả khác xem tín ngưỡng là tín ngưỡng dân gian với cácnghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, tập quán, phong tục truyền thống của dântộc Việt Nam

Như vậy, khái niệm tín ngưỡng được nhiều tác giả, nhiều ngành khoahọc tiếp cận với nhiều quan điểm khác nhau

Thuật ngữ tín ngưỡng bao gồm tín ngưỡng tôn giáo và tín ngưỡng dângian:

Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theo nhữngnguên tắc thực hành tôn giáo nhất định

Tín ngưỡng dân gian phản ánh những ước nguyện tâm linh của conngười và của cả cộng đồng, là niềm tin vào thần linh thông qua những nghi lễ,gắn liền với phong tục tập quán truyền thống

Theo GS.TS Phạm Ngọc Quang: Tín ngưỡng dân gian cũng có thể vàcần được xem là một yếu tố, một bộ phận của văn hóa dân gian Từ quanniệm đó, nếu văn hóa dân gian được hiểu là loại hình văn hóa ra đời nhờ sựsáng tạo của chính nhân dân, thì tín ngưỡng dân gian cũng có thể được xem làloại hình tín ngưỡng tôn giáo do chính nhân dân - trước hết là những ngườilao động - sáng tạo ra trên cơ sở những tri thức phản ánh sai lệch dưới dạngkinh nghiệm cảm tính từ cuộc sống thường nhật của bản thân mình

1.1.2 Một số hình thức tín ngưỡng tại Việt Nam

Việt Nam là nước đa tôn giáo, tín ngưỡng Một đặc điểm nổi bật của tínngưỡng tôn giáo ở Việt Nam là sự đan xen, dung hoà của các tôn giáo Điểmnày cũng xuất phát từ bản thân tính cách của người Việt đó là tính nhân ái,bao dung cho nên bất cứ một tín ngưỡng, tôn giáo nào du nhập vào Việt Namchúng ta đều tiếp nhận trên cơ sở kế thừa và chọn lọc những yếu tố phù hợp

Trang 12

với phong tục, tập quán của người Việt, hay nói cách khác khi các tôn giáo du

nhập vào Việt Nam thì nó đã bị “bản địa hoá” Giữa các tôn giáo và tín

ngưỡng không có sự phân biệt rạch ròi mà giữa chúng có sự đan xen hoàquyện lẫn nhau, tạo nên nét đặc sắc trong văn hoá Việt Nam Dưới đây là một

số tín ngưỡng tiêu biểu của Việt Nam:

* Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Tổ tiên theo quan niệm của người Việt Nam, trước hết là những ngườicùng huyết thống, như cha, mẹ, ông, bà, cụ, kỵ v.v là người đã sinh ra mình

Tổ tiên cũng là những người có công tạo dựng nên cuộc sống hiện tại như các

vị "Thành hoàng làng" các "Tổ nghề" Không chỉ thế, tổ tiên còn là nhữngngười có công bảo vệ làng xóm, quê hương, đất nước khỏi nạn ngoại xâm nhưTrần Hưng Đạo đã thành "Cha" được tổ chức cúng, giỗ vào tháng 8 âm lịchhàng năm "Tháng 8 giỗ cha" ở rất nhiều nơi trong cộng đồng người Việt.Ngay cả "Thành hoàng" của nhiều làng cũng không phải là người đã có côngtạo dựng nên làng, mà có khi là người có công, có đức với nước được các cụ

xa xưa tôn thờ làm "thành hoàng" Tổ tiên trong tín ngưỡng của người ViệtNam còn là "Mẹ Âu Cơ", còn là "Vua Hùng", là người sinh ra các dân tộctrong đại gia đình Việt Nam

Cơ sở quan trọng đầu tiên cho việc hình thành bất cứ tôn giáo tínngưỡng nào cũng là quan niệm tâm linh của con người về thế giới Cũng nhưnhiều dân tộc khác, người Việt xuất phát từ nhận thức “vạn vật hữu linh” -mọi vật đều có linh hồn, và bắt đầu từ giới tự nhiên xung quanh mình, và linhhồn trở thành đầu mối của tín ngưỡng Từ quan niệm đó hình thành nên niềmtin về sự tồn tại của linh hồn và mối liên hệ giữa người đã chết và người sống(cùng chung huyết thống) Người đã chết bằng linh hồn trở về chứng kiến,theo dõi hành vi của con cháu, quở trách hoặc phù hộ cuộc sống của họ

Trang 13

Ngoài lí do tin vào những người đã khuất, ý thức tôn trọng cội nguồn

và đức tính hiếu thảo của người Việt cũng là cơ sở quan trọng hình thành nêntín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Con cháu bày tỏ lòng biết ơn đối với các bậc sinhthành, lúc họ đã chết cũng như khi còn sống đồng thời cũng thể hiện tráchnhiệm liên tục và lâu dài của con cháu đối với nhu cầu của tổ tiên Tráchnhiệm được biểu hiện không chỉ trong các hành vi sống (giữ gìn danh dự vàtiếp tục truyền thống của gia đình, dòng họ, đất nước) mà còn ở trong cáchành vi cúng tế cụ thể Từ đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên dần được hìnhthành

Tín ngưỡng của tục thờ cúng tổ tiên tồn tại ở nhiều dân tộc Đông Nam

Á song nó vẫn được xem như là tín ngưỡng đặc trưng cho người Việt về tínhphổ biến của nó đối với cộng đồng, hầu như trong mỗi gia đình người Việtđều có bàn thờ gia tiên Người phương Đông vốn có thói quen tâm lý duy tìnhnhưng biểu hiện này ở người Việt càng trở nên sâu sắc hơn Con người vừachịu quan niệm “sống vì mồ mả, ai sống vì bát cơm” mong được nhận “phúc

ấm của tổ tiên” nhưng lại lo trách nhiệm để phúc cho con cháu “đời cha ănmặn đời con khát nước” Bởi vậy mà khi cúng lễ tổ tiên, một mặt con ngườihướng về quá khứ, định hướng cho hiện tại (giáo dục truyền thống gia đình,đạo lý làm người cho con cháu) và mặt khác đã chuẩn bị cho tương lai

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có nội dung bình dị và giàu tính thực tiễn,không cực đoan như nhiều tôn giáo khác Bằng việc thờ cúng tổ tiên, thế hệtrước nêu gương cho thế hệ sau không chỉ vì trách nhiệm đối với các bậc sinhthành mà còn để giáo dục dạy dỗ con cháu lưu truyền nòi giống Trong khi tế

lễ, lời khấn vái của họ cũng thật giản dị, rất thực tiễn: lời cầu xin che chở, phùtrợ cho cuộc sống hàng ngày của họ được bình yên, suôn sẻ Không biết sựcầu xin ấy hiệu quả như thế nào, nhưng trước hết, con người cảm thấy thanhthản về mặt tâm linh, điểm tựa tinh thần quan trọng cho cuộc sống Do đó,

Trang 14

khả năng phổ biến trong không gian và thời gian của tín ngưỡng này cũng làmột điều dễ hiểu

Bản chất của việc thờ cúng tổ tiên chính là để lưu giữ kí ức về tổ tiên:đặc trưng trong đời sống của người Việt là tính duy lí Vì vậy trong gia đìnhhình ảnh của những người đã khuất luôn luân hiện hữu và không xa rời đờisống của những thành viên trong gia đình và làng xã Chết không phải là mất

đi tất cả mà là một dạng chuyển hóa vật chất từ dạng này sang dạng khác và

tổ tiên cũng tồn tại ở một thế giới siêu hình mà con người không thể nhìn thấyđược Trong gia đình bàn thờ là nơi con cháu lưu gữ những hình ảnh thânthuộc nhất về những người đa khuất Việc thờ cúng được lặp đi lặp lại nhưmột công việc quen thuộc, khoi dậy trong con cháu những kí ức về tổ tiên

Bên cạnh đó thờ cúng tổ tiên còn hàm nghĩa nhắc nhở ý thúc về cộinguồn: Với đạo lý uống nước nhớ nguồn nên thờ cúng tổ tiên thành cẩn làxuất phát từ lòng hiếu kính nhớ ân thâm nghĩa trọng, nó đã ăn sâu vào tiềmthức của mỗi người ngay từ lúc còn thơ bé:

Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.

Người ta nguồn gốc từ đâu?

Có cha có mẹ rồi sau có mình.

Ngày cúng giỗTrong tục thờ cúng tổ tiên, người Việt coi trọng việccúng giỗ vào ngày mất (còn gọi là kỵ nhật) thường được tính theo âm lịch(hay còn gọi là ngày ta) Họ tin rằng đó là ngày con người đi vào cõi vĩnhhằng Không chỉ ngày giỗ, việc cúng tổ tiên còn được thực hiện đều đặn vàocác ngày mồng một (còn gọi là ngày sóc), ngày rằm (còn gọi là ngày vọng),

và các dịp lễ Tết khác trong một năm như: Tết Nguyên đán, Tết Hàn thực, TếtTrung thu, Tết Trùng cửu, Tết Trùng thập Những khi trong nhà có việc

Trang 15

quan trọng như dựng vợ gả chồng, sinh con, làm nhà, đi xa, thi cử , ngườiViệt cũng dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để báo cáo và để cầu tổ tiên phù

hộ, hay để tạ ơn khi công việc thành công Bản chất việc thờ cúng tổ tiên củangười Việt là từ niềm tin người sống cũng như người chết đều có sự liên hệmật thiết và hỗ trợ nhau Con cháu thì thăm hỏi, khấn cáo tiền nhân Tổ tiênthì che chở, dẫn dắt hậu thế nên việc cúng giỗ là thực hiện mối giao lưu giữacõi dương và cõi âm Đây là một lễ vô cùng quan trọng, bởi nhớ đến ông bà tổtiên là đã thể hiện lòng thành kính với vong linh người đã khuất, không phụthuộc vào việc làm giỗ lớn hay nhỏ Chỉ với chén nước, quả trứng, nén hươngcũng giữ được đạo hiếu

* Tín ngưỡng thờ thần

Tín ngưỡng thờ thần là một loại tín ngưỡng nguyên thuỷ nó ra đời thểhiện sự bất lực của con người trước tự nhiên Vì thế họ tôn thờ các vị thần cónguồn gốc từ tự nhiên như Thờ Tứ pháp (pháp Vân, pháp Vũ, pháp Lôi, phápĐiện), Thờ Thần Mặt Trời, Thờ Thần Mặt Trăng… và đều có liên quan đến

Nữ Thần Người Việt không chỉ thờ Thần có công sáng tạo ra vũ trụ như: Nữ

Oa, Thần Lửa, Thần Mộc,… mà còn thờ các vị thần có công giúp dân trongviệc dựng nước và giữ nước, lập bản, lập làng, mở mang nghề nghiệp, gươngsáng trung hiếu nghĩa tình như: Đức Thánh Trần, Các Vua Hùng, Liễu Hạnh,Thánh Gióng, Mẫu Thượng Ngàn, …

* Tín ngưỡng phồn thực

Là tín ngưỡng biểu tượng cho sự sinh sôi, nảy nở để tạo ra sự sống củamuôn loài Thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinhsống bằng nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con người được sinhsôi nảy nở Để làm được hai điều trên, những trí tuệ sắc sảo sẽ tìm các quyluật khoa học để lý giải hiện thực và họ đã xây dựng được triết lý âm dương,

còn những trí tuệ bình dân thì xây dựng tín ngưỡng phồn thực (phồn nghĩa

Trang 16

là nhiều, thực nghĩa là nảy nở) Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam được thể

hiện ở hai dạng: thờ cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ (như linga, yoni) vàthờ hành vi giao phối, khác biệt với một số nền văn hóa khác như Ấn

Độ chẳng hạn, chỉ thờ sinh thực khí của nam mà thôi

Thờ sinh thực khí: Thờ sinh thực khí (sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí =

công cụ) là hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực Nó phổ biến ở hầuhết các nền văn hóa nông nghiệp trên thế giới Nhưng khác với hầu hết cácnền văn hóa khác là chỉ thời sinh thực khí nam, tín ngưỡng phồn thực ViệtNam thờ sinh thực khí của nam lẫn nữ Việc thờ sinh thực khí được tìm thấy ở

trên các cột đá có niên đại hàng ngàn năm trước Công nguyên Ngoài ra nó còn được đưa vào các lễ hội, lễ hội ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước

cặp sinh thực khí bằng gỗ vào ngày 6 tháng giêng, sau đó chúng được đốt đi,lấy tro than chia cho mọi người để lấy may

Thờ hành vi giao phối: Ngoài việc thờ sinh thực khí, tín ngưỡng Việt

Nam còn thờ hành vi giao phối, đó là một đặc điểm thể hiện việc chú trọngđến các mối quan hệ của văn hóa nông nghiệp, nó đặc biệt phổ biến ở

vùng Đông Nam Á Các hình nam nữ đang giao phối được khắc trên mặt trống đồng tìm được ở làng Đào Thịnh (Yên Bái), có niên đại 500 trước Công nguyên Ngoài hình tượng người, cả các loài động vật như cá sấu, gà, cóc, cũng được khắc trên mặt trống đồng Hoàng Hạ (Hòa Bình).

Vào dịp hội đền Hùng, vùng đất tổ lưu truyền điệu múa "tùng dí", thanhniên nam nữ cầm trong tay các vật biểu trưng cho sinh thực khí nam và nữ, cứmối tiếng trống "tùng" thì họ lại "dí" hai vật đó lại với nhau Phong tục "giãcối đón dâu" cũng là một biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực, chày và cối làbiểu tượng cho sinh thực khí nam và nữ Ngoài ra một số nơi còn vừa giã cối(rỗng) vừa hát giao duyên

Trang 17

*Tín ngưỡng thờ Thành hoàng

Thờ Thành Hoàng là một tín ngưỡng phổ biến của người Việt Nam Cơ

sở tâm lý và xã hội của tín ngưỡng này chính là sự tin tưởng vào một vị thầnnào đó để bảo vệ cho cuộc sống nhân dân được bình yên, phồn thịnh, pháttriển Ở Việt Nam tín ngưỡng này phát triển khá rộng rãi ở bất kỳ một bản, mộtlàng nào của người Việt cũng tôn thờ một vị thần được nhân dân tôn vinh làThành Hoàng và lập đình thờ Thuật ngữ Thành hoàng là một từ Hán

Việt: “Thành hoàng có nghĩa là thành hào, hào có nước gọi là trì, không có

nước gọi là hoàng Đắp đất làm “thành”, đào hào làm “hoàng” Thành

hoàng xuất hiện ở Trung Quốc thời cổ đại và đã được thờ như là vị thần bảo

hộ cho một thành trì, một phủ, châu hay một huyện Xã hội cổ đại TrungQuốc được phân chia thành hai cấp: Vương và Hầu; vua nhà Chu là Vươngcai quản chư Hầu, mỗi chư Hầu như là một vương quốc nhỏ có một tòa thành

và một số ấp nông thôn vây quanh Do vậy, để bảo vệ thành có Thành hoàng,bảo vệ ấp có Thổ địa Việc thờ Thành hoàng phổ biến khắp đất nước TrungQuốc thời cổ đại; ở đâu xây thành, đào hào là ở đó có Thành hoàng Thànhhoàng thường được vua ban biển miếu hoặc phong tước Chính quyền phongkiến Trung Quốc đã lấy việc thờ phụng Thành hoàng làm việc giáo hóa dânchúng

Như vậy, tín ngưỡng thờ thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Quốc.Nhưng vì quy mô và cơ cấu làng cổ Trung Quốc có nhiều điểm khác với làng

cổ của Việt Nam, nên tín ngưỡng thờ thành hoàng của các làng Việt cổ cũngkhông giống tín ngưỡng thờ thành hoàng của làng cổ Trung Quốc Thànhhoàng của các làng Việt cổ không chỉ và không phải lúc nào cũng thờ vị thầnbảo vệ thành hào của làng, mà còn thờ cả những người có công với dân vớinước, người có công lập ra làng, người có công truyền dạy một nghề nào đó

Trang 18

cho dân làng, hoặc là một ông quan tốt (và một số vị tà thần - nhưng số nàykhông nhiều).

Việc thờ thành hoàng của nhiều làng xã Việt Nam đôi khi là thờ mộtsức mạnh tự nhiên nào đó (như thần sông, thần núi, thần sấm, thần sét, thầnmây, thần mưa) Trong số các vị thần này, nơi nào thờ loại thần gì là tùythuộc vào đặc điểm cư trú của làng đó Chẳng hạn, những làng ở hai bên bờcác con sông thường là thờ các vị thủy thần; những làng ở trên sườn núithường thờ thần núi (sơn thần)

Một số làng thờ những nhân vật lịch sử làm thành hoàng làng mình lànhững vị anh hùng dân tộc, có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại nềnđộc lập cho dân tộc, như các vị: Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Hoàn, Dương ĐìnhNghệ, Lê Văn Thịnh, Tô Hiến Thành, Lý Thường Kiệt, Trần Nhật Duật,…

Một số làng thờ vị có công truyền dạy cho dân làng một nghề thủ côngnào đó, như vị tổ nghề gốm Bát Tràng, làng Phù Lãng là Hứa Vĩnh Kiều, vị tổnghề đúc đồng ở Đại Bái là Nguyễn Công Truyền, ở Quảng Bố là NguyễnCông Nghệ,

Một số làng thờ những quan lại phương Bắc đã từng cai trị nước ta làmthành hoàng như: Triệu Đà, Sĩ Nhiếp, Cao Biền, Đào Hoàng,…

Nói chung, thành hoàng của các làng có thể phân làm 2 loại, trong đómột vị là biểu tượng của sức mạnh tự nhiên, một vị là nhân vật lịch sử hoặcngười có công với làng.Và điểm đặc biệt của tín ngưỡng thờ thành hoàng củacác làng Việt cổ là ở chỗ, dù thời cuộc có biến đổi như thế nào, dù làng cóchuyển nơi cư trú bao nhiêu lần, dù chính sách tôn giáo của Nhà nước có chặtchẽ hay cởi mở, dù dân làng giàu sang hay nghèo túng,… thì nhân vật đượcdân làng thờ làm Thành hoàng vẫn không thay đổi, mà tồn tại mãi mãi, suốt

từ đời này đến đời khác

Trang 19

1.2 Khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu

1.2.1 Quan niệm về tín ngưỡng thờ Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng dân gian của dân tộcViệt Nam, được hình thành từ ngàn đời xưa, nó ăn sâu vào tiềm thức của dântộc và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hoá ViệtNam Cho đến nay tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn đang phát triển mạnh mẽ trongđời sống sinh hoạt của nhân dân Trong tín ngưỡng dân dã của người Việt thìviệc tôn thờ Nữ thần, thờ Mẫu là một hiện tượng khá phổ biến trong đời sốngvăn hoá, bắt nguồn từ lịch sử xã hội Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam thểhiện sự ngưỡng mộ chân thành của con người về vị trí, vai trò của người phụ

nữ trong gia đình cũng như trong xã hội, trong công cuộc đấu tranh xây dựng

và bảo vệ đất nước

Mẫu là một từ gốc Hán - Việt được hiểu là Mẹ, hay Mụ, Mạ, Mế, dùng

để chỉ người phụ nữ nói chung, người mà đã có công sinh thành, nuôi dưỡngnhững đứa con nên người Ngoài ra, Mẫu còn được hiểu theo nghĩa rộng hơn

đó là sự tôn vinh, tôn xưng một nhân vật nữ nào đó (có thật hoặc không cóthật) như: Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Nghi Thiên hạ, …Trong tâmthức của người Việt, Mẫu cũng có nghĩa là sự sinh sôi, nảy nở của vạn vậttrong vũ trụ

Cho dù hiểu như thế nào thì vị trí của Mẫu trong tiềm thức của ngườiViệt Nam luôn là sự thành kính, sự tôn trọng trong đời sống của họ Việt Nam

là nước đa tôn giáo, đa tín ngưỡng với đặc điểm nổi bật là sự bao dung, sự hoàhợp lẫn nhau của các tôn giáo trong cùng một quốc gia, vì thế trên khắp đấtnước ta trải dài từ Bắc đến Nam có khoảng 1000 di tích văn hoá trong đó có

250 các di tích thờ cúng các vị thần hay danh nhân là Nữ Chính vì thế trongkho tàng văn hoá dân gian về truyền thuyết hay thần thoại có nhiều những câuchuyện về các nữ thần như: Nữ thần Mặt Trời, Nữ thần Mặt Trăng người đã soi

Trang 20

sáng xuống trái đất tạo lập nên đất trời, hay sự tích về “Nữ Oa đội đá vá trời”.

Còn các nữ thần Tứ pháp như: pháp Vân, pháp Vũ, pháp Lôi, pháp Điện tạo racác hiện tượng Mây, Mưa, Sấm, Chớp Đây chính là những yếu tố mang tínhbản thể của vũ trụ cũng được dân gian nữ tính hoá, hay những yếu tố được xem

là bản nguyên đầu tiên của thế giới như: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ cũng đượcnhân dân ta gọi là Bà

Trong quan niệm của người Việt thì Mẹ đầu tiên nuôi sống và che chởcho con người là Mẹ Cây Không chỉ là nơi che chở cho con người mà cònmang lại hoa thơm quả ngọt nuôi sống cho con người, là nơi mà con người trúngụ và tránh thú dữ Chính vì thế tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam xuất hiện

từ rất xa xưa, từ lúc mà con người còn sinh sống trong rừng xanh, hang hẻm,cho nên hình ảnh đầu tiên mà con người tôn thờ là Mẫu Thượng Ngàn, MẫuSơn Lâm

Người dân luôn tôn thờ Mẫu Thượng Ngàn cho dến khi mở rộng địabàn cư trú xuống đồng bằng, lênh đênh sông nước xuống miền xuôi, lúc này

Mẹ cây không còn nâng đỡ được họ nữa mà người che chở cho họ là Mẹ nướcthế nên ý thức về Mẫu Thoải dần dần được hình thành

Cuộc sống sinh sôi và nhu cầu của con người ngày càng nhiều thì conngười không chỉ trú ngụ ở sông núi mà còn phải khai phá đất đai để sinh sống.Lúc này hình ảnh Mẹ Đất được hình thành với sự tôn vinh là Mẫu Địa cùngvới Mẫu thoải, Mẫu Thượng Ngàn phù hộ cho cuộc sống bình an, mưa thuận,gió hoà của con người

Cho đến thế kỷ XVI, tín ngưỡng thờ Mẫu được làm phong phú hơn vớihình tượng công chúa Liễu Hạnh được tôn là Thánh Mẫu Khác với MẫuThượng Ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa đều có nguồn gốc từ tự nhiên thì MẫuLiễu là hình tượng con người trần thế có thật được người Việt Nam sáng tạo

ra hội tụ đầy đủ các yếu tố và đức tính quý báu của người phụ nữ Việt Nam

Trang 21

Chính vì thế người Việt Nam tôn vinh Liễu Hạnh là Tiên, là Thánh, là mộttrong tứ bất tử của mình.

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam, nhân dân ta còn tônthờ những bà mẹ có công sinh thành ra dân tộc, những người phụ nữ có tàigiữ nước và dựng nước trong lịch sử

Như vật ta có thể hiểu rằng: Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín

ngưỡng bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ nữ thần (nhưng không phải tất cả nữ thần đều là Mẫu), là một bộ phận của ý thức xã hội, được hình thành từ chế

độ thị tộc mẫu hệ, để tôn vinh nhữnh người phụ nữ có công với nước, với cộng đồng tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội làm Thánh Mẫu, Vương Mẫu… và qua đó người ta gửi gắm niềm tin vào

sự che chở, giúp đỡ của các lực lượng siêu nhiên thuộc nữ thần.

1.2.2 Nguồn gốc hình thành của tín ngưỡng thờ Mẫu

Trong tín ngưỡng của người Việt và một số dân tộc anh em khác, việctôn thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần là một hiện tượng khá phổ biến và có nguồngốc trong xã hội lịch sử sâu xa Từ xa xưa, trong các huyền thoại và truyềnthuyết ta thấy một số lượng lớn các Nữ thần được đề cập đến Để tạo lập vũtrụ có công của Nữ thần Mặt Trời, Nữ thần Mặt Trăng các bà đã soi sang,sưởi ấm cho loài ngời Huyền thoại bà Nữ Oa đã tạo ra còn người cùng với đó

là các yêu tố bản thể của vũ trụ cũng được dân gian gắn với thuộc tính nữ: BàHoả, Bà Thuỷ, Bà Kim, Bà Mộc, Bà Thổ hay còn tựu trung lại là Bà ngũhành

Ngoài ra các Bà mẹ trong truyền thuyết và thần thoại cũng là những vịThần sáng tạo ra văn hoá và các giá trị văn hoá, là tổ sư của các ngành, nghềtruyền thống: Mẹ Âu Cơ là tổ sư nghê nông, Mẹ Lửa, Mẹ Lúa Nhiều vị Nữthần còn là các danh tướng ngoài trận mạc, hya người góp công xây dựng đấtnước như: Hai bà Trưng cùng các danh tướng, Bà Triệu, Dương Văn Nga,

Trang 22

Nguyên Phi Ỷ Lan, Bùi Thị Xuân các danh tướng trên đều đã được triềuđình sắc phong thành các vị Thần, Thành hoàng của làng; Bà Mẫu Liễu Hạnhhiện đang được thờ tại nhiều làng, Hai bà Trưng được thờ tại 408 làng.

Nhiều Nữ thần còn được sắc phong trở thành Thượng đẳng thần, trong

đó có công chúa Liễu Hạnh được nhân dân tôn vinh là một trong Tứ bất tửcủa đất nước

Nằm trong vùng Đông Nam Á với khi hậu là nhiệt đới ẩm gió mùa làchủ đạo và phương thức sản xuất nông nghiệp là phương thức chính điều đấy

đã ảnh hưởng tới quan niệm, lối suy nghĩ của người Việt Việc tôn sùng các

sự tật hiện tượng liên quan tới đời sống nông nghiệp như thần Đất, thần Nước,thần Lúa đều gắn các sự vật hiện tương trên theo thuộc tính Âm và Nữ tínhhoá - đó chính là Mẹ một nhân vật bao la, vĩ đại Bên cạnh đó nhiều công việcđồng ác đều gắn với phụ nữ, tạo ra sự kiêng kỵ với nam giới

Có thể nói đạo Mẫu, tục thờ Mẫu thần, Mẫu tam phủ, Mẫu tứ phủ cóquan hệ mật thiết với tục thờ Nữ thần, song không có sự đồng nhất Khôngthể đánh đồng tất cả Nữ thần là Mẫu thần, chỉ có một số Nữ thần được tônvinh trở thành Mẫu thần Cũng như đạo Mẫu gắn liền với tục thờ Mẫu dângian, song không có nghĩa mọi Mẫu thần đều thuộc điện thần của đạo Mẫu

Mẫu tam phủ, Mẫu tứ phủ là một bước phát triển của đạo Mẫu, là mộtquá trình phát triển từ một hành vi tôn giáo nhỏ lẻ, rời rạc phát triển trở thànhmột tín ngưỡng, đạo có tính truyền thống hơn

Các vị thánh đứng đầu trong tín ngưỡng thờ Tứ phủ: Mẫu Liễu Hạnh,Mẫu Thượng thiên, Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Thoải, Mẫu Địa

- Các Thái hậu (mẹ vua), Hoàng Hậu (vợ vua), Công chúa (con vua)

có đức độ, có tài năng, có công lao to lớn, hiển linh thì được tôn vinh là Mẫu:vương Mẫu Đó là trường hợp của vợ Vua Hùng được phong là Tây ThiênQuốc Mẫu có đền thờ tại Tây Thiên, Vĩnh Phúc

Trang 23

- Một số trường hợp được tôn là Mẫu như : mẹ của thần núi Tản Viêncũng được phong là Quốc Mẫu Mẹ thân sinh ra Thánh Gióng cũng đượcphong là Vương Mẫu, có đền thờ tại ngay đền Gióng

- Từ miền Trung đổ vào đến miến Nam thì có rải rác các miếu, điệnthờ Mẫu Đó là các hiện tượng Việt hoá nữ thần Pô Inư của dân tộc Chăm đãtrở thành vị thần của người Việt phương Nam Các vị thần núi Sam và núiLinh sơn đều được tôn xưng là các bà chúa Ngoài ra còn các bà chúa khácnhư:Bà Hoả, Bà Thổ, Bà Thuỷ Một số nữ thần cũng được tôn vinh là Mẫu,thánh Mẫu như: Linh sơn Thánh Mẫu - Bà Đen

- Về cội nguồn và bản chất thì việc thờ Nữ thần và Mẫu thần vừa nêuđều thuộc tín ngưỡng thờ thần của người

- Đạo Mẫu tứ phủ so với tín ngưỡng thờ thần đã phát triển đáng kể vềtính hệ thống

1.2.3 Vai trò của tín ngưỡng thờ Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một trong những tín ngưỡng bản địa của dântộc Việt Nam, tuy nhiên có sự pha trộn với tín ngưỡng khác tạo nên tínhphong phú và đa dạng của tín ngưỡng thờ Mẫu ở các vùng miền khác nhautrên phạm vi cả nước Tín ngưỡng thờ Mẫu của dân tộc Việt Nam thể hiện ýnghĩa nhân sinh sâu sắc, ý thức với cội nguồn dân tộc, lòng yêu nước của dântộc Việt Nam Tín ngưỡng thờ Mẫu thể hiện thông qua hệ thống đình chùa,miếu mạo trở thành nét đẹp trong văn hóa tinh thần của nhân dân Chính vìthế mà nhân dân ta tương truyền nhau về tục

“ Tháng Tám giỗ cha, Tháng Ba giỗ mẹ” thể hiện đạo hiếu của dân tộc

ta từ ngàn đời xưa.Khi xã hội phát triển tòan diện thì cuộc sống của nhân dânlao động cũng không ngừng được cải thiện và nâng cao về mọi mặt Trong đó,tín ngưỡng cũng trở thành một phần không thể thiếu của một bộ phận dân cư

có nhu cầu trong đời sống tâm linh của họ Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng là một

Trang 24

nhu cầu thuộc đời sống tinh thần của một số người Bởi đó là nơi gửi gắmniềm tin, hi vọng, là chỗ dựa tâm linh cho họ khiến họ tin và đi theo tínngưỡng này Ngoài ra, lễ hội trong tín ngưỡng thờ Mẫu còn mang tính thiêngliêng, phản ánh tình cảm, sự ngưỡng mộ về vai trò của người mẹ trong cáclĩnh vực đời sống xã hội Trong sinh hoạt của tín ngưỡng thờ Mẫu đã giúpliên kết mọi người, thậm chí vượt ra khỏi giới hạn của tư tưởng định kiến tôngiáo hoặc sự cục bộ địa phương để cùng hướng về một đối tượng linh thiêng,với một lễ hội thống nhất Nó còn phát khởi mối thiện tâm trong mỗi conngười, trong các mối quan hệ xã hội Thực tế khi một ai đó bước chân vàonhững nơi thờ tự họ đều nghĩ rằng đây là chốn linh thiêng và có ý nghĩa quantrọng mà khi con người cần đến niềm tin, sự an ủi trước những bất công, bấtlực trong cuộc sống Tín ngưỡng thỏa mãn nhu cầu tâm linh của nhân dân, đó

là sự giải thóat tâm lý làm cho con người cảm thấy an tòan hơn trong cuộcsống bộn bề những khó khăn bất trắc Cho nên, tín ngưỡng có thể khơi dậytính lương thiện và bản chất chân thành của con người vì họ muốn thể hiện sựtốt đẹp của mình trước những vị thần linh

Khi con người tin vào một tín ngưỡng hay một tôn giáo nào đó thìngười ta tin rằng với không gian và thời gian linh thiêng đó, mọi lời cầu xin sẽđược thiêng hóa vì đã có các thánh chứng giám Họ tin vào điều đó, có thểchưa thực hiện được nhưng con cháu họ sẽ đạt được Trong chiều sâu tâmthức con người, niềm tin đã đánh thức và thúc giục họ đến một nhu cầu hiệnthực hóa những đối tượng họ tin dưới dạng lí tưởng nhất

Tín ngưỡng thờ Mẫu còn liên kết tinh thần giữa những người có cùngmột niềm tin vào các Mẫu, người ta có thể liên kết với nhau đôi lúc rất chặtchẽ trên nhiều phương diện ngay cả khi họ không cùng ý thức chính trị Bởi

vì bản thân tín ngưỡng này đã có sức mạnh cố kết tinh thần mạnh mẽ Sự cốkết ấy được nâng lên nhờ sự linh thiêng của các mẫu và các thần trong tín

Trang 25

ngưỡng thờ Mẫu Nếu tổ chức tốt các sinh hoạt lễ hội, sinh hoạt văn hóa tínngưỡng thờ Mẫu ở các vùng, các địa phương sẽ làm tăng cường tình đòan kết,

sự hòa hợp, gắn bó keo sơn, cảm thông lẫn nhau một cách sâu sắc hơn giữacác thành phần và các tầng lớp khác nhau trong xã hội Tính nhân văn trongđời sống của tín ngưỡng thờ Mẫu là điều chúng ta dễ nhận thấy, đặc biệt trongcuộc sống hiện đại với những bon chen, tính tóan, xô bồ làm cho con ngườicảm thấy thanh thản hơn khi tìm đến Mẫu Tính nhân văn còn được thể hiệnthông qua tục lệ của ông bà ta “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”

Ngày xuân, người đi lễ chùa, thắp hương ở các đình, đền thường đượcthưởng ngoạn nét độc đáo của loại hình văn hóa, tín ngưỡng tâm linh này, khi

ra về sẽ thấy lòng thư thái Ở nhiều di tích lịch sử, văn hóa, hầu đồng là hoạtđộng không thể thiếu trong những ngày hội, ngày kị như ở đền Mẫu ĐồngĐăng, đền Sòng Thanh Hóa, hoặc phủ Hồ Tây thường tổ chức lên đồng và hátchầu văn và rằm tháng Riêng (Tết Nguyên Tiêu)… xét về văn hóa thì đây là

di sản cần được bảo tồn và tôn vinh

Ta còn tìm thấy trong tín ngưỡng thờ Mẫu nhiều giá trị truyền thốngcủa dân tộc ta về giá trị đạo đức, giá trị nhân văn sâu sắc Đó là tâm thức uốngnước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây hướng về cội nguồn tôn vinh nhữngngười có công với dân với nước Đó là truyền thống đề cao vai trò của ngườiphụ nữ, người mẹ đã trở thành biểu tượng của dân tộc Việt Nam mà nhân dân

ta đã thần thánh hóa là Mẫu Vị trí của người phụ nữ luôn được đề cao như “

Mồ côi cha ăn cơm với cá, mồ côi mẹ liếm lá đầu đường” Mặt khác ngườiViệt luôn tâm niệm rằng con cái được hưởng phúc từ người mẹ nên có câu “Phúc đức tại mẫu” Vì vậy tín ngưỡng thờ Mẫu đã góp phần vào việc giáo dụclòng hướng thiện cho con người, hướng con người tới chân thiện mỹ, nhắcnhở thế hệ trẻ hướng về cội nguồn:

Trang 26

Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

Cũng từ truyền thống đó nhân lên thành tình yêu quê hương đấtnước.Từ đó thôi thúc thế hệ trẻ không ngừng học tập, rèn đức luyện tài để gópphần xây dựng đất nước giàu mạnh

Tiểu kết chương 1

Tín ngưỡng là một hình thái ý thức xã hội và đồng thời cũng là tìnhcảm, nhu cầu tâm linh của mỗi con người và của mỗi cộng đồng các dân tộc.Xuất phát từ một nước làm nông nghiệp trồng lúa nước, vai trò của người phụ

nữ sớm được định hình Từ đó là một trong những cơ sở để hình thành tínngưỡng thờ Mẫu Việt Nam, trong đó có tín ngưỡng thờ tứ phủ Từ nhiều thế

kỷ qua, tín ngưỡng thờ Mẫu đã hiện diện và khẳng định vai trò của nó trongđời sống tâm linh của người Việt, đồng thời cũng góp phần tạo ra bản sắc vănhóa dân tộc Việt Nam

Trang 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TẠI PHỦ DẦY

2.1 Khái quát về huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam Định và phủ Dầy

2.1.1 Vị trí địa lý tự nhiên

Vụ Bản là một huyện thuộc tỉnh Nam Định Phía Bắc huyện Vụ Bảngiáp tỉnh Hà Nam và huyện Mỹ Lộc, phía Đông giáp thành phố Nam Định vàNam Trực, phía Đông và Nam giáp huyện Ý Yên

Huyện Vụ Bản nằm về phía Bắc tỉnh, thuộc vùng đất cổ, đất đai tươngđối ổn định Dọc phía tây huyện có các dãy núi đất lẫn đá chạy từ bắc xuốngnam với sáu ngọn: núi Ngăm, núi Tiên Hương, núi Báng, núi Lê, núi Gôi vànúi Hổ Dấu vết người nguyên thuỷ tìm thấy tại các khu vực núi này minhchứng Vụ Bản là một trong những cái nôi sinh ngụ của người Việt cổ Vụ Bảnnằm kẹp giữa sông Đào và sông Sắt Sông Đào một đầu nối với Sông Hồng,đầu kia đổ ra sông Đáy Sông Sắt nối liền sông Châu với sông Đáy Mảnh đấtnày chính là do phù sa sông Hồng và sông Đáy bồi tụ lên

Kim Thái là một xã thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Xã Kim Thái

có diện tích 9,8 km², dân số năm 1999 là 9.014 người, mật độ dân số đạt 920người/km² Xã bao gồm các xóm, làng: thôn Đình Hương, thôn Nguyệt Mại,làng Giềng, thôn Thiện Đăng (Thiện An), làng Lạc Thiện, làng Đống Xuyên,làng Thi Liệu (gồm: xóm Thanh Ý, Đồng Hòa, Thái Hưng), thôn ThượngLinh, làng Mới, thôn Điện Biên, xóm Đồng Hưng, thôn Phong Vinh, thônThống Nhất, thôn Hồng Tiến, thôn Đoàn Kết, thôn Tiên, thôn Đồng Lân (CốBản, Đồng Tâm), khu Bốn

Trang 28

2.1.2 Lịch sử hình thành

Vụ Bản là một huyện hình thành sớm trong tỉnh Nam Định, có lịch sửlâu đời và truyền thống cách mạng vẻ vang Thời Hùng Vương, huyện có tên

là Bình Chương thuộc bộ Lục Hải, thời Hán thuộc quận Giao Chỉ Trước thời

Lý - Trần, đất này nằm trong huyện Hiển Khánh Thời Lý, huyện Thiên Bảnnằm trong phủ Ứng Phong; đời Trần huyện Thiên Bản thuộc phủ Kiến Hưng.Năm Vĩnh Lạc thứ năm (1407), nhà Minh đổi làm huyện Yên Bản thuộc phủKiến Bình Năm Vĩnh Lạc thứ mười ba (1415), nhà Minh đổi huyện Độc Lậpthành Bình Lập cho sáp nhập vào huyện Yên Bản Đến đời Lê Thánh Tông lạiđổi thành huyện Thiên Bản Cũng dưới thời Lê Hồng Đức, huyện Thiên Bảnthuộc phủ Nghĩa Hưng Đến thời Nguyễn, Tự Đức năm thứ 14 (1861) đổi tênthành huyện Vụ Bản

2.1.3 Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội

Vụ Bản là một huyện hình thành sớm trong tỉnh Nam Định, có lịch sửlâu đời và truyền thống cách mạng vẻ vang Thuở Hùng Vương dựng nước, là

bộ Bình Chương (một trong 15 bộ của nước Văn Lang) Huyện Vụ Bản làvùng đất có truyền thống hiếu học, nhiều người đã đỗ đạt cao, có danh vọng,đóng góp vào kho tàng văn hoá của dân tộc Trong suốt thời kỳ khoa cử củachế độ phong kiến Việt Nam, Vụ Bản có 16 vị đỗ Tiến sĩ, Thám hoa, Bảngnhãn, Trạng nguyên Danh nhân tiêu biểu phải kể đến Trạng nguyên LươngThế Vinh, nhà sử học Trần Huy Liệu, nhà thơ Nguyễn Bính, nhạc sĩ Văn Cao,giáo sư nông học Bùi Huy Đáp, Vụ Bản còn là miền quê của thi ca như nhàthơ Nguyễn Bính từng viết:

“Trong bụng mẹ đã từng mê tiếng hát Nên quê tôi ai cũng biết làm thơ”

Về đời sống tinh thần và tâm linh, huyện Vụ Bản còn lưu giữ nhiềusinh hoạt tín ngưỡng nguyên sơ, đậm nét bản sắc văn hóa dân tộc Nhiều thôn,

Trang 29

làng còn lưu tồn tục thờ các thế lực siêu nhiên có tác động đến đời sống conngười Nhưng phần lớn cộng đồng cư dân ở đây thường thờ những người cócông với nước, giúp dân mở mang hương ấp, dắt dẫn dân sản xuất, mở mangvăn hóa; các vị thần bảo vệ dân trước thiên tai, địch họa, chống giặc ngoạixâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc Đó là tục thờ thần Bắc Nhạc, Đông Hải, TâyHải (là ba trong số 50 người con của Mẹ Âu Cơ theo Cha Lạc Long Quânxuống biển); thờ các thần trông coi mùa màng như Thần Nông, Hậu Tắc, CâuMang, thần mây mưa, sấm sét Trong đó đặc sắc, tiêu biểu nhất là thờ MẫuLiễu Hạnh, trung tâm của đạo Tam phủ, Tứ phủ ở quần thể di tích lịch sử vănhóa Phủ Dầy

Không chỉ là vùng đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa mà huyện VụBản còn có nhiều đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa của dân tộc như:nghệ thuật hát chầu văn, hát ví, hát giao duyên,

Không những thế, Vụ Bản còn là mảnh đất màu mỡ để phát triển dịch

vụ du lịch bởi nơi đây có rất nhiều điểm tham quan du lịch như: Khu di tíchlịch sử văn hoá Phủ Dầy (xã Kim Thái), đền thờ trạng nguyên Lương ThếVinh (xã Liên Bảo), đền Giáp Nhất (xã Quang Trung), đền Đông (xã ThànhLợi), đền chùa Vĩnh Lại (xã Vĩnh Hào), đền Vụ Nữ (xã Hợp Hưng), khu dulịch sinh thái Núi Ngăm (thuộc địa phận xã Minh Tân và xã Kim Thái), làngnghề mây tre đan Vĩnh Hào, làng nghề sơn mài Liên Minh,…

2.2 Cơ sở thờ tự

2.2.1 Lịch sử xây dựng

Tên gọi “Phủ Dầy” xuất phát từ truyền thuyết Bà Chúa Liễu Hạnh vìquá nhớ thương gia đình, chồng con nên đã để lại một chiếc giầy ở trần giantrước khi về thượng giới hoặc có huyền thoại lại kể rằng: “Vua đi qua vùngnày và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng mộtđôi giầy nên đã lập nơi thờ tự và gọi đó là Phủ Dầy”

Trang 30

Khi gọi Phủ Dầy còn vì chính nơi này có món bánh giầy- giò nổi tiếng,lại có người cho rằng: Phủ Dầy xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánhgiầy trước cửa phủ Nhưng một số ý kiến cho rằng Phủ Dầy bắt nguồn từ tênmột làng cổ là “Kẻ giầy” Theo “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” của TrọngNội, Xuất bản năm 1959 thì: “đời Vua Anh Tông (1557) làng Kẻ Giầy đổithành xã An Thái gồm: Vân Cát, Vân Cầu, Vân La (Vân Đình) và Vân Miếu.Đến đời Gia Long, Vân Cát chia thành 2 xã là Vân Cát và Kim Thái Sang đời

Tự đức (1860) xã An Thái đổi thành 2 thôn Vân Cát và Tiên Hương xã KimThái, huyện Vụ Bản, Tỉnh Nam Định” [TL10;Tr56]

Như vậy, Vân Cát là nơi sinh ra, Tiên Hương là quê chồng và là nơichôn cất Mẫu Liễu Hạnh khi Bà qua đời sau lần giáng trần thứ nhất Phủ Dầychính là “cái nôi” sinh ra Thánh Mẫu Liễu Hạnh và là tên gọi chung cho mộtquần thể các di tích của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở huyện Vụ Bản NamĐịnh Tên di tích được gọi theo địa danh ở địa phương

Theo nhà nghiên cứu Bùi Văn Tam trong cuốn “Phủ Dầy và tín ngưỡngMẫu Liễu Hạnh” (tái bản năm 2004) thì: “Quần thể Phủ Dầy nằm trên địa bàn

xã Kim Thái, chủ yếu là hai thôn Vân Cát và Tiên Hương gồm 19 di tích…”[TL1;Tr56] Tại Phủ Dầy có ba di tích lớn, tiêu biểu là Phủ Tiên Hương (còngọi là phủ chính), Phủ Vân Cát và Lăng Mẫu Liễu Những di tích này cũng là

di tích trực tiếp thờ phụng Thánh Mẫu Liễu Hạnh Ngoài ra, còn hơn chục đềnphủ có liên quan đến Mẫu Liễu Hạnh như đền thượng, đền giếng Găng, đềncông đồng, Phủ Tổ, Phủ Nội,…

Phủ Tiên hương tọa lạc trên một mảnh đất rộng thuộc thôn TiênHương, mặt hướng ra đường 56, một phía nằm liền sát đường liên xã Đây làthế rất đẹp, theo quan niệm dân gian nó nằm trên đầu con rồng, hồ bán nguyệttrước phủ là hàm rồng, phía Nam có con lạch gọi là vòi rồng Theo nhữngngười dân sống lâu năm ở gần đây họ nói rằng xưa kia di tích phủ Tiên

Trang 31

Hương còn làm bằng tranh, mãi đến năm 1642 vua Lê Thần Tông xuống chỉcho dân địa phương xây lại đền và lợp ngói Ngôi đền này đã qua nhiều nămtrùng tu tôn tạo, xây dựng và mở rộng to đẹp như ngày nay [A1;Tr57]

Quần thể phủ Tiên Hương với 19 tòa và 81 gian lớn nhỏ Nhìn từ ngoàivào ta thấy trước nhất là giếng tròn theo quy luật phong thủy đối đáp: đất -nước, nơi theo quan niệm dân gian là tụ thủy tụ phúc Giữa hồ là ụ đất trên đódựng cột cờ, nơi treo cờ thần mỗi khi mở hội Từ bờ giếng tròn vào phía trong

là sân rộng với 6 hàng cột nghi môn trụ Lùi vào phía trong sân đình là Baphương đình, phương du xếp dàn hàng ngang, trong đó có phương du ở giữa,còn phương đình thì ở hai bên dùng làm gác chuông, gác trống Lùi vào tronggần kề ngôi Phủ chính là hồ bán nguyệt có đường kính 20m Chính giữa gờngoài nhô lên bức bình phong xây bằng đã theo kiểu cuốn thư, với ý nghĩache chắn những độc khí thổi vào trong phủ Đối xứng với hai bên hồ, nhà bia

và lầu cô ở một phía và lầu bia và lầu cậu ở phía đối xứng Tòa nhà phủ chính

là một công trình kiến trúc liên hoàn nối mái với nhau theo kiểu nhiều lớp từngoài vào trong hình thành tứ cung

Phủ Vân Cát nằm ở thôn Vân Cát xã Kim Thái, cách phủ Tiên Hươngkhoảng 1 km, trên một khoảng đất rộng chừng trên 2 mẫu Bắc Bộ (trên 644m2), giữa cánh đồng, tách biệt với khu dân cư Phủ Vân Cát nằm giữa đền thờ

Lý Nam Đế một bên và chùa một bên, có chung khoảng sân rất rộng, tạothành quần thể Mẫu- Thần- Phật Toàn bộ công trình kiến trúc được chiathành hai phần, phía trong Ngũ môn hay Ngọ môn là khoảng sân rộng và phủthờ, bên ngoài là phương du và hồ bán nguyệt Đây là công trình kiến trúc haitầng, to cao, bề thế Dưới chân ngũ môn là các bi ký, ghi lại sự tích ThánhMẫu Liễu Hạnh giáng sinh, việc tiến cúng để dựng phủ Bên ngoài ngũ môn

là phương du nằm trên hồ bán nguyệt, trước bờ hồ bán nguyệt là con đườngvòng ôm lấy hồ, hai đầu hồ là hai cầu đá nối lên tòa phương du Phía trong

Trang 32

Ngũ môn là sân rộng tiếp giáp với phủ Thánh Mẫu Phủ Vân Cát kiến trúctheo mô hình “Nội trùng thiềm, ngoại chữ quốc” [A2;Tr57]

Lăng Thánh Mẫu Liễu Hạnh nằm trên cánh đồng thuộc địa phận thônTiên Hương, nằm trên con đường từ phủ Tiên Hương đến phủ Vân Cát.Tương truyền rằng vào năm 1938 vua Bảo Đại cho Hộ Xuân Kinh triều đìnhHuế tiến hành hưng công xây dựng khu lăng mộ Mẫu bằng đá để trả ơn Mẫu

đã ban cho hoàng tử Bảo Long Lăng được xây dựng trên khu đất rộng 652m2, hướng lăng xây mặt về phủ Tiên Hương Trung tâm lăng là ngôi mộ hìnhbát giác, mỗi cạnh khoảng 10m với đồ hình bát quái Xung quanh có đườngviền tạo hình núm vú hình quả lựu, tượng trưng cho bầu sữa mẹ, mang tínhsinh sôi Từ ngoài vào tới mộ có 5 vòng tường thấp, mỗi vòng cách nhau từ3,6m đến 1,2m Trên các cột bổ trụ chạy vòng tường đều đặt các nụ sen bằng

đá, toàn bộ quanh lăng có 60 búp sen đều nhuốm màu hồng như màu nụ senmới nở Bao quanh lăng là các hàng cây cổ thụ râm mát, ngoài cùng là 4 trụđồng xây cao ở bốn góc [A3;Tr58]

Theo các tài liệu nghiên cứu, hai phủ Tiên Hương, Vân Cát được xâydựng sớm nhất, vào thời Hậu Lê - thế kỷ 17; cùng với đó, dân làng Kim Thái

mở hội tưởng nhớ ngày Giáng Tiên về Thượng giới của Mẫu Liễu Hạnh(ngày mồng ba tháng ba âm lịch hằng năm) Lễ hội được mở rộng phạm vi,quy mô gắn liền với công lao của Vương phi Trần Thị Ngọc Đài (1577 -1669), người tổng Đồng Đội, huyện Thiên Bản (nay là xã Cộng Hòa, huyện

Vụ Bản) Bà là người đã xin chúa Trịnh miễn cho dân làng mình không phải

đi lao dịch đắp đê ở kinh thành Nhớ lời bà dặn, khi về qua Phủ Dầy dân lànglàm lễ tạ Thánh Mẫu Liễu Hạnh bằng cách xếp cuốc xẻng thành chữ "Cungtạ" Từ đó "Hoa trượng hội" (còn gọi là hội Kéo chữ) ra đời và trở thành mộthoạt động tiêu biểu trong Lễ hội Phủ Dầy (có phát triển thêm các chữ "Quốcthái dân an", "Thiên hạ thái bình"), được duy trì đến ngày nay

Trang 33

Năm 1936, Hội Kinh Xuân Phổ Hóa (Huế) xin triều đình nhà Nguyễncho phép khai thác, vận chuyển đá từ núi Nhồi (Thanh Hóa) về xây dựngLăng Mẫu (Lăng Bà Chúa Liễu Hạnh) Hai năm sau, Lăng Mẫu được hoànthành Cùng với đó, một số di tích khác ở hai thôn Tiên Hương, Vân Cát(thuộc xã Kim Thái) cũng được nhân dân xây dựng, trùng tu và rước thần vịcủa các vị thần trong hệ thống Tứ phủ vào thờ Phủ Dầy trở thành trung tâmcủa tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ Trong đó hai phủ Tiên Hương,Vân Cát và Lăng Mẫu là di tích hạt nhân.

2.2.2 Đối tượng thờ cúng

Thánh Mẫu Liễu Hạnh là nhân vật trung tâm được thờ phụng trong các

di tích ở Phủ Dầy cũng như trong lễ hội Phủ Dầy Đây là một nhân vật vừa làthiên thần, vừa là nhân thần với những huyền thoại dày đặc yếu tố kỳ ảo.Nguồn tư liệu về bà Chúa Liễu Hạnh rất phong phú, bao gồm các truyềnthuyết, thần tích, các gia phả, ngọc phả của các dòng họ sinh sống tại PhủDầy

Theo các sách, truyện hay tầm phả còn chép thì bà Liễu Hạnh sinh năm

1557 tại làng Vân Cát, là con của ông bà Lê Công Chính và Trần Thị Phúc.Năm 18 tuổi bà lấy ông Đào Long ở làng Tiên Hương gần kề với làng VânCát Bà mất năm 21 tuổi không biết vì lý do gì để lại một con thơ Miếu thờ

bà hiện nay được lập ở hai làng Vân Cát và Tiên Hương

Sự thật này lại được bao phủ bởi nhiều huyền thoại đan xen Có ngườicho rằng, cha bà Liễu Hạnh đã từng nằm mộng được lên thiên đình Tại đâyông chứng kiến cảnh Đệ nhị Tiên chúa Quỳnh Nương do phạm lỗi đánh vỡchén ngọc mà bị đày xuống trần gian Khi ông tỉnh giấc, vợ ông đã sinh đượcmột con gái Đêm ấy có hương lạ thơm nức ở trong nhà, trăng sáng soi vàocửa sổ Nhớ lại giấc mộng ông bà liền đặt tên con là Lê Thị Thắng và mangbiệt hiệu là Giáng Tiên (Tiên giáng trần) Ngoài ra, còn nhiều huyền thoại

Trang 34

khác về sự hiển linh của bà như việc bà giúp nhà Trịnh dẹp giặc, hội kiến vớitrạng Bùng (Phùng Khắc Khoan) khi ông đi xứ Trung Quốc về Trong phủcòn có hẳn một bài thơ về cuộc du ngoạn tao phùng giữa bà với trạng Bùngđược chạm khắc rất rõ ràng Vì thế mà dường như không ở đâu có được sựđan xen quấn quýt giữa hiện thực và huyền thoại như một bài thơ làm đẹpthêm cho đời bằng vùng đất lễ hội Phủ Dầy này.

Trong tập 1 “Đạo Mẫu Việt Nam” của Giáo sư Ngô Đức Thịnh có giảithích về sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh: “Chuyện kể rằng vào đờinhà Lê, Ngọc Hoàng có một cô công chúa đặt tên là Liễu Hạnh, rất xinh đẹp,

có tài năng, nhưng tính tình ương bướng Cô thường không chịu theo khuônphép của Thiên đình, đến nỗi làm cho Thượng đế nổi giận, bắt đầy xuống trầngian trong thời hạn ba năm…” [TL8;Tr56]

Căn cứ vào “Quảng Cung linh từ phả ký”, “Quảng Cung linh từ bi ký”

và "Cát Thiên tam thế thực lục" hiện đang lưu giữ ở địa phương do Ban quản

lý di tích - danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm và một số tài liệu trong Hộiđồng khoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích bà Liễu Hạnhnhư sau:

Lần giáng sinh đầu tiên vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã

Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam; có ông PhạmHuyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ấpNhuế Duệ, cũng xã Vỉ Nhuế (nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, Ý Yên, tỉnhNam Định)

Hai ông bà là những người hiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm mộtnỗi đã ngoài 40 mà chưa có con Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thầnbáo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầuthai làm con, từ đó bà có thai Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 nămQuý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang Ông Huyền Viên ngồi

Trang 35

đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềmnhà và bà sinh một bé gái Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánhđều thành thạo, đảm đang Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏinhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu,canh cửi quán xuyến công việc gia đình

Ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1462), cha của nàng qua đời Hainăm sau mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh Phạm Tiên Nga đã làm lễ an tángcha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, ở đây có đềnthờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga)

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầuchu du khắp nơi làm việc thiện (lúc này Tiên Nga vừa tròn 35 tuổi)

Bà đã ủng hộ tiền của và công sức giúp dân đắp đê ngăn nước Đại Hà

từ bên kia phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch Nhi (nay chính làđường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng Đây cũngchính là con đường nối di tích Phủ Dầy với Phủ Quảng Cung)

Cùng với việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫnnước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữabệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư,khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành

Năm 36 tuổi, bà đến bờ Sông Đồi dựng một ngôi chùa trên mảnh vườnnhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa.Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm BồTát, bên dưới thờ cha và mẹ

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường - Ý Yên, Nam Định,chùa Long Sơn - Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá - Bình Lục,

Hà Nam Tại chùa Đồn xá, Bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạydân trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải

Ngày đăng: 07/11/2017, 20:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Văn Tam (2004), “Phủ Dầy và tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phủ Dầy và tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh
Tác giả: Bùi Văn Tam
Nhà XB: NxbVăn hóa dân tộc
Năm: 2004
2. Chu Xuân Giao (2013), “Mẫu Liễu với sự kiện phát hiện ngọc phả bằng đồng ở đền Sòng năm 1939: Bối cảnh, nội dung và dư luận”, Thông báo văn hóa 2011 - 2012, Viện Nghiên cứu văn hóa, Nxb Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mẫu Liễu với sự kiện phát hiện ngọc phảbằng đồng ở đền Sòng năm 1939: Bối cảnh, nội dung và dư luận
Tác giả: Chu Xuân Giao
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2013
3. Hồ Đức Thọ (2010), “Huyền tích thánh mẫu Liễu Hạnh và di sản văn hoá - lễ hội Phủ Dầy”, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền tích thánh mẫu Liễu Hạnh và di sản vănhoá - lễ hội Phủ Dầy
Tác giả: Hồ Đức Thọ
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2010
8. Ngô Đức Thịnh (2009), “Đạo Mẫu Việt Nam”, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo Mẫu Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2009
9. Ngô Đức Thịnh (1996), “Đạo mẫu ở Việt Nam”, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo mẫu ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá thôngtin
Năm: 1996
10. Trọng Nội (1959), “Sự tích công chúa Liễu Hạnh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tích công chúa Liễu Hạnh
Tác giả: Trọng Nội
Năm: 1959
12. Vũ Ngọc Khánh (2008), “Tục thờ Đức Mẫu Liễu - Đức Thánh Trần”, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ Đức Mẫu Liễu - Đức ThánhTrần
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2008
11. Ty Văn hóa Hà Nam Ninh (1976), ‘‘Đây! Thực chất lễ hội Phủ Giày” Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w