tài liệu chính xác và thiết thực dành cho sinh viên luật cũng như sinh viên đang theo học môn những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa mac lenin. Bài tiểu luận có nội dung sâu sắc nghiên cứu kĩ về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất từ đó ứng dụng sâu sắc vào thực tiễn đời sống hằng ngày
Trang 1MỞ ĐẦU:
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất Chính vì thế mà muốn quá trình sản xuất diễn ra thuận lợi thì quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đây là quy luật tất yếu của tự nhiên, bất kì quốc gia nào muốn phát triển thì đều phải ứng dụng được quy luật ấy trong thực tiễn Việt Nam cũng không ngoại lệ Vì vậy, em chọn đề tài: “ Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, Vận dụng quy luật này ở Việt Nam” để làm bài tập lớn Qua bài làm này, em mong sẽ phần nào làm rõ hơn được quy luật này cũng như sự vận dụng của quy luật ấy vào Việt Nam hiện nay
NỘI DUNG:
1 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
1.1 Khái niệm và kết cấu của lực lượng sản xuất:
1.1,1 Khái niệm:
Bất kỳ một quá trình sản xuất vất chất nào cũng cần phải có các nhân tố thuộc về người lao động (như năng lực, kỹ năng, tri thức, của người lao động) cùng các tư liệu sản xuất nhất định (như đối tượng lao động, công cụ lao động, các tư liệu phụ trợ của quá trình sản xuất, ) Toàn bộ các nhân tố
đó tạo thành lực lượng sản xuất của quá trình sản xuất
Lực lượng sản xuất là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần tạo
thành sức mạnh thực tiễn cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn, phát triển của con người
Như vậy, lực lượng sản xuất là những nhân tố có tính sáng tạo và tính sáng tạo đó có tính lịch sử
1.1.2: Kết cấu của lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất bao gồm hai mặt cơ bản: tư liệu sản xuất và người lao động
Tư liệu sản xuất là những tư liệu để tiến hành sản xuất, bao gồm tư
liệu lao động và đối tượng lao động Trong đó tư liệu lao động bao gồm công cụ lao động (máy móc, ) và đối tượng lao động khác (phương tiện để vận chuyển, bảo quản, chứa đựng công cụ lao động và sản phẩm) Còn đối tượng lao động gồm hai bộ phận là những yếu tố nguyên nhiên vật liệu có sẵn trong tự nhiên (đất đai, than đá, ) và một bộ phận trải qua sự cải tạo của con người – còn gọi là nhân tạo ví dụ như nhựa, gỗ ép Trong tư liệu sản xuất thì công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất
Trong các nhân tố tạo thành lực lượng sản xuất, người lao động là
nhân tố giữ vai trò quyết định Bởi vì suy đến cùng thì các tư liệu sản xuất
Trang 2chỉ là sản phẩm lao động của con người, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ thực tế sử dụng và sáng tạo của người lao động Mạt khác trong tư liệu sản xuất, nhân tố công cụ lao động là nhân tố phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
và thể hiện tiêu biểu trình độ con người chinh phục giới tự nhiên
1.2 Khái niệm và kết cấu của quan hệ sản xuất:
1.2.1: Khái niệm:
Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật
chất của quá trình sản xuất Thế nhưng chỉ có lực lượng sản xuất vẫn chư thể diễn ra quá trình sản xuất hiện thực được mà còn cần phải có những quan hệ sản xuất đóng vai trò là hình thức xã hội của quá trình sản xuất ấy
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức – quản lí quá trình sản xuất và quan hệ trong phân phối kết quả của quá trình sản xuất đó Những quan hệ sản xuất này tồn tại trong mối quan hệ thống nhất và chí phối, tác động lẫn nhau trên cơ sở quyết định của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất 1.2.2: Kết cấu của quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất bao gồm 3 mặt: mặt quan hệ sản xuất về tư liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức quản lí quá trình sản xuất, quan hệ về phân phối sản phẩm sau quá trình sản xuất
Quan hệ sản xuất về tư liệu sản xuất (quan hệ sở hữu) nói lên ai là chủ
sở hữu đối với nhà máy, xí nghiệp, các thiết bị, các nguyên nhiên vật liệu trong quá trình sản xuất
Quan hệ về tổ chức, quản lí quá trình sản xuất (quan hệ quản lý) nói
lên ai là người thực hiện quyền tổ chức, quản lý, điều hành, giám sát quá trình (đó là người sở hữu tư liệu sản xuất)
Quan hệ phân phối sau quá trình sản xuất (quan hệ phân phối) nói lên
ai là người có quyền quyết định việc phân phối, chia thành quả của quá trình sản xuất cho ai, bao nhiêu và như thế nào
1.3 Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan
hệ thống nhất biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yêu của quá trình sản xuât, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là “hình thức xã hội” của quá trình đó Trong đời sống hiện thực, không có sự kết hợp các nhân tố của quá trình sản xuất để tạo ra năng lực thực tiễn cải biến các đối tượng vật chất tự nhiên nào
Trang 3lại có thể diễn ra bên ngoài những hình thức kinh tế nhất định Ngược lại cũng không có một quá trình sản xuất nào có thể diễn ra trong đời sống hiện thực chỉ với những quan hệ sản xuất không có nội dung vật chất của nó Như vậy, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau Đây là yêu cầu tất yếu, phổ biến diễn ra trong mọi quá trình sản xuất hiện thực của xã hội Tương ứng với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất cũng tất yếu đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ đó trên cả ba phương diện: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ chức – quản lý quá trình sản xuất và phân phối kết quả của quá trình sản xuất Chỉ có như vậy, lực lượng sản xuất mới có thể duy trì, khai thác _
sử dụng và phát triển trong một hình thức kinh tế - xã hội nhất định
Mối quan hệ thống nhất giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất tuân theo tính tất yếu khách quan: quan hệ sản xuất phải phụ thuộc vào trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử xác định; bởi vì, quan hệ sản xuất, chỉ là hình thức kinh tế - xã hội của quá trình sản xuất, còn lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, kỹ thuật của quá trình đó Tuy nhiên, quan hệ sản xuất, với tư cách là hình thức kinh tế - xã hội của quá trình sản xuất, luôn luôn có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất Sự tác động này có thể diễn ra theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào tính phù hợp hay không phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng snả xuất Nếu phù hợp sẽ có tác dụng tích cực và ngược lại, không phù hợp sẽ có tác dụng tiêu cực
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan
hệ thống nhất có bao hàm khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn.
Trong phạm vi tương đối ổn định của một hình thức kinh tế - xã hội xác định, lực lượng sản xuất được bảo tồn, không ngừng được khai thác – sử dụng và phát triển trong quá trình sản xuất, tái sản xuất của xã hội Tính ổn định, phù hợp của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất càng cao thì lực lượng sản xuất càng có khả năng phát triển, nhưng chính sự phát triển của lực lượng sản xuất lại luôn luôn tạo ra khả năng phá vỡ sự thống nhất của những quan hệ sản xuất tư trước tới nay đóng vai trò là hình thức kinh tế
- xã hội cho sự phát triển của nó Những quan hệ sản xuất này, từ chỗ là những hình thức phù hợp và cần thiết cho sự phát triển của lực lượng sản xuất đã trỏ thành những hình thức kìm hãm sự phát triển đó, nó đã tạo ra mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, từ đó xuất hiện nhu cầu khách quan phải thiết lập lại mối quan hệ thống nhất giữa chúng Khi phân tích sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, C.Mác đã từng chỉ ra rằng: “Tới một giai đoạn phát triển
Trang 4nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất cảu xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có…, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu một cuộc cách mạng xã hội Chính nhờ các cuộc cách mạng xã hội mà những quan hệ sản xuất cũ của xã hội được thay thế bằng một quan hệ sản xuất mới, phù hợp với nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất đã phát triển, tiếp tục phát huy tác dụng tích cực, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất trong một hình htức quan hệ sản xuất mới Như vậy, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ mâu thuẫn biện chứng giữa nội dung và vật chất, kỹ thuật với hình thức kinh tế - xã hội của quá trình sản xuất Sự vận động của mâu thuẫn này
là một quá trình đi từ sự thống nhất đến những khác biệt và đối lập, xung đột, từ đó làm xuất hiện nhu cầu khách quan phải được giải quyết theo nguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự vận động của mâu thuẫn này cũng tuân theo quy luật:
“Từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại”, quy luật “phủ định của phủ định”, khiến cho quá trình phát triển của nền sản xuất vừa có tính nhảy vọt với những bước đột biến, kế thừa và vượt qua của nó ở trình độ ngày càng cao hơn
Mâu thuẫn và sự vận động của mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là nội dung cơ bản của “quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất” Sự tác động của quy luật này tạo ra nguồn gốc và động lực cơ bản nhất đối với sự vận động, phát triển của phương thức sản xuất, nền sản xuất vật chất và do đó là sự vận động, phát triển của toàn bộ đời sống xã hội
2 Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam:
2.1.Sự vận dụng sai lầm trước năm 1986:
2.1.1: Thực trạng của lực lượng sản xuất trước năm 1986:
Ở thời kỳ này, nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến, lại mới trải qua hai cuộc chiến tranh chống hai cường quốc lớn là Mỹ và Pháp kéo dài nên trước thời kỳ đổi mới nước ta là một nước nghèo nàn, lạc hậu do đó
mà lực lượng sản xuất thời kỳ này cũng còn có nhiều hạn chế, tư liệu sản xuất chủ yếu là “con trâu đi trước cái cày theo sau” Trình độ của người lao động rất thấp, hầu hết không có chuyên môn, tay nghề, phần lớn lao động chưa qua đào tạo Lao động Việt Nam thời bấy giờ chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp, họ lao động sản xuất chủ yếu dự trên kinh nghiệp sản xuất của ông cha ta truyền lại mà không được đào tạo ứng dụng những văn minh của các nước tiên tiến Tuy nhiên, trình độ của lực lượng sản xuất thời
Trang 5bấy giờ lại có sự phân chia theo vùn miền, ở các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội… ngừoi lao động có trình độ cao hơn so với các vùng miền khác trong xã hội Như vậy có thể thấy lực lượng sản xuất của nước ta thời
lỳ này về cơ bản còn thấp kém, lạc hậu, nghèo nàn và phát triển chưa dồng đều
2.1.2: Thực trạng của quan hệ sản xuất:
Trong khi đó Đảng và Nhà nước lại chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất dựa trên chế dộ công hữu về tư liệu sản xuất, điều này được thể hiện rõ trong điều 18 Hiến pháp năm 1980 Các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân dựa trên chế độ tư hữu đều không được nhà nước thừa nhận
Trước yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, nước ta đã vứt bỏ hết các yếu tố
tư bản chủ nghĩa với quan niệm tư bản chủ nghĩa là xấu, không áp dụng nó ở Việt Nam “Nước cộng hào xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ một xã hội mà nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa,…” (Điều 15 Hiến pháp 1980)
Với một nước còn đang nghèo nàn, lạc hậu như nước ta thời bấy giờ thì quan
hệ sản xuất chủ nghĩa xã hội là quá cao, không phù hợp vói tình hình thực tế của kinh tế đất nước
2.1.3 Kết luận về sự vận dụng quy luật trong giai đoạn này:
Việc vận dụng sai quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đã gây nên những hậu quả nghiệm trọng cho đất nước ta thời kỳ bấy giờ: kinh tế đất nước vô cùng khó khăn, kiệt quệ, đời sống người dân vô cùng nghèo nàn, khổ cực
Từ năm 1977 đến 1979, việc triển khai Nghị quyết Đại hội IV vấp váp
và tổn thất trên tất cả các mặt công nghiệp hóa, cải tạo công thương nghiệp, hợp tác hóa nông nghiệp, tổ chức lại sản xuất và cải tiến quản lý Sản xuất bị kìm hãm, đời sống nhân dân đi xuống nhanh chóng, nhất là ở phía Nam Năm 1978 -1979, hậu quả khắc nghiệt của cơ chế bao cấp đã lan ra đến tận chiến trường biên giới Bộ đội chiến đấu dù được ưu tiên tiêu chuẩn 21kg gạo / 1 tháng nhưng vẫn phải độn 5 -7 kg khoai mỳ “chui” ở vùng đô thị thiếu nguyên liệu phải mua bột mỳ chợ đen với giá cao ngất ngưởng, còn những người lính trên mảnh đất đồng tháp mười màu mỡ nhất cả nước lại phải ăn bột mỳ1 Đến cuối năm 1985 kinh tế nước ta ngày càng trở nên khó khăn, ản xuất phát triển chậm (tốc độ tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân dưới 1%/1năm); năng suất lao động quá thấp Nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng Chúng ta không thực hiện được mục tiêu
đó là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân
Số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn, đời sống nhân dân thiếu thốn, nhiều hiện tượng trong xã hội có tính tiêu cực nghiêm trọng Như vậy, tình hình
1 Theo báo http://www.tuanvietnam.net/vi-tuong-tien-phong-khai-mo-cong-cuoc-doi-moi
Trang 6kinh tế - xã hội nước ta gặp những khó khăn gay gắt; sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp; quan hệ sản xuất chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn,
Tình hình diễn biến đến mức, vào khoảng từ cuối năm 1985 đến 1986, tức là sau thất bại của cuộc tổng điều chỉnh giá – lương – tiền (9 -1985), đại
đa số quần chúng nhân dân thấy không thể tiếp tục sống như cũ được nữa; đồng thời các cơ quan lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước cũng thấy rõ không thể tiếp tục duy trì những chủ trương, chính sách đã lỗi thời, hoặc chỉ thay đổi có tính chất chắp vá, nửa vời
Sau giai đoạn đổi mới năm 1986 đến nay, thực trạng của lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất đã có những bước phát triển nhất định
2.2 Sự vận dụng quy luật này ở nước ta từ năm 1986 đến nay
2.2.1: Thực trạng của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay:
Nhận thức được sai lầm trong quá trình xây dựng kinh tế, trong đó đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã thẳng thắn thừa nhận khuyết điểm, chủ trương đổi mới phương thức quản lí kinh tế và cho đến nay đã đạt được những thành tựu đáng kể Lực lượng sản xuất cũng có nhiều biến chuyển rõ rệt
Do được Đảng và Nhà nước quan tâm kịp thời và đúng mức, người lao động nước ta không ngừng được nâng cao về cả chất lượng và số lương Nam 2005, lực lượng lao động cả nước đạt 44.385 nghìn người, bình quân tăng 844 nghìn ngừoi/ năm trong giai đoạn 1996 -2005, với tốc độ tăng bình quân 1,7% Về chất lượng lao động, nếu như năm 1996, tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo là 12,3% thì đến năm 2005 là 24,79% như vậy số lao động đã qua đào tạo tăng 2,5 lần2 Hệ thống trường dạy nghề ngày càng được mở rộng, cả nước có gần 3000 cơ sở đào tạo nghề gồm trường cao đẳng, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch
vụ, các hội nghề nghiệp, đoàn thể, làng nghề Ở Việt Nam những năm gần đây, đội ngũ tri thức tăng nhanh vượt bậc Năm 2003 -2004 tổng số sinh viên đại học cao đẳng là 1.131.030 sinh viên đến năm 2007 -2008 tăng lên 1.603.484 sinh viên Số trí thức có trình độ thạc sĩ , tiến sĩ cũng tăng nhanh Theo thống kê cả nước đến 2008 có hơn 14000 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học; đang đặt mục tiêu trong 10 năm tới sẽ có 20000 tiến sĩ Nhìn vào những con
số này cho thấy lực lượng trí thức và công chức thực sự là một nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước Nhìn chung trong 5 năm trở lại đây, dạy nghề đã từng bước đáp ứng được nhu cầu nhân lực qua đào
2 Theo báo http://hanoimoi.com.vn/Ban-in/Chung-khoan/82842/lao-273%3B7897%3Bng-273%3Ba-qua-273%3Bao-t7841%3Bo-t259%3Bng-25-l7847%3Bn
Trang 7tạo nghề cho các doanh nghiệp và thị trường lao động Người lao động có thể đảm nhận được những công việc chủ chốt trong sản xuất, kể cả những ngành công nghiệp cao, góp phần tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Mặc dù vậy nhưng nguồn nhân lực lao động có tay nghề cao và trình
độ chuyên nghiệp của nước ta vẫn còn chưa nhiều so với nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới Trình độ của người lao động còn chưa đồng đều
Máy móc các trang thiết bị hiện đại ngày càng được sử dụng rộng rãi trong tất cả các ngành kinh tế Trong nông nghiệp các loại máy móc ngày càng phát triển hiện đại, phục vụ nhu cầu sản xuất của người dân cũng như tiết kiệm sức lao động: máy tuốt lúa, máy gặt, các loại máy hiện đại ngày càng được bà con ưa chuộng và ứng dụng một cách nhanh chóng và hợp lí trong sản xuất nông nghiệp Các loại giống cây trồng và vật nuôi cnagf ngày càng được cải biến với chất lượng giống và năng suất cũng như chủng loại
đa dạng, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như giá thành cho bà con nông dân Việc ứng dụng những công nghệ mớicũng được đẩy mạnh như việc ứng dụng kỹ thuật hạt nhân… Đồng thời hệ thống các nhà máy, xí nghiệp công
ty cũng có sự tăng đột biến về số lượng cũng như chất lượng làm việc, nagỳ càng đáp ứng được nhu cầu của người dân
Nhìn chung công cụ lao động của nước ta vẫn còn lạc hậu so với thế giói Máy móc phục vụ cho sản xuất vẫn còn chậm cải tiến, chủng loại máy móc hãy còn khá nghèo nàn Tư liệu sản xuất ở nước vẫn còn thấp kém so với thế giới chất lượng và hiệu quả chưa thực sự cao và còn có sự phân hóa giữa các vùng trong nước Khoảng 40% số doanh nghiệp trong ngành kéo sợi Việt Nam đang phải sử dụng máy móc được sản xuất cách đây hơn 15năm – theo ông Nguyễn Hồng Giang tổng thư ký Hiệp hội bông sợi Việt Nam Theo số liệu của tổng cục hải quan có gần 75% doanh nghiệp Việt Nam sử dụng máy móc nhập khẩu thiết bị từ Trung Quốc Bên cạnh những thiết bị mới, công nghệ hiện đại, do ham rẻ, nhiều doanh nghiệp đã nhập thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu, kém hiệu quả…
Sự sở hữu tư liệu sản xuất còn chưa đồng dầu trong nhân dân dẫn đến
sự phân hóa giàu nghèo càng trở nên sâu sắc, tạo nên sự phân tầng xã hội về mặt kinh tế trong đó tầng lớp trên chiếm tỉ trọng lớn tài sản và các ưu thế kinh tế Công bố mới nhất của tổng cục thống kê, về kết quả cuộc khảo sát mức sống hộ dân cư, cho thấy chênh lệch giàu nghèo tại Việt Nam lên tới 9,2 lần Trong khi thu nhập bình quân của ngườiViệt Nam đạt 1,387 triệu đồng/người/tháng, thì nhóm nghèo nhất mỗi tháng mỗi người chỉ thu nhập 369.000 đồng Khoảng cách này đang giãn ra ngày một rộng hơn,
Trang 8Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức kinh doanh đa dạng, phát huy mọi năng lực sản xuất
2.2.2 Thực trạng của quan hệ sản xuất ở nước ta hiện nay:
Từ sau đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, Đảng và Nhà nước đã xác định lại các quan hệ sản xuất ở nước ta Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng, tháng 10-1986 Đảng bộ Nghĩa Bình tiến hành Đại hội lần thứ IV với
sự có mặt của 517 đại biểu đại diện cho 40.000 đảng viên Đại hội quyết định phương hướng nhiệm vụ kinh tế-xã hội kế hoạch 5 năm 1986-1990 và nhiệm vụ chung của Đảng bộ là ổn định tình hình kinh tế-xã hội, thực hiện 5 mục tiêu và 3 chương trình kinh tế lớn về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Hình thành từng bước cơ cấu công-nông nghiệp trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đổi mới cơ chế quản lý nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế, đơn vị kinh tế và người lao động hăng hái phát triển sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả Kiên quyết xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, thiết lập và hình thành động bộ cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch tóan kinh doanh xã hội chủ nghĩa3 Bằng đường lối, chính sách pháp luật đúng đắn bước đầu nhà nước ta đã cho phép tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân,
sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng” (điều 15 Hiến pháp 1992)
Như vậy, sau giai đoạn đổi mới nhà nước ta đã thừa nhận nhiều loại quan hệ sản xuất với trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất: quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa Việc thừa nhận này của Đảng và nhà nước là hoàn toàn phù hợp thực trạng của lực lượng sản xuất nước ta hiện nay: trình độ còn thấp lại không đồng đều giữa các vùng miền, các ngành nghề; ở nhiều nơi người dan vẫn sử dụng cái cuốc, cái cày để lao động trong khi nhiều nơi thì người lao động lại làm việc trong các phòng thí nghiệm, các nhà máy, công ty, các khu công nghệ cao Đảng và nhà nước ta đã có cái nhìn đúng đắn và vận dụng một cách sáng suốt quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 2.2.3 Kết luận về sự vận dụng quy luật trong giai đoạn này:
Nhà nước ta đang dần có những bước tiến triển mạnh mẽ và dần vận dụng một cách hợp lí quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của
3 Theo báo http://www.thuvienbinhdinh.com/web/diachi/uniisis.asp?action=view&PID=3287
Trang 9lực lượng sản xuất vào trong nền kinh tế ngày nay Chính thế mà nhà nước Việt Nam đang dần đạt được những thành tựu nhất định về kinh tế
Nền kinh tế nước ta giai đoạn này có tốc đọ tăng trưởng nhanh Trong hơn 20 năm đổi mới, GDP của Việt Nam đã tăng liên tục Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) GDP chỉ tăng trưởng bình quân 3,9%/ năm thì trong 5 năm tiếp theo (1991-1995) đã nâng lên đạt mức bình quân 8,2%4 Trong giai đoạn sau GDP nước ta càng có bước phát triển mạnh mẽ hơn Có thể thấy việc ứng dụng đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuât có ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế nước ta Việc thay đổi chính sách phù hợp của Đảng và Nhà nước phù hợp với bối cảnh đất nước đã tạo nhiều cơ hội cho Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
2.2.4 Phương hướng vận dụng tốt quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay:
Nâng cao trình độ người lao động bằng cách phát triển giáo dục đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề Nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục đào tạo nghề, nhằm đẩy mạnh phát triển nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng Tiếp tục đầu tư xây dựng, phát triển và đổi mới để các trường, các trung tâm, cơ sở dạy nghề đáp ứng khả năng đào tạo đội ngũ lao động kỹ thuật có chất lượng ở các cấp trình độ ( cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề và trung tâm dạy nghề thường xuyên) Tập trung đào tạo các ngành nghề mà doanh nghiệp, nền kinh tế, xã hội đang có nhu cầu, chú trọng các ngành như: công nghiệp khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí, chế biến, điện, đóng tàu, xây dựng, sản xuất và chế biến nông, lâm thủy sản, dịch vụ du lịch v.v nhất là lao động kỹ thuật có tay nghề cao Tập trung ưu tiên đầu tư cho các trường, trung tâm dạy nghề trọng điểm, kết hợp và khuyến khích xã hội hóa công tác đào tạo nghề nhằm động viên huy động có hiệu quả nguồn lực trong nhân dân, mở rộng sự tham gia
và nâng cao vai trò của các thành phần kinh tế để phát triển sự nghiệp đào tạo nghề
Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều hợp lí giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế mà trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng
Về sở hữu sẽ vẫn phát triển theo hướng còn tồn tại các hình thức sở hữu khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong đó kinh tế nhà
4 Theo báo http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=21694&print=true
Trang 10nuwóc vẫn giữ vai trò chủ đạo Từng bước xác lập và phát triển chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu một cách vững chắc, tránh nóng vội xây dựng ồ ạt mà không tính đến hiệu quả nhưu trước đây
Về quản lí, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chue nghĩa phải
có sự giám sát của nhà nước xã hội chủ nghĩa Nhà nước quản lí nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chính sách đồng thời thể hiện kinh tế thị trường, các hình thức kinh tế và phương pháp quản lí kinh tế thị trường
để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm mức sống chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, phân chia lại sự sở hữu tư liệu sản xuất trong nhân dân
KẾT LUẬN:
Vai trò của triết học trong thực tiễn đời sống là vô cùng quan trọng, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Vận dụng được triết học vào trong đời sôngs
xã hội giúp nền kinh tế phát triển nhanh chóng Một quốc gia có tiêmg lực kinh tế vững mạnh thì mọi mặt của đời sống xã hội sẽ được bảo đảm Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
là một trong những quy luật quan trọng của triết học Vì thế mà không chỉ Việt Nam mà các quốc gia trên thế giới đều phải vận dụng sáng suốt quy luật ấy vào trong nền kinh tế phù hợp với điều kiện của quốc gia mình Qua bài làm này, em mong phần nào giới thiệu được một số đề xuất trong việc tiếp tục ứng dụng quan hệ này đối với nền kinh tế Việt Nam để từ đó củng
cố và phát triển hơn nữa nền kinh tế của nước nhà
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin : dành
cho sinh viên đại học, cao đẳng khối không chuyên ngành Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh / Bộ Giáo dục và Đào tạo ; Chủ biên: Phạm Văn